Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong quá trình tiếp cận, tìm hiểu đề tài, tôi đã tiếp xúc với một số nguồn tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu với nhiều cách đề cập ở mức độ và khía
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ths Đặng Thị Hồng Liên, người
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong Khoa Sử - Địa, Trường Đại Học Tây Bắc đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Xin bày tỏ lời cảm ơn tới bạn bè trong Khoa Sử - Địa, Trường Đại Học Tây Bắc và những người thân đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận này
Sơn La, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Hoàng Thị Thu Huyền
Trang 2BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của đề tài 4
6 Cấu trúc của đề tài 4
B NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I LIÊN MINH CHÂU ÂU EU 5
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của EU 5
1.1.1 Quá trình hình thành 5
1.1.2 Quá trình phát triển 9
1.2 Thành tựu và hạn chế 14
1.2.1 Những thành tựu cơ bản 14
1.2.2 Hạn chế 22
CHƯƠNG II TỔ CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ASEAN 27
2.1 Quá trình hình thành và phát tiển của ASEAN 27
2.1.1 Sự hình thành 27
2.1.2 Quá trình phát triển 30
2.2 Thành tựu và hạn chế 34
2.2.1.Thành tựu cơ bản 34
2.2.2 Hạn chế 40
CHƯƠNG III LIÊN MINH CHÂU ÂU EU - TỔ CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ESEAN: NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT 43
3.1 Nét tương đồng 43
Trang 43.1.1 EU và ASEAN đều là tổ chức liên kết khu vực, ra đời dưới sự tác động
của xu hướng toàn cầu hóa 43
3.1.2 EU và ASEAN là hai tổ chức liên kết ra đời sau chiến tranh thế giới thứ hai 45
3.1.3 EU và ASEAN là hai tổ chức có sự tham gia của nhiều quốc gia, dân tộc đa dạng 49
3.2 Sự khác biệt 51
3.2.1 ASEAN là tổ chức liên chính phủ còn EU là tổ chức siêu quốc gia 51
3.2.2 Xuất phát điểm của EU là kinh tế, còn ASEAN là chính trị 55
3.2.3 Khoảng cách phát triển của ASEAN lớn, EU lại tương đối đồng nhất 58
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 5A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
“Liên minh châu Âu”, “Liên hiệp châu Âu” đó là những cách gọi khác nhau của một khái niệm chung: “European Union” Trong xu hướng mang tính tất yếu khu vực hóa và toàn cầu hóa của thế giới hiện nay, sự hiện diện của một liên minh, tồn tại đầy sống động ở trung tâm châu Âu đã và đang là một điểm sáng về sự liên kết từ kinh tế đến xã hội và chính trị tới mục tiêu nhất thể hóa
châu Âu
Đến nay, sau một thời gian tồn tại và phát triển với những bước thăng trầm của nó, Liên minh đã phản ánh rõ nét những quan điểm, lợi ích kinh tế chính trị, xu hướng liên kết kinh tế, chính trị của một số nước châu Âu nói riêng
và cả thế giới hiện nay nói chung Trước ngưỡng cửa của kinh tế mới, EU đang trở thành một cực rất mạnh của nền kinh tế thế giới, thúc đẩy việc thống nhất tiền tệ để thành lập và hoàn thiện thị trường nội bộ chung, tiến tới đoàn kết toàn châu Âu.Vì vậy, nghiên cứu Liên minh châu Âu vừa có ý nghĩa lí luận vừa có
giá trị thực tiễn
Bên cạnh đó, trong bức tranh đa dạng của thế giới, sau chiến tranh lạnh, xuất hiện nhiều tổ chức hợp tác và liên kết kinh tế, khu vực thu hút sự hội nhập của nhiều quốc gia, nhiều nền kinh tế Trong đó, ngoài tổ chức thương mại thế giới (WTO ) ra đời từ GATT phải kể đến liên minh châu Âu (EU), tổ chức hợp
tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)…
Hòa vào dòng chảy chính của thế giới là toàn cầu hóa, khu vực hóa ASEAN ra đời với mục tiêu cơ bản là ổn định, an ninh và phát triển của toàn
khu vực Đông Nam Á
Từ một tổ chức liên minh kinh tế, chính trị, xã hội lỏng lẻo ASEAN đã vươn lên thành một khối khá vững chắc với nền kinh tế khá phát triển, an ninh chính trị tương đối ổn định Nghiên cứu thị trường tiềm năng rộng lớn với hơn
500 triệu dân này sẽ mở ra cơ hội mới cho hàng xuất khẩu Việt Nam Chúng ta
hi vọng vào một tương lai không xa ASEAN sẽ trở thành một thị trường thống
nhất và phát triển
Xuất phát từ sự yêu mến đất nước, văn hóa của người Phương Tây cũng như khu vực Đông Nam Á Xuất phát từ sự đam mê tìm hiểu của cá nhân, xuất
Trang 6phát từ thực tiễn và yêu cầu lịch sự, việc nghiên cứu về liên minh châu Âu (EU),
tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ASEAN không chỉ cho chúng tôi nhìn nhận một cách khách quan về sự giống và khác nhau của hai tổ chức này Mặt khác còn giúp chúng ta hình dung đầy đủ bức tranh toàn cảnh về EU và ASEAN từ khi ra đời cho tới nay, đồng thời cung cấp những hiểu biết để làm căn cứ hoạch định chính sách đối ngoại của nước ta đối với các nước trong hai tổ chức trên Đặc biệt, trong điều kiện nay, khi mà việc mở rộng quan hệ đối ngoại của nước
ta cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN) với các nước Tây
Âu đang trở nên cấp thiết
Vì những lí do đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Liên minh châu Âu EU - tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ASEAN: Những nét tương đồng và khác biệt”
làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình tiếp cận, tìm hiểu đề tài, tôi đã tiếp xúc với một số nguồn tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu với nhiều cách đề cập ở mức độ và khía cạnh khác nhau về sự hình thành, phát triển của Liên minh châu Âu (EU),
tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (ASEAN): Những điểm giống và khác nhau Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có nguồn tài liệu nào đề cập một cách đầy đủ
về vấn đề này, mà các tác giả chỉ mới đề cập trên một số lĩnh vực nhất định của
EU và ASEAN Chẳng hạn như:
Cuốn: “Liên minh châu Âu” của Đào Duy Ngọc, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995 Tác giả đã đề cập tới một số nội dung chủ yếu như lịch sử hình thành và phát triển, các thể chế của liên minh châu Âu, các
kế hoạch tổng quát và các chính sách cộng đồng của Liên minh châu Âu Tuy nhiên, cuốn sách cũng chỉ nêu một cách khái quát mà chưa đi vào phân tích một cách đầy đủ về quá trình hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu
trong giai đoạn hiện nay
Cuốn: “Những vấn đề xung quanh việc hợp nhất châu Âu” của viện thông tin khoa học biên soạn, tập hợp những bài viết phân tích về các vấn đề hình
thành, quá trình phát triển và những hạn chế, thách thức mà EU phải đối mặt
Cuốn: “ Lịch sử Đông Nam Á” của G.S Lương Ninh chủ biên cùng PGS.TS Đỗ Thanh Bình - PGS TS Trần Thị Vinh, cuốn sách này đề cập tới lịch
Trang 7sử phát triển của các quốc gia Đông Nam Á từ thời kì tiền sử, thời kì phong kiến, Đông Nam Á qua các thế kỉ để xây dựng và trải qua quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, sau đó tiến tới hợp tác, hội nhập và phát triển để hình thành nên tổ chức liên kết khu vực Cuốn sách cũng đề cập tới quá trình ra đời, thành tựu đạt được qua các giai đoạn và triển vọng phát triển của tổ chức Tuy nhiên,
chưa đi sau vào phân tích cụ thể mà chỉ dừng lại ở mực độ khái quát
Ngoài ra, vấn đề này còn được đề cập trong một số bài viết của các tạp chí như tạp chí châu Âu, tạp chí Đông Nam Á, tạp chí quan hệ quốc tế… Tuy nhiên, các tác giả chỉ mới đề cập đến những khía cạnh riêng lẻ khác nhau về sự hình thành và phát triển của EU và ASEAN, chứ chưa có cách nhìn và so sánh về sự giống và khác nhau giữa hai tổ chức này Do đó, trong quá trình nghiên cứu vấn đề này bản thân tôi một mặt dựa trên nguồn tài liệu đã được tham khảo, đồng thời khái quát, phân tích một số luận điểm mang tính chất tổng hợp toàn
bộ quá trình hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu (EU), tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ASEAN từ đó so sánh sự giống và khác nhau của hai
tổ chức này
3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Liên minh châu Âu EU, tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ASEAN: so sánh sự giống và khác nhau giữa hai tổ chức
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận có nhiệm vụ tìm hiểu một cách khái quát về quá trình hình thành, phát tiển, thành tựu – hạn chế của EU và ASEAN, từ đó đi đến so sánh hai tổ chức này
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết đề tài này, tôi sử dụng phương pháp logic và phương pháp lịch sử xem xét mỗi sự kiện lịch sử trong trạng thái phát triển và trong mối liên
Trang 8hệ với sự kiện khác theo trình tự phát triển logic của lịch sử Một mặt, sưu tầm, xử lí thông tin, nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp và so sánh một
cách có hệ thống, từ đó rút ra kết luận mang tính khái quát
5 Đóng góp của đề tài
Hoàn thành đề tài này, sẽ góp phần cung cấp cho người đọc những hiểu biết về quá trình hình thành, phát triển, thành tựu – hạn chế cũng như những điểm tương đồng và khác biệt giữa EU và ASEAN Bên cạnh đó, khóa luận này còn cung cấp thêm tư liệu tham khảo phục vụ cho quá trình học tập nghiên cứu của sinh viên về môn Lịch sử Thế giới Hiện đại Đồng thời, cũng là một tài liệu
để giúp các giáo viên phổ thông có tài liệu giảng dạy trong các bài có liên quan đến tổ chức EU và ASEAN
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung đề tài gồm có 3 chương:
Chương I Liên minh châu Âu (EU)
Chương II Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ASEAN
Chương III EU- ASEAN: Những nét tương đồng và khác biệt
Trang 9B NỘI DUNG CHƯƠNG I LIÊN MINH CHÂU ÂU EU
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của EU
1.1.1 Quá trình hình thành
Ý tưởng về một châu Âu hợp nhất có một quá trình lịch sử lâu dài Đặc biệt mơ ước về một châu Âu thống nhất trong hòa bình và hợp tác cũng xuất hiện từ rất sớm, Ngay từ thế kỷ XVIII, Montesquieu đã từng nói đến một châu
Âu như là một quốc gia bao gồm nhiều tỉnh Trong thế kỉ XIX, các nhà văn Pháp, Italia và Ba Lan đã viết về một châu Âu hợp nhất như một giải pháp để chấm dứt các cuộc chiến tranh, xung đột kéo dài giữa các quốc gia ở châu Âu, Victo Hugo
đã đề cập đến một quốc tịch châu Âu cho các công dân của lục địa này
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, sáng kiến về việc thành lập một liên minh toàn châu Âu để khẳng định sự hòa giải giữa hai quốc gia Pháp – Đức được đề xuất Năm 1923, chính trị gia người Áo Richard Coudenhove Kalergi
mở đầu phong trào thống nhất ở châu Âu Richard được công nhận là người sáng lập phong trào vận động cho một châu Âu hợp nhất trong năm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
Ngoại trưởng Gustav Stresemann đã xây dựng dự án về việc thành lập Liên hiệp châu Âu trong bối cảnh châu Âu trong thập niên 1920 đang tràn trề hi vọng vào một nền an ninh tập thể sau chiến tranh Năm 1929, Ngoại trưởng Pháp Briand đã trình bày trước Hội Quốc Liên dự án về việc thành lập liên hiệp Các quốc gia châu Âu (Federation of European Nations) trên cơ sở sự liên kết
và hợp tác các quốc gia châu Âu về kinh tế - chính trị - xã hội Các chuyên gia kinh tế, trong đó có Jonh.Keynes đã ủng hộ cho ý tưởng này Ngay trong năm sau đó, Ngoại trưởng Pháp Briand đã hoàn thành bản ghi nhớ (Menmorandum)
về việc tổ chức hệ thống Liên hiệp các tổ chức dân dộc châu Âu… Tuy nhiên, những biến động của thế giới trong những năm tiếp theo, cuộc Đại suy thoái kinh tế thế giới bủng nổ, sự nổi lên của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh đã khiến cho dự án về châu Âu thống nhất rơi vào quên lãng
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sau những hoang tàn, đổ nát và sự chia cắt Đông Tây đó làm cho châu Âu mang một diện mạo chính trị mới, từ đây ý
Trang 10tưởng hóa giải hận thù gắn kết dân tộc vì sự phục hồi và hưng thịnh của châu Âu trỗi dậy Năm 1930, Thủ tướng Anh W.Churchill trong bài viết đăng trên tạp chí Saturday Evening Pots, ngày 15 tháng 2 Churchill đã lập luận rằng việc thành lập một cộng đồng châu Âu thống nhất là điều có thể thực hiện được trên cơ sở
sự hợp tác của các quốc gia ở châu Âu lục địa Sau đó, Churchill đã soạn thảo một bản ghi nhớ về hợp chủng quốc châu Âu như một phương tiện để gìn giữ hòa bình và an ninh châu Âu Năm 1946, một lần nữa thủ tướng Anh Churchill kêu gọi việc thành lập một gia đình châu Âu thống nhất – một châu Âu hợp
chủng quốc để kiến tạo hòa bình, an ninh thịnh vượng ở châu Âu
Các nhà lãnh đạo châu Âu lúc này đã nhận thức được sự cần thiết của việc thành lập hội đồng châu Âu như một bước khởi đầu cho quá trình hợp nhất châu
Âu Năm 1948, các chính trị gia và những nhà nghiên cứu hàng đầu châu Âu đã tiến hành một cuộc hội thảo tại Hague, Hà Lan để thảo luận về việc thành lập Hội đồng châu Âu Ngày 5 tháng 5 năm 1949, Hội đồng châu Âu chính thức thành lập với sự tham gia của 10 nước châu Âu thông qua việc kí kết Hiệp ước London Mục tiêu hoạt động của Hội đồng châu Âu nhằm vào việc bảo về nền dân chủ và nhân quyền theo những gì đã được xác định trong Công ước châu
Âu Hội đồng châu Âu gồm 10 nước sáng lập: Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Ireland, Italia, Lucxembourg, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Anh Tuy những hoạt động của Hội đồng châu Âu không giống nhau nhưng các hoạt động được phối hợp với nhau nhằm mục tiêu duy trì hòa bình, dân chủ và nhân quyền ở châu Âu
Từ những ý tưởng thống nhất châu Âu đó, cộng đồng Than Thép châu Âu được ra đời đặt nền móng đầu tiên cho Liên minh châu Âu Ý tưởng thành lập cộng đồng Than Thép châu Âu gắn liền với tên tuổi của Jean Monnet (1888 - 1979) chính trị gia người Pháp, người đứng đầu hội đồng kế hoạch kinh tế Pháp sau chiến tranh thế giới thứ hai Năm 1943, Monnet đã xây dựng một kế hoạch
về tương lai của châu Âu hợp nhất sau chiến tranh Năm 1949, xuất phát từ quan điểm cho rằng mấu chốt tạo nên sự căng thẳng trong quan hệ giữa Pháp và Đức bắt đầu từ vấn đề kiểm soát vùng Ruhr- vùng công nghiệp Than, Thép quan trọng ở châu Âu Monnet đã đề xuất một kế hoạch hợp tác giữa hai nước để kiềm chế mâu thuẫn, tránh nguy cơ bùng phát chiến tranh Ý tưởng này đã nhận được sự ủng hộ của Ngoại trưởng Pháp Schuman (1886 - 1963) và thủ tướng
Trang 11Cộng Hòa Liên Bang Đức Kondrad Adenauer Ngày 9 tháng 5 năm 1950 đã đọc tuyên bố về sáng kiến hòa giải giữa hai nước láng giềng thù địch và việc thành lập một cơ chế hợp tác giữa Pháp và Đức trong ngành công nghiệp than
và thép Tuyên bố của Schuman đã mở đường cho việc thành lập cộng đồng Than Thép châu Âu năm 1951
Ngày 18 tháng 4 năm 1951, Hiệp ước Pari gồm 100 điều khoản được kí kết với nội dung thành lập Cộng đồng Than Thép châu Âu (Eropcan Coal and Steel Community- ECSC) với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Tây Đức, Italia,
Bỉ, Hà Lan, Lucxembourg ECSC chính thức hoạt động từ tháng 8 năm 1952 Mục tiêu của ECSC là tạo ra một cơ chế hợp tác chung nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng thêm việc làm, nâng cao mức sống người dân và mở rộng sự hợp tác giữa các nước thành viên Việc thành lâp ECSC đã có tác động đáng kể đối với sự phát triển kinh tế và thương mại của các quốc gia thành viên và châu
Âu nói chung Thương mại giữa các nước tăng gấp 10 lần trong thập niên 1950
do việc rỡ bỏ các hang rào thuế quan, giá thành hạ và tiết kiệm chi phí sản xuất,
sự thành lập tổ chức này là một bước đột phá trong tiến trình hợp nhất châu Âu
ECSC là tổ chức quốc tế đầu tiên trên thế giới được thành lập dựa trên nguyên tắc của chủ nghĩa siêu quốc gia và sẵn sàng mở cửa cho sự tham gia của các nước châu Âu khác Sự thành lập của ECSC tạo ra một chuyển biến mang tính cách mạng trong tiến trình hợp nhất châu Âu Sự thành lập ECSC có tác động chính trị - xã hội to lớn trong việc tạo dựng một châu Âu hòa giải, hợp tác
và hòa bình Ý tưởng thành lập ECSC là cơ sở cho sự hợp tác ở mức độ cao hơn, cuối cùng sẽ đưa đến một châu Âu hợp nhất như mơ ước của các thế hệ tiền bối trong lịch sử châu Âu
Sau khi Cộng đồng Than Thép châu Âu được thành lập, các nước thành viên tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng quá trình hợp tác trên các lĩnh vực an ninh và chính trị Ngày 27 tháng 5 năm 1952, Cộng đồng Phòng thủ châu Âu (European Defence Community – EDC) được thành lập với mục tiêu thiết lập quan hệ hợp tác an ninh quốc phòng giữa các nước châu Âu và tạo điều kiện để các nước thành viên có thể kiểm soát Tây Đức về quân sự trong hệ thống phòng thủ chung của châu Âu Đồng thời, dự án về việc thành lập Cộng đồng chính trị châu Âu (European Political Community – EPC) cũng được công bố Tuy nhiên, sự kiện
Trang 12Quốc hội Pháp bác bỏ việc nước Pháp tham gia EDC vào năm 1954 cũng như
dự án thành lập EPC đã khiến cho cả hai kế hoạch đều không được thực thi Đồng thời, để phản đối các dự án này, Jean Monnet – đại diện của nước Pháp tại
Uỷ ban Tối cao ECSC đã từ chức Chủ tịch ECSC và chuyển sang việc thiết kế các dự án thiết lập các cộng đồng khác dựa trên nền tảng kinh tế Thất bại của việc thành lập Cộng đồng phòng thủ châu Âu cũng như dự án đầy tham vọng về việc thiết lập Cộng đồng Chính trị châu Âu cho thấy những ý tưởng đưa châu
Âu đi qua trong thời điểm chưa thích hợp sẽ không thể trở thành hiện thực
Trong thập niên 1950, những sự kiện lớn của tình hình thế giới và khu vực có liên quan đến hai cường quốc ở châu Âu là Pháp và Anh, đã trở thành những tác nhân quan trọng đối với quá trình hợp nhất châu Âu Trong số đó phải
kể đến hai cuộc khủng hoảng đã làm thay đổi châu Âu: thất bại của thực dân Pháp ở Đông Dương (1954) và cuộc khủng hoảng kênh đào Suez ở Ai Cập (1956) Trong sự kiện thứ nhất, chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam (5 - 1954) đã kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương với thất bại nhục nhã của quân đội viễn chinh Pháp Hai năm sau, cuộc khủng hoảng kênh đào Suez
đã tác động tích cực đến quá trình hợp tác châu Âu và tiêu biểu là hiệp ước Roma được kí kết năm 1957 nhằm mục đích tăng cường sự hợp tác kinh tế giữa các nước châu Âu
Năm 1956, dưới sự điều hành của Ngoại trưởng Spaak, hội nghị liên chính phủ của 6 nước thành viên ECSC diễn ra tại lâu đài Val Duchessc (Bỉ) đã bàn thảo về những nội dung cụ thể chuẩn bị cho việc kí kết hai Hiệp ước Roma vào ngày 25-3-1957, thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu (European Economic Community – EEC) và Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử châu Âu (European Atomic Energy – EAEC) Với những đóng góp mang tính nền tảng cho việc hình thành EEC, Spaak được vinh danh là một trong số những người có công lao sáng lập Liên minh châu Âu ngày nay
Các Hiệp ước Roma bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1-1958 Theo Hiệp ước Roma về việc thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu, thiết lập một liên minh thuế quan với thuế suất nội địa chung, thực hiện chính sách chung về nông nghiệp, giao thông vận tải và thương mại Về lộ trình thành lập liên minh thuế quan, Hiệp ước Roma quy định việc giảm dần thuế quan giữa các nước thành
Trang 13viên và tiến tới dỡ bỏ toàn bộ các rào cản trong thương mại nội khối trong vòng
12 năm Đặc biệt, Hiệp ước Roma về việc thành lập Cộng đồng Nguyên tử châu
Âu (EAEC) nhấn mạnh vào mục tiêu thành lập một thị trường chung về năng lượng nguyên tử giữa các nước thành viên Tuy nhiên, kế hoạch này đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu và đầu tư lâu dài Sau khi Hiệp ước Roma có hiệu lực, trên thực tế đã tồn tại ba cộng đồng châu Âu: Cộng đồng Than Thép, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử Về thể chế, Cộng đồng kinh
tế châu Âu và Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử châu Âu bao gồm các cơ quan chức năng cơ bản của Cộng đồng Than Thép châu Âu như Uỷ ban tối cao và Hội đồng Bộ trưởng, Hội nghị toàn thể và Hội đồng pháp luật Việc tăng cường quyền lực cho các cơ quan điều hành đã khiến cho chính phủ Pháp e ngại và tìm cách hạn chế quyền lực siêu quốc gia của các tổ chức này, với mong muốn các cộng đồng châu Âu sẽ phát triển theo hướng trở thành các tổ chức liên chính phủ nhiều hơn là một tổ chức siêu quốc gia
Trang 14Sự phát triển và mở rộng hợp tác giữa các nước thành viên đã đặt ra nhu cầu hợp nhất trong Cộng đồng châu Âu trong một thiết chế chung Trong quá trình đàm phán, các nước thành viên đã tiến hành kí kết hiệp ước hợp nhất (Merger Treaty) hay còn gọi là Hiệp ước Brussels ngày 8- 4- 1965 Hiệp ước hợp nhất có hiệu lực từ ngày 1- 7- 1967 theo đó ba cộng đồng ECSC, EAEC và EEC hợp nhất trong một thể chế điều hành chung của cộng đồng châu Âu (European Conmunuties) Việc cùng nhau chia sẻ một cơ quan thiết chế chung
đã tạo điều kiện thống nhất hành động vì mục tiêu chung là đẩy mạnh quá trình hợp tác và hội nhập của các thành viên trên các lĩnh vực khác nhau
Tuy nhiên, con đường phát triển của Cộng đồng châu Âu trong buổi ban đầu cũng không hoàn toàn êm ả Trong thời gian này, các nước thành viên phải đối mặt với cuộc khủng hoảng “ghế trống” diễn ra từ tháng 6- 1965 đến tháng 1-
1966 Xuất phát từ những bất đồng xung quanh việc thực hiện các biện pháp tài trợ cho chính sách nông nghiệp chung (Common Agriculture Policy- CAP), giữa chính phủ Pháp với các nước thành viên trong EEC, gây nên cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử phát triển của các Cộng đồng châu Âu Cuộc khủng hoảng cho thấy chủ nghĩa dân tộc là những rào cản cho quá trình mở rộng hợp tác châu Âu Cuộc khủng hoảng chỉ kết thúc khi thỏa ước Lucxembourg (1-1966) giữa 6 nước được kí kết Theo đó, các nước thành viên được sử dụng quyền phủ quyết để bảo vệ lợi ích quốc gia Việc kí kết thỏa ước này, trên thực
tế quyền lực của Uỷ ban EEC và tăng thêm quyền lực cho những thành viên của hội đồng EEC
Quá trình hội nhập của các nước châu Âu không vấp phải sự cản trở nào
từ phía Mỹ Mỹ coi EEC như một đối tác bình đẳng và tiềm năng Đồng thời,
Mỹ còn hi vọng sự hội nhập của Tây Đức vào một EEC lớn mạnh sẽ gây ra áp lực lớn cho Đông Đức và Liên Xô trong bối cảnh chiến tranh lạnh đang tiếp diễn Tuy nhiên, trên thực tế, nổi lên của một châu Âu hợp nhất cũng tạo áp lực cạnh tranh về kinh tế - thương mại cũng như chính trị đối với Mỹ
Cùng với Mỹ, nước Anh đã chậm trễ và bỏ lỡ cơ hội trong quá trình hội nhập châu Âu, bởi các nhà lãnh đạo Anh chủ trương chú trọng đến các mối quan
hệ với các nước trong Khối thịnh vượng chung và các khu vực thuộc đế chế Anh, cũng như tăng cường quan hệ với Mỹ nhiều hơn là với phần còn lại của
Trang 15châu Âu Anh không tham gia ECSC, được các chính trị gia Mỹ đánh giá là một sai lầm nghiêm trọng trong thời hậu kì hậu chiến, khiến cho nước này chậm chân trong việc tham gia vào những quyết định quan trọng nhất trong buổi ban đầu của quá trình hợp nhất châu Âu
Tháng 1- 1960, 7 nước châu Âu gồm : Anh, Áo, Đan Mạch, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ (những nước bên ngoài EEC) đã kí kết hiệp ước Stockholm, thành lập Hiệp hội Mậu dịch Tự do châu Âu (European Free Trade Acsociation –EFTA) Các nước tham gia EFTA chỉ mang tính tự nguyện, không bắt buộc, đồng thời EFTA cũng không đặt ra những mục tiêu hội nhập về kinh tế
và chính trị Mục tiêu hoạt động EFTA chủ yếu nhằm thiết lập khu vực mậu dịch
tự do giữa các nước thành viên thông qua việc lộ trình giảm dần và tiến tới dỡ
bỏ hàng rào thuế quan Chính vì vậy, EFTA có cơ cấu thiết chế đơn giản
Những thành tựu mà EFTA đạt được trong thời gian này còn rất khiêm tốn Vì vậy, khiến cho Anh thật sự nhận thức được nguy cơ bị cô lập về kinh tế
và thương mại nếu tiếp tục đứng ngoài EEC Chính vì vậy, chỉ hơn một năm sau khi EFTA thành lập, Anh cùng các nước Đan Mạch, Ireland và sau đó là Na Uy
đã nộp đơn xin gia nhập Cộng đồng kinh tế châu Âu Tuy nhiên, Tổng thống Pháp Charles De Gaulle lúc đó phản đối việc nước Anh gia nhập EEC Năm
1966, đơn xin gia nhập EEC của Anh lại bị Tổng thống De Gulle phản đối lần hai Nước Pháp vẫn tiếp tục lo ngại về ảnh hưởng của Anh cũng như những áp lực của Mỹ đối với EEC Quan điểm của Pháp lúc này là duy trì một châu Âu đặt dưới ảnh hưởng của Pháp và không có sự tham gia của Anh Qúa trình mở rộng EEC chỉ có thể thực hiện được sau khi Tổng thống Pháp Charles De Gulle rời khỏi chính trường năm 1969
Khi Tổng thống Georges Pompidou (1911 - 1974) lên cầm quyền ở Pháp, các cuộc thương lượng được tiến hành kể từ năm 1969 và Anh, Đan Mạch, Ireland và Na Uy đã được gia nhập EEC sau lần thứ ba nộp đơn Đợt mở rộng EEC lần thứ nhất với không ít những trắc trở cuối cùng đã hoàn tất, đưa EEC 6 lên EEC 9
Đợt mở rộng EEC thứ hai và lần thứ ba diễn ra vào thập niên 1980, hướng vào các quốc gia ở khu vực Nam Âu bao gồm : Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây
Trang 16Ban Nha Qúa trình đàm phán gia nhập từ tháng 8- 1976 và đến tháng 1- 1981,
Hy Lạp chính thức trở thành thành viên thứ 10 của EEC
Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã bắt đầu khởi động quá trình hội nhập châu Âu từ năm 1962 Tuy nhiên, chế độ độc tài tồn tại ở cả hai nước nêu trên
đã cản trở quá trình gia nhập EEC của họ, chỉ sau khi chế độ Caetano ở Bồ Đào Nha sụp đổ năm 1974 và sau cái chết của Franco ở Tây Ban Nha năm 1975 , thì đơn xin gia nhập EEC của hai nước mới chính thức được xem xét Năm 1986, hai nước chính thức gia nhập EEC đưa tổng số thành viên EEC lên 12 nước
Việc nhân đôi số lượng thành viên đã khiến EEC trở thành khối kinh tế lớn nhất thế giới, có ảnh hưởng kinh tế và chính trị ngày càng lớn trên trường quốc tế Cùng với việc thúc đẩy kinh tế và thương mại phát triển, trong thời gian này EEC chú trọng vào việc tạo điều kiện cho việc thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế giữa các nước châu Âu, tạo cơ hội cho các nước nghèo ở khu vực Địa Trung Hải hội nhập và phát triển trong nền kinh tế toàn cầu nhằm mục tiêu hướng tới sự phát triển cân bằng về kinh tế giữa 12 nước thành viên
Nhằm hướng tới mở rộng sự hợp tác đa diện của các quốc gia thành viên , tháng 2 - 1986 Đạo luật chung châu Âu (Single European Act –SEA) được kí kết tại Lucxembourg và bắt đầu có hiệu lực từ tháng 7- 1987 Đạo luật này đánh dấu một bước tiến mới về mặt thể chế trong quá trình hợp nhất châu Âu nhằm xây dựng một khối kinh tế, một thị trường chung lớn nhất thế giới SEA đã đặt nền móng quan trọng cho việc kí kết hiệp ước Masstricht 1992
Trên nền tảng của Đạo luật chung châu Âu, ngày 7- 2- 1992 hiệp ước Masstricht (hay còn gọi là Hiệp ước về Liên minh châu Âu) đã được kí kết tại
Hà Lan sau quá trình đàm phán giữa các nước thành viên dưới sự điều hành của
ủy ban Delors Mục tiêu chủ yếu của hiệp ước Masstricht là mở rộng quá trình hợp nhất châu Âu, tiến tới thành lập một liên minh châu Âu trên cơ sở liên minh kinh tế - tiền tệ với đồng tiền chung (Euro) và liên minh chính trị bao gồm việc thực hiện một chính sách đối ngoại chung và an ninh chung
Như vậy, sau hơn 50 năm hình thành và phát triển, Liên minh châu Âu
EU được đánh giá là tổ chức khu vực thành công, hiệu quả nhất trên thế giới Với quá trình liên kết về kinh tế, dần dần chuyển sang hợp tác về chính trị - văn
Trang 17hóa, xã hội giữa các nước thành viên Sự liên kết ấy ngày càng phát triển theo chiều sâu, khẳng định bước tiến quan trọng trong hợp tác khu vưc
Sau khi được 12 quốc gia thành viên phê chuẩn, Hiệp ước Masstricht chính thức có hiệu lực từ tháng 11- 1993 Trong quá trình thực hiện, Hiệp ước Masstricht được sửa chữa và bổ sung bằng một số hiệp ước khác như Hiệp ước Amsterdam và Hiệp ước Nice:
- Hiệp ước Amsterdam (kí tháng 2- 1997, có hiệu lực từ tháng 5- 1999) có những sửa đổi và bổ sung những điều khoản cho Hiệp ước Masstricht về quyền
cơ bản của các nước thành viên, về tư pháp và nội vụ, về chính sách xã hội, việc làm và chính sách đối ngoại và an ninh chung
- Hiệp ước Nice (kí tháng 2- 2001, có hiệu lực từ tháng 2- 2003) bao gồm những điều khoản bổ sung về cải cách thể chế để đón nhận những thành viên mới, về việc tăng cường quyền lực cho Nghị viện châu Âu và việc thành lập lực lượng phản ứng nhanh của EU
Sau hiệp ước Masstricht có hiệu lực, những tiến bộ về thể chế và chính sách đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng các lĩnh vực hợp tác và mở rộng số lượng thành viên mới của EU Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, có ít nhất 18 nước châu Âu có nguyện vọng gia nhập EU, trong đó có 7 nước Đông
Âu, 6 nước cộng hòa Liên Xô cũ và 5 nước thuộc Liên Bang Nam Tư cũ Làn sóng các nước có nguyện vọng tham gia EU dâng cao đã đặt ra yêu cầu xem xét lại về mặt thể chế những tiêu chí gia nhập EU
Quá trình đàm phán để gia nhập EU của các nước thành viên Hiệp hội Mậu dịch Tự do (EFTA) được bắt đầu từ năm 1990 Tuy nhiên, chỉ có 3 nước là
Áo, Phần Lan, Thụy Điển gia nhập EU vào tháng 1-1995 Đây là lần mở rộng thứ năm đưa số thành viên EU Lên 15 Tiếp theo đó, cuộc đàm phán gia nhập
EU của các nước Đông Âu được bắt đầu trong những năm 1998-2000 và kết thúc vào tháng 12-2002 Tháng 10-2004, đợt mở rộng lớn nhất trong lịch sử EU diễn ra với việc kết nạp cùng một lúc 10 thành viên mới Đó là 8 nước Đông Âu (Cộng hòa Séc, Ba Lan, Hunggary, Slovakia, Slovenia, Estonia, Latvia, Lithuania) và hai nước thuộc Địa Trung Hải (Cyrus và Malta) Hai nước Bumgary và Rumani gia nhập muộn hơn vào tháng 1-2007 Làn sóng mở rộng
về phía Đông là đợt mở rộng lớn nhất của EU về số lượng thành viên Nếu như
Trang 18EU trước đây được hiểu là khối các nước Tây Âu tư bản chủ nghĩa, đối lập với các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa về hệ thống kinh tế, chính trị - xã hội, thì ngày nay châu Âu được nhìn nhận là khối thống nhất bao gồm cả Đông Âu và Tây Âu dưới mái nhà chung EU
Ngoài ra, một số nước khác cũng có nguyện vọng gia nhập EU như Croatia (2008), Thổ Nhĩ Kì và Macedonia nhưng việc xem xét các nước tham gia và trở thành thành viên chính thức của EU vẫn đang tiếp tục được cân nhắc
Có thể nói, EU là một tổ chức siêu quốc gia thành công nhất trên thế giới, với mục đích cơ bản là tạo ra một khu vực tự do, liên thông hàng hóa, dịch vụ, con người, tiền vốn giữa các nước và liên minh toàn diện EU thực hiện nhiệm
vụ quân sự, chính trị hoặc dân sự để giúp xây dựng và bảo vệ nền hòa bình tại một số các quốc gia khu vực châu Âu và một số quốc gia ở các khu vực khác Đây là một tổ chức liên kết của các quốc gia khu vực châu Âu, trước tiên là hợp tác về kinh tế, sau đó là chính trị - văn hóa, xã hội nhằm đưa EU trở thành tổ chức kinh tế đứng đầu thế giới
Về hải quan, thực hiện chính sách chung về nhập cảnh qua các cửa khẩu
hướng tới một châu Âu không biên giới Từ tháng 6- 1985, 5 nước thành viên EEC (Pháp, Tây Đức, Bỉ, Hà Lan, Lucxemboug) đã tiến hành đàm phán và kí hiệp ước Schengen quy định về việc bãi bỏ kiểm soát biên giới, thực hiện quyền
tự do đi lại của công dân các nước thành viên trong vùng lãnh thổ 5 nước Tháng 6- 1990 các nước tham gia Schengen kí thêm Công ước Schengen nhằm cụ thể hóa việc áp dụng và thực thi hiệp ước Trong thập niên 1990, hàng loạt các nước châu Âu tham gia hiệp ước Schengen Từ năm 1999, nội dung cụ thể của Hiệp
Trang 19ước đã được đưa vào khuôn khổ, thể chế và luật pháp của EU theo một Nghị định thư đi kèm với Hiệp ước Amsterdam Cho đến tháng 12- 2009, đã có 28 nước tham gia các thỏa thuận Schengen, phần lớn là thành viên EU và một số nước ngoài EU như Ai Cập, Ireland, Na Uy, Thụy Sĩ, Liechtenstein
Về thuế quan, tháng 7-1968 6 nước EEC đã thỏa thuận một mức thuế
quan chung và thành lập một liên minh hải quan về công nghiệp Năm 1983, đã thông qua Báo cáo Cockfiel, với 282 điều về tiến trình dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và thiết lập một thị trường chung thực sự của các nước thành viên EEC
Trên cơ sở đó, Đạo luật chung châu Âu (SEA) được kí kết tại Lucxembourg tháng 2- 1986 với mục tiêu hoàn thành việc thiết lập một thị trường chung, xây dựng một khu vực hoàn toàn tự do, không có bất kì rào cản nào về đi lại, hàng hóa, dịch vụ và dòng vốn, và đưa châu Âu trở thành một thị trường chung lớn nhất thế giới Đồng thời, thành lập các quỹ xã hội để hỗ trợ công nhân trong quá trình chuyển dịch lao động giữa các nước nhằm làm giảm thiểu tỉ lệ thất nghiệp và thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế
Các rào cản kĩ thuật, các nước thành viên đang từng bước hướng tới việc thực hiện những quy định tiêu chuẩn thống nhất theo yêu cầu của Uỷ ban châu
Âu Từ năm 1983, theo quy định, các nước thành viên phải tuân thủ việc báo cáo với ủy ban châu Âu về các thay đổi luật lệ kĩ thuật trong nước Việc hướng tới các quy chuẩn thống nhất mang tính kĩ thuật trong các nước thành viên đã thúc đẩy quá trình tạo dựng một thị trường chung châu Âu
Thứ hai là: chính sách nông nghiệp chung (CAP) – công cụ quyết định quá trình hợp tác châu Âu
Hợp tác nông nghiệp là một trong những mục tiêu hàng đầu của quá trình nhất thể hóa châu Âu Việc thực hiện một chính sách nông nghiệp chung trong một thị trường thống nhất sẽ thúc đẩy nông nghiệp, đồng thời tạo điều kiện mở rộng lưu thông sản phẩm nông nghiệp giữa các nước thành viên, giảm thiểu việc nhập khẩu lương thực và các sản phẩm nông nghiệp từ bên ngoài châu Âu
Chính sách nông nghiệp chung (Common Agriculture Policy – CAP), được xây dựng năm 1957 trong Hiệp ước Roma, nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản là tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, đảm bảo mức sống công bằng cho người dân, ổn định thị trường và bảo đảm an toàn lương thực, thực phẩm
Trang 20cho người tiêu dùng các nước châu Âu Để tiến tới một thị trường nông nghiệp chung, các nước thành viên thỏa thuận việc hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nông sản nội khối, tiến hành điều chỉnh hai lĩnh vực là giá cả và cơ cấu nông nghiệp theo
lộ trình mà CAP đưa ra Nhìn chung, trong giai đoạn đầu, CAP đã tạo điều kiện tái cấu trúc khu vực nông thôn và phát triển sản xuất nông nghiệp, hướng tới mục tiêu tự đảm bảo nguồn lương thực và thực phẩm, đồng thời trở thành lục địa xuất siêu về nông sản
Giai đoạn thứ hai (1969- 1992), tập trung vào mở rộng thực hiện hoạt động cải cách và tăng năng suất lao động trong nông nghiệp theo các mục tiêu
mà CAP đặt ra Tuy nhiên, những khó khăn chung của tình hình thế giới và châu
Âu nói riêng kể từ cuộc khủng hoảng năng lượng 1973 đã tác động tiêu cực đến nông nghiệp và các kế hoạch cải tổ CAP
Giai đoạn thứ ba (1992 – nay), với kế hoạch cải cách McShary Mục tiêu của kế hoạch cải cách là nâng cao tính cạnh tranh của nông nghiệp EU ở quy mô toàn cầu, điều tiết các khoản chi quá mức để dành cho việc quy hoạch lại đất đai canh tác và bảo vệ môi trường Các khoản tiền trợ giá nông nghiệp tính theo sản phẩm bị cắt giảm, thay vào đó là các khoản trợ cấp trực tiếp hỗ trợ cho nông dân tiến hành tái cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp
Tháng 3- 1999, Hội nghị Thượng đỉnh các nước EU tại Berlin đã thỏa thuận
về phương hướng phát triển của chính sách nông nghiệp chung trong những năm
2000 - 2006, dựa trên cơ sở những nội dung chính của kế hoạch McSharry
Bên cạnh đó, Hội nghị Lucxemboug (6- 2003) đánh dấu một bước phát triển mới của quá trình cải tổ CAP Theo các thỏa thuận đạt được trong hội nghị này, các nước EU tập trung vào việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp bền vững, tăng cường vị trí của EU trong đàm phán quốc tế về nông nghiệp
Sau một quá trình đàm phán kéo dài, tháng 11- 2008, Bộ trưởng Nông nghiệp các nước EU đã đi đến thỏa thuận tại Hội nghị Brusseles (Bỉ) về việc sửa đổi Chính sách nông nghiệp chung, theo đó, các khoản trợ cấp cho nông dân sẽ được cắt giảm, giá cả và thu nhập của người nông dân sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào quy luật cung cầu của thị trường thay vì gắn với mức trợ cấp như trước đây
Trang 21Như vậy, thực hiện chính sách nông nghiệp chung mang ý nghĩa quyết định trong quá trình nhất thể hóa châu Âu Hợp tác kinh tế đã góp phần tạo ra một châu Âu giàu có, thịnh vượng và ổn định
Thứ ba là: thiết lập đồng tiền chung – bước đi quan trọng trong quá trình hợp nhất châu Âu
Năm 1969, cuộc họp Thượng đỉnh của các nước thành viên EEC tại Hague đã đi đến thỏa thuận về việc thành lập một Uỷ ban do Thủ tướng Lucxembourg Pierre Werner đứng đầu nhằm mục đích xây dựng lộ trình cho việc thống nhất hệ thống thỏa thuận tỉ giá đồng tiền các nước EEC
Vào cuối thập niên 1980, chặng đường tiếp theo dẫn tới liên minh tiền tệ châu Âu được thúc đẩy Định hướng cho việc xây dựng một đồng tiền chung đã trở thành một yêu cầu cấp bách cho sự phát triển của EEC nói chung Năm 1989,
Uỷ ban Delors đã soạn thảo kế hoạch chi tiết chuyển đổi các nước thành viên vào hệ thống sử dụng đồng tiền chung và Ngân hàng Trung ương châu Âu và chia thành 3 giai đoạn trong suốt từ năm 1990 đến năm 2002
Về tên gọi của đồng tiền chung châu Âu, một số nước có nguyện vọng sử dụng tên gọi quen thuộc nhằm mục đích duy trì sự liên tục và niềm tin của người dân vào loại tiền tệ mới Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi chung cho tất cả các nước, tại phiên họp hội đồng EU năm 1995, các nước thành viên đã chính thức thông qua tên gọi của đồng tiền chung châu Âu là đồng Euro Ngày 1-1-
1999, đồng Euro trở thành tiền tệ chính thức của 11 quốc gia thành viên EU (Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan, Ireland, Italia, Lucxembourg, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha) Việc phát hành đồng Euro đến tay người tiêu dùng bắt đầu từ ngày 1- 1- 2002 Tính đến 1- 1- 2011 có 17 nước EU tham gia khu vực đồng tiền chung Euro
Tuy nhiên, việc lưu hành đồng Euro – đứa con chung của các nước EU, cũng gặp phải không ít những khó khăn Những bất ổn trên thị trường tiền tệ đã khiến cho số người phản đối việc lưu hành đồng Euro ở ngay tại các nước EU tăng lên trong những năm đầu Đặc biệt, trong thời gian này, đồng Euro không những chịu ảnh hưởng từ những bất ổn về kinh tế mà còn bị tác động bởi sự không ổn định về chính trị ở châu Âu Mặt khác, sự phát triển không đồng đều
về kinh tế giữa các nước trong Eurozone là trở ngại lớn nhất cho việc thực thi
Trang 22một chính sách tiền tệ chung Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cho Eurozone là những biện pháp thu hẹp khoảng cách phát triển, kiềm chế lạm phát và kích thích tăng trưởng kinh tế, tạo cơ hội phát triển cho tất cả các nước thành viên
Thứ tư là: thu hẹp khoảng cách phát triển và gắn kết các nước EU
Một trong những mục tiêu của Hiệp ước Roma năm 1957 là nâng cao mức sống của người dân trong một châu Âu thống nhất Mặc dù là một trong những khu vực giàu có nhất thế giới, nhưng châu Âu cũng là khu vực có khoảng cách phát triển lớn giữa các nước giàu với các nước nghèo Trên thực tế, kể từ sự mở rộng EU về phía Đông khoảng cách giàu nghèo giữa các nước thành viên ngày càng tăng Chính vì vậy, những vấn đề như điều kiện làm việc, quan hệ lao động, an ninh xã hội, giáo dục và đào tạo nghề, nhà ở và sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu trong chính sách của EU nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển và gắn kết các nước thành viên Để tạo điều kiện cho các nước nghèo trong EU có điều kiện phát triển, các quỹ hỗ trợ và cơ quan trợ giúp được thành lập Hoạt động của cơ quan hỗ trợ và cơ quan chức năng đã có tác động tích cực đến sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giải quyết nạn thất nghiệp, tạo cơ hội việc làm cũng như tăng cường các dự án đầu tư vào các nước nghèo Qúa trình gắn kết các nước thành viên trong ngôi nhà chung EU không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế mà còn tập trung vào các lĩnh vực xã hội như việc đảm bảo quyền lợi của những người lao động, quyền phụ nữ, cải thiện điều kiện sống và làm việc của người dân
Cùng với quá trình mở rộng EU và khoảng cách phát triển ngày càng lớn giữa các nước thành viên, EU ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các chính sách
xã hội Một trong số các mục tiêu mà EU hướng tới là việc thực hiện quyền tự
do đi lại và cư trú cho mọi công dân trên lãnh thổ của EU Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch của lực lượng lao động từ nước này sang nước khác còn vấp phải những rào cản về sự khác biệt trong hệ thống giáo dục và ngôn ngữ giữa các nước thành viên trong EU Để khắc phục tình trạng này, EU đã tập trung nỗ lực vào giải pháp tăng cường trao đổi giáo dục giữa các cấp học phổ thông đến đại học giữa các nước thành viên
Việc đào tạo ngôn ngữ cũng là một trong những vấn đề được chú trọng trong mục tiêu liên kết trong các nước EU, không chỉ nhằm xây dựng một lực
Trang 23lượng lao động chung mà còn có tác động tâm lý hết sức quan trọng Các nước
EU mở rộng đào tạo tiếng Anh ngôn ngữ thứ hai trong các trường phổ thông, số lượng người sử dụng tiếng Anh tăng lên nhanh chóng Nhưng trên thực tế, ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất trong các hoạt động của EU là tiếng Anh và tiếng Pháp Việc hướng tới một ngôn ngữ chung chính thức cho EU vẫn còn là vấn đề khó khăn
Thứ năm là: EU, khối kinh tế đứng đầu thế giới
Cùng với quá trình mở rộng các quốc gia thành viên,EU đã trở thành khối kinh tế đứng đầu thế giới Sức mạnh kinh tế của EU được thể hiện trên các lĩnh vực sau đây:
- Là thị trường vốn lớn nhất thế giới, chiếm gần 1/3 tổng sản phẩm toàn cầu
- Là khối thương mại đứng đầu thế giới, chiếm khoảng 40% tổng giá trị thương mại thế giới
- Đồng tiền chung châu Âu- Euro, đứng thứ hai thế giới về giá trị sau đồng
đô la Mỹ và là một trong ba đồng tiền có giá trị chủ chốt của thế giới (cùng với đồng đô la Mỹ và đồng Yên Nhật)
- Là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất thế giới, với tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong những năm 1997 - 2006 là trên 5,3 ngàn tỉ USD Chiếm 2/3 tổng số vốn đầu tư của các nước OECD, gấp 3 lần số vốn đầu tư của Mỹ
- Là thị trường liên kết đa quốc gia nhất trên thế giới với tốc độ phát triển nhanh chóng, sức cạnh tranh cao và là đối thủ cạnh tranh lớn của Mỹ và Nhật Bản
- Là nhà tài trợ Quốc tế số một, vượt xa các nhà tài trợ khác, chiếm trên 50% tổng số tài trợ của thế giới cho các nước đang phát triển (2006) gấp 3 lần
so với Mỹ
Với sức mạnh của một siêu cường kinh tế, EU có khả năng mở rộng phạm
vi ảnh hưởng trong nền kinh tế toàn cầu EU cùng với Mỹ, hai thực thể kinh tế lớn nhất thế giới, có ảnh hưởng quyết định đến trật tự kinh tế quốc tế và chi phối
xu hướng phát triển của thương mại toàn cầu Đồng thời, định đoạt phần lớn luật
lệ thương mại và tài chính quốc tế thông qua các thể chế như: G8, WTO, WB, IMF nơi mà cả hai đóng góp phần lớn vốn Là một trung tâm kinh tế hùng mạnh,
Trang 24sự phát triển ổn định và cân bằng kinh tế EU là một trong những nhân tố giúp cho nền kinh tế thế giới phát triển trong thập niên 1990 và trong những năm đầu của thế kỉ XXI
Thứ sáu là: chính sách đối ngoại và an ninh chung EU
Trước tiên, EU tập trung vào xây dựng đối ngoại và an ninh chung Tuy nhiên, các chính sách đối ngoại của EU không phải mục tiêu đặt ra hàng đầu trong quá trình hội nhập của các nước châu Âu mà chủ yếu tập trung vào các vấn đề hợp tác kinh tế và thương mại Mục tiêu ban đầu và chủ yếu của EU là gắn kết các nước trong khu vực xích lại gần nhau thành một khối có khả năng gây ảnh hưởng với phần còn lại của thế giới Kể từ năm 1970, sau khi các nước thành viên thỏa thuận về việc thành lập cơ chế hợp tác kinh tế - chính trị châu
Âu (FPC), Ngoại trưởng các nước thành viên bắt đầu có các cuộc họp hàng năm
để chia sẻ quan điểm về những vấn đề quốc tế Tuy nhiên, trên thực tế, các nước
EU hoàn toàn độc lập về chính sách đối ngoại và an ninh quốc phòng Tình hình này có thể lí giải từ hai lí do, một là, cội nguồn của quá trình thống nhất châu Âu
là nhằm tránh xung đột và chiến tranh; hai là, sự thất bại của dự án thành lập Cộng đồng phòng thủ châu Âu năm 1954 luôn là nỗi ám ảnh lâu dài đối với các nước châu Âu
Bước vào thập niên 1990, các nước EU bắt đầu bộc lộ những quan điểm khác nhau đối với các vấn đề quốc tế Các nước EU có những phản ứng khác nhau trước sự bùng nổ của cuộc chiến tranh vùng vịnh 1990 - 1991, cuộc khủng hoảng trên bán đảo Balkans tình trạng đó đặt ra nhu cầu xây dựng một chính sách đối ngoại chung vì lợi ích của các quốc gia thành viên để tránh tình trạng Eu có thể trở thành một người khổng lồ về kinh tế nhưng vẫn là một chú lùn về chính trị
Chính sách đối ngoại chung của châu Âu không thể thay thế chính sách ngoại giao của các nước thành viên, nhưng nó đóng vai trò bổ sung và gắn kết chính sách ngoại giao của các nước EU Các quốc gia thành viên không chỉ tham gia thảo luận mà còn được quyền ra quyết định, quyền bỏ phiếu theo những tiến trình được đơn giản hóa để cùng nhau thống nhất một cách nhanh chóng những vấn đề đối ngoại chung Một trong những điểm mạnh trong chính sách đối ngoại của EU là chính sách viện trợ phát triển cho các nước nghèo vốn là thuộc địa cũ của các nước Tây Âu EU trở thành nhà tài trợ đứng đầu thế giới, với những nỗ
Trang 25lực đáng kể trong việc thực hiện những dự án gắn với thương mại phát triển để trợ giúp các nước nghèo thông qua các hiệp định quốc tế như Hiệp đinh Lome
và sau này là hiệp ước Cotonou Đồng thời, việc xây dựng một chính sách an ninh chung là vấn đề khó khăn và phức tạp nhất trong quá trình liên kết châu
Âu Vấn đề không chỉ liên quan đến qua hệ giữa các nước EU với nhau mà còn
là quan hệ giữa EU với NATO Năm 1999, với việc hình thành chính sách đối ngoại và an ninh chung (CFSP), các nỗ lực tăng cường hợp tác an ninh được đẩy mạnh nhằm mục tiêu giữ gìn những giá trị chung, lợi ích cơ bản và độc lập của
EU, giảm bớt sự lệ thuộc vào Mỹ tăng cường an ninh của các quốc gia thành viên dưới mọi hình thức Tháng 12- 2003, Hội đồng châu Âu lần đầu tiên tuyên
bố chiến lược an ninh chung (ESS), trong đó khẳng định vai trò toàn cầu không thể thiếu của EU trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế cũng như việc EU sẽ chia sẻ trách nhiệm để giữ gìn an ninh toàn cầu ESS cũng chỉ ra những vấn đề
an ninh mà EU phải đối mặt như: chủ nghĩa khủng bố, vũ khí hủy diệt hàng loạt, xung đột khu vực, các tổ chức tội phạm quốc tế
Bên cạnh đó, một vấn đề đáng chú ý đến trong chính đối ngoại của EU trong quan hệ với Mỹ đóng vai trò đặc biệt quan trọng Trước chiến tranh thế giới thứ hai, người Mỹ tỏ ra nghi ngờ những giá trị của châu Âu, đồng thời không tham dự vào cuộc xung đột ở châu Âu và lên tiếng phê phán chủ nghĩa thực dân Sau chiến tranh thế giới thứ hai, châu Âu đổ nát và suy sụp phải dựa vào sự trợ giúp của Mỹ để tái thiết và phát triển Trong suốt thời gian chiến tranh lạnh, Tây
Âu liên minh với Mỹ trong trật tự hai cực và đối đầu giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa cộng sản Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, EU và Mỹ là hai siêu cường về kinh tế - quân sự đứng đầu thế giới, đồng thời đều có tham vọng dùng sức mạnh đó
để mở rộng ảnh hưởng chính trị và văn hóa đối với phần còn lại của thế giới
Trong quan hệ EU – Mỹ, mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương ngày càng đóng vai trò quan trọng Tháng 11- 1990, hai bên đã thông qua tuyên bố hợp tác xuyên Đại Tây Dương, khẳng định quan hệ hợp tác giữa Mỹ - EU nhằm mục tiêu tăng cường hòa bình, ổn định, dân chủ và phát triển, mở rộng thương mại và hợp tác kinh tế, thắt chặt quan hệ giữa hai bên thông qua cầu nối hữu nghị xuyên Đại Tây Dương Bên cạnh đó, các lĩnh vực hợp tác được chú trọng là chống khủng bố, ngăn ngừa vũ khí hủy diệt hàng loạt, tội phạm quốc tế và buôn bán
Trang 26ma túy Hội nghị Thượng đỉnh EU – Mỹ được tổ chức thường niên để duy trì và phát triển quan hệ xuyên Đại Tây Dương Năm 1995, cơ quan hợp tác xuyên Đại Tây Dương được thành lập nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương và đa phương thông qua các kế hoạc hành động cụ thể Năm 1998, Hội nghị Thượng đỉnh ở London đã thông qua thỏa thuận đối tác kinh tế xuyên Đại Tây Dương (Transatlantic Economic Partnesship – TEF) với mục tiêu tăng cường quan hệ kinh tế EU – Mỹ giữa hai bờ Đại Dương trên các lĩnh vực kinh tế - thương mại
và an ninh chính trị
1.2.2 Hạn chế
Trải qua nửa thế kỉ hình thành và phát triển, EU đã tiến một bước dài trên con đường nhất thể hóa, vượt qua mong đợi của những người sáng lập nó Cho đến nay, xét trên cấp độ liên kết khu vực, EU được đánh giá là một mẫu hình hợp tác thành công nhất trên thế giới Tuy nhiên, mặc dù đạt được những bước tiến vững chắc trong hơn nửa thế kỉ qua, nhưng EU cũng phải đối mặt với không
ít những thách thức, nhiều quốc gia giàu có của châu Âu đang lâm vào tình trạng hoang mang, đó chính là vết thương không thể chữa trị được của nạn thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp của các nước EU đang thuộc loại cao, cao nhất là Tây Ban Nha – 14,9%, thấp nhất là Lucxembourg – 2,2% và hiện nay số người thất nghiệp của các nước EU đã lên tới 15 triệu người Cùng với nạn thất nghiệp tràn lan, dân chúng châu Âu tỏ ra lo lắng vè những lợi thế mà họ đã giành được, đó
là sự khó khăn cực độ trong vấn đề cải cách nhà nước, sự yếu kém của các chính phủ hay nguy cơ đe dọa của nạn tham nhũng trong bộ máy nhà nước Mặt khác, khi đồng tiền chung châu Âu Euro liên tục mất giá đã làm nhiều nhà kinh tế châu Âu lo ngại về “đồng Euro mạnh” sẽ tác động đến nền kinh tế châu Âu, thì giờ đây họ lại phải đối mặt với tình trạng ngược lại “đồng Euro yếu” Trong thời đại hiện nay, đồng Euro liên tiếp bị mất giá so với đồng Đôla Mỹ, tính đến tháng
2 năm 2000 đồng Euro mất tới 27% giá trị
Ngoài việc phải đối mặt với một số khó khăn kinh tế - xã hội như đã phân tích trên, hiện nay EU phải đối mặt với những thách thức lớn lao mà trước hết
đó là vấn đề mở rộng liên minh châu Âu Không giống như những lần mở rộng trước đây, vấn đề mở rộng thường nhằm đạt được mục đích đạt được hiệu quả về mặt kinh tế cho nên các đối tác lựa chọn của nó thường là các
Trang 27nước có trình độ phát triển tương đương với các nước thành viên cũ Nhưng trong xu thế phát triển của thế giới, việc mở rộng EU sẽ củng cố và tăng cường thêm vai trò chính trị của châu Âu trên diễn đàn thế giới, nhằm tăng cường thêm tiếng nói của châu Âu trong quan hệ với các cường quốc khác như
Mỹ, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc
Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay rất, nhiều vấn đề đặt ra cho Liên minh châu Âu, từ 6 nước ban đầu EU đã lên tới 28 nước, vấn đề mở rộng tổ chức, kết nạp thêm thành viên lại là vấn đề nan giải và thực sự là một thử thách đối với các nước EU Nhưng vấn đề đặt ra lúc bấy giờ, đó chính là sự chênh lệch mức sống giữa các nước thành viên cũ và các nước mới gia nhập Hiện nay, nền kinh
tế của các nước EU cũ đang khởi sắc, mức sống của của cư dân trong Liên minh châu Âu nhìn chung là khá cao, trong khi đó kinh tế của các nước mới gia nhập liên minh lại còn thấp GDP tính theo đầu người của Slovenia chỉ bằng 59% GDP bình quân của EU, tại Ba Lan con số này chỉ tương đương với 31%, Hunggari 37%, Cộng Hòa Séc là 55% Như vậy, phát triển ở các nước này còn chưa tương xứng với mặt bằng chung của EU cho nên rất có thể họ sẽ là “lực ì” cản trở sự phát triển của Liên minh châu Âu và hiển nhiên việc kết nạp các nước thành viên mới vào EU thì sẽ chất thêm gánh nặng cho các nước thành viên cũ
mà thôi Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, kết nạp thêm 5 nước xin gia nhập vào EU thì GDP theo bình quân đầu người của EU sẽ giảm từ 17,260 Euro xuống còn 15,740 Euro
Mặt khác việc kết nạp thêm thành viên mới sẽ buộc các nước EU phải hỗ trợ kinh phí không nhỏ để giúp các nước này về mặt kỹ thuật và cơ cấu Việc kết nạp thêm 10 thành viên mới sẽ tất yếu sẽ phải dẫn đến sự điều chỉnh về cơ cấu cho các ngành kinh tế để phù hợp với chính sách tự do hóa thương mại Tuy nhiên, sự điều chỉnh đó đòi hỏi một chi phí quá lớn làm giảm tăng trưởng kinh tế dẫn đến hạ thấp mức sống, pha loãng các khoản ưu tiên giành cho khu vực phát triển thấp trong nội bộ các nước EU cũ Vấn đề đặt ra nữa cho vấn
đề mở rộng, đó là liệu kết nạp quá nhiều quốc gia có nền văn hóa và chế độ chính trị khác nhau có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách chung của châu Âu hay không?
Trang 28Ngoài ra việc kết nạp thêm 10 thành viên mới sẽ khiến cho tình hình di dân và nhập cư lậu – vốn lâu nay là sự kiện xã hội khó giải quyết của EU – càng
có điều kiện bùng nổ Liên minh châu Âu sẽ tăng thêm 75 triệu dân trong đó Ba Lan chiếm tới 38 triệu dân, đông hơn cả 9 nước thành viên mới cộng lại Liệu
EU có thể giải quyết được tình trạng di dân tràn lan của các nước thành viên mới hay không?
Đó chính là câu hỏi đặt ra cho ban lãnh đạo EU trước vấn đề mở rộng và điều đó không chỉ được giải quyết ngay tức thời mà cần phải có quá trình chuẩn
bị lâu dài, bởi lẽ EU không muốn bị lên án là một tổ chức mang danh châu Âu
mà chỉ hạn chế cho một số ít nước
Thách thức thứ 2 đối với Liên minh châu Âu trong giai đoạn hiện nay đó
là vấn đề xây dựng cơ chế an ninh chung Trong lịch sử tồn tại của mình, EU đã không ít lần biểu hiện mong muốn có một cơ chế an ninh chung cho cả khu vực, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, thế giới quay cuồng trong cơn lốc của chiến tranh lạnh, nên châu Âu muốn thực hiện ý nguyện này để đảm bảo an ninh cho châu lục Tuy nhiên, mong muốn này đã bị mờ nhạt trước những ý đồ và tình trạng đối đầu Xô - Mỹ Ý tưởng của EU liên tiếp thất bại trong kế hoạch xây dựng cộng đồng phòng thủ châu Âu năm 1954, sau đó là kế hoạch Fouchet 1961
Đến đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc với hy vọng những mong muốn này sẽ mất đi cùng với thời gian nhưng do tính chất phức tạp của quan hệ quốc tế giai đoạn hậu chiến tranh lạnh như tình hình Nam Tư hay sự kiện Kôsôvô lại làm cho các nhà lãnh đạo EU ý thức được nguy cơ mất ổn định, bởi các cuộc xung đột ảnh hưởng đến sự phát triển của lục địa già cỗi này Đứng trước tình hình trên, EU luôn hành động trong khuôn khổ NATO – một tổ chức đều do Mỹ chi phối, nên châu Âu không có tiếng nói của chính mình cũng như không thể hành động theo cách nghĩ của riêng mình mà phải phụ thuộc rất nhiều vào cây gậy chỉ huy của Mỹ Còn đối với Mỹ, lúc này châu Âu đã không còn là vấn đề ưu tiên chiến lược như trong cuộc chơi không tỷ số của chiến tranh lạnh Trước đây ai nắm được châu Âu sẽ nắm được cả thế giới Ngày nay, trong thế giới đa trung tâm, với những vấn đề và sự cạnh tranh chiến lược đa dạng, sự việc
đã không còn như vậy nữa, trong thế giới vừa mang tính tổng thể vừa bị chia nhỏ của thời kỳ sau chiến tranh lạnh, mọi vấn đề đều được coi trọng nhưng
Trang 29không có cái gì có ý nghĩa quyết định cả Do đó, đối với Mỹ, châu Âu ngày nay vẫn là một ván bài quan trọng hàng đầu, nhưng người ta không còn có thể thuyết phục được một người Mỹ để anh ta chấp nhận rằng vận mệnh của thế giới quyết định ở châu Âu và đối với người châu Âu, họ cũng không thể nói với anh bạn đồng minh của họ là Mỹ, bảo vệ châu Âu tức là bảo vệ chính mình Tuy nhiên, lúc bấy giờ ánh hào quang châu Âu bỗng lóe lên và hơn bao giờ hết EU muốn có một bản sắc chung về an ninh, muốn chủ động trong các hoạt động quân sự để duy trì ổn định khu vực và có thể độc lập trong hành động bằng cách tách khỏi NATO để thành lập một lực lượng quân sự cho riêng mình Mong muốn xây dựng một chính sách an ninh và phòng thủ cho riêng mình nhưng vẫn nằm trong NATO và khi sức mạnh của EU đã tương đối lớn sẽ xuất hiện một hình ảnh châu
Âu độc lập về quốc phòng an ninh Liệu trên thực tế EU có thể thực hiện được mục tiêu của mình hay không khi mà xung đột khu vực diễn ra ngày càng phức tạp? Mặt khác, EU giải quyết vấn đề là có quá nhiều lực lượng quân đội cùng tồn tại và liệu quy chế nhà nước tập trung của Áo, Thụy Sỹ có còn không khi
EU có chính sách phòng thủ và an ninh chung Rất có thể từ những mục tiêu này
sẽ nảy sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng trong nội bộ các nước thành viên EU và còn một vấn đề khó khăn nữa là hiện nay chi phí quốc phòng của EU đã giảm tới 22% ở mỗi nước tình hình rất khác nhau; Tỷ lệ ngân sách quốc phòng của Anh – Pháp lần lượt là 2,7 và 2,8 GDP, Đức chiếm 1,5
Thách thức cuối cùng của các nước EU trong giai đoạn hiện nay đó chính
là vấn đề cải tổ Liên minh châu Âu, bởi lẽ thể chế và cách thức làm việc của Liên minh châu Âu hiện nay tỏ ra không còn phù hợp với tình hình thực tiễn Cơ cấu tổ chức của Liên minh Châu Âu 6 nước không còn thích hợp với Liên minh
28 nước như hiện nay và có thể số lượng thành viên sẽ mở rộng thêm trong tương lai Hiện nay, Ủy ban châu Âu đang bị chỉ trích rất nhiều về cách làm việc, quản lý yếu kém và không đủ ảnh hưởng chính trị
Do đó, việc cải cách thể chế EU là tất yếu Hiện nay Ủy ban châu Âu gồm
28 thành viên, dự án cải cách chủ trương sẽ giảm con số các ủy viên Thực tế cho thấy các nước lớn trong EU đều muốn giữ con số ủy viên của mình trong khi các nước nhỏ muốn đòi hỏi sự bình đẳng và khi EU mở rộng các nước thành viên thì chính đây sẽ là khó khăn thực sự khi đưa ra các nghị quyết của Ủy ban
Trang 30Vấn đề thứ hai trong quá trình cải tổ đó là cần phải mở rộng lĩnh vực bỏ phiếu bằng hình thức đa số áp đảo bởi vì hình thức bỏ phiếu đồng thuận trên thực tế là rất bất cập Nếu chỉ vài nước không bỏ phiếu tán thành thì dĩ nhiên các quyết định sẽ không được thực hiện Do đó, EU cần phải xem xét việc cải cách chế độ bỏ phiếu bằng cách tăng dần các lĩnh vực bỏ phiếu theo đa số áp đảo, điều này có nghĩa là một nước thành viên của EU sẽ phải áp dụng một chính sách chung ngay cả khi họ bỏ phiếu chống trong khi các nước khác bỏ phiếu thuận và xem xét lại chế độ tỷ lệ các phiếu cho các quyết định của Hội đồng bộ trưởng của Liên minh
Qua việc tìm hiểu những thách thức của Liên minh châu Âu, chúng tôi nhận thấy rằng châu Âu phồn vinh ngày nay cũng đang già cỗi dần và cần phải làm gì để có thể thích ứng với một cuộc tranh đua quốc tế đang ngày càng trở nên khắc nghiệt và đang được thế giới hóa Trước mắt, Liên minh châu Âu đang
có những nhiệm vụ khó khăn nhưng đầy hấp dẫn Tuy nhiên, EU sẽ phải tìm thấy lòng hào hiệp để có thể coi những khó khăn nói trên không phải là những khó khăn không thể khắc phục được mà đó là một cơ hội để thực hiện một sự tái sinh Chúng ta cần hy vọng rằng dân chúng sẽ hiểu điều đó và rằng những người
có thẩm quyền có thể giải thích được cho họ ý nghĩa cao cả của công cuộc mạo hiểm này Trong trường hợp ngược lại – EU cũng giống như bất kỳ một công trình nào khác của con người không có tương lai – tất sẽ bị diệt vong và rõ ràng chúng ta hy vọng điều đó sẽ không xảy ra trong tương lai
Trang 31CHƯƠNG II TỔ CHỨC HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ ASEAN 2.1 Quá trình hình thành và phát tiển của ASEAN
Ở Đông Nam Á, người đầu tiên đề xuất ý tưởng về việc thành lập một tổ chức khu vực là Thủ tướng Malaixia Ápđun Raman Sau khi Malaixia được trao trả độc lập, đầu năm 1958, Ápđun Raman đã kêu gọi các nhà lãnh đạo các quốc gia khu vực Đông Nam Á tổ chức hội nghị để bàn việc “thống nhất hành động trong khu vực” Tuy nhiên, chưa có nước nào hưởng ứng lời kêu gọi của ông Tháng 4- 1958, Ápđun Raman tiếp tục đưa ra đề nghị thành lập một tổ chức khu vực bao gồm các nước Malaixia, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Nam Việt Nam Sau đó, trong chuyến thăm chính thức Philíppin tháng 1- 1959, Ápđun Raman cùng Tổng thống Philíppin Cáclôt Gáxia đã thông qua thông cáo chung kêu gọi kí kết Hiệp ước hữu nghị và kinh tế Đông Nam Á (SEAFET) và mời Inđônêxia tham dự nhưng không thành công Những cố gắng của Thủ tướng Malaixia Ápđun Raman về việc thành lập một tổ chức khu vực vẫn chưa trở thành hiện thực Các nước Đông Nam Á tỏ ra thận trọng với việc thành lập tổ chức này
Năm 1961, các nước Malaixia, Thái Lan và Philíppin đã đi đến thỏa thuận
về việc thành lập Hội Đông Nam Á (ASA) Thể chế của ASA được xác định tại Hội nghị Băng Cốc tháng 6 - 1961 Mục tiêu của ASA là nhằm phát triển kinh
tế, văn hóa, khoa học giữa các nước hội viên Nhưng những mâu thuẫn trong tổ chức này đã dần xuất hiện ngay sau đó Năm 1962, giữa Malaixia và Philíppin
Trang 32đã bùng nổ tranh chấp về lãnh thổ (vùng Sabac, phía Bắc bán đảo Boócnêô) Tiếp đó, việc thành lập Liên bang Malaixia năm 1963 đã vấp phải sự phản đối của Philíppin và Inđônêxia Tình hình đó, đã dẫn đến sự tan vỡ của ASA sau hai năm tồn tại
Tháng 8-1963, theo sáng kiến của Tổng thống Philíppin Macapagan, 3 nước Malaixia, Philíppin, Inđônêxia đã đi đến thỏa thuận về việc thành lập một
tổ chức mới với tên gọi MAPHILINDO Khác với ASA, MAPHILINDO có sự tham gia của Inđônêxia, quốc gia lớn nhất, đông dân nhất Đông Nam Á Tuy nhiên, tổ chức này cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi do chính sách đối đầu (Konfrontasia) của Inđônêxia đối với việc thành lập Liên bang Malaixia (tháng 9-1963) Ngay cả Philíppin cũng không công nhận Liên bang Malaixia do
có những bất đồng về vấn đề Sabac Tình trạng căng thẳng trong quan hệ giữa các nước nêu trên chỉ chấm dứt vào năm 1965, sau khi Xuháctô lên cầm quyền ở Inđônêxia
Một nhân tố đặc biệt quan trọng thúc đẩy xu hướng liên kết khu vực Đông Nam Á là những tác động của tình hình thế giới và khu vực trong thập niên
1960 Trong đó, cuộc chiến tranh Đông Dương đang biến Đông Nam Á thành địa điểm tranh giành giữa các nước lớn Liên Xô, Trung Quốc có vai trò ngày càng tăng thông qua việc ủng hộ, giúp đỡ cho một số Đảng cộng sản trong khu vực Quan hệ phức tạp giữa Mĩ - Xô – Trung và sự giúp đỡ trực tiếp của Trung Quốc cho các Đảng cộng sản ở Đông Nam Á đã gây ra mối lo ngại của chính quyền các nước này về khả năng tràn lan của chủ nghĩa cộng sản Việc Mĩ tiếp tục tham gia và ngày càng xa lầy trong chiến tranh Việt Nam đã khiến cho một
số nước Đông Nam Á đứng về Mĩ trong cuộc chiến phải tính toán lại chiến lược
để đối phó với tình hình mới Các nước Đông Nam Á nhận thức rằng, cách tốt nhất để giảm sự chi phối của các nước lớn là liên kết với nhau và dựa vào nhau trong một tổ chức khu vực vừa để đảm bảo hòa bình, an ninh khu vực, vừa tạo nên sức mạnh tập thể để đối phó với các nước lớn Bên cạnh đó, mục tiêu ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở trong nước và từ bên ngoài, cũng được đặt ra đối với các nước Đông Nam Á trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh đang bao trùm toàn thế giới
Trang 33Trong tình hình đó, Chính phủ các nước Đông Nam Á nhận thức rõ cần phải tiến tới thành lập một tổ chức khu vực nhằm thúc đẩy sự liên minh giữa các nước có lợi ích lâu dài và cơ bản trùng hợp nhau để đối phó với những vấn đề bên trong cũng như những tác động tiêu cực từ bên ngoài nhằm duy trì sự ổn định an ninh – chính trị, tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế - xã hội…
Cuối năm 1966, Ngoại trưởng Thái Lan gửi đến Ngoại trưởng các nước Inđônêxia, Malaixia, Philíppin và Singapo bản dự thảo về việc tổ chức hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á về hợp tác khu vực Sau nhiều cuộc thảo luận, ngày 8- 8- 1967, Ngoại trưởng 5 nước đã họp tại Băng Cốc và chính thức đưa ra tuyên
bố Băng Cốc về việc thành lập hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association
of Southeast Asian Nations – ASEAN)
Tuyên bố Băng Cốc là văn kiện đầu tiên, quan trọng nhất, nêu rõ 7 mục tiêu của tổ chức này :
- Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các nước Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng
- Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc pháp luật trong quan hệ giữa các nước trong khu vực và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến pháp Liên hợp quốc
- Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ nhau trong các vấn đề cần quan tâm trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học – kĩ thuật và hành chính
- Giúp đỡ lẫn nhau giữa các hình thức đào tạo và cung cấp phương tiện nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kĩ thuật và hành chính
- Cộng tác có hiệu quả hơn để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và các ngành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn
đề buôn bán hàng hóa giữa các nước, cải thiện các phương tiện giao thông, liên lạc, nâng cao mức sống của nhân dân
- Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á
- Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực có tôn chỉ và mục đích tương hợp và tìm kiếm các cách thức nhằm đạt được một sự hợp tác chặt chẽ nữa giữa các tổ chức này