1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

37 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 739,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khu chuyên canh vải đã tạo ra một môi trường sinh thái mới bao gồm các sinh vật sẵn có đã có sự thay đổi về tỷ lệ, đồng thời đã tăng tỷ lệ một số sinh vật mới phù hợp với môi trường như

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân

thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, các bộ môn, các giảng viên

Trường đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình truyền đạt

những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành

Luận văn

Với lòng biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS

Đỗ Hàm, Người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình

nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Nhân dịp này tôi xin chân thành ơn Ban Giám đốc Sở Y tế tỉnh Bắc

Giang, cán bộ công chức Sở Y tế đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá

trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám đốc cùng các bác sĩ, cán bộ

Bệnh viện Đa khoa khu vực Lục Ngạn, Phòng Y tế huyện Lục Ngạn, Trạm Y tế

xã Quý Sơn, Trạm Y tế xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã

tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để hoàn

thành Luận văn

Xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua Xin chân thành cảm ơn./ Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2009 Tác giả Trần Văn Sinh MỤC LỤC Trang ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Sức khoẻ và bệnh tật của người lao động nông nghiệp 3 1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh tật 7

1.3 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội của huyện Lục Ngạn 14 1.4 Tình hình nghiên cứu sức khoẻ, bệnh tật của người lao động 16 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu 20

2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu 23

2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu 24

2.6 Vật liệu, phương tiện, nguồn lực 25 2.7 Phương pháp khống chế sai số 25

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 25 2.9 Phương pháp xử lý số liệu 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Một số chứng, bệnh thường gặp của người chuyên canh vải 29

3.3 Một số yếu tố liên quan đối với các chứng, bệnh thường gặp 36

Chương 4 BÀN LUẬN 41

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 41

4.2 Thực trạng một số chứng, bệnh thường gặp 45

4.3 Một số yếu tố liên quan đối với các chứng, bệnh thường gặp 50

KẾT LUẬN 54

PHỤ LỤC

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đối tượng nghiên cứu phân theo trình độ học vấn 26

Bảng 3.2 Đối tượng nghiên cứu phân theo tuổi, giới 26

Bảng 3.3 Đối tượng nghiên cứu phân theo tuổi nghề 27

Bảng 3.4 Thực trạng sử dụng BHLĐ ở đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3.5 Tình hình sử dụng HCBVTV 28

Bảng 3.6 Một số chứng bệnh thường gặp 29

Bảng 3.7 Tỷ lệ mắc chứng đau đầu theo tuổi đời 30

Bảng 3.8 Tỷ lệ mắc chứng đau đầu theo tuổi nghề 30

Bảng 3.9 Tỷ lệ mắc chứng mất ngủ theo tuổi đời 31

Bảng 3.10 Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi họng mạn tính theo tuổi đời 32

Bảng 3.11 Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi họng mạn tính theo tuổi nghề 32

Bảng 3.12 Tỷ lệ mắc bệnh viêm kết mạc theo tuổi đời 33

Bảng 3.13 Tỷ lệ mắc bệnh viêm kết mạc theo tuổi nghề 33

Bảng 3.14 Tỷ lệ mắc bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng theo tuổi đời 34 Bảng 3.15 Tỷ lệ mắc bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng theo tuổi nghề 34 Bảng 3.16 Tỷ lệ mắc bệnh viêm da dị ứng theo tuổi đời 35

Bảng 3.17 Tỷ lệ mắc bệnh viêm da dị ứng theo tuổi nghề 35

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa sử dụng quần áo BHLĐ với bệnh viêm da dị ứng

36

Trang 4

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với chứng

đau đầu

37 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh

viêm mũi họng mạn tính

37 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh

viêm kết mạc mắt

38 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh

viêm loét dạ dày – tá tràng

39 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh

viêm da dị ứng

39 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa trình độ văn hoá với bệnh viêm kết mạc

40 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa trình độ văn hoá với bệnh viêm da dị

Biểu đồ 3.3 Mối liên quan giữa sử dụng kính bảo hộ với bệnh

viêm kết mạc

36 Biểu đồ 3.4 Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng

đối với các vấn đề kinh tế, xã hội ở nước ta Đường lối và các chính sách

được hoạch định và tổ chức thực hiện trong hơn 20 năm qua đã đem lại hiệu

quả vô cùng to lớn đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn cả nước được

cộng đồng Quốc tế ghi nhận và đánh giá tích cực (dẫn từ [22]) Nông nghiệp

tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao

năng suất, chất lượng và hiệu quả; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và

thực phẩm quốc gia Kinh tế trang trại có xu hướng phát triển mạnh và đang

là mô hình sản xuất hàng hoá có hiệu quả Tuy nhiên những vấn đề về môi

trường có ảnh hưởng tới sức khỏe, phát triển bền vững và những phát sinh nội

tại đang đòi hỏi chúng ta về sự cần thiết phải có sự quan tâm, đánh giá

Quá trình canh tác nông nghiệp nói chung, trồng vải nói riêng luôn luôn

tạo ra sự giao lưu, chuyển đổi của các thành phần sẵn có về môi trường sinh

thái Những chất mà con người đưa vào môi trường theo mục đích nâng cao

hiệu quả kinh tế cho cây vải bao gồm các sản phẩm từ phân bón, hoá chất trừ

sâu, diệt cỏ, diệt chuột và các loại hoá chất có tác dụng đến quá trình sinh

trưởng đều đáng phải quan tâm Lợi ích của phân bón, hoá chất trừ sâu diệt cỏ

và các hoá chất có tác dụng đến quá trình sinh trưởng của cây nông nghiệp đã

được khẳng định từ thời thượng cổ Tuy nhiên những bất cập, ảnh hưởng có

hại của phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật đã và đang là vấn đề khó giải

quyết của các nhà khoa học cũng như cả cộng đồng, đặc biệt là sự ảnh hưởng

xấu tới môi trường sống và sức khoẻ của con người (dẫn từ [16], [18])

, trong đó diện tích nông nghiệp là 260.906 ha Năm 2007 cả tỉnh Bắc Giang có 2.935

trang trại, tăng 2.549 trang trại so với năm 2002 Các trang trại đã thu hút, giải

quyết việc làm cho 8.842 lao động, trong đó có 3.908 lao động thường xuyên Đặc biệt đối với cây vải đã hình thành vùng sản xuất hàng hoá lớn nhất cả nước với diện tích là 39.835 ha, tổng sản lượng đạt 228.000 tấn, tăng gấp 4 lần so với năm 2002, góp phần quan trọng vào việc xoá đói, giảm nghèo ở nhiều địa phương trong tỉnh (dẫn từ [23], [33], [34], [35])

Khu chuyên canh vải đã tạo ra một môi trường sinh thái mới bao gồm các sinh vật sẵn có đã có sự thay đổi về tỷ lệ, đồng thời đã tăng tỷ lệ một số sinh vật mới phù hợp với môi trường như các loại chim ăn quả tăng lên, quần thể muỗi và một số côn trùng khác cũng thay đổi…Tất cả sự chuyển đổi sinh thái và ô nhiễm môi trường có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ, đặc biệt là cơ cấu một số bệnh thường gặp trong cộng đồng dân cư Thực tế có rất nhiều vấn đề được quan tâm đối với người chuyên canh vải Song việc trước mắt là phải xem xét các chứng, bệnh thường gặp ở người chuyên canh vải có gì khác so với các đối tượng lao động khác Đồng thời xem xét một số yếu tố liên quan

có thể tác động đến tần xuất mắc các chứng, bệnh ở các đối tượng này Vấn đề đặt ra là: Cơ cấu bệnh tật cũng như các vấn đề sức khỏe có liên quan của người dân chuyên canh vải Lục Ngạn ra sao? Vấn đề sức khoẻ nào mang tính đặc thù và các yếu tố nào có liên quan đến sức khỏe ở đối tượng chuyên canh vải? Có gì khác với các cộng đồng canh tác nông nghiệp khác không? Để trả lời những vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thực trạng một số chứng, bệnh thường gặp và yếu tố liên quan ở người chuyên canh vải huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang”

Đề tài nghiên cứu nhằm đáp ứng hai mục tiêu sau:

1 Mô tả một số chứng, bệnh thường gặp của người chuyên canh vải huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;

2 Xác định một số yếu tố liên quan đối với các chứng, bệnh thường gặp của người chuyên canh vải

Trang 6

Chương 1

TỔNG QUAN

1.1 Sức khỏe và bệnh tật của người lao động nông nghiệp

Sức khoẻ luôn gắn liền với các tác động của môi trường Sức khỏe môi

trường là trạng thái sức khoẻ của con người liên quan và chịu tác động của

các yếu tố môi trường sinh thái bao quanh Có nhiều yếu tố tác động đến sức

khoẻ của mỗi người: Yếu tố xã hội, văn hoá, kinh tế, môi trường tự nhiên và

yếu tố sinh học như di truyền, thể chất Muốn có sức khoẻ tốt phải tạo ra môi

trường sống lành mạnh và đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực, chủ động của

mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng

Nghề nông ở nước ta cũng chịu nhiều ảnh hưởng, nhiễm nhiều bệnh tật

như các nghề khác do tính đa dạng của công việc Có rất nhiều bệnh mang

tính chất đặc thù đối với đối tượng lao động nông nghiệp Bệnh nhiễm ký sinh

trùng là bệnh thường gặp nhất của nhà nông như các viêm nhiễm ngoài da do

nấm, vi trùng, ấu trùng sán vịt…Các bệnh đường ruột cũng thường gặp ở

người lao động bởi họ phải làm việc trong môi trường thiên nhiên và tiếp xúc

nhiều với tác nhân gây bệnh đường tiêu hoá Theo nghiên cứu của một số tác

giả trong nước cho thấy tỷ lệ người lao động nông nghiệp, nông thôn mắc các

bệnh giun là khá cao, đặc biệt là các bệnh giun đũa (50 – 80%), các bệnh do

giun móc (20 – 30%) Nguyên nhân của sự gia tăng bệnh này là do việc xử lý

phân không tốt, sử dụng phân còn tồn tại nhiều trứng giun như phân tươi,

phân chưa ủ trong canh tác nông nghiệp (dẫn từ [12])

Môi trường nông nghiệp, nông thôn đang phải đối mặt với nhiều vấn đề

ô nhiễm như ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, môi trường không

khí Không riêng gì ở thành phố và các khu công nghiệp mà hiện nay ở địa

bàn nông thôn cũng đang là mối quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã

hội Các chất thải sinh hoạt không được xử lý, phân hữu cơ được sử dụng bừa bãi trong nông nghiệp khi chưa ủ đủ thời gian Việc sử dụng phổ biến các loại phân này ở hầu hết các địa phương trong cả nước, đang hàng ngày phân huỷ

ra các chất hoá học gây ô nhiễm môi trường Tình trạng ô nhiễm không khí ở môi trường lao động nông nghiệp thường cao hơn các khu vực khác, bởi trong

trình phân huỷ yếm khí các hợp chất trung gian này sẽ xuất hiện Các sản phẩm có nguồn gốc Nitơ thường tăng cao ở khu vực chứa phân và khi chăm bón cây trồng, bởi lẽ người nông dân sử dụng phân chưa ủ đủ thời gian, nên quá trình ô nhiễm là liên tục, thường xuyên (dẫn từ [3], [7], [15], [19], [31]) Yếu tố hóa học môi trường, đặc biệt là tình trạng sử dụng hoá chất bảo

vệ thực vật trong nông nghiệp nói chung, vùng chuyên canh vải nói riêng đã ảnh hưởng khá nhiều đến sức khoẻ cộng đồng Tuỳ theo mức độ ô nhiễm mà các ảnh hưởng đó bao gồm cả những dấu hiệu cấp tính và mạn tính nhưng nhìn chung thường gây nên sự tích luỹ và ảnh hưởng mạn tính Các ảnh hưởng chủ yếu gây nên các rối loạn bệnh lý kiểu bệnh môi trường (các hoá chất và kim loại nặng, khí hậu và thời tiết bất lợi, các vi sinh vật…)

tác động nhiều đến sức khoẻ người nông dân Các tác giả trong nước đều cho một nhận định nhất quán là tỷ lệ bệnh hô hấp và bệnh mũi họng của người dân tiếp xúc với các loại phân hữu cơ thường cao hơn những người khác trong gia đình, bởi vì các chất ô nhiễm thường xuyên kích thích trong quá trình lao động, trong khi người lao động không có các trang thiết bị BHLĐ phù hợp nhằm bảo vệ niêm mạc đường hô hấp và đường mũi họng Dẫn từ [5], [6], [8], [10], [14]

Trang 7

1.1.1 Bệnh do khí hậu thời tiết

Người nông dân nói chung và người dân chuyên canh vải nói riêng cũng

dễ bị say nắng, say nóng và các bệnh khác do điều kiện vi khí hậu bất thường,

thậm chí có người chết Bệnh say nắng là do tác động của bức xạ cực tím tác

động vào khu vực trung tâm nằm ở hành não Bệnh say nóng là do tích nhiệt

trong quá trình lao động ở môi trường nóng bức Do không được quan tâm

đúng mức nên đã có nhiều trường hợp bị ảnh hưởng hoặc đã xảy ra các rối

loạn bệnh lý lâu ngày không được phát hiện và xử lý kịp thời Nhóm các bệnh

có liên quan đến môi trường lao động sản xuất ở nông thôn có rất nhiều và

cần phải nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn (dẫn từ [17], [24])

1.1.2 Các bệnh hô hấp

Các nghiên cứu trong nước cho thấy mô hình bệnh tật ở nước ta vẫn là

mô hình của những nước nghèo, mà chủ yếu là bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh

dưỡng Trong thực tế thì các bệnh hô hấp ở nông dân luôn luôn cao Bởi vì

nhiễm khuẩn hô hấp dễ mắc hơn các nhiễm khuẩn khác do diện tích tiếp xúc

của bộ máy hô hấp với môi trường là cao nhất trong cơ thể Suy dinh dưỡng

có tỷ lệ cao trong cộng đồng nông dân nước ta, làm cho miễn dịch của con

người bị giảm thiểu, đặc biệt là miễn dịch chống các bệnh nhiễm trùng thường

gặp Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở nước ta còn tương đối cao, cho nên miễn dịch

của cơ thể sẽ bị kém so với người bình thường trong đó có miễn dịch đối với

các bệnh nhiễm trùng do thiếu đạm, thiếu vitamin A… Nhiễm khuẩn hô hấp

cấp vẫn là bệnh hay gặp trong cộng đồng (dẫn từ [11], [13]) Một số loại

HCBVTV tác động trực tiếp lên tế bào gây kích thích và cũng huỷ hoại tế bào

niêm mạc đường hô hấp gây bệnh đã được nghiên cứu nhiều Do đó các bệnh

hô hấp cũng thường gặp ở người nông dân nói chung và nông dân chuyên

canh vải như viêm phế quản, viêm phổi…

1.1.3 Các bệnh tiêu hoá

Nhiều nghiên cứu cho thấy người nông dân lao động trong điều kiện thời tiết nóng, phân phối máu nội tạng thiếu và mất thăng bằng muối nước, thường ảnh hưởng đến chức phận của cơ quan tiêu hoá, bệnh đường ruột có cơ hội gia tăng Bệnh tiêu hoá mắc phổ biến ở người nông dân là viêm dạ dày - tá tràng, rối loạn tiêu hoá…[20], [25], [26], [27]

Năm 1997 Trường đại học Y Hà Nội thông báo: tại một số xã ở Kim Bảng, Hà Nam trong 100.000 người có 1097 người mắc bệnh tiêu hoá Tập quán sử dụng phân tươi vẫn rất phổ biến Riêng ở Hà Nội hàng ngày thải ra 550.000 tấn phân trong đó thu gom mới được khoảng 30 – 35% Đó chính là một nguyên nhân quan trọng làm nhiễm bẩn đất, nước mặt và ngay cả nguồn nước sạch và thực phẩm nhất là rau quả tươi [4]

1.1.4 Các bệnh da, niêm mạc

Theo nghiên cứu của một số tác giả cho thấy người nông dân ở nước ta cũng có thể bị nhiễm nhiều bệnh tật như các nghề khác do tính đa dạng của công việc Tuy nhiên có rất nhiều bệnh mang tính chất đặc thù Bệnh nhiễm trùng, kí sinh trùng là bệnh thường gặp nhất của nhà nông như các viêm nhiễm, dị ứng ngoài da do nhiều nguyên nhân [31], [38]

Người nông dân dễ bị nhiễm độc các loại hóa chất trừ sâu, diệt cỏ do sử dụng rộng rãi vì nhiều mục đích khác nhau nhưng không đảm bảo an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ)

Các bệnh dị ứng cũng thường gặp như dị ứng với côn trùng, phấn hoa gây mề đay hoặc co thắt khí phế quản trong mùa thu hoạch hoặc chăm sóc các cây lương thực

Trang 8

1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, bệnh tật của người lao động

nông nghiệp

1.2.1 Môi trường nông nghiệp, nông thôn

Trong những năm qua nhờ thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện

đại hoá nông nghiệp và nông thôn mà sản xuất nông nghiệp đã đạt được thành

tựu to lớn, góp phần tăng tổng sản phẩm trong nước, bảo đảm an ninh lương

thực, góp phần quan trọng cải thiện đời sống nhân dân Cùng với sự nỗ lực

của nhân dân, nhà nước đã giành nguồn đầu tư đáng kể để xây dựng cơ sở hạ

tầng, đổi mới phương thức sản xuất, ứng dụng công nghệ mới, đầu tư thiết bị

máy móc, điện, thuốc bảo vệ thực vật và cải thiện điều kiện lao động trong

sản xuất nông nghiệp

Trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, ngành sản xuất

và kinh doanh hoá chất phát triển rất mạnh, đặc biệt là hoá chất dùng trong

nông nghiệp Hoá chất dùng trong nông nghiệp được sản xuất và sử dụng

nhiều vì lợi ích kinh tế song do việc sử dụng không đúng kỹ thuật, không đảm

bảo an toàn vệ sinh lao động đã gây nên những ảnh hưởng bất lợi đến môi

trường và sức khoẻ cộng đồng Môi trường sống đặc biệt là môi trường nông

nghiệp, nông thôn đang là một vấn đề bức xúc bởi rất nhiều nguyên nhân

trong đó có khối lượng lớn hoá chất dùng làm phân bón và hoá chất bảo vệ

thực vật thải ra đồng ruộng, thậm chí cả các khu vực dân cư sinh sống [23]

Các hoá chất mà con người sử dụng trong nông nghiệp hiện nay bao gồm

rất nhiều loại sản phẩm như phân hoá học (đạm, lân, kali…), HCBVTV, diệt

cỏ, diệt chuột và các loại hoá chất có tác dụng kích thích sinh trưởng cây

trồng, kích thích ra hoa, đậu quả, tươi lâu Hiện nay Việt Nam đang được coi

là một quốc gia phát triển về nhiều mặt, đặc biệt là chúng ta đang đứng ở vị trí

nước xuất khẩu gạo và cà phê thứ 2 trên thế giới Chúng ta cũng đang đứng ở

vị trí nước xuất khẩu nhiều loại rau, quả, chè sang nhiều nước trên thế giới với số lượng lớn Có được kết quả như vậy là nhờ vào nhiều biện pháp kinh

tế, kỹ thuật, trong đó có việc sử dụng phân bón và HCBVTV Tuy nhiên những bất cập do ảnh hưởng có hại của phân bón và đặc biệt là HCBVTV đối với môi trường và sức khoẻ đang là vấn đề khó giải quyết của các nhà khoa học có liên quan cũng như cả cộng đồng (dẫn từ [23], [28], [39], [40], [41])

1.2.2 Ô nhiễm phân hữu cơ

Do những lợi ích của phân bón đã được khẳng định từ thời thượng cổ, xã hội càng tiến bộ con người càng biết sử dụng phân bón hữu hiệu hơn Mỗi nước có kinh nghiệm và tiềm năng khác nhau trong việc sử dụng phân bón

Về số lượng phân bón, (năm 1993) bình quân 1 ha gieo trồng người nông dân của nước ta sử dụng 80 kg phân bón, trong khi Nhật Bản là 395 kg, Mỹ là 101

kg Phân hữu cơ trung bình 5 – 6 tấn/ha trong vòng 20 năm (1970 – 1992), một số khu vực đạt đến 10 tấn/ha Phân hữu cơ chúng ta sử dụng khoảng hơn

60 triệu tấn/năm (phân chuồng, rơm rạ, phân hữu cơ sinh học khác) [15] Phân bón hữu cơ, chủ yếu là phân chuồng, phân bắc có ảnh hưởng xấu

về mặt vệ sinh nếu không tuân thủ đúng kỹ thuật Vấn đề này liên quan chặt chẽ đến việc quản lý và xử lý phân trước khi sử dụng của bà con nông dân nước ta Điều tra ở Thái Bình, Hà Nội từ 1992 – 1994 cho thấy: vùng trồng lúa 90% hộ dân có hố tiêu trong đó gần 60% số hộ sử dụng phân bắc chưa xử

lý tưới bón cho cây trồng Điều tra ở Phú Thọ năm 2005, Điện Biên năm 2006 cũng thấy khoảng 70 – 80% số hộ sử dụng phân bắc, thậm chí chưa xử lý trong canh tác nông nghiệp Hơn 80% số hộ trồng rau ở nông thôn dùng phân tươi bón rau [4]

Trang 9

1.2.3 Lao động nặng nhọc trong điều kiện kinh tế, xã hội ở mức thấp

Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam được định hướng theo chiến

lược, chính sách của quá trình đổi mới Một đặc điểm nổi bật của quá trình

đổi mới là sự chuyển đổi nền kinh tế được điều chỉnh bằng cơ chế quản lý tập

trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế trang trại

phát triển đã mở ra một hướng làm ăn mới, hình thành đội ngũ nông dân năng

động, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam Nhưng nền kinh tế

Việt Nam hiện nay vẫn đang phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp là chính

Nông nghiệp hiện nay vẫn dựa trên một nền tảng nông nghiệp còn lạc hậu, vai

trò của khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp còn hạn chế Do đó ảnh hưởng

đến năng suất lao động cũng như sức khoẻ người nông dân Nước ta có trên

70% là lao động nông nghiệp trong số gần 40 triệu người ở tuổi lao động, sản

phẩm quốc nội nhờ nông nghiệp mà tăng nhanh, người dân được no đủ, vững

bền Lao động nông nghiệp ở nước ta hiện nay đang dựa trên một nền tảng

nông nghiệp lạc hậu để lại với trình độ dân trí chưa cao, nền khoa học kỹ

thuật vẫn còn đóng một vai trò khiêm tốn, ảnh hưởng đến năng suất lao động

cũng như sức khoẻ người nông dân Do vậy các vấn đề sức khoẻ của người

lao động nông nghiệp là vấn đề đáng nhận được sự quan tâm nhiều của các

nhà quản lý cũng như các thày thuốc

Lao động nông nghiệp nước ta có đặc điểm lao động ngoài trời và phụ

thuộc nhiều vào yếu tố thiên nhiên cho nên cần lưu ý quan tâm như điều kiện

khí hậu thời tiết khắc nghiệt, lao động thủ công đơn giản thiếu bảo hộ là phổ

biến Trong quá trình lao động người nông dân phải tiếp xúc nhiều với các tác

nhân gây ảnh hưởng tới sức khoẻ, đặc biệt là các vi sinh vật, phân bón,

HCBVTV nguy hại và các hoá chất có tác dụng sinh trưởng mỗi vùng, mỗi

công việc chuyên canh đặc thù khác nhau

Người lao động nông nghiệp chủ yếu là lao động ngoài trời Các phương tiện bảo vệ tránh nắng, tránh mưa và các yếu tố khí hậu bất lợi thường không đạt yêu cầu bảo vệ so với các loại hình lao động khác Bức xạ mặt trời, đặc biệt là thời gian giữa ngày có nhiều tia cực tím nên khả năng gây kích thích làm tăng nhiệt, các rối loạn sinh lý có thể xảy ra Theo thống kê chưa đầy đủ của các nhà y học lao động thì tỷ lệ người lao động nông nghiệp bị các rối loạn bệnh lý như say nóng, say nắng, mất cân bằng muối khoáng khoảng 4 – 15% Thống kê này là thấp hơn thực tế rất nhiều bởi chúng ta chưa có chiến lược bảo vệ sức khoẻ người lao động nông nghiệp nên các nghiên cứu thường hời hợt và mang tính chất đối phó Ở nước ta do đặc điểm của khu vực nhiệt đới gió mùa nên độ ẩm thường cao, tốc độ gió không ổn định, nhiệt độ chênh lệch giữa đêm và ngày, giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong năm ở

2500 – 3000 Kcal Các chuyên canh đặc biệt ở miền núi và trung du như canh tác, thu hái các loại hoa quả khoảng 3000 – 3500 Kcal Lao động giản đơn thường đi liền với các tai nạn lao động không kiểm soát được Tiêu hao năng lượng nhiều trong điều kiện khó khăn, dinh dưỡng thấp là nguyên nhân của hiện tượng hao mòn sức khoẻ, tuổi sinh học thấp đồng thời với các rối loạn bệnh lý làm cho tuổi thọ bị hao tổn ở người lao động nông nghiệp là tương đối phổ biến Một điều đáng quan tâm hơn các loại hình lao động khác là việc bảo vệ sức khoẻ người lao động nông nghiệp chưa được chú trọng nhiều Các

Trang 10

chương trình nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ người lao động nông nghiệp

là rất ít so với các nghiên cứu chăm sóc sức khoẻ người công nhân Trong hội

nghị Quốc tế về y học lao động và vệ sinh môi trường lần thứ III tại Hà Nội

(2008) tỷ lệ các nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ đối với người lao động

nông nghiệp chỉ chiếm 16,8% trong tổng số các báo cáo khoa học được trình

bày tại hội nghị Đất nước ta có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp nên

các nghiên cứu về chăm sóc sức khoẻ đối tượng này cần được chú trọng và

đầu tư nhiều hơn

Tiếp xúc nhiều với các tác nhân gây bệnh đặc biệt là các vi sinh vật, ký

sinh trùng và hoá chất trừ sâu nguy hại cũng là một đặc thù Có rất nhiều sinh

vật cũng như vi sinh vật là nguy cơ đối với sức khoẻ người lao động nông

nghiệp Các loại côn trùng khá phong phú trong điều kiện thiên nhiên vùng

nhiệt đới của nước ta Ngoài các sinh vật có khả năng gây hại trực tiếp như

ong, ruồi, rắn… Các loại côn trùng còn bắt buộc chúng ta phải sử dụng hoá

chất tiêu diệt với hàng chục ngàn tấn hoá chất hàng năm do chúng phá hoại

rau màu Do điều kiện khí hậu và thời tiết không ổn định tạo điều kiện cho

côn trùng phát triển nên người nông dân vì mục đích bảo vệ rau màu đã phải

dùng quá nhiều hoá chất trừ sâu, tần suất sử dụng cao Có rất nhiều vi sinh vật

gây bệnh tồn tại trong đất, nước thậm chí trong không khí mà người nông dân

thường xuyên phải tiếp xúc trong quá trình lao động Các vi sinh vật gây bệnh

chưa bị diệt còn tồn tại trong đất và nước đủ là nguy cơ nhiễm trùng đường

tiêu hoá, gây nên hậu quả là trên 50% số người dân ít nhất bị nhiễm trùng

đường tiêu hoá 1 lần/năm (dẫn từ [13], [46], [48], [49], [55])

Các vi sinh vật gây bệnh thường có thời gian tồn tại ở môi trường 1 - 2 tuần,

hơn nữa việc sử dụng phân bón thường xuyên sẽ làm cho môi trường thường

xuyên có vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hoá, da, niêm mạc và khó khăn cho

việc phòng chống bệnh này đối với người lao động nông nghiệp Các nấm gây

bệnh rất phổ biến trong môi trường lao động nông nghiệp do phổ nhiệt độ phù hợp cho việc tồn tại phát sinh phát triển của nấm là tương đối rộng (10 -

ra sự tồn tại thường xuyên, khắp nơi của các loại nấm gây bệnh Các nghiên cứu của các tác giả trong nước [1], [29], [37] đều cho thấy tỷ lệ nhiễm các nấm ký sinh trùng gây bệnh trên da là rất cao ở môi trường nóng, ẩm, đặc biệt là trong nông nghiệp (20 – 30%) Tỷ lệ này thường ở mức 14% trong cộng đồng nói chung [29], [52] Nguyên nhân của việc gia tăng bệnh do ký sinh trùng, bệnh ngoài da phần nhiều cũng bởi các thói quen thiếu vệ sinh Thiếu BHLĐ trong quá trình lao động có vai trò lớn đối với đối tượng lao động nông nghiệp ở nước ta Các nghiên cứu can thiệp về giáo dục sức khoẻ và can thiệp

sử dụng thiết bị BHLĐ phù hợp làm giảm tỷ lệ bệnh da có hiệu quả rất tốt qua các công trình nghiên cứu từ năm 2004 đến 2008 của các tác giả như Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Tuấn Khanh và một số tác giả khác đã ghi nhận [8], [19]

1.2.4 Các vấn đề môi trường sinh thái

* Ô nhiễm môi trường

Tiếp xúc với các yếu tố vi sinh vật, kí sinh trùng gây bệnh là một đặc thù của các nước vùng nhiệt đới Môi trường lao động nông nghiệp chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh từ phân, môi trường chưa được xử lý Các loại nấm, kí sinh trùng gây bệnh tồn tại ở môi trường canh tác rau màu và tiếp cận với người lao động dễ gây bệnh như các loại nấm da, nấm tóc và ký sinh trùng đường ruột [9]

Ô nhiễm, nhiễm bẩn môi trường từ phân bón do tích đọng nitrat là một vấn đề rất nguy hại cho sức khoẻ đã được khẳng định [3], [10] Trong quá trình canh tác cây ăn quả người nông dân đã sử dụng nhiều hoá chất, phân bón tổng hợp, hoá chất bảo vệ thực vật, làm cho người lao động dễ bị nhiễm độc hoặc ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ nếu thiếu các biện pháp đảm bảo an

Trang 11

toàn Trong sử dụng và bảo quản hoá chất, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,

các hoá chất có tác dụng đến quá trình sinh trưởng của cây vải cũng có tác

dụng xấu như các cây trồng khác

Trong các vấn đề môi trường thì tình hình ô nhiễm môi trường do

HCBVTV ở nước ta thực sự là vấn đề cần quan tâm vì tính chất nguy hiểm

trực tiếp của nó Cũng như sử dụng phân bón, tổng lượng HCBVTV sử dụng

không phải quá lớn song lại rất tập trung vào một số vùng, mà phương pháp

sử dụng, bảo quản và lưu hành không được kiểm soát, không đảm bảo an toàn

vệ sinh lao động Mặt khác, khác với phân bón (không kể yếu tố vệ sinh)

HCBVTV thường gây ra hiệu ứng trực tiếp tác động vào con người, động vật,

gia súc, gia cầm cũng như nhiều loài sinh vật khác Theo Cục Bảo vệ thực vật,

hàng năm cả nước sử dụng hơn 50.000 tấn HCBVTV các loại Loại thuốc sử

dụng chủ yếu là Monitor, Dipterex, Bassa, DDT, Wofatox, Validacin Tuy đã

có lệnh cấm sử dụng nhóm thuốc DDT, Heptaclo (thuộc nhóm clo hữu cơ)

song trong thực tế người dân vẫn sử dụng nhiều [15]

Chính vì phương pháp sử dụng, loại thuốc sử dụng, trình độ hiểu biết của

người sản xuất còn yếu kém nên dư lượng thuốc BVTV trong sản phẩm là

một mối nguy hại rất to lớn Rất nhiều trường hợp ngộ độc thức ăn do ăn phải

dư lượng vết của HCBVTV trong rau quả đã được biết đến trên toàn quốc

Trên thực tế hiện tượng sử dụng bất cẩn ở nhiều nơi đã gây nên tình trạng ô

nhiễm môi trường nghiêm trọng Kết quả giám định dư lượng thuốc BVTV ở

tỉnh Khánh Hoà cho thấy: trong 423 mẫu đất phân tích có 39% số mẫu chứa

dư lượng hoá chất trừ sâu vượt ngưỡng cho phép từ 2 – 40 lần, trong 120 mẫu

nước, có 36,6% số mẫu chứa dư lượng hoá chất trừ sâu vượt ngưỡng cho phép

từ 2 – 50 lần [7]

* Sinh thái mất sự đa dạng

Trong quá trình sử dụng HCBVTV, một vấn đề mới xuất hiện đó là ảnh hưởng của nó tới hệ sinh thái và xuất hiện các quần thể côn trùng kháng thuốc Vấn đề này trong thực tế đã gặp không ít như các dịch rầy nâu, sâu tơ kháng thuốc và ngay cả quần thể côn trùng truyền bệnh cũng kháng thuốc (dẫn từ [8])

1.3 Một số đặc điểm về kinh tế, xã hội của huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Lục Ngạn là huyện miền núi tỉnh Bắc Giang với diện tích tự nhiên là: 101.223,72 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 26,7% Có 29 xã và

01 thị trấn, trong đó 12 xã vùng cao Dân số 183.775 người, số hộ là 36.940

và có 7 dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan Số người trong độ tuổi lao động là 86.010 chiếm 46,8% dân số (dẫn từ [30])

Nhờ có chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã mở đường cho

sự hình thành và phát triển những mô hình kinh tế trang trại Nhà nước có chính sách giao đất ổn định, lâu dài tới hộ gia đình, khuyến khích dồn điền đổi thửa, cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất tạo vùng sản xuất quy mô lớn phù hợp với mô hình trang trại Bắc Giang có chủ trương phát triển kinh tế trang trại, vườn đồi đến năm 2010 sẽ chuyển đổi 10 nghìn

ha lúa một vụ không ăn chắc sang nuôi trồng thuỷ sản và các loại cây trồng khác tạo cho kinh tế trang trại có bước phát triển mạnh về số lượng và chất lượng ở mỗi địa phương đều có thế mạnh riêng để hình thành các loại hình trang trại phù hợp Các xã miền núi, vùng cao có diện tích đất tự nhiên lớn phát triển các trang trại cây ăn quả, cây lâm nghiệp Khu vực trung du phù hợp với trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm Các xã vùng trũng mở rộng mô hình chăn nuôi kết hợp phát triển thuỷ sản [23], [32]

Trang 12

Cây ăn quả toàn huyện năm 2003 có diện tích là 18.737 ha, trong đó diện

tích vải thiều là 15.381 ha chiếm 82,09% Giá trị thu hoạch từ sản lượng quả

và cành giống vải thiều đạt hơn 60 tỷ đồng, sản lượng quả thu hoạch đạt

74.751 tấn năm 2003 Năm 2008 diện tích vải thiều tăng lên 19.192 ha và đạt

sản lượng 80.000 tấn quả tươi, giá trị thu nhập 450 tỷ đồng, tăng 8 tỷ so với

năm 2007 Cây ăn quả là thế mạnh của huyện Lục Ngạn trong việc phát triển

nông nghiệp hàng hóa Do vậy công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người

lao động nói chung, người canh tác vải nói riêng tại huyện Lục Ngạn có vai

trò quan trọng vào thắng lợi đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội địa

phương (dẫn từ [2], [33])

Huyện Lục Ngạn nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng

Đông Bắc được bao bọc bởi hai dải núi lớn là Bảo Đài và Huyền Đinh, huyện

Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nên có một số đặc điểm sau:

- Có lượng mưa thấp hơn so với các vùng khác trong tỉnh Bắc Giang

Lượng mưa trung bình 1.321 mm, lượng mưa cao nhất 1.780 mm (tập trung

vào tháng 6, 7, 8) lượng mưa thấp nhất 912 mm (tập trung vào tháng 12, 1)

C (tháng 6),

C (tháng 1, 2)

- Độ ẩm không khí trung bình năm là 81,9%, cao nhất là 85%, thấp nhất là 77%

- Số giờ nắng bình quân cả năm là 1.729 giờ, bình quân giờ nắng trong

ngày là 4,4 giờ [30]

Do đặc điểm khí hậu của địa phương nên huyện Lục Ngạn rất phù hợp

với việc phát triển đa dạng các loại cây ăn quả, cây lâm nghiệp

Song đến nay các nghiên cứu về sức khoẻ, bệnh tật của người nông dân

nói chung, người chuyên canh vải nói riêng còn ít Hiện nay đang triển khai

một nghiên cứu "Dự án Hội chứng não cấp" tại tỉnh Bắc Giang của Viện Vệ

sinh Dịch tễ Trung ương kết hợp với Sở Y tế Bắc Giang, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh và Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Giang (2006 - 2010)

1.4 Tình hình nghiên cứu sức khoẻ, bệnh tật của người lao động

1.4.1 Nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu trong nước cho nhận xét người lao động Việt Nam hiện đang tiếp xúc với nhiều tác hại nghề nghiệp Hiện nay môi trường lao động bị

ô nhiễm nghiêm trọng Số mẫu đo môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép trong cả nước vẫn còn cao, trung bình chiếm 22% [36], [38], [42] Có nhiều tài liệu nghiên cứu trong nước, các nhà khoa học Việt Nam đã đặt vấn đề nghiên cứu các vấn đề sức khoẻ nông thôn, nông nghiệp ngay từ khi hoà bình mới được lập lại Tuy nhiên phải vào cuối thế kỷ XX chúng ta mới có các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này Trong nông nghiệp vấn đề hoá chất dùng trong canh tác và bảo vệ cây trồng được lưu ý và quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cả Các hoá chất bảo vệ thực vật tổng hợp được phát minh vào cuối thế kỷ 19 và đưa vào sử dụng rộng rãi trên thế giới vào thế kỷ XX Trong khoảng 100 năm qua số lượng và chủng loại các loại hoá chất này rất đa dạng

và tăng lên nhanh chóng Ngày nay trên thế giới hàng năm đã sản xuất và tiêu thụ hơn 3 triệu tấn hoá chất trừ sâu, song con số này ngày càng tăng hơn nữa

do nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng Trong nông nghiệp ở Việt Nam, số người nông dân tiếp xúc với hoá chất trừ sâu, diệt cỏ và diệt chuột ngày càng nhiều Đồng thời với nó là số người bị ảnh hưởng sức khoẻ do các hoá chất cũng ngày càng gia tăng đáng kể Ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp luôn là vấn đề lớn Tính đến tháng 2/1999 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho nhập 1.257 loại hoá chất bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh bảo vệ cây trồng, lượng hoá chất bảo vệ thực vật tính trung bình trên diện tích gieo trồng đã tăng lên từ 0,5 – 0,7 kg/ha vào những năm 1990, việc bảo quản cất giữ HCBVTV không an toàn từ 46,6% - 95,4%

Trang 13

Trong đó ô nhiễm mẫu đất chiếm 39%, ô nhiễm không khí chiếm 38,2% [15]

Hậu quả tất yếu của sự ô nhiễm trên đây là sức khoẻ của người lao động giảm

sút, các bệnh nghề nghiệp hay bệnh liên quan đến nghề nghiệp phát sinh và

phát triển làm cho tuổi thọ, tuổi lao động giảm đáng kể đối với người lao

động Theo Đỗ Hàm, thì một số chứng bệnh thường gặp ở người tiếp xúc với

hoá chất bảo vệ thực vật là:

- Các dấu hiệu thường gặp là: mệt mỏi, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, tê

bì, kiến bò chiếm tỷ lệ 3,1- 48,1%

- Tỷ lệ mắc các bệnh thần kinh, da liễu ở các nhóm nghiên cứu cao

- Hoạt tính của enzym cholinesterase ở các đối tượng giảm [13]

Theo Trần Nguyễn Hoa Cương, nghiên cứu kiến thức, thực hành của

người trồng rau về an toàn sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật và một số yếu tố

ảnh hưởng tại 2 xã huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2005 cho thấy: vấn đề sử

dụng bảo hộ lao động giữa kiến thức và thực hành không đi đôi với nhau

Trong quá trình pha và phun thuốc tỷ lệ nhận thức là 96,7%, trong khi đó tỷ lệ

thường xuyên sử dụng BHLĐ là 82,7% Khẩu trang là loại phương tiện bảo

vệ cá nhân có tỷ lệ được sử dụng thường xuyên cao nhất (95%) còn các loại

phương tiện khác thì thấp hơn nhiều [4]

Khảo sát tồn dư HCBVTV trên rau tại Bắc Ninh năm 2001 cho thấy:

83% số mẫu rau muống, 68% số mẫu rau ngót và 100% số mẫu đậu đũa phát

hiện thấy có tồn dư HCBVTV, tuy nhiên lượng tồn dư này trong mức giới hạn

tối đa cho phép của Bộ Y tế Tại Phú Thọ, khảo sát năm 2001 – 2002, trên

30,6% mẫu rau quả phát hiện thấy có tồn dư HCBVTV, trong đó 21,4% vượt

giới hạn tối đa cho phép (dẫn từ [18])

Kết quả khảo sát năm 2002 tại vùng sản xuất rau của Hà Nội và thành

phố Hồ Chí Minh đã làm người tiêu dùng thêm lo ngại về tính an toàn của sản

phẩm nông sản nói chung và của rau quả nói riêng [4]

Kết quả khảo sát năm 2004 tại các vùng sản xuất rau trên cả nước với tổng số 4176 mẫu rau quả đã thực sự báo động cho cơ quan quản lý và người tiêu dùng: 25% mẫu rau quả phát hiện thấy có dư lượng HCBVTV, trong đó 8,2% vượt giới hạn tối đa cho phép [15]

Để tăng cường công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ người nông dân cần có nhiều công trình nghiên cứu và đầu tư hơn nữa vì cho đến nay các công trình nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe cho người nông dân chưa nhiều, nên HCBVTV vẫn gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người nông dân cũng như môi trường sống Điều này đã tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh

tế xã hội của đất nước

1.4.2 Nghiên cứu ở nước ngoài

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về sức khoẻ, bệnh tật và các yếu tố ảnh hưởng đến người lao động nói chung và sức khoẻ, bệnh tật của người nông dân nói riêng Đặc biệt là vấn đề tác hại của thuốc BVTV đối với sức khoẻ và môi trường sống Tỷ lệ ngộ độc cấp do thuốc BVTV ở các nước đang phát triển cũng rất đáng lo ngại Theo ước tính (Dharmanjah) ở Indonesia là 28%;

Ở Brazil (Furtao) khoảng 16% Tỷ lệ này ở Anh là < 5%; Ở Úc là 3% và Mỹ

là 0,08% (dẫn từ [43], [47], [51], [54])

Các nhà nghiên cứu đã cho thấy hàng năm ô nhiễm môi trường lao động

đe dọa sức khỏe và tính mạng của hàng chục triệu người, trong đó có hàng triệu ca tử vong Hơi khí độc tồn tại ngay ở các hầm xay lúa, trữ lúa mà ít người để ý, người công nhân xay lúa gạo có thể bị suy giảm chức năng hô hấp…Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế, hiện có khoảng 160 triệu người trên hành tinh mắc các bệnh liên quan đến công việc nhà nông, trong

đó 1/3 trường hợp phải nghỉ việc khoảng 4 ngày thậm chí nhiều hơn nữa [44], [45], [46] Các ngành khoa học đã góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ

và tăng cường sức khoẻ nói chung và cho người nông dân nói riêng song thực

Trang 14

sự vẫn chưa đầy đủ Tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển số trường hợp

bị nhiễm độc mạn tính vẫn có xu hướng tăng theo số lượng và chủng loại

HCBVTV Tại Mỹ, theo số liệu của cơ quan Bảo vệ môi trường thì hàng năm

có khoảng 45.000 người bị nhiễm HCBVTV, trong đó có khoảng 200 người

bị chết [18] Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương

(ESCAP) hàng năm có khoảng 2 triệu người bị nhiễm độc HCBVTV, trong

đó có 40.000 người bị tử vong [43]

Theo thống kê của chương trình giám sát dư lượng HCBVTV năm 2002

tại Mỹ, tỷ lệ có tồn dư HCBVTV trên rau, quả là khá cao Kết quả kiểm

nghiệm 725 mẫu quả và 895 mẫu rau sản xuất trong nước cho thấy: 49,8%

mẫu quả phát hiện có tồn dư HCBVTV chưa vượt quá giới hạn tối đa cho

phép và 0,7% phát hiện có tồn dư HCBVTV vượt quá giới hạn tối đa cho

phép; 26,7% mẫu rau phát hiện có tồn dư HCBVTV chưa vượt quá giới hạn

tối đa cho phép và 0,8% phát hiện có tồn dư HCBVTV vượt quá giới hạn tối

đa cho phép [53]

Nghiên cứu về tình trạng nhiễm độc HCBVTV tại một số nước khu vực

Đông Nam châu Á cho thấy tỷ lệ nhiễm độc HCBVTV là khá cao Tại Thái

Lan, từ tháng 9 – 11 năm 1999 nghiên cứu trên 130 trường hợp cho thấy có 80

trường hợp nhiễm độc HCBVTV do cố ý chiếm 61,5%, do nghề nghiệp là 70

trường hợp chiếm 28,5% và có 10 trường hợp nhiễm độc không chủ ý chiếm

7,7% Nghiên cứu tại Indonesia, từ tháng 10 năm 1999 đến tháng 4 năm 2000

trên 126 trường hợp cho thấy có 54 trường hợp nhiễm độc HCBVTV do cố ý

chiếm 44,4%, do nghề nghiệp là 47 trường hợp chiếm 31,7% và 20 trường hợp

nhiễm độc không chủ ý chiếm 15,9% Nghiên cứu tại Myanmar từ tháng 1 –

10 năm 2000 trên 43 trường hợp tại 1 bệnh viện cho thấy có 35 trường hợp

nhiễm độc HCBVTV do cố ý chiếm 81,4%, do nghề nghiệp 4 trường hợp

chiếm 9,3% và có 4 trường hợp nhiễm độc không chủ ý chiếm 9,3% [41], [54]

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người lao động trực tiếp chuyên canh vải liên tục trong 2 năm trở lên tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 8 năm 2009

2.2.2 Địa điểm

Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã của huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

vải thiều là 780 ha, dân số 9.183

Sản lượng vải năm 2008: 6000 tấn

là 1.690 ha, dân số 15.384

Sản lượng vải năm 2008: 12.000 tấn

2.3 Phương pháp nghiên cứu và chọn mẫu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu: mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang kết hợp

với mô tả so sánh

Sau khi nghiên cứu mô tả cắt ngang sẽ chọn một số chứng, bệnh và một

số yếu tố nguy cơ được cho là có liên quan, tiếp tục tiến hành phân nhóm để

mô tả so sánh, mô tả tương quan nhằm thiết lập mối liên quan giữa các biến với nhau trong khuôn khổ điều tra ngang

Trang 15

Cách chọn mẫu nghiên cứu mô tả

- Chọn hộ gia đình: Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, các hộ

theo tiêu chuẩn phải có diện tích canh tác vải thiều ít nhất từ 01 ha trở lên

thuộc 02 xã Hồng Giang và Quí Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang để

đảm bảo có đủ công việc chăm sóc, thu hái quanh năm Sau đó sẽ chọn đối

tượng nghiên cứu là người lao động từ các hộ trên

- Chọn đối tượng người lao động cho mẫu nghiên cứu: Sử dụng phương

pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo các bước sau:

+ Bước 1: Lập danh sách tất cả những người canh tác vải thiều trong các

hộ gia đình đã được chọn ở trên (gọi là danh sách chọn) theo thứ tự từ 01 đến hết

+ Bước 2: Tìm khoảng cách chọn (k), ( k = TS/n)

Lấy tổng số người trong danh sách chọn (TS) chia cho cỡ mẫu (n = 400),

ta được khoảng cách (k)

+ Bước 3: Chọn đối tượng nghiên cứu

Chọn đối tượng thứ nhất: Chọn ngẫu nhiên một người nằm trong khoảng

từ 01 đến khoảng cách chọn (k), đó là đối tượng thứ nhất

Chọn đối tượng thứ hai: Là số thứ tự của đối tượng thứ nhất cộng với

khoảng cách chọn (k)

Chọn đối tượng tiếp theo: Là số thứ tự của đối tượng kế trước cộng với khoảng cách chọn (k) Làm như vậy đến khi chọn đủ 400 đối tượng (là cỡ mẫu nghiên cứu) Để đảm bảo cỡ mẫu trong quá trình nghiên cứu kéo dài, tránh bỏ cuộc ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu chúng tôi đã lấy mẫu với số lượng là 500 người Tuy nhiên đã có một số người bị loại bỏ do nhiều lý do,

vì vậy cỡ mẫu cuối cùng là 456

* Chọn mẫu phân tích mô tả so sánh ( tương quan):

Do không thể xác định được chắc chắn tỷ lệ mắc bệnh, không mắc bệnh trước nghiên cứu cũng như khó có khả năng điều tra rộng hơn vì lý do kinh phí và thời gian nên không thể chọn mẫu mô tả so sánh tương quan theo công thức Vì vậy chúng tôi chọn cách chọn mẫu chủ đích, toàn bộ cho thuận lợi và cũng phù hợp về mặt y đức Phương pháp này vẫn được các nhà nghiên cứu hiện nay chấp nhận

- Chọn nhóm bệnh: chọn chủ đích, toàn bộ các đối tượng bị bệnh tương ứng sau khi mô tả, để điều tra các yếu tố liên quan Ví dụ: đối với bệnh da ta phải chọn toàn bộ bệnh nhân mắc bệnh da vào nhóm bệnh

- Chọn nhóm so sánh: chọn chủ đích, toàn bộ các đối tượng không mắc bệnh sau nghiên cứu mô tả cắt ngang Ví dụ: để điều tra các yếu tố liên quan đối với bệnh da ta chọn toàn bộ bệnh nhân không mắc bệnh da đưa vào nhóm

so sánh

Về yếu tố liên quan, do trên thực tế có nhiều yếu tố liên quan đến sức khoẻ, chứng, bệnh của người chuyên canh vải, song trong khuôn khổ của luận văn với thời gian có hạn chúng tôi chỉ xác định mối liên quan giữa một số chứng, bệnh với các yếu tố nguy cơ, liên quan mang tính chất đặc thù như yếu

tố nghề nghiệp, sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân (Bảo hộ lao động), hóa chất bảo vệ thực vật

Trang 16

2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

- Tuổi;

- Giới;

- Trình độ học vấn, chia ra theo nhóm: mù chữ; tiểu học; trung học cơ sở

và trung học phổ thông trở lên;

- Các hoá chất sử dụng trong quá trình canh tác vải;

- Tình hình sử dụng bảo hộ lao động

2.4.2 Một số chứng, bệnh thường gặp

Một số chứng, bệnh thường gặp trong cộng đồng người dân khu chuyên

canh tác vải thiều chúng tôi áp dụng theo bảng phân loại ICD 10 (1992), phân

theo 21 chương, mỗi chương bao gồm một bệnh hay nhóm bệnh, chứng bệnh

Trong nghiên cứu, chúng tôi chọn một số nhóm bệnh hoặc chứng bệnh

thường gặp ở cộng đồng, gọi tắt là “Chứng, bệnh” để dễ cho việc nghiên cứu

và so sánh với các tác giả khác, ví dụ: nhóm bệnh thuộc hệ thần kinh gọi là

“Bệnh thần kinh”, nhóm bệnh thuộc hệ tuần hoàn gọi là “Bệnh tuần hoàn”

- Bệnh thuộc hệ thần kinh: được xác định là các chứng bệnh thường gặp

như: đau đầu, mất ngủ

- Bệnh thuộc hệ tuần hoàn: được xác định là các bệnh thường gặp như:

tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim…

- Bệnh thuộc hệ hô hấp: được xác định là các bệnh thường gặp như: viêm

phổi, viêm phế quản, hen phế quản, ung thư phổi…

- Bệnh thuộc hệ tiêu hoá: được xác định là các bệnh thường gặp như: rối

loạn tiêu hoá, viêm loét dạ dầy - tá tràng…

- Bệnh về mắt: được xác định là các bệnh thường gặp như: viêm kết mạc,

viêm giác mạc, đục thuỷ tinh thể…

- Bệnh về TMH: được xác định là các bệnh thường gặp như: viêm mũi dị ứng, viêm mũi họng, viêm thanh quản…

- Bệnh Ngoài da: được xác định là các bệnh thường gặp như: viêm da dị ứng, chàm

2.4.3 Một số yếu tố liên quan

- Tuổi đời của người lao động, chia ra 6 nhóm tuổi gồm: nhóm dưới 20 tuổi, nhóm từ 20-29 tuổi, nhóm từ 30-39 tuổi, nhóm từ 40-49 tuổi, nhóm từ 50-59 tuổi và nhóm từ 60 tuổi trở lên

- Tuổi nghề, chia ra 5 nhóm gồm: nhóm dưới 5 năm, nhóm từ 5-9 năm, nhóm từ 10-14 năm, nhóm từ 15-19 năm và nhóm từ 20 năm trở lên

- Sử dụng bảo hộ lao động (BHLĐ) gồm các loại như: khẩu trang, găng tay, mũ, quần áo, kính, ủng và loại khác

- Thời gian tiếp xúc trực tiếp với các loại HCBVTV: theo tiêu chuẩn chọn mẫu, đối tượng phải có thời gian canh tác vải từ 4 giờ/ngày trở lên (theo cách tính độc hại do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành) Tuy nhiên người chuyên canh vải có thể không tiếp xúc liên tục với HCBVTV nên trong khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi phân theo 3 nhóm cho phù hợp với thực tiễn như sau: nhóm dưới 2 giờ/ngày, nhóm từ 2- 4 giờ/ngày và nhóm trên

4 giờ/ngày trở lên

2.5 Kỹ thuật thu thập số liệu

2.5.1 Phỏng vấn trực tiếp theo mẫu phiếu

Được tiến hành ở tất cả các đối tượng với các thông tin theo chỉ tiêu nghiên cứu như: tuổi đời, trình độ văn hoá

2.5.2 Khám lâm sàng, cận lâm sàng

Khám, chẩn đoán xác định các chứng, bệnh bao gồm các thăm khám lâm sàng và xét nghiệm bổ sung để chẩn đoán theo tiêu chuẩn, quy trình khám, chẩn đoán bệnh của Bộ Y tế và ICD - 10

Trang 17

2.6 Vật liệu, phương tiện, nguồn lực phục vụ cho công tác nghiên cứu

- Mẫu phiếu điều tra thống nhất đã được điều chỉnh, chuẩn hóa sau điều

tra thử

- Các phương tiện, dụng cụ khám bệnh đã được kiểm định: huyết áp kế

đồng hồ, ống nghe

- Các cán bộ thực hiện đề tài là một số học viên cao học khoá 11- Y học

dự phòng - Trường đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên, bác sỹ chuyên

khoa của Bệnh viện Đa khoa khu vực Lục Ngạn, Phòng Y tế huyện Lục Ngạn

và Sở Y tế tỉnh Bắc Giang,

2.7 Phương pháp khống chế sai số

* Khống chế sai số ngẫu nhiên:

Chọn cỡ mẫu đảm bảo đủ cỡ và lực mẫu để khống chế được sai số ngẫu nhiên

* Khống chế sai số hệ thống:

- Xây dựng bộ câu hỏi tốt, hợp lý, kiểm định và rút kinh nghiệm thường xuyên

- Đội ngũ cán bộ điều tra, khám được tập huấn kỹ trước khi nghiên cứu

triển khai và rút kinh nghiệm thường xuyên, kịp thời

2.8 Đạo đức trong nghiên cứu

- Chọn đối tượng theo tiêu chuẩn chọn mẫu, sau đó giải thích để họ hiểu

mục đích của cuộc phỏng vấn, khám bệnh và để họ hợp tác trong quá trình

nghiên cứu

- Các bệnh mang tính chất riêng tư đều trả lời trực tiếp, cụ thể cho đối

tượng và có phương hướng giải quyết cụ thể, tế nhị và hợp lý

- Có hướng khắc phục các vấn đề sức khoẻ, bệnh tật chung cho các đối

tượng trong cả cộng đồng sau khi khám phát hiện bệnh

2.9 Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y học trên máy vi tính bằng

chương trình phần mền EPI INFO 6.04 và SPSS 13.0

Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo trình độ học vấn

Nhận xét: Người chuyên canh vải có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ

lệ cao (56,8%), đặc biệt là vẫn còn có đối tượng mù chữ (1,54%)

Bảng 3.2 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo tuổi, giới

Nhận xét: Nhóm tuổi 40-49 chiếm tỷ lệ cao hơn cả (nam là 20,61%, nữ

là 18,64%) Nhóm tuổi dưới 20 và từ 60 tuổi trở lên thấp (nam là 2,2%, nữ là 1,1%) Đa số người lao động chuyên canh vải đang ở độ tuổi lao động

Trang 18

Bảng 3.3 Đối tượng nghiên cứu phân theo tuổi nghề

Nhận xét: Tuổi nghề của người chuyên canh vải tập trung chủ yếu từ

15-19 năm (chiếm tỷ lệ 59,64%), tuổi nghề dưới 10 năm thấp (6,81%)

Bảng 3.4 Thực trạng sử dụng BHLĐ ở đối tượng nghiên cứu

Nhận xét: Loại BHLĐ được sử dụng nhiều nhất là khẩu trang, chiếm tỷ

lệ 97,58%, tiếp theo là găng tay (51,31%), còn các loại khác tỷ lệ thấp: kính

Tỷ lệ (%)

Hoá chất BVTV

Biểu đồ 3.1 Thực trạng sử dụng các loại HCBVTV

Nhận xét: HCBVTV được sử dụng trong canh tác vải tương đối phổ

biến và phụ thuộc vào thị trường, với nhiều loại khác nhau HCBVTV sử dụng nhiều nhất là Pandan với tỷ lệ chiếm 72,36% tiếp theo là Bassa chiếm tỷ

lệ 72,14% Đặc biệt là người chuyên canh vải vẫn còn sử dụng HCBVTV trong danh mục cấm dùng (Monitor)

Ngày đăng: 07/10/2016, 22:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4. Thực trạng sử dụng BHLĐ ở đối tượng nghiên cứu - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.4. Thực trạng sử dụng BHLĐ ở đối tượng nghiên cứu (Trang 18)
Bảng 3.5.  Tình hình sử dụng các loại HCBVTV - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.5. Tình hình sử dụng các loại HCBVTV (Trang 18)
Bảng 3.3. Đối tượng nghiên cứu phân theo tuổi nghề - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.3. Đối tượng nghiên cứu phân theo tuổi nghề (Trang 18)
Bảng 3.6. Một số chứng bệnh thường gặp - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.6. Một số chứng bệnh thường gặp (Trang 19)
Bảng 3.11. Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi họng mạn tính theo tuổi nghề - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.11. Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi họng mạn tính theo tuổi nghề (Trang 20)
Bảng 3.10. Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi họng mạn tính theo tuổi đời - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.10. Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi họng mạn tính theo tuổi đời (Trang 20)
Bảng 3.12. Tỷ lệ mắc bệnh viêm kết mạc theo tuổi đời - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.12. Tỷ lệ mắc bệnh viêm kết mạc theo tuổi đời (Trang 21)
Bảng 3.13. Tỷ lệ mắc bệnh viêm kết mạc theo tuổi nghề - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.13. Tỷ lệ mắc bệnh viêm kết mạc theo tuổi nghề (Trang 21)
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa sử dụng quần áo bảo hộ lao động với  bệnh viêm da dị ứng - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa sử dụng quần áo bảo hộ lao động với bệnh viêm da dị ứng (Trang 22)
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh  viêm kết mạc mắt - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh viêm kết mạc mắt (Trang 23)
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh (Trang 23)
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh (Trang 24)
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh - THỰC TRẠNG MỘT SỐ CHỨNG, BỆNH THƯỜNG GẶP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CHUYÊN CANH VẢI HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa thời gian tiếp xúc HCBVTV với bệnh (Trang 24)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w