1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu về lễ hội gầu tào của người mông ở huyện si ma cai, tỉnh lào cai

66 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù dân tộc Mông được xếp vào nhóm dân tộc thiểu số nhưng ở Lào Cai đây lại là dân tộc chiếm đa số, trong quá trình phát triển của mình người Mông đã góp phần to lớn vào quá trình phá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

THÀO A LONG

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ LỄ HỘI GẦU TÀO CỦA NGƯỜI MÔNG Ở HUYỆN SI MA CAI,

TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

THÀO A LONG

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ LỄ HỘI GẦU TÀO CỦA NGƯỜI MÔNG Ở HUYỆN SI MA CAI,

TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS Phí Thị Toan

Sơn La, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - Thạc sĩ Phí Thị Toan, giảng viên môn Lịch Sử Việt Nam, khoa Sử - Địa đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo, đóng góp nhiều ý kiến bổ ích giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Em cũng xin gửi lời cảm ơn cô giáo chủ nhiệm cố vấn học tập Hoàng Thị Thanh Giang, tới các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, Phòng quản lý quan hệ quốc tế, thư viện trường Đại học Tây Bắc, Phòng văn hóa huyện Si Ma Cai - Lào Cai, Ban tuyên giáo và các bà con nhân dân huyện Si Ma Cai - Lào Cai đã cung cấp tài liệu, tư liệu để em có những trang viết khá đầy đủ, chân thực khi thực hiện đê tài này

Em xin cảm ơn toàn thể các bạn sinh viên lớp K52 Đại học sư phạm Sử - Địa đã động viên, giúp đỡ em hoàn thành đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, ngày 05 tháng 05 năm 2015

Sinh viên Thào A Long

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp đề tài: 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

3.3 Mục đích nghiên cứu 4

3.4 Những đóng góp của đề tài 4

4 Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Cơ sở tư liệu 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Cấu trúc của đề tài 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN SI MA CAI 6

1.1 Khái quát về vị trí, đặc điểm tự nhiên và xã hội 6

1.1.1 Vị trí 6

1.1.2 Địa hình 6

1.1.3 Khí hậu, thủy văn 7

1.1.4 Đặc điểm xã hội 7

1.2 Tình hình dân cư - văn hóa - xã hội 9

1.3 Truyền thống đoàn kết, chống giặc ngoại xâm 14

CHƯƠNG 2: LỄ HỘI GẦU TÀO CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI MÔNG Ở SI MA CAI, LÀO CAI 18

2.1 Nguồn gốc lễ hội Gầu Tào 18

2.2 Đặc điểm và công việc chuẩn bị cho lễ hội Gầu Tào 20

2.2.1 Đặc điểm của lễ hội Gầu Tào 20

2.2.2 Công việc chuẩn bị cho lễ hội 21

2.2.3 Thời gian và không gian diễn ra lễ hội 24

2.3 Lễ hội Gầu Tào 25

Trang 5

2.3.1 Phần lễ 25

2.3.2 Phần hội 31

CHƯƠNG 3: LỄ HỘI GẦU TÀO TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY 41

3.1 Lễ hội Gầu Tào trong bối cảnh đổi mới, công nghiệp hóa hiện đại hóa 41

3.2 Lễ hội Gầu Tào ở huyện Si Ma Cai so với lễ hội Gầu Tào của các huyện trong tỉnh Lào Cai 44

3.3 Tác dụng của lễ hội Gầu Tào đối với đời sống văn hóa của người Mông 46

3.4 Những nguyên nhân làm cho lễ hội Gầu Tào biến đổi 47

3.5 Kiến nghị và đề xuất 48

3.5 Ý nghĩa Lễ hội Gầu Tào 50

KẾT LUẬN 53

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 6

sự đa dạng và phong phú trong văn hóa Việt Nam Nó tạo thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình lịch sử của dân tộc Với nền văn hóa Việt Nam dân tộc ta đã tồn tại và không ngừng phát triển suốt hơn 2000 năm trải qua bao thăng trầm biến động của lịch sử, Việt Nam không ngừng đi lên

Trong số các dân tộc tạo nên văn hóa Việt Nam, thống nhất trong đa dạng, dân tộc Mông là một trong những dân tộc có đóng góp to lớn tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam Dân tộc Mông cư trú rải rác ở các tỉnh Yên Bái, Lào Cai… nhưng tập trung đông nhất ở Lào Cai Mặc dù dân tộc Mông được xếp vào nhóm dân tộc thiểu số nhưng ở Lào Cai đây lại là dân tộc chiếm đa số, trong quá trình phát triển của mình người Mông đã góp phần to lớn vào quá trình phát triển kinh

tế xã hội đặc biệt là góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần đối với tỉnh Lào Cai Trong sự phát triển chung ấy không thể không kể đến sự đóng góp của người Mông ở huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai Do đó việc tìm hiểu đời sống kinh tế vật chất đặc biệt là đời sống văn hóa tinh thần của người Mông

là một điều vô cùng quan trọng Nó không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ về đời sống của họ mà góp phần nâng cao hiểu biết của mình một cách toàn diện và sâu sắc cũng như nhìn nhận đánh giá chính xác hơn về dân tộc Mông ở huyện Si Ma Cai nói riêng và Lào Cai nói chung Cho đến nay rất nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Mông được công bố nhưng do nhiều lí do khác nhau mà lễ hội Gầu Tào của người Mông ở huyện Si Ma Cai, Lào Cai vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống và chi tiết Do đó tôi quyết định chọn vấn đề :

“Bước đầu tìm hiểu về Lễ Hội Gầu Tào của người Mông ở huyện Si Ma Cai,

tỉnh Lào Cai.”

Trang 7

2

Sau hơn 20 năm đổi mới đất nước, nước ta đã thay da đổi thịt từng ngày,

xã hội không ngừng phát triển nó đã tác động tới mọi mặt đời sống xã hội Sự giao lưu văn hóa càng được mở rộng giữa các dân tộc với nhau Bên cạnh việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Mông đang tiếp thu những yếu tố mới Vậy lễ hội Gầu Tào của người Mông ở Si Ma Cai tỉnh Lào Cai có bị mai một đi không? Điều này chúng ta cần làm sáng tỏ hơn nữa Sinh ra tại miền núi với thiên nhiên tươi đẹp, những con người bình dị mộc mạc sống chan hòa với thiên nhiên Tôi cảm thấy tự hào về nguồn gốc của mình Tôi thấy sự thân thiện, thật thà chất phát của con người dân tộc tôi Bằng lòng ham mê và yêu khoa học, nó đã thôi thúc tôi tìm hiểu về đời sống văn hóa của người Mông đặc biệt là “Lễ hội Gầu Tào” nên tôi quyết định chọn đề tài: “Bước đầu tìm hiểu về lễ hội Gầu Tào của người Mông ở huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai” Với hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc bảo tồn và phát huy những giá tri văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Mông ở Si Ma Cai, Lào Cai

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trải dài trên mảnh đất Việt Nam nhỏ bé hình chữ S có 54 dân tộc anh em cùng chung sống Mỗi dân tộc lại có bản sắc văn hóa riêng của mình, chính những nét văn hóa riêng ấy đã góp phần dệt nên bức tranh văn hóa Việt Nam sống động đầy màu sắc Do đó việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của các dân tộc đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng Chính vì vậy mà việc nghiên cứu về đời sống văn hóa của dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Mông nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu về người Mông, trong đó phải kể đến: Lễ hội “Gầu Tào” đã được một số tác giả như Doãn Thanh, Lê Trung Vũ, tìm hiểu và giới thiệu trong tạp chí chuyên ngành Các công trình nghiên cứu khác phải kể đến như: “Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam.” (2002) của GS.TS.Hoàng Lương đã nghiên cứu và khái quát những nét tiêu biểu, đặc sắc, những truyền thống tốt đẹp, phong tục tập quán của lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam

Trang 8

3

Cuốn “Lễ hội truyền thống của Lào Cai” (1999) của Trần Hữu Sơn (chủ biên) nghiên cứu về những nét đẹp truyền thống của các lễ hội ở Lào Cai trong

đó có nhắc tới lễ hội Gầu Tào của người Mông

Cuốn “Các dân tộc Hà Giang” (2003) do Lê Duy Đại và Triệu Đức Thanh (chủ biên) Đây là công trình nghiên cứu về các dân tộc sống trên địa bàn tỉnh

Hà Giang trong đó có nhắc tới nguồn gốc và sự phát triển của dân tộc Mông Cuốn “Người Mông” do Chu Thái Sơn, TS.Trần Thị Thu Thủy(chủ biên) - Nhà xuất bản trẻ 2005 Đã nghiên cứu khá chi tiết những đặc trưng tiêu biểu về vật chất và tinh thần của người Mông

Còn rất nhiều công trình khác nữa và qua các tác phẩm trên ta thấy các tác giả đã phần nào đề cập đến cuộc sống con người, các phong tục tập quán trong văn hóa Mông cổ truyền song phạm vi còn rộng và còn mang tính khái quát Việc tìm hiểu về lễ hội của người Mông ở Si Ma Cai, Lào Cai chưa có tác phẩm nào đề cập đến một cách cụ thể chi tiết Do đó đây là một vấn đề mới cần được quan tâm tìm hiểu

Hy vọng với đề tài “Bước đầu tìm hiểu về lễ hội Gầu Tào của người Mông

ở Si Ma Cai, Lào Cai” sẽ ít nhiều góp phần tìm hiểu những nét độc đáo riêng trong lễ hội “Gầu Tào” nói chung Đồng thời góp phần giáo dục truyền thống văn hóa, ý thức, giữ gìn bản sắc dân tộc cho thế hệ trẻ

3 Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp đề tài:

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Trên cơ sở của những công trình nghiên cứu về lễ hội của người Mông, đề tài tập trung nghiên cứu “Lễ hội Gầu Tào của người Mông ở Si Ma Cai, Lào Cai.”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Để đi sâu tìm hiểu nội dung nghiên cứu của đề tài, đề tài chủ yếu nghiên cứu về “Lễ hội Gầu Tào của người Mông ở Si Ma Cai, Lào Cai” Phạm vi tập trung ở các xã Sín Chéng, Bản Mế, Nàn Sán, Thao Chư Phìn, Cán Cấu… và có

sự so sánh với các huyện trong tỉnh Lào Cai

Trang 9

3.4 Những đóng góp của đề tài

Trong đề tài này, tôi muốn khôi phục lại bức tranh văn hóa truyền thống của người Mông ở huyện Si Ma Cai, Lào Cai Qua đó, giúp chúng ta hiểu những tục lệ tốt đẹp của ông cha ta từ xa xưa để lại cho con cháu thế hệ hôm nay

và mai sau Đồng thời góp phần vào việc gìn giữ và phát huy những nét văn hóa đẹp đẽ ấy

Để tài hoàn thành sẽ cung cấp nguồn tư liệu cho việc nghiên cứu, tìm hiểu

về lịch sử địa phương Đặc biệt là tìm hiểu văn hóa của các tộc người thiểu số nói chung, văn hóa của người Mông nói riêng, trong việc nghiên cứu giảng dạy lịch sử địa phương Để từ đó đề ra những giải pháp nhằm bảo vệ và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc trong xu thế phát triển mới của xã hội

4 Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở tư liệu

Nguồn tư liệu về người Mông đã được sưu tầm và tìm hiểu từ rất lâu Sau khi đất nước giải phóng các nhà nghiên cứu có điều kiện để tìm hiểu, đánh giá, nghiên cứu cụ thể hơn về người Mông, đặc biệt là ở Lào Cai Đó là những tư liệu, các văn bản của Đảng bộ địa phương, các báo dân tộc, các tạp chí chuyên ngành về lễ hội và một nguồn tư liệu quan trọng từ công tác điền dã

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu là:

- Phương pháp lịch sử

Trang 10

5

- Phương pháp logic

- Hệ thống phương pháp điều tra điền dã, sưu tầm thơ ca

- Phương pháp phân tích, đánh giá

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm III chương:

Chương 1: Khái quát chung về Si Ma Cai, Lào Cai

Chương 2: Lễ hội Gầu Tào cổ truyền của người Mông ở huyện Si Ma Cai, Lào Cai

Chương 3: Lễ hội Gầu Tào trong công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay

Trang 11

6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN SI MA CAI

1.1 Khái quát về vị trí, đặc điểm tự nhiên và xã hội

1.1.1 Vị trí

Si Ma Cai là một huyện của Tỉnh Lào Cai, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Địa bàn có tọa độ địa lý từ 22o35’ đến 22o44’ độ Kinh Bắc,104o

06’ đến 104o

12’ độ Kinh Đông Cách trung tâm tỉnh lỵ Lào Cai 95 km về phía Đông Bắc

- Phía Tây và một phần phía Bắc giáp huyện Mường Khương

- Phía Nam giáp huyện Bắc Hà

- Phía Đông giáp huyện Sín Mần (tỉnh Hà Giang)

- Một phần phía Bắc với 12,2 km đường biên giới giáp huyện Mã Quan (tỉnh Vân Nam - Trung Quốc)

1.1.2 Địa hình

Địa hình Si Ma Cai được kiến tạo bởi nhiều dải núi chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, thấp dần về phía Bắc, có đặc trưng phân tầng độ cao lớn và chia cắt mãnh liệt với nhiều thung lũng nhỏ hẹp Các dải núi được hình thành từ hai mạch núi chính: Mạch núi trung tâm địa bàn huyện khởi nguồn từ Đông Nam

xã Nàn Sán với nhiều đỉnh núi có độ cao từ 1.630 m đến 1.800 m chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Phía Đông Bắc xã Sán Chải, mạch núi khu Tây Bắc chạy theo hướng chính là Đông Bắc - Tây Nam Ngoài hai mạch núi chính trên khu Đông Nam còn có dãy núi nhỏ chạy từ Bắc Hà sang theo hướng Đông Bắc - Tây Nam

Si Ma Cai có diện tích 234,54 km2, trong đó đất nông nghiệp có 6.447,7 ha, đất lâm nghiệp 4.298,5 ha Địa hình có độ dốc khá lớn, trên 25 độ chiếm 53% diện tích; từ 15 độ đến 25 độ chiếm 32% diện tích; dưới 15 độ chiếm 15% diện tích Đất lâm nghiệp huyện Si Ma Cai chiếm 18,37% diện tích đất tự nhiên Là huyện có diện tích rừng tự nhiên chiếm tỉ lệ thấp Tài nguyên rừng nghèo hơn các huyện khác của tỉnh Lào Cai

Trang 12

7

Khoáng sản có quặng chì, kẽm ở xã Bản Mế với trữ lượng 150 ngàn tấn Khí hậu trong lành mát mẻ quanh năm nên Si Ma Cai có tiềm năng du lịch lớn

1.1.3 Khí hậu, thủy văn

Do địa hình bị chia cắt mạnh nên khí hậu Si Ma Cai diễn biến khá phức tạp, hình thành nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt Có hai tiểu vùng khí hậu chính là cận nhiệt đới và nhiệt đới, vùng ven sông Chảy bao gồm các vùng đất thấp gồm các xã Lùng Sui, Sán Chải, Nàn Sán, Bản Mế, Nàn Sín, là vùng khí hậu nhiệt đới không điển hình Phần đất cao trên 800 m thuộc các xã Quan Thần Sán, Cán Hồ, Sán Chải, Nàn Sín, Thào Chư Phìn có khí hậu cận nhiệt đới Nhiệt

độ trung bình cả năm khoảng 18,9OC, tháng lạnh nhất khoảng 10OC, chế độ nhiệt nhiệt độ có sự thay đổi rõ rệt giữa hai mùa, thậm chí khác biệt trong phạm

vi một xã Ở vùng ven sông Chảy và trong các thung lũng, nhiệt độ thường cao, cường độ chiếu sáng lớn hơn so với khu vực các đai cao trên 800m Lượng mưa trung bình cả năm đạt từ 1.300 mm đến 2.000 mm Mưa tập trung vào các tháng

6, 7, 8 độ ẩm không khí trung bình cả năm đạt từ 83% đến 87% Độ ẩm có tỉ lệ lớn về mùa mưa và thay đổi theo từng vùng Đất đai huyện Si Ma Cai màu mỡ Quá trình bào mòn rửa trôi đã bồi tụ nên nhiều vùng có lớp đất màu phong phú, bao gồm đất màu đỏ, đất màu vàng thích hợp với nhiều loại cây trồng Dọc theo sông Chảy có nhiều dải đất bằng phẳng và các thung lũng có lớp đất phù sa rất dày thích hợp trồng các loại cây lương thực, nhất là lúa, ngô

Sông Chảy bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chảy vào miền Bắc nước ta qua địa phận huyện Si Ma Cai với tổng chiều dài 43 km, có ý nghĩa quan trọng đối với chiến lược phòng thủ biên giới của huyện Ngoài sông Chảy,

Si Ma Cai còn có hệ thống khe suối tương đối dày đặc chảy từ dãy núi cao xuống thung lũng, song phần lớn các suối bị cạn nước vào mùa khô Do địa hình

có độ dốc lớn, độ chi cắt mạnh, khí hậu lượng mưa không đồng đều gây khó khăn trong việc phát triển kinh tế xã hội

1.1.4 Đặc điểm xã hội

Lịch sử khoa học phương Tây và Châu Á nghiên cứu về người Mông đầu tiên ở Sibria của nước Nga [13] Sau đó mới xuống theo hướng Đông Nam vào

Trang 13

8

Hồ Nam - Trung Quốc khoảng 2500 năm TCN, tiếp tục tiến sâu vào phía Nam cho đến khi gặp khúc uốn quanh của sông Hoàng Hà Người Mông gặp nhóm người Lung Shang ở đây, họ cùng người Lung Shang thành lập vương quốc đầu tiên của vùng này người Mông cũng là dân tộc cổ nhất ở Châu Á Theo lịch sử Trung Quốc cho rằng sự kiện đầu tiên làm cho người Mông bắt đầu di cư đi nơi khác là cách đây khoảng 4000 năm Trung Quốc có một vị tướng tên là Huan You lần đầu đánh bại người Mông, tự xưng là Hoang Ti, người Mông đã nhiều lần chống lại Hoang Ti nhưng đến thế kỉ 26 TCN thì người Mông bắt đầu di cư đến phía Nam vào vùng Quý Châu Vân Nam Sau sự kiện đó người Mông đã trở thành cư dân vùng ngoại biên của nhà Thương Đến thời kì nhà Chu, họ dồn người Mông vào sống tập trung San wei Từ đó thế kỉ IV sau công nguyên sự suy tàn của phong kiến Trung Quốc người Mông đã đứng lên làm chủ vùng Hồ Bắc, Hồ Nam - Trung Quốc Nhưng không lâu khoảng thế kỉ IX bị người Hán giành lại, truy đuổi người Mông xuống vùng Quý Châu, Tứ Xuyên khiến cho người Mông bị mất tổ quốc, sau đó người Mông tiếp tục dời Tứ Xuyên vào phía Nam để khỏi sự tàn sát của người Há Dần dần như vậy người Mông mới thiên

di vào miền Bắc Việt Nam, Lào, Myanma và Đông Bắc Thái Lan sống rải rác thành các nhóm ở nước này Theo các điều tra thì người Mông có mặt sớm nhất

ở Việt Nam vào khoảng thế kỉ XVII, với nhiều đợt lớn nhỏ vào Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu người Mông thiên di vào nước ta chia làm 3 đợt: đợt sớm nhất là 350 năm, đó là nhóm Mông sống ở Tàu Làn di cư xuống Mèo Vạc - Hà Giang hiện nay Đợt thứ hai cách đây khoảng 200 năm và đây cũng là đợt người Mông di cư nhiều nhất vào Việt Nam Họ tràn theo hai hướng, một hướng tiếp tục di cư xuống Đồng Văn - Hà Giang, một hướng vào vùng Si Ma Cai rải rác ở các xã Mường Khương Đợt thứ ba cách đây khoảng 150 năm người Mông tiếp tục di cư xuống Si Ma Cai và Mường Khương đi sâu vào vùng Tây Bắc Từ đó người Mông sống rải rác các xã, các bản như hiện nay Địa bàn Si Ma Cai từ thời Hùng Vương thuộc đất Tây Âu của Thục Phán Thời kì Bắc thuộc là vùng đất thuộc châu Cam Đường, quận Giao Chỉ

Trang 14

9

Đến thời Lý thuộc đất Đăng Châu, đời Trần thuộc lộ Quy Hóa Từ thời Lê đến trước khi thực dân Pháp chiếm đóng, Si Ma Cai thuộc động Ngọc Uyển, châu Thủy Vĩ, phủ Quy Hóa, tỉnh Hưng Hóa Năm 1906 tỉnh Lào Cai được thành lập, Si Ma Cai là một trong 3 tổng của châu Bắc Hà gồm Man Tổng, Ngọc Uyển, và Si Ma Cai Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Si Ma Cai là một trong 4 tổng của huyện Bắc Hà thuộc tỉnh Lào Cai đó là: Bắc Hà, Lùng Phình, Si

Ma Cai và Bảo Nhai Năm 1967 huyện Bắc Hà được chia làm hai huyện là Bắc Hà

và Si Ma Cai Năm 1976, Si Ma Cai là một huyện của Hoàng Liên Sơn Năm 1979,

Si Ma Cai và Bắc Hà sát nhập vào thành huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai Năm 2000, huyện Bắc Hà tách thành huyện Si Ma Cai và Bắc Hà thuộc tỉnh Lào Cai

Từ thời nguyên thủy địa bàn Si Ma Cai đã là nơi cư trú của người cổ Trải qua quá trình di cư, Si Ma Cai đã có thêm nhiều tộc người ở các nơi đến sinh sống Hiện nay huyện có bốn dân tộc anh em chung sống gồm có Mông, Nùng, Thu Lao, Kinh Đầu thế kỉ XX địa bàn Si Ma Cai có thêm 3.000 người Năm

1950 có trên 9.500 người Năm 2000 dân số Si Ma Cai tăng lên 25.325 người 4.176 hộ, bao gồm 11 dân tộc anh em, là huyện có tỷ lệ dân tộc thiểu số sinh sống lớn nhất tỉnh Lào Cai Trong đó người Mông chiếm đại đa số 80% sau đó là người Nùng, La Chí, Thu Lao,…mỗi dân tộc cư trú thành từng làng, bản riêng và có nét đặc trưng văn hóa rất phong phú Đến năm 2000, toàn huyện có 13 xã, mỗi xã có từ

7 đến 12 thôn bản Toàn huyện có 90 thôn bản Tổng số người trong độ tuổi lao động có 12.350 người chiếm 48,7% dân số của huyện Lao động chủ yếu là lao động nông, lâm nghiệp (chiếm 87% lực lượng lao động toàn huyện)

1.2 Tình hình dân cƣ - văn hóa - xã hội

* Đôi nét về huyện Si Ma Cai

Địa danh Si Ma Cai theo âm tiếng Mông là Xênh Mùa Ca, có nghĩa là

“Chợ ngựa mới” Xưa kia chợ họp 6 ngày một phiên ở phố cũ tương đối bằng phẳng, nên người dân dựng nhà san sát hai bên đường tạo thành dãy phố Về sau

do yêu cầu mở rộng, chợ được chuyển lên phía trên địa thế thoáng đãng, thuận tiện cho giao thương và cái tên Si Ma Cai “Chợ ngựa mới” được hình thành để phân biệt với chợ cũ Si Ma Cai thuộc địa bàn cao nguyên đá vôi cổ Những hiện vật

Trang 15

10

khảo cổ học đã được phát hiện dọc hai bên sông Chảy khẳng định: Cách ngày nay gần một vạn năm, người nguyên thủy đã sinh sống tại Si Ma Cai, họ tạo nên những công cụ sản xuất bằng đá vôi ghè đẽo ở rìa cạnh (thuộc nền văn hóa Sơn Vi) Đến thời dựng nước, cư dân Si Ma Cai đã sinh sống tập trung thành từng cụm điểm ven sông Chảy, dựa vào nguồn tự nhiên để khai phá ruộng nước

Do điều kiện địa hình núi non trùng điệp nên tổng diện tích đất canh tác lúa nước của huyện Si Ma Cai bình quân đầu người thấp, người dân sống chủ yếu dựa vào diện tích đất nương đồi Điều kiện sản xuất khó khăn vất vả, nhưng con người Si Ma Cai vẫn luôn yêu quý mảnh đất của mình Cần cù sáng tạo là truyền thống quý báu của người dân Si Ma Cai Người Mông Si Ma Cai có kĩ thuật và kinh nghiệm thâm canh cây ngô Ngô là cây lương thực chính của đồng bào dân tộc Mông gieo trồng cả trên núi cao, núi đá Với kĩ thuật canh tác và sử dụng phân bón rất khoa học, đồng bào Mông ở Si Ma Cai đã tạo nên những nương ngô tươi tốt cho năng suất, sản lượng rất cao ngay cả trên những mảnh đất được coi là khắc nghiệt Ngoài ra còn có một số loại cây ăn quả mơ mận cũng đang phát triển về diện tích và sản lượng góp phấn thúc đẩy kinh tế hộ gia đình Ở vùng đất thấp, người Nùng tập trung khai khẩn thung lũng hoang

vu thành những cánh đồng lúa màu mỡ Ở Si Ma Cai các đồng bào dân tộc còn sáng tạo các làng nghề thủ công có giá trị Điển hình là nghề rèn đúc của người Mông với kĩ thuật tôi thép rất cao tạo ra các sản phẩm công cụ sản xuất có giá trị rất cao Bên cạnh nghề đúc rèn còn có nghề dệt và thêu, vải Lanh của người Mông Si Ma Cai có từ rất sớm đã trở thành loại vải quý hiếm được chọn làm quà tặng cho khách phương xa Người Mông thường đáng giá về phẩm chất của người thanh niên:

“Gái đẹp mà không biết làm Lanh cũng xấu Trai khỏe không biết làm nương cũng hèn” [9, tr.12]

Cùng với nghề dệt thêu đạt tới trình độ kĩ thuật khá tinh tế Nghệ thuật sáng tạo hoa văn bằng in sáp ong, thêu ghép vải màu phụ nữ Mông đã tạo ra phong cách nghệ thuật trang trí nền trang phục độc đáo

Trang 16

11

Trang phục phụ nữ Mông không khoe vẻ đẹp cơ thể qua kĩ thuật cắt khâu

mà chủ yếu thể hiện vẻ đẹp qua các mô típ trang trí và màu sắc hoa văn Phụ nữ Mông là tác giả nghệ thuật tạo hình trên nền trang phục Cả cuộc đời người phụ

nữ gần như gắn bó với công việc thêu dệt và in hoa văn Em bé gái Mông mới

có 9, 10 tuổi đã được các mẹ, các chị tập cho thêu thùa Nét đẹp của đức tính đó thể hiện rất rõ trong thơ ca của đồng bào Mông:

“Lớn lên anh theo cha đi cày nương, Theo anh vào rừng săn thú,

Lớn lên em theo mẹ tập thêu, Theo chị nhuộm in hoa trên váy mới” [9, tr.12]

Hạnh phúc của mỗi cặp vợ chồng, niềm vui của mỗi gia đình được phản ánh ngay trong bức tranh sinh hoạt Người vợ ngồi thêu, chồng thổi khèn hoặc giúp vợ trong công việc thêu thùa

“Cuối nhà là nơi em ngồi thêu váy, Đầu nhà là nơi anh thổi sáo múa khèn,

Em thêu váy mới không có sáp,anh ra chợ kiếm,

Em in hoa mới không biết đường,anh cầm que vạch giúp” [9, tr.13]

Sắc thái văn hóa dân tộc Mông Si Ma Cai phản ánh rõ nét nhất ở lễ hội Gầu Tào, đây là lễ hội của người Mông ở Si Ma Cai phản ánh kho tàng văn hóa dân tộc độc đáo Lễ hội có nội dung cầu phúc hoặc cầu mệnh

Bên cạnh đó trong kho tàng văn hóa của người Mông còn có sự độc đáo với lễ hội “Cúng rừng”, lễ hội cúng rừng của người Mông có ý nghĩa giáo dục truyền thống sâu sắc thông qua quy ước thôn bản và các làn điệu dân ca thấm đậm trữ tình Ngoài ra người Mông Si Ma Cai còn có những điệu múa in đậm dấu ấn các thế võ cổ truyền như múa gậy sênh tiền, múa khăn, múa gậy có động tác võ thuật nhanh, gắn với thiên nhiên, bảo tồn các rừng cấm, bảo vệ môi trường, đây là nét độc đáo trong vũ hội Si Ma Cai

Sắc thái văn hóa dân tộc Mông Si Ma Cai phản ánh nhất ở chợ phiên, chợ phiên không chỉ là trung tâm trao đổi kinh tế mà còn là nơi giao lưu văn hóa Nếu như ở Sa Pa, Bắc Hà và nhiều nơi khác yếu tố văn hóa bị ảnh hưởng mạnh

Trang 17

12

bởi yếu tố thị trường thì ở Si Ma Cai vẫn còn giữ nguyên được sắc thái bản địa Thể hiện người đến chợ giao lưu tình cảm, hỏi thăm tin tức họ hàng, kinh nghiệm làm ăn trên bàn “Thắng Cố” với bát rượu nồng nàn thắm tình dân tộc Cũng từ đây mà họ có thêm bạn bè, anh em kết nghĩa khi đã thổ lộ hết tâm can Huyện Si Ma Cai là một trong những cái nôi bảo vệ văn hóa truyền thống độc đáo của các dân tộc

* Loại hình văn hóa

Văn hóa vật chất:

Nhà cửa: do đặc điểm địa hình, đặc điểm khí hậu nên nó đã quy định nhà cửa phù hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế Nhà cửa của người Mông đất khung gỗ được làm bằng nhiều loại gỗ khác nhau nhưng phải là loại

gỗ bền, lâu năm, kết hợp với kèo gồm hai mái lớn và hai mái nhỏ nhà có ba gian, gian giữa là gian để thờ Nguyên liệu lập nhà chủ yếu là có tranh và ngói Trong nhà có cột ma, đây là cột được coi là thiêng liêng nhất, người lạ và phụ nữ không được treo bất cứ thứ gì vào cột

Trang phục: trang phục truyền thống của người Mông nơi đây được làm bằng sợi lanh Kĩ thuật, thời gian nguyên liệu để làm được một bộ quần áo và váy phải qua rất nhiều công đoạn Đó là bắt đầu từ trồng lanh, rồi chặt cây tước

vỏ lấy sợi, quá trình xe tuy không mấy phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian và sự tranh thủ ở mọi lúc, mọi nơi Sự khéo léo và bàn tay thoăn thoắt của người phụ

nữ Mông trở thành biểu tượng của đức tính cần cù và chăm chỉ Khi sợi lanh xe được hoàn thành, họ cho vào nồi nấu cùng nước vôi để tách vỏ khỏi sợi lanh bằng các nấu rồi mới mang đi giặt và phơi khô Sau đó mới cho vào guồng quay

và trúc để xe lại cho nhỏ và chắc hơn, cuối cùng sợi lanh được lắp vào khung cửi để dệt thành vải Khi thành vải rồi nhuộm bằng củ nâu và một số loại cây trồng lá rộng, người Mông gọi là “Nkaj” Kỹ thuật làm thuốc hay màu nhuộm cũng rất cầu kì Họ chặt cây ngâm vào trong nước một thời gian khi thuốc thối nát hết rồi mới cho lên đun, đặc lại rồi mới pha thêm nước của cây đó hòa tan mới nhúng vải xuống rồi mang đi phơi khô Như vậy đã có vải và váy theo như

ý muốn Hiện nay trang phục thường làm bằng vải công nghiệp Trang phục của

Trang 18

13

người phụ nữ Mông rất sặc sỡ, đa dạng gồm: Váy, áo yếm, khăn cuốn đầu, xà cạp Váy của phụ nữ Mông có hình nón cụ, xếp nếp xòe rộng Khi bước đi váy đung đưa lượn sóng Trang phục đàn ông giống như đàn ông Nùng: quần dài, đũng chân què, cạp lá tọa, áo ngắn ống rộng, cổ đứng mở bụng cài khuy, quần

áo đều màu chàm nhưng kĩ thuật khâu may khác nhau

Văn hóa tinh thần:

Tín ngưỡng tôn giáo: đối với người Mông thì thờ cúng tổ tiên và các vị thần

có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vừa thể hiện niềm tin, vừa thể hiện tín ngưỡng thiêng liêng sự gắn kết dòng họ và văn hóa cội nguồn Thờ cúng tổ tiên được mỗi dòng họ quy định rất rõ ràng, nếu đó là một gia đình thì dưới mái nhà phải

có nơi thờ cúng tổ tiên, nơi thờ cúng truyền thống là vách tường giữa ngôi nhà tức là gian giữa của ngôi nhà Nơi thờ này người Mông gọi là chỗ nghỉ chân của

tổ tiên, chỗ hai tấm ván gỗ ngắn làm bàn thờ, tấm đặt cao hơn gọi là tấm phụ, tấm thấp hơn là tấm chính Trên hai tấm ván có ba ống tre ngắn để thắp hương Tấm chính đặt một ống tre, tấm phụ đặt hai ống tre Theo phong tục tập quán chỉ

có người trong nhà mới được quyền thực hiện các nghi lễ thờ cúng tổ tiên Thờ cúng tổ tiên không chỉ thể hiện lòng biết ơn đối với cha ông ta với những người

đã khuất mà còn thể hiện sự cầu mong, sự tạ lỗi, xin tha thứ của tổ tiên Lễ được thực hiện vào các dịp: Mừng năm mới tết, lễ gọi vía, lễ thả hồn

Chữ viết, tiếng nói:

Người Mông có hệ thống chữ viết riêng, chữ viết của người Mông là chữ

La tinh ghép và biến thành chữ Mông Hiện nay loại chữ này được sử dụng rộng rãi và phổ biến đến từng bản người Mông và trên thế giới Chữ được sử dụng viết truyện, ghi nhớ lại các phong tục tập quán, các nghi lễ viết thư thăm hỏi nhau Trước hệ thống chữ viết người Mông có tiếng nói riêng của mình, hệ thống tiếng mẹ đẻ của mình rất đa dạng và phong phú

Văn hóa dân gian:

Y học dân gian: cũng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống du canh

du cư của người Mông ở nơi đây Người Mông tự tìm cho mình những bài thuốc riêng để chữa bệnh và những bài thuốc ấy lấy từ tự nhiên Như thuốc bó xương

Trang 19

14

hay thuốc bong gân, thuốc chữa đau bụng, thuốc trị độc khi bị rắn độc cắn và nhiều loại thuốc khác

1.3 Truyền thống đoàn kết, chống giặc ngoại xâm

Bên cạnh truyền thống văn hóa nghệ thuật, đồng bào dân tộc Mông còn có truyền thống văn hóa cố kết cộng đồng bền chặt Họ sống xen kẽ đoàn kết tương chợ lẫn nhau ở tất cả mọi nơi, mọi lúc, không bao giờ có sự phân biệt hiềm khích với các dân tộc khác, giữa dòng họ này với dòng họ kia Nó tạo thành sức mạnh để chiến thắng thiên nhiên, vượt qua khó khăn để bảo vệ xây dựng mảnh đất quê hương mình phát triển Tinh thần đoàn kết là một trong những nấc thang văn hóa tinh thần cao nhất của người dân Si Ma Cai

Đầu năm 1258 giặc Nguyên Mông tiến đánh nước ta theo đường sông Chảy, dân binh Si Ma Cai đã tổ chức phục kích cản bước tiến của quân giặc Trong lần kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285) đồng bào Si Ma Cai đã tổ chức đối phó địch, đánh tan lực lượng quân địch rút lui khi quân ta tấn công từ miền xuôi, góp phần vào thắng lợi chung trên ải Quy Hóa (khu vực Lào Cai)

Năm 1410, ngay sau khi giặc Minh đặt ách thống trị lên vùng biên ải phía Bắc Tổ quốc, đồng bào các dân tộc ở Quy Hóa nổi dậy tham gia phong trào nghĩa binh “Áo Đỏ” chống ách đô hộ của quân xâm lược, trong đó có đông đảo người Mông, cùng với người Nùng ở Si Ma Cai Năm 1427, dân binh Si Ma Cai cùng với dân binh Bắc Hà đã đi theo thủ lĩnh của họ Ma Nghĩa Đô tiến quân lên

ải Lê Hoa chặn đánh quân Mộc Thạch, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc đánh đuổi quân Minh giải phóng đất nước

Năm 1866, thực dân Pháp đánh chiếm Lào Cai Sau khi hoàn toàn đánh chiếm miền Tây Lào Cai, chúng tiến công các huyện của miền Đông Lào Cai năm 1891 thực dân Pháp tiến công Bắc Hà Nghĩa binh Si Ma Cai đã phối hợp với nghĩa binh Bắc Hà và cùng một số quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc đánh tan một đại đội lính Pháp ở Trung Đô Tiếp đó một tiểu đoàn địch mở cuộc tiến công Bắc Hà, nghĩa binh Bắc Hà được sự phối hợp của nghĩa binh Si Ma Cai đã kiên trì phục kích đánh địch buộc quân địch nhiều lần rút lui

Trang 20

15

Năm 1913, một thủ lĩnh Dao ở Nậm Lúc (Bắc Hà) là Triệu Tiến Kiên dựng cờ khởi nghĩa Nghĩa quân xây dựng căn cứ ở Nghĩa Đô, liên kết với người Dao khắp 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang chống Pháp Nhân dân các dân tộc

ở Si Ma Cai đã đi theo Triệu Tiến Kiên rất đông, góp phần xây dựng căn cứ rộng để chống Pháp, làm cho chúng khiếp sợ suốt mấy năm trời Ngoài ra còn có các cuộc nổi dậy của già làng, trưởng bản nổi dậy đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống tô thuế nặng của Pháp như: Giàng A Páo, Giàng Seo Dùng, Sùng A

Sử, Giàng A Vư, đứng lên vận động chống Pháp nhưng thất bại các ông đã hy sinh quên mình Năm 1929 - 1934 Pháp chỉ huy đồn Bảo Nhai, đồn Bắc Hà xây dựng một số sân bay để chi phối quân sự ở châu Bắc Hà Chúng tiến hành bắt lính, việc bắt lính được giao cho Bình Thầu trực tiếp chỉ đạo Ở mỗi đồn bình thường bố trí một tiểu đội hoặc trung đội làm nhiệm vụ kiểm soát khống chế cả khu vực Đây là công cụ đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, cưỡng bức thu thuế, tiến hành các đợt bắt lính bắt phu, bảo vệ cho chế độ cai trị hà khắc của thực dân Pháp

Nếu như trước thực dân Pháp xâm chiếm, Si Ma Cai nằm dưới sự cai trị gián tiếp của triều đình phong kiến nhà Nguyễn mà trực tiếp cai trị là tầng lớp thổ hào địa phương mức thuế đóng hằng năm không cao lắm, chế độ phu phen tạp dịch không mấy nặng nề, thì từ khi thực dân Pháp áp đặt chế độ cai trị thực dân, phong kiến, nhân dân các dân tộc châu Bắc Hà nói chung và tổng Si Ma Cai nói riêng, phải chịu hai tầng áp bức bóc lột Những năm đấu mới chiếm đóng, thực dân Pháp còn phải lo đối phó với phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân nên chúng vẫn áp dụng chế độ thu thuế như triều đình phong kiến nhà Nguyễn Từ năm 1910, khi bình định được cơ bản Bắc Hà, thực dân Pháp ấn định lại thể lệ thu thuế Lúc đầu mỗi năm mỗi hộ phải nộp từ 2,5 - 3,5 đồng thuế (tiền Đông Dương) khi nổ ra chiến tranh thế giới thứ 2 thực dân Pháp tăng thu thuế lên từ 3,5 - 4,5 đồng và sau cuộc khủng hoảng kinh tế ở các nước

tư bản (1939) thực dân Pháp tăng mức thuế thu mỗi hộ lên 4,5 - 5 đồng Ngoài các loại thuế trực thu, thực dân Pháp còn đặt ra nhiều loại thuế gián thu như thuế muối, rượu, thuốc phiện Ngay năm 1892, thực dân Pháp đã áp dụng thuế muối

Trang 21

16

khá cao đối với người sản suất và độc quyền bán muối Chúng quản lý chặt chẽ

từ khâu sản suất đến thu mua nhưng lại thả nội gián bán trên thị trường Do đó giá muối ở Si Ma Cai - Bắc Hà thường xuyên tăng vọt Trong điều kiện giao thông đi lại khó khăn việc vận chuyển đi muối từ miền xuôi lên miền núi không được thuận lợi, thực dân Pháp đã sử dụng muối ăn như một thứ vũ khí để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân miền núi Chúng dùng muối để dụ dỗ đe dọa, khi đồng bào nổi dậy đấu tranh chúng cấm không cho bán muối

Cùng với tăng cường bóc lột về thuế thực dân Pháp còn tăng cường bóc lột

vơ vét tài nguyên Ở Si Ma Cai thực dân Pháp không khai thác được nhiều khoáng sản nên chúng tập trung vơ vét tài nguyên rừng Chúng tạo ra các hình thức cống nạp, thu mua giá rẻ các sản vật tài nguyên mà người dân có khả năng khai thác trong rừng Chúng khuyến khích trồng cây thuốc phiện, mỗi năm thực dân Pháp mua được giá rẻ của người dân châu Bắc Hà được từ 1,8 - 2,3 tấn thuốc phiện chúng khuyến khích nghiện hút, ma túy, rượu chè, cờ bạc làm bần hàn đời sống nhân dân để dễ bề cai trị và bóc lột, chúng không quan tâm nhiều đến trật tự an dân, năm 1938 hơn 100 tên cướp xông vào chợ Si Ma Cai và các bản xung quanh cướp giật giết chết 12 người dân nhưng thực dân Pháp và tay sai làm ngơ Một số chức dịch, thổ ti còn cấu kết với bọn cướp đe dọa nhân dân Tệ nạn hút thuốc phiện, cờ bạc được duy trì phổ biến chợ nào cũng có sòng bạc, tiệm hút Cùng với việc bắt lính, bóc lột thuế khoán, thực dân Pháp và tay sai còn ra sức bóc lột sức lực người dân bằng việc tăng cường các hình thức phu phen, tạp dịch Chúng bắt dân đi phu xây dựng đồn bốt, sân bay, công sự phục

vụ làm nhà làm đường cho Hoàng A Tưởng (vua Mèo) [9, tr.21] ở Bắc Hà Dưới thời thực dân, phong kiến ở Si Ma Cai Bắc Hà chế độ phu phen tạp dịch hết sức nặng nề dân nhân hết sức nghèo đói

Như vậy, để đầu tư cho chiến tranh và làm giàu cho chính quốc, thực dân Pháp đã tăng cường chính sách bóc lột thuộc thuộc địa về thuế khoán và tài nguyên Do sưu cao thuế nặng cuộc sống của người dân Si Ma Cai thường xuyên bị nạn đói đe dọa, phần lớn các gia đình thiếu ăn từ 6 đến 8 tháng họ phải vào rừng kiếm ăn và săn bắt hái lượm

Trang 22

vụ cho con em tầng lớp trên còn lại 99% dân số mù chữ nghèo đói đi liền với bệnh tật như sốt rét, dịch tả, kiết lị đã làm hàng trăm người chết

Đứng trước muôn vàn khó khăn gian khổ nhưng nhân dân các dân tộc miền núi chưa một phút giây nào nguôi đi tinh thần đấu tranh “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”

Có thể nói truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm trong lịch sử của nhân dân các tộc người ở Si Ma Cai thể hiện tinh thần yêu quê hương đất nước sâu sắc Tinh thần đấu tranh giữ gìn mảnh đất thiêng liêng cùng với những yếu tố văn hóa và đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, đã tạo nên bức tranh truyền thống văn hóa tinh thần độc đáo của nhân dân các dân tộc huyện Si Ma Cai

Si Ma Cai vốn có một bề dày lịch sử hàng ngàn năm được gắn chung với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Si Ma Cai không chỉ là vùng đất có lịch sử lâu đời mà còn là vùng đất có nền văn hóa mang đặc thù của nền “văn hóa đồi núi” có sắc thái riêng của nền văn hóa dân gian Mông phong phú và đa dạng với nhiều nghi lễ, lễ hội

Cầu mệnh, cầu phúc, là sinh hoạt tín ngưỡng dân gian truyền thống trong cuộc sống của đồng bào Mông đã giúp con người trở về với thế giới tâm linh của niềm tin, của niềm kính trọng, của lòng biết ơn, của tinh thần tương trợ cộng cảm, cộng mệnh… Điều này thể hiện rất rõ trong “Lễ Hội Gầu Tào của người Mông ở Si Ma Cai, Lào Cai”

Trang 23

18

CHƯƠNG 2

LỄ HỘI GẦU TÀO CỔ TRUYỀN CỦA NGƯỜI MÔNG

Ở SI MA CAI, LÀO CAI 2.1 Nguồn gốc lễ hội Gầu Tào

Theo truyền thuyết của người Hán về người Miêu (Mông) thì đến thời Nghiêu, (-2357 – 2285), Thuẫn (-2255 – 2208), thư tịch vẫn nhắc đến người Miêu và những cuộc xung đột giữa Miêu tộc và Hoa tộc Truyền thuyết được học giả phong kiến thời sau này ghi lại nên có giọng kỳ thị dân tộc, tự tôn Hoa

Hạ và khinh Miêu Man Tiếp đó Mặc Tử ghi lại chiến tranh giữa Hạ Vũ và Tam Miêu (Hạ -2205 -1776), tướng Miêu bị trúng tên, quân Miêu tan chạy, Tam Miêu bị suy vong [8] Và các triều đại sau, người Mông bị đẩy lùi xuống phía Nam, trước những chính sách cai trị hà khắc của các triều đại phong kiến Trung Quốc Người Mông đã nghĩ ra một cách đó là chặt cây tre, dựng trên đồi cao để thông báo cho toàn người Mông cùng nhau tập trung bàn bạc tìm cách thoát khỏi

sự cai trị của người Hán Sợ bị người Hán phát hiện nên họ bảo là đi lễ hội Gầu Tào Với cái cớ đó họ bàn bạc ngày qua ngày mà không bị người Hán phát hiện nên người Mông cho là có thần linh phù hộ Cũng chính từ đó cây tre trở thành biểu tượng cho tín ngưỡng tôn giáo của Mông và khi có gì vướng mắc, khó khăn

mà không thể giải quyết được, người Mông lại dựng cây nêu mong chờ thần linh giúp đỡ Lễ hội Gầu Tào bắt nguồn từ đó Dân tộc Mông là một dân tộc có đời sống tinh thần, tâm linh hết sức phong phú và đa dạng tạo nên truyền thống văn hóa dân tộc Mông với nhiều nét đặc sắc Lễ hội Gầu Tào hay Say Sán chính là biểu hiện chân thực thể hiện truyền thống đó

Cũng có quan niệm khác về nguồn gốc lễ hội Gầu Tào Lễ hội Gầu Tào cổ của người Mông vốn xuất phát từ nguyên nhân về cuộc thiên di của người Mông sau khi thất bại trước người Hán Chuyện kể rằng:

“Trước kia, người Mông ở phương Bắc, do tranh chấp đất đai với người

Hán nên hai bên giao ước lấy mốc gianh giới để phân chia Người Hán lấy bia

đá chôn xuống đất làm mốc giới Còn người Mông thì cuộn túm cỏ gianh lại đánh dấu gianh giới của mình Khi túm cỏ gianh ấy khô héo, người ta lại cuộn

Trang 24

19

túm cỏ gianh khác Một ngày nọ, vùng đất tranh chấp ấy xảy ra một trận hỏa hoạn, mọi thứ cỏ cây lớn nhỏ đều bị thiêu rụi, kể cả đám cỏ gianh được người Mông cuộn lại làm mốc giới của mình, nơi đó chỉ còn trơ lại những cột bia đá đánh dấu mốc giới của người Hán Lấy lý do đó, người Hán đuổi người Mông ra khỏi vùng đất tranh chấp Người Mông phải lìa bỏ quê hương, tản mát khắp nơi Đến phương Nam, thủ lĩnh người Mông dựng một cột tre mai cao mười mấy mét, treo lên đó một dải vải lanh nhuộm chàm đen thẫm - loại vải truyền thống của người Mông để làm cờ Đó là tín hiệu hiệu triệu người Mông ở khắp nơi về ”.[St] Ngày nay, ít người còn biết đến tích xưa nhưng trong bài hát dựng cây nêu

vẫn có câu: “Người Hán ăn tết, người Hán cúng vào bia đá Người Mông ăn tết,

người Mông cúng vào cây nêu” (Trích lời bài hát dựng cây nêu)

Gầu Tào - theo tiếng Mông có nghĩa là “địa điểm chơi”, ở những khu vực gần biên giới như Si Ma Cai, người Mông ở đây gọi lễ hội theo tiếng Quan Hỏa là Say Sán Ngay từ thời xa xưa, quan niệm con cái là lộc của trời, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tư tưởng của người Việt Nam cũng như người Mông ở Lào Cai Với mục đích như vậy lễ hội Gầu Tào đã được diễn ra từ bao đời nay

Theo quan niệm của người Mông, lễ hội chỉ được diễn ra khi có một gia đình nào lâm vào một trong hai trường hợp sau: Trường hợp thứ nhất là khi gia đình gia chủ không có con, ít con hoặc sinh con một bề, gia chủ sẽ lên đồi Gầu Tào quỳ khấn xin thần linh ban cho con cái theo ước nguyện Khi đứa trẻ được sinh ra, được đặt tên, mùa xuân năm đó gia chủ sẽ làm lễ Gầu Tào để tạ ơn Trường hợp thứ hai là khi gia đình gia chủ có một vài thành viên trong gia đình thường xuyên đau ốm và bệnh tật, mùa màng thì thường xuyên thất bát, vật nuôi còi cọc, kinh tế sa sút,… gia chủ cũng lên đồi Gầu Tào quỳ khấn xin thần linh cho gia đình khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi Khi mọi tai ương đã hết, mùa xuân năm đó gia chủ sẽ làm lễ Gầu Tào để tạ ơn Theo tập quán lễ hội Gầu Tào thường do ba gia đình có quan hệ huyết thống hoặc thông gia với nhau hay có hoàn cảnh như nhau cùng tổ chức Lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân trong ba năm liền Mỗi năm, người ta lần lượt trồng cây nêu để ba gia chủ lần lượt lấy

Trang 25

20

cây nêu và những vật treo trên cây về làm phúc, lấy lộc Đó là nguồn gốc chung của lễ hội Gầu Tào, riêng với vùng đất biên cương xa xôi như Si Ma Cai, ngoài

ý nghĩa nơi cầu phúc, cầu con, người Mông ở Si Ma Cai Lào Cai còn coi đây

là nơi giao duyên của trai gái người Mông sau một năm là việc vất vả, là thời gian mà người Mông tế lễ tổ tiên cầu cho người Mông được che chở, sống một năm mưa thuận gió hòa, nhà nhà no đủ, con cái sum vầy Với ý nghĩa như vậy, ban đầu chỉ mang tính gia đình, lễ hội Gầu Tào hay Say Sán đã vượt qua thời gian, mở rộng quy mô của mình trở thành lễ hội chính của người Mông và cũng

là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Mông ở Si Ma Cai Lào Cai Hiện nay, lễ hội Say Sán ở Si Ma Cai đã và đang được giữ gìn và phát triển góp phần gắn kết khối đoàn kết cộng đồng người Mông và bổ sung nét văn hóa tốt đẹp vào kho tàng văn hóa Việt Nam cũng như thế giới

2.2 Đặc điểm và công việc chuẩn bị cho lễ hội Gầu Tào

2.2.1 Đặc điểm của lễ hội Gầu Tào

Đây là lễ hội được tổ chức với mục đích cầu nguyện, gắn liền với hoạt động tâm linh của người Mông Lễ hội thường được tổ chức trong vòng 3 năm liên tiếp, tuy nhiên tùy vào điều kiện gia đình có thể tổ chức hai năm hoặc ba năm, nếu tổ chức hai năm thì sẽ có một năm phải trồng hai cây nêu Còn nếu tổ chức

ba năm thì mỗi năm dựng một cây nêu Lễ hội thường được tổ chức vào ngày Tết, thường hay bắt đầu từ mùng 3 đến mùng 6, ngoài ra tùy điều kiện thời tiết

có thể đến mùng 9

Lễ hội mang tính chất gia đình do một gia đình chủ trì, họ đã cầu xin các

vị thần linh đất trời giúp họ được như ý muốn nên họ mở hội mang tính chất

là tạ ơn, trả ơn Nên lễ hội không có tính chất cố định, thường xuyên năm nào cũng tổ chức

Gầu Tào tức là hội lên chơi đồi, hội thực chất là những ngày vui của thôn xóm, bản làng và khách từ xa tới Đây còn là nơi giao duyên trai gái, khi hội diễn ra thu hút đông đảo bà con cô bác, không phân biệt già trẻ, gái trai không phân biệt dân tộc này với dân tộc khác nên lễ hội còn mang tính chất gắn kết cộng đồng

Trang 26

21

Lễ hội Gầu Tào gồm hai phần là phần lễ và phần hội Phần lễ là phần dành cho cúng bái thần linh trời đất Phần hội là phần trò chơi dân gian dành cho con người

2.2.2 Công việc chuẩn bị cho lễ hội

Thời gian trước khi mở hội có những việc mà gia chủ nhất thiết phải chuẩn

bị đó là:

Để tổ chức lễ hội Gầu Tào, gia chủ phải mời được chủ lễ Trứ Tào, giúp chủ trì lễ hội và một người phụ nữ giúp việc Nạ Tào Họ đều phải là những người có gia cảnh yên ấm, hạnh phúc, kinh tế khá giả Cùng với Trứ Tào và Nạ Tào còn cần có một cặp thanh niên nam nữ giúp việc cho nghi lễ lễ hội được gọi là Tú Tào và Sảy Tào

Lễ hội được tổ chức vào tháng giêng hằng năm, nhưng việc chuẩn bị được tiến hành từ cuối tháng Chạp với hai nghi lễ là chặt tre và dựng nêu Thời gian

mở hội thường được tiến hành liền trong ba năm Trong ba năm ấy, mỗi năm người ta trồng 1 cây nêu để đến khi tan hội, một trong ba gia chủ sẽ lấy cây nêu

và những vật treo trên cây ấy về để lấy phúc, lấy lộc Vì vậy, có thời gian do tình hình biên giới Việt - Trung bất ổn, đã có đám phải tổ chức ghép làm một lần luôn cho 2 năm và làm một lần luôn cho 3 năm nhưng vẫn phải đảm bảo đủ số cây nêu cho 3 chủ lễ Vì vậy mới có trường hợp có đám cắm 2 cây nêu, có đám cắm 3 cây nêu Ngày chặt tre để dựng nêu, chủ nhà bày mâm lễ để chủ tế và những người giúp việc tiến hành nghi lễ cúng Lúc này gia chủ phải mời chủ lễ uống rượu và sau khi uống hai chén rượu, chủ lễ bắt đầu hát bài “sấy giể” tức xem bói về lí do lễ Gầu Tào Sau đó chủ lễ xòe ô, hát bài “sáy dìn sê”- đi tìm cây nêu và sau đó vừa đi vừa hát dẫn đoàn người đến chỗ cây tre đã chọn để chặt tre Cây tre chọn làm cây nêu phải thẳng, đều gióng, vỏ xanh bóng, không sâu bệnh, không cụt ngọn, không hoa, ngọn vươn về phía mặt trời mọc Cây nêu được chọn từ cây tre theo tiếng Mông được gọi là “sung lùng trử”, đây vốn là một từ gốc Hán có nghĩa là cây Long Thượng, gồm một cây cao khoảng 10 - 12

m, đường kính gốc khoảng 20 cm gọi là “dìn sê” và một cây thấp hơn cao khoảng 6 -7 m, đường kính gốc khoảng 6 - 7 cm gọi là “dìn sông” Cây tre hoặc

Trang 27

22

mai được chọn rất kĩ càng, ở Si Ma Cai, trước tết một tháng, dân bản đi làm nương rẫy đều phải chú ý tìm cây tre đẹp tiến cử lên chủ tế làm cây nêu, cây nêu được coi là linh hồn của lễ hội, là nơi tổ tiên về dự lễ, là nơi thần linh ban phúc cho dân bản nên bản nào cũng mong tiến cử cây của bản mình làm cây nêu Từ hàng chục cây tre mai được tiến cử, chủ lễ sẽ đi xem từng cây từ gốc đến ngọn với tiêu chuẩn là cây bánh tẻ, cao thẳng, ngọn xum xuê, gốc thân ngọn phải cân đối Đối với người Mông, gốc cây nêu tượng trưng cho quá khứ, thân là biểu trưng của hiện tại, ngọn là biểu hiện cho tương lai, sự cân đối hài hòa giữa ba bộ phận trên là vô cùng cần thiết vì nó mang ý nghĩa tâm linh vô cùng to lớn Trên ngọn cây nêu người ta treo hai dải vải Vải treo trên cây nêu gồm 1 dải vải lanh nhuộm chàm thẫm ( rộng 20 cm, dài từ 2 đến 6 sải ), 1 miếng vải đỏ ( rộng 20

cm, dài 20 - 40 cm ), miếng vải lanh treo trên ngọn cây nêu được lấy từ vải dệt dùng để may mặc của gia đình

“Mảnh vải lanh treo ở cây nêu trong lễ hội, trở thành biểu tượng với nhiều tầng ý nghĩa Trước hết, đó là dấu hiệu “mời ma nhà” ( tổ tiên ) về dự hội cùng vui với con cháu Trường hợp này mảnh vải thường nhuộm màu đỏ Có thể đây

là biểu tượng của mặt trời, phản ánh tục thờ mặt trời của cư dân nông nghiệp xưa kia Theo tác giả Trần Quốc Vượng thì: mặt trời được biểu tượng bằng vòng tròn đỏ, mảnh vải đỏ Tuy nhiên, cũng có người cho rằng, tuỳ theo người đăng cai thuộc dòng họ thờ màu vải nào mà treo mảnh vải lanh màu đó Cho nên trong lễ hội Gầu Tào có thể treo mảnh vải trắng, chàm hoặc đen Người Mông cho đến nay vẫn còn lưu truyền điển tích kể câu chuyện xưa kia người Mông bị thua trận, mất đất, bị chém giết rất nhiều Thủ lĩnh người Mông đã treo cờ vải lanh đen để tập hợp mọi người Trong trường hợp này, biểu tượng vải lanh lại có

ý nghĩa là sự tập hợp lực lượng, cố kết cộng đồng và đoàn kết dân tộc Có lẽ đây

là lớp văn hoá muộn gắn với lịch sử di cư của đồng bào Như vậy, xuất phát từ tín ngưỡng, biểu tượng vải lanh đã đi vào lịch sử đấu tranh của dân tộc Mông với các thế lực chèn ép, xâm lược” [15]

Cùng với mảnh vải lanh, người ta còn treo lên ngọn cây nêu một bình rượu ngon và ba bông lúa nếp tượng trưng cho tài lộc, trên ngọn cây nêu còn được

Trang 28

23

treo thêm một túm cây trồng sưi - một loại cây thuộc họ dương xỉ, lá kim có nhiều nhánh, thường mọc bò lan trên các quả đồi ở vùng cao quanh năm lạnh giá tượng trưng cho sự sinh sôi, phát triển

Khèn cũng là nhạc cụ không thể thiếu trong lễ hội Gầu Tào Khèn dùng để phục vụ cúng lễ treo trên cây nêu Hôm bắt đầu mở hội phải có khèn và giấy hương dùng để phục vụ cúng lễ

Sự chuẩn bị của cộng đồng trước những ngày chính hội

Cây nêu cao sừng sững giữa bãi đồi là tín hiệu báo với người Mông trong vùng rằng năm ấy sẽ có mở hội Gầu Tào Vì vậy, trong những ngày ấy, khắp trong làng, ngoài chợ hay trên đường đi, chuyện về chơi hội Gầu Tào đã trở thành những câu chuyện chủ yếu được mọi người nói với nhau Ai không có điều kiện tìm hiểu thông tin về lễ hội khi nhìn thấy cây nêu tín hiệu cũng sẽ biết được rằng năm ấy có mở hội Gầu Tào Không khí hội hè bắt đầu như thế cho tới tận ngày chính lễ

Những người thạo múa khèn thì sẽ luyện lại các bài khèn, từ giọng khèn, giai điệu cho đến các động tác khi biểu diễn Những người đã thạo thì có thể luyện lại đôi chút nhưng chủ yếu là dành thời gian chỉ bảo cho anh em, con cháu - những người mới chỉ biết đôi chút nhưng yêu thích môn nghệ thuật này Những người đã nắm vững cơ bản rồi thì có thể tập riêng hoặc hẹn nhau cùng tập để góp ý cho nhau, chỉ cho nhau những cái gì hay, cái gì cần khắc phục Những người mới biết đôi chút thì hàng ngày mang khèn đến nhà anh em, họ hàng - những người đã thuần thục để nhờ họ hướng dẫn Vì vậy, vào những ngày trước Tết, các làng người Mông đều rộn ràng tiếng cười nói hòa với tiếng khèn khi trầm ấm, lúc lảnh lót của những người đang luyện khèn

Những người thông thạo các bài võ với các môn binh khí cổ trước ngày hội cũng tập luyện cho mình những miếng đánh, những bài quyền và những thế võ

cổ truyền để đem ra “khoe tài” trước thiên hạ Tuy nhiên, do không có nhiều người biết sử dụng các loại binh khí này và không phải làng nào cũng có, không phải ai cũng có thể học được (võ sư chỉ truyền dạy võ cho con trai trưởng của

Trang 29

24

mình Nếu võ sư không có con trai thì sẽ không có truyền nhân) nên việc tập luyện của các “võ sư” người Mông nơi đây cũng trầm lắng hơn việc tập khèn Sôi nổi hơn cả là nơi tụ tập của thanh niên nam nữ Trong những ngày trước Tết, họ chuẩn bị cho mình những bộ trang phục mới nhất, đẹp nhất để dự hội

Đó không chỉ là dịp họ được vui chơi cùng nhau mà còn là dịp để họ gặp gỡ người thương (với những người đã có người yêu) hoặc tìm người thương cho mình (với những người chưa có người yêu) Không chỉ những thanh niên nam

nữ chưa vợ chưa chồng mà cả những người đã “định nơi định chốn” cũng coi đây là một dịp hiếm có để gặp lại người yêu cũ, để thổ lộ, bộc bạch những tình cảm chất chứa trong lòng thông qua lời ca, tiếng hát mà ngày thường họ không thể thổ lộ

Hội Gầu Tào cũng là một dịp tốt cho mọi người kinh doanh các mặt hàng, sản phẩm để mang lên bày bán tại không gian bãi hội Các mặt hàng bày bán trong dịp này chủ yếu là những đồ ăn uống, đáp ứng nhu cầu tại chỗ cho những người chơi hội Đó là các mặt hàng: phở, mía, chuối, bánh dày và bánh trưng

Ngoài ra khâu chuẩn bị vật chất cũng không kém phần quan trọng do vậy gia chủ phải chuẩn bị rất chu đáo bao gồm rượu, rượu ở đây phải nhiều vì rượu không những dùng trong nghi lễ mà còn dùng trong phần hội, phần hội có các trò chơi dân gian đã có chơi thì phải có thưởng Bên cạnh đó còn cần một con lợn từ 70 đến 80 kg dùng trong ngày lễ và một đôi gà trống mái thật đẹp Đây là những con vật không thể thiếu trong phần lễ vì nó được dùng trong mâm cúng của buổi lễ Trong mâm cúng nhất thiết phải có một đầu lợn, một đôi gà trống mái tất cả luộc chín đặt dưới gốc cây nêu

2.2.3 Thời gian và không gian diễn ra lễ hội

Theo truyền thống cây nêu thường được dựng trước một tuần từ khoảng 22 đến 28 tháng 12 âm lịch Trong vòng tuần đó, người ta sẽ chọn ra ngày lành tháng tốt để dựng cây nêu Thường thì người Mông sẽ chọn ngày Thìn vì họ quan niệm rằng đây là ngày rất tốt, người Mông rất sợ con rồng, coi đó là con vật linh thiêng, thậm chí những đứa trẻ sinh vào mùng 2 tháng 2 người Mông còn phải đổi tên mong đứa trẻ sống khỏe mạnh Chọn vào ngày Thìn mong mưa

Trang 30

25

thuận gió hòa, mùa màng thuận lợi thu được nhiều ngô, nhiều thóc Ngày hội thường kéo dài từ 4 đến 6 ngày tùy thuộc vào điều kiện của chủ nhà Mùng 2 họ bắt đầu là lễ cúng bái thần linh xin mở hội, mùng 3 bắt đầu vào hội

Địa bàn diễn ra lễ hội thường là một bãi đất rộng Địa điểm tổ chức lễ hội Gầu Tào được gọi là Hấu Tào, là một quả đồi thấp đỉnh bằng phẳng, tạo nên một bãi rộng và được bao quanh bởi những quả đồi cao hơn, phía trước có một không gian trũng, hẹp Đồi Gầu Tào phải quay theo hướng Đông để cây nêu khi dựng lên đón được ánh nắng mặt trời Người Mông quan niệm rằng, quả đồi Gầu Tào tượng trưng cho phúc mệnh của gia chủ, không gian trũng phía trước tượng trưng cho sự đứt gãy, không may mắn; những ngọn đồi phía sau cao hơn tượng trưng cho sự phát triển, có nghĩa là con cái hơn cha mẹ, tài lộc ngày càng nhiều, phúc mệnh ngày càng thịnh vượng Theo truyền thống từ ngày xưa thì khu đất được tổ chức lễ hội sẽ không dùng để canh tác hoặc làm bất cứ việc gì,

đó chỉ là khu đất dành riêng để tổ chức lễ hội Gầu Tào Theo quan niệm xưa nếu dùng bãi đất đó để canh tác thì sẽ không còn thiêng liêng nữa

2.3 Lễ hội Gầu Tào

Năm nay khóm tre biết sinh

Đẻ cây tre vươn cao ngoài rừng xanh biếc Hôm nay đôi ta làm chủ hội

Được già làng giao đi chặt cho khóm mai tre

Trang 31

Không để gốc cây sập Không để tre đổ ngả, đổ nghiêng [10]

Bốn người “txiu toj” - Trứ Tào, “nhauj tos” - Nẹ Tào, một người hát ba người theo sau đi quanh ba vòng cây tre rồi bắt đầu chặt tre, vừa hát vừa chặt tre Bài cúng chặt tre như sau:

“Tre ơi là tre, tre biết ở mà không biết mọc, mọc gần đường ta đi, năm nay già làng mang kiếm mài dao đến hỏi thăm Tre ơi là tre, tre biết ở mà không biết mọc, mọc ngay giữa đường, năm nay già làng vác kiếm vác dao đến hỏi tên Tre

ơi là tre, tre biết ở mà không biết mọc, năm nay già làng mang ô ô ma, ô cúng đến đây đi quanh ba vòng nhìn chín đến mười hai cây, có một cây biết ở mà không biết mọc, mọc cách xa ơi là xa, năm nay già làng xin mượn sức tre về làm cây nêu Năm nay già làng mài kiếm mài dao vàng, che ô đi quanh ba vòng nhìn thẳng vào tre đỡ tre nâng, có mười hai cây, có cây mọc giữa giữ được phúc mệnh gia chủ, năm nay già làng xin được chặt tre về làm cây nêu, chặt tre ba phát dao, tre ngã từ tù ngọn tre đã có người tốt nâng Năm nay già làng mài kiếm mài dao vàng mang ô đến đi quanh ba vòng chặt tre, tre ngã xuống đã có người tốt đỡ.”[10]

Hết bài hát người ta lại chặt tiếp để sao cho tre được đổ về phía mặt trời mọc Khi cây tre ngã xuống thì không được cho thân tre, ngọn tre chạm xuống đất Khi tre đổ xuống thì phải có người ghé vai đỡ luôn cây tre, cây tre hạ xuống thân được tỉa nhẵn còn ngọn tre để nguyên cành lá để tượng trưng cho “bờm rồng” hay sự linh thiêng Chủ lễ che ô cho cây, hát bài “cú dìn sê” để mọi người vác thẳng về địa điểm đã chọn Trong quá trình vác cây tre thì gốc hướng về phía trước ngọn hướng về phía sau, không chạm đất không nghỉ giữa đường

Trang 32

27

Khi đến địa điểm dựng cây nêu thầy cúng làm lễ xin thần thổ địa dựng cây nêu,

lỗ dựng cây nêu không được trùng với lỗ của năm trước Chủ lễ buộc lên ngọn cây nêu hai dải: vải lanh màu đen - sự tập hợp lực lượng và dải vải màu đỏ - mời

tổ tiên về dự hội, một bầu rượu, ba bông lúa nếp tượng trưng cho tài lộc và một túm cây “sưi” đây là một cây thuộc họ dương sỉ tượng trưng cho sự sinh sôi Dựng nêu xong, chủ tế cầm một con gà trống, hướng về cây nêu (phía mặt trời mọc cầu cúng thần núi phù hộ mở hội Gầu Tào, có thêm con trai, Sau đó, cắt tiết gà trước cây nêu, bôi tiết và lông cổ gà vào giấy bản đốt dâng thần núi Chủ

tế còn mổ gà, luộc chín cúng dâng thần núi lần thứ hai Trước khi ra về, ông chủ hội còn trịnh trọng dặn dò cây nêu:

Có thời gian chúng ta đến Đến thời gian về, chúng ta về Cây nêu ở lại, gỗ cắm sâu vào lòng đất Ngọn xum xuê trên bầu trời xanh

Năm nay anh làm bóng rợp, đón mùa xuân Cho già làng

Cho 9 con trai, 8 con gái xa gần mặc quần áo rực rỡ

Tụ hội về đây Cột nêu là nơi trú chân đàn trai, gái trẻ Thời gian đến thì ta đến

Thời gian về thì ta về Cột nêu ở lại sừng sững đứng giữa đỉnh đồi Hai ta đôi chủ hội

Mùng một, đến mùng hai Mới đi mời được đường làng, ngõ bản Cột nêu đứng lồng lộng giữa trời xuân Ông tổ giao cho hai ta

Mời gọi trai làng, gái bản váy áo xúng xính đến Đậu ở chân cột nêu [10]

Trang 33

28

Chủ tế và tốp người giúp việc ra về Cây nêu ở lại vươn mình lên trời xanh Phải dựng cột nêu trước phiên chợ mỗi năm nhằm báo tin khắp nơi biết làng mở hội Gầu Tào Cây nêu là tín hiệu mời chào

Ngày mùng 3 Tết, mới tờ mờ sáng, vợ chồng ông chủ tế và tốp người giúp việc đã ra cây nêu mở hội chuẩn bị làm lễ cúng Chủ tế lấy 3 đến 5 sải vải lanh đen (tuỳ cây nêu cao hay thấp) nẹp cành trúc, buộc thành cờ, chủ hội dùng sợi dây (để sẵn qua vòng ngọn nêu) từ từ kéo lên Khi kéo treo tấm vải đen, chủ tế phải thành kính trang nghiêm Trên thân cây nêu, phía dưới sải vải lanh đen còn buộc 2 túm bắp ngô, 1 cụm lúa, 1 quả bầu đựng rượu Thân cây nêu còn treo chiếc khèn, treo gậy những đạo cụ cho người tham gia lễ hội sử dụng

Chủ tế trịnh trọng đặt mâm cúng dưới chân cột nêu (hướng về hướng Đông) Đồ cúng gồm thủ lợn, 2 bát cơm, 2 chén rượu, vàng, hương Nội dung bài cúng nhằm cầu mong tổ tiên, các vị thần phù hộ mở Gầu tào cầu phúc, cầu may (có con hoặc có con trai ) Cúng xong, ông chủ tế cùng tốp người giúp việc đi quanh cây nêu hát bài mở hội Đi đầu ông chủ tế, tay cầm ô, theo sau

là vợ chủ tế hát trước, ông chủ tế hát đáp sau Nội dung bài hát nêu lý do mở hội (cầu sinh con hay cầu sức khoẻ, cầu con trai ), quá trình đi chặt và dựng cây nêu, tổ chức lễ hội:

Ông tổ giao cho người Mông Chọn ngày lành, tháng tốt cầm ngay thanh gươm đồng Chặt gốc tre

Khiêng về chôn ngay đỉnh đồi Thành cây nêu đứng sừng sững ba ngày Hai ta đôi chủ hội

Được ông tổ giao mở hội Hãy mở toang cửa làng, cửa bản Mời gọi người Mông xúng xính váy áo mới Tấp nập về dự hội dưới chân cột nêu

Con đường mở hội ngân nga, du dương Trai gái say hội 3 ngày không về nổi [10]

Ngày đăng: 07/10/2016, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Lương (2002), “Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam”, NXB Văn hóa dân tộc. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam”
Tác giả: Hoàng Lương
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc. Hà Nội
Năm: 2002
2. Hoàng Nam(2002), “Đặc trưng văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam”. NXB Văn hóa dân tộc. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đặc trưng văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam”
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc. Hà Nội
Năm: 2002
3. Chu Thái Sơn - Trần Thị Thu Thủy (2005), “ Người Hmông”, NXB Trẻ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Người Hmông”
Tác giả: Chu Thái Sơn - Trần Thị Thu Thủy
Nhà XB: NXB Trẻ. Hà Nội
Năm: 2005
4. Trần Hữu Sơn (1996), Văn hoá Hmông, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Hmông
Tác giả: Trần Hữu Sơn
Nhà XB: NXB Văn hoá Dân tộc
Năm: 1996
5. Trần Hữu Sơn (1998), Lễ hội cổ truyền Lào Cai, nhà xuất bản văn hóa dân tộc. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội cổ truyền Lào Cai
Tác giả: Trần Hữu Sơn
Nhà XB: nhà xuất bản văn hóa dân tộc. Hà Nội
Năm: 1998
6. Trần Hữu Sơn (1999), “Lễ hội Gầu Tào ở Lào Cai”, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lễ hội Gầu Tào ở Lào Cai”
Tác giả: Trần Hữu Sơn
Nhà XB: NXB Văn hoá Dân tộc
Năm: 1999
7. Trần Hữu Sơn (3 - 2008), “Địa lí hành chính tỉnh Lào Cai”, Sở văn hóa thông tin Lào Cai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Hữu Sơn (3 - 2008), "“Địa lí hành chính tỉnh Lào Cai”
8. Cư Hòa Vần – Hoàng Nam (1994), “Dân tộc Mông ở Việt Nam”, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dân tộc Mông ở Việt Nam”
Tác giả: Cư Hòa Vần – Hoàng Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá Dân tộc
Năm: 1994
10. Quốc Đoàn – Lễ hội Gầu Tào của người Mông Lào Cai, đăng trên websize: http://cema.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Gầu Tào của người Mông Lào Cai
11. Nam Trung – Lễ hội Gầu Tào của đồng bào Mông ở Lào Cai, đăng trên websize: http://baodatviet.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Gầu Tào của đồng bào Mông ở Lào Cai
15. Lừu Seo Áo, Những thay đổi của lễ hội Gầu Tào hiện nay, 28 – 01 – 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thay đổi của lễ hội Gầu Tào hiện nay
16. Giàng Thào Mai, giữ gìn truyền thống trong lễ hội, 04 – 01 – 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giữ gìn truyền thống trong lễ hội
17. Ly Chẩn Tờ, Hội hát đối trong lễ hội Gầu Tào, 02 – 01 – 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội hát đối trong lễ hội Gầu Tào
12. Lễ hội gầu tào, http://vi.wikipedia.org Link
9. Lịch sử Đảng bộ huyện Si Ma Cai (9 – 2005), Sở văn hóa thông tin Lào Cai Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w