Nhìn vào lịch sử văn học của dân tộc ta thấy một hiện tượng rất mới lạ. Đó là khi nào xã hội rối ren, loạn lạc nhất thì văn học lại đạt được những thành tựu rực rỡ nhất. Văn học Việt Nam nữa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX ra đời trong giai đoạn chế độ phong kiến tranh giành quyền lợi, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, đói kém. Đặc biệt giai đoạn này đã xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa với nội dung chủ yếu là nhân đạo chủ nghĩa với nội dung là giải phóng tình cảm, đấu tranh để được tự do yêu đương và hàng loạt những cây bút đậm dấu ấn cá nhân như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Phạm Thái… Chính trong bối cảnh xã hội ấy, xã hội mà mọi giá trị bị đảo lộn, các nhà văn nhà thơ đã thực hiện rất tốt chức năng của mình, đó là phản ánh kịp thời cuộc sống xã hội lúc bấy giờ. Trong đó, có Hồ Xuân Hương và Phạm Thái. Về Hồ Xuân Hương, cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, người con gái họ Hồ quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An ấy đã xuất hiện trên thi đàn văn học như một cơn gió lạ, thổi tung lớp rêu phong cổ kính của chế độ phong kiến già nua và rải khắp nhân gian một mùi hương kì diệu: mùi hương của đất nước, của gió trăng, của đá, của rêu, của lạch, của khe, của những hội hè đình đám, của những sinh hoạt đời thường….Đó là mùi hương của sự sống, của khát khao,cháy bỏng, của nhựa sống… Và, cũng chính con người đầy sức sống ấy đã ném vào mặt xã hội phong kiến, “vạch rõ cái chân tướng của cả những kẻ hiền nhân quân tử, những bậc trượng phu, anh hùng và đã thẳng thắn đặt họ lại những chổ ngồi mà họ xứng đáng giữa lúc cả bọn đang múa may quay cuồng, tâng bốc bợ đỡ nhau” (Nguyễn Đức Bínhngười cổ nguyệt, chuyện Xuân Hương). Bà dám nhìn thẳng vào bản chất của cái xã hội thối nát và lên án một cách mạnh mẽ…Đối tượng chế giễu của Hồ Xuân Hương chủ yếu là bọn vua chúa, quan lại, nho sĩ nói chung và đặc biệt là giới sư sãi. Ta bắt gặp trong thơ bà sự phản kháng, sự không đồng tình, sự đả phá đối với những nhà sư “dởm” làm mất vẻ tôn kính của nhà chùa. Phạm Thái là người cùng thời với Hồ Xuân Hương, ông cũng sống trong cái oi bức của xã hội thời cuối Lê đầu Nguyễn. Nơi mà các trật tự, kỉ cương, đạo đức và lễ giáo phong kiến đều bị đảo lộn. Phạm Thái là người đã tìm đến nơi chùa chiền để lảnh tránh sự đời, lẩn tránh những đau khổ của tình ái cho nên, ông hiểu rõ hơn ai hết sự suy thoái của đạo Phật vào cái thời điểm ấy. Trong số ít những sáng tác của ông ta bắt gặp khá nhiều hình ảnh của những cảnh chùa, những nhà sư… Hồ Xuân Hương và Phạm Thái là những người cùng thời. Cùng sống trong một bối cảnh xã hội. Và cùng có những tiếng nói chung đối với vấn đề suy thoái, biến chất của các sư sãi trong các nhà chùa. Đó là tiếng nói “đả phá” không đồng tình. Trên cơ sở tiếp thu các công trình nghiên cứu, phê bình và các tài liệu có liên quan tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái” với hy vọng được tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về bối cảnh xã hội, sự suy thoái của Phật giáo trong xã hội cuối XVIII đầu XIX dưới góc nhìn của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
KHOA NGỮ VĂN
……….………
TIỂU LUẬN VĂN HỌCCHÙA CHIỀN TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ PHẠM THÁI
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Mã SV: 12S6011227Lớp: văn 2C
Huế tháng 4/2014
Trang 2Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Trần Thị Thanh Nhị, người đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn tiểu luận của em còn có rất nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của cô giáo và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn !
……… ………
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Nhìn vào lịch sử văn học của dân tộc ta thấy một hiện tượng rất mới lạ Đó làkhi nào xã hội rối ren, loạn lạc nhất thì văn học lại đạt được những thành tựu rực rỡnhất Văn học Việt Nam nữa cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX ra đời trong giai đoạnchế độ phong kiến tranh giành quyền lợi, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, đóikém Đặc biệt giai đoạn này đã xuất hiện trào lưu nhân đạo chủ nghĩa với nội dungchủ yếu là nhân đạo chủ nghĩa với nội dung là giải phóng tình cảm, đấu tranh đểđược tự do yêu đương và hàng loạt những cây bút đậm dấu ấn cá nhân như Nguyễn
Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Phạm Thái…
Chính trong bối cảnh xã hội ấy, xã hội mà mọi giá trị bị đảo lộn, các nhà vănnhà thơ đã thực hiện rất tốt chức năng của mình, đó là phản ánh kịp thời cuộc sống
xã hội lúc bấy giờ Trong đó, có Hồ Xuân Hương và Phạm Thái
Về Hồ Xuân Hương, cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, người con gái họ Hồquê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An ấy đã xuất hiện trên thi đàn văn học như một cơn gió lạ,thổi tung lớp rêu phong cổ kính của chế độ phong kiến già nua và rải khắp nhân gianmột mùi hương kì diệu: mùi hương của đất nước, của gió trăng, của đá, của rêu, củalạch, của khe, của những hội hè đình đám, của những sinh hoạt đời thường….Đó làmùi hương của sự sống, của khát khao,cháy bỏng, của nhựa sống…
Và, cũng chính con người đầy sức sống ấy đã ném vào mặt xã hội phong kiến,
“vạch rõ cái chân tướng của cả những kẻ hiền nhân quân tử, những bậc trượng phu, anh hùng và đã thẳng thắn đặt họ lại những chổ ngồi mà họ xứng đáng giữa lúc cả bọn đang múa may quay cuồng, tâng bốc bợ đỡ nhau” (Nguyễn Đức Bính-người cổ
nguyệt, chuyện Xuân Hương) Bà dám nhìn thẳng vào bản chất của cái xã hội thốinát và lên án một cách mạnh mẽ…Đối tượng chế giễu của Hồ Xuân Hương chủ yếu
là bọn vua chúa, quan lại, nho sĩ nói chung và đặc biệt là giới sư sãi Ta bắt gặp trongthơ bà sự phản kháng, sự không đồng tình, sự đả phá đối với những nhà sư “dởm”làm mất vẻ tôn kính của nhà chùa
Phạm Thái là người cùng thời với Hồ Xuân Hương, ông cũng sống trong cái
oi bức của xã hội thời cuối Lê đầu Nguyễn Nơi mà các trật tự, kỉ cương, đạo đức và
lễ giáo phong kiến đều bị đảo lộn Phạm Thái là người đã tìm đến nơi chùa chiền đểlảnh tránh sự đời, lẩn tránh những đau khổ của tình ái cho nên, ông hiểu rõ hơn ai hết
sự suy thoái của đạo Phật vào cái thời điểm ấy Trong số ít những sáng tác của ông tabắt gặp khá nhiều hình ảnh của những cảnh chùa, những nhà sư…
Hồ Xuân Hương và Phạm Thái là những người cùng thời Cùng sống trongmột bối cảnh xã hội Và cùng có những tiếng nói chung đối với vấn đề suy thoái,biến chất của các sư sãi trong các nhà chùa Đó là tiếng nói “đả phá” không đồngtình
Trang 4Trên cơ sở tiếp thu các công trình nghiên cứu, phê bình và các tài liệu có liênquan tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương vàPhạm Thái” với hy vọng được tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về bối cảnh xã hội, sựsuy thoái của Phật giáo trong xã hội cuối XVIII đầu XIX dưới góc nhìn của Hồ XuânHương và Phạm Thái.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Mảng thơ chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
2.2.1.Các bình diện nghiên cứu của đề tài:
Nghiên cứu mảng thơ chùa chiền của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái, em tậptrung nghiên cứu các nội dung sau:
-Những biểu hiện của chùa chiền trong tác phẩm của hai tác giả
-Trong quá trình phân tích kết hợp so sánh điểm giống và khác nhau về đề tàichùa chiền của Hồ Xuân Hương với Phạm Thái
4.1 Hướng nghiên cứu về Hồ Xuân Hương có liên quan đến đề tài.
Cuộc đời Hồ Xuân Hương là một chuỗi những vấn đề gây tranh cãi trong giớinghiên cứu.Đến với Hồ Xuân Hương mỗi người đều có những đánh giá khác nhausong chưa có cách giải quyết nào thỏa đáng Điều đó chứng tỏ Hồ Xuân Hương làmột hiện tượng độc đáo, bí ẩn nên có rất nhiều công trình nghiên cứu về thân thế,con người và thơ văn của bà, song vẫn chưa đi đến kết luận cuối cùng
Về sau vấn đề thân thế và sự nghiệp của bà càng được nhiều sự quan tâm củađọc giả Việc đi tìm chân tướng của “ người đàn bà bí ẩn”, “ người lạ mặt” này làmột cuộc hành trình không biên giới, là một đề tài mở cho những ai muốn tìm hiểu
về cuộc đời và sự nghiệp của bà
Đề tài chùa chiền trong trong thơ Hồ Xuân Hương là một đề tài có rất ít cáccông trình nghiên cứu Chủ yếu là các bản phân tích ròi rạc, chưa có hệ thống Có lẽcác nhà nghiên cứu muốn tìm rõ lai lịch, thân thế hơn là đi sâu khai thác cái nhìn vàcảm nhận của Hồ Xuân Hương đối với giới giới sư sãi, chùa chiền trong bối cảnh xãhội cuối XVIII đầu XIX
Đề cập đến vấn đề đả phá chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương, Đỗ Lai Thúy
trong Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực cho rằng: “ Bà đả kích họ là đả kích cái
sự trái với sự sống, trái với tự nhiên này, chứ không phải đả kích đạo Phật, đả kích tôn giáo”.
Ông Trần Thanh Mại xem các tác phẩm của Hồ Xuân Hương là sự bôi nhọdanh lam thắng cảnh của đất nước Trái ngược với quan điểm của Trần Thanh Mại
Trang 5ông Nguyễn Lộc cho rằng “Hồ Xuân Hương không phải đem cái lăng loàn bôi nhọ cảnh đẹp đất nước, mà thực tế bà có ý bôi nhọ những cảnh chùa chiền góp phần làm
mê hoặc con người”.
Cũng có những ý kiến cho rằng những bài thơ nhạo báng, lên án chùa chiền
đó không phải là thơ của Xuân Hương mà là thơ truyền tụng của các tác giả dân giangán cho Xuân Hương Vì Xuân Hương là người am hiểu Phật giáo, thường xuyên đichùa và trong nhà còn có thờ Phật nên không thể viết những lời thơ châm biếm, đảphá chùa chiền như vậy
Còn rất nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hươngvới nhiều ý kiến trái ngược nhau Song tất cả đều cho rằng Hồ Xuân Hương viết vềchùa chiền với tinh thần dả phá mạnh mẽ
4.2 Hướng nghiên cứu về Phạm Thái có liên quan đến đề tài:
Phạm Thái là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong nền văn học cổ điểnrực rỡ của dân tộc những thành tựu mà Phạm Thái gặt hái được là những bông hoađẹp trong vườn hoa văn học cổ điển đang nở rộ dưới ánh nắng trời xuân của trào lưunhân đạo chủ nghĩa, của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam đương thời
Tự bản thân cuộc đời Phạm Thái là một bài ca đẹp mà buồn cong thơ vănPhạm Thái là mảng đề tài có sức hút lớn Thế nhưng người ta còn ngại viết về PhạmThái và những tác phẩm của ông vì những “bảo thủ”, “phản động” trong thiên kiếnchính trị của ông
Các công trình nghiên cứu về Phạm Thái không phải là hiếm hoi, tuy nhiêncác công trình nghiên cứu về tác phảm cũng như cuộc đời Phạm Thái còn rời rạc,chủ yếu đi nghiên cứu riêng về từng tác phẩm
Trong lời giới thiệu “Sơ kính tân trang” của Nhà xuất bản Hà Nội năm 2002
có đoạn viết: “Cùng với bút pháp tả tình, tả cảnh, Phạm Thái đã sử dụng khá sắc sải bút pháp trào phúng trong “Sơ kính tân trang Ông viết tác phẩm trong những năm tháng loạn ly, rối ren của thời đại bấy giờ Sự suy thoái của xã họi làm nảy sinh lắm nghịch cảnh Dưới hình thức trào lộng, châm biếm ông đã dựng lên được khá nhiều bức ký họa hiếm có Những bức biếm họa bằng thơ về một tân đó đốc kệch cởm, về những cậu ấm cô chiêu bắng nhắng vô tích sự…Riêng về nhà chùa Ông để lại một
bộ tranh đắt giá, có thể sếp ngang hay cùng một phòng tranh biếm họa về đề tài này của Hồ Xuân Hương.”
Về chùa chiền trong thơ Phạm Thái vẫn còn ít các công trình nghiên cứu,song với mảng thơ chùa chiền Phạm Thái đã để lại những ấn tượng khó phai trongdòng văn học Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 So sánh, đối chiếu:
So sánh các sáng tác của Hồ Xuân Hương với những sáng tác của PhạmThái để thấy những điểm chung cũng như thành công riêng của mỗi người
5.2 Phân tích-tổng hợp:
Trang 6Trên cơ sở phân tích, nhận xét, đánh giá những biểu hiện cụ thể của mảngthơ chùa chiền của mỗi người để rút ra các kết luận cần thiết.
5.3 Thống kê, phân loại:
Trích ra một số bài thơ tiêu biểu theo từng giai đoạn và phân loại theo từngmốc thời gian nhất định
6 Cấu trúc đề tài:
Ngoài phần mở đầu, tiểu luận gồm nội dung chính có 3 chương, trong đó:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung.
1 Bối cảnh thời đại
2 Thân thế của Hồ Xuân Hương và Phạm Thái chi phối đến mảng thơ chùachiền
3 Mảng thơ chùa chiền trong văn học Việt Nam
Chương 2: Khảo sát mảng thơ chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương và
Phạm Thái Trong chương này gồm có những vấn đề sau:
1 Thiên nhiên chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái
2 Đả phá chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương và Phạm Thái
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện mảng thơ chùa chiền trong thơ Hồ Xuân
Hương và Phạm Thái
Cuối cùng là kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Bối cảnh thời đại:
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV chế độ phong kiến Việt Nam phát triển thịnhvượng từ thế kỉ XVI nó bắt đầu suy vi, xã hội trở nên bất ổn Đến giai đoạn nữa cuốithế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX nhiều mâu thuẫn trở nên gay gắt, xã hội Việt Namtrở nên rối ren, chiến tranh loạn lạc chưa từng có trong lịch sử trước đó Đó là mâuthuẫn giữa các tập đoàn phong kiến như vua Lê – chúa Trịnh và nhà Nguyễn Trongthế kỉ thứ XVIII nước Đại Việt nằm dưới sự cai trị tượng trưng của vua Lê, có danh
mà không có quyền hành chính trị Quyền lực thực sự nằm trong tay hai phe pháiphong kiến, đó là các chúa Trịnh ở phía Bắc kiểm soát nhà vua và điều khiển triềuđình ở Thăng Long và các chúa Nguyễn ở phía Nam đóng đô tại thành Phú Xuân(Huế), chia đất nước thành Đàng Trong, Đàng Ngoài
Mặt khác, xã hội Việt Nam giai đoạn nữa cuối thế kỉ XVIII – nữa đầu thế kỉXIX còn có mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến và phong trào nông dân cụ thể
là vua Lê – chúa Trịnh, nhà Nguyễn và phong trào nông dân Phong trào nông ântiêu biểu và đạt được thành tựu to lớn nhất là phong trào Tây Sơn Chính vì vậy thế
kỉ XVIII được giới sử học mệnh danh là thế kỉ của chiến tranh nông dân Đây cũng
là giai đoạn mà con đường chính trị của các tầng lớp nho sĩ có sự phân hóa chưatừng có trong lịch sử trung đại Việt Nam Họ phải đắn đo lựa chọn xenm theo TâySơn hay trung thành với vua Lê – chúa Trịnh, chúa Nguyễn Đến khi Nguyễn Ánhthắng lợi một lần nữa họ phải lựa chọn con đường chính trị cho riêng mình
Nền kinh tế, ngoại nội thương trong nước khá phát triển Tuy nhiên đời sốngnhân dân lại vô cùng khổ cực, điêu đứng do kỷ cương xã hội rối bời Đất nước điêulinh nhưng giai cấp thống trị Đàng Ngoài lúc bấy giờ lại ra sức vơ vét của cải để lo
ăn chơi xa xỉ Cũng chính vì vậy mà phong trào khởi nghĩa của nông dân diễn rakhắp nơi, mãnh liệt và dai dẳng Chiến tranh, bắt lính, trưng sưu, tăng thuế, quan lạitham nhũng, đê vỡ, mất mùa, đói kém…bấy nhiêu ta họa thúc đẩy họ họ lao động đểmong đạt tới một chế độ sống dễ thở hơn Nhìn chung, có thể khẳng định sự khốnkhổ của người dân là tình trạng chung trong giai đoạn này, ở các vùng miền, dướicác chính thể khác nhau, bất kể thời Lê – Trịnh, Tây Sơn hay Nguyễn trong nhữngthời điểm nhất định
Nói tóm lại, tình hình xã hội nước ta cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX nổi lên
ba hiện tượng lớn Đó là tập đoàn phong kiến suy vi đến cùng cực và lần lượt sụp đổ,
là nông dân bạo động thường xuyên, mạnh mẻ đã từng thắng lợi vẻ vang, là nền kinh
tế hàng hóa bước đầu phát triển và tạo ra một tầng lớp thị dân khá đông đảo
1.2 Thân thế Hồ Xuân Hương và Phạm Thái chi phối đến mảng thơ
1.2.1.Phạm Thái
Trang 8Phạm Thái(1777-1813) tự là Đan Phượng, hiệu là Chiêu Lì, đạo hiệu là PhổChiếu thiền sư, quê tại huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc(Bắc Ninh).Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc Cha của Phạm Thái là một tôi trung củachúa Trịnh, được chúa cho giữ chức nội san bình phiên (một chức quan võ cao cấp)trong phủ chúa và được phong tước Trạch Trung Hầu Vì cha làm võ tướng nên từnhỏ Phạm Thái đã được học võ, sau ông mới học văn và trở thành một thanh niênvăn võ song toàn.
Sau khi triều Lê Trịnh sụp đổ, Trạch Trung Hầu dấy nghĩa Cần Vương nhưngthất bại và qua đời Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến Phạm Thái
Bị nhà Tây Sơn truy nã, Phạm Thái cắt tóc đi tu và ở chùa Tiêu Sơn(KinhBắc) với đạo hiệu Phổ Chiếu thiền sư
Trốn tránh ở chùa Tiêu Sơn mấy năm, Phạm Thái được Thanh Xuyên hầumời lên Lạng Sơn bàn kế đánh Tây Sơn Ở với Thanh Xuyên hầu một thời gian thìPhạm Thái về quê thăm mẹ Trong thời gian ở quê nhà, nhân được tin Thanh Xuyênhầu mất, Phạm Thái lập tức xuôi nam đến nhà thân phụ của Thanh Xuyên hầu làKiến Xuyên hầu để viếng bạn Trong thời gian nán lại ử nhà Kiến Xuyên hầu, PhạmThái và Trương Quỳnh Như – em gái của Thanh Xuyên hầu, đã yêu nhau say đắm.Mối tình trong sáng, tao nhã ấy đã được cha Quỳnh NHư ủng hộ hết lòng nhưng mẹnàng thì phản đối gawy gắt Quỳnh Như bị mẹ ép duyên với một người giàu có tên làTrịnh Nhị Đau khổ, uất ức tạn cùng, nàng tìm đến cái chết để bảo toàn mộng đẹpvới Phạm Thái Cái chết của người yêu khiến Phạm Thái tan nát, đau đớn khôn cùng,cộng với nỗi đau thân phận, nỗi buồn trong sự nghiệp đã làm tâm hồn ông thêm đauthương
Năm 1802, đất nước lại một lần nữa thay đổi Chính quyền Tây Sơn bị diệtvong trước sự phản công quyết liệt của Gia Long Giấc mơ phù Lê của Phạm Tháicũng tan theo mây khói:
“Ngày tháng trôi như bóng thoảng nhanh Công lao, sự nghiệp phút tan tành”
(Phạm Thái Quỳnh Như – Nghiêm Phái, Thư Linh, 1994)
Từ đấy, nỗi u buồn thất cơ ,ỡ vận và nhất là nỗi đau tình luôn đau đáu trong
hồn ông Ông tìm quyên trên những ngã đường giong ruổi lãng du Ông thường “đi đây đi đó trú ngụ trong các chùa chiền, có dịp tai nghe mắt thấy nhiều sự thực về đời sống các sư sãi trong thời cuối Lê đầu Nguyễn”.
“Chẳng ưa Tây Sơn định ẩn non cao Khoác cà sa lánh đời phức tạp”
(Phạm Thái Quỳnh Như – Nghiêm Phái, Thư Linh, 1994)
Phạm Thái trong “sơ kính tân trang” đã dựng cảnh chùa chiền thành những bứctranh sinh động Phạm Thái đã từng khoác ào cà sa, lấy hiệu là Phổ Chiếu thiền sưnhưng ông không phải là “sư hổ mang” nên không chấp nhận những cảnh bệ rạc xảy
ra trong nhà chùa
Trang 9Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến,Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (1704) ở làng Quỳnh Ðôi, huyệnQuỳnh Lưu, Nghệ An Ông thi đậu Tú Tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái Nhànghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc để kiếm sống Tạiđây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ Hồ Xuân Hương ra đời là kết quảcủa mối tình duyên đó.
Bà sống vào thời cuối Lê, đầu Nguyễn Do đó bà có điều kiện tiếp thi ảnhhưởng của phong trào đấu tranh quần chúng và chứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhànước phong kiến, đặc biệt là giới vua quan và sư sãi
Theo một số công trình nghiên cứu về cuộc đời của Hồ Xuân Hương thì HồXuân Hương là một phụ nữ học rộng, đi nhiều, biết nhiều Như lời của Tốn Phong
viết bài tựa Lưu Hương Ký thì bà tinh thông cả Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, đặc
biệt là về Phật Giáo bà có một kiến thức khá rộng và uyên bác
Tương truyền Hồ Xuân Hương là người thường đi chùa, cuối đời có đi tu mộtthời gian, nhưng trong thơ bà ta lại thấy bà “ghét” sư đến mức thậm tệ Bà gọi sư là
“lũ trọc đầu”, “phúc đức như ông được mấy bồ ?”, “hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo ?”, sư “chái gió cho nên phải lộn lèo” ,“một sư đầu trọc ngồi khua mõ, hai tiểu lưng tròn đứng giữ am”.Thậm chí Hồ Xuân Hương còn mắng bọn dốt đến cửa thiền,
là “phường lòi tói”, đề thơ dở làm dơ bẩn nhà chùa: “muốn sống đem vôi quét trả đền”.
Hồ Xuân Hương đi chùa nhiều và thường xuyên đi chùa, cho nên Hồ XuânHương hiểu rã và thấy rõ thực trạng tha hóa, biến chất của giới sư tăng lúc bấy giờ.Tất cả được phản ánh một cách chân thực trong thơ văn của bà
1.3 Đề tài chùa chiền trong văn học:
Trong bối cảnh “tình hình xã hội ngày càng đi vào khủng hoảng bế tắc, đời sống chính trị ngày càng rối ren thì con người không có cánh nào khác là đi tìm tính ngưỡng tôn giáo để cứu cánh”(Nguyễn Đăng Duy – Đạo giáo với văn hóa Việt
Nam) Đạo Phật có chân đế vững chắc ở đất nước ta từ thế kỉ thứ X Chùa chiềnđược xây dựng khá nhiều, đó là nơi thờ Phật đồng thời là danh thắng, nơi vãn cảnhcủa du khách thập phương Các vị thiền sư, cao tăng, thiện nam, tín nữ thu hút sựngưỡng mộ của mọi người cho nên người tu hành không phải là ít Với quan niệmcửa chùa luôn rộng mở, đón người sảy bước lỡ đường…nên người tá túc, nương náucủa chùa ngày thêm nhiều hơn Khi đất nước nhiễu nhương, mấy thế kỉ chiến tranhnội chiến xảy ra liên miên, cảnh người chết, cháy nhà diễn ra nhan nhản khắp nơi
Trang 10Người vô gia cư, không nghề nghiệp…trôi nổi đầy đường Vì thế nhà chùa ngàycàng mất tính chất tôn nghiêm do bọn bất lương, kẻ trộm cắp có thể trà trộn vào.Người chân tu thì ít mà kẻ gian xảo lọc lừa lại nhiều, nhà chùa trở nên lộn xôn mấttrật tự Đặc biệt thời cuối Lê đầu Nguyễn mâu thuẫn xã hội gay gắt, sự tan rã của chế
độ phong kiến làm cho không ít chùa chiền đương thời không còn là nơi hành đạocủa các bậc chân tu Nhiều cảnh chướng tai gai mắt diễn ra trước đài Phật Thơ vănviết về đề tài chùa chiền thường mang sắc thái trào phúng rất sắc sảo Trong nhângian có rất nhiều câu ca dao châm chọc các bậc tu hành “dởm” trong xã hội cuối Lêđầu Nguyễn ấy:
“Nam mô bồ tát bồ hòn Ông sư bà vãi cuộn tròn lấy nhau”
“Hôm nay mười bốn trăng rằm
Ai muốn ăn oản thì nằm với sư”
“Nam mô hai chũ từ bi Phật còn ve gái huống chi thầy chùa”
“A Di đà Phật Chùa chật cho nên Hai cô nằm ngủ hai bên Thầy chen vào giữa trùm mên cho vui”
“Cái trống sắc đỏ Cái mỏ sơn son Ông sư bà vãi có con rõ ràng”
Không có lửa làm sao có khói Dân gian đã nói rõ như thế, không ai đặt điều.Các nhà thơ đương thời cũng nhận thấy sự tha hóa, biến chất của các nhà sư thời đạibấy giờ Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…là những nhàthơ trào phúng lớn, nội dung trào phúng của những họ đều đã đạt tới mức sâu sắc,đớn đau Lời thơ cứ chan chát như búa tạ nện vào tất cả các tầng lớp xã hội màkhông thém kiêng kị một ai, kể cả các bậc tu hành Hiện thực trong nhà chùa khiếncác thầy tu cũng vô phương cải chính Hòa thượng Giả Ngu trong tuồng Sơn Hậucũng đã thừa nhận:
“Tuy chẳng phải như ông thầy cả Song cũng đà dựa cốt Phật bà Bốn mùa mặc những áo già Tám tiết ăn ròng rau muống
Đi tu có giới cấm:
Nhất giới sát sinh Nhị giới ẩm tửu Tam giới hoặc ngôn Ngũ giới tà dâm Cấm thì cấm vậy mà thôi, thương hại cho tôi
Trang 11Giở bình tương nghĩ tới thịt hầm Gắp rau muống nhớ mùi mắm ruốc!
Gái mười bảy lịch nên quá lịch Cúng bữa rằm làm sãi ngẩn ngơ…”
(Sơn Hậu)
Phê phán xã hội Phật giáo lúc bấy giờ Nguyễn Khuyến cũng có những câu thơrất đắt giá mà chủ yếu là “chế” chứ không tới mức là “giểu”:
“Đầu trọc lóc bình vôi Nhảy tót lên chùa ngồi.
Y a kinh một bộ Lóc cóc mõ ba hồi.
Cơm chẳng cần cá, thịt
Ăn rặt oản chuối xôi.
Không biết câu tình dục Đành chịu tiếng mồ côi”
Ta thấy bài ngụ ngôn bát cú này có hai bút pháp: bốn câu đầu đều là tràophúng, nhưng bốn câu sau chỉ nói bộ thế thôi, thấy thế nào nói thế ấy, rất mực bìnhthường không thêm ý tình của tác giả, như cốt cho xong bài Nhưng, câu thứ hai
“Nhảy tót lên chùa ngồi” có chiều sâu của sự đả kích Chẳng có tư cách gì, học vấn
gì, đạo đức đặc biệt gì, chỉ cạo trọc lọc cái đầu mà lên chùa Là chiếm lấy cái địa vịthầy sư, ông sư, nhà sư Lời phê bình khá nặng, nhưng một mình câu ấy không đủsức để gánh hộ các câu khác, cho nên mức chế giễu của bài thơ chưa đến mức sâusắc như Tú Xương
Trong một bài thơ Tú Xương có lần nói: “Đức tu hành sư có lọng”, đã gọi là
đi tu, mà cũng thích hư vinh Trong bài “Ông sư và mấy ả lên đồng” ông viết:
“Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng, Thà rằng bạn quách với sư xong!
Một thằng trọc tếch ngồi khua mõ, Hai ả tròn xoe đúng múa bông, Thấp thoáng bên đènlên bóng cậu, Thướt tha dưới án nguýt sư ông Chị en thủ thỉ đêm canh vắng:
Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng”
Tú Xương đã vẽ hẳn một hoạt họa nhỏ rất sinh động: cặp mắt của chị em lên
đồng “nguýt sư ông”, đưa ngang mới làm sao! Và sư ông có lẽ nào chịu để người ta
nguýt mãi mình không ăn ý Tú Xương gọi sự vật bằng tên của nó, gọi đúng phẩm
giá của con người cụ thể này: “Một thằng trọc tếch ngồi khua mõ”, nó là một thằng, chứ không lôi thôi vẽ vời gí cả, đối với “Hai ả tròn xoe đứng múa bông”.
Trang 12Và Tú Xương còn có một bài tứ tuyệt nhân việc sư cụ chùa Cuối ở nam Định
bị bắt để tra hỏi về vụ tên sĩ quan Pháp đang chỉ huy việc xây trại lính ở Nam Định,trụ tại chùa ấy, bị lấy trộm hòm lương phát lính:
“Quảng đại từ bi cũng phải tù Hay là sư cụ vụng đường tu?
Tụng kinh cứu khổ ba trăm quyển
và không hiện kên theo một trật tự, kỉ cương nào
Như vậy, ta có thể thấy trong văn học Trung đại đã có rất nhiều tác giả cũngviết về chùa chiền với tiếng nói đả phá, nhưng chỉ với Xuân Hương và Phạm Thái thìtiếng nói ấy mới thực sự mạnh mẽ
CHƯƠNG II: KHẢO SÁT MẢNG THƠ CHÙA CHIỀN TRONG THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ PHẠM THÁI
2.1.Thiên nhiên chùa chiền trong thơ Phạm Thái và Hồ Xuân Hương
2.1.1 Thiên nhiên chùa chiền trong thơ Phạm Thái
Trong các sáng tác của Phạm Thái, ta thấy cảnh trí non sông đất nước hiện lên rất
đa dạng, phong phú Những bức tranh thiên hiên mĩ miều thường gắn liền với bướcchân của khách “lãng tử” nhàn du Đó là những bức tranh thiên nhiên non sông tươiđẹp hoặc là những bức tranh thanh khiết hữu tình đậm màu sắc Phật giáo
Những cảnh đẹp ấy có thể là cảnh một vùng sông nước với:
“Chèo hoa dẫm nhịp ca màu thương lang Xanh xanh bãi biếc sông vàng
Xôn hồng đón khách, nỗi hương đưa người”
(Sơ kính tân trang) Hay cảnh đẹp khi đạo sĩ(Thụy Châu) từ biệt sơn tăng(Phạm Kim) ra đi, có “nước xanh lần chở, gió vàng thẳng đưa” Cảnh ẩn hiện trong mấy khói, như hư như thực,
thỉnh thoảng vang lên tiếng chuông ngân dài:
“Tạ sơn tăng, lại thảnh thơi lên đường, Thênh thênh thuyền bách nhẹ nhàng
Nước xanh lần chở, gió vàng thẳng đưa
Kìa đâu chiền sớm, chợ trưa, Chày boong boong nện, khói mờ mờ bay
Kìa đâu doành nguyệt, am mây,
Cô giong chỉ thắm, chị lay đóa vàng.”
(Sơ kính tân trang)
Trang 13Thơ Phạm Thái có những bức tranh tuyệt đẹp về cảnh chùa chiền ẩn hiện trongmây trời, đá núi, cây cối, hoa cỏ…đó là những cảnh sơn thủy hữu tình Cảnh nao naomột trời mộng và thực Cảnh là cảnh thực vì nước ta nơi chùa chiền, cảnh thườngnhưthế Cảnh là tâm cảnh bởi vì có những cây ưa quý đậm tính ước lệ trong bứctranh tứ bình “tùng, cúc, trúc, đào (mai) Thiên nhiên được điểm xuyết với nhữnghình ảnh rất đẹp: liễu buông cành, trúc gãy đàn, trăng soi tỏ mặt hoa Khi ấy lại vanglên tiếng nhạc của núi rừng, tiếng phách của đại ngàn, tiếng gió thổi vào cửa hang,tiếng chim hót, gà gáy, suối tuôn:
“Hoa đưa chén trúc, hương từng án thông Mành rủ liễu, tán giương tùng
Trúc khua phách đá, lan lồng áo tiêu Đèn trăng tỏa đóa hoa đào
Cửa hang gió thổi, tiếng khua dập dìu Đầu non vượn hót khỉ trèo
Cây kề cửa động, hoa leo mái già Chim, gà gióng dõi tiếng ca Nước tuôn khe biếc, khói pha lá vàng”
(Sơ kính tân trang)
Phạm Thái miêu tả con đường đi tu của Phạm Kim giống như đang miêu tả hànhtrình đến với cái đẹp, đến với vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên Cảnh quen thuộc màthanh tao, gần gũi với thiên nhiên trong sạch, thoát phàm:
“Ca chim, đàn suối, phách rừng Chiếu mây rải đá, đèn trăng treo tùng Phong quang mấy vẻ não nùng
Đem miền Tây Trúc, về vùng Nam Giao”
(Sơ kính tân trang)
Cảnh không chỉ đẹp mà còn thanh như cảnh sắc của cõi Phật Đó là bức tranhtinh xảo của Hóa công, là tuyệt tác của vũtrụ! Cảnh không phải chỉlà một lát cắt của
thiên nhiên mà phải là “Một bầu thếgiới thu vào” (Sơkính tân trang)! Ở đó, chim
chóc có đôi có bạn chuyền cành thật tình tứ, vui tươi Cảnh đẹp một cách hoang sơ,tựnhiên, không cắt tỉa, uốn nắn, giảtạo Cảnh nơi chùa chiền thường đẹp một cáchthâm trầm, huyền diệu gần nhưthoát tục Chim chóc, vạn vật cũng say sưa mùi thiền:
“Cỏhoa ngào ngạt nức hương trời, thưa nhặt véo von chim lắng kệ;
Non nước rỡràng thêu vẻ đất, thấp cao chan chứa đá nghe kinh”
(Tờphảkhuyến làm tam quan chùa Tam Thanh),
“Gió từhây hẩy đưa buồm gấm, Trăng tuệlàu làu rạng tán hoa”
(Sơn âm cổtự)
Cảnh chùa Tiêu Sơn đẹp như “bức liễn” treo ở bàn thờ gia tiên:
“Gió thổi hiu hiu vàng cửa động, Gấm thêu san sát thắm sườn non.
Trang 14Đá xây chan chứa, kinh dài ngắn, Hoa phấn xôn xao, nhạn véo von”
(Đềchùa Tiêu Sơn)
Với bút pháp tả cảnh giàu hình ảnh, màu sắc, âm thanh, Phạm Thái để lại chochúng ta một bức tranh khắc họa khác:
“Sang Quỳnh Lâm cũng xa xa, Năm năm công việc, ba toà Phạm cung
Vào Yên tử rất non cùng, Đàn xô nước suối, phách giong cây rừng
Mây giăng thượng điện ngất chừng, Cây lồng tán rợp, hoa lừng hương xông
Dần dần ra tới Thành Công, Cây ngang Kính Chủ bên dòng nước tuôn
Đá sực sực, nước cồn cồn, Chông chênh cửa động, chon chon mái chùa.”
(Sơkính tân trang) Với hai câu thơ cuối ta thấy hình như tạo hóa cố ra tay xếp đặt cái thế chênh
vênh với những “đá sực sực, nước cồn cồn” dưới chân ngôi chùa để làm giảm bớt sự
u tịch, trầm mặc của cảnh quan hay làm tăng uy cho đức Phật?
Chùa lẫn vào mây núi, thiên nhiên huyền diệu tạo nên khúc nhạc trầm hùng vàmùi thơm sực nức…quyến rủ Nhà thơ như say theo cả bầu trời và cảnh Bụt!
Từ mạn Đông Bắc, Phạm Thái trở vào phía Nam, ông chọn ngôi chùa Kim Sơntrên đất kim Sơn để khoác áo thiền tăng và ông đã phác thảo một bức danh họa đặcsắc:
“Kim Sơn phong cảnh đâu bằng, Hoa đua chén cúc, hương lồng án thung.
Mành liễu rủ, tán dương tùng, Trúc khua phách đá, lan lồng áo tiêu.
Đèn trăng tỏa đóa hoa đào, Cửa hang gió thổi, tiếng điêu dập dìu.”
Tranh cảnh chùa của Phạm Thái tuy chưa thoát khỏi bút pháp hội họa sơnthủy, dấu ấn của thời đại nhưng đã có ít nhiều nét cách tân về hình khối, màu sắc, âmthanh, hương vị…
Có thể nói tầm nhìn của nhà thơ – du khách Phạm Thái – thật rộng, thật tinh
tế Ông bao quát cả một vùng non nước Tổ quốc Việt Nam, để rồi dệt nên một bứctranh giang sơn tuyệt mỹ, có đường nét thấp cao uyển chuyển, có màu sắc xanh tươi,
có âm thanh rộn ràng, khi thánh thót ngân nga, có cảhương vịnhẹnhàng, thanhthoát… Cảnh thiên tạo (núi non, rừng suối) xen với cảnh nhân tạo (tòa nhà, máichùa) cứdần dần hiện ra trong một niềm say mê, một tình yêu đằm thắm
Qua bức tranh phong cảnh của những vùng đất với những ngôi chùa nổi tiếngnhư chùa Quỳnh Lâm, chùa yên Tử “rất non cùng”, cho đến chùa Thành Công, chùa
Trang 15Kính Chủ…ông bộc lộrõ một tình yêu thiên nhiên, tình yêu Tổquốc đằm thắm, thiếttha, rất đáng kính trọng…
Đối lập với những bức tranh thiên nhiên mĩ miều, trong thơ Phạm Thái còn cónhững bức tranh chùa chiền rất ảm đạm Những bức tranh ảm đạm, tối tăm, nhếchnhác đó thường gắn liền với xã hội dưới sự thống trị của kẻ thù Đó là những bứctranh xấu xí, bẩn thỉu Nó là tấm gương phản chiếu diện mạo, bản chất xấu xa của kẻthù Dưới sự thống trị của kẻ thù, quang cảnh của đất nước mới hoá ra nhưthế
Những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đã đổ nát: “…tan bình xá lị; …nát dấu chôn bùa”, “…nát mất cả giềng, …trơ những sống…”
Cảnh vật không gây một chút thiện cảm nào mà làm cho con người cảm thấychán ghét nó vì sựtàn tạ, thô kệch, sống sượng, giả dối, gây cảm giác khó chịu:
“Chùa Châu Long hương cúng khét mù, nghe mõ cá đã rúc vang cầu Trúc;
Hồ Bạch Mã sen bay mất cả, làm giấy hoa đem bán giả sông Tô.”
(Chiến tụng Tây Hồphú)
Cảnh thiên nhiên không có gì là thơ mộng lãng mạn lại càng không giống
cảnh ở dương thế: “Khói viễn thôn khi ngọn gió ra vào, trông thoáng ngỡ nhà ma cửa lấp;…” (Chiến tụng Tây Hồphú).
Hai bức tranh trong thơ Phạm Thái: một bức thì mĩ miều; một bức thì ảmđạm Hai bức tranh ấy thực ra không hề mâu thuẫn mà thống nhất trong con ngườiPhạm Thái Ông là con người phong lưu lãng mạn đi ngao du đây đó Những bứctranh đẹp thường là những bức tranh Phạm Thái vẽ trong lúc đang yêu hay lúc ông
đã hoàn toàn chán ngán sự nghiệp mà tìm vui trong cảnh Đó là những lúc ông đã
“quên” mục đích chính trị của mình Đó là những bức tranh vẽ cảnh đẹp khách quanbằng bút pháp hiện thực nhất, những bức tranh buồn bã, đen tối là những bức tranhông vẽ trong đau đớn, bực tức, hằn học khi thất bại trên chính trường
2.1.2 Thiên nhiên chùa chiền trong thơ Hồ Xuân Hương
Trong “Sơ kính tân trang” Phạm Kim không phải là chân tu nhưng ít nhất chùa
chiền nơi Phạm Kim tu hành cũng khuất xa trần tục và có nếp sinh hoạt “khổ hạnh”.
Nhà sư say sưa trong cảnh:
“Hoa chểnh mảng, nguyệt ơ hờ,
Tuyết e ấp vẻ, gió ngơ ngẩn chiều.
Cỏ hoa kết bạn dập dìu,
Nhiều bên tĩnh thú, ít liều trần gian”
Phải chăng đó mới là cảnh chùa chiền thực sự trong con mắt Phạm Thái?
Ngược lại, đứng trước cảnh chùa “HồXuân Hương không tìm vẻ đẹp của thiên nhiên
mà chỉ chú ý đến cảnh ngược đời của bọn sùng đạo”.
Hồ Xuân Hương yêu đời, yêu thiên nhiên nên bà luôn mang đến cho thiênnhiên trong thơ mình một chất sống tràn trề Thiên nhiên có lúc hiện lên thật bình dị
mà không kếm phần sinh động:
“Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc