1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỌC PHẦN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (SHTT

27 499 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 275,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này bao gồm việc duy trì giá bán lại, nếu một nhà cung cấp và nhà phân phối thoả thuận rằng nhà phân phối sẽ bán sản phẩm của nhà cung cấp với một mức giá nhất định bằng hoặc trên/d

Trang 1

HỌC PHẦN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ

TUỆ (SHTT)

Mục lục

Giới thiệu 2

Chương 1 3

Tổng quan về chính sách cạnh tranh và quyền SHTT 3

1.1 Chính sách cạnh tranh 3

1.2 Quyền SHTT 5

1.3 Cạnh tranh và quyền SHTT tại Việt Nam 7

Chương 2 12

Những quan ngại về cạnh tranh từ cơ chế quyền SHTT 12

2.1 Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến cấp giấy phép 12

2.2 Lạm dụng vị trí thống lĩnh có được nhờ quyền SHTT 15

2.3 Những vụ sáp nhập và mua lại liên quan đến quyền SHTT 16

2.4 Một số ví dụ của hành vi phản cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT 16

2.5 Quyền SHTT và luật cạnh tranh: Đối lập hay bổ sung 21

Chương 3 23

Giải quyết các quan ngại liên quan đến quyền SHTT 23

3.1 Cấp phép bắt buộc 23

3.2 Nhập khẩu song song 25

Tài liệu tham khảo .27

Trang 2

2

Giới thiệu

Chính sách cạnh tranh là để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong nền kinh tế Điều đó có nghĩa là

nó cho phép sử dụng các biện pháp và hành vi can thiệp nhằm đảm bảo rằng quá trình kinh tế không bị độc quyền bởi những thành tố nhất định mà trái lại khuyến khích các công ty tham gia thị trường và cạnh tranh với các công ty đã có mặt ở đó trên cơ sở công bằng Trái lại quyền SHTT (IPR) cho phép người nắm giữ được độc quyền từ đó tạo ra hiện tượng độc quyền đối với sản phẩm hay dịch vụ được bảo hộ Về mặt này, nếu chỉ nhìn bề ngoài, chính sách cạnh tranh và quyền SHTT có vẻ như có những mục tiêu đối lập

Do đó một số vấn đề cần phải được giải quyết Một vấn đề là liệu chính sách cạnh tranh và các mục tiêu quyền SHTT có thực sự mâu thuẫn hay chúng cũng có thể bổ sung cho nhau Vấn đề khác là làm thế nào mà những người nắm giữ quyền SHTT vẫn có thể có quyền lợi độc quyền trong những hạn chế của luật cạnh tranh, vì rằng chúng gần như là doanh nghiệp độc quyền Cũng tương tự, một điều cần quan tâm là liệu có biện pháp nào mà chính phủ và các cơ quan cạnh tranh có thể sử dụng để đảm bảo tồn tại những cơ chế cho phép những người nắm giữ quyền SHTT có quyền lợi độc quyền mà không bằng việc lạm dụng

Hợp phần này sẽ đề cập đến những vấn đề về mối quan hệ giữa cạnh tranh và quyền SHTT Hợp phần này sẽ chỉ đề cập ngắn gọn đến những vấn đề chung về hai nội dung này làm nền tảng từ đó thảo luận về các vấn đề về mối quan hệ giữa chúng mà không định đề cập đến những vấn đề về chính sách cạnh tranh và quyền SHTT Do đó, hợp phần này chủ yếu dựa trên giả định rằng người đọc đã có hiểu biết về hai vấn đề này nếu không người đọc có thể tham khảo danh sách tài liệu tham khảo trong mục 5 để biết thêm chi tiết Chương 1 sẽ đề cập đến những vấn đề chung về chính sách cạnh tranh và quyền SHTT, cũng như nội dung ngắn gọn về thực trạng cạnh tranh và quyền SHTT tại Việt Nam Chương 2 đề cập đến những quan ngại thông thường về cạnh tranh cùng với cơ chế quyền SHTT, và một số ví dụ để minh hoạ cách giải quyết những lo ngại này Chương 3 đề cập đến hai phương thức xử lý chung đối với việc kiểm soát lạm dụng độc quyền

do quyền SHTT là cấp giấy phép bắt buộc và nhập khẩu song song Kết thúc hợp phần là một số sách tham khảo

Trang 3

Các quy định liên quan chủ yếu đến việc gia nhập thị trường và thành lập doanh nghiệp trong nước, là một phần của cơ chế chính sách công nghiệp, cũng góp phần quan trọng thúc đẩy cạnh tranh Một chính sách cạnh tranh hiệu quả tạo điều kiện dỡ bỏ những trở ngại và khuyến khích những dòng chảy đầu tư bằng cách tạo ra một môi trường pháp luật và quy định có thể dự đoán

được làm giảm quy mô quyết định mang tính chuyên quyền, từ đó đưa tính minh bạch vào hệ thống

Các sáng kiến tư nhân hoá cũng là một phần của chính sách cạnh tranh vì chúng quyết định bản chất của cạnh tranh trên thị trường Sự tham gia trực tiếp của chính phủ vào quá trình sản xuất và phân phối của nền kinh tế thường làm mất tính chất trung lập trong cạnh tranh, vì sự hỗ trợ của chính phủ đối với các công ty của mình sẽ không giống như đối với các công ty tư nhân Tương

tự, các cải cách tư nhân hoá có thể chỉ đơn giản là chuyển giao độc quyền từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân và nếu không được chú trọng thậm chí có thể gây ra các tác hại nghiêm trọng lên cạnh tranh của nền kinh tế

Chính sách cạnh tranh thường bao gồm các quy định riêng của ngành Thông qua vai trò điều tiết, hành động và kiến nghị của các cơ quan pháp lý có ảnh hưởng trực tiếp đến cạnh tranh, vì các quan này sẽ quyết định điều kiện gia nhập (thông qua việc cấp giấy phép) và sự tồn tại (thông qua quy định về thuế) Một số cơ quan, đặc biệt là những cơ quan được thành lập trước khi có sự ra đời của cơ quan cạnh tranh cũng tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến cạnh tranh Do đó, hướng tiếp cận các cải cách pháp lý của một nước thông qua các chính sách của nó

sẽ quyết định bản chất chủ yếu của cạnh tranh của một nền kinh tế

1.1.1 Luật Cạnh tranh

Luật cạnh tranh, một thành phần khác của chính sách cạnh tranh, cần phải được đặc biệt chú trọng Luật này thường bao gồm các điều khoản tập trung vào 3 vấn đề: điều tiết các hành vi hợp

Trang 4

4

nhất và sáp nhập phản cạnh tranh, cấm việc lạm dụng vị trí độc quyền và cấm hành vi phản cạnh tranh giữa các công ty Ở một số quốc gia khác, luật cạnh tranh cũng gồm việc kiểm soát hành vi thương mại không công bằng

Các doanh nghiệp có thể sử dụng hợp nhất và sáp nhập như là một công cụ thực hiện các hành vi phản cạnh tranh, đặc biệt là nếu nhờ sáp nhập các công ty có thể có được quyền lực thị trường Luật cạnh tranh là để xác định xem liệu hợp nhất và sáp nhập có khả năng làm giảm đáng kể cạnh tranh trên thị trường Nếu khả năng đó là có thì sáp nhập sẽ bị cấm, hoặc được chấp nhận nếu sự sáp nhập này mang lại lợi ích nhất định cho công chúng và đảm bảo thiệt hại ở mức thấp nhất

Các hành vi hạn chế thương mại (RBPs) gồm có hai loại - thoả thuận phản cạnh tranh và lạm dụng vị trí độc quyền Các thoả thuận phản cạnh tranh có thể được phân thành thoả thuận theo chiều ngang và theo chiều dọc; cũng tương tự hành vi lạm dụng vị trí độc quyền có thể được phân loại thành lạm dụng bóc lột và lạm dụng loại trừ Có trường hợp một phân tích chi phí-lợi ích phải được tiến hành trước khi hành vi RBPs bị cấm; trong các trường hợp khác, chỉ cần sự tồn tại của hành vi là đủ để khẳng định sự trái pháp luật

Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang hoặc cácten từ trước đến nay vẫn được coi

là có khả năng gây hậu quả nghiêm trọng nhất trong tất cả các hành vi phản cạnh tranh và hay bị phạt nhất Cácten là các thoả thuận giữa các công ty sản xuất và bán cùng một loại sản phẩm với mục đích thu được và chia sẻ lợi nhuận độc quyền Các cách thức thường thấy là thống nhất một mức giá tiêu chuẩn tương đối cao trên một sản phẩm và các doanh nghiệp thành viên sẽ không

được bán thấp hơn mức đó (ví dụ như cácten cố định giá), phân chia thị trường theo lãnh thổ địa

lý hoặc phân khúc người tiêu dùng và trao cho nhau quyền hạn độc quyền tại các địa phương/phân đoạn thị trường riêng lẻ (ví dụ cácten phân bổ thị trường hoặc chia sẻ khách hàng),

đồng ý hạn chế số lượng đầu ra (cácten hạn chế số lượng đầu ra) hoặc cấu kết trong việc bỏ thầu

(thông đồng đấu thầu)

Các thoả thuận theo chiều dọc là muốn nói đến những thoả thuận giữa các doanh nghiệp đều có mối quan hệ nhà cung cấp-khách hàng, ví dụ như giữa một nhà sản xuất và người bán buôn, hoặc một người bán buôn và người bán lẻ Những thoả thuận như vậy là phản cạnh tranh1 nếu chúng dẫn tới việc ngăn cản sự gia nhập thị trường, đặc biệt khi các công ty khác có nhu cầu tương tự

về dịch vụ không còn có thể tiếp cận với sản phẩm bởi vì đối thủ cạnh tranh đã thoả thuận với nhà cung cấp và được quyền chọn đầu tiên Điều này bao gồm việc duy trì giá bán lại, (nếu một nhà cung cấp và nhà phân phối thoả thuận rằng nhà phân phối sẽ bán sản phẩm của nhà cung cấp với một mức giá nhất định bằng hoặc trên/dưới mức giá sàn/trần), độc quyền kinh doanh (nếu một nhà bán lẻ hoặc nhà bán buôn bị “buộc” phải mua từ một nhà cung cấp) và hành vi bán kèm

1 Thoả thuận theo chiều dọc nói chung không phải là phản cạnh tranh nếu chúng có thể không ảnh hưởng đến hoặc

có ảnh hưởng mang tính tích cực đến cạnh tranh Do đó, cần phải phân biệt rõ giữa những thoả thuận bị phạt theo luật cạnh tranh như đã xem xét ở phần này với các thoả thuận có thể không bị cấm theo luật cạnh tranh

Trang 5

5

(nếu các doanh nghiệp ở khâu sau buộc phải đồng ý mua một sản phẩm nhất định để được phép mua một sản phẩm không liên quan)

Lạm dụng vị trí độc quyền tồn tại nếu một doanh nghiệp giữ vị trí độc quyền thực hiện các hành

vi với mục đích làm giảm hoặc chặn đứng cạnh tranh trên thị trường Một doanh nghiệp có vị trí

độc quyền nếu nó ở vị trí có thể kiểm soát các kết quả của thị trường đối với một hàng hoá hoặc

dịch vụ cụ thể, thông qua hành vi cá nhân Vấn đề chính không phải là độc quyền, bởi vì đây có thể chỉ là kết quả của việc có được lợi thế trong kinh doanh, nhưng nếu vị trí độc quyền đó bị lạm dụng sẽ ảnh hưởng xấu đến cạnh tranh trên thị trường Điều này bao gồm hành vi bóc lột (những hành vi mà một doanh nghiệp ở một vị trí độc quyền tham gia vào các hành vi với mục

đích thu được lợi nhuận bằng cách lợi dụng khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh) và hành vi loại

trừ (với mục đích đàn áp cạnh tranh hoặc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường)

1.2 Quyền SHTT

Nói chung SHTT là muốn nói đến những sản phẩm về trí óc, sự sáng tạo và những nỗ lực mang tính trí tuệ Quyền SHTT (IPR) là những quyền mà những người tạo ra và sở hữu tài sản trí tuệ

được hưởng, ví dụ tài sản là những tác phẩm do sự sáng tạo trí tuệ của con người trong lĩnh vực

công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật Những người sở hữu có quyền không cho người khác được tiếp cận hoặc sử dụng tác phẩm trong một khoảng thời gian nhất định Những người

sở hữu IPR cũng có quyền cấp phép cho người khác được sử dụng những cải biến này nếu bản thân họ không có khả năng khai thác về mặt thương mại trên quy mô lớn Luật cũng quy định các biện pháp chế tài trong những trường hợp quyền của người sở hữu bị vi phạm

Nhìn chung, quyền SHTT là cách khuyến khích những đổi mới cũng như đảm bảo rằng những người mang lại những đổi mới sẽ được bù đắp những chi phí nghiên cứu và phát triển phát sinh trong việc phát triển sản phẩm mới mà không bị sao chép bởi “những kẻ ăn theo” Điều này bắt nguồn từ việc nhận thức rằng những người đổi mới sẽ không có động lực để bỏ ra những nguồn lực để phát triển những ý tưởng mới nếu các đối thủ cạnh tranh khác có thể dễ dàng sao chép những tác phẩm của họ mà lại không phải bỏ ra chi phí tương tự

• Quyền tác giả

Quyền tác giả sẽ cho người nắm giữ được độc quyền thực hiện hoặc uỷ quyền cho người khác thực hiện những hoạt động nhất định trong các lĩnh vực như các tác phẩm văn học, nhạc kịch và nghệ thuật, phim điện ảnh, thu âm Thời gian quyền tác giả được bảo hộ là suốt cuộc đời và 60 năm sau khi người đó qua đời Người sở hữu bản quyền được độc quyền sao chép tác phẩm và đưa ra công chúng cũng như quyền tái sản xuất, dịch, thay đổi

và biểu diễn trước công chúng Tuy nhiên, chủ sở hữu có thể chỉ định hoặc cấp giấy phép toàn bộ hoặc một phần cho người khác

• Bằng sáng chế

Trang 6

6

Trường hợp này muốn nói đến quyền lợi độc quyền đối với một phát minh, đó có thể là một sản phẩm hoặc một quy trình cho phép hướng tiếp cận mới khi làm một việc gì đó, hoặc một phương án giải quyết vấn đề về mặt kỹ thuật Sáng chế được bảo hộ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 20 năm kể từ ngày nộp hồ sơ cấp bằng sáng chế Một

số quốc gia cho phép kéo dài thời gian này trong một số trường hợp ngoại lệ (ví dụ các sản phẩm thuốc nông dược mà chỉ được cho phép đưa ra thị trường sau một quy trình mất rất nhiều thời gian) Tuy nhiên, bằng sáng chế không được cấp cho những phát minh phù phiếm, tức là những thứ đã rõ ràng hoặc trái với luật tự nhiên/quốc tế đã có từ xưa hoặc trái với đạo đức; phát minh ảnh hưởng đến sức khoẻ và tài sản công cộng; hoặc chỉ là tìm ra cách sử dụng mới đối với một chất, quy trình, máy móc hoặc bộ máy đã biết nếu quy trình

đã biết đó không dẫn tới sự ra đời một sản phẩm mới

• Thương hiệu

Một thương hiệu là một biểu tượng về hình ảnh dưới hình thức một từ, một hình vẽ hay một một nhãn mác để phân biệt sản phẩm với những hàng hoá tương tự do người khác sản xuất Ví dụ như chữ “H” trong nhãn hiệu của Honda, “M” trong MacDonalds và kiểu cách

và hình dáng của chữ “Cocacola” chính là thương hiệu của hãng này Thương hiệu thường

được bảo hộ trong vòng 10 năm, mặc dù chúng có thể được gia hạn sau khi nộp phí gia hạn

với người đăng ký Việc sử dụng thương hiệu đã đăng ký mà không được sự cho phép của người sở hữu hoặc cố ý phát triển một thương hiệu tương tự là hành vi vi phạm thương hiệu

• Kiểu dáng công nghiệp

Quyền đối với kiểu dáng công nghiệp muốn nói tới việc độc quyền đối với thiết kế về hình

ảnh của sản phẩm Đây là quyền của người sở hữu đối với thiết kế công nghiệp, bao gồm

việc tạo ra một hình dạng, kết cấu hoặc bố cục hoa văn hoặc màu sắc, hoặc sự kết hợp màu sắc và hoa văn

• Chỉ dẫn địa lý

Quyền đối với chỉ dẫn địa lý là muốn nói tới một sản phẩm được hình thành ở một vùng đất hoặc một lãnh thổ nhất định của người nắm giữ, và chính nguồn gốc địa lý này góp phần quan trọng hình thành tính chất, uy tín hoặc các đặc điểm nhất định của hàng hoá Cũng giống như thương hiệu, đây là những đặc điểm nhận dạng về nguồn gốc và sự bảo đảm về chất lượng

• Bí quyết thương mại

Trang 7

7

Quyền đối với bí quyết thương mại cho người sở hữu quyền đối với một công thức, thiết kế hay tập hợp các thông tin mà đối thủ cạnh tranh hoặc người tiêu dùng sẽ không được biết

đến hoặc có thể biết chắc một cách hợp lý Do đó bí quyết thương mại gắn với những thông

tin thường không được biết đến một cách rộng rãi mang lại lợi ích kinh tế nhất định cho người sở hữu bởi vì lợi ích đó có được chủ yếu là vì thông tin đó không được biết đến Trong bối cảnh đa quốc gia, việc thoả thuận các khía cạnh thương mại của hiệp định quyền SHTT (hiệp định TRIPS), có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 và cho đến này vẫn là hiệp

định đa phương toàn diện nhất về quyền SHTT điều tiết đa dạng về quyền SHTT Mục đích của

hiệp định này là giảm những méo mó và trở ngại trong thương mại quốc tế và ủng hộ các biện pháp bảo hộ phù hợp đối với quyền SHTT Để đảm bảo điều này, hiệp định TRIPS về cơ bản là nhằm bảo hộ lợi ích của người sáng chế

1.3 Cạnh tranh và quyền SHTT tại Việt Nam

1.3.1 Luật cạnh tranh

Vào ngày 3 tháng 12 năm 2004, kỳ họp 6 Quốc hội IX đã thông qua Luật Cạnh tranh, có hiệu lực vào tháng 7 năm 2005 Luật áp dụng với tất cả các doanh nghiệp thương mại và các hiệp hội thương mại và nghề nghiệp ở Việt Nam; các doanh nghiệp và hiệp hội nước ngoài đăng ký tại Việt Nam; các doanh nghiệp phục vụ lợi ích công và các doanh nghiệp độc quyền nhà nước; và các cơ quan hành chính Nhà nước Luật này thay thế tất cả các luật khác ban hành tại Việt Nam liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi thương mại không công bằng

Hai cơ quan nhà nước được lập ra để thực thi luật là - Cục quản lý cạnh tranh (với quyền hạn

điều tra), thuộc Bộ Công thương Việt Nam và Hội đồng Cạnh tranh (với quyền hạn xét xử)

Năm hành vi phản cạnh tranh bị cấm là:

• thoả thuận hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (Điều 8)

• lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền (điều 13 & 14)

• “tập trung kinh tế” hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (Điều 18)

• hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Điều 39); và

• hành vi/quyết định phản cạnh tranh bởi các quan chức hoặc các cơ quan hành chính Nhà nước, lợi dụng quyền lực của họ (điều 120)

Các thoả thuận phản cạnh tranh bao gồm ấn định giá, chia sẻ thị trường, hạn chế sản lượng đầu

ra, hạn chế đầu tư hoặc phát triển kỹ thuật; áp đặt điều kiện hợp đồng lên các doanh nghiệp khác; hạn chế sự gia nhập thị trường; loại trừ các bên không phải là thành viên khỏi thị trường; và thông đồng đấu thầu

Trang 8

8

Luật quy định nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu các doanh nghiệp có tổng thị phần là 50% (đối với hai thực thể); 65% (đối với ba thực thể); và 75% (đối với bốn) của thị trường liên quan (Điều 11) Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên, hoặc “có khả năng hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể” Doanh nghiệp thống lĩnh thường bị cấm không tham gia các hành vi bóc lột với mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh, phân biệt đối xử giữa những quốc gia khác nhau trong giao dịch như nhau, ngăn cản sự tham gia thị trường, và tham gia vào “các hành vi khác” nhằm hạn chế cạnh tranh như được quy

định bởi luật…(Điều 13)

Một công ty có vị trí độc quyền thị trường nếu không có đối thủ cạnh tranh đối với những hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh hoanh hoặc cung cấp (Điều 12) Doanh nghiệp độc quyền bị cấm không được tiến hành các hành vi lạm dụng như quy định tại điều 13 của Luật này, cũng như áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp

đồng mà không có lý do chính đáng; từ chối giao dịch hoặc phân biệt đối xử với khách hàng mà

không có lý do chính đáng hoặc bất kỳ hành vi nào bị cấm theo pháp luật (Điều 14)

Các hoạt động tập trung kinh tế được định nghĩa là bất kỳ hành vi nào của doanh nghiệp có mục

đích kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp khác, bao gồm nhưng không giới hạn đối với

hành vi sáp nhập, mua lại và hợp nhất (Điều 16-17)

Tất cả các vụ việc tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của các doanh nghiệp liên quan chiếm trên 50% đều bị cấm trừ trường hợp, (1) doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ (khái niệm được định nghĩa trong luật) hoặc (2) Thủ tướng cho phép miễn trừ (Điều 18-19)

Liên quan đến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật cấm: chỉ dẫn gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; hành vi hối lộ, xúi giục hoặc cưỡng ép; gièm pha doanh nghiệp khác; gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử trong phạm vi hoặc bởi hiệp hội ngành và bán hàng đa cấp bất chính (Điều 39)

1.3.2 Quyền SHTT tại Việt Nam

Cơ chế bảo hộ SHTT (IP) của Việt Nam, trước năm 1995, khi đất nước Đông Nam Á này nộp

đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), chủ yếu được áp dụng dựa vào “văn bản

dưới luật” Do đó trung tâm của khung pháp lý chung là Bộ luật Dân sự 1995 (Phần VI), bên cạnh một số văn bản quy phạm pháp luật dưới luậtkhác ví dụ như, Sắc lệnh 1994 về bảo hộ bản quyền, Nghị định 63/1996/CP của Chính phủ quy định chi tiết về tài sản công nghiệp; hoặc Nghị

định 76/1996/CP hướng dẫn thực thi các điều khoản về bản quyền trong Bộ luật Dân sự 1995

Những quy định trên bảo hộ những đối tượng như sau: phát minh (trong thời hạn 15 năm), giải pháp hữu ích (6 năm), kiểu dáng công nghiệp (5 năm, được gia hạn 2 đợt, mỗi đợt 5 năm),

Trang 9

9

thương hiệu (10 năm, gia hạn liên tiếp với mỗi đợt là 10 năm), và tên gọi xuất xứ và các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học Các vi phạm về quyền SHTT chủ yếu được xử lý bởi các biện pháp hành chính Mặc dù có quyền hạn xử lý các vụ việc tranh chấp về SHTT, mức độ tham gia của toà án vào các vụ việc liên quan đến IP vẫn còn rất hạn chế bởi toà án chưa xử lý các vụ việc như vậy và các văn bản có liên quan cũng chưa phải là luật, ít nhất là cho đến khi Luật Dân

sự 1995 (Phần VI) được ban hành

So với Cam kết WTO về các khía cạnh thương mại của Quyền SHTT (từ đây gọi là “Cam kết TRIPS”) tại thời điểm đó cơ chế IP của Việt Nam chưa thể được gọi là hoàn thiện hoặc tuân thủ TRIPS Nhìn chung, cơ chế này lúc đó là chưa đầy đủ và không hiệu quả Một số đối tượng được yêu cầu bởi Cam kết TRIPS vẫn chưa được bảo hộ tại Việt Nam (ví dụ bí quyết thương mại, chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp, quyền ngăn chặn cạnh tranh) Về những đối tượng được luật bảo hộ, thậm chí có nhiều điều khoản không tuân thủ Cam kết TRIPS (ví dụ như thời hạn bảo hộ 15 năm đối với phát minh, việc thiếu cơ chế bảo hộ đối với những thương hiệu nổi tiếng…)

Bước ngoặt đầu tiên là vào năm 2000, khi Việt Nam ký hiệp định thương mại song phương (BTA) với Hoa Kỳ Hiệp định thể hiện cam kết của chính phủ Việt Nam từng bước thực thi có hiệu quả các cam kết của TRIPS trong WTO Kể từ đó, song song với đàm phán gia nhập WTO,

và quá trình này đã thành công vào năm ngoái, cơ chế IP của Việt Nam đã trải qua những chuyển biến quan trọng, đặc biệt là với sự ban hành nhiều luật mới trong lĩnh vực này Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam, tuy nhiên lại ở việc thực thi có hiệu quả những điều khoản được quy định trong luật mới, bởi vì các vấn đề liên quan đến SHTT vẫn còn khá mới đối với nền kinh tế thị trường non trẻ này Nhiều khó khăn còn ở phía trước; do đó Việt Nam cần phải có sự khoan dung hơn từ phía các thành viên khác của WTO

Năm 2005, Việt Nam đã ban hành những sửa đổi Bộ luật Dân sự và một lần nữa khẳng định những nguyên tắc dân sự cơ bản của quyền SHTT (Phần VI của Bộ luật), cũng như Luật SHTT

điều chỉnh tất cả các khía cạnh của quyền SHTT Bộ luật Dân sự mới này (từ đây gọi là Bộ luật

dân sự 2005) có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2006; và Luật SHTT mới (từ đây gọi là luật SHTT 2005) có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2006 Hai văn bản này đã hình thành một hệ thống các quy định hoàn chỉnh và thống nhất hơn về SHTT của Việt Nam, thay thế cho các luật trước đó

Tuy nhiên, luật mới vẫn dựa chủ yếu vào luật trước đó Trong trường hợp có xung đột giữa Luật SHTT 2005 và các điều khoản về SHTT của Bộ luật Dân sự 2005, luật SHTT 2005 sẽ được áp dụng (Điều 5.2 của luật) Các quyết định và nghị định khác về bản quyền, SHTT, giống cây trồng, và thực thi quyền SHTT hướng dẫn thực thi Luật SHTT 2005 cũng đã được ban hành trong tháng 9 năm 2006

Trang 10

10

Điểm nổi bật của Luật SHTT 2005 là các điều khoản mới, rõ ràng hơn về việc bảo hộ các thương

hiệu nổi tiếng, và các cơ chế thực thi mạnh mẽ hơn Đáng chú ý là, điều 75 của Luật đã đưa ra 8

tiêu chuẩn cụ thể mà một thương hiệu nổi tiếng phải đáp ứng Tiêu chuẩn này bao gồm, không kể những cái khác, số lượng các quốc gia tại đó mà thương hiệu này đăng ký, và số lượng “các

khách hàng có liên quan” biết đến sản phẩm nhờ mua hoặc sử dụng hàng hoá hay dịch vụ khi biết đến thương hiệu đó hoặc qua quảng cáo Nhận dạng và bảo hộ các thương hiệu là hết sức quan trọng tại Việt Nam bởi vì: (i) Việt Nam áp dụng nguyên tắc người đăng ký đầu tiên, (ii) thương hiệu của nhiều công ty dễ bị loại bỏ bởi không sử dụng đến, và (iii) những thương hiệu nổi tiếng thường được sao chép ở những hàng hoá và dịch vụ không tương tự

Về mặt thực thi, Luật SHTT 2005 đã có nhiều điểm tiến bộ, trong đó có một điều khoản quy định trong những trường hợp không xác định được mức độ thiệt hại gây ra bởi vi phạm (kể cả vi phạm thương hiệu, bằng sáng chế hay bản quyền), toà án đã đưa ra mức bồi thường thiệt hại từ 5.000.000VND (US$300) đến 500.000.000 (US$30.000) Điều khoản này cho phép quan toà đưa

ra mức thiệt hại nhằm hạn chế đáng kể vi phạm Trước đây, các quy định không cho phép được

đưa ra mức bồi thường thiệt hại đáng kể trong những trường hợp như vậy

Các bộ và cơ quan nhà nước chính chịu trách nhiệm tạo lập và thực thi chính sách SHTT là Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hoá và Thông tin; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ

Tư pháp; Bộ Tài chính; và Bộ Thương mại; Cục xuất nhập cảnh (trực thuộc Bộ Tài chính), Văn phòng quốc gia về SHTT (NOIP- trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ); và Cục Bản quyền (trực thuộc Bộ Văn hoá và Thông tin) Việc thực thi các luật SHTT về mặt hành chính được giao cho cơ quan hải quan, các cơ quan kiểm soát thị trường, cảnh sát kinh tế, cơ quan thanh tra Văn hoá và Thông tin, cơ quan thanh tra Khoa học và công nghệ và uỷ ban nhân dân tại cấp tỉnh và huyện

1.3.3 Điểm chung giữa quyền SHTT và Luật cạnh tranh?

Liên quan đến bảo hộ quyền SHTT, Luật cạnh tranh miễn trừ đối với các hành vi cản trở cạnh tranh, “thúc đẩy các tiến bộ khoa học và kỹ thuật, nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ”2 Các vụ việc tập trung kinh tế, nếu không bị cấm bởi luật pháp sẽ được miễn trừ nếu chúng góp phần “tiến bộ khoa học và kỹ thuật”3 Trong các trường hợp khác,luật cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền ngầm bao gồm các hành vi đó, mặc dù IPRs có được coi là một nhân tố của hành bi đó hay không

Hơn nữa, điều 5(1) của Luật cũng quy định rằng “nếu có sự không nhất quán giữa các điều khoản của Luật này và các điều khoản của các luật khác, liên quan đến các hành vi phản cạnh tranh và cạnh tranh không công bằng, các điều khoản của Luật này sẽ được áp dụng” Luật SHTT 2005 cũng củng cố điều này như sau “việc thực hiện các quyền SHTT sẽ không xâm

2 Điều 10 (1), VCL

3 Điều 19 (2), VCL

Trang 11

11

phạm lợi ích của nhà nước và của quần chúng, lợi ích và quyền lợi hợp pháp của các tổ chức và

cá nhân khác” và không vi phạm các luật và quy định có liên quan”.4

Trong khi phân loại thoả thuận cấp phép cho tài sản công nghiệp, luật SHTT 2005 công nhận các thoả thuận độc quyền.5 Tuy nhiên, luật cũng quy định rằng các thoả thuận này sẽ không được hạn chế quyền của người nhận giấy phép một cách bất hợp lý Đặc biệt, chúng sẽ không bao gồm các điều khoản hạn chế mà không xuất phát từ quyền của người cấp phép, ví dụ như sự cải thiện trong tài sản được cấp giấy phép; quyền xuất khẩu hàng hoá; điều khoản mua hàng và điều khoản ngăn chặn bên nhận công nghệ khiếu nại về giá trị pháp lý của công nghệ được chuyển giao

4 Luật quyền SHTT 2005, Điều 7(2)

5 Luật quyền SHTT 2005, Điều 143 (1)

Trang 12

12

CHƯƠNG 2

NHỮNG QUAN NGẠI VỀ CẠNH TRANH TỪ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN SHTT

Những quan ngại xuất hiện khi quyền được hưởng theo luật SHTT lại bị lợi dụng để vi phạm các

điều khoản của luật cạnh tranh Như đã được giải thích trong Chương 1, luật cạnh tranh thường điều chỉnh các hành vi có liên quan đến 3 lĩnh vực, các thoả thuận phản cạnh tranh, lạm dụng vị

trí độc quyền và các hành vi hợp nhất và sáp nhập phản cạnh tranh Những người có quyền SHTT có khả năng tham gia vào các hành vi thuộc ba lĩnh vực trên, với sức mạnh khó cưỡng của quyền lực thị trường và siêu lợi nhuận Nội dung bên dưới sẽ giải thích rõ hơn điều này

2.1 Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến cấp giấy phép

Một trong những quyền quan trọng nhất mà các cá nhân được hưởng khi nắm quyền SHTT là quyền được cấp giấy phép cho các bên khác được khai thác sáng tạo của mình nếu bản thân người đó có những hạn chế hoặc không có khả năng đáp ứng thị trường một cách đầy đủ Do đó bên nhận giấy phép phải cam kết với bên cấp giấy phép về cách thức mà mình sẽ sử dụng giấy phép Bởi những thoả thuận như vậy có thể là giữa các đối thủ cạnh tranh hoặc những người tham gia khác ở thị trường phân khúc sau, chúng có thể làm nảy sinh những quan ngại đối với những thoả thuận không liên quan đến SHTT

Những thoả thuận cấp giấy phép ảnh hưởng đến những hoạt động bổ trợ cho nhau, ví dụ như giữa những người có quyền SHTT và các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm được bảo hộ là đầu vào cho hoạt động của họ thuộc phạm vi những thoả thuận dọc như định nghĩa trong luật cạnh tranh Cũng có trường hợp hai bên là đối thủ thực tế hoặc tiềm năng trên thị trường liên quan trước khi ký thoả thuận cấp và nhận giấy phép có thể được coi là một các-ten theo luật cạnh tranh Mặc dù các thoả thuận cấp giấy phép không phải lúc nào cũng dẫn đến hệ quả phản cạnh tranh, chúng có thể là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về cạnh tranh

Những hành vi liên quan đến những thoả thuận thúc đẩy bởi quyền SHTT có thể dẫn đến những quan ngại trong cạnh tranh bao gồm:

(a) Rào cản địa lý

Hành vi này có thể xảy ra khi thoả thuận giữa người cấp và người nhận giấy phép dẫn tới việc người cấp phép dành riêng cho người nhận giấy phép một lãnh thổ nhất định-đồng nghĩa với việc cho phép marketing độc quyền Kết quả là sẽ dễ dàng xuất hiện một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trong lãnh thổ đó Rào cản địa lý có thể gây hại cho cạnh tranh bởi có thể trở thành cái cớ của một thoả thuận chia sẻ thị trường, do đó chúng sẽ khuyến khích các thoả thuận phân bổ thị trường giữa các cácten Chúng hoàn toàn có thể được sử dụng như một công cụ

Trang 13

13

trực tiếp khuyến khích sự cấu kết giữa những người cấp phép cạnh tranh, bằng cách có thể tạo

điều kiện cho vi phạm ở những khâu sau thực hiện những thoả thuận cácten

(b) Giao dịch độc quyền

Thoả thuận cấp giấy phép có thể yêu cầu người nhận giấy phép phải cam kết chỉ giao dịch độc quyền với người cấp mà không được giao dịch với các bên khác Theo các thoả thuận độc quyền như vậy, người nhận giấy phép sẽ bị cấm không được bán, phân phối hoặc sản xuất sản phẩm sử dụng những công nghệ của đối thủ cạnh tranh của người cấp giấy phép Mặc dù điều đó chưa hẳn

là vì mục đích phản cạnh tranh, đặc biệt là trong trường hợp mà mục đích là để tránh việc lợi dụng ăn theo giữa các đối thủ cạnh tranh, hoặc thúc đẩy sự phát triển của công nghệ được cấp phép bởi hai bên, những hành vi như vậy cần phải được phân tích một cách kỹ lưỡng Nếu các doanh nghiệp tham gia vào các thoả thuận giao dịch độc quyền đã nắm giữ thị phần lớn trên thị trường sản phẩm liên quan, như vậy sẽ có rủi ro là cạnh tranh có thể bị thu hẹp Mức độ thiệt hại

đến cạnh tranh cũng phụ thuộc vào sự sẵn có của các năng lực sản xuất thay thế của những nhà

cấp phép hiện tại hoặc mới

(c) Cấp phép đi kèm

Nếu một người chỉ có thể được cấp giấy phép một hoặc một số tài sản trí tuệ khi phải chấp nhận

điều kiện mua một mặt hàng SHTT hoặc một hàng hoá hoặc một dịch vụ khác (cấp phép đi kèm)

những quan ngại tương tự trong cạnh tranh về những hành vi đi kèm liên quan đến quyền SHTT

sẽ phát sinh Những rủi ro trong cạnh tranh có thể phát sinh trong các trường hợp:

• Thỏa thuận có liên quan tới hai sản phẩm hoặc dịch vụ riêng biệt có ràng buộc với nhau;

• Người cấp giấy phép có quyền lực thị trường đối với sản phẩm chính và có khả năng mở rộng quyền lực thị trường của sản phẩm được bán kèm, do điều kiện thị trường thuận lợi;

• Thỏa thuận có tác động xấu đến cạnh tranh trên thị trường liên quan đối với sản phẩm được bán kèm;

• Hiệu quả của vụ dàn xếp không lớn hơn tác động phản cạnh tranh

(d) Cấp phép ngược (Grant backs)

Cấp phép ngược là các thoả thuận nếu một trong những điều kiện cấp giấy phép công nghệ là người nhận giấy phép “chuyển giao độc quyền” quyền sử dụng các cải tiến trong quá trình sử dụng công nghệ cho bên cấp giấy phép Điều này ám chỉ rằng người cấp giấy phép có quyền sử dụng những đổi mới công nghệ của người nhận giấy phép Hành vi “cấp phép ngược” có thể là

đơn phương, tức là những đổi mới của người nhận giấy phép sẽ được sử dụng bởi người cấp giấy

phép hoặc giữa hai bên, tức là người nhận giấy phép cũng sẽ được tận dụng những sáng tạo mới của người cấp giấy phép Trong khi vẫn có những quan ngại đối với cạnh tranh liên quan đến

Ngày đăng: 07/10/2016, 20:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w