Hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về BHYT Bảo hiểm Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm y tế Cán bộ công nhân viên Cán bộ Y tế CĐYT Cao đẳng Y tế CĐCKLK Cao đẳng Cơ khí luyện kim KCB K
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
-
MAI THỊ THU NGA
THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ
CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC,
CAO ĐẲNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN (2006-2008)
MAI THỊ THU NGA
THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA SINH VIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN (2006-2008)
Trang 2Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Ban Giám hiệu, khoa sau đại học Trường đại học Y- Dược- Đại học Thái
Nguyên đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình
học tập tại Trường
Các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Y- Dược- ĐHTN đã truyền thụ
những tri thức khoa học cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Khải
Lập- người Thầy đã đặt ra định hướng nghiên cứu, tận tình chỉ bảo, hướng
dẫn cho em hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ y tế, cán bộ quản lý sinh
viên các trường Đại học Sư Phạm - ĐHTN, Đại học Kỹ Thuật công Nghiệp -
ĐHTN, Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, Cao đẳng Cơ khí luyện Kim Thái Nguyên
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc BHXH Tỉnh Thái Nguyên, BHXH
Thành phố Thái Nguyên, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – ĐHTN đã tạo
những điều kiện thuận lợi về thời gian và động viên tinh thần để tôi hoàn
thành khóa học này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp
đỡ, động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả
Mai Thị Thu Nga
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ
NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 1.2 1.3 1.4 1.5 Khái niệm về các loại bảo hiểm
Các loại hình bảo hiểm ở Việt Nam
Bảo hiểm Y tế ở một số nước trên thế giới
Bảo hiểm Y tế ở Việt Nam
Một số khó khăn trong việc triển khai BHYT HSSV
3 3 6 9 17 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 2.1 2.2 2.3 2.4 2.5 2.6 2.7 2.8 2.9 Đối tượng nghiên cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu
Chỉ tiêu nghiên cứu
Kỹ thuật thu thập số liệu
Vật liệu nghiên cứu
Khống chế sai số
Đạo đức trong nghiên cứu
Xử lý số liệu
19
19
19
21
24
24
25
25
25
Trang 3Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1
3.2
3.3
Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Thực trạng sinh viên tham gia BHYT
Hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về BHYT
Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Thực trạng sinh viên tham gia BHYT
Hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về BHYT
Bảo hiểm Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm y tế Cán bộ công nhân viên Cán bộ Y tế
CĐYT Cao đẳng Y tế CĐCKLK Cao đẳng Cơ khí luyện kim
KCB KSK
MĐ
Khám chữa bệnh Khám sức khỏe Mức đóng QLSV Quản lý sinh viên TSSV
SD
SV YTTH YTHĐ WHO
Tổng số sinh viên
Sử dụng Sinh viên
Y tế trường học
Y tế học đường
Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1
Bảng 1.2
Bảng 3.1
Bảng 3.2
Bảng 3.3
Bảng 3.4
Bảng 3.5
Bảng 3.6
Bảng 3.7
Bảng 3.8
Bảng 3.9
Bảng 3.10
Bảng 3.11
Bảng 3.12
Bảng 3.13
Bảng 3.14
Bảng 3.15
Bảng 3.16
Bảng 3.17
Bảng 3.18
Bảng 3.19
Bảng 3.20
Bảng 3.21
Bảng 3.22
Một số kết quả hoạt động bảo hiểm y tế đã đạt được
Tỷ lệ SV các trường đại học, cao đẳng tham gia BHYT
Đối tượng nghiên cứu phân bố theo giới
Đối tượng nghiên cứu phân bố theo dân tộc
Đối tượng nghiên cứu phân bố theo diện chính sách
Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế
Tỷ lệ cán bộ y tế/tổng số cán bộ công nhân viên và SV
Tỷ lệ sinh viên tham gia BHYT
Tỷ lệ sinh viên tham gia BHYT phân bố theo dân tộc
Số lần sử dụng thẻ bình quân trong năm (2006-2008)
Số lần sử dụng thẻ BHYT để KCB (2008)
Nơi KCB thường xuyên của sinh viên có thẻ BHYT
Cơ sở y tế được SV lựa chọn khám chữa bệnh BHYT
Tình trạng bệnh tật của sinh viên khi mua BHYT
Thực trạng sử dụng quỹ YTHĐ trích từ BHYT học sinh
Chất lượng dịch vụ y tế
Hiểu biết của sinh viên về quyền lợi khi tham gia BHYT
Nguồn cung cấp thông tin cho SV về chính sách BHYT
Thái độ của sinh viên với việc mua thẻ BHYT
Ý kiến của sinh viên về mức đóng BHYT hiện nay
Ý kiến của SV diện chính sách về mức đóng BHYT hiện nay
Ý kiến của SV về khả năng đáp ứng nhu cầu KCB cho người có thẻ BHYT
Lý do sinh viên không tham gia BHYT
Nguyện vọng của sinh viên về mức nộp BHYT
14 16 26 27 27 28 28 29 30 30 31 32 33 33 34 34 35 36 37 37 38 39 40 40 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 1.1 Biểu đồ 3.1 Biểu đồ 3.2 Biểu đồ 3.3 Biểu đồ 3.4 Biểu đồ 3.5 Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ SV các trường ĐH, CĐ tham gia BHYT
Đối tượng nghiên cứu phân bố theo giới
Tỷ lệ sinh viên tham gia BHYT
Số lần sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh (2008)
Nơi KCB thường xuyên của sinh viên có thẻ BHYT
Nguồn cung cấp thông tin cho SV về chính sách BHYT
Ý kiến của sinh viên về mức đóng BHYT hiện nay
16
26
29
31
32
36
38
Article I
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe tốt là một mục tiêu quan trọng của giáo dục toàn diện học sinh,
sinh viên trong các trường học Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục sức khỏe cho
thế hệ trẻ là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước, của mỗi gia đình và toàn
xã hội [24],[36] Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về công tác chăm sóc,
bảo vệ sức khỏe thế hệ trẻ được thể hiện qua nhiều chính sách trong đó có
chính sách bảo hiểm y tế học sinh Những năm qua, bảo hiểm y tế học sinh đã
góp phần tích cực trong việc củng cố và phát triển y tế trường học Mặt khác,
bảo hiểm y tế học sinh còn mang tính nhân văn, nhân đạo và cộng đồng với
tinh thần tương thân tương ái “Mình vì mọi người, mọi người vì mình” [26],[39]
Bảo hiểm y tế là phương thức phù hợp với nền kinh tế thị trường, là biện
pháp chi trả tiến bộ, văn minh, đảm bảo tính công bằng, hiệu quả và đáp ứng
nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho đại đa số người dân, nhất là người nghèo,
tránh được nguy cơ đói nghèo phát sinh do viện phí Thực hiện bảo hiểm y tế
toàn dân sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy xã hội hóa công tác chăm sóc sức
khỏe người dân, góp phần thể chế hóa chủ trương “Đầu tư bứt phá cho chăm
sóc sức khỏe và chuyển dần từ đầu tư trực tiếp cho cơ sở y tế sang đầu tư trực
tiếp cho người hưởng thụ thông qua bảo hiểm y tế” [8],[45]
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu vực Đông Bắc,
là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng
bằng Bắc bộ Cách thủ đô Hà Nội gần 80km về phía Bắc, Thái Nguyên có
diện tích tự nhiên 3.562,82km2 với dân số khoảng 1,1 triệu người Tỉnh Thái
Nguyên có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) Thái
Nguyên còn là trung tâm đào tạo lớn thứ ba trong cả nước với 8 trường đại
học, 11 trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâm dạy nghề,
mỗi năm đào tạo được khoảng gần 100.000 lao động Vì vậy, vấn đề chăm
sóc sức khỏe cho học sinh, sinh viên càng được các trường và Bảo hiểm xã hội quan tâm hơn [48] Trải qua hơn 15 năm triển khai bảo hiểm y tế tự nguyện cho học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên, bảo hiểm y tế đã mang lại nhiều lợi ích cho học sinh, sinh viên khi tham gia Với số lượng lớn sinh viên nên vấn đề tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ mang tính chất xã hội, tính chất nhân đạo mà còn góp phần quan trọng chăm lo sức khỏe và tạo điều kiện cho sinh viên học tập tốt Việc triển khai và phát triển bảo hiểm y tế trong sinh viên có mối quan hệ mật thiết tới sự hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về BHYT Nghiên cứu vấn đề trên sẽ phát hiện được các thông tin quan trọng giúp cho việc cải thiện chất lượng công tác triển khai bảo hiểm y tế trong sinh viên của các trường đại học, cao đẳng nói chung và nói riêng ở khu vực Tỉnh Thái Nguyên
Với những lý do như trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Thực trạng tham gia
bảo hiểm y tế của sinh viên một số trường đại học, cao đẳng tại Tỉnh Thái Nguyên (2006-2008)” Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu những vấn đề sau:
1 Mô tả thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của sinh viên một số trường đại học, cao đẳng tại Tỉnh Thái Nguyên
2 Tìm hiểu sự hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về bảo hiểm
y tế
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm về các loại bảo hiểm
* Bảo hiểm
Bảo hiểm là hoạt động thể hiện việc người bảo hiểm đứng ra cam kết,
bồi thường theo qui luật thống kê cho người được bảo hiểm với điều kiện
người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho người bảo hiểm [43]
* Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập
cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp
do bị mất hoặc bị giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc
hình thành và sử dụng một quĩ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia
bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao
động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội [4], [43]
* Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là một loại hình bảo hiểm mà cơ quan bảo hiểm chi trả
các chi phí y tế do các nguyên nhân hoặc tai nạn đã được bảo hiểm cho người
được bảo hiểm y tế khi người được bảo hiểm y tế bị ốm đau [43]
1.2 Các loại hình bảo hiểm ở Việt Nam
1.2.1 Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là chính sách xã hội của Nhà nước nhằm tạo lập quỹ
tập trung trợ giúp cho người lao động bao gồm các chế độ trợ cấp sau: hưu trí,
tử tuất, ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp
Đặc trưng cơ bản của bảo hiểm xã hội:
- Bảo hiểm cho người lao động trong và sau quá trình lao động
- Bảo hiểm cho các rủi ro có liên quan đến thu nhập như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà những rủi ro này làm cho người lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập
- Người lao động và chủ sở hữu lao động phải có nghĩa vụ đóng góp hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
- Các hoạt động bảo hiểm xã hội theo luật định và được Nhà nước bảo hộ Nguồn hình thành quỹ: được đóng góp từ người sử dụng lao động (15% quỹ lương) và người lao động (5% mức lương) Phần còn lại được lấy từ Ngân sách nhà nước và các nguồn khác [3],[43]
1.2.2 Bảo hiểm Y tế
Bảo hiểm y tế là chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế khi ốm đau Hiện tại, chế độ bảo hiểm y tế ở Việt nam có 2 loại hình chủ yếu là: BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện [3],[43]
* Bảo hiểm y tế bắt buộc:
Lúc ban đầu chế độ BHYT bắt buộc được áp dụng cho một số nhóm đối tượng, chủ yếu là công chức Nhà nước, người lao động trong các doanh nghiệp Sau đó, đối tượng tham gia BHYT bắt buộc được chia thành 13 nhóm
cơ bản Mức đóng và phương thức đóng góp của các nhóm khác nhau cũng có
sự khác nhau: 3% tiền lương, tiền công, tiền trợ cấp, tiền tuất, tiền học bổng; 3% mức tiền lương tối thiểu; mức cố định là 60.000đ/người/năm [3], [43]
* Bảo hiểm y tế tự nguyện:
Theo qui định hiện hành, mọi đối tượng đều có thể tham gia BHYT tự nguyện Trong thời gian qua, có những nhóm đối tượng sau đây tham gia BHYT tự nguyện: học sinh, sinh viên, hội viên hội đoàn thể, các thành viên trong hộ gia đình ở nông thôn và ở thành thị, thân nhân người lao động Mức
Trang 7phí BHYT tự nguyện được xác định trên nguyên tắc phù hợp với tình hình
kinh tế xã hội của địa phương, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, giá dịch vụ y tế,
xác suất ốm đau của người tham gia và bảo đảm cân đối thu chi quĩ BHYT
Cơ quan Bảo hiểm xã hội xây dựng các đề án xác định mức phí bảo hiểm y tế
cho từng loại hình BHYT tự nguyện [3], [43]
1.2.3 Bảo hiểm thương mại
Bảo hiểm thương mại còn được gọi là bảo hiểm rủi ro hay bảo hiểm
kinh doanh, được hiểu là sự kết hợp giữa những hoạt động kinh doanh với
việc quản lý rủi ro Về bản chất, bảo hiểm thương mại là biện pháp chia nhỏ
tổn thất của một hay một số ít người có khả năng cùng gặp một loại rủi ro,
dựa vào quỹ chung bằng tiền, được xây dựng trên cơ sở sự đóng góp của
nhiều người có khả năng gặp tổn thất đó, thông qua hoạt động của công ty bảo
hiểm Bảo hiểm thương mại có thể chia thành hai loại là: bảo hiểm nhân thọ
và bảo hiểm phi nhân thọ [43]
* Bảo hiểm nhân thọ:
Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam
kết sẽ trả một số tiền thỏa thuận khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra liên quan đến
sinh mạng và sức khỏe của con người Các đặc trưng cơ bản của bảo hiểm
nhân thọ là:
- Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một loại hợp đồng dài hạn với mức
phí bảo hiểm không thay đổi trong suốt thời hạn bảo hiểm
- Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm duy nhất có thể chi trả cho
dù có rủi ro hay không rủi ro xảy ra
- Công ty bảo hiểm và người được bảo hiểm đều phải tuân thủ nguyên
tắc trung thực tuyệt đối Tuân thủ nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm
- Mức độ rủi ro của bảo hiểm tăng theo độ tuổi của người được bảo hiểm
- Kết thúc hợp đồng với sự kiện chết của người được bảo hiểm
Các sản phẩm của bảo hiểm nhân thọ: bảo hiểm tử kỳ, bảo hiểm sinh
kỳ, bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp, bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm niên kim [43]
* Bảo hiểm phi nhân thọ:
Bảo hiểm phi nhân thọ là các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại khác không thuộc phạm vi bảo hiểm nhân thọ Tùy theo từng đặc trưng riêng của đối tượng bảo hiểm, bảo hiểm phi nhân thọ được phân thành nhiều loại hình bảo hiểm khác nhau: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường
biển, bảo hiểm hàng không, các loại bảo hiểm con người phi nhân thọ [43]
1.3 Bảo hiểm Y tế ở một số nước trên thế giới
* BHYT ở Đức: BHYT theo luật định chiếm khoảng 90% dân số (trong
đó có BHYT bắt buộc gồm người lao động và hưu trí có thu nhập
<47.700euro), BHYT tư nhân chiếm khoảng 10% dân số (trong đó BHYT tự nguyện là những người có thu nhập >47.700euro) BHYT xã hội Đức dựa trên nguyên tắc thống nhất, cơ chế tự quản, người bệnh hưởng trực tiếp các dịch
vụ y tế, có sự cạnh tranh về đối tượng tham gia giữa các quĩ bảo hiểm y tế Bệnh nhân BHYT cùng đóng góp chi phí cho một số dịch vụ nhất định Trẻ dưới 18 tuổi được miễn cùng chi trả, trừ trường hợp chi phí về nha khoa và chi phí đi lại; nhóm thu nhập thấp và bệnh mãn tính miễn cùng chi trả và tiền
bệnh nhân cùng chi trả không vượt quá 2% thu nhập năm của họ [28], [50]
* BHYT ở Hàn Quốc: Có 3 loại hình BHYT khác nhau gồm: BHYT cho
công chức, giáo viên và người phụ thuộc (10,4% dân số); BHYT cho người lao động trong ngành công nghiệp và người phụ thuộc (36% dân số); BHYT cho người lao động tự lập (50,1% dân số); đến năm 1998 chương trình Medicaid (trợ cấp y tế miễn phí) bao phủ 3,5% dân số còn lại Hàn quốc chỉ mất 12 năm bắt đầu từ năm 1977 đến năm 1989 để mở rộng BHYT xã hội tới toàn bộ dân số Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chế độ chính quyền quân
Trang 8sự, cùng với mô hình bảo hiểm đa dạng dựa trên nhiều tổ chức bảo hiểm tách
biệt cho từng loại lao động khác nhau trong nền kinh tế, tất cả những điều này
đã góp phần mở rộng nhanh chóng BHYT tại Hàn quốc [32]
* BHYT ở Pháp: BHYT ở Pháp có tính bắt buộc và độc quyền kể cả
những người nước ngoài cư trú tại Pháp đều phải đóng góp vào hệ thống
BHYT này Tất cả mọi người đều có thẻ khám bệnh, trẻ em trên 16 tuổi thì có
thẻ riêng, trước đó đăng ký trên thẻ của cha mẹ Hiện nay, người dân đi khám
bệnh hoặc mua thuốc hầu như không phải trả tiền ngoại trừ các khoản đóng
góp bắt buộc bắt đầu áp dụng từ năm 2005: như chuyển từ chế độ miễn phí
hoàn toàn sang chế độ đóng góp - mỗi lần khám bệnh phải trả 1euro, mỗi lọ
thuốc sẽ đóng 0,5euro ; đặt ra chế độ bác sỹ theo dõi; chế độ khám chữa
bệnh hay mua thuốc của bệnh nhân [38] [42]
* BHYT ở Philippines: BHYT tự nguyện ở Philippines thực hiện với các
đối tượng: người lao động tự do và người nghèo Các văn phòng Khu vực,
Văn phòng các vùng đều có bộ phận “phát triển hội viên”- Đây là bộ phận có
nhiệm vụ chính trong việc tổ chức thực hiện BHYT tự nguyện cho dân cư
trong địa bàn phụ trách Nhà nước mua thẻ BHYT cho người nghèo nhưng do
phụ thuộc vào kinh phí (của Trung ương và địa phương) nên hiện tại mới có
khoảng 5 triệu người nghèo được mua BHYT trong số gần 35 triệu người
nghèo của Philippines (chiếm khoảng 1/7) Do vậy, số người nghèo còn lại
cùng với các bộ phận dân cư khác phải tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện Tổ
chức triển khai bảo hiểm y tế chủ yếu thông qua các hình thức tuyên truyền
trên các phương tiện thông tin đại chúng, bằng tờ gấp, các hội nghị, việc cán
bộ xuống dân rất hạn chế do không đủ cán bộ Chính quyền các cấp giữ vai
trò quan trọng đối với quá trình tổ chức thực hiện BHYT tự nguyện, bằng các
văn bản chỉ đạo của chính quyền các cấp khẳng định chính sách BHYT xã hội
do Nhà nước tổ chức và thực hiện để nhân dân yên tâm tham gia Mặt khác,
giá dịch vụ y tế ở Philippines khá cao cũng là yếu tố tác động quan trọng đối với việc tham gia bảo hiểm y tế người dân [44]
* BHYT ở Thái Lan: BHYT cho đối tượng là người lao động làm công
ăn lương trong các doanh nghiệp từ 1 lao động trở lên (khoảng 7 triệu người),
tỷ lệ đóng là 4,5% trong đó Nhà nước đóng 1/3, chủ sử dụng đóng 1/3 và người lao động đóng 1/3 Phương thức thanh toán chi phí trong khu vực này
là khoán định suất Còn lại 46 triệu dân được hưởng chế độ theo chương trình
“Chăm sóc sức khỏe toàn dân” Theo chế độ này mỗi người được cấp 1 thẻ và mỗi lần đi khám bệnh hoặc vào nằm viện đều phải nộp 30 baht- còn gọi là
“chương trình 30 baht” Phương thức thanh toán là khoán định suất đối với ngoại trú bằng 55% quĩ và theo nhóm chẩn đoán đối với nội trú bằng 45% quĩ Thái Lan đang phải đối mặt với một loạt thách thức như sự lạm dụng BHYT, chi phí quá tăng, hệ thống quản lí phân tán, sự khác biệt khá lớn về quyền lợi giữa các khu vực, các đối tượng Hiện tại, Thái Lan áp dụng phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất và đang tích cực triển khai phương thức thanh toán theo chẩn đoán [27], [42]
* BHYT ở Trung Quốc: BHYT ở Trung Quốc có hai loại: BHYT ở nông
thôn (hợp tác y tế nông thôn) và BHYT ở thành phố (bảo hiểm cho nhân viên
nhà nước; bảo hiểm cho các xí nghiệp nhà nước; bảo hiểm cho những người
ăn theo công nhân xí nghiệp; bảo hiểm cho các xí nghiệp tuyến quận, huyện;
BH cho các xí nghiệp tuyến xã, phường; bảo hiểm cho những người ăn theo công nhân địa phương) Có hơn 400 triệu người (40% dân số) được bảo hiểm
y tế tại Trung Quốc Cụ thể như sau: 22 triệu nhân viên nhà nước, 71 triệu công nhân xí nghiệp quốc doanh và 55 triệu người ăn theo, 136 triệu công nhân các xí nghiệp cấp huyện và 97 triệu người ăn theo, 30 triệu nông dân trong các hợp tác xã y tế nông thôn Trong số 40% dân số được bảo hiểm y tế chỉ có 20% được bảo hiểm tương đối đầy đủ, 20% còn lại chỉ được bảo hiểm
Trang 9một phần Vấn đề làm thế nào để mở rộng bao phủ bảo hiểm y tế cả thành phố
và nông thôn vẫn còn là một câu hỏi chưa có câu trả lời cụ thể
Trung Quốc xây dựng kế hoạch thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo lộ
trình đến 2011: Từ năm 2010, trên 90% người dân sẽ được nhận hỗ trợ 120
nhân dân tệ mỗi người để tham gia bảo hiểm y tế Đồng thời xây dựng một hệ
thống sản xuất và phân phối các thuốc chủ yếu, nâng cấp các trung tâm y tế
vùng sâu vùng xa cũng như thu hẹp khoảng cách về chất lượng giữa thành thị
và nông thôn [30],[32]
1.4 Bảo hiểm Y tế ở Việt Nam
Bảo hiểm y tế Việt Nam là một chính sách xã hội của Đảng và Nhà
nước, chính sách BHYT chính thức được thực hiện theo nghị định 299/HĐBT
ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều
lệ Bảo hiểm y tế đánh dấu sự ra đời của BHYT ở nước ta [19] Điều lệ BHYT
đã ban hành trước đây có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, là
tiền đề cho việc mở rộng phát triển BHYT ở nước ta trong những năm tiếp
theo Trải qua hơn 15 năm thực hiện, BHYT đã chứng minh sự cần thiết và
từng bước trở thành một nhu cầu tất yếu của đời sống xã hội Các chính sách
BHYT đã có những bước phát triển đáng kể và đang dần được hoàn thiện về
cơ sở pháp lý cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, đáp ứng
được nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân trong từng giai đoạn
* Những thay đổi về chính sách BHYT qua các giai đoạn
Giai đoạn 1: từ năm 1992 đến 28/9/1998 Giai đoạn này hệ thống BHYT
ở Việt Nam được tổ chức và quản lý theo qui định của Nghị định số
299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và
điều lệ BHYT Bảo hiểm y tế Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động
Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm huy động sự đóng
góp của các nhân, tập thể và cộng đồng xã hội vừa để tạo nguồn ngân sách y
tế ổn định theo cơ chế trả trước, vừa là một hoạt động mang tính nhân đạo, nhiều người giúp một người khi bị ốm đau phải khám và điều trị [3] Tuy nhiên do cơ cấu tổ chức và quản lý của hệ thống BHYT Việt Nam nên trong quá trình thực hiện nảy sinh một số tồn tại cơ bản là:
- Quyền lợi của người tham gia BHYT chưa được đảm bảo thống nhất trong cả nước Một số tỉnh, thành phố tự ý đặt ra những qui định riêng trong việc thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT
- Một số địa phương có số thu BHYT ít phải hạn chế chi trả chi phí khám chữa bệnh trong khi một số địa phương có số thu nhiều, quĩ BHYT còn dư nhưng không thể điều tiết được từ nơi thừa sang nơi thiếu
- Bảo hiểm y tế Việt Nam khó thực hiện chức năng giám sát, điều tiết hoạt động bảo hiểm y tế trên phạm vi toàn quốc
Giai đoạn 2: từ 29/9/1998 đến 31/12/2002 Giai đoạn này hệ thống
BHYT Việt Nam được tổ chức và quản lý theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ đã ban hành điều lệ BHYT và Nghị định số 47/CP ngày 06/06/1994 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Điều
lệ BHYT với những điểm mới cơ bản là: mở rộng chính sách BHYT, đa dạng hóa các loại hình BHYT để đông đảo các tầng lớp dân cư có điều kiện tham gia hoạt động vì lợi ích của cá nhân và của cộng đồng, đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người có thẻ BHYT, xác định rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức chế độ BHYT, thực hiện phương thức cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT (cơ quan BHYT chi trả 80% cho các
cơ sở điều trị theo giá viện phí hiện hành, còn 20% người bệnh tự trả cho các
cơ sở điều trị), thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh, thống nhất công tác quản lý hệ thống BHYT theo ngành dọc để chính sách xã hội này được thực hiện đồng bộ, công bằng, hiệu quả, đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm y tế [3],[21]
Trang 10Giai đoạn 3: từ năm 2002 đến 30/6 năm 2009 Thực hiện quyết định số
20/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ, hệ
thống BHYT Việt Nam được chuyển từ Bộ Y tế sang Bảo hiểm xã hội Việt
Nam quản lý Theo đó BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức
năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT và quản lý các quỹ BHXH,
BHYT theo qui định của pháp luật Trong giai đoạn này rất nhiều nghị định,
thông tư hướng dẫn của Chính phủ, của ngành được ban hành nhằm mục đích
đảm bảo nguồn tài chính phục vụ công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân
dân, từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp trong y tế, xã hội hóa việc cung cấp các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cán bộ, công chức và người lao động, đảm
bảo sự ổn định và bền vững của hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam Các
chính sách BHYT trong giai đoạn này đã và đang được thực hiện là:
- Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/05/2005 của Chính phủ ban
hành Điều lệ Bảo hiểm y tế, từ 1/7/2005 quyền lợi của người tham gia BHYT
được mở rộng đó là: người có thẻ BHYT không cùng chi trả 20% chi phí
khám chữa bệnh, không thực hiện trần điều trị nội trú; được thanh toán các
dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, bệnh bẩm sinh, tai nạn giao thông, chi phí
vận chuyển Mức thanh toán khám chữa bệnh tự chọn tăng lên Gần 1000 loại
dịch vụ kỹ thuật được bổ xung Mở rộng các đối tượng BHYT bắt buộc [22]
- Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27/07/2005 của
Bộ Y tế và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT bắt buộc đó là: mở rộng
nhóm đối tượng tham gia BHYT bắt buộc, qui định mức chi phí bình quân tại
các tuyến chuyên môn kỹ thuật áp dụng thanh toán trực tiếp cho người có thẻ
BHYT khám chữa bệnh theo yêu cầu riêng [13]
- Thông tư liên tịch số 22/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 24/08/2005 của
Bộ Y tế và Bộ Tài chính hướng dẫn việc triển khai thực hiện BHYT tự
nguyện có sửa đổi điều kiện triển khai như sau: đối với thành viên hộ gia
đình phải có 100% thành viên có tên trong sổ hộ khẩu và cư trú trên địa bàn của cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đăng ký tham gia BHYT
tự nguyện (trừ người đã có thẻ BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện theo các nhóm đối tượng khác, trẻ em dưới 6 tuổi) và có ít nhất 10% số hộ gia đình trong phạm vi địa bàn xã đăng ký tham gia BHYT tự nguyện Đối với học sinh sinh viên triển khai theo nhà trường với điều kiện phải có ít nhất 10% số học sinh sinh viên trong danh sách HSSV của nhà trường tham gia BHYT tự nguyện Đối với hội viên hội đoàn thể phải có ít nhất 30% số hội viên trên tổng số hội viên của hội đoàn thể tham gia [14]
- Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT- BYT- BTC ngày 30/03/2007 của
Bộ y tế và Bộ tài chính qui định khám chữa bệnh nội, ngoại trú BHYT tự nguyện như sau: đối với KCB ngoại trú được thanh toán 100% chi phí khi có chi phí dưới 100.000 đồng , được thanh toán 80% chi phí khi có chi phí trên 100.000 đồng Đối với KCB nội trú được thanh toán 80% chi phí KCB [15]
- Thông tư liên tịch số 14/2007/TTLT- BYT- BTC ngày 10/12/2007 của
Bộ y tế và Bộ tài chính sửa đổi: điều kiện triển khai đó là bỏ điều kiện 100% thành viên trong hộ gia đình, 10% số hộ gia đình trong phạm vi địa bàn xã và 10% số HSSV trong danh sách HSSV của nhà trường tham gia, qui định khung mức đóng và phương thức đóng BHYT tự nguyện [16]
Giai đoạn 4: từ ngày 01 tháng 07 năm 2009 đến nay Đây là giai đoạn
quan trọng nhất, Luật Bảo hiểm y tế được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm
2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2009 Theo qui định của Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 01 năm 2014 thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân Luật BHYT quy định về chế độ, chính sách BHYT, bao gồm đối tượng, mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng BHYT, phạm vi được
Trang 11hưởng BHYT, thanh toán chi phí khám chữa bệnh, quyền và trách nhiệm của
các bên liên quan đến BHYT [33]
* Một số kết quả hoạt động Bảo hiểm y tế đã đạt được:
Đối với ngân sách nhà nước: nguồn thu từ BHYT đối với ngân sách nhà
nước tăng dần theo từng năm: năm 1993 là 111 tỷ đồng bằng 7% ngân sách y
tế; năm 1997 là 540 tỷ đồng bằng 12% ngân sách y tế [41]; năm 2002 đạt
1150 tỷ chiếm gần 1/3 tổng ngân sách giành cho y tế [38] và năm 2007 là
5.800 tỷ đồng [2]
Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế: đối tượng tham gia BHYT ngày
càng được mở rộng đến nay đã mở rộng đến 13 nhóm đối tượng (đối với
BHYT bắt buộc) Đối với BHYT tự nguyện áp dụng cho mọi đối tượng và bỏ
các điều kiện ràng buộc khi tham gia BHYT đối với hộ gia đình, hội đoàn thể,
các trường học [16],[21]
Số lượng người tham gia bảo hiểm y tế ngày càng tăng: từ 3,79 triệu
người năm 1993 (chiếm 5,3% dân số) đã tăng lên 9,5 triệu năm 1997 (chiếm
12,5% dân số) [41] và 12,5 triệu người năm 2002 chiếm 15,6% dân số cả
nước trong đó có 4 triệu người tham gia BHYT tự nguyện đến năm 2007 là
37,8 triệu người (chiếm 42% dân số) [2]
Đối với chi phí giành cho khám chữa bệnh: năm 1993 chi phí giành
cho khám chữa bệnh bảo hiểm y tế là 49 tỷ đồng và tăng lên 480 tỷ đồng
vào năm 1997 [41], năm 2003 là 1.180 tỷ đồng và tăng lên 7.900 tỷ đồng
vào năm 2007 [2]
Người có BHYT đi khám chữa bệnh đã tăng từ 2,2 triệu lượt người năm
1993 lên 14 triệu lượt người năm 1997 [41], 19,7 triệu lượt người năm 2002
[45], và 83,2 triệu lượt người năm 2007 [2]
Bảng 1.1 Một số kết quả hoạt động bảo hiểm y tế đã đạt được
Số thẻ BHYT (triệu người)
Tỷ lệ đối với dân số (%)
3,79 5,3
9,5 12,5
12,5 15,6
và chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng cao như: không thực hiện trần điều trị nội trú, được thanh toán các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, bệnh bẩm sinh, tai nạn giao thông, chi phí vận chuyển , mức thanh toán KCB tự chọn tăng lên, gần 1000 loại dịch vụ kỹ thuật được bổ sung [22]
* Một số đánh giá về kết quả BHYT học sinh sinh viên ở Việt Nam:
Những thành tựu: Chính sách BHYT học sinh ở nước ta đã được
người dân chấp nhận, thể hiện ở mức độ bao phủ tăng dần hàng năm, đến cuối năm 2006, số học sinh tham gia đạt 44% số học sinh cả nước Đến nay tất cả các tỉnh, thành phố đã thực hiện bảo hiểm y tế học sinh có nề nếp Trên thế giới, không có nước nào thực hiện bảo hiểm y tế học sinh theo hình thức tự nguyện như ở Việt Nam, học sinh các nước thường tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc theo hộ gia đình người lao động Các mô hình bảo hiểm y tế tự nguyện khác cũng không triển khai riêng cho học sinh sinh viên và chưa có quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện ở nước nào trên thế giới huy động được số tham gia đông đảo như ở nước ta bảo hiểm y tế học sinh ở nước ta là mô hình thành công nhất cả về số người tham gia, số thu vào quỹ, sự tăng trưởng nhanh và khá bền vững cũng như khả năng cân đối thu chi quỹ [29]
Trang 12Quyền lợi của học sinh tham gia bảo hiểm y tế được mở rộng Học sinh
tham gia bảo hiểm y tế từ chỗ chỉ được điều trị nội trú và chăm sóc sức khỏe
tại y tế trường học đến được hưởng quyền lợi như đối tượng bắt buộc, có một
số quyền lợi cao hơn các đối tượng bắt buộc như trợ cấp tử vong và có một tỷ
lệ quỹ BHYT để chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trường học
Hoạt động của y tế trường học dần dần được cụ thể hóa thông qua việc
tổ chức cấp cứu, sơ cứu và khám chữa bệnh thông thường cho học sinh kịp
thời, không để bệnh tiến triển nặng lên và chi phí tốn kém ở tuyến trên Phối
hợp với các chương trình y tế quốc gia như nha học đường, mắt học đường,
phòng chống giun sán học đường, vệ sinh học đường để tuyên truyền và
giáo dục cho học sinh có kiến thức tối thiểu về phòng chống các bệnh học
đường Tổ chức khám sức khỏe cho học sinh đầu cấp, phân loại thể lực, bệnh
tật của học sinh, phát hiện kịp thời các bệnh cấp tính, mãn tính, bẩm sinh để
phối hợp với gia đình chữa trị
Quỹ BHYT học sinh sinh viên đã hòa nhập thống nhất trên địa bàn cả
nước, sự san sẻ trong cộng đồng lớn sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người
tham gia cũng như cân đối quỹ BHYT học sinh Quỹ BHYT học sinh cơ bản
đã giải quyết khó khăn về mặt tài chính cho học sinh khi ốm đau bệnh tật, tai
nạn, bị mắc các bệnh hiểm nghèo phải điều trị nội trú tại các cơ sở y tế từ
tuyến Trung ương đến địa phương
Tiềm năng phát triển bảo hiểm y tế học sinh ở nước ta còn rất lớn, hiện
có trên 8 triệu học sinh tham gia bảo hiểm y tế, đạt 44% tổng số học sinh sinh
viên cả nước, nhưng vẫn còn khoảng hơn 10 triệu học sinh nữa chưa có bảo
hiểm y tế [40] Mặc dù học sinh ở các tỉnh miền núi phía Bắc, các tỉnh Tây
nguyên và một số vùng khó khăn đang có bảo hiểm y tế người nghèo nhưng
khi đời sống kinh tế khá lên và thoát nghèo thì số dân ở các tỉnh này trong đó
có học sinh sinh viên lại trở thành đối tượng không có bảo hiểm y tế Chính vì
vậy, tiềm năng phát triển BHYT học sinh ở nước ta trong những năm tới còn rất lớn và công tác tuyên truyền vận động học sinh sinh viên tham gia BHYT
tự nguyện trong khi Nhà nước chưa đưa vào diện tham gia bắt huộc [29]
* Bảo hiểm y tế ở Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên bắt đầu triển khai thí điểm BHYT tự nguyện HSSV tại Thành phố Thái Nguyên từ năm học 1995-1996 với tổng số học sinh tham gia là 31.621 em, năm học 1997-1998 đã có 99.803 học sinh tham gia BHYT
và đạt 37% trong tổng số học sinh toàn tỉnh, đến năm học 2000-2001 số lượng HSSV tham gia BHYT tăng lên gần 110.000 em, bằng 50% tổng số học sinh sinh viên toàn tỉnh [46]
Năm học 2005-2006 có 150 nghìn HSSV tham gia đạt tỷ lệ 83% tổng
số học sinh diện tham gia BHYT của toàn tỉnh và đứng trong tốp 5 địa phương dẫn đầu cả nước có tỷ lệ học sinh tham gia BHYT cao nhất [46] Năm
2007 tổng số người tham gia BHYT tự nguyện là 180.115, trong đó HSSV là 131.183 em, tổng số tiền thu được là 20,64 tỷ đồng, tổng số tiền chi cho khám chữa bệnh là 27,2 tỷ đồng [34]
Đối với các trường đại học, cao đẳng số lượng sinh viên tham gia BHYT tăng dần theo các năm, năm 2003 có 17.241 sinh viên tham gia đạt tỷ
lệ 42%, năm 2005 có 29.527 sinh viên tham gia đạt tỷ lệ 51% và đến năm
2007 số sinh viên tham gia BHYT đã tăng lên là 34.712 em đạt tỷ lệ 61% [5]
Bảng 1.2 Tỷ lệ sinh viên các trường đại học, cao đẳng tham gia BHYT
Trang 13Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ sinh viên các trường ĐH, CĐ tham gia BHYT
Có được kết quả như trên là do có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành
đặc biệt là ngành y tế và giáo dục, sự lãnh đạo và chỉ đạo, các văn bản thống
nhất từ Trung ương xuống địa phương, đội ngũ cán bộ ngành BHXH tích cực,
đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức như tờ rơi, báo đài
công tác giám định y tế tại các bệnh viện và công tác thanh toán luôn được
chú trọng cũng tác động đến sự tham gia BHYT học sinh [34]
1.5 Một số khó khăn trong việc triển khai BHYT học sinh sinh viên
BHYT học sinh có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của y tế
trường học và là chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước đối với sự phát
triển thế hệ trẻ nhưng vẫn là BHYT tự nguyện Việc học sinh tham gia BHYT
tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố: sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng,
chính quyền, công tác tuyên truyền vận động, sự hưởng ứng và đồng tình của
thầy cô giáo, chất lượng và sự thuận tiện trong khám chữa bệnh BHYT của
ngành y tế, nhận thức và điều kiện kinh tế của phụ huynh học sinh, sự cạnh
tranh của các công ty bảo hiểm thương mại
Sau hơn 15 năm thực hiện, chính sách BHYT học sinh đã có tới 5 thông tư điều chỉnh vì những bất cập phát sinh Do chính sách thay đổi nhiều lần nên việc tổ chức triển khai còn gặp nhiều khó khăn
Hiện tại, đã có thông tư hướng dẫn thực hiện BHYT đối với hộ gia đình cận nghèo [17] nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên nhiều địa phương chưa triển khai thực hiện hoặc thực hiện còn chậm Ngoài ra, không có nguồn nào
từ ngân sách nhà nước và các tổ chức khác hỗ trợ mức đóng cho học sinh ở vùng nông thôn khó khăn nhất là khi luật BHYT có hiệu lực với mức đóng tăng lên từ ngày 1/1/2010 Một số văn bản chỉ đạo của ngành y tế và ngành giáo dục đôi khi chưa ăn khớp với nhau làm ảnh hưởng đến việc triển khai BHYT học sinh sinh viên Bên cạnh BHYT học sinh còn có nhiều loại hình bảo hiểm thương mại khác với nhiều công ty bảo hiểm cùng tham gia với các phương thức tiếp thị hấp dẫn Do đó, có sự phân tán về chỉ đạo: hoặc để tùy thuộc nhà trường và hội cha mẹ học sinh lựa chọn, hoặc định hướng chỉ tham gia một loại hình Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa tổ chức được các hội nghị tổng kết đánh giá công tác BHYT học sinh mà chỉ lồng ghép vào đầu năm học nên kết quả BHYT học sinh còn chưa xứng với tiềm năng hiện có
Công tác khám chữa bệnh cho học sinh sinh viên có nơi làm chưa tốt, chưa đảm bảo quyền lợi, học sinh sinh viên còn bị phân biệt đối xử, thủ tục khám chữa bệnh rườm rà
Công tác tuyên truyền chính sách bảo hiểm y tế học sinh sinh viên chưa thường xuyên, chỉ tập trung vào đầu năm học
Mạng lưới y tế trường học chưa đều khắp, nhiều địa phương chưa triển khai được YTTH do khó khăn, vướng mắc trong tuyển chọn cán bộ y tế vì thu nhập không đảm bảo đời sống, phụ cấp cho cán bộ YTTH chỉ dựa vào nguồn thu BHYT, mức phụ cấp còn thấp và cố định nên cán bộ YTTH không yên tâm làm việc Cán bộ có chuyên môn cao thì không muốn làm YTTH [18]
Trang 14Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sinh viên
- Cán bộ y tế
- Ban Lãnh đạo nhà trường, cán bộ quản lý sinh viên
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
* Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10 – 2008 đến hết tháng 8 – 2009
* Địa điểm: nghiên cứu được tiến hành ở 4 trường đại học và cao đẳng tại
Tỉnh Thái Nguyên gồm:
- Trường Đại học Sư phạm- Đại học Thái Nguyên: Đại diện cho khối
văn hóa xã hội, đào tạo đa ngành, quá trình tham gia BHYT tương đối tốt
Trường có trạm y tế và có nhận quĩ khám chữa bệnh ngoại trú BHYT
- Trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp- Đại học Thái Nguyên: Đại
diện cho khối kỹ thuật, nhiều hình thức đào tạo chính qui, liên kết, tại chức,
khả năng sinh viên tham gia BHYT cao
- Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên: Đại diện cho ngành học có có
liên quan trực tiếp đến công tác khám chữa bệnh Trường ở gần Bệnh viện A
Thái Nguyên Quá trình tham gia BHYT tương đối tốt
- Trường Cao đẳng Cơ khí luyện kim Thái Nguyên: Đại diện cho hệ cao
đẳng khối kỹ thuật, trường cách Trung tâm thành phố 15 km và cách Bệnh
viện C gần 5 km Khả năng sinh viên tham gia BHYT tăng trong thời gian tới
2.3 Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang Kết hợp định lượng
e
q p Z
n
Ấn định 2
2 /
* Kỹ thuật chọn mẫu:
- Chọn chủ đích: trường, sinh viên học năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba vì đảm bảo yêu cầu nghiên cứu thuận lợi
- Chọn ngẫu nhiên: ngành, lớp Cách chọn như sau:
+ Sinh viên năm thứ nhất chọn 120 em, chọn 3 lớp, mỗi lớp đại diện cho một ngành học
+ Sinh viên năm thứ hai chọn 120 em, chọn 3 lớp, mỗi lớp đại diện cho một ngành học và đảm bảo không trùng với các ngành học của sinh viên năm thứ nhất
+ Sinh viên năm thứ ba chọn 120 em, chọn 3 lớp, mỗi lớp đại diện cho một ngành học và không trùng với các ngành học của sinh viên năm thứ nhất
và thứ hai
- Chọn sinh viên: mỗi lớp chúng tôi chọn toàn bộ
Trang 152.4 Chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1 Một số thông tin chung
- Giới
- Dân tộc:
+ Dân tộc Kinh
+ Dân tộc Tày, Nùng, khác
- Số sinh viên thuộc diện chính sách: sinh viên thuộc hộ nghèo, sinh viên
là con gia đình thương binh liệt sỹ
Sinh viên thuộc hộ nghèo theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày
8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng
cho giai đoạn 2006-2010 [23] như sau:
+ Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000
đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm)
+ Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm)
- Số lượng, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế
- Tổng số cán bộ công nhân viên
2.4.2.Thực trạng sinh viên tham gia bảo hiểm y tế
- Số sinh viên tham gia bảo hiểm y tế (2006-2008)
- Số sinh viên tham gia bảo hiểm y tế phân bố theo dân tộc
- Số lần sử dụng thẻ BHYT để KCB của sinh viên ( năm 2008)
- Số lần sử dụng thẻ bình quân trong năm tại các trường điều tra
- Nơi khám chữa bệnh thường xuyên của sinh viên có thẻ BHYT
- Cơ sở y tế được sinh viên lựa chọn khám chữa bệnh BHYT:
+ Bệnh viện: tuyến huyện, tuyến tỉnh, tuyến Trung ương
+ Trung tâm y tế + Phòng khám
+ Trạm y tế + Các cơ sở khác như: Bác sỹ tư
- Tình trạng bệnh tật của sinh viên khi mua BHYT: trong ba năm trở lại đây đã được khám và điều trị bất kỳ một bệnh nào đó (bệnh về đường hô hấp như: viêm họng, viêm phế quản, cúm ; bệnh về mắt như: viêm kết mạc, rối loạn điều tiết ; bệnh về đường tiêu hóa như: đau dạ dày, viêm đại tràng ; bệnh về đường tiết niệu như: viêm đường tiết niệu, sỏi thận ; bệnh về răng miệng như: sâu răng, viêm lợi )
- Thực trạng sử dụng quĩ y tế học đường trích từ bảo hiểm y tế học sinh Thực hiện theo các văn bản: Thông tư số 14/2007/TT-BTC ngày 8 tháng 3 năm 2007 [10], Quyết định số 1220/QĐ-BYT ngày 07/04/2008 [11], Thông
tư liên tịch số 03/2000/TTLT-BYT-BGD&ĐT ngày 01/03/2000, hướng dẫn thực hiện công tác y tế trường học [12]
Nội dung chi như sau:
+ Mua thuốc thông thường và trang thiết bị y tế theo qui định + Khám sức khỏe định kỳ
+ Tuyên truyền, hướng dẫn HSSV phòng chống bệnh tật học đường, phòng chống HIV-AIDS, phòng chống các tệ nạn xã hội, các bệnh lây truyền Hướng dẫn HSSV những kiến thức về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm + Hỗ trợ lương hoặc phụ cấp cho cán bộ làm công tác y tế trường học + Chi khác: thực hiện sơ kết, tổng kết, đánh giá tình hình và công tác quản lý sức khỏe học sinh sinh viên
- Chất lượng dịch vụ y tế các trường điều tra
+ Thái độ phục vụ tốt, không tốt dựa vào cách ứng xử, sự tận tình, niềm nở, cách xử trí cấp cứu, chẩn đoán, điều trị, tư vấn và giải thích các vấn
đề liên quan đến sức khỏe, các chế độ chính sách về BHYT
+ Chế độ thuốc: đầy đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, hàm lượng, phong phú về chủng loại, đủ liệu trình để điều trị bệnh, không phải mua thêm thuốc
Trang 162.4.3.Tìm hiểu sự hiểu biết, thái độ và nguyện vọng của sinh viên về BHYT
- Hiểu biết của sinh viên về quyền lợi khi tham gia BHYT: theo Thông
tư liên tịch số 22/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 24/08/2005 của Bộ Y tế và Bộ
Tài chính hướng dẫn việc triển khai thực hiện BHYT tự nguyện có sửa đổi
[14] thì HSSV có thẻ BHYT được hưởng các quyền lợi như sau:
+ Được chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trường học
+ Được khám chữa bệnh nội trú, ngoại trú tại các cơ sở KCB công lập
và ngoài công lập có hợp đồng KCB BHYT với cơ quan Bảo hiểm xã hội
+ Được thanh toán 80% chi phí KCB nội trú và chi phí KCB ngoại trú
khi có chi phí từ 100.000 đồng trở lên
+ Trong trường hợp cấp cứu, tai nạn (kể cả tai nạn giao thông) được
cấp cứu và hưởng chế độ BHYT ở bất kỳ cơ sở y tế nào của nhà nước
+ Được trợ cấp 1.000.000 đồng khi tử vong
+ Được bảo hiểm 24/24h
Đánh giá
Hiểu biết 5-6 nội dung là
Hiểu biết 4 nội dung là
Hiểu biết 3 nội dung là
Hiểu biết 1-2 nội dung là
: Tốt : Khá : Trung bình : Kém
- Nguồn cung cấp thông tin cho sinh viên về chính sách BHYT
+ Các phương tiện truyền thông như đài, báo, tờ rơi, truyền hình
+ Các buổi sinh hoạt chính trị đầu năm
+ Giáo viên chủ nhiệm
+ Cán bộ y tế
+ Cán bộ quản lý sinh viên
+ Các nguồn khác như bố mẹ, anh chị em, bạn bè
- Thái độ của sinh viên với việc mua thẻ bảo hiểm y tế
- Ý kiến của sinh viên về mức đóng bảo hiểm y tế hiện nay
Mức đóng hiện nay thực hiện theo Thông tư liên tịch số BYT-BTC ngày 10 tháng 12 năm 2007 của liên Bộ Y tế- Bộ Tài Chính [16] + Khu vực thành thị: 120.000đồng/SV/năm (trường ĐHSP, CĐYT) + Khu vực nông thôn: 100.000đồng/SV/năm (ĐHKTCN, CĐCKLK)
14/2007/TTLT Ý kiến của sinh viên về khả năng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế
- Lý do sinh viên không tham gia bảo hiểm y tế
- Nguyện vọng của sinh viên về mức nộp bảo hiểm y tế
2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu theo mẫu phiếu in sẵn thống nhất
- Thảo luận nhóm với các đối tượng liên quan: có 3 cuộc thảo luận nhóm
với sinh viên và cán bộ y tế trường theo các mục tiêu nghiên cứu
- Hồi cứu số liệu: từ sổ sổ sách, báo cáo của BHXH Tỉnh Thái Nguyên
và các trường điều tra theo mục tiêu nghiên cứu
2.6 Vật liệu nghiên cứu
- Phiếu điều tra
- Bảng hướng dẫn thảo luận nhóm
- Biểu mẫu thu thập số liệu
- Các văn bản hướng dẫn về chính sách BHYT
- Nhân lực: Các cán bộ thực hiện đề tài là một số học viên cao học khóa
11 chuyên ngành Y học dự phòng trường Đại học Y Dược- Đại học Thái Nguyên và cán bộ y tế các trường điều tra
- Máy tính bỏ túi
- Máy vi tính với các phần mềm EPIINFO 6.04, SPSS 13.0
Trang 172.7 Khống chế sai số
- Giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của việc điều tra cho các đối tượng
nghiên cứu
- Tiến hành tập huấn điều tra viên, thống nhất kỹ thuật các tiêu chuẩn khi
tiến hành điều tra và giữ nguyên số người đã được tập huấn điều tra trong suốt
quá trình thu thập số liệu
- Hạn chế tối đa các sai số trong quá trình điều tra, thu thập số liệu bằng
cách làm sạch số liệu ngay trong ngày điều tra
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện dưới sự đồng ý của Ban Lãnh đạo các
trường điều tra
- Các đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia và đều được thông tin rõ
ràng về mục tiêu, phạm vi sử dụng thông tin thu được trong nghiên cứu
- Các thông tin được nghiên cứu đảm bảo tính trung thực, khách quan
2.9 Xử lý số liệu
Các số liệu đã thu thập, được xử lý theo phương pháp thống kê y học
trên phần mềm vi tính EPIINFO 6.04, Exel, SPSS13.0
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo giới Giới
85.32
14.68 24.86 75.14
22.32 77.68 81.82
18.18
0 20 40 60 80 100
Trang 18Bảng 3.2 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo dân tộc
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Sinh viên thuộc hộ nghèo chiếm tỷ lệ là 11,79%, sinh viên con gia đình
thương binh liệt sỹ chiếm tỷ lệ 5,93%
Bảng 3.4 Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế Trình độ
( %)
Tổng cộng
- Trường Cao đẳng Y tế và Cao đẳng Cơ khí luyện kim không có bác sỹ
Bảng 3.5 Tỷ lệ cán bộ y tế/tổng số cán bộ công nhân viên và sinh viên
CBYT
CBYT/ số phục vụ
ĐHKTCN 6 570 8.370 8.940 1/1.490 ĐHSP 7 570 8.345 8.915 1/1.274 CĐYT 1 79 3.575 3.654 1/3.654 CĐCKLK 3 270 4.943 5.213 1/1.738
Nhận xét:
Tỷ lệ cán bộ y tế phục vụ cho cán bộ công nhân viên và sinh viên thấp nhất là 1/1.274 (trường ĐHSP), cao nhất là 1/3.654 (trường CĐ y tế) Kết quả phỏng vấn Hiệu trưởng trường Cao đẳng Y tế:
“ .Hiện tại nhà trường có 1 cán bộ y tế, không thành lập trạm y tế là do
trường học gần với bệnh viện, hàng ngày sinh viên thực tập tại bệnh viện, nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại bệnh viện, nên chỉ những trường hợp cấp cứu hoặc mắc bệnh thông thường sinh viên mới đến y tế trường học”
Trang 193.2 Thực trạng sinh viên tham gia bảo hiểm y tế
Bảng 3.6 Tỷ lệ sinh viên tham gia bảo hiểm y tế
(Nguồn BHXH tỉnh Thái Nguyên và các trường)
Năm
Trường
trung bình 3năm
TSSV
(N)
Tham gia BH TSSV
(N) Tham gia BH TSSV
(N) Tham gia BH
- Tỷ lệ sinh viên tham gia BHYT không đồng đều giữa các trường
- Trường Cao đẳng Y tế có tỷ lệ sinh viên tham gia bảo hiểm y tế tăng
dần qua các năm, cao nhất là năm 2008 (87,58%)
- Trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp có tỷ lệ sinh viên tham gia
BHYT thấp nhất so với các trường (năm 2008 chỉ có 37,32%) Sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê (p<0,01)
Bảng 3.7 Tỷ lệ sinh viên tham gia BHYT phân bố theo dân tộc
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Dân tộc Kinh 808 79,22 212 20,78 1.020 71,98 Dân tộc Tày, Nùng,
Số lần
SD thẻ số thẻ Tổng Số lượt KCB
Số lần
SD thẻ ĐHKTCN 2.506 2.290 0,91 2.875 2.216 0,77 3.124 1.997 0,64 ĐHSP 3.685 1.192 0,32 5.418 1.590 0,29 5.758 2.022 0,35 CĐYT 1.293 148 0,12 1.710 609 0,36 3.131 850 0,27 CĐCKLK 2.470 4.413 1,79 2.257 4.312 1,91 2.034 4.213 2,07
Nhận xét:
- Số lần sử dụng thẻ bình quân được sinh viên sử dụng để khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu tại y tế trường học không đồng đều giữa các trường và có xu hướng tăng dần qua các năm
- Số lần sử dụng thẻ bình quân năm 2008 cao nhất là trường Cao đẳng
Cơ khí luyện kim (2,07); thấp nhất là trường Cao đẳng Y tế (0,27)