1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Tài liệu bồi dưỡng môn ngữ văn lớp 9 tham khảo (1)

14 728 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 56,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Do trí tưởng tượng của trẻ rất độc đáo * Vd: đi học gặp trời mưa=>bé có thể nói là ướt do bị ông trời dội nước  Suy nghĩ của trẻ giống như suy nghĩ của người cổ đại, dùng tưởng tượng

Trang 1

1 CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC THIẾU NHI

Hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng

Ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu Sự ngắn gọn không chỉ thể hiện ở dung lượng tác

phẩm mà còn thể hiện trong cả câu văn, câu thơ Trong văn xuôi thường sử dụng những câu đơn, ngắn, vừa sức với khả năng tiếp nhận của trẻ nhỏ; còn trong thơ, các nhà văn thường sử dụng thể thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, rất gần với đồng dao, vui nhộn, vừa dễ đọc, dễ thuộc, dễ nhớ

Cuộc sống được “nhìn qua đôi mắt trẻ thơ” và thể hiện từ cảm xúc hồn nhiên, trong trẻo, tự nhiên “như trẻ thơ”

 Hài hước, dí dỏm…

Vd: Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đặc trưng ấy trong bài thơ “Ngủ rồi” (Phạm Hổ):“Gà mẹ hỏi gà con/ Đã ngủ chưa đấy hả?/ Cả đàn gà nhao nhao/ Ngủ cả rồi đấy ạ!”…

Giàu hình ảnh, vần điệu, nhạc điệu Những hình ảnh đẹp, rực rỡ cùng với vần điệu,

nhạc điệu vui tươi sẽ làm cho tác phẩm thêm sinh động và có sức lôi cuốn, hấp dẫn các em Đây là một trong những yếu tố không thể thiếu trong thơ viết cho các em

* Ví dụ: Bài thơ “Chú thỏ đa nghi” (Phạm Hổ) : “Thỏ đây! Ai đấy? Mèo à? Mèo thế nào? Mình không trông thấy cậu/ Nhỡ đứa khác thì sao?”… không chỉ thể hiện sự hồn nhiên ngây thơ mà còn đa nghi, ngốc nghếch của chú thỏ Thỏ dùng máy nói mà

cứ đòi phải nhìn thấy người ở đầu dây bên kia chú mới tin đó chính là bạn mình

Giàu chất trữ tình, bay bổng, hấp dẫn

 Trẻ em được tiếp xúc với văn học thiếu nhi chủ yếu là qua lời đọc, lời kể của ông bà, cha mẹ, thầy cô,…), cho nên VHTN viết cho các em phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi và những sở thích của trẻ nhỏ

 Người lớn muốn viết cho trẻ em phải thực sự hòa nhập với cuộc sống trẻ thơ, sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng và mang lại cho tác phẩm

sự thành công

 Do trí tưởng tượng của trẻ rất độc đáo

* Vd: đi học gặp trời mưa=>bé có thể nói là ướt do bị ông trời dội nước

 Suy nghĩ của trẻ giống như suy nghĩ của người cổ đại, dùng tưởng tượng để giải quyết những thắc mắc của mình , vì thế những gì bay bổng sẽ hấp dẫn trẻ

 Ngoài ra trẻ có tư duy khám phá, thích những gì độc đáo

* Vd: masupilami co chiếc đuôi dài đa năng , mèo máy doraemon có chiếc túi thần kỳ …

 Trẻ giàu tình cảm nên trong VHTN cũng cần giàu chất trữ tình : tình bạn, cha mẹ , thầy trò , nhân đạo

Yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện

* Vd: Trong bài “Chú bò tìm bạn” (Phạm Hổ) “Mặt trời rúc bụi tre/ Buổi chiều về nghe mát/ Bò ra sông uống nước/ Thấy bóng mình ngỡ ai/ Bò chào: “Kìa anh bạn/ Lại gặp anh ở đây”/ Nước đang nằm nhìn mây/ Nghe bò cười toét miệng…”

 Sở dĩ các tác phẩm truyện viết cho trẻ em lôi cuốn, hấp dẫn, có sức cảm hóa lạ lùng, mạnh mẽ được các em còn vì VHTN luôn lấp lánh chất thơ, chất truyện điều này giúp trẻ em sau khi được nghe ông bà, cha mẹ kể chuyện, gấp sách lại vẫn thấy bao nhiêu điều kì diệu, “bám chặt” lấy tâm hồn, tình cảm và chắp cánh cho những ước mơ, khát vọng của tuổi thơ (truyện “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài là một ví dụ cụ thể)

Trang 2

 Bên cạnh đó , đặc điểm này cũng là một trong những yếu tố khiến cho các em dễ hiểu,

dễ cảm nhận tác phẩm

Giáo dục rất nhẹ nhàng, sâu lắng

 Tính giáo dục được coi là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của Văn học thiếu nhi Văn học thiếu nhi có vai trò vô cùng to lớn tỏng việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em , cả về đạo đức , trí tuệ và thẩm mỹ

 Một tác phẩm viết về con người hay đồ vật chỉ được coi là một tác phẩm VHTN khi tác giả biết “trẻ con hóa” những con vật, đồ vật ấy để nói lên những suy nghĩ của chính các em; cảm thông, chia sẻ, cảm hóa các em bằng những bài học nhân ái, nhẹ nhàng mà sâu sắc:

* Vd: “Ngỗng không chịu học/ Khoe biết chữ rồi/ Vịt đưa sách ngược/ Ngỗng cứ tưởng xuôi/ Cứ giả đọc nhẩm/ Làm vịt phì cười/ Vịt khuyên một hồi/ Ngỗng ơi! Học! Học!”… (Ngỗng và Vịt - Phạm Hổ)

 Các em vốn rất yêu cái cái đẹp, cái tốt, cái thực; vì vậy các nhà văn cần nắm được những đặc điểm tâm lí của trẻ để thỏa mãn những nhu cầu ấy một cách tự nhiên Những hình tượng nghệ thuật, giàu giá trị nhân văn kết hợp vần điệu do các nhà văn dày công sáng tạo trong tác phẩm sẽ gây được những ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn trẻ thơ, tác động nhẹ nhàng đến nhận thức, tư tưởng tình cảm ở trẻ

* Vd: truyện cổ tích Tấm Cám cho trẻ phân biệt rõ ràng xấu , tốt , giúp trẻ biết yêu cái thiện , căm ghét tránh xa cái ác, tàn độc

Có vai trò quan trọng trong việc giáo dục toàn diện nhân cách trẻ em cả về đạo đức, trí tuệ và tình cảm thẩm mĩ.

Trẻ con nhận thức về thế giới xung quanh ở mức cảm tính…, nên việc tiếp xúc với cái đẹp của ngôn từ và trí tưởng tượng phong phú trong tác phẩm VHTN sẽ là cơ sở để các

em rung động và cảm nhận được vẻ đẹp về một thế giới bao la đầy âm thanh, màu sắc và

sự huyền bí

* Vd: Trong truyện cổ tích, trẻ được gặp ông Bụt, bà Tiên tốt bụng với những phép biến hóa thần thông, những nàng công chúa xinh đẹp, những chàng hoàng tử thông minh, can đảm… Còn trong truyện thần thoại, các em lại được bắt gặp lối nhân hóa và sự tưởng tượng nghệ thuật, ở đó các con vật, cỏ cây, hoa lá hiện lên một cách sinh động thể hiện tình cảm gắn bó sâu sắc giữa con người với thiên nhiên

Trẻ thơ vốn đã sẵn trong đầu trí tưởng tượng phong phú nên khi gặp những yếu tố kì ảo, đẹp đẽ trong các tác phẩm văn học thì trí tưởng tượng ở trẻ càng được thăng hoa, giúp các em phát triển trí tuệ và thưởng thức cái đẹp, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế hơn…

=>hướng các em tới chân - thiện – mĩ

VHTN có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, cung cấp cho trẻ thơ một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữ nghệ thuật

Để nhớ hay có thể dùng một từ nào đó để thể hiện suy nghĩ tình cảm của mình , trẻ cần phải được tiếp xúc với từ đó rất nhiều lần nhưng việc bắt trẻ nghe người khác lặp đi lặp lại một từ nhiều lần để nhớ là điều khó khăn và nhàm chán đối với trẻ.Khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với các tác phẩm VHTN, vốn từ ngữ của các em phong phú và sống động hơn Các em tự hình thành cho mình khả năng diễn đạt một vấn đề một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm bởi đã được học cách diễn đạt sinh động ấy trong các tác phẩm

Trang 3

III văn học thiếu nhi với công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non

Có vai trò quan tr ng trong vi c giáo d c toàn di n nhân cách tr em c v ọ ệ ụ ệ ẻ ả ề đạ đứ o c, trí tu và tình c m th m m ,… ệ ả ẩ ĩ

1 giáo d c th m m ụ ẩ ỹ.:

• v ẻ đẹ ủ p c a s v t, hi n t ự ậ ệ ượ ng, đồ ậ v t, con ng ườ đ i: a d ng và phong phú ạ

Truy n “ Rong và Cá” ệ

• nuôi d ưỡ ng c m xúc, sáng t o và th hi n cái ả ạ ể ệ đẹ p: “ tr ng i…t âu ă ơ ừ đ đế n”

2 giáo d c lòng nhân ái ụ

giáo d c long nhân ái: vd truy n “ có 1 b y h ụ ệ ầ ươ u “

giáo d c oàn k t, tình yêu th ụ đ ế ươ ng, g n bó, giúp ắ đỡ nhau “ gi a vòng gió th m” ữ ơ

hình thành và phát tri n nh ng chu n m c ể ữ ẩ ự đạ đứ o c “ bó hoa t ng cô” ặ

3 giáo d c trí tu ụ ệ

nh n bi t các m i quan h trong xã h i “ dê con nhanh trí”, “ g u qua c u” ậ ế ố ệ ộ ấ ầ

nh n bi t th gi i ậ ế ế ớ đồ ậ v t “ xe ch a cháy” ữ

nh n bi t th gi i th c v t: “ hoa k t trái”, “ b p c i xanh”… ậ ế ế ớ ự ậ ế ắ ả

nh n bi t th gi i ậ ế ế ớ độ ng v t: “ àn gà con” ậ đ

nh n bi t hi n t ậ ế ệ ượ ng t nhiên: “ m a”, “ gi t n ự ư ọ ướ c tí xíu”

4 phát tri n ngôn ng ể ữ

• m r ng v n t ng , t ngh thu t: “na”,” cây dây leo” ở ộ ố ừ ữ ừ ệ ậ

• phát tri n l i nói m ch l c: “ ba cô gái”, “ chú dê en” ể ờ ạ ạ đ

• phát tri n l i nói bi u c m: “ bác g u en và hai chú th ” ể ờ ể ả ấ đ ỏ

III những giá trị cơ bản của văn học dân gian trong giáo dục trẻ

Giá trị nhận thức

• phản ánh chân thực cuộc sống của nhân dân lao động

• giúp người đời sau hiểu biết đúng đắn về thế giới quan, nhân sinh quan của người xưa( thần thoại…)

• cung cấp kiến thức: sinh hoạt vật chất tinh thần, lao động và chiến đấu, quan hệ xã hội, phong tục tập quán, tình cảm, ước mơ, cảnh đẹp đất nước

và những chặng đường đã qua của lịch sử dân tộc

giá trị giáo dục

VHDG là kho tàng kinh nghiệm của nhân dân trong đời sống sinh hoạt, là nơi lưu giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vì thế nên giá trị giáo dục của VHDG vô cùng to lớn:

• VHDG dạy cách ăn nói, ứng xử cho phù hợp với quan hệ xã hội

Trang 4

• VHDG ca ngợi cái tốt, phê phán cái xấu và góp phần xây dựng những phẩm chất tốt đẹp của người lao động

• VHDG thắp sáng lòng yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, về truyền thống sức mạnh của dân tộc trong lao động và chiến đấu

Giá trị thẩm mỹ

Con người luôn có nhu cầu cảm thụ và thưởng thức cái đẹp, và trong sự tồn tại của mình, con người không những muốn cuộc sống tốt hơn mà còn đẹp hơn, do vậy giá trị thẩm mĩ là khả năng của văn học có thể phát hiện và miêu tả nhiều vẻ đẹp của cuộc sống một cách sinh động, giúp con người cảm nhận được và biết rung động một cách tiinh tế sâu sắc trước vẻ đẹp đó.

• Văn học mang tới cho con người những vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của những cảnh đời cụ thể trong đời sống hàng ngày hoặc vẻ đẹp hào hùng của chiến trận, đặc biệt văn học đi sâu miêu tả vẻ đẹp của con người từ hình thể bên ngoài đến những diễn biến sâu xa trong tư tưởng tình cảm và những hành động gây ấn twongj thật khó quên đối với mọi người.

• Cái đẹp trong văn học còn thể hiện ở hình thức đẹp ( VD: những thủ pháp nghệ thuật hoặc kết cấu tác phẩm hoặc cách sử dụng ngôn ngữ hoặc nghệ thuật điển hình hoá)

• Với nội dung đẹp và hình thức đẹp, văn học làm cho con người thêm mến yêu cuộc sống thêm khao khát hướng tới những gì là đẹp đẽ, tốt lành.

VHDG trong đời sống trẻ thơ

VHDG là loại hình nghệ thuật đén với trẻ sớm nhất( qua những lời ru)

Khi trẻ bắt đầu tập nói, tập đi thì VHDG là mẫu mực của lời ăn tiếng nói cho trẻ học tập

VHDG lôi cuốn trẻ vào hoạt động tập thể, hoạt động nhận thức, từ

đó vốn hiểu biết của trẻ được nâng cao và việc tiếp nhận những lời khuyên bảo, những kinh nghiệm sống của ông cha

VHDG góp phần nuôi dưỡng phát triển tâm hồn trẻ, truyền cho trẻ

vẻ đẹp truyền thống của cha ông và hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ

5 Phân tích những đặc trưng nghệ thuật cơ bản của đồng dao? Cho biết đồng dao có những vai trò như thế nào trong việc dạy học trẻ mầm non nói chung làm quen với tác phẩm văn họ nói riêng?

- KN đồng dao: Là những câu hát dân ca có nội dung và hình thức phù hợp với trẻ em,

được trẻ em hát lên lúc vui chơi, có thể do người lớn sáng tác nhưng cũng có thể do trẻ

em sáng tác Đồng dao còn được gọi là ca dao và vè cho trẻ em.

Trang 5

Nội dung: khá phong phú thường cung cấp cho trẻ em những tri thức thông thường về

đời sống

Đồng dao có thể mang nội dung phê phán tích cức

Có thể phản anhs niềm mong ước của con người

Không thể bỏ qua trường hợp người lớn dựa vào đồng dao để nói về thời cuộc hoặc tuyên truyền cho những vấn đề chính trị

Phân tích những đặc trưng nghệ thuật cơ bản:

Đặc trưng nổi bật của Đồng dao là gắn với hoạt động vui chơi của tre em, trẻ hát đồng

dao trong sinh hoạt và trong khi chơi các trò chơi dân gian Các bài ca vui chơi thừơng gắn với một trò chơi dân gian nào đó, có thể là các trò chơi vận đọng dưới các hình thức, luật chơi linh hoạt khác nhau (Rồng rắn lên mây, Thả đĩa ba ba, Rồng rồng rắn rắn, câu ếch,…)

Chẳng hạn, các em bắt trước làm theo động tác Cưa và Hát:

Kéo cưa lừa xẻ

Ông ăn bát mẻ

Bà ăn bát lành

Ông ăn nồi canh

Bà ăn nồi riêu

Chia nhau không đều

Đánh nhau lũng củng.

Hoặc di bản:

Kéo cưa lừa xẻ Ông thợ nào khỏe Thì ăn cơm vua Ông thợ nào thua

Về bú tí mẹ

Mẹ không cho bú

Bú con lợn xề.

Có thể chơi trò chơi ít vận động hơn, về số lượng người tham gia ít hơn, (nu na nu nông, chi chi chành chành,…

Có thể là các trò chơi mưu trí, trò chơi từ ngữ, trò chơi có nguồn gốc phù trú, mà thuật, Chúng đều có những tác dụng tích cực đối với trẻ cả về phương diện phát triển thể lực, trí tuệ,củng cố tình bạn lẫn giáo dục ý thức,…

Đặc trưng thứ 2 Về hình thức, các câu hát đồng dao của trẻ trong sinh hoạt hàng ngày

thường là các câu vè ( vè chim, vè cây, vè hoa, vè quả,…) với thể thơ phổ biến là 4 chữ, 5 chữ Các câu vè liên kết chặt chẽ với nhau theo cặp, mỗi cạp thành 2 vế theo cấu trúc vững chắc

Vế thứ nhất nêu đặc điểm hoặc một gợi ý có tính ẩn dụ nào đó về tên gọi của sự vật

Vế thứ 2 nêu tên gọi của sự vật đó

Hai vế được nối với nhau bằng liên từ là.

Trất tự giới thiệu của vè có thể là xuôi, cũng có thể là ngược, các bài học nhận thức tự nhiên vì vậy mà vui vẻ và hấp dẫn

Trang 6

Vè nói xuôi Dây ở trên mây

Là trái đầu rồng

Có vợ có chồng

Là trái đu dủ.

Chọc ra nhiều mũ

Là trái mít ướt

Mình tựa gà xước Vốn thiệt trái thơm.

(Vè trái cây).

Vè nói ngược Bao giờ cho đến tháng 3

ếch cán cổ Rắn tha ra ngoài đồng Hùm nằm cho Lợn liếm lông Một chục quả hồng nuốt lão tám thơm Nắm xôi nuốt trẻ lên mười

Con gà, be rươu nuốt người lao đao

Những đặc trưng cơ bản của đồng dao (Đặc trưng không giống trong giáo trình, đọc

và chọn lọc na)

Đồng dao là một trong những thể loại của bài ca dân gian, nên nó cũng mang những đặc trưng chung của tác phẩm văn học dân gian, như tính tập thể, truyền miệng, tính nguyên hợp Tuy vậy, nó là loại bài ca của trẻ em nên nó cũng có những đặc trưng riêng

a. Sự “vô nghĩa có duyên”.

Xét về mặt nội dung, đồng dao có thể chia làm hai loại:

Những bài đồng dao có ý nghĩa và những bài đồng dao vô nghĩa

Những bài đồng dao có ý nghĩa không nằm trong phạm vi sáng tác cổ truyền, loại này có nội dung rõ ràng, liền mạch, có mục đích răn dạy:

Mồng một tháng sáu Tết của thiếu nhi

Mẹ đưa em đi Sắm quà mậu dịch

Loại này không được trẻ em đón nhận nồng nhiệt

Những bài Đồng dao cổ truyền có đặc điểm là “tư duy nhảy cóc”, không có logic, thường được xem là lung tung, tản mạn, nhưng lại được trẻ em ưa thích, không

ai dạy vẫn thuộc

Nu na nu nống Cái bống nằm trong.

Con ong nằm ngoài.

Trang 7

Củ khoai chấm mật Phật ngồi phật khóc.

Đồng dao cổ truyền không có bài nào tập trung, gần như là những đoạn chắp

vá, gặp đâu đó, câu nọ xọ câu kia, đang nói chuyện này nhảy sang chuyện khác Nhưng chính điều này lại làm cho trẻ thích thú, kích thích trí tưởng tượng của trẻ em, không gò bó, không dừng lại một chỗ, một nơi Vì thế có thể không có ý nghĩa nhưng đồng dao vẫn cần thiết, vẫn hay, được trẻ thơ đón nhận.Và theo Vũ Ngọc Khánh thi pháp Đồng dao rất cần sự “vô nghĩa có duyên”

b. Phép trùng lặp:

Trong Đồng dao, từ ngôn từ đến điệu thức, hành động đều có sự lặp lại có tính chất chu kỳ, được xem là yêu cầu chủ yếu Sự lặp lại này không nhàm chán, mà còn đem lại sự thích thú, hứng khởi cho trẻ thơ

Cấu trúc Đồng dao đơn giản, gieo vần chân (từ cuối câu văn vần) trẻ dễ thuộc, dễ nhớ, thể thơ thường 3, 4 chữ hay lục bát, cách ngắt nhịp chủ yếu của đồng dao là 2/2

c. Đồng dao thường kèm động tác.

Về phương diện diễn xướng, trẻ em hát Đồng dao thường kèm với động tác động tác này có thể riêng rẽ, cũng có thể là một trò chơi hay một màn hoạt cảnh…của một nhóm các em từ hai, ba trở lên Đảm bảo chất hiếu động cho các em trong sáng tác Đồng dao là một yêu cầu thi pháp Điều đó giúp chúng ta hiểu tại sao đồng dao

có sức sống lâu bền trong đời sống sinh hoạt của trẻ em

CÂU 6: SỰ KHÁC NHAU CƠ BẢN GIỮA THƠ VÕ QUẢNG VÀ THƠ PHẠM HỔ

d

Võ Quảng và Phạm Hổ là nhà thơ tiêu biểu của văn học nói chung và văn học thiếu nhi nói riêng có chung niềm đam mê sáng tác văn học và dành nhiều tình cảm cho thiếu nhi , tuy nhiên giữa họ vẫn có những sự khác biệt đánh dấu dâu ấn tác giả

Tiêu chí

VÕ QUẢNG PHẠM HỔ NỘI DUNG

1.Những nội dung phổ biến:

+ Những cảnh vật thiên nhiên

Trang 8

+ Thế giới loài vật và cây cỏ

*những cảnh vật thiên nhiên

- Võ Quảng có những bức tranh thiên nhiên lộng lẫy

Vd: bức tranh Mùa xuân

qua bài: Ai cho em biết

“Hoa cải li ti

“Đốm vàng óng ánh

Hoa cà tim tím …

*Thế giới loài vật và cây cỏ

Vườn thơ Võ Quảng khá giàu về các loại chim thú và cây cỏ

trong thơ ông một xã hội chim ,thú rất đông vui và sinh động, gần gũi với người là gà ,vịt ,trâu ,bò,lợn …tiêu biểu là bài Anh đom đóm

Mặt trời gác núi

Bóng tối lan dần

Anh đóm chuyên cần

Lên đèn đi gác…

Khác Phạm Hổ ,điều quan tâm của Võ Quảng là sự kỳ diệu của đất trời mà nếu “ai dậy sớm”(tên một bài thơ của ông) mới được tận hưởng vẻ đẹp kỳ thú đó

Ông cũng nói nhiều đến vẻ đẹp của lao động, của sự chuyên cần làm việc Hình tượng tiêu biểu của thơ Võ Quảng là một anh đom đóm đêm đêm “xách đèn đi gác”(Anh đom đóm)

1.Những nội dung phổ biến:

+ tình cảm gia đình, tình yêu đất nước

+ bao trùm nhất thơ ông là tình bạn

+ những hiểu biết ban đầu về thế giới sự vật, hiện tượng

( có khi những nội dung này được lồng ghép lại)

*Thơ ông đề cập tới nhiều vấn đề về tình cảm gia đình, tình yêu đất nước

Ông vẽ lên bức tranh quê hương thân thuộc đầy màu sắc:

Vườn quê ta nghìn năm

Bao đời nay thân thuộc

Một màu xanh êm đềm

Trăm hương thơm vị ngọt

*Nội dung bao trùm nhất thơ ông là tình bạn

Điều dễ nhận thấy là thơ Phạm Hổ nói nhiều về chủ đề tình bạn Trong hơn 10 tập thơ viết cho các em, đã có 6 tập về chủ đề này”

Dấu hiệu nhận biết chủ đề tình bạn trong thơ Phạm Hổ trước hết là ở việc đặt tên cho các tập thơ: Chú bò tìm bạn, Bạn trong vườn, Những người bạn im lặng, Những người bạn ồn ào…

ta thấy cảm hứng tình bạn xuyên suốt ở hầu hết mọi bài thơ, tập thơ Vd: bài thơ chú bò tìm bạn Trong thơ Phạm Hổ, chú bò có cái lơ ngơ nhưng thật đáng yêu Đáng yêu ở hành vi biết chào hỏi, thiết tha gọi bạn…

Con chó, con mèo cũng chơi với nhau thật thân thiết

vd: chơi ú tim

“ Rủ nhau

chơi ú tim

Giờ đến phiên

chó trốn

Mèo đảo mắt

tìm quanh

…Bò ra sông uống nước Thấy bóng mình, ngỡ ai

Bò chào: - kìa anh bạn Lại gặp anh ở đây!

Nghe bò cười nhoẻn miệng Bóng bò chợt tan biến

Bò tưởng bạn đi đâu

Cứ ngoái trước nhìn sau Ậm…ò tìm gọi mãi…”

Trang 9

Chó nấp đâu giỏi gớm …

Phạm Hổ cũng nói về con đom đóm nhưng lại là con đom đóm soi đòi cho bạn mình đi học ban đêm

Ngoài việc đặt tên cho từng tập thơ theo chủ đề tình bạn, ông cũng kết hợp tạo ra những hệ thống: bạn trong nhà, bạn trong vườn, những người bạn im lặng, những người bạn ồn ào… Tất

cả những việc làm này đã tô đậm cảm hứng tình bạn trong thơ ông

Cùng với nội dung tình bạn, Phạm Hổ còn muốn cung cấp cho các em những hiểu biết ban đầu

về thế giới sự vật, hiện tượng

Để lồng ghép các nội dung, ngoài loài vật, cỏ cây, còn viết khá nhiều về các đồ vật trong nhà như cầu chì, chổi, rế và tất cả được quan sát, cảm nhận từ góc độ tình bạn

Vd: “ Chảo, nồi đang bận nấu

Rế ngồi bên đợi chờ”

Vì ông muốn giúp cho các em những hiểu biết ban đầu về sự vật hiện tượng: tên gọi, đặc điểm

về hình thức, ích dụng… Đây là lí do giải thích vì sao Phạm Hổ hay sử dụng hình thức định nghĩa vốn ít thấy ở những cây bút khác

Vd: bài thơ về sự giải thích tự nhiên

Bướm em hỏi chị

“Chị ơi, vì sao

Hoa hồng lại khóc

Không phải đâu em

Đấy là hạt ngọc

Người gọi là sương ……(Bướm em hỏi chị)

Hay Phạm Hổ viết hẳn một bài thơ khác theo lối định nghĩa

“Nước lên xuống: biển cả

Nước nằm im: ao hồ

Nước chảy xuôi: sông suối

Nước rơi đứng: trời mưa” (Nước)

NGHỆ THUẬT

Ông sử dụng nhiều nhất là nghệ thuật miêu tả rất tinh tế :

tả con trâu:

da đen bóng loáng

ức rộng thênh thênh

đôi sừng vênh vênh

chóp sừng nhọn hoắt

nghệ thuật miêu tả thiên nhiên rất đặc sắc làm cho những vẻ đẹp thiên nhiên gần gũi mà kì diệu vd: trong bài thơ :Ai cho em biết , cảnh vật mùa xuân được tạo nên từ hoa cải ,hoa cà… thật gần gũi nhưng qua sự miêu tả của tác giả ta có thể thấy hiện ra trước mắt cả một mùa xuân đầy màu sắc và tràn ngập nhựa sống

-thơ Võ Quảng cho ta cảm giác như được dạo chơi trong một nơi kì lạ ,ở đó bài nhiều loại

chim ,loại cỏ thơm ,có những giọt sương sớm ,những ánh nắng ban mai … thiên nhiên rộn ràng

âm thanh màu sắc ,đầy ắp tiếng cười ,tiếng hát

Trang 10

Thơ Võ Quảng rất loại nhạc điệu đa dạng ,trẻ em thích và dễ thuộc thơ ông cũng vì nhạc điệu

đó ông hay sáng tác thơ có âm điệu giống như đồng dao:vd: bài thơ ai dậy sớm ,có bài êm dịu ,hài hòa như bài “anh đom đóm” hay bài tiết tấu thay đổi như “gà mái hoa”

Sử dụng các biện pháp tu từ làm cho vốn từ thêm sinh động và hấp dẫn hơn ,tạo sự chắc khỏe, vui tươi với từ láy, những thanh trắc

ông hay dùng vần trắc trong thơ bởi vần chắc hợp với tâm hồn vui tươi ,nghịch ngợm ,của trẻ thơ.Bên cạnh đó còn tạo cho bài thơ một sự vui tươi, sinh động , hơn nữa còn có thể rèn phát âm cho trẻ, buộc trẻ phải tập trung

Khéo léo tạo những mảng từ tượng thanh bằng cách dùng hoàn toàn tiếng kêu của loài vật như:

gà tục tục tác ,vịt thì cạc cạc cạc ,lợn thì ịt ịt ịt

Ông khai thác tối đa các phép nhân hóa, so sánh, xây dựng các hình ảnh liên tưởng độc đáo

và vui tươi

Đọc bài thơ về cái đinh, cái đinh như một cậu bé vui nhộn, tự hào khi làm được một việc tốt : Cho chị treo gương

Cho em treo ảnh

Xong rồi hóm hỉnh

Nhô đầu nhìn quanh”

Cái chổi khác nào một cô bé thích làm điệu

“Thích buộc nhiều thắt lưng

Cả đời không đi dép

Chổi múa dạo một vòng

Rác trong nhà biến sạch”

Phép so sánh trong trường hợp sau đây giúp các em nắm được đặc điểm của từng đồ vật:

“Dao chỉ một lưỡi

Kéo có đến hai

Ngày đăng: 07/10/2016, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w