VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI THÁI NGỌC LÂM HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM DẠY NGHỀ, GIỚI THIỆU VÀ GIẢI QU
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
THÁI NGỌC LÂM
HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM DẠY NGHỀ, GIỚI THIỆU VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI
HÀ NỘI, 2016
Trang 2Lời cam đoan
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả và số liệu trong khóa luận chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào và được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Võ Khánh Vinh
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Học viện về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày.… tháng 8 năm 2016
Tác giả
Thái Ngọc Lâm
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 10
1.1 Những vấn đề lý luận về hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật 10 1.2 Cơ sở pháp lý của việc hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật… 25 Chương 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ, GIỚI THIỆU VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH… 30
2.1 Về thực trạng địa bàn nghiên cứu 30
2.2 Thực trạng về học sinh học nghề và sau khi học nghề tại Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 31
2.3 Thực trạng về đội ngũ giáo viên và hỗ trợ kinh phí cho các lớp dạy nghề tại Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 34
2.4 Thực trạng về nội dung, chương trình và kế hoạch dạy nghề và việc làm tại Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 38
2.5 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị trong việc hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 41
2.6 Đánh giá khái quát về thực trạng hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 52
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TỈNH HÀ TĨNH 60
3.1 Định hướng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật tại tỉnh Hà Tĩnh 60
3.2 Các giải pháp tăng cường hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật tại tỉnh Hà Tĩnh 60
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO… 70
PHỤ LỤC 73
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Danh sách giáo viên dạy nghề tại Trung tâm……… 37 Bảng 2.2 Thời gian đào tạo và cấp chứng chỉ cho NKT học nghề… 41 Bảng 2.3 Các giải pháp được khảo sát của đội ngũ giáo viên
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Lớp học nghề Tin học văn phòng tại Trung tâm…… 46 Hình 2.2 Lớp học nghề Sữa chữa xe máy tại Trung tâm……… 48 Hình 2.3 Lớp học nghề Sữa chữa điện tại Trung tâm…….…… 49 Hình 2.4 Lớp học nghề Cắt may dân dụng tại Trung tâm…… 50 Hình 2.5 Lớp học Mây tre đan tại Trung tâm … ….………… 51 Hình 2.6 Xưởng Cắt may của NKT tại Trung tâm ……… 53 Hình 2.7 Xưởng In lưới của NKT tại Trung tâm……… ……… 54
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), hiện nay cả nước có khoảng 7,2 triệu NKT, chiếm 7,8% dân số
và dự báo, số lượng người khuyết tật(NKT) trong những năm tới sẽ tiếp tục tăng do già hóa dân số, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu và tai nạn lao động, tai nạn giao thông,…
Theo thống kê thì số lượng người khuyết tật(NKT) chưa được học nghề chiếm hơn 90%, có khoảng 58% tham gia làm việc, có hơn 30% đang thất nghiệp và những NKT đã có việc làm nhưng chủ yếu là những công việc đơn giản bằng chân tay, có thu nhập thấp và có khoảng 70 - 80% NKT sống ở vùng nông thôn với những điều kiện kinh tế khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng trong khi đó thì phần lớn NKT không thể sống độc lập, có khoảng 70% phải sống dựa vào gia đình, người thân và từ trợ cấp xã hội, có trên 25% NKT tham gia làm việc bằng các nghề thủ công truyền thống đơn giản
Chúng ta đều biết bản thân NKT cũng như gia đình họ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, số NKT sử dụng các phương tiện phục vụ cá nhân để đi lại, sinh hoạt, hoạt động,…ví dụ, như đường tiếp cận cho xe lăn lên xuống nhà cao tầng là rất thấp, chỉ chiếm khoảng 2% Bên cạnh đó phương tiện xe lăn,
xe lắc đi lại cho họ được các doanh nghiệp, tổ chức Hội, các nhà hảo tâm trong nước và quốc tế cấp chỉ được 50% Mặc dù bị khiếm khuyết những NKT vẫn có ước muốn, hoài bảo, cố gắng vươn lên để học tập, làm việc để tự nuôi sống bản thân hòa nhập với cộng đồng, hiện nay có đến 58% NKT đến
độ tuổi lao động tham gia làm việc, trong đó, có đến 30% NKT chưa có việc làm và mong muốn tìm được việc làm và các khoản thu nhập của họ chỉ chiếm có 40% trong tổng thu nhập và còn lại từ trợ cấp của Nhà nước, gia đình và xã hội, chiếm đến 60% Trên cơ sở số liệu thống kê này, cho chúng ta
Trang 7thấy nhu cầu học nghề và việc làm của NKT là rất lớn vì nó sẽ tạo điều kiện, giúp đỡ NKT có cơ hội việc làm bền vững, tham gia lao động tạo ra thu nhập, góp phần ổn định cuộc sống hòa nhập với cộng đồng xã hội
Vì vậy vấn đề hỗ trợ dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT tại các cơ
sở dạy nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh là vô cùng quan trọng và cần thiết Tuy nhiên để phát huy hiệu quả mang lại kết quả tích cực theo chủ trương đó thì chúng ta cần triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, mọi người hãy cùng chung tay, góp sức, có những hành động thiết thực hơn để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn nhằm đưa lại hiệu quả cao hơn trong việc hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT
Chính những vấn đề đó, để nắm rõ được những khó khăn, thách thức mà NKT gặp phải và muốn có việc làm ổn định, tạo thu nhập cho bản thân và gia đình của NKT cũng như muốn hiểu sâu hơn về hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT trên các mặt như: Trợ giúp tư vấn, tham vấn, trợ giúp để NKT tham gia học nghề và việc làm phù hợp với điều kiện sức khỏe, khả năng của bản thân; hỗ trợ pháp lý; chăm sóc sức khỏe NKT, bên cạnh đó, hỗ trợ kinh phí dạy nghề, cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc trang thiết bị phù hợp, nguyên vật liệu, nâng cao nghiệp vụ cho giáo viên dạy nghề, biên soạn chương trình dạy nghề phù hợp cho NKT, xây dựng các mô hình sản xuất, hỗ trợ thuế, vay vốn sản xuất,
Với những yêu cầu và sự cần thiết trên Tôi đã chọn đề tài: “Hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh”
Bản thân mong muốn đề tài này sẽ mang đến cho tất cả chúng ta một cái nhìn mới, sâu sắc, rõ nét hơn về NKT và sự hiểu biết đầy đủ hơn về vấn đề hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho NKT Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh nói riêng và của các cơ sở dạy nghề và giải quyết việc làm đối với NKT nói chung
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu ở trên thế giới
Theo số liệu thống kê của Tổ chức y tế Thế giới(WHO) thì hiện nay trên thế giới có gần 1 tỷ NKT, chiếm từ 15% - 20% dân số thế giới Số NKT nặng chiếm hơn 345 triệu người, ở các nước phát triển có hơn 100 triệu người, ở các nước đang phát triển có hơn 235 triệu NKT Thống kê năm 2011 có khoảng hơn 1 tỷ người trên thế giới có dấu hiệu khuyết tật, chiếm 15% dân số; có khoảng từ 110 đến 190 triệu NKT có khó khăn về thực hiện chức năng;
tỷ lệ NKT có xu hướng gia tăng; ở các nước chậm phát triển có tỷ lệ khuyết tật cao hơn các nước phát triển; khuyết tật phổ biến hơn ở trẻ em, nữ giới, người già, người nghèo, người neo đơn
Theo kết quả báo cáo thế giới về tình trạng khuyết tật hơn 40 năm qua và một cái nhìn tổng quát về thực trạng khuyết tật, thì các chuyên gia nghiên cứu mới chỉ ra rằng gần 1/5 tổng dân số ước tính trên toàn cầu sống chung với khuyết tật, và có khoảng từ 110 đến 200 triệu NKT phải đối mặt với những khó khăn thường xuyên như nạn đói, không có nhà ở, không được học tập, không được chăm sóc, khám chữa bệnh, bị bóc lột sức lao động, nhưng thực
tế cho thấy rằng những NKT đang gặp khó khăn có thể cao hơn rất nhiều Số lượng NKT được cung cấp dịch vụ y tế với những kỹ năng không đáp ứng được nhu cầu của họ, cũng như dễ bị từ chối chăm sóc y tế cần thiết nhiều gấp
3 lần so với người bình thường
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế(ILO) đã nêu: Người khuyết tật có quyền hưởng những chương trình giáo dục - đào tạo, phục hồi chức năng, nghề nghiệp, trợ giúp, tư vấn những dịch vụ về sắp xếp việc làm và các dịch
vụ khác để làm cho phát triển tối đa các khả năng, kỷ năng và thúc đẩy những quá trình hòa nhập hay tái hòa nhập xã hội của họ[28]
Trang 92.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo số liệu thống kê thì kết quả một cuộc điều tra cho thấy: Nước ta có khoảng 8% hộ gia đình có NKT, tức là bình quân một hộ gia đình chiếm 1,12
% NKT; khoảng 75% hộ gia đình có NKT sinh sống ở khu vực nông thôn và 32,5% thuộc diện hộ nghèo (cao gấp 2 lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm); gần 24% những hộ gia đình NKT phải sống trong điều kiện nhà tạm, 65% sống trong những ngôi nhà kiên cố và hầu như các hộ gia đình có NKT chỉ đảm bảo được nhu cầu về ăn để tồn tại, ở và mặc cho NKT, còn lại các nhu cầu khác như đi học văn hóa, học nghề, khám chữa bệnh,…thì khả năng đáp ứng của các hộ gia đình là rất khó khăn, có khoảng trên 80% và gần 55% hộ gia đình gặp trở ngại khi tiếp cận về việc làm và vay vốn sản xuất kinh doanh Đối với cá nhân NKT, theo kết quả cuộc điều tra mẫu phản ánh một thực trạng đáng lo ngại về NKT và cuộc sống của họ, ví dụ như phần lớn NKT có trình độ văn hoá thấp, chưa được học văn hóa và chưa qua đào tạo nghề Trong đó có khoảng 60% NKT đang thuộc độ tuổi lao động, và hiện nay mới chỉ có 3% NKT có việc làm tạm thời ổn định và 62% trong số này đang tham gia lao động để có thu nhập; những việc làm chủ yếu của NKT là sản xuất nông nghiệp, nghề đơn giản, có năng suất lao động và tạo ra giá trị lợi nhuận thấp nhất trong các lĩnh vực sản xuất của nền kinh tế quốc dân(như đan lát, thêu ren, làm chổi, làm tăm tre, ) Số NKT có thể tự lập được cuộc sống chỉ chiếm khoảng 11%, một tỷ lệ rất nhỏ
Theo Bộ LĐTBXH sơ kết thực hiện 5 năm Luật NKT[21] và thực hiện Quyết định 1019/TTg[7] về Đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020, trong
đó, công tác dạy nghề, việc làm sau 5 năm triển khai, chúng ta thấy được mạng lưới cơ sở dạy nghề cho NKT đã gia tăng đáng kể, từ 850 cơ sở (năm 2010) lên 1.130 cơ sở (năm 2014), trong đó có 225 cơ sở dạy nghề chuyên biệt Giai đoạn 2010 – 2014, cả nước có khoảng 120 nghìn NKT được hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm Trong đó, đánh giá tổng kết đến năm 2015 đã hỗ trợ dạy nghề và giải quyết cho NKT của cả nước là 140.000 người, tiếp tục thực
Trang 10hiện đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020, dự kiến có khoảng 300.000 NKT được hỗ trợ học nghề miễn phí và kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp Trong những năm qua, một số địa phương đã tích cực tổ chức dạy nghề,
tư vấn và tạo việc làm cho NKT, xây dựng mô hình việc làm của NKT có hiệu quả, hỗ trợ bằng phương pháp thông qua các chương trình, các hoạt động như hỗ trợ mua con giống, chăn nuôi, trồng trọt, phát triển nhóm, mô hình sản xuất quy mô vừa, nhỏ, nghề thủ công, Có thể nói, trong 5 năm triển khai Luật NKT, việc thực hiện chính sách pháp luật về NKT đã tạo ra những chuyển biến tích cực, rõ nét đối với cuộc sống của NKT Cùng với đó, sự thay đổi về nhận thức xã hội đã giúp cho NKT ngày càng tự tin hơn, hòa nhập với đời sống xã hội
Hiện nay theo số liệu điều tra đến nay ở Hà Tĩnh, số NKT trên địa bàn toàn tỉnh là 69.466 người, chiếm khoảng 5,2 dân số Như vậy so với cả nước thì Hà Tĩnh là tỉnh có tỷ lệ người khuyết tật tương đối cao[30]
Tuy Hà Tĩnh là một tỉnh nghèo, các nguồn thu không đủ chi và chi ngân sách hàng năm chủ yếu do TW hỗ trợ, nhưng với sự quan của Tỉnh về triển khai thực hiện các chính sách an sinh xã hội nói chung và NKT nói riêng rất đúng đắn, đảm bảo và kịp thời Hàng năm Tỉnh đã trích kinh phí phục vụ các chương trình như làm nhà cho NKT, hỗ trợ dạy nghề, cho vay vốn ưu đãi, xây dựng các công trình công cộng, nhằm giúp đỡ NKT khắc phục những khó khăn vươn lên trong cuộc sống
Chúng ta hãy quan niệm và khẳng định rằng "Nếu chúng ta cho người ta một con cá, có thể người ta sống được một ngày Nếu chúng ta dạy cho họ nghề cầu cá thì người ta có thể sống cả đời người"
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng về kết quả đạt được, hạn chế, khó khăn và các giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho NKT Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 113.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, cơ sở lý thuyết, các chính sách; khảo sát, điều tra, phân tích ; Tìm hiểu về kết quả, hạn chế, nguyên nhân từ thực tiễn; Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu, gồm:
- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ, giáo viên
- Đối tượng nghiên cứu: NKT đang học nghề và làm việc tại Trung tâm
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, giúp chúng ta có cách nhìn đúng đắn và toàn diện hơn về thế giới khách quan Mỗi khi nghiên cứu ta thấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh được những quy luật cơ bản thể hiện sự luận giải và nguyên tắc chung cho khoa học Phải nói rằng con người là một thể thống nhất giữa các yếu tố sinh vật và xã hội, đồng thời bản chất con người không phải là một cái trừu tượng
cố hữu của cá nhân riêng biệt, do vậy bản chất của con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội và bản chất của con người theo quan điểm của Mácxit được hình thành và thể hiện ở những con người hiện thực
Việt Nam là nước đang phát triển và để phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng con người văn hóa, văn minh thì luôn phải quan tâm đến vấn đề an sinh
Trang 12xã hội để nhằm ổn định xã hội, vì thế trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cho những người nghèo, đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh khó khăn,… và NKT nói riêng, đây là truyền thống tốt đẹp, mang tính nhân văn sâu sắc của người dân Việt Nam "lá lành đùm lá rách", truyền thống do ông, cha ta để lại từ ngàn đời
Tất cả những chính sách của Nhà nước ta đã đề cập đến những vấn đề ưu tiên, trợ giúp, ưu đãi, khuyến khích đó như hỗ trợ kinh phí học nghề, đi lại, hỗ trợ thuê đất, hỗ trợ miễn, giảm thuế, hỗ trợ vay vốn quỹ quốc gia giải quyết việc làm,…hỗ trợ những nhu cầu thiết yếu nhất cho NKT nhằm mục tiêu nâng cao năng lực hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho NKT
Như vậy, qua các thời kỳ phát triển đất nước đều có các chính sách rất quan trọng đã đóng góp tích cực, tạo mọi thuận lợi giúp đỡ và có hiệu quả thiết thực nhằm trợ giúp cho NKT giảm bớt những khó khăn trong đời sống học tập, lao động,…và tỉ lệ NKT được học nghề hàng năm tăng, năm sau cao hơn năm trước, số NKT có việc làm nhiều hơn và thu nhập ổn định, hòa nhập cộng đồng xã hội đạt kết quả tích cực, góp phần ổn định xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu
Phương pháp thu thập, tổng hợp, tìm hiểu các tài liệu như sách, báo, tạp chí, các báo cáo, các văn bản pháp luật và nắm bắt, vận dụng các lý thuyết của ngành CTXH liên quan đến công tác hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT kết hợp với công tác dạy nghề NKT trong thời gian qua vào công tác nghiên cứu, giải thích hiện tượng, từ đó nhìn nhận tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài một cách đúng đắn, khách quan nhất
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Chúng ta tiến hành phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề và NKT tại trung tâm, phỏng vấn sâu 5 cán bộ giáo viên, tập trung trả lời những câu hỏi như: NKT cảm nhận như thế nào khi sống, học tập và làm việc tại trung tâm; được tham gia những hoạt động gì; được hưởng những quyền
Trang 13lợi gì; có những thuận lợi gì; những khó khăn thường gặp phải,…? nhằm mục đích giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm
5.2.3 Phương pháp điều tra khảo sát
Dùng phương pháp này, chúng tôi chọn mẫu ngẫu nhiên, số lượng 10 mẫu
để tìm hiểu các vấn đề, những khó khăn, nguyện vọng của NKT đang học nghề và làm việc tại Trung tâm Với mỗi phiếu khảo sát, chúng tôi xây dựng
từ 10 đến 15 câu hỏi, có những câu hỏi đóng và câu hỏi mở để tìm hiểu mức
độ hài lòng của NKT với các khía cạnh trong cuộc sống
5.2.4 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp thu thập thông tin xã hội về đối tượng nghiên cứu bằng cách tri giác trực tiếp và ghi chép tỉ mỉ mọi yếu tố, nhân tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu và có ý nghĩa đối với mục tiêu của nghiên cứu
5.2.5 Phương pháp đàm thoại
Qua các cuộc trò chuyện trực tiếp, gián tiếp để khai thác thêm thông tin,
hỗ trợ các phương pháp khác trong việc xử lý phân tích và đưa ra kết luận khách quan, Chúng tôi đàm thoại với 5 cán bộ giáo viên và 10 người NKT tại Trung tâm Nội dung đàm thoại là những hoạt động đang triển khai trợ giúp cho NKT, đánh giá kết quả đạt được thông qua can thiệp với các nhóm đối tượng, nhu cầu về trợ giúp của Trung tâm hiện nay, những khó khăn, hạn chế trong hoạt động cung cấp, hỗ trợ học nghề và việc làm
5.2.6 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Nguyên tắc cơ bản về việc xây dựng bảng hỏi, trên cơ sở trưng cầu ý kiến những yêu cầu chi tiết, dễ hiểu để làm sao cho tất cả cán bộ, giáo viên và NKT trả lời theo các nội dung yêu cầu và cung cấp thông tin chính xác
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 14có thể nhìn nhận công tác hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ góc độ khoa học, mô tả và đánh giá vấn đề bằng nhiều lý thuyết khác nhau, những kiến thức từ thực tiễn được bổ sung làm phong phú thêm kho tàng kiến thức,
để phục vụ nghiên cứu, xây dựng chính sách hỗ trợ, đề ra các giải pháp có hiệu quả,…về công tác hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đã nghiên cứu thực trạng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm, từ đó chúng ta thấy được vấn đề cốt lõi, có cái nhìn tổng quát hơn, sâu sắc hơn, quy chuẩn hơn, dễ tiếp cận hơn và từ kết quả nghiên cứu có thể đưa ra những khyến nghị nhằm giúp các cơ quan chức năng, tổ chức, các cơ sở dạy nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh,…có những định hướng, giải pháp tăng cường hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với NKT đạt hiệu quả cao hơn
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, Luận văn có 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
Chương 2: Thực trạng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật tại Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật tại tỉnh Hà Tĩnh
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1.Những vấn đề lý luận về hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
1.1.1 Khái niệm hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật Khái niệm "khuyết tật" ở trên Thế giới và Việt Nam có nhiều cách nhìn
nhận, đánh giá, cách hiểu và diễn giải khác nhau về khuyết tật, xuất phát từ sự
đa dạng của khuyết tật, sự phức tạp về mức độ khuyết tật, công cụ đo lường
và đánh giá, cũng như sự khác biệt về văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về khuyết tật
Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) đã không ngừng đưa ra những định nghĩa chung cho khuyết tật từ những năm 1976 và đến năm 1988(WHO) mới đưa ra cách phân loại quốc tế về giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật đã là một hệ thống tiên phong trong quá trình hiểu và đưa ra định nghĩa về khuyết tật Theo cách hiểu của WHO các thuật ngữ suy giảm chức năng, khuyết tật, tàn tật có nội hàm khác nhau: Suy giảm chức năng chỉ những người có vấn đề về thể chất; khuyết tật là những hạn chế trong hoạt động do suy giảm chức năng gây nên; tàn tật là hạn chế hay hao hụt(do khuyết tật) khả năng thực hiện vai trò trong xã hội
Theo người dân Việt Nam, thì từ "khuyết tật" và "tàn tật" là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy Trong các pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam thì "Tàn tật" là cụm
từ được chính thức sử dụng
Chẳng hạn từ “khuyết”có nghĩa là không đầy đủ, thiếu mất một bộ phận, một phần, “tật” nghĩa là có “điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc Còn ở người là sự bất thường, nói chung
Trang 16không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có hoặc
do tai nạn hay bệnh gây ra”
Năm 2010 Quốc hội (QH) Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ khuyết tật thay cho tàn tật trong các Bộ Luật ban hành có liên quan, cụ thể là Luật NKT số 51/2010/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011[21] nó phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề NKT
NKT là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của tất cả cộng đồng xã hội Cộng đồng quốc tế đã có nhiều chương trình dành cho đối tượng này nhằm giúp họ có thể sống, học tập, làm việc và hòa nhập Xác định thế nào là người khuyết tật là vấn đề rất quan trọng bởi có xác định chính xác thì mới không bỏ sót đối tượng thụ hưởng các chương trình, chính sách của Nhà nước Quan niệm về NKT không giống nhau tùy thuộc vào nhận thức, chế độ
xã hội và thái độ của mỗi người hay nhóm người trong cộng đồng xã hội
Theo quan niệm Quốc tế
Theo quan niệm của Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì có ba thuật ngữ có liên quan đến thuật ngữ tàn tật, khuyết tật đó là Khiếm khuyết, Suy giảm khả năng và Tàn tật
Khiếm khuyết: thuật ngữ này chỉ tình trạng bị mất hoặc tình trạng không bình thường của một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý Khiếm khuyết có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc do bẩm sinh gây nên
Giảm khả năng: thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ cá nhân là tình trạng giảm hoặc mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết gây ra; hạn chế hoặc mất chức năng: vận động, nghe, nói, nhìn hoặc giao tiếp
Tàn tật: thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ xã hội là những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị khuyết tật Hậu quả của sự tương tác giữa một cá nhân bị khiếm khuyết hoặc giảm khả năng với những rào cản trong môi trường xã hội, văn hoá hoặc vật chất, làm cho cá nhân này không thể tham gia
Trang 17một cách bình đẳng vào cuộc sống cộng đồng chung hoặc hoàn thành một vai trò bình thường
Nhìn chung, ở trên thế giới thì quan niệm về NKT cơ bản là giống nhau
về bản chất vấn đề, nhưng cách diễn đạt cũng không hoàn toàn giống nhau Theo quan điểm của Công ước Quốc tế về quyền con người của NKT được phê chuẩn ngày 30/3/2007[6] cho rằng, NKT bao gồm, những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội
Theo đạo luật số 7277 với tên gọi là “Đạo luật tạo nên sự phục hồi chức năng, tự phát triển, tự tin cho NKT và hòa nhập NKT vào xã hội và các mục đích khác” được thông qua bởi Thượng nghị viện và Hạ nghị viện của Quốc hội Phillipines vào ngày 12/7/1991 quy định: NKT là người có sự khác biệt
về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động và tâm thần
để thực hiện một hoạt động được coi là bình thường Với khái niệm về người khuyết tật thì Đạo luật 7277 của Philippin còn giải thích một số thuật ngữ khác có liên quan đến NKT, cụ thể: Sự khiếm khuyết là sự mất, giảm hay rối loạn về chức năng hay cấu trúc cơ thể, tâm lý và hành vi
Khuyết tật có nghĩa là sự khiếm khuyết về vận động hay trí não có ảnh hưởng đáng kể đến một hoặc nhiều chức năng vận động, tâm thần của một cá nhân hay các hoạt động của cá nhân hoặc được coi là có khiếm khuyết
Theo quan niệm ở Việt Nam
Trước đây Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy định về giáo dục hòa nhập dành cho NKT số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT, nội dung của quy định này bao gồm: Những quy định về tổ chức, hoạt động giáo dục hòa nhập cho NKT; giáo viên, giảng viên, nhân viên; NKT trong giáo dục hòa nhập và cơ
sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng dạy học Theo Quyết định này NKT
Trang 18được định nghĩa là “NKT không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chứcnăng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm giảm khả năng hoạt động, khiến cho việc sinh hoạt, học tập, lao động gặp nhiều khó khăn”.
Ngày 17/6/2010, Quốc hội(QH) Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH/12 và
có hiệu lực từ 01/01/2011[21], hình thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “tàn tật” hiện hành, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thể giới về vấn đề khuyết tật
Theo quy định của Luật NKT thì NKT được hiểu là “Người bị khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập khó khăn” Khuyết tật được phân loại: Tật vận động, tật giác quan (câm, mù, điếc,…), tật trí tuệ, tật thần kinh tâm thần, khuyết tật khác và hạng khuyết tật gồm: NKT đặc biệt nặng, NKT nặng, NKT nhẹ
Khái niệm "Dạy nghề" được hiểu như "Luật Dạy nghề" đã định nghĩa:
"Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái
độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học"[19] Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào
đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội Dạy nghề có thể là những hoạt động dạy và học tại nơi làm việc, các cơ sở dạy nghề, trung tâm đào tạo, các lớp học không chính quy nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học
Mục tiêu dạy nghề cho NKT nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả
Trang 19năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình
độ cao hơn
Khái niệm về "hỗ trợ dạy nghề là các hoạt động trợ giúp người học nghề một cách đầy đủ về tất cả các mặt nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học"
Theo góc độ Công tác xã hội(CTXH) thì hỗ trợ dạy nghề cho NKT chính
là sự hỗ trợ về một số mặt, như sau:
- Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT cần có trình độ chuyên môn đạt yêu cầu, tâm huyết với nghề, cần có những kiến thức riêng về NKT như đặc điểm, nhu cầu, tâm sinh lý của NKT, Ngoài ra phải tận tụy, trách nhiệm, chịu khó, nhiệt tình, biết hy sinh,…thậm chí phải hiểu các chính sách, pháp luật, biết ngôn ngữ NKT nghe nói,…
- Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật: phải được thiết kế đặc biệt phù hợp với người khuyết tật như có đường đi riêng giành cho xe lăn, bàn ghế trang thiết bị phù hợp với dạng khuyết tật, Đồng thời có đầy đủ các phương tiện dạy học, máy móc trang thiết bị phù hợp, cũng như nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình thực hành học nghề của NKT
- Kinh phí hỗ trợ dạy nghề phải cấp đảm bảo, đáp ứng phục vụ dạy nghề
và cần được huy động từ các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức và
cá nhân trong và ngoài nước
- Chương trình dạy nghề cho NKT, gồm: Chương trình, giáo trình dạy nghề, giáo án, thời gian, các loại sổ sách, hồ sơ khác của quá trình học nghề,
Trang 20hình thức giảng dạy lý thuyết, thực hành (phù hợp với từng loại khuyết tật khi được học nghề)
Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm ta phải liên hệ đến phạm trù lao động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau
Lao động trước hết là một hành động diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, trong lao động con người đã vận dụng trí lực và thể lực cùng với công
cụ tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, đời sống con người, lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động rất cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người Con người không thể sống khi không có lao động
Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động, sức lao động là năng lực của con người nó bao gồm cả thể lực và trí lực, nó là yếu tố tích cực đóng vai trò trung tâm trong suốt quá trình lao động, là yếu tố khởi đầu, quyết định trong quá trình sản xuất, sản phẩm hàng hoá có thể được ra đời hay không thì nó phải phụ thuộc vào quá trình sử dụng sức lao động Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Từ việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân
Như vậy một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm như: Công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận
Chúng ta có thể hiểu rằng "Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho người lao động"
Trang 211.1.2 Nguyên tắc hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
1.1.2.1 Nguyên tắc hỗ trợ dạy nghề
Khi triển khai làm việc thì đều phải có cách làm, phương pháp và nguyên tắc để thực hiện nó, nếu không sẽ dẫn đến hiệu quả rất thấp Đặc biệt đối với NKT lại có một nguyên tắc đặc thù, nó giúp chúng ta định hướng cho người thực hiện trong từng lĩnh vực, từng công việc cụ thể Hoạt động hỗ trợ dạy nghề cho NKT cũng có những nguyên tắc riêng quan trọng buộc các nhà quản
lý, cán bộ giáo viên chúng ta phải hiểu và nắm rõ khi làm việc, tiếp xúc và dạy nghề NKT có hiệu quả, đó là:
- Chấp nhận sự cá biệt, đây là nguyên tắc quan trọng khi làm việc với NKT bởi bản thân NKT đã là sự cá biệt, chúng ta cần phải biết chấp nhận sự
cá biệt của mỗi cá nhân NKT Người khuyết tật có hoàn cảnh sống, nhu cầu, cảm xúc, mong muốn và cả những ưu điểm, nhược điểm, kể cả dạng tật cũng khác nhau Do đó trong quá trình hỗ trợ NKT học nghề đòi hỏi ta luôn cần sáng tạo trong cách tiếp cận giúp đỡ từng NKT Ngay cả khi có thể NKT gặp những khó khăn như nhau về học nghề thì cách giúp đỡ giải quyết cũng khác nhau do mỗi cá nhân có hoàn cảnh, tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, cảm xúc, những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau Ví dụ trong vấn đề lựa chọn ngành nghề để theo học nhưng việc hỗ trợ NKT lựa chọn ngành nghề học phù hợp thì có cách thức khác nhau, có em tự chọn nghề để học, có em lại do gia đình NKT chọn nghề, tức là tùy thuộc vào điều kiện, nguyện vọng, hoàn cảnh, sở thích, khả năng của NKT
- Tôn trọng NKT, bởi vì được tôn trọng là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người nó giống như các nhu cầu ăn, mặc, ở,… Hơn ai hết người khuyết tật cần được tôn trọng trong xã hội Tôn trọng NKT là thái độ không phán xét, không xem thường miệt thị hoặc quá chú tâm đến sự khuyết tật của
họ Bằng thái độ chân thành và niềm mong ước sâu sắc để hỗ trợ NKT học nghề giúp họ phát triển hòa nhập cộng đồng tìm kiếm được công việc phù hợp
Trang 22với ngành nghề đã học Trong quá trình hỗ trợ dạy nghề cho NKT thì tôn trọng người khuyết tật cần được thể hiện ở việc để NKT tự quyết định ngành nghề mình sẽ theo học đồng thời hỗ trợ đầy đủ về cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên vật liệu, giáo viên có trình độ kinh nghiệm, để NKT học nghề có chất lượng cao
- Lắng nghe, lắng nghe để thấu hiểu NKT nói, chia sẽ tâm tư, nguyện
vọng, khó khăn, nhu cầu để chúng ta hiểu và dạy nghề có chất lượng, hiệu quả Vấn đề lắng nghe không phải dễ vì nó đòi hỏi sự lắng nghe một cách chân thành, hợp tác, nghe sự đồng cảm từ tấm lòng, từ trái tim thì người đối diện mới nói, mới bộc lộ tâm tư của họ Do đó mà nghe không phải ở thế thụ động mà là một thái độ tích cực, có chức năng khuyến khích khơi dậy sự cởi
mở của người đối thoại Như vậy mới hiểu nhau, mới thông cảm và hợp tác tốt được
Trong hỗ trợ dạy nghề cho NKT, việc lắng nghe không chỉ lắng nghe bằng khối óc mà còn nghe bằng chính trái tim để có thể hiểu đầy đủ thông tin
và nhu cầu của NKT trong điều kiện các dạng khuyết tật đang tác động trực tiếp lên thể chất và tinh thần của họ, nhất là đối với người khiếm thính Lắng nghe còn thể hiện ở thái độ tôn trọng, chấp nhận không phê phán đánh giá NKT, cố gắng tìm hiểu vì sao họ bị như vậy? họ cần hỗ trợ những gì?
Ngoài ra cần lưu ý một số phương pháp giúp chúng ta lắng nghe NKT nói có hiệu quả trong khi trò chuyện, giao tiếp:
- Phải chú ý khi trò chuyện với NKT bằng tất cả sự kính trọng, trò chuyện, nhìn thẳng vào mắt họ, bày tỏ sự đồng tình bằng cách gật đầu, thể hiện mình đang sẵn sàng nghe họ nói, thái độ cởi mở, thân tình
- Phải hiểu và trả lời các câu hỏi, do vậy mà giáo viên cũng phải hiểu biết, học thêm một số ngôn ngữ khiếm thính, ví dụ nói chuyện với NKT khiếm thính thì người cán bộ giáo viên phải biết được ký hiệu, ngôn ngữ của người khiếm thính
Trang 23- Chú tâm để hiểu chứ không phải để biết, tập trung để hiểu quan điểm
và cả ý nghĩa phía sau lời nói của NKT
- Phản hồi để hiểu thêm thông tin, ý kiến và cảm xúc, đặt câu hỏi khuyến khích NKT cung cấp thêm thông tin, lật lại vấn đề từ góc nhìn của người nghe
- Đặt niềm tin vào khả năng tự giải quyết của NKT trong hỗ trợ dạy nghề cho NKT, tin vào tính tự quyết của Người thụ hưởng dịch vụ(Thân chủ) là nguyên tắc rất quan trọng bởi hơn ai hết chính bản thân họ mới hiểu về hoàn cảnh, suy nghĩ, cảm xúc những ưu khuyết điểm của mình, vì vậy họ chính là người tự giải quyết vấn đề của mình Tuy nhiên, không phải bỏ mặc người khuyết tật, mà chúng ta cần giúp đối tượng nhận ra điểm mạnh của mình, phân tích, tìm ra những giải pháp, những nguồn hỗ trợ khác nhau để đối tượng
có thể tự mình quyết định giải quyết vấn đề của mình Đồng thời cần chú ý trước khi để họ tự quyết định hãy nói rõ những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức để họ tự quyết định vấn đề của mình
Quá trình thực hiện nguyên tắc này, cần cân nhắc và can thiệp trong những trường hợp xét thấy quyết định của thân chủ gây tổn thương nghiêm trọng cho chính thân chủ hoặc cho người khác hoặc thân chủ không có khả năng tự đưa ra quyết định, chẳng hạn NKT trí tuệ, tâm thần thì cần sự giúp đỡ rất nhiều từ chúng ta để quyết định các vấn đề của chính bản thân họ
Ngoài những nguyên tắc làm việc trên thì nguyên tắc rất quan trọng khi làm việc với NKT đó là sự trung thực, nhất là trong vấn đề hỗ trợ dạy nghề cho NKT Trong quá trình học nghề NKT sẽ được hỗ trợ về cở sở vật chất kỹ thuật, nguyên vật liệu, kinh phí học nghề, nếu không trung thực liệu rằng những hỗ trợ đó có đến với NKT một cách đầy đủ không? Để giúp NKT có điều kiện học nghề tốt nhất, mang lại hiệu quả thiết thực nhất như thế nào?
Trang 241.1.2.2 Nguyên tắc hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật
Để NKT có cơ hội và điều kiện làm việc bình đẳng như những người bình thường khác thì Nhà Nước ta đã ban hành các chính sách dành cho NKT, trong đó có Luật NKT quy định rất rõ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Không phân biệt đối xử đối với NKT trong lĩnh vực việc làm, n guyên tắc này
xuất phát từ vấn đề quyền con người NKT cũng là con người nên họ có quyền được đối xử bình đẳng và công bằng như những người khác ở trong mọi lĩnh vực và trong đó có lĩnh vực việc làm NKT bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận nên có được việc làm đối với họ rất khó khăn Thực tế hiện nay những người sử dụng lao động không muốn nhận những NKT mặc dù trong Luật NKT có quy định, bởi lý do năng suất lao động của NKT thấp hơn so với người không khuyết tật, hơn nữa trong một số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thì người sử dụng lao động còn phải đầu tư cơ sở vật chất để tạo môi trường làm việc thuận lợi cho NKT Chính điều này tạo nên sự phân biệt đối xử việc làm giữa NKT và người không khuyết tật Phân biệt đối xử bao gồm phân biệt đối xử trực tiếp (là sự đối xử không công bằng giữa người lao động khuyết tật và người lao động không khuyết tật được quy định trong luật pháp hoặc các thông lệ thực tiễn gây nên sự khác biệt rõ ràng giữa những người lao động này) và phân biệt đối xử gián tiếp (là những quy định pháp luật hoặc các thông lệ thực tiễn gián tiếp làm triệt bỏ hoặc làm phương hại sự bình đẳng cơ may hoặc đối xử giữa những NKT và người không khuyết tật trên thực tế) Nguyên tắc này đã được Tổ chức lao động quốc tết (ILO)[28] quy định trong Công ước số 111/Công ước về phân biệt đối xử trong việc làm nghề nghiệp Nguyên tắc không phân biệt đối xử với NKT trong lĩnh vực việc làm thể hiện ở việc NKT và người không khuyết tật đều được đối xử bình đẳng về việc làm, cơ hộ tìm kiếm việc làm cũng như quá trình duy trì và đảm bảo việc đó
Trang 25- Nguyên tắc hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với NKT trong lĩnh vực việc
làm NKT là một trong những đối tượng lao động đặc thù, do những đặc điểm
về thể chất nên họ gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm cũng như duy trì việc làm, hơn thế họ cần được làm việc trong một môi trường đặc thù, riêng biệt phù hợp với sức khỏe Chính vì vậy cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT có việc làm và có việc làm bền vững, tức là thực hiện quyền việc làm của mình Để NKT bình đẳng như người khác về cơ hội việc làm cũng như duy trì nó thì cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT
để họ có thể tìm kiếm được việc làm và có được việc làm bền vững, được thực hiện quyền việc làm của mình Những hỗ trợ đặc biệt nhằm tạo cơ hội bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa lao động khuyết tật với lao động không khuyết tật không bị coi là phân biệt đối xử mà chỉ là việc làm nhằm tạo điều kiện để NKT được bình đẳng ngang bằng với những người lao động khác, như nam - nữ, giàu - nghèo, thành thị - nông thôn,…giúp họ vươn lên trong cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng
Để việc hỗ trợ, điều chỉnh này được đảm bảo thực thi trên thực tế thì Nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực phải giữ vai trò chủ đạo trong việc hỗ trợ, điều chỉnh phù hợp Bản thân NKT cũng phải có những cố gắng, xóa bỏ mặc cảm, tự ti nhất định và người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm
hỗ trợ một phần Tuy nhiên sự hỗ trợ điều chỉnh này không có nghĩa làm gánh nặng cho các đơn vị sử dụng lao động có sử dụng lao động là NKT, Nhà nước
sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc hỗ trợ điều chỉnh nói trên và bản thân NKT cũng phải tự cố gắng vươn lên, vượt qua chính mình
1.1.3 Vai trò của hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
1.1.3.1.Vai trò của hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
Hỗ trợ dạy nghề đối với NKT có vai trò hết sức quan trọng nó bao gồm rất nhiều vấn đề và nó có mối quan hệ khăng khít, đan xen, bền chặt với nhau,
và tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau, cũng có lúc mâu thuẫn nhau
Trang 26Trên cơ sở ấy mà nó có tác động trực tiếp tới kết quả, hiệu quả dạy nghề cho NKT Như vậy những vai trò cơ bản trong hỗ trợ dạy nghề cho NKT gồm:
- Vai trò về cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị kỹ thuật của các cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật
Như chúng ta biết cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị, kỹ thuật là yếu
tố đầu tiên quyết định tới việc cơ sở dạy nghề có tồn tại hay không? Cơ sở vật chất, kỹ thuật được nhắc đến ở đây là hệ thống trường lớp, những trang thiết
bị, máy móc phục vụ cho công tác dạy nghề, kinh phí của công tác dạy nghề,
Nói đến cơ sở vật chất, kỹ thuật, chúng ta không thể không nhắc đến những trang thiết bị, dụng cụ, máy móc phục vụ quá trình dạy và học Đó là bàn học, ghế ngồi, hệ thống chiếu sáng, các thiết bị ârn thanh, máy móc thực hành, NKT học nghề vi tính sẽ không thể học tốt nếu không biết cách sử dụng máy vi tính Đặc biệt, đối với dạy nghề NKT, cơ sở vật chất kỹ thuật phải được thiết kế đặc biệt phù hợp với NKT như có đường đi riêng giành cho
xe lăn, xe lắc, ghế ngồi, bảng viết,
Có hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật tốt sẽ khiến kết quả dạy nghề có chất lượng, hiệu quả, sản phẩm của quá trình đó là những NKT có trình độ chuyên môn, vững vàng trong nghề đã được đào tạo, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc Nếu cơ sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu đặt ra thì quá trình học lý thuyết và thực hành có những vấn đề thiếu thực tế, tri thức, "học mà không hành" việc học tại các cơ sở dạy nghề với ra làm việc thực tế có những khoảng cách lớn, làm giảm hiệu quả của công tác đào tạo, gây lãng phí cho quá trình đào tạo
- Vai trò về chương trình dạy nghề cho người khuyết tật
Chương trình dạy nghề bao gồm: giáo trình dạy nghề, sách, giáo án, hồ
sơ khác,… thời gian của quá trình học nghề, dạy nghề ngắn hạn hay dài hạn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ LĐTBXH, phương pháp, hình
Trang 27thức giảng dạy là dạy trực tiếp dạy lý thuyết hay thực hành Những nhân tố này là những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng, hiệu quả của công tác dạy nghề
Hệ thống lý thuyết bao giờ cũng được tập trung trong các tập bài giảng của giáo viên dạy nghề mà những bài giảng này có được là nhờ giáo viên dạy nghề được nghiên cứu qua sách vở, hồ sơ, tài liệu tham khảo hay có kinh nghiệm từ thực tiễn giảng dạy hoặc quá trình sản xuất Một hệ thống lý thuyết tốt sẽ giúp cho NKT học nghề hình dung ra được công việc mà họ sẽ phải làm trong tương lai, giúp họ tiếp cận được với thực tế một cách rõ ràng và nhanh
chóng nhất, phương pháp dạy nghề quan trọng nhất là, "Học phải đi đôi với
Hành" "Lý thuyết phải đi đôi với thực hành" Có nghĩa là muốn làm việc thực
tế được tốt thì phải có hệ thống lý thuyết tốt dẫn đường Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của giáo trình dạy nghề, của những tài liệu, hồ sơ, sách báo tham khảo và quan trọng nhất là những bài giảng lý thuyết của giáo viên dạy nghề Thời gian dạy và học nghề cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình hỗ trợ dạy nghề cho NKT, với thời gian ngắn, NKT học nghề chỉ có thể tiếp xúc được với phần nào nội dung công việc trong tương lai của họ, muốn làm việc tốt thì sau khoá học họ vẫn phải tìm hiểu và mày mò thêm trong thực tế; thời gian học nghề ngắn sẽ không thể liên kết tốt giữa lý thuyết và thực hành và không thể đáp ứng được với yêu cầu của những công việc phức tạp Trong quá trình hỗ trợ dạy nghề cho NKT, gồm cơ sở vật chất, chương trình, giáo án, cách thức, thời gian,…phương pháp dạy nghề cho NKT cần chú ý một số nội dung sau:
+ Giảm một số môn học để cho NKT có thể được giảng dạy với ít thông tin hơn so với học sinh bình thường khác, bỏ qua những tài liệu mà cơ sở dạy nghề xét thấy ít quan trọng hơn so với những môn học khác hoặc không thích hợp đối với học sinh NKT
Trang 28+ Rút ngắn các bài lý thuyết để học sinh NKT có thể đọc các tài liệu tương tự như các bạn bè cùng lớp nhằm rút ngắn thời gian lý thuyết và tăng thời gian thực hành
+ Các bài tập ngắn hơn, dễ hiểu hơn để học sinh NKT có thể làm bài tập
về nhà ngắn hơn, hoặc làm bài thi ngắn hơn và tập trung hơn, lý thuyết ngắn hơn thực hành
+ Các phương tiện hỗ trợ dạy nghề tăng lên cho học sinh NKT có vấn đề
về khả năng nhớ, có thể cung cấp cho học sinh một danh sách các từ vựng, hoặc là dạy nghề bằng phương pháp cầm tay chỉ việc, làm đi làm lại nhiều cho thành thói quen, thành thạo thao tác
+ Tăng thời gian để học sinh NKT xử lý được các kiến thức mà giáo viên truyền đạt và giúp học, làm bài thi đạt kết qủa cao hơn Tăng giờ thực hành nhằm giúp NKT làm đi, làm lại nhiều lần, cầm tay chỉ việc, tạo thói quen để giúp NKT hiểu hơn
- Vai trò về đội ngũ giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật
Giáo viên dạy nghề là những người trực tiếp mang kiến thức, kỹ năng của nghề truyền đạt cho NKT Thông qua giáo viên dạy nghề mà NKT hiểu được cơ sở lý luận, cơ sở khoa học của nghề; nắm được trình tự thực hiện công việc Ngoài ra thì đội ngũ giáo viên phải có kinh nghiệm, tận tụy, tâm huyết, trách nhiệm, để dạy nghề cho học sinh khuyết tật có tay nghề tốt Nếu giáo viên dạy nghề có trình độ tốt, tâm huyết với nghề sẽ đào tạo ra những NKT có chất lượng lao động cao và yêu nghề, từ đó mà nâng cao năng suất lao động cá nhân và xã hội, giảm những chi phí không đáng có trong quá trình sản xuất, tăng năng suất đối với quá trình lao động Ngược lại, giáo viên dạy nghề không đủ trình độ hoặc không tâm huyết với nghề, NKT học nghề
sẽ không thể tiếp thu có hiệu quả chương trình dạy nghề, dẫn đến việc áp dụng lý thuyết đã học vào trong thực hành là kém do đó khi đi vào sản xuất thực tế không đáp ứng được yêu cầu của công việc, gây lãng phí nguyên vật liệu, thời gian và cả tiền bạc Bên cạnh đó, giáo viên dạy nghề cho NKT cần
có những kiến thức riêng về NKT như đặc điểm, nhu cầu, tâm lý, kỷ năng nói
Trang 29với học sinh khiếm thính của NKT, thì công tác hỗ trợ dạy nghề cho NKT mới đạt được những kết quả tốt
1.1.3.2 Vai trò hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật
Do bị bệnh tật, khó khăn trong đi lại, hạn chế trong giao tiếp, nên hoạt động trong lao động của họ gặp rất nhiều khó khăn Tùy theo từng dạng tật
mà NKT có những khó khăn khác nhau nhưng họ là những người giàu nghị lực, dám vượt qua tất cả những trở ngại của bản thân và cả từ phía xã hội để dám nhận mọi công việc khác nhau khi xã hội có nhu cầu, từ những việc làm nhẹ nhàng như làm tăm tre, đan lát, may mặc, thêu dệt,…cho đến những công việc nặng nhọc như làm nghề hàn xì, gò, sữa chữa ô tô,…làm được những điều này bởi vì họ là những người trong các nhóm tự trợ giúp hoạt động có hiệu quả Như vậy, bên cạnh cơ chế bù trừ chức năng của các cơ quan cảm giác của NKT (như mất đi khả năng hoạt động của các cơ quan cảm giác nào thì ở họ có những hoạt động của cơ quan cảm giác còn lại phát triển rất mạnh
mẽ để giúp họ nhận biết thế giới xung quanh) thì chính là vấn đề tại đây (nhóm trợ giúp này) NKT đã trợ giúp nhau vượt qua những khó khăn bệnh tật, chia sẽ những kinh nghiệm của bản thân để giúp nhau thích nghi cuộc sống tốt hơn
Với sự hỗ trợ thích hợp của gia đình, xã hội và nghị lực vươn lên của chính bản thân NKT mà nhiều NKT đã đạt được những thành tích cao trong lao động, học tập Tuy nhiên với những công việc khác nhau thì mức thu nhập của họ cũng khác nhau nhưng nhìn chung đó là những thu nhập tương đối ổn định, mặc dù thu nhập đó còn thấp, như làm tăm tre, đan lát, thêu đan,…
Hỗ trợ việc làm cho NKT để giúp họ có việc làm, thu nhập ổn định, phù hợp với sức khỏe, tay nghề,…thông qua các chính sách, kinh phí, vốn, đất đai, thuế, tiêu thụ sản phẩm, các chương trình, dự án, các chính sách, văn bản pháp lý,… trên các phương tiện thông tin đài, báo, mạng,…để NKT hiểu, có thể tư vấn nghề phù hợp với khả năng, sức khỏe, điều kiện, nhu cầu của xã hội, địa phương,…để họ nắm bắt rồi triển khai thực hiện, sau đó liên hệ với các tổ chức, cá nhân trong nước, thậm chí ngoài nước để ký kết các hợp đồng,
Trang 30bao tiêu các sản phẩm đầu ra do NKT làm ra, đồng thời bảo vệ các quyền lợi, lợi ích chính đáng trên cơ sở các chính sách quy định, như thuế ưu đãi, vay vốn, cấp đất, thuê đất,… dành cho NKT để Họ vươn lên trong cuộc sống và
hòa nhập với cộng đồng xã hội một cách bình đẳng
1.2 Cơ sở pháp lý của việc hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật
1.2.1 Các chính sách và luật pháp trên thế giới
LHQ thông qua công ước về quyền của NKT đã được thông qua ngày 13/12/2006, nó được xây dựng dựa trên khuôn khổ tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền, Công ước Quốc tế về các quyền của NKT đã có hiệu lực từ ngày 03/5/2008 và lần đầu tiên công ước này đã thiết lập quyền của 650 triệu NKT trên toàn thế giới Đây là một trong những điều ước quốc tế quan trọng của LHQ về nhân quyền, là văn bản pháp lý quốc tế có ý nghĩa nhất hiện nay Công ước đề cập đến các quyền và lợi ích hợp pháp của NKT cũng như nghĩa
vụ của quốc gia thành viên trong việc bảo vệ và thúc đẩy thực hiện các quyền của NKT Mục đích của công ước này là thúc đẩy, bảo hộ và đảm bảo NKT được hưởng thụ một cách đầy đủ và bình đẳng quyền con người và các quyền
tự do cơ bản và nâng cao sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của NKT
Công ước quốc tế về quyền của NKT gồm 50 Điều các Quốc gia thành
viên phải cam kết thực hiện khi gia nhập công ước này Đây là hiệp ước đầu tiên mang lại vị thế và quyền hợp pháp nhìn nhận tình trạng khuyết tật như là một vấn đề về quyền con người Công ước này còn có ý nghĩa đặc biệt thay đổi cách nhìn đối với tình trạng khuyết tật là một vấn đề xã hội chứ không phải là vấn đề y tế và xác lập sự dịch chuyển từ phương thức tiếp cận theo hướng nhân đạo sang hướng nhân quyền Công ước được xem là cách tiếp cận mang tính nhân quyền đối với NKT Theo Công ước của LHQ việc đảm bảo quyền lợi của NKT không chỉ mang tính nhân đạo mà còn là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi Quốc gia như một phần của việc thực thi nhân quyền Cách tiếp cận này được xem như là một bước đột phá của cộng đồng quốc tế, loại
Trang 31bỏ các rào cản và tạo cơ hội bình đẳng cho NKT giống như mọi cá nhân khác trong xã hội
Công ước được áp dụng theo 8 nguyên tắc bao gồm tôn trọng phẩm giá vốn có, sự tự chủ của cá nhân; không phân biệt đối xử; sự tham gia đầy đủ, hiệu quả, hòa nhập với xã hội; tôn trọng và chấp nhận NKT như một phần của
sự đa dạng của nhân loại và nhân văn; bình đẳng về cơ hội; bình đẳng giữa nam và nữ; tôn trọng những khả năng đang phát triển của trẻ khuyết tật, quyền của trẻ khuyết tật được bảo vệ nét riêng biệt của mình
Hiện nay có 158 Quốc gia trên thế giới đã ký công ước, trong đó 147 quốc gia phê chuẩn công ước này Việt Nam đã ký Công ước quyền của NKT vào ngày 22/10/2007 và hiện nay đã phê chuẩn công ước này Việc phê chuẩn công ước là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng khẳng định cam kết bảo vệ và thực thi quyền của NKT tại Việt Nam, thể hiện tư tưởng về tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NKT đã được quy định trong Hiến pháp và nhiều văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội ban hành như Luật NKT, Bộ Luật lao động, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hình sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật giáo dục đồng thời là cơ sở để hoàn thiện hệ thống pháp luật và đảm bảo thực hiện chính sách đối với NKT tại Việt Nam, tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia thành viên, công ước trong lĩnh vực bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NKT
1.2.2.Các chính sách và luật pháp ở Việt Nam
Việt Nam đã thông qua và thực thi nhiều luật, chính sách, quy định và sáng kiến liên quan đến NKT, kể cả quyền tiếp cận việc làm bền vững và hiệu quả, trong đó phải kể đến những văn bản sau:
- Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội thông qua năm 1992 và sửa đổi năm 2013 về bảo vệ NKT được quy định chung tại Chương 2 Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
- Bộ Luật Lao động 2012: Tại khoản 2, Điều 2, Chương 2 của Bộ Luật quy định Nhà nước có chính sách bảo hiểm thất nghiệp, các chính sách khuyến khích để người lao động tự tạo việc làm; hỗ trợ người sử dụng lao
Trang 32động sử dụng nhiều lao động nữ, lao động là NKT, lao động là người dân tộc
ít người để giải quyết việc làm
- Luật Đào tạo Nghề (năm 2006): Tại khoản 2, Điều 55, Chương V, quy định Doanh nghiệp được Nhà nước hỗ trợ khi tiếp nhận người tàn tật, khuyết tật vào học nghề và làm việc cho doanh nghiệp Quy định về dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật tại Điều 68, 69, 70, 71, 72, Chương VII của Luật
- Bộ Quy chuẩn và tiêu chuẩn về tiếp cận đối với NKT (2002), đưa ra những tiêu chuẩn tiếp cận cấp quốc gia
- Đề án Trợ giúp NKT của Chính phủ giai đoạn 2006 - 2010 được phê duyệt tháng 10/2006 và giai đoạn 2012 - 2020 Đề án đưa ra phương pháp tiếp cận toàn diện đối với vấn đề NKT với việc mở rộng đối tượng tham gia đề án
và có sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan
- Giáo dục hòa nhập tầm nhìn tới năm 2015, Chính phủ đặt mục tiêu thực hiện giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em khuyết tật vào năm 2015
- Luật NKT(2010): Luật này quy định quyền và nghĩa vụ của NKT, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với NKT
- Nghị định 28/2012/NĐ - CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT: Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật NKT về dạng tật, mức độ khuyết tật; nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyên gia, kỹ thuật viên, sản xuất trang thiết bị dành cho NKT; chế độ phụ cấp và chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên hỗ trợ giáo dục NKT; việc làm cho NKT, giảm giá vé, giá dịch vụ; thực hiện lộ trình cải tạo công trình công cộng, phương tiện giao thông tiếp cận; bảo trợ xã hội; thành lập, hoạt động, giải thể cơ sở chăm sóc NKT
- Thông tư 26/2012/TT-BLĐTBXH về hướng dẫn một số điều của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT
- Quyết định 1019/QĐ-TTg về Phê duyệt Đề án trợ giúp NKT giai đoạn
2012 - 2020 của Thủ tưởng chính phủ
Trang 33- Quyết định 1215/QĐ-TTg: Phê duyệt đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu chung: Huy động sự tham gia của xã hội, nhất
là gia đình và cộng đồng trợ giúp về vật chất, tinh thần, phục hồi chức năng cho người tâm thần để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa người rối nhiễu tâm trí bị tâm thần góp phần bảo đảm an sinh xã hội
- Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010
- Nghị định 13/2010/NĐ-CP ban hành ngày 27/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
- Quyết định 23/2006/QĐ-BGD&ĐT: Quyết định ban hành quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, NKT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và việc làm cho NKT có thể thấy hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho NKT rất cần thiết và vô cùng quan trọng trong việc giúp NKT có được việc làm bền vững và thu nhập ổn định Hiện nay, công tác dạy nghề và tạo việc làm cho NKT đã có bước tiến bộ, nhận thức của xã hội về họ cũng có nhiều thay đổi
cả về lượng và chất từ cơ chế chính sách của Nhà nước và sự quan tâm của
Trang 34cộng đồng, xã hội Tuy nhiên, trong đó còn rất nhiều NKT vẫn khó tìm được việc làm Nguyên nhân cơ bản là họ chưa được đào tạo nghề, hoặc đào tạo nghề không phù hợp với NKT và nhu cầu của xã hội hiện nay Điều đó càng chứng tỏ công tác dạy nghề và tạo việc làm cho NKT hết sức cần thiết, cấp bách Tạo điều kiện và cơ hội đào tạo nghề gắn với việc làm đối với NKT chính là sự thúc đẩy hành động nhằm giúp cho NKT vươn lên, hòa nhập với cộng đồng xã hội theo chủ trương của Nhà nước và quyền lợi chính đáng của NKT Bên cạnh sự vào cuộc của các cấp từ TW đến địa phương thì bản thân NKT phải xóa bỏ mặc cảm, tự ti để rèn luyện, cố gắng học tập nâng cao kiến thức, tay nghề, tự tin vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng góp phần phát triển kinh tế xã hội Chung tay với việc giúp đỡ NKT, Nhà Nước
ta đã ban hành nhiều chính sách trợ giúp NKT Đồng hành với việc trợ giúp NKT, Trung tâm luôn quan tâm, chú trọng vào chức năng nhiệm vụ là dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho NKT đạt kết quả cao nhất, tạo uy tín, địa chỉ tin cậy để NKT tích cực tham gia học nghề, giải quyết việc làm
có hiệu quả
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỖ TRỢ DẠY NGHỀ VÀ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM DẠY NGHỀ, GIỚI THIỆU
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT HÀ TĨNH,
TỈNH HÀ TĨNH 2.1 Về thực trạng địa bàn nghiên cứu
Hà Tĩnh là một tỉnh nằm ở giải đất miền trung của nước Việt Nam, trong chiến tranh giải phóng Dân tộc thống nhất Đất nước đã chịu nhiều bom đạn,
là túi lửa, mưa bom, điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi, khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt thất thường, là Tỉnh thuần nông, có thu nhập thấp, chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Hiện nay dân số gần 1,3 triệu người,
diện tích 2.326 triệu m2
Theo số liệu điều tra đến năm 2015 ở Hà Tĩnh, số NKT trên địa bàn toàn tỉnh là 69.466 người, chiếm khoảng 5,2 dân số(chủ yếu là do nguyên nhân chiến tranh là 40.707 người, chiếm hơn 58,5%; do bẩm sinh và các nguyên nhân khác 28.187 người, chiếm hơn 40,5%; Nam chiếm 34.789 người, nữ
34677 người) NKT thuộc hộ gia đình nghèo 17.965 người, chiếm 25,8% Số lượng NKT chia theo các dạng, gồm: Vận động 20.106 người, nghe nói 5.522 người, nhìn 6.954 người, thần kinh 11.518 người, trí tuệ 8.060 người, khác 17.306 người; Chia theo mức độ khuyết tật: Đặc biệt nặng 6.159 người, khuyết tật nặng 25.657 người, khuyết tật nhẹ 37.651 người
Số lượng NKT sống phụ thuộc vào gia đình chiếm tỷ trọng khá cao: trung bình 70%; riêng trẻ em dưới 16 tuổi, có tới hơn 97% sống nhờ gia đình;
ở lứa tuổi từ 55 đến 60 là hơn 74%, số NKT trong độ tuổi lao động có nhu cầu học nghề chiếm khoảng 17.366 người chiếm khoảng 25%
Trên cơ sở đó, Sở LĐTBXH Hà Tĩnh xây dựng đề án thành lập Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh và được Ủy ban nhân dân(UBND) tỉnh phê duyệt tại quyết định
Trang 36số 73/QĐ-UBND ngày 13/7/2004, với chức năng nhiệm vụ là dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật trên địa bàn Tỉnh
Để thực hiện chức năng nhiệm vụ công tác được giao từ năm 2004 đến nay Trung tâm đã xúc tiến nhiều chương trình, mục tiêu cụ thể, như là tập trung vận động, kêu gọi sự đầu tư của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc trang thiết bị dạy nghề và sản xuất Trung tâm luôn chú trọng đào tạo bồi dưỡng kiến thức, năng lực trình độ nghiệp vụ chuyên môn và nêu cao tinh thần trách nhiệm với NKT cho đội ngũ cán bộ, giáo viên theo hướng phát triển phù hợp với nhiệm vụ mới mới đặt ra, đồng thời nghiên cứu và xây dựng chương trình, định hướng, mục tiêu đào tạo, để triển khai công tác dạy nghề có chất lượng, hiệu quả
Mục tiêu chương trình phương pháp hướng nghiệp, dạy nghề gắn với tư vấn, giới thiệu và giải quyết việc làm cho NKT Đáp ứng được yêu cầu, nhiệm
vụ nâng cao chất lượng hiệu quả trong quản lý, bảo vệ chăm sóc và giáo dục NKT trên các lĩnh vực; hình thành nhân cách trong học tập văn hóa, nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lao động và phục vụ cuộc sống, thể chất tinh thần được phát triển, từng bước khắc phục những khiếm khuyết của cơ thể, những mặc cảm, tự ti cá nhân để cho NKT tật tham gia vào các hoạt động đời sống xã hội là học tập và tìm kiếm việc làm để hòa nhập với cộng đồng
Trong những năm qua Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở LĐTBXH Hà Tĩnh, cùng các cấp, các ngành, các tổ chức trong và ngoài nước đã có nhiều chính sách,
hỗ trợ bằng tinh thần và vật chất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Trung tâm triển khai nhiệm vụ dạy nghề, tư vấn, tạo việc làm cho NKT Trung tâm xác định đây là một nhiệm vụ trọng tâm và đã định hướng chiến lược về công tác hướng nghiệp, dạy nghề, tư vấn việc làm cho NKT là một mũi nhọn trong công tác dạy nghề và việc làm cho NKT của tỉnh Hà Tĩnh với quy mô đào tạo
từ 350 đến 450 học sinh NKT/năm
2.2 Thực trạng về học sinh học nghề và sau khi học nghề tại Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 37Học sinh học nghề tại các lớp dạy nghề của Trung tâm là những học sinh đặc biệt bởi lẽ các em đều là những NKT có dạng tật khác nhau, như nghe nói, vận động, thần kinh tâm thần, khuyết tật trí tuệ, các khuyết tật khác Học sinh NKT học nghề đến từ các địa phương, vùng miền khác nhau trên địa bàn trong tỉnh Hà Tĩnh, gồm có NKT ở thành thị, nông thôn, miền núi, miền biển và khi được Trung tâm tuyển sinh vào để học nghề thì phần lớn NKT ở lại, ăn nghỉ tập trung tại khu nội trú và một số em ở gần thì tự đi học, tự về nhà, số còn lại thì gia đình đưa đón hàng ngày sau khi học xong Học sinh tại các lớp dạy nghề là những học sinh có sức khỏe không đồng đều, trình độ khác nhau, hoàn cảnh gia đình khác nhau và có một điểm giống nhau là gia đình của NKT hầu như có hoàn cảnh khó khăn, ở tại địa bàn nông thôn, vùng miền núi, hẻo lánh xa vùng thành thị, trình độ dân trí rất thấp, NKT hầu như bị mù chữ (chiếm tỉ lệ khoảng 60%) nên việc tiếp thu nghề nghiệp, kỷ năng thực hành các ngành nghề cũng khác nhau, hiệu quả hạn chế,
số lượng NKT tham gia học nghề không ổn định Học sinh NKT học nghề tại Trung tâm tất cả đều được hưởng chính sách của Nhà nước, và số lượng học sinh NKT học nghề năm 2014 là 254 NKT, 2015 là 347 NKT(Biểu đồ 2.1)[30]
Trang 38năng(chiếm 80%), số còn lại là cán bộ, giáo viên định hướng giúp các em(chiếm gần 20%)
Trong tổng số học sinh học nghề tại Trung tâm có tỉ lệ mù chữ rất cao, chiếm 60,2%, số còn lại hầu như chưa qua bậc tiểu học, chiếm 39,8%, do vậy mà nó ảnh hưởng rất lớn kết quả, chất lượng dạy nghề cho NKT(Biểu đồ 2.2)[30]
Biểu đồ 2.2 Số lƣợng khuyết tật học nghề mù chữ năm 2014 - 2015
Sau khi học nghề cấp chứng chỉ tốt nghiệp Trung tâm liên hệ với các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong và ngoài tỉnh để tọa đàm, tìm hiểu, giới thiệu, kết nối để doanh nghiệp và gia đình, các em tiếp xúc, thương thảo việc làm, về thu nhập, về điều kiện công việc có phù hợp hay không để 2 bên
ký kết hợp đồng lao động Số lượng học sinh tìm được việc làm năm 2014 là
Biểu đồ 2.3 Số lƣợng NKT tìm đƣợc việc làm năm 2014 - 2015
Trang 39Hiện tại Trung tâm có xưởng cắt may dân dụng, xưởng in lưới thủ công
và nếu như các em khuyết tật có tay nghề tốt làm được các loại sản phẩm tại Xưởng may mặc thì Trung tâm sẽ liên lạc ký kết hợp đồng nhận hàng về gia công cho các em khuyết tật vào làm việc và ăn lương theo sản phẩm Hoặc Xưởng In lưới thủ công cũng như thế, Trung tâm hợp đồng, ký nhận hàng hóa
in ấn, photocopy, in lụa bao bì, in biểu mẫu sổ sách,…về cho NKT làm việc Một số NKT về địa phương, gia đình tự mở cơ sở sản xuất, kinh doanh, như cửa hàng sữa chữa xe máy, sửa chữa điện dân dụng, photocopy, in ấn,…hoặc NKT liên kết lại từ 3 đến 5 NKT thành tổ, nhóm góp vốn mở một cửa hàng, cơ sở sữa chữa, sản xuất tại địa phương,…số còn lại không có khả năng thì lại về phụ giúp với gia đình
Chúng tôi thấy rằng từ khi được thành lập đến nay, tỉ lệ NKT sau khi học nghề đã có được việc làm, có thu nhập ổn định, phù hợp với sức khỏe của NKT đạt tỉ lệ tương đối cao năm 2014 đạt 31%, năm 2015 đạt 19%[30] Mặc
dù công tác giải quyết việc làm cho NKT đạt tỷ lệ còn khiêm tốn nhưng bước đầu triển khai các chính sách như Luật NKT, các Nghị định, quyết định của Chính phủ,…đã có bước chuyển biến rõ nét và đây là tín hiệu đáng mừng khi Nhà nước và xã hội đã quan tâm đến NKT, giúp họ tự tin tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập, ổn định cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng
2.3 Thực trạng về đội ngũ giáo viên và hỗ trợ kinh phí cho các lớp dạy nghề tại Trung tâm dạy nghề, giới thiệu và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
2.3.1 Về thực trạng đội ngũ giáo viên
Tổ chức bộ máy của Trung tâm, gồm: Ban giám đốc: 2 người; phòng HCQT: 6 người; phòng dạy nghề: 13 người; phòng sản xuất kinh doanh tổng hợp: 4 người
Trang 40Bảng 2.1 Danh sách giáo viên dạy nghề tại Trung tâm
TT Họ và tên Năm sinh Chức vụ Trình độ
Thâm niên Ctác Nam Nữ
10 Nguyễn Thạc Tuấn 1982 GV điện Tr.cấp điện 10 năm
13 Nguyễn Thị Trang 1984 GV mây tre CĐ SPCN 4 năm
Giáo viên dạy nghề hiện tại chủ yếu những người được cử tuyển theo quy định đảm bảo đúng với trình độ vào chuyên môn nghiệp vụ, có kỷ năng
sư phạm, được đào tạo cơ bản từ cao đẳng trở lên, đã có nhiều năm kinh nghiệm dạy nghề cho NKT
Ngoài ra Trung tâm có kế hoạch mở lớp dạy nghề theo nhu cầu của NKT
và xã hội cần thì Ban Giám đốc xem xét trình độ, nghiệp vụ chuyên môn của các cán bộ, giáo viên cử đi đào tạo, bồi dưỡng thêm Những cán bộ, giáo viên được cử đi học thêm và sẽ chính thức trở thành giáo viên dạy nghề của lớp học nghề đó Tay nghề và trình độ của giáo viên sẽ được nâng cao dần thông qua các buổi tập huấn, các chương trình liên kết đào tạo hay tự bản thân người giáo viên trong Trung tâm sẽ đi học thêm từ những giáo viên có thâm niên và trình độ cao ở bên ngoài