Hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non là một nội dung quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu GDMN. Các biểu tượng về toán có thể hình thành một cách tự phát, ngẫu nhiên, có thể được hình thành một cách tự giác thông qua các hoạt động có sự định hướng của người lớn. Các nhà Tâm lý học, Giáo dục học Mácxít khẳng định rằng mức độ nắm vững các biểu tượng nói chung và các biểu tượng toán học của trẻ nói riêng phụ thuộc khá lớn vào phương pháp hướng dẫn và tổ chức các hoạt động cho trẻ, đặc biệt là cách thức tổ chức các “tiết học toán” ở trường mầm non. Thực tiễn cho thấy rằng, trong quá trình hình thànhbiểu tượng số lượng(BTSL) cho trẻ mầm non, nếu trước đây GVMN phải rất vất vả để có thể tìm kiếm những hình ảnh, biểu tượng, đồ dùng phục vụ bài giảng thì hiện nay với ứng dụng CNTT, GV có thể sử dụng internet để chủ động khai thác tài nguyên giáo dục phong phú, chủ động quay phim, chụp ảnh làm tư liệu cho bài giảng điện tử (BGĐT). Chỉ cần vài cái nhấp chuột là hình ảnh những con vật ngộ nghĩnh, những bông hoa đủ màu sắc, những hàng chữ biết đi và những con số biết nhảy theo nhạc hiện ngay ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lập tức thu hút được sự chú ý và kích thích hứng thú của trẻ vì được chủ động hoạt động nhiều hơn để khám phá nội dung bài giảng. Đây có thể coi là một phương pháp ưu việt vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên lý giáo dục của Vưgốtxki Dạy học lấy học sinh làm trung tâm một cách dễ dàng. Có thể thấy ứng dụng của CNTT mà đặc biệt là BGĐT trong GDMN đã tạo ra một biến đổi về chất trong hiệu quả giảng dạy của ngành GDMN, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao giữa GVMN và trẻ. Việc thiết kế BGĐT thường xuyên sẽ làm GV nảy sinh thêm nhiều ý tưởng mới. Bên cạnh đó còn giúp cho GV có thể nâng cao trình độ tin học, mở rộng kiến thức cho bản thân.Khi thiết kếxong BGĐT, GV có thể chia sẻ với các đồng nghiệp hoặc với phụ huynh có nhu cầu sử dụng trên khắp cả nước bằng cách đưa lên mạng Internet. Sử dụng BGĐT, phụ huynh có thểgiúp cho trẻ ôn tập, củng cố lại bài học ở nhà mà không cần phải vất vả tìm kiếm đồ dùng dạy học, tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức và chi phí tiền bạc. Điều này khiến cho phụ huynh rất hào hứng khi chính họ cũng có thể trở thành thầy cô giáo cho con em mình ở nhà.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ BẰNG MỘT SỐ PHẦN MỀM NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG
CHO TRẺ 5-6 TUỔI
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Mạnh Tuấn
Sinh viên thực hiện : Phạm Thu Thảo
Trang 2Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài “Thiết kế bài giảng điện tử bằng một sốphần mềm nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi” đã hoàn thành.Tôixin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến TS.Nguyễn Mạnh Tuấn về sựhướng dẫn tận tình và đầy tâm huyết trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thànhkhóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong khoa Giáo dục mầm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và các bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trìnhnghiên cứu
non-Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo và các em học sinh trườngmầm non Đống Đa, Q Đống Đa, TP Hà nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp
đỡ tôi trong quá trình xây dựng khóa luận
Hà Nội ngày 19 tháng 04 năm 2015
Sinh viên
Phạm Thu Thảo
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤ
Trang 6A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
B PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1 1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.3 Một số vấn đề về phương pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi 9
1.1.4 Giới thiệu số phần mềm và chức năng chính của nó trong việc hỗ trợ GV thiết kế BGĐTở trường mầm non 11
1.1.5 Vai trò của việc thiết kế BGĐT bằng một số phần mềm nhằm hình thành BTSL ở trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 17
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc thiết kế bài giảng điện tử bằng một số phần mềm nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi 18
1.2.1 Thực trạng việc thiết kế bài giảng điện tử bằng một số phần mềm nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi 18
1.2.2 Thực trạng mức độ hình thành biểu tượng số lượng của trẻ5-6 tuổi 23
Kết luận chương 1 25
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ BẰNG MỘT SỐ PHẦN MỀM NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI 27
2.1 Các nguyên tắc thiết kế bài giảng điện tử cho trẻ 5-6 tuổi hình thành biểu tượng số lượng 27
Trang 72.1.1 Việc thiết kế bài giảng điện tử phải xuất phát từ mục tiêu dạy học hình thành
biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi 27
2.1.2 Việc thiết kế bài giảng điện tử phải đảm bảo tính chính xác của nội dunghình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi 27
2.1.3 Việc thiết kế bài giảng điện tửhình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi phải đảm bảo tính trực quan 27
2.1.4 Việc thiết kế bài giảng điện tửhình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi cần đảm bảo tính sư phạm 28
2.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 28
2.3 Sử dụng bài giảng điện tử nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi 42
2.3.1 Về việc sử dụng bài giảng điện tử ở trường 42
2.3.2 Về việc sử dụng bài giảng điện tử tại gia đình trẻ 42
Kết luận chương 2 43
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 45
3.1 Mục đích thực nghiệm 45
3.2 Đối tượng thực nghiệm 45
3.3 Thời gian thực nghiệm 45
3.4 Nội dung thực nghiệm 45
3.5 Tiến hành thực nghiệm 45
3.6 Kết quả thực nghiệm 46
3.6.1 Kết quả đo đầu vào trước thực nghiệm 46
3.6.2 Kết quả sau thực nghiệm 48
Kết luận chương 3 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 56
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Nhận thức của GV về vai trò của việc hình thành BTSL cho trẻ đối với việc
giáo dục trẻ mầm non 19
Bảng 2: Phần mềm hỗ trợ GV thiết kế và giảng dạy BGĐT 20
Bảng 3: Những khó khăn mà GV gặp phải trong quá trình thiết kế BGĐT 20
Bảng 4: Những vướng mắc của GV trong khi sử dụng các PM để thiết kế BGĐT 21
Bảng 5: Tần suất sử dụng BGĐT 22
Bảng 6: Thời gian sử dụng BGĐT trong quá trình dạy học cho trẻ 22
Bảng 7: Thực trạng biểu hiện mức độ hình thành BTSL của trẻ 5-6 tuổi 24
Bảng 8: Mức độ hình thành BTSL của trẻ 5-6 tuổi ở cả 2 nhóm TN và ĐC trước TN 47
Bảng 9: Mức độ hình thành BTSL của trẻ 5-6 tuổi cả hai nhóm TN và ĐC sau TN 48
Bảng 10: Bảng kiểm định sự khác biệt về điểm trung bình của trẻ ở nhóm TN trước và sau TN 50
Bảng 11: Bảng kiểm định sự khác biệt về điểm trung bình của trẻ ở nhóm ĐC trước và sau TN 51
Bảng 12: Bảng kiểm định sự khác biệt về điểm trung bình của trẻ ở nhóm TN và ĐC sau TN 51
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Mức độ hình thành BTSL của trẻ 5-6 tuổi cả hai nhóm TN và ĐC trước
TN 48
Biểu đồ 2: Mức độ hình thành BTSL của trẻ 5-6 tuổi ở cả hai nhóm TN và ĐC sau TN 49
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1: Các chức năng chính của PowerPoint trong việc 13
Sơ đồ 2: Các chức năng chính của GIMP trong việc hỗ trợ GV thiết kế BGĐT 15
Sơ đồ 3: Quy trình thiết kế một đoạn phim bằng PM MovieMaker 16
Sơ đồ 4: Tiến trình thiết kế BGĐT bằng một số phần mềm 29
Trang 10A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, ngành GDMN là mắt xích đầu tiêntrong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực CNTT và đẩy mạnh ứngdụng CNTT vào giảng dạy.Hiện nay các trường mầm non có điều kiện đầu tư vàtrang bị tivi, đầu video, xây dựng phòng đa năng với hệ thống máy tính và máychiếu nối mạng internet Một số trường còn trang bị thêm máy quay phim, chụpảnh,…tạo điều kiện cho giáo viên mầm non(GVMN) có thể ứng dụng CNTT vàogiảng dạy Qua đó người GVMN không những phát huy được tối đa khả năng làmviệc của mình mà còn trở thành một người GV năng động, sáng tạo và hiện đại, phùhợp với sự phát triển của người GV nhân dân trong thời đại CNTT
CNTT phát triển đã mở ra những hướng đi mới cho ngành giáo dục trongviệc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học CNTT phát triển mạnh kéo theo sựphát triển của hàng loạt các phần mềm (PM) giáo dục và có rất nhiều những PMhữu ích cho người GVMN như Bộ Office, Lesson Editor/ Violet, Active Primary,Flash, Photoshop, Kidsmart, Nutrikids, Các PM này rất tiện ích và trở thành mộtcông cụ đắc lực hỗ trợ cho việc thiết kế giáo án điện tử và giảng dạy trên máy tính,máy chiếu, bảng tương tác cũng như trên các thiết bị hỗ trợ khác như tivi, đầuvideo, vừa tiết kiệm được thời gian cho người GVMN, vừa tiết kiệm được chi phícho nhà trường mà vẫn nâng cao được tính sinh động, hiệu quả của giờ dạy
Hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non là một nộidung quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu GDMN Các biểu tượng về toán cóthể hình thành một cách tự phát, ngẫu nhiên, có thể được hình thành một cách tựgiác thông qua các hoạt động có sự định hướng của người lớn Các nhà Tâm lý học,Giáo dục học Mác-xít khẳng định rằng mức độ nắm vững các biểu tượng nói chung
và các biểu tượng toán học của trẻ nói riêng phụ thuộc khá lớn vào phương pháphướng dẫn và tổ chức các hoạt động cho trẻ, đặc biệt là cách thức tổ chức các “tiếthọc toán” ở trường mầm non Thực tiễn cho thấy rằng, trong quá trình hìnhthànhbiểu tượng số lượng(BTSL) cho trẻ mầm non, nếu trước đây GVMN phải rấtvất vả để có thể tìm kiếm những hình ảnh, biểu tượng, đồ dùng phục vụ bài giảngthì hiện nay với ứng dụng CNTT, GV có thể sử dụng internet để chủ động khai thác
1
Trang 11tài nguyên giáo dục phong phú, chủ động quay phim, chụp ảnh làm tư liệu cho bàigiảng điện tử (BGĐT) Chỉ cần vài cái "nhấp chuột" là hình ảnh những con vật ngộnghĩnh, những bông hoa đủ màu sắc, những hàng chữ biết đi và những con số biếtnhảy theo nhạc hiện ngay ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lậptức thu hút được sự chú ý và kích thích hứng thú của trẻ vì được chủ động hoạtđộng nhiều hơn để khám phá nội dung bài giảng Đây có thể coi là một phươngpháp ưu việt vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện đượcnguyên lý giáo dục của Vưgốtxki "Dạy học lấy học sinh làm trung tâm" một cách dễdàng Có thể thấy ứng dụng của CNTT mà đặc biệt là BGĐT trong GDMN đã tạo ramột biến đổi về chất trong hiệu quả giảng dạy của ngành GDMN, tạo ra một môitrường giáo dục mang tính tương tác cao giữa GVMN và trẻ.
Việc thiết kế BGĐT thường xuyên sẽ làm GV nảy sinh thêm nhiều ý tưởngmới Bên cạnh đó còn giúp cho GV có thể nâng cao trình độ tin học, mở rộng kiếnthức cho bản thân.Khi thiết kếxong BGĐT, GV có thể chia sẻ với các đồng nghiệphoặc với phụ huynh có nhu cầu sử dụng trên khắp cả nước bằng cách đưa lên mạngInternet Sử dụng BGĐT, phụ huynh có thểgiúp cho trẻ ôn tập, củng cố lại bài học ởnhà mà không cần phải vất vả tìm kiếm đồ dùng dạy học, tiết kiệm được rất nhiềuthời gian, công sức và chi phí tiền bạc Điều này khiến cho phụ huynh rất hào hứngkhi chính họ cũng có thể trở thành thầy cô giáo cho con em mình ở nhà
Tuy hiện nay việc ứng dụng BGĐT vào giảng dạy đã được nhiều trườngmầm non đặc biệt quan tâm và sử dụng nó trong quá trình hình thành BTSL cho trẻnhưng các BGĐT này còn đơn điệu, chưa phong phú, sinh động, hấp dẫn do GVMNcòn chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các PM, kết hợp các PM trongquá trình thiết kế BGĐT
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thiết kế bài giảng
điện tử bằng một số phần mềmnhằm hình thànhbiểu tượng số lượngcho trẻ 5-6 tuổi.” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Thiết kế BGĐTbằng một số PM nhằm nâng cao hiệu quả của việc hình thànhBTSL cho trẻ 5-6 tuổi, kích thích khả năng chú ý, hứng thú của trẻ trong hoạt độngnày
2
Trang 123 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu.
Quá trình hình thành BTSL cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thiết kế BGĐT bằng một số phần mềm của
GV nhằm hình BTSL cho trẻ 5-6 tuổi
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế BGĐT dạy trẻ 5-6 tuổi nhằm hình thành BTSL theo hướng phùhợp với mục tiêu dạy học, đảm bảo tính trực quan, kích thích hứng thú và củng cốđánh giá thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đề tài nghiên cứu việc thiết kế BGĐT của GV bằng cách sử dụng một số PM trong việc hình thành BTSL ở trẻ 5-6 tuổi.
5.2 Thực nghiệm áp dụng các biện pháp, hình thức đề xuất tại lớp MGL Số 2, trường mầm non Đống Đa, Q Đống Đa, TP Hà Nội.
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Phân tích và hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về phương pháp hình thành BTSL cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài Nghiên cứu cơ
sở lí luận của việc thiết kế BGĐT trong GDMN nói chung và hình thành BTSL nói riêng.
6.2 Đề xuất cách thiết kế BGĐT cho GV bằng một số PM.
6.3 Thực nghiệm việc sử dụng BGĐT trong quá trình tổ chức hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi.
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận.
Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, hệthống các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để phục vụ cho việc xâydựng cơ sở lý luận cho đề tài
3
Trang 137.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1 Phương pháp điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến của GV để nắm đượcmức độ nhận thức của họ về việc hình thành BTSLcho trẻ 5-6 tuổi, cũng như khảnăng thiết kế BGĐT bằng một số PM trong việc dạy học ở trường mầm non
7.2.2 Phương pháp đàm thoại
Trò chuyện, trao đổi, phỏng vấn các GV để thu thập các thông tin có liênquan đến đề tài phát hiện thực trạng giải thích nguyên nhân và làm sáng tỏ nhữngthông tin nhận được từ phiếu điều tra
7.2.3 Phương pháp quan sát
Dự một số hoạt động hình thành BTSLcho trẻ 5-6 tuổi Quan sát quá trìnhhoạt động của cô và trẻ để từ đó phân tích kết quá, phát hiện những khó khăn vàthuật lợi, làm cơ sở để sửdụng các phần mềm hỗ trợ thiết kế BGĐT cho GVMN.7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tínhđúng đắn của giả thuyết khoa học được đưa ra trong đề tài
7.2.5 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Chúng tôi nghiên cứu, phân tích các BGĐT đã được thiết kế và sử dụngtrong quá trình cho trẻ hình thành BTSL
7.2.6 Phương pháp thống kê toán học
Chúng tôi sử dụng một số công thức thống kê toán học nhằm kiểm chứngtính đúng đắn của giả thuyết khoa học trong đề tài, đánh giá kết quả nghiên cứu
4
Trang 14B PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
1 1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở nước ngoài:
Trong thời đại hiện nay, CNTT là giải pháp quan trọng cần khai thác triệt đểkhi thực hiện giáo dục và đào tạo CNTT có thể giúp con người chọn nhập và xử lýthông tin nhanh chóng để biến thành tri thức CNTT làm tăng năng suất của ngườidạy và học do rất nhiều PM hỗ trợ để soạn thảo các BGĐT, giáo án điện tử giúp chongười dạy có thể truyền thụ tri thức và người học lĩnh hội tri thức một cách nhanhchóng và dễ dàng nhất Có thể thấy các ứng dụng này hiện nay rất được phổ biếnnhư: Microsoft Office, OpenOffice, MathCAD, Cabri, GIMP, Windows MovieMaker,…là những công cụ giúp đưa thêm multimedia (audio và video) vào các bàitrình bày của Microsoft PowerPoint, giúp bài trình bày trở nên sống động gấp nhiềulần GV không cần các kiến thức chuyên sâu về tin học mà vẫn có thể phát triển cácBGĐT không cần kết nối mạng Internet trên mã nguồn mở, sau đó xuất ra dướidạng trang web hoặc tuân theo gói chuẩn SCORM.Clarolin (là ứng dụng Web miễnphí cho phép tạo hoặc quản lý các khóa học thông qua Web Các PMnày sẽ giúpcho GV tiết kiệm được thời gian hơn trong việc tìm hiểu và soạn BGĐT, gây hứngthú được cho trẻ nhiều hơn khi dạy học
Trên thế giới, các nước có nền giáo dục hình thành đều chú trọng đến ứngdụng CNTT, sử dụng BGĐT như: Australia, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc,Singapo, Mỹ…Để có được ứng dụng CNTT như ngày nay họ đã có một quá trìnhnghiên cứu và hình thành lâu dài với nhiều dự án, chương trình quốc gia về tin họchoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnhvực của đời sống xã hội, đặc biệt ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục Họ coi đây là vấn
đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng vàhình thành công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để
5
Trang 15xây dựng và hình thành nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực vàtrên toàn thế giới
Từ những năm 1990, ứng dụng CNTT, BGĐT vào phương pháp dạy và họcmới trong trường học đã được các nước hình thành như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản,Australia đề cập tới trong chiến lược hình thành giáo dục của quốc gia mình nhằmđào tạo một đội ngũ lao động có trình độ cao đáp ứng cho sự hình thành nhanh củanền công nghệ cao ở các nước này Tuy nhiên, các quốc gia này đều cùng chungmột vấn đề là hệ thống giáo dục bao gồm trường học các cấp và đại học là quá lớn
và lâu đời Phương pháp giáo dục cổ điển đã thành hệ thống không còn thích ứngvới sự hình thành nhanh của kỷ nguyên CNTT vì thế vấn đề đặt ra là phải có nhữngthay đổi mang tính cách mạng trong nhà trường về phương pháp quản lí, phươngpháp dạy và học và cùng với nó là trang thiết bị hiện đại trong lớp học, trường học
và viện nghiên cứu Chính vì thế, các tập đoàn lớn như IBM, Intel đã đầu tư rất lớncho các dự án hỗ trợ giáo dục toàn cầu nhằm thay đổi việc ứng dụng CNTT
Đối với ngành GDMN, theo kết quả của báo cáo do tổ chức Hệ thống cáctrường quốc gia Australia đánh giá hiệu quả của chương trình IBM Kidsmart trongkhu vực Châu Á Thái Bình Dương, việc ứng dụng CNTT trong GDMN nhằm mụcđích:
- Tạo đà hình thành năng lực, kỹ năng cho trẻ lứa tuổi mầm non và phục vụmục tiêu GDMN của Bộ giáo dục các nước tham gia chương trình
- Hỗ trợ chuyên môn cho GVMN ứng dụng hiệu quả BGĐT vào quá trìnhdạy và học thông qua các khoá tập huấn và hình thành nghiệp vụ
- Hỗ trợ các tiến trình đổi mới GDMN thông qua ứng dụng công nghệ
Việc ứng dụng CNTT, sử dụng BGĐT trong giáo dục nói chung và GDMNnói riêng là nhu cầu cấp thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp,hình thức tổ chức giáo dục trẻ, là yêu cầu của xã hội đòi hỏi một lực lượng lao động
có chất lượng cao thích nghi với sự hình thành nhanh của thông tin truyền thông
Trang 16quan tâm.Việc ứng dụng CNTT vào dạy học là phù hợp với chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước Như vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học là một nhu cầu cấpthiết đối với hệ thống giáo dục Việt Nam vì nó giúp GV có nhiều thời gian hơn để dẫndắt học sinh nắm bắt vấn đề, tạo tình huống có vấn đề để kích thích sự tu duy sáng tạocủa học sinh Mặt khác, nó cũng giúp học sinh chủ động hơn trong quá trình lĩnh hội trithức khi được tiếp xúc với nhiều nguồn tư liệu khác nhau Từ đó, hình thành cho ngườihọc kĩ năng tự tiếp thu tri thức, độc lập trong tư duy và hứng thú, hăng say học tập.
Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ chính trị (17/10/2000) về việc đẩy mạnh ứngdụng và hình thành CNTT và truyền thống phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Chỉ thị ngày 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyếtđịnh về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáodục giai đoạn 2001-2005 Những điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất, khoa học- côngnghệ và giáo dục đào tạo của nước ta đã có những bước tiến đáng kể, điều này đãgiúp cho việc triển khai các ứng dụng CNTT và truyền thông vào cuộc sống trở nênmạnh mẽ và khả thi hơn
Đối với ngành GDMN, năm học 2004-2005 là một bước tiến lớn khi VụGDMN ra công văn số 9318/GDMN gửi đến tất cả các trường mầm non trên cảnước về việc triển khai ứng dụng CNTT trong nhà trường.Khuyến khích các phòngGD-ĐT, các trường mầm non thực hiện công tác quản lý bằng CNTT; xây dựng kếhoạch và tiến hành bồi dưỡng nhân rộng ứng dụng BGĐT trong giảng dạy.Tiếnhành tập huấn cho GV bước đầu sử dụng phần mềm PowerPoint để xây dựngBGĐT cơ bản.Năm học 2008-2009 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai cuộc vậnđộng “Năm học ứng dụng CNTT trong giảng dạy” ở tất cả các trường từ Đại học, caođẳng cho đến trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học và cả bậc học mầm non
Vài năm trở lại đây, các hội thi ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục bắtđầu thu hút một lượng lớn GVMN tham gia với các sản phẩm hết sức phong phú và
có giá trị trong dạy học Các BGĐT, bài giảng E-learning được chia sẻ phổ biếnrộng rãi trên mạng internet giúp không chỉ GV mà phụ huynh đều có thể xem và sửdụng một cách dễ dàng Từ đó nâng cao khả năng tiếp nhận và lĩnh hội tri thức củatrẻ.Trẻ không chỉ được học trên lớp mà ở nhà còn có thể cùng bố mẹ ôn lại kiếnthức, bài học thông qua các phương tiện CNTT.Các hội thảo thảo luận, chia sẻ kinh
7
Trang 17nghiệm ứng dụng CNTT sao cho phù hợp với từng thời điểm, thời lượng vừa sứcvới trẻ trong GDMN cũng được tổ chức thường xuyên và đạt được hiệu cao.
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản
Phần mềm
Phần mềm (tiếng Việt còn được gọi là nhu liệu; tiếng Anh: software) là mộttập hợp những câu lệnh được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình theo mộttrật tự xác định nhằm tự động thực hiện một số chức năng hoặc giải quyết một bàitoán nào đó
Phần mềm được hiểu là một tập hợp chỉ lệnh, được viết bằng ngôn ngữ lậptrình, mà máy tính có thể hiểu được, chúng hoạt động theo cách thức định trước
Các chương trình soạn thảo văn bản Microsoft Word, xử lý đồ họa CorelDraw, trò chơi Edmark,v.v… là các ví dụ cụ thể về sản phẩm
Bài giảng điện tử
BGĐT là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt
động dạy học đều được chương trình hóa do thông qua môi trường Multimedia domáy vi tính tạo ra Multimedia được hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đatruyền thông Thông tin được truyền dưới các dạng: Văn bản (text), đồ họa(graphics), hiệu ứng (animation), âm thanh (audio) và phim video (video clip)
Đặc trưng cơ bản nhất của BGĐT là kiến thức của bài học, hoạt động điềukhiển của GV đều được Mutimedia hóa
Thiết kế bài giảng điện tử
Thiết kế BGĐT là quá trình sử dụng ngôn ngữ lập trình tin học Pascal, VB,
C++, Java…) tùy theo trình độ có được về CNTT của người viết hoặc dựa vào phầnmềm trình diễn có sẵn (MS Access, Macromedia Flash, ActiveInspire, Fontpage,Publisher, Violet, Leture Maker, Adobe Presenter, MS PowerPoint, GIMP,MovieMaker,…) để xây dựng tiến trình và nội dung của một tiết học, một chươnghay cả một môn học Thiết kế BGĐT giúp người dạy chuyền tải đầy đủ và sinhđộng nội dung kiến thức, giúp người học đạt được mục tiêu học tập cao nhất
Biểu tượng
Biểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạntrực quan sinh động.Đó là hình ảnh có tính chất đặc trưng tương đối hoàn chỉnh còn
8
Trang 18lưu lại trong bộ óc của con người về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tácđộng vào các giác quan.
Biểu tượng toán học là những hình ảnh có tính đặc trưng tương đối hoànchỉnh các kiến thức về tập hợp, con số, phép đếm, về kích thước, hình dạng của cácvật, về khả năng định hướng trong không gian, thời gian và mối quan hệ các đạilượng khi những đối tượng này tác động vào con người
Biểu tượng số lượng
Khái niệm về số lượng: Số lượng là khái niệm chỉ số phần tử có trong mộttập hợp tại một không gian và thời điểm xác định Khái niệm số lượng có liên quanđến số tập hợp, bất kì một tập hợp nào cũng xác định được độ lớn (số lượng) nhấtđịnh của nó, dù là các phần tử thuần nhất hay không thuần nhất
Khái niệm BTSL: là những hình ảnh về đặc trưng số lượng của các tập hợpcòn lưu lại và được tái hiện trong óc của ta khi các tập hợp ấy không còn được trigiác trực tiếp, không còn đang tác động vào các giác quan của ta như trước BTSLbao gồm: BTSL (so sánh số lượng 2 nhóm đối tượng xem chúng như thế nào vớinhau), biểu tượng về mối quan hệ số lượng (so sánh số lượng hai nhóm đối tượngxem chúng hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị)
1.1.3 Một số vấn đề về phương pháp hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi
Đặc điểm phát triển biểu tượng số lượng trẻ 5-6 tuổi
Trẻ 5-6 tuổi có khả năng phân tích chính xác các phần tử của tập hợp, các tậpcon trong tập lớn Trẻ khái quát được một tập lớn gồm nhiều tập con và ngược lạinhiều tập hợp riêng biệt có thể gộp lại với nhau theo một đặc điểm chung nào đó đểtạo thành một tập lớn Khi đánh giá độ lớn của tập hợp, trẻ mẫu giáo lớn ít bị ảnhhưởng của các yếu tố như: màu sắc, kích thước, vị trí sắp đặt của các phần tử củatập hợp
Hoạt động đếm của trẻ phát triển lên một bước mới, trẻ có hứng thú đếm vàphần lớn nắm được trình tự của các con số từ 1-10, biết thiết lập tương ứng 1:1trong quá trình đếm, mỗi từ số ứng với một phần tử của tập hợp mà trẻ đếm Trẻkhông chỉ hiểu rằng, khi đếm thì số cuối cùng là số kết quả ứng với toàn bộ nhómvật, mà trẻ còn bắt đầu hiểu con số chỉ là chỉ số cho số lượng phần tử của tất cả các
9
Trang 19tập hợp có cùng độ lớn không phụ thuộc vào những đặc điểm, tính chất cũng nhưcách sắp đặt của chúng.
Trẻ 5-6 tuổi bắt đầu hiểu mối quan hệ thuận nghịch giữa các số liền kề củadãy số tự nhiên (mỗi số đứng trước nhỏ hơn số đứng sau một đơn vị và mỗi số đứngsau lớn hơn số đứng trước một đơn vị).Trên cơ sở đó dần dần trẻ hiểu được quy luậtthành lập dãy số tự nhiên n + 1 hoặc n – 1.Kỹ năng đếm của trẻ ngày càng trở nênthuần thục, trẻ không chỉ đếm đúng số lượng các nhóm vật mà còn cả âm thanh, cácđộng tác, qua đó trẻ hiểu sâu sắc hơn vai trò của số kết quả Mặt khác, trẻ không chỉđếm từng vật mà còn đếm từng nhóm vật, qua đó trẻ hiểu sâu sắc hơn ý ghĩa củakhái niệm đơn vị- đơn vị của phép đếm có thể là cả nhóm vật chứ không chỉ là từngvật riêng lẻ
Hơn nữa dưới tác động của dạy học, trẻ MGL không chỉ biết đếm xuôi màcòn biết đếm ngược trong phạm vi 10, trẻ nhận biết các số từ 1-10 Trẻ hiểu rằngmỗi con số không chỉ được diễn đạt bằng lời nói mà còn có thể viết, và muốn biết
số lượng của các vật trong nhóm không nhất thiết lúc nào cũng phải đếm, mà đôilúc chỉ cần nhìn con số biểu thị số lượng của chúng Việc cho trẻ làm quen với cáccon số có tác dụng phát triển tư duy trừu tượng cho trẻ, phát triển khả năng trừu suất
số lượng khỏi những vật cụ thể, dạy trẻ thao tác với các kí hiệu- các con số
Như vậy, trẻ 5-6 tuổi cần tiếp tục phát triển biểu tượng về tập hợp, bước đầucho trẻ làm quen với một số phép tính trên tập hợp, điều đó tạo cơ sở cho trẻ họccác phép tính đại số sau này ở trường phổ thông Tiếp tục dạy trẻ phép đếm trongphạm vi 10, giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn khái niệm đơn vị, tạo tiền đề cho trẻ hiểu bảnchất của các phép tính đại số mà trẻ sẽ học tập ở trường phổ thông Dạy trẻ làmquen với các bài toán đơn giản trên các tập hợp cụ thể bằng cách phân tích để biếtcái gì đã cho, cái gì cần tìm, để tìm cái đó phải làm như thế nào? Đó chính là cơ sở
để trẻ học tốt môn toán sau này ở trường phổ thông
Quá trình dạy học nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi
Nội dung hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi:
- Mở rộng và phát triển biểu tượng về tập hợp cho trẻ, trẻ tạo nhóm theo cácdấu hiệu (mầu sắc, hình dạng, kích thước, chất liệu, công dụng, )
10
Trang 20- Dạy trẻ đếm trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng, nhận biết các nhóm
có số lượng trong phạm vi 10 Nhận biết chữ số 10
- Biết thêm, bớt trong phạm vi 10 nhằm biến đổi số lượng Hiểu được mốiquan hệ số lượng trong phạm vi 10 và phản ánh bằng lời
- Biết chia một nhóm đối tượng ra làm hai phần theo nhiều cách khác nhau
và xếp thứ tự trong phạm vi các số đã học
Nội dung hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi không chỉ bao gồm những kiếnthức, kỹ năng (đếm, tính toán) mà còn bao gồm cả những biện pháp hoạt động thựctiễn, hoạt động trí tuệ, tất cả những điều đó là cơ sở để góp phần giáo dục toàn diệnnhân cách trẻ
Quá trình hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi:
Dạy học ở trường mầm non là quá trình phát triển có hệ thống, có kế hoạch,
có mục đích các năng lực nhận thức của trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống tri thức sơđẳng, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và trên cơ sở đó góp phần hình thành
và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ
Quá trình hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ mầm non là quá trình hìnhthành ở trẻ những kiến thức sơ đẳng về tập hợp, con số và phép đếm cho trẻ mầmnon một cách có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích dưới sự tổ chức, hướng dẫncủa GV Trong đó, GV là người lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn, tạo môi trườngcho trẻ tham gia vào hoạt động, trẻ là chủ thể tích cực, chủ động tham gia hoạt độngnhằm lĩnh hội các kiến thức, kỹ năng của mình
1.1.4 Giới thiệu số phần mềm và chức năng chính của nó trong việc hỗ trợ GV thiết kế BGĐTở trường mầm non
Trong đề tài này, chúng tôi tập chung nghiên cứu những chức năng chính của
3 PM hỗ trợ việc thiết kế BGĐT cho GV: PM trình chiếu PowerPoint; PM chỉnhsửa ảnh GIMP; PM làm phim MovieMaker
Phần mềm PowerPoint:
PowerPoint là PM khá quen thuộc đối với mỗi GV, được sử dụng để thiết kếminh họa, thuyết trình PM này có tính hiệu quả mạnh về đồ họa và hiệu ứng hỗ trợcho GV thiết kế BGĐT sinh động, hấp dẫn giúp cho quá trình học trở nên sốngđộng và lôi cuốn hơn
11
Trang 21Điểm mạnh của PM PowerPoint là chức năng trình diễn, tính linh hoạt cao
và có thể liên kết với các PM khác như: nhúng file Word vào slide, liên kết với PMViolet,…
Các chức năng chính của PM PowerPoint trong việc hỗ trợ GV thiết kế BGĐT:
- Chức năng chèn hình ảnh: PM PowerPoint hỗ trợ GV có thể
chèn hình ảnh với nhiều định dạng cũng như chất lượng ảnh khác nhau, baogồm: ảnh thường, ảnh động, ảnh vẽ, ảnh đã chỉnh sửa từ PM GIMP,… PMnày cũng cho phép GV có thể điều chỉnh kích thước ảnhhoặc đặt chồngnhiều hình ảnh lên nhau
- Chức năng chèn âm thanh: PowerPoint hỗ trợ GV có thể chèn
âm thanh vào hình ảnh Âm thanh được chèn vào có thể là âm thanh sẵn cótrong phần mềm hoặc những âm thanh mà GV tự tìm kiếm từ bên ngoài Khicài đặt, PowerPoint cho phép âm thanh có thể được phát trước hoặc sau hoặccùng lúc với hình ảnh; thời gian phát âm thanh được phép thay đổi dài, ngắntùy thuộc vào cách thức cài đặt của GV
- Chức năng chèn đoạn phim: Ngoài những đoạn phim có sẵn
trong PM, GV có thể chèn những đoạn phim khác từ bên ngoài vào thông
qua chức năng chèn đoạn phim được hiển thị ở trên thanh công cụ Những
đoạn phim này có thể là những đoạn phim được tải xuống từ các trangwebsite hoặc từ chính những đoạn phim do GV thiết kế thông qua PM MovieMaker
- Chức năng tạo siêu liên kết: Siêu liên kết là một tính năng rất
đặc biệt của PM này Tính năng siêu liên kết giúp cho GV có thể nhanhchóng chuyển từ một dối tượng này sang một đối tượng khác mà không cầnphải tìm kiếm hay thao tác nhiều lần Không những thế, chức năng này còncho phép GV kết nối bài giảng tới một PM khác hoặc một bài giảngPowerPoint khác đã được đóng gói
- Công cụ vẽ, gõ văn bản: PM này cho phép GV có thể gõ các
tiêu đề hay nội dung bài học như trong Word Công cụ vẽ giúp GV có thể tùy
ý thiết kế một đối tượng mong muốn một cách dễ dàng Chẳng hạn như vẽ
12
Trang 22đám mây, vẽ ngôi sao hay các hình học trong toán học Công cụ này đặc biệthữu ích trong quá trình GV thiết kế BGĐT nhằm hình thành BTSL cho trẻ.
- Tạo các hiệu ứng hoạt hình: Với PM này, GV có thể tạo ra các hiệu
ứng hoạt hình rất ấn tượng như: làm chữ bay, hình ảnh chuyển động, innghiêng, bóng đổ,… Các hiệu ứng này có thể sử dụng kết hợp với nhau,đồng thời mỗi loại cũng có thể thay đổi được các tham số một cách tùy ý, vìvậy sẽ tạo được rất nhiều các kết quả đẹp mắt đồng thời tạo các hiệu ứngchuyển động và biến đổi
- Chức năng đóng gói bài giảng: Bài giảng được xuất ra thành một sản
phẩm chạy độc lập, có thể copy vào CD hoặc USB hay đưa lên mạng internet
để chạy trên các máy tính khác mà không cần chương trình PowerPoint,thuận tiện cho việc chia sẻ và bảo quản
hỗ trợ GV thiết kế BGĐT
Tạo các trang slide
Chèn các hình ảnh, âm thanh, đoạn phim có sẵn
Gõ văn bản, vẽ hình
ảnh
Tạo siêu liên kết
Hoàn thiện, đóng gói và đưa vào sử dụng
Tạo hiệu ứng
Sơ đồ 1: Các chức năng chính của PowerPoint trong việc hỗ
trợ GV thiết kế BGĐT
13
Trang 23 Phần mềm GIMP
PM GIMP với tên gọi đầy đủ là GNU Image Manipulation Program.Đây làchương trình hoàn toàn miễn phí được thiết kế dành cho những tác vụ như phục chế
ảnh, tạo ra và xử lý các đồ họa mảng, nhưng cũng có hỗ trợ cho đồ họa vector Với
nhiều tính năng khác nhau, GIMP có thể được sử dụng giống như chương trình vẽthông thường, chương trình phục chế hình ảnh chất lượng cao, hệ thống xử lý theonhóm trực tuyến, công cụ chuyển đổi định dạng hình ảnh,…Còn trong việc hỗ trợ
GV thiết kế BGĐT, chức năng chủ yếu của GIMP là chỉnh sửa ảnh, tạo ảnh động
Tất cả các ảnh xuất ra từ PM GIMP đều có thể chèn vào các slide của PMPowerPoint
- Chức năng chỉnh sửa ảnh: GIMP cho phép GV có thể chỉnh
sửa ảnh theo ý thích từ cơ bản đến chuyên nghiệp Đối với việc thiết kếBGĐT, GV chỉ cần dùng GIMP để chỉnh sửa những hình ảnh với các thaotác cơ bản, đơn giản như: chỉnh màu sắc, độ sáng, độ tương phản, xoay ảnh,lật ảnh, cắt, ghép ảnh, xóa nền ảnh một màu, thay đổi định dạng ảnh,…Saukhi chỉnh sửa xong, GV có thể lưu file ảnh ở nhiều định dạng khác nhau saocho phù hợp với nhu cầu sử dụng VD các định dạng thườnggặp: JPG; PNG; GIF;…
- Chức năng tạo ảnh động: Công cụ này cho phép GV có thể tạo
ra các bức ảnh động bằng cách chồng nhiều ảnh lên nhau theo một thứ tựnhất định và tự động chuyển ảnh theo thời gian đã cài đặt bằng một vài thaotác đơn giản, nhanh chóng Ưu điểm của chức năng này là sau khi tạo xongảnh động, GV có thể xuất ra thành file ảnh và có thể mở bất kì máy tính nàohoặc nhúng thả, chèn vào Word hay PowerPoint
14
Trang 24 Phần mềm MovieMaker
PM MovieMaker với tên gọi đầy đủ là Windows Live Movie Maker là công
cụ biên tập và chỉnh sửa video, với nhiều tính năng chỉnh sửa cơ bản giúp GV kếthợp hình ảnh và video tạo thành một bộ phim hoàn chỉnh Tiện ích hỗ trợ hầu hết
Trang 25các định dạng âm thanh, hình ảnh, video phổ biến, bao gồm cả những file mediađược tạo ra từ các thiết bị kĩ thuật số như máy ảnh, camera, điện thoại di động…
PM MovieMaker có rất nhiều ưu điểm như: bộ công cụ thao tác đơn giản,gọn nhẹ; giao diện bắt mắt; có thể đóng gói và bảo quản dễ dàng; lưu đoạn phim ởnhiều định dạng khác nhau,…Tuy nhiên, ưu điểm lớn nhất của PM này chính là nó
có sẵn trong hệ điều hành Windows- một hệ điều hành phổ biến mà hầu hết các máytính đều cài đặt
Tất cả các đoạn phim được xuất ra từ PM MovieMaker đều có thể nhúng thả
và chạy được trên các slide của PM PowerPoint
Các chức năng chính của PM MovieMaker trong việc hỗ trợ GV tạo ra mộtđoạn phim:
- Chức năng tạo một đoạn phim: PM cho phép GV có thể lựa
chọn nhiều bức ảnh ghép lại chuyển động trên một dải âm thanh bằng cách
sử dụng chức năng Chèn ảnh/ Chèn âm thanh hiển thị trên thanh công cụ.
Sau khi chèn xong xong ảnh và âm thanh, GV có thể chỉnh sửa thời gian bứcảnh xuất hiện cũng như thời lượng âm thanh phát ra bằng các công cụ cắt,ghép, thêm bớt có sẵn
- Chức năng tạo hiệu ứng: Để cho đoạn phim trở nên sinh động
và bắt mắt, GV có thể chọn hiệu ứng chuyển động cho mỗi mức ảnh khi xuấthiện cũng như khi kết thúc Bên cạnh đó, PM còn có chức năng lựa chọn
Giao diện phim tự động, nghĩa là GV chỉ cần chèn ảnh, âm thanh vào và
chương trình sẽ tự động chọn hiệu ứng, thời gian cũng như biên tập tiêu đề,phụ lục, màu sắc có sẵn cho đoạn phim Việc này khiến cho việc thiết kếphim trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn mà vẫn đảm bảo đoạn phim đượctạo ra thật chuyên nghiệp và đẹp mắt
Dưới đây là sơ đồ quy trình thiết kế một đoạn phim bằng PM MovieMaker:
Trình làm phim
Sơ đồ 3: Quy trình thiết kế một đoạn phim bằng PM MovieMaker.
16
Trang 261.1.5 Vai trò của việc thiết kế BGĐT bằng một số phần mềm nhằm hình thành BTSL ở trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
Các PM PowerPoint, GIMP, MovieMaker đều là những PM có giao diệnthân thiện và dễ sử dụng Những nút lệnh và thanh công cụ đều hiển thị sẵn ở phíagóc trên của màn hình và được liệt kê rất chi tiết.Bên cạnh đó, các PM này đều cókhả năng tích hợp đa phương tiện, dễ dàng chèn tranh ảnh, âm thanh và đóng góimột cách thuận tiện, nhanh chóng Do đó việc tìm hiểu và sử dụng của GV đối vớiviệc thiết kế BGĐT nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi sẽ trở nên dễ dàng nếuđược tập huấn và thực hành trên máy tính trong một thời gian ngắn
Khi thiết kế BGĐT bằng các PM PowerPoint, GIMP, Movie Maker cho mỗinội dung của bài học như: Ôn tập củng cố kiến thức cũ; giới thiệu kiến thức mới; tròchơi luyện tập, đều có thể sắp xếp trên các slide và đúng theo trình tự nội dung hìnhthành BTSL Điều đó sẽ giúp cho trẻ hiểu được thứ tự nội dung của bài học, nắmđược các kỹ năng, kiến thức từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
VD: Khi ôn tập củng cố kiến thức cũ, GV có thể dùng một đoạn phim đượcthiết kế bằng PM MovieMaker với nhiều con vật xuất hiện sau đó hỏi trẻ xem cóbao nhiêu con vật vừa xuất hiện trong đoạn phim cô vừa phát hay với nội dung đếm
số lượng: GV có thể chèn nhiều đối tượng trên một slide cho trẻ đếm, mỗi lần GVnhấp chuột là một đối tượng sẽ hiện ra kèm theo đó là các con số, điều này sẽ giúptrẻ vừa hình thành được kĩ năng đếm lại vừa nhận biết được các chữ số
Bên cạnh đó, việc thiết kế BGĐT bằng các PM nêu trên sẽ giúp cho GV tiếtkiệm được nhiều thời gian trong việc chuẩn bị đồ dùng trực quan.Chỉ bằng vài cái
Chỉnh sửa, tạo hiệu ứng
Hoàn thiện, đóng gói sản phẩm
17
Trang 27nhấp chuột, GV đã có thể tìm kiếm được vô vàn các hình ảnh sinh động, đẹp mắt vàdán vào các slide Ngoài ra, GV còn có thể dễ dàng cập nhật sửa chữa, cũng nhưquản lí thuận tiện do các BGĐT được thiết kế rõ ràng theo từng nội dung hình thànhBTSL Sau khi GV thiết kế BGĐT có thể đóng gói và xuất vào đĩa CD, USB tạothành sản phẩm nhỏ gọn, tiện lợi cung cấp cho đồng nghiệp hoặc phụ huynh có nhucầu tham khảo hoặc đưa lên mạng Internet đóng góp vào kho tài liệu chung chocộng đồng.
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc thiết kế bài giảng điện tử bằng một số phần mềm nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi
1.2.1 Thực trạng việc thiết kế bài giảng điện tử bằng một số phần mềm nhằm hình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi
1.2.1.1 Mục đích điều tra
Quá trình điều tra nhằm tìm hiểu thực trạng hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi
và tìm hiểu việc thiết kế cũng như sử dụng BGĐT trong quá trình GV tổ chức hoạtđộng dạy học hình thành BTSL Tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc của họ để từ
đó đi đến xây dựng một số biện pháp sử dụng các phần mềm hỗ trợ việc thiết kếBGĐT nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở trường mầm non
1.2.1.2 Đối tượng điều tra
Thực hiện điều tra 55 GV tại trường mầm non Đống Đa- Q Đống Đa- TP
Hà Nội.Đa số các GV có trình độ cao đẳng và đại học.GV tại trường có thâm niêncông tác nhiều nhất là 27 năm và thấp nhất là 10 tháng
1.2.1.3 Nội dung điều tra
Trang 281.2.1.4.Thời gian điều tra
Từ 02/03/2015- 09/04/2015
1.2.1.5 Phương pháp điều tra
- Phương pháp quan sát: Quan sát toàn bộ quy trình tổ chức một giờ học hoặchoạt động có sử dụng BGĐT nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi
- Phương pháp điều tra bằng phiếu anket: Chúng tôi xây dựng hệ thống cáccâu hỏi để điều tra thực trạng việc sử dụng BGĐTnhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-
6 tuổi và thăm dò ý kiến cá nhân các GV
- Phương pháp thống kê toán học: Dùng để xử lý số liệu
1.2.1.6 Kết quả điều tra
Nhận thức của GV về vai trò của việc hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi.
Đa số các GV đều nhận thấy rằng việc hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổiđóng vai trò rất quan trọng đối với việc giáo dục trẻ mầm non Có 72.73% GV chorằng rất quan trọng, 27.27% số GV cho rằng quan trọng và không có GV nào chorằng việc này không quan trọng
Bảng 1: Nhận thức của GV về vai trò của việc hình thành
BTSL cho trẻ đối với việc giáo dục trẻ mầm non Việc hình thành BTSL
cho trẻ đối với việc giáo
19
Trang 29 Đánh giá nhận thức của GV về việc ứng dụng CNTT vào quá trình hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi.
Quá trình điều tra chúng tôi nhận thấy đa số GV đã nhận thức được vai trò, ýnghĩa của việc ứng dụng CNTT vào quá trình giảng dạy nói chung và hình thànhBTSL nói riêng 18.18% ý kiến GV cho rằng việc này rất cần thiết, 72.73% GV chorằng cần thiết và 9.09% cho rằng không cần thiết Số GV cho rằng không cần thiếttập trung chủ yếu ở nhóm GV lớn tuổi, có số năm giảng dạy lâu năm
85.45% các GV đều thấy được những ích lợi mà CNTT đem lại trong quátrình giảng dạy như: mô phỏng nhiều hiện tượng, quá trình tự nhiên, xã hội mộtcách trực quan để trẻ dễ tiếp thu hơn; BGĐT có thể thay GV trong một số khâu củaquá trình dạy học, tạo điều kiệ cho GV có nhiều thời gian tổ chức, quan sát, đánhgiá trẻ hơn,… Bên cạnh đó có 14.55% GV nói rằng sử dụng BGĐT giúp họ mất ítthời gian hơn trong việc chuẩn bị bài giảng, đồ dùng dạy học và giúp họ dạy họcdựa trên phân hóa
Thực trạng về việc thiết kế và sử dụng BGĐT trong quá trình hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi.
Tại trường mầm non Đống Đa, có tới hơn 80% số GV trong trường đều đãtừng sử dụng hoặc nhìn thấy đồng đồng nghiệp sử dụng BGĐT để dạy học BTSLcho trẻ Số lần sử dụng ít nhất là 01 lần, nhiều nhất là 10 lần
Bảng 2: Phần mềm hỗ trợ GV thiết kế và giảng dạy BGĐT
Những khó khăn mà GV thường gặp trong việc sử dụng PM để thiết kế và sử dụng BGĐT.
20
Trang 30Bảng 3: Những khó khăn mà GV gặp phải trong quá trình thiết kế BGĐT.
Không tìm được nguồn tư liệu
Qua khảo sát cho thấy, khó khăn mà GV gặp phải trong quá trình thiết kếBGĐT tập trung chủ yếu ở khả năng sử dụng các PM còn hạn chế (30.91%), số nàytập trung chủ yếu ở các GV lớn tuổi, GV ít tiếp xúc với CNTT, mới ra trường,…Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất mà các GV gặp phải đó là mất nhiều thời gian để thựchiện (40%) Lý giải cho điều này là do phần lớn khi thiết kế BGĐT, các GV đềuthiết kế một cách tự do, không theo quy trình nào cả (chiếm 65.45%)
18.18% GV gặp khó khăn trong việc tìm nguồn tư liệu đưa vào bài giảng.Số
GV này tập trung chủ yếu ở các GV trẻ mới ra trường, họ chưa có kinh nghiệm thiết
kế cũng như tiếp xúc nhiều với BGĐT 10.19% số lượng GV được khảo sát cảmthấy khó khăn là do không có ý tưởng thiết kế nên vẫn thường sử dụng nhữngBGĐT có sẵn của đồng nghiệp hoặc tải trên mạng internet xuống
Bảng 4: Những vướng mắc của GV trong khi sử dụng các
21
Trang 31(25.45%); Tạo hiệu ứng chuyển động cho đối tượng (50.91%); Tạo liên kết(38.18%); Chỉnh sửa nội dung, cắt ghép (ảnh, âm thanh, video,…) (20%) Một số
GV chia sẻ rằng họ chưa biết cắt, ghép ảnh động, chưa biết lấy chi tiết chính củabức hình (chẳng hạn chỉ lấy con ong và bỏ đi bông hoa, bỏ đi nền) hay chưa biết tạo
ra một video theo ý muốn,…
Tần suất và thời gian GV sử dụng BGĐT trong quá trình dạy học cho trẻ.
Bảng 6: Thời gian sử dụng BGĐT trong quá trình dạy học cho trẻ.
số GV vẫn còn quá “lan man” khi sử dụng trên nửa tiết học để trình chiếu tuy nhiên
tỉ lệ này chiếm không nhiều
22
Trang 32 Về điều kiện cần để tổ chức dạy học sử dụng BGĐT đạt hiệu quả.
Dựa vào kết quả điều tra cho thấy, số đông GV cho rằng để sử dụng BGĐTtrong quá trình dạy học cho trẻ đạt hiệu quả cao thì cần có điều kiện: Phải có nhiềuthiết bị hiện đại; GV phải nhiệt tình, chịu khó học hỏi, trau dồi thêm kiến thức và kĩnăng tin học; BGH nhà trường tạo điều kiện và ủng hộ và đây là những điều kiệnkhông thể thiếu đối với họ, đều chiếm trên 60%
1.2.2 Thực trạng mức độ hình thành biểu tượng số lượng của trẻ5-6 tuổi
1.2.2.1 Mục đích đánh giá
Đánh giá mức độ hình thành BTSL của trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non, lấy
đó làm cơ sở cho việc thiết kế BGĐT nhằm giúp trẻ hình thành BTSL
1.2.2.2 Đối tượng đánh giá
Khảo sát 60 trẻ 5-6 tuổi tại lớp MGL số 2, trường mầm non Đống Đa, Q.Đống Đa, TP Hà Nội
1.2.2.3 Nội dung đánh giá
Đánh giá mức độ hình thành BTSL bao gồm:
- Dạy trẻ đếm trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng Nhận biết các chữ số,
số lượng và số thứ tự trong phạm vi 10
- So sánh số lượng các nhóm đối tượng trong phạm vi 10
- Biết thêm, bớt trong phạm vị 10 nhằm biến đổi số lượng Hiểu được mốiquan hệ số lượng trong phạm vị 10
- Biết tách một nhóm đối tượng ra làm hai nhóm nhỏ theo nhiều cách khácnhau và xếp thứ tự trong phạm vi các số đã học
1.2.2.4 Các tiêu chí đánh giá và thang đánh giá
Tiêu chí đánh giá
- Tiêu chí 1: Đếm, xác định số lượng trong phạm vi các số đã học, khái quát sốlượng các nhóm đối tượng bằng thẻ số (5 điểm)
- Tiêu chí 2: So sánh số lượng các nhóm đối tượng (5 điểm)
- Tiêu chí 3: Thêm, bớt trong phạm vị số đã biết (5 điểm)
23
Trang 33- Tiêu chí 4: Chia số lượng một nhóm đối tượng thành 2 nhóm theo các cáchkhác nhau và khái quát kết quả chia bằng con số (5 điểm).
Thang đánh giá:
Dựa vào các tiêu chí ở trên, chúng tôi xây dựng nội dung bài khảo sátnhằm đánh giá mức độ hình thành BTSL của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi bằng hệ thốngbài tập bao gồm: 4 bài tập theo 4 tiêu chí, mỗi bài tập gồm những bài tập nhỏ, mỗibài tập nhỏ được 1 điểm (hệ thống bài tập ở phụ lục) Tổng điểm tối đa cho tất cảcác bài khảo sát là 20 điểm Dựa trên kết quả thực hiện bài khảo sát của từng trẻ,chúng chúng tôi phân loại mức độ hình thành BTSL của trẻ Cụ thể:
GV về mức độ hình thành BTSL của trẻ; cuối cùng chúng tôi kiểm tra đánh giá mức độhình thành BTSL của trẻ bằng nội dung bài khảo sát
Nội dung bài khảo sát (phụ lục 2) là những kiến thức, kỹ năng mà trẻ đãđược học từ đầu năm đến thời điểm tiến hành thực nghiệm điều tra
Hình thức kiểm tra là trẻ độc lập giải quyết các bài tập trong một khoảng thờigian quy định Kết quả thực hiện bài tập sẽ được thể hiện qua sản phẩm, lời nói,hành động của trẻ và được đánh giá bằng cách cho điểm theo thang đánh giá đã xâydựng ở trên
Trang 3460 6 10 32 53.33 15 25 7 11.67
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy mức độ hình thành BTSL của trẻ lớp MGL
Số 2 trường mầm non Đống Đa, Q Đống Đa, TP Hà Nội khá tốt Mức độ giỏi tuychỉ đạt 10% nhưng mức độ khá chiếm hơn nửa số trẻ trong lớp với 53.33% sau đó làmức độ trung bình chiếm 25% và mức độ yếu chiếm 11.67%
Qua quan sát trực tiếp một số hoạt động trên tiết học hình thành biểu tượng
số lượng cho trẻ, chúng tôi nhận thấy GV có đầu tư về thời gian, công sức để soạntiết dạy và làm đồ dùng dạy học nhưng chưa thực sự phong phú GV không ứngdụng CNTT nhiều trong tiết dạy, cụ thể như: ít sử dụng bài giảng điện tử; mở đầugây hứng thú chỉ có tiếng của cô hoặc trẻ hát chứ không có nhạc đệm, âm thanh hayhình ảnh minh họa đi kèm,… Các con số, lô tô được sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lầnkhông có sự thay đổi khiến trẻ cảm thấy nhàm chán, thiếu tập trung
Thực tế điều tra cho thấy, đa số trẻ thực hiện các bài tập ở nội dung hìnhthành BTSL chưa thực sự đồng đều Trẻ thực hiện các bài tập đếm, nhận biết số, sosánh số lượng các nhóm đối tượng thường nhanh và đúng hơn các bài tập thêm, bớtnhằm biến đổi số lượng và bài tập chia một nhóm đối tượng thành 2 nhóm nhỏ theocác cách khác nhau
Qua việc phân tích kết quả khảo sát mức độ hình thành BTSL của trẻ 5-6tuổi, chúng tôi rút ra nhận xét sau:
- Mức độ hình thành BTSL của trẻ 5-6 tuổi tại địa bàn khảo sát khá tốt.Tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch khá rõ nét giữa các trẻ
- Mức độ tập đếm, nhận biết số lượng trong phạm vi 9, nhận biết cácnhóm có số lượng trong phạm vi 9, sắp xếp tương ứng 1:1 khá tốt
- Mức độ thực hiện bài tập biến đổi số lượng và mối quan hệ số lượngđơn giản, bài tập chia một nhóm đối tượng thành 2 nhóm nhỏ theo các cáchkhác nhau của trẻ chỉ đạt ở mức trung bình
Như vậy, nhìn chung mức độ hình thành BTSL của trẻ 5-6 tuổi tại lớp MGL
Số 2 trường mầm non Đống Đa đã đạt yêu cầu so với nội dung chương trình cũngnhư so với lứa tuổi Tuy nhiên, GV cũng cần phải có những biện pháp để nâng cao
25
Trang 35hơn khả năng nhận thức của trẻ, giúp trẻ cải thiện quá trình hình thành BTSL vàgiúp trẻ có thể đáp ứng được nhiệm vụ học tập khi vào lớp 1.
- Thực tế việc thiết kế và sử dụng BGĐT trong quá trình dạy học cho lứa tuổimầm non đã phổ biến trên diện rộng.Tuy nhiên, việc triển khai sử dụng thườngxuyên ở các trường còn hạn chế GV nhận thức được vai trò và tác dụng của BGĐTnhưng do khả năng tin học còn chưa cao, ít được tiếp cận với các PM mới, trangthiết bị hiện đại hay tâm lý còn e ngại nên dẫn đến việc sử dụng CNTT còn chưa đạtđược hiệu quả như mong muốn
- Theo kết quả khảo sát, mức độ hình thành BTSL của trẻ còn chưa cao và có
sự chênh lệch rõ nét giữa các trẻ Trẻ chưa lĩnh hội đầy đủ các kiến thức, kĩ năngtrong nội dung hình thành BTSL Nhiều trẻ thực hiện các bài tập đếm, nhận biết sốlượng trong phạm vi 10; so sánh số lượng trong phạm vi 10 tốt hơn các bài tậpthêm, bớt; tách 1 nhóm đối tượng thành 2 nhóm nhỏ theo nhiều cách khác nhau
- Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm hình thành BTSL của trẻ mẫu giáo 5-6tuổi và xuất phát từ thực tế khi xây dựng đề tài “Thiết kế BGĐT bằng một số phầnmềm nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi”, chúng tôi mong muốn mở rộng hơnviệc sử dụng BGĐT ở trường mầm non nhằm giúp GV dễ dàng thực hiện được nộidung giáo dục trong quá trình giảng dạy và trẻ thu được kết quả giáo dục cao
26
Trang 36CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ BẰNG MỘT SỐ
PHẦN MỀM NHẰM HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG SỐ LƯỢNG
2.1.2 Việc thiết kế bài giảng điện tử phải đảm bảo tính chính xác của nội dunghình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi
Nội dung kiến thức trong BGĐT cần phải được GV đưa cần đúng theochương trình chuẩn đưa ra Nội dung bài giảng đảm bảo tính chính xác, khoa học,phù hợp với đặc trưng của phương pháp dạy hình thành BTSL ở trẻ 5-6 tuổi
Nội dung trong bài giảng cần thể hiện nổi bật được bài học; khơi gợi đượctính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ trong nhận thức, luyện tập
2.1.3 Việc thiết kế bài giảng điện tửhình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi phải đảm bảo tính trực quan
Ở trẻ nhỏ, các hình thức tư duy trực quan- hành động và trực quan- hìnhtượng đóng vai trò chủ yếu Do vậy những kiến thức mà trẻ nắm được phần lớn ởmức độ biểu tượng Những biểu tượng này là sản phẩm của quá trình trẻ tri giáctrực tiếp những sự vật và hiện tượng diễn ra trong cuộc sống xã hội và thiên nhiên,qua việc trẻ quan sát các hoạt động của cuộc sống.Việc sử dụng các thiết bị trựcquan đa dạng trong dạy học tạo điều kiện để hình thành ở trẻ nhỏ những biểu tượng
27
Trang 37cụ thể, đầy đủ về dấu hiệu và góp phần cụ thể hóa chính xác hóa những kiến thức
mà đã có từ trước
Nguyên tắc trực quan là nguyên tắc rất cần thiết khi thiết kế BGĐT bởi tất cảnội dung hoạt động, quá trình tổ chức các hoạt động của GV trong quá trình cho trẻ5-6 tuổi hình thành BTSL đều thể hiện trên các slide.Do vậy các tư liệu trực quantrong bài giảng cần phải cụ thể hóa được các kiến thức cơ bản, đơn giản hóa cáckiến thức phức tạp và gây được sự chú ý, kích thích, hứng thú tìm tòi phát hiện trithức mới ở trẻ Từ đó, trẻ có thể dễ dàng tiếp thu và sử dụng chúng vào các hoạtđộng vừa sức cũng như các quá trình nhận biết tiếp theo của trẻ
2.1.4 Việc thiết kế bài giảng điện tửhình thành biểu tượng số lượng cho trẻ 5-6 tuổi cần đảm bảo tính sư phạm
Nội dung dạy học được thể hiện trong BGĐT cho trẻ 5-6 tuổi hình thànhBTSL cần phải được bố cục rõ ràng, cấu trúc hợp lý, đầy đủ, phù hợp với nội dungtrong chương trình Nội dung kiến thức phải phù hợp với trình độ nhận thức của trẻ
và thuận lợi cho GV trong quá trình tổ chức các hoạt động trên lớp Các câu hỏiphải phù hợp với trẻ, không quá khó hoặc quá dễ, chú ý đến các câu hỏi mở để kíchthích được sự quan sát tìm tòi của trẻ Sau mỗi câu trả lời của trẻ, GV cần có sựtổng kết và đưa ra đáp án cho trẻ Bố cục hình ảnh, các file ảnh động, file phim kếthợp với các câu hỏi mà GV đưa ra phải theo một trình tự hợp lý để khi trẻ xem xong
có thể nhận ra được kiến thức, nội dung mà GV muốn đề cập tới Có như vậy mớikích thích được sự hứng thú học tập của trẻ cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho
GV trong việc tổ chức các hoạt động học
2.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử
Để thiết kế BGĐT bằng một số PM nhằm hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi,chúng tôi thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Bước 2: Xác định nội dung bài học
Bước 3: Xây dựng kịch bản học
Bước 4: Chuẩn bị tư liệu (âm thanh, hình ảnh, đoạn phim,…)
Bước 5: Lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản
28
Trang 38Bước 6: Thử nghiệm, chỉnh sửa và hoàn thiện.
Các bước thiết kế BGĐT bằng các PM được cụ thể hóa bằng sơ đồ sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Bước 2: Xác định nội dung bài học
Chèn đối tượng
Chỉnh sửa kích thước, sắp xếp đối tượng
Tạo hiệu ứng, liên kết
Bước 6: Thử nghiệm chỉnh sửa và hoàn thiện
Chỉnh sửa hình ảnh
bằng PM GIMP
Tạo đoạn phim bởi
PM MovieMaker
Bước 5: Tiến hành thiết kế
Sơ đồ 4: Tiến trình thiết kế BGĐT bằng một số phần mềm.
29
Trang 39Trong quá trình cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi hình thành BTSL, mục tiêu GVcần hướng tới là củng cố và làm sâu sắc hơn nữa những kiến thức, kĩ năng mà trẻ đãđược học ở các lớp trước nhằm thúc đẩy sự phát triển và tư duy toán học cho trẻ.Bên cạnh đó, GV cần tiếp tục phát triển biểu tượng tập hợp, các phép đếm, thêm bớt
số lượng được sắp xếp theo các cách khác nhau trong không gian
Bước 2: Xác định nội dung bài học.
Nội dung hình thành BTSL cho trẻ 5-6 tuổi gồm 4 nội dung chính, GV cầnxác định số tiết của mỗi nội dung, xác định chức năng, mục tiêu của từng nội dung
từ đó đưa ra kế hoạch, phương pháp giáo dục phù hợp với lứa tuổi trẻ nhằm hìnhthành BTSL của trẻ một cách hiệu quả nhất
Bước 3: Xây dựng kịch bản học.
GV cần phải chi tiết hóa cấu trúc của kịch bản, bao gồm các việc sau: xácđịnh các bước của quá trình dạy học; xác định quá trình tương tác giữa cô, trẻ vàcác đối tượng khác (phim, ảnh, văn bản)- hoạt động của cô, trẻ và các công cụ hỗtrợ; xác định các câu hỏi, tương tác trong hoạt động; hình dung thành tiến trình dạyhọc
Bước 4: Chuẩn bị tư liệu.
Để thiết kế được BGĐT thì chuẩn bị tư liệu là bước không thể thiếu và đóngvai trò quan trọng vì đó là đối tượng mà trẻ tri giác trực tiếp, tiếp xúc khi tham giavào hoạt động hình thành BTSL Tư liệu để thiết kế một BGĐT cần phong phú, đadạng có thể là: hình ảnh về đối tượng bất kì (đồ vật có xung quanh, gần gũi với trẻ),ảnh động, âm thanh, video…
GV có thể tìm kiếm nguồn tư liệu trên mạng Internet, chụp ảnh hoặc saochép ở những câu chuyện, báo, bìa, sách giáo khoa Tuy nhiên những hình ảnh này
có thể không được đẹp, có nhiều chi tiết thừa hoặc kích thước quá lớn, chính vì vậy
GV nên dùng PM GIMP để chỉnh sửa trước khi đem vào sử dụng
Để làm cho BGĐT trở nên hấp dẫn trẻ hơn, GV nên chèn thêm một số đoạnphim nhưng không phải lúc nào GV cũng có thể tìm được đoạn phim ưng ý trênmạng Internet Chính vì thế, GV nên tự tạo riêng một số đoạn phim cho riêng mìnhbằng cách sử dụng PM MovieMaker
Bước 5: Tiến hành thiết kế BGĐT.
30
Trang 40Trước khi tiến hành tạo nội dung chính của BGĐT chạy trên PMPowerPoint, GV cần chỉnh sửa qua các hình ảnh bằng PM GIMP và tự tạo đoạnphim bằn PM MovieMaker.
Chỉnh sửa, tạo ảnh động bằng GIMP:
- Chỉnh sửa ảnh: Mở hình ảnh cần chỉnh sửa bằng cách nhấp chuộtvào
File/Open Image/<ảnh cần chỉnh sửa>/Open Lúc này bức ảnh hiện ra, GV có thể
sử dụng những chức năng chỉnh sửa ảnh hiện sẵn ở trong thanh công cụ Toolbox
phía bên trái màn hình để tùy ý sửa ảnh theo ý muốn VD: chức năng Cut Image (cắt ảnh, biểu tượng hình cái kéo); chức năng Fuzzy (tạo viền ảnh, biểu tượng hình cái đũa); chức năng Blur (làm mờ ảnh, biểu tượng hình giọt nước);…
- Tạo ảnh động: Nhấp chuột vào File/ Open as Layers/ <chọn các ảnh dùng
làm ảnh động>/ Open Các hình ảnh hiện ra, GV sắp xếp chúng theo đúng như trình
tự mong muốn bằng cách di chuột về phía bảng Layer phía dưới thanh công cụ
Toolbox Sau đó lưu hình ảnh lại bằng cách nhấp chuột vào File/ Save As…/<đặt tên cho ảnh>/ Select File Type/ GiF image/ Save.
Tạo đoạn phim bằng PM MovieMaker.
Đầu tiên, GV chọn Add Videos and Photos(hiển thị trên thanh công
cụ)/<chọn các ảnh cần ghép vào nhạc để làm phim>/ Open Tiếp theo, GV chọnnhạc, âm thanh mà mình muốn làm nhạc nền cho đoạn phim bằng cách nhấp chuột
vào AddMusic (hiển thị trên thanh công cụ)/<chọn file nhạc>/ Open.Sau đó, GV có
31