1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam

92 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ EDI : Electronic Data Interchange: Trao đổi dữ liệu điện tử G2B : Government to Business: Chính phủ với doanh nghiệp G2C : Government to Customer: Chính p

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

—————

PHÙNG VĂN KIÊN

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CHO DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN THẾ GIỚI

VÀ GỢI Ý CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 60.31.01.06

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ TUẤN HƯNG

Hà Nội, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, tháng 7 năm 2016

Học viên

Phùng Văn Kiên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo và động viên của các thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và các bạn Qua đây, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn trân trọng tới toàn thể thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và các bạn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng, với vai trò là người hướng dẫn khoa học cho tôi, đã nhiệt tình và tận tâm hướng dẫn tôi hoàn thiện Luận văn thạc sĩ này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới tập thể giảng viên, cán bộ, nhân viên thuộc Học viện Khoa học xã hội, đặc biệt là các giảng viên, cán bộ thuộc Khoa Quốc tế học đã luôn giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại

Hà Nội, tháng 7 năm 2016

Học viên

Phùng Văn Kiên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 7

1.1 Tổng quan về thương mại điện tử 7 1.2 Mô hình phát triển thương mại điện tử và vai trò của nó đối với hoạt động của doanh nghiệp 14

Chương 2 PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 24

2.1 Sự phát triển thương mại điện tử tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới 24 2.2 Thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 41 2.3 Một số trở ngại đối với sự phát triển của thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 48

Chương 3 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ PHÙ HỢP VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM 53

3.1 Sự cần thiết phải xây dựng mô hình phát triển thương mại điện tử phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 53 3.2 Quan điểm xây dựng mô hình phát triển thương mại điện tử trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam 55 3.3 Gợi ý mô hình và giải pháp phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa

và nhỏ của Việt Nam 58

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 5

DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ

EDI : Electronic Data Interchange:

Trao đổi dữ liệu điện tử G2B : Government to Business:

Chính phủ với doanh nghiệp G2C : Government to Customer:

Chính phủ với người dân G2G : Government to Government:

Chính phủ với chính phủ ITU : International Telecommunication Union:

Liên minh Viễn thông Quốc tế TMĐT : Thương mại điện tử

UNCITRAL : The United Nations Commission on International Trade Law:

Ủy ban Liên Hợp Quốc về luật thương mại quốc tế UNCTAD : United Nation Conference on Trade and Development:

Hội nghị của Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tỷ lệ doanh thu TMĐT B2C toàn cầu theo khu vực 2013 – 2018 25 Bảng 2.2 10 quốc gia có doanh thu TMĐT bán lẻ cao nhất 2013 – 2018 27

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Doanh thu B2C toàn cầu theo khu vực năm 2014 24

Hình 2.3 Tỷ lệ doanh thu TMĐT bán lẻ trong tổng doanh thu bán lẻ

toàn cầu 2015

26

Hình 2.4 10 quốc gia có doanh thu TMĐT B2C cao nhất 2014 26 Hình 2.5 Số người dùng internet giai đoạn 2001–2016 31 Hình 2.6 Số người dùng internet trên 100 người dân (theo khu vực

năm 2016)

32

Hình 2.7 Các rào cản đối với ứng dụng TMĐT ở các DNVVN 38 Hình 2.8 Tình hình sử dụng chữ ký điện tử trong doanh nghiệp 42 Hình 2.9 Khó khăn trong tuyển dụng nhân sự có kỹ năng CNTT và

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kofi A Annan, nguyên Tổng thư ký Liên Hợp Quốc từng đánh giá “sự nổi lên của TMĐT đã căn bản thay đổi bộ mặt kinh tế Với các nước đang phát triển, cuộc cách mạng số cung cấp cơ hội chưa từng có cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển” Thực tế đã chứng minh nhận định trên đây của người từng đứng đầu Liên Hợp Quốc là chính xác Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là một xu thế diễn ra mạnh mẽ, mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn cho tất cả các nước trên thế giới Với tốc độ toàn cầu hóa nhanh chóng, TMĐT không còn là điều tùy chọn mà là phương tiện sống còn trong sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Vì vậy dù muốn hay không các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận và

tham gia TMĐT

TMĐT không phải chỉ đơn giản là mua bán hàng hoá và dịch vụ TMĐT có nhiều cấp độ khác nhau Doanh nghiệp có thể tham gia TMĐT để: Giới thiệu hàng hoá và sản phẩm của mình; Tìm hiểu, nghiên cứu, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ; Xây dựng quan hệ trực tuyến với khách hàng; Thiết lập kênh tiếp thị trực tuyến; Tìm kiếm đối tác; Tìm kiếm cơ hội xuất khẩu…

Ứng dụng TMĐT của doanh nghiệp là một quá trình mà trong đó doanh nghiệp từng bước chuẩn bị, tích lũy nguồn lực và kinh nghiệm để đạt mục tiêu đề

ra Doanh nghiệp không tham gia vào TMĐT thì sẽ bỏ lỡ một hình thức kinh doanh hiệu quả, chi phí thấp và sẽ là hình thức kinh doanh phổ biến trong thế kỷ này Các nghiên cứu đã có về TMĐT đều xác định các DNVVN là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ hình thức kinh doanh này

Sự ra đời và phát triển của TMĐT đã làm thay đổi thương mại truyền thống

và tạo ra nhiều mô hình kinh doanh mới Sự ra đời của TMĐT tác động đến hoạt động của doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu Các doanh nghiệp tại các quốc gia đã nhanh nhạy nắm bắt cơ hội do TMĐT mang lại để đạt được kết quả hoạt động kinh doanh tốt, có sự tăng trưởng qua các năm Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam, việc ứng dụng TMĐT trong hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều trở ngại Lý do chính ở đây là TMĐT mới chỉ thực sự phổ biến ở Việt Nam

Trang 9

vào đầu những năm 2000, hệ thống pháp luật về TMĐT còn thiếu Chính phủ Việt Nam nhận thức rất rõ tầm quan trọng cũng như tác động của TMĐT đến nền kinh tế

- xã hội, chính vì vậy Chính phủ rất mong muốn phát triển TMĐT, coi đây là một trong những giải pháp mang tính chiến lược để góp phần đẩy mạnh phát triển kinh

tế, góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Việc nghiên cứu sự phát triển và ứng dụng TMĐT ở các doanh nghiệp trên thế giới nói chung và ở các quốc gia có nền TMĐT phát triển nói riêng là rất cần thiết, để từ đó gợi ý những giải pháp cho cơ quan quản lý trong việc xây dựng chính sách để quản lý, thúc đẩy TMĐT phát triển, cũng như gợi ý cho doanh nghiệp trong

ứng dụng TMĐT trong kinh doanh Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Mô hình phát

triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Từ khi xuất hiện vào những năm 90 của thế kỷ XX, TMĐT nói chung và DNVVN ứng dụng TMĐT nói riêng đã được nhiều tổ chức và các học giả trên thế giới đề cập Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

- Tác phẩm “The successful strategy for e-commerce” (Những chiến lược thành công cho TMĐT) của Giáo sư Bijan Fazlollahi trường đại học Georgia State University, USA do nhà xuất bản IRM Press phát hành [12] đã đề cập tới những nội dung tương đối cụ thể để ứng dụng thành công TMĐT trong mỗi doanh nghiệp và phương thức quản lý các hoạt động TMĐT Các nội dung này bao gồm:

Những ảnh hưởng của cấu trúc của nền kinh tế tới việc thực hiện các hoạt động TMĐT toàn cầu;

Các khía cạnh của xã hội trong TMĐT có liên quan đến việc xây dựng các chính sách của chính phủ cũng như của DNVVN;

Tính riêng tư trong không gian ảo khi các DNVVN thực hiện các hoạt động TMĐT;

Một số nội dung khác liên quan đến việc xây dựng chiến lược phát triển TMĐT cho các DNVVN

Trang 10

- Năm 2002, dự án nghiên cứu về những tác động của TMĐT trong nền kinh

tế toàn cầu của Trung tâm nghiên cứu thuộc Đại học Iinrve (Mỹ) đã nghiên cứu các tác động của môi trường chính sách của quốc gia tới sự phát triển TMĐT nói chung

và cũng như trong DNVVN Tổng hợp những nghiên cứu này đã được viết lại trong cuốn sách “Global e-commerce, Impacts of National Environment and Policy” (TMĐT toàn cầu, những tác động của môi trường chính sách và môi trường quốc tế)

do trường đại học Cambridge phát hành năm 2006 [11] Phạm vi của những nghiên cứu này dàn trải trên 10 quốc gia khác nhau đó là: Mỹ, Brazil, Trung Quốc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Nhật, Mexico, Singapore và Đài Loan với 2.139 doanh nghiệp tại các nước được phỏng vấn Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra được tác động rất lớn của môi trường chính sách của các quốc gia tới quá trình hình thành phát triển TMĐT trong doanh nghiệp Dựa trên các số liệu điều tra và mô hình nghiên cứu, các tác giả đã phân tích và đánh giá các tác động của mô trường và chính sách TMĐT trên mỗi quốc gia để nhằm giải đáp một số câu hỏi sau:

Có những xu thế nào (rào cản, nhân tố bên trong và bên ngoài) ảnh hưởng đến việc ứng dụng TMĐT của các doanh nghiệp?

Những tác động của nhân tố này tại các quốc gia đã phát triển và đang phát triển có sự khác biệt như thế nào?

Trong các giai đoạn phát triển của từng quốc gia thì yếu tố này ảnh hưởng như thế nào?

Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các học giả trên thế giới nghiên cứ về TMĐT và tác động của nó đến nền kinh tế, xã hội, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào mang tính tổng hợp về về các mô hình TMĐT cho đối tượng là các DNVVN trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về TMĐT Trong đó có một

số công trình tiêu biểu:

- Tác phẩm “Thương mại điện tử cho doanh nghiệp” của Trịnh Lê Nam và Nguyễn Phúc Trường Sinh (2001) [11] nghiên cứu về các giao dịch TMĐT của doanh nghiệp Tác phẩm đề cập tổng quát đến mô hình kinh doanh mới (kinh doanh trên web) trong hoàn cảnh sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và

Trang 11

truyền thông Ngoài ra, Tác phẩm cũng đề cập tổng quát việc ứng dụng TMĐT trong các ngành công nghiệp

- Tác phẩm “Giáo trình thương mại điên tử” do Ts Trần Văn Hòe chủ biên phát hành năm 2006 [8] Giáo trình bao gồm 12 chương đã cung cấp khái niệm căn bản về TMĐT như: khái niệm về TMĐT, các mô hình TMĐT, các hình thức thanh toán trong TMĐT, an ninh trong TMĐT, các điều kiện để ứng dụng TMĐT

- Tác phẩm “Thương mại điện tử” do Nguyễn Văn Hùng (chủ biên) cùng các tác giả Trương Anh Luân, Huỳnh Văn Hồng, Phan Quang Việt, Nguyễn Văn Bảo (2013), Nhà xuất bản Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh [12] Cuốn sách gồm 12 chương đề cập toàn diện đến TMĐT, từ cơ sở của TMĐT đến các mô hình TMĐT

- Từ năm 2004, Vụ Thương mại điện tử (Bộ Thương mại), nay là Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin - Bộ Công Thương (Cục TMĐT và CNTT) đã tiến hành tổng kết tình hình TMĐT Việt Nam trong các báo cáo thường niên về TMĐT ở Việt Nam hàng năm Các báo cáo này cung cấp một cái nhìn tổng quan về thực trạng tình hình phát triển TMĐT ở Việt Nam trong năm như: tình hình ứng dụng TMĐT trong các doanh nghiệp, thực trạng về cơ sở hạ tầng cho TMĐT, triển khai chính sách TMĐT trong thực tế, tình hình đào tạo về TMĐT…, đồng thời đưa ra nhiều kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước về việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TMĐT và các doanh nghiệp trong việc triển khai ứng dụng TMĐT Các kiến nghị mang tính tổng quát, chưa đưa ra được giải pháp cụ thể

để hoàn thiện giúp doanh nghiệp ứng dụng TMĐT và cũng như các nội dung về quản lý nhà nước trong TMĐT

Nói chung, các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về TMĐT, phân tích đánh giá quá trình hình thành, phát triển TMĐT ở Việt Nam và quốc tế, đã nêu lên được những bài học kinh nghiệm trong phát triển TMĐT và các điều kiện cần thiết cho sự phát triển TMĐT tại Việt Nam, đưa ra một

số gợi ý cho chính sách phát triển TMĐT ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình chưa đi sâu nghiên cứu mô hình phát triển TMĐT cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới để từ đó có thể đưa ra được những gợi ý bổ ích cho các DNVVN Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trang 12

Nghiên cứu mô hình phát triển TMĐT của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết về TMĐT;

- Nghiên cứu về mô hình TMĐT được các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới đang ứng dụng;

- Nghiên cứu về đặc điểm của DNVVN ở Việt Nam;

- Nghiên cứu về thực trạng ứng dụng TMĐT ở DNVVN ở Việt Nam hiện nay;

- Đề xuất giải pháp phát triển TMĐT phù hợp cho DNVVN ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là mô hình phát triển TMĐT đang được áp dụng trong DNVVN trên thế giới, hiện trạng phát triển TMĐT tại các DNVVN ở Việt Nam trong thời gian gần đây và giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển TMĐT tại các DNVVN ở Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là việc xây dựng, áp dụng các mô hình phát triển TMĐT ở các DNVVN trên thế giới và Việt Nam trong thời gian qua Các giải pháp để xây dựng, áp dụng mô hình TMĐT phù hợp trong các DNVVN Việt Nam

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận nghiên cứu là phương pháp duy vật biên chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin trong phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như vai trò của công nghệ trong nền kinh tế tri thức

Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp diễn giải và so sánh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phầnnghiên cứu, hệ thống hóa và làm rõ lý luận về TMĐT nói chung cũng như việc xây dựng mô hình phát triển TMĐT tại các DNVVN trên thế giới hiện nay

Trang 13

- Ý nghĩa thực tiễn: Từ nghiên cứu mô hình phát triển TMĐT cho DNVVN trên thế giới, luận văn đưa ra đề xuất mô hình phát triển TMĐT phù hợp cho DNVVN ở Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Khái luận về thương mại điện tử và mô hình phát triển thương mại điện tử

Chương 2: Phát triển thương mại điện tử tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ

trên thế giới và Việt Nam

Chương 3: Đề xuất mô hình phát triển thương mại điện tử phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Trang 14

Chương 1 KHÁI LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.1 Tổng quan về thương mại điện tử

1.1.1 Khái niệm thương mại điện tử

TMĐT là hình thức kinh doanh thương mại dựa trên cơ sở mạng máy tính toàn cầu TMĐT được dự báo sẽ trở thành phương thức hoạt động chủ yếu trong nền kinh tế số Sự hình thành và phát triển của TMĐT gắn liền với sự hình thành và phát triển của CNTT và internet TMĐT (electronic commerce) là khái niệm do Tập đoàn IBM đưa ra năm 1997 Theo đó “TMĐT là những gì diễn ra khi kết nối khả năng rộng lớn của mạng internet với các hệ thống công nghệ thông tin truyền thống” Tuy nhiên, sau khi Chính phủ Mỹ công bố văn bản quan trọng “Khung TMĐT toàn cầu” vào tháng 7 năm 1997 thì thuật ngữ TMĐT mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi

TMĐT ban đầu chủ yếu được ứng dụng trong hoạt động mua bán hàng hóa

và cung ứng dịch vụ Do vậy, ở góc độ nhỏ hẹp thì TMĐT là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông Trong trường hợp này thì TMĐT là mua bán trực tuyến Tuy nhiên, sự phát triển của CNTT và internet, TMĐT không chỉ dừng lại ở việc mua bán hàng hóa và dịch vụ,

mà nó còn được ứng dụng rộng rãi trong các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội như lĩnh vực sản xuất, dịch vụ công, giáo dục, xây dựng…

Đến nay, nhiều khái niệm về TMĐT được nhiều tổ chức, cá nhân đưa ra dựa trên góc độ tiếp cận của riêng họ Theo Kenneth C Laudon, chuyên gia người Mỹ chuyên nghiên cứu về TMĐT thì “TMĐT là việc sử dụng internet và web để tiến

hành các hoạt động kinh doanh” [14] Khái niệm do Laudon đưa ra tập trung chủ

yếu vào các giao dịch thương mại dựa trên công nghệ số hóa giữa các tổ chức, cá nhân Tác giả không tập trung vào loại hình tham gia trao đổi mà tập trung chủ yếu vào giá trị gia tăng của mỗi giao dịch được tạo ra khi tiến hành bằng công nghệ số hóa Một nhà nghiên cứu người Mỹ khác là Efraim Turban lại đưa ra quan điểm:

Trang 15

“TMĐT là quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thông tin thông qua mạng máy tính, bao gồm mạng internet” [13] Ngoài khái niệm chung về TMĐT ở trên, Turban còn đưa ra một vài khái niệm về TMĐT dựa trên các khía cạnh tiếp cận khác nhau Ở khía cạnh về truyền thông thì theo ông “TMĐT là việc chuyển giao hàng hóa, dịch vụ, thông tin hay tiến hành hoạt động thanh toán thông qua mạng máy tính hay bằng bất cứ phương tiện điện tử nào” Ở khía cạnh thương mại:

“TMĐT giúp cho các bên có thể tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ và thông tin thông qua mạng internet hoặc thông qua các dịch vụ trực tuyến” Ở khía cạnh quá trình kinh doanh: “TMĐT là việc tiến hành hoạt động kinh doanh bằng các phương tiện điện tử để thực hiện một quá trình kinh doanh thông qua mạng điện tử,

hỗ trợ cho quá trình kinh doanh truyền thống” Ở khía cạnh cung cấp dịch vụ:

“TMĐT là công cụ đáp ứng những mong muốn của chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng và các nhà quả lý trong việc cắt giảm chi phí dịch vụ trong khi vẫn nâng cao được chất lượng dịch vụ khách hàng và đẩy nhanh tốc độ cung ứng dịch vụ” Laudon và Turban đứng ở góc độ là doanh nghiệp thương mại khi đưa ra hai khái niệm khác nhau về TMĐT Laudon tập trung chủ yếu vào giá trị gia tăng trong hoạt động thương mại Còn Turban chủ yếu tập trung vào các bước trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bằng các phương tiện điện tử

Ngoài các khái niệm do cá nhân đưa ra thì các tổ chức quốc tế cũng đưa ra các khái niệm khác nhau về TMĐT Cụ thể:

Năm 1996, UNCITRAL đưa ra khái niệm về TMĐT Khái niệm về TMĐT được quy định tại Điều 1 của Luật mẫu về TMĐT: “TMĐT là việc sử dụng thông tin dưới dạng thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại” Trong

đó Điều 2a nêu rõ “thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học và các phương tiện tương tự, bao gồm nhưng không hạn chế ở EDI, thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc fax” [30] Luật mẫu của UNCITRAL về TMĐT tập trung chủ yếu vào việc trao đổi các thông điệp dữ liệu Đây là điểm khác biệt lớn giữa TMĐT với thương mại truyền thống Trong thương mại truyền thống, thông tin chỉ là cái để tham khảo, hỗ trợ các bên đi đến ký kết hợp đồng, mua bán hàng hóa Trong TMĐT, thông tin được trao đổi

Trang 16

dưới dạng các thông điệp dữ liệu Để giao dịch được tiến hành, các bên tham gia bắt buộc phải truy cập được vào các thông điệp dữ liệu này Thuật ngữ TMĐT trong Luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng Theo quan điểm này thì TMĐT bao gồm tất cả các quan hệ mang tính thương mại như: các giao dịch liên quan đến việc cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa, dịch vụ, thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài hạn, xây dựng các công trình, tư vấn, đầu tư, cấp vốn, liên doanh…; các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường sắt, đường không hoặc đường bộ Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi của TMĐT hiểu theo nghĩa này là rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế Mua bán hàng hóa, dịch vụ chỉ là một lĩnh vực áp dụng của TMĐT

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra khái niệm: “TMĐT được hiểu là việc sản xuất (Production), phân phối (Distribution), quảng cáo (Marketting), bán hàng (Sale) hoặc chuyển giao (Delivery) hàng hóa hoặc dịch vụ bằng các phương tiện điện tử” [31] Khái niệm cho thấy WTO đã tiếp cận TMĐT ở góc độ rộng hơn khi cho rằng TMĐT không chỉ dừng lại ở việc tiến hành hoạt động thương mại trong các doanh nghiệp sản xuất, thương mại mà còn cả trong các doanh nghiệp kinh doanh Khái niệm nêu bật việc ứng dụng các phương tiện điện tử vào các hoạt động tạo ra chuỗi giá trị để có một sản phẩm, dịch vụ, cho dù đó là hoạt động sản xuất, phân phối hay kinh doanh

Theo Ủy ban Châu Âu (EC), “TMĐT được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tử Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dạng text, âm thanh và hình ảnh” TMĐT trong định nghĩa này gồm nhiều hành vi, trong đó có: các hoạt động mua bán hàng hóa; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử; vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hóa (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương

Trang 17

mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, dịch vụ tài chính) và các hoạt động mới (siêu thị ảo); các dịch vụ công ích

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế của Liên Hợp Quốc (OECD), TMĐT được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như internet

Như vậy có thể thấy rằng các cá nhân, tổ chức từ các góc độ tiếp cận khác nhau đưa ra các khái niệm khác nhau về TMĐT nhưng tất cả đều có chung quan điểm rằng TMĐT là việc sử dụng các phương pháp điện tử để làm thương mại Ở phạm vi hẹp thì TMĐT chính là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ bằng các phương tiện điện tử có kết nối mạng hay còn gọi là mua bán trực tuyến

TMĐT phát triển được nhờ thành tựu phát triển của ngành công nghiệp truyền thông và công nghệ thông tin để thực hiện một hình thái thương mại “không giấy tờ” nhưng lại hiệu quả hơn nhiều thương mại truyền thống Ngành thương mại này tuy còn mới mẻ nhưng tiềm năng rất lớn và sẽ có sự phát triển mạnh mẽ

1.1.2 Đặc điểm của thương mại điện tử

So với thương mại truyền thống, TMĐT có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không cần phải tiếp xúc

với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước Trong thương mại truyền thống, các bên phải gặp nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch Và nơi diễn ra các giao dịch theo kiểu truyền thống này thường là chợ: từ các chợ truyền thống đến các cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại Các đối tác kinh doanh tham gia giao dịch thường phải gặp gỡ nhau và tiếp xúc với nhau để tìm hiểu về thông tin, khảo hàng

và thương lượng…, thậm chí họ còn là những người đã quen biết nhau từ trước Họ thường gặp nhau tại một địa điểm nhất định (có thể là địa điểm của người bán, người mua hoặc một địa điểm nào khác mà hai bên cùng thống nhất) để tiến hành các giao dịch này Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý như chuyển tiền, séc, hoá đơn, vận đơn, gửi báo cáo Sự ra đời của các phương tiện viễn thông như fax, telex…đã làm giảm thiểu được những cuộc tiếp xúc đôi khi không cần thiết và gây lãng phí giữa các đối tác kinh doanh Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống thường chỉ được sử dụng để trao

Trang 18

đổi số liệu kinh doanh Từ khi xuất hiện mạng máy tính mở toàn cầu thì việc trao đổi thông tin đã được mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới với số lượng người tham gia ngày tăng Những người tham gia có thể là các cá nhân hoặc doanh nghiệp, có thể đã biết nhau hoặc hoàn toàn chưa biết nhau Họ gặp gỡ nhau qua những chợ ảo trên mạng để thực hiện khảo hàng và mua bán

Thứ hai, trong TMĐT, khái niệm biên giới quốc gia dường như không tồn

tại Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn trong TMĐT, nó dần được xoá mờ Có thể nói rằng khái niệm biên giới là một cản trở lớn đối với thương mại truyền thống Đề cập tới khái niệm biên giới trong thương mại truyền thống, người ta thường hay nghĩ tới sự gia tăng của chi phí giao dịch, những rào cản thuế quan và phi thuế quan - những điều có thể cản trở một doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình trên những thị trường nước ngoài Vào thế kỷ XXI, bất kỳ khách hàng nào dù là người tiêu dùng, người kinh doanh nhỏ hay là những công ty lớn đều có thể mở rộng việc giao dịch của mình tới những nơi xa xôi nhất trên hành tinh Toàn cầu hoá, tự do hoá mậu dịch là môi trường mà trong đó mỗi quốc gia, doanh nghiệp phải thay đổi

để có thể cạnh tranh quốc tế Theo xu hướng này, các nước đã và đang dần từng bước cố gắng loại bỏ những rào cản thuế quan và phi thuế quan để tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch thương mại quốc tế Tuy nhiên, ngay cả trong điều kiện

đó thì vấn đề chi phí giao dịch, kinh doanh ngoài biên giới vẫn là một rào cản to lớn đối với các doanh nghiệp muốn vươn tới những thị trường mới Rào cản về chi phí lại có thể được xoá bỏ bởi sự phát triển của TMĐT Không chỉ có các công ty hàng đầu thế giới mới có thể tiếp cận được những thị trường mới, mà ngay cả một công

ty vừa mới khởi sự cũng có một mạng lưới tiêu thụ và phân phối không biên giới khi tham gia TMĐT Với TMĐT, một doanh nhân dù mới bắt đầu công việc kinh doanh cũng hoàn toàn có thể kinh doanh ở Nhật Bản, Đức hay Mỹ…, mà không hề phải bước chân ra khỏi nhà - một công việc mà trước kia phải mất nhiều năm

Thứ ba, thương mại truyền thống, mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để

các bên tham gia giao dịch có thể trao đổi dữ liệu tiến tới việc thực hiện giao dịch, còn nơi gặp gỡ, tiếp xúc của họ để tiến hành giao dịch kinh doanh là hoàn toàn độc

Trang 19

lập Còn trong TMĐT, mạng lưới thông tin cũng chính là thị trường – nơi gặp gỡ giữa người bán và người mua Trên internet đã xuất hiện những khu chợ ảo khổng

lồ, tại đó người bán và người mua có thể gặp gỡ nhau, trao đổi dữ liệu, thương lượng và tiến hành giao dịch Các trang web khá nổi tiếng như Yahoo, Alibaba.com, Ebay.com,… thực sự đã trở thành những khu chợ sầm uất trên internet Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có thể truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ

lệ khách hàng vào cũng như mua hàng tại các cửa hàng ảo này là rất cao Thông qua TMĐT, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành, ví dụ các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hoá và dịch vụ trên mạng máy tính Theo một số chuyên gia về kinh doanh trên mạng, chính những tính năng dễ sử dụng và hình thức vui mắt, dễ hiểu của các trang web dành cho TMĐT là những yếu tố quyết định trong việc thu hút khách hàng Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một

số loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng Con người ngày càng trở nên lười biếng và họ cho rằng thà phải trả thêm một chút tiền còn hơn là phải đến tận cửa hàng để mua hàng Một số công ty đã mời khách hàng may đo quần áo trên mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn của cửa hàng (qua internet) rồi sau một thời gian nhất định sẽ nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu của mình Điều tưởng như không thể thực hiện được này cuối cùng cũng được rất nhiều người hưởng ứng Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đua nhau đưa thông tin lên web để tiến tới khai thác mạng thị trường rộng lớn trên web bằng cách mở cửa hàng ảo Như vậy, trong TMĐT, bản chất của thông tin không thay đổi TMĐT chỉ biến đổi cách thức khởi thảo, trao đổi, bảo quản và xử lý thông tin

mà hoàn toàn không thay đổi những chức năng cơ bản của thông tin đối với các bên tham gia trao đổi

Thứ tư, trong TMĐT, ngoài các chủ thể tham gia giao dịch giống như trong

giao dịch thương mại truyền thống (người mua và người bán) đã xuất hiện thêm một bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… Đây là những người tạo môi trường cho các giao dịch TMĐT Nhà cung cấp dịch vụ mạng

có nhiệm vụ chuyển, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch TMĐT, đồng thời, họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch TMĐT

Trang 20

Thứ năm, trong TMĐT, độ lớn về quy mô và vị trí của các doanh nghiệp

không quan trọng Nếu như trong thương mại truyền thống, độ lớn và vị trí có ảnh hưởng quan trọng với sự thành công trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thì trong TMĐT, điều này không còn đúng nữa Trong TMĐT, bất kỳ là lớn hay nhỏ, doanh nghiệp đều có thể dễ dàng truy nhập đến các khách hàng tiềm năng Internet không giống như thế giới hiện thực mà trong đó vị trí và độ lớn của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận với khách hàng Thành công này đã được chứng tỏ bởi các doanh nghiệp như Amazon.com, Alibaba.com,… tất cả đã xác định lại các thị trường tương ứng của mình và hiện nay chiếm thị phần lớn trong bán hàng trên internet Các công ty này ra đời muộn nhưng ngày nay họ đã có thể cạnh tranh với các công ty tồn tại lâu đời, có cơ sở hạ tầng vững mạnh và quyền lực mua bán lớn bằng cách sử dụng sự hiểu biết và linh hoạt để tận dụng ưu thế của môi trường mới Một ưu thế của sự hiện diện trên web là nó không có vị trí xác định, kể

cả múi giờ và biên giới lãnh thổ Thông qua web, doanh nghiệp có thể tiếp cận với các khách hàng ở các vùng địa lý mà trước đây họ không thể vươn tới được Nhiều người tham quan website của doanh nghiệp không ý thức được về độ lớn cũng như

vị trí của doanh nghiệp Với một website, doanh nghiệp có thể dễ dàng hỗ trợ khách hàng ở bất kỳ đâu trên thế giới Múi giờ không còn trở nên quan trọng nữa Internet

có thể truy cập 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần (gọi là sự hiện diện web 24/7) Doanh nghiệp có thể duy trì hay giảm số lượng nhân viên hiện tại mà vẫn có thể cung cấp cho các khách hàng hiện tại và tương lai nhiều thời gian hỗ trợ và phục

vụ hơn Không có khoảng thời gian trễ giữa việc công bố thông tin trên website và việc khách hàng truy nhập đến các thông tin này Doanh nghiệp có thể theo dõi các sản phẩm mới và các chiến dịch marketing ngay lập tức Các thông điệp, sự sắp xếp

và trọng tâm của các chiến dịch marketing trực tuyến có thể được phân nhỏ với chi phí rất ít và không có thời gian trễ

Thứ sáu, TMĐT được coi là một loại hình thương mại có sự trợ giúp của

công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng Ngoài các hàng hoá

và dịch vụ ''vật thể '' trong các giao dịch thông thường khác, trong TMĐT còn có cả hàng hoá đặc thù của mình đó là “hàng hoá số” và “dịch vụ số” Hàng hoá và dịch

Trang 21

vụ số là những hàng hóa và dịch vụ có thể phân phối qua cơ sở hạ tầng mạng, bao gồm: các dữ liệu, các số liệu thống kê, thông tin, âm thanh, hình ảnh, phần mềm máy tính, kinh doanh trong bảo hiểm, tài chính, an ninh và các loại hàng hoá khác

Thứ bảy, một điều khác biệt với các hoạt động thương mại bình thường khác

là trong TMĐT thì chúng ta dùng thuật ngữ “Market-space” dùng để chỉ nơi họp chợ, trong các giao dịch nó thay thế cho ''Market-place'' - nơi họp chợ của các hoạt động thương mại thông thường khác “Market-space” tạm dịch là không gian họp chợ, chỉ bối cảnh thực tế trong đó người mua, người bán khám phá lẫn nhau và tiến hành giao dịch thông qua mạng viễn thông và internet Như vậy TMĐT dùng không gian ảo để tiến hành các hoạt động mang tính thương mại giữa các bên tham gia

Thứ tám, trước đây để thực hiện một giao dịch thương mại truyền thống

chúng ta phải mất một khoảng thời gian dài, đôi khi là cả năm Bill Gates nói: “Tốc

độ quyết định một doanh nghiệp thành công hay thất bại” Với những ứng dụng TMĐT, ta chỉ cần bấm một phím, một giao dịch hoặc một hợp đồng đã được ký kết

Sẽ không cần bất kỳ cuộc họp kín hay các hội nghị lớn nào nhận được nhiều thông tin, nhiều sự lựa chọn Căn cứ vào đó, các doanh nghiệp có thể xác định được khách hàng tiềm năng và tìm cách thoả mãn họ không chút chậm trễ

1.2 Mô hình phát triển thương mại điện tử và vai trò của nó đối với hoạt động của doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm mô hình phát triển thương mại điện tử

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, trong đó có lĩnh vực CNTT, khái niệm mô hình kinh doanh trong thời đại thông tin hay mô hình TMĐT ngày càng trở nên quen thuộc với doanh nghiệp Mô hình TMĐT cho thấy cơ chế hoạt động của doanh nghiệp, do đó việc xác định rõ mô hình TMĐT trong các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp đạt được thành công khi doanh nghiệp thực hiện TMĐT

Mô hình thương mại điện tử là phương thức tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và công nghệ điện tử nhằm thực hiện chiến lược của doanh nghiệp để thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng

và tối đa hóa lợi nhuận Để có mô hình TMĐT thành công đòi hỏi doanh nghiệp

Trang 22

phải ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ điện tử để giải quyết những vấn đề bao gồm giá trị doanh nghiệp tạo ra, mô hình doanh thu mà doanh nghiệp tiến hành, thị trường mà doanh nghiệp có thể có, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh, phát huy lợi thế của doanh nghiệp trong cạnh tranh với đối thủ, triển khai hiệu quả chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra

1.2.2 Phân loại các mô hình phát triển thương mại điện tử

Từ khi internet được các doanh nghiệp sử dụng rộng rãi để tiến hành các hoạt động thương mại đã có nhiều mô hình TMĐT được triển khai Một doanh nghiệp có thể kết hợp nhiều mô hình TMĐT khác nhau trong hoạt động kinh doanh của mình Nếu phân chia mô hình TMĐT theo tiêu chí mức độ số hóa thì có mô hình TMĐT bán truyền thống (doanh nghiệp tiến hành kinh doanh trên môi trường mạng kết hợp với hình thức kinh doanh truyền thống) và mô hình TMĐT thuần túy (doanh nghiệp kinh doanh hoàn toàn trên mạng) Theo bản chất của giao dịch TMĐT với chữ

“Thương mại” được hiểu đầy đủ các nội dung đã ghi trong Đạo Luật mẫu về TMĐT của Liên Hợp Quốc diễn ra bên trong và giữa ba nhóm tham gia chủ yếu: (1) Doanh nghiệp (Business), (2) Chính phủ (Government), (3) Người tiêu dùng (Consumer) Các giai giao dịch này được tiến hành ở nhiều cấp độ khác nhau hình thành nên mô hình TMĐT Mô hình B2C với mục đich cuối cùng là người tiêu dùng có thể mua hàng tại nhà mà không cần tới của hàng (home shopping); Mô hình B2B: trao đổi

dữ liệu, mua bán và thanh toán hàng hóa…, mục đích cuối cùng là đạt được hiệu quả cao trong sản xuất và kinh doanh; Mô hình B2G, mục đích là mua sắm chính phủ (mua trực tuyến – online government procurement), quản lý (thuế, hải quan, cấp phép…), thông tin Mô hình C2G: giữa người tiêu dùng với các cơ quan chính phủ (chính phủ điện tử): các vấn đề về thuế, dịch vụ hải quan, công chứng, thủ tục liên quan đến tư pháp, cung cấp thông tin… Mô hình G2G: trao đổi thông tin Mô hình C2C – kinh doanh TMĐT diễn ra giữa hai nhóm đối tượng trong đó người bán

và người mua đều là cá nhân Mô hình C2B – giữa người tiêu dùng với doanh nghiệp Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ phân tích 5 mô hình TMĐT, đó là

mô hình B2C, B2B, C2C, C2B và mô hình chính phủ điện tử

Trang 23

1.2.2.1 Mô hình thương mại điện tử B2C

Mô hình TMĐT B2C là mô hình giao dịch thương mại giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, trong đó các giao dịch thương mại được thực hiện với sự hỗ trợ của các thiết bị điện toán và mạng truyền thông, sử dụng mạng internet làm môi trường trao đổi thông tin Thực chất đó là hình thức các doanh nghiệp bán các hàng hóa, dịch vụ của mình cho khách hàng Đây là mô hình TMĐT được sử dụng nhiều nhất hiện nay Trong mô hình này, các doanh nghiệp TMĐT tiến hành nhiều hoạt động để có thể tiếp cận được với người tiêu dùng cá nhân Số lượng doanh nghiệp tiến hành theo mô hình này chiếm tỷ trọng lớn, doanh thu của mô hình này trên phạm vi toàn cầu đang gia tăng nhanh chóng

Thực chất mô hình TMĐT B2C là mô hình bán lẻ điện tử Hiện nay doanh số bán lẻ điện tử ngày càng gia tăng, điều này thể hiện mức độ thâm nhập của TMĐT vào đời sống xã hội Bán lẻ điện tử giúp doanh nghiệp dễ dàng bán hàng trực tiếp đến người tiêu dùng

1.2.2.2 Mô hình thương mại điện tử B2B

Mô hình TMĐT B2B là hình thức giao dịch được thực hiện giữa các doanh nghiệp trong đó có các giao dịch thương mại được thực hiện với sự hỗ trợ của các thiết bị điện toán và mạng truyền thông Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng TMĐT như mạng giá trị gia tăng (VAN – Value Added Network), quản lý chuỗi cung ứng (SCM - Supply Chain Management), các sàn giao dịch TMĐT B2B (emarketplaces) Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này Ở mức

độ cao, các giao dịch này có thể diễn ra một cách tự động ví dụ như www.alibaba.com TMĐT B2B đem lại lợi ích rất thực tế cho các doanh nghiệp, đặc biệt giúp các doanh nghiệp giảm các chi phí về thu thập thông tin tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán, tăng cường các cơ hội kinh doanh Ngày nay,

số lượng giao dịch thương mại điện tử B2B còn rất khiêm tốn chỉ khoảng 10%, tuy nhiên giá trị giao dịch từ hoạt động này chiếm rất cao, trên 85% giá trị giao dịch thương mại điện tử hiện nay

Trang 24

Nghiên cứu về mô hình TMĐT B2B cho thấy các doanh nghiệp theo mô hình TMĐT này thường có tốc độ tăng trưởng ổn định và lợi nhuận cao hơn so với các doanh nghiệp theo mô hình TMĐT B2C

1.2.2.3 Mô hình thương mại điện tử C2C

Mô hình TMĐT C2C là mô hình kinh doanh TMĐT giữa hai nhóm đối tượng trong đó người bán và người mua đều là cá nhân (ví dụ website đấu giá trực tuyến www.ebay.com hoặc các website rao vặt) Sự phát triển của các phương tiện điện tử, đặc biệt là internet làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách người bán hoặc người mua Giá trị giao dịch từ hoạt động thương mại điện tử C2C chỉ chiếm khoảng 10% tổng giá trị giao dịch từ hoạt động thương mại điện tử

Mô hình phổ biến nhất của TMĐT C2C là mô hình đấu giá trực tuyến Người bán trong mô hình này sẽ đưa sản phẩm lên bán đấu giá tại các trang đấu giá hoặc bán hàng và có thể yêu cầu các nhà tạo lập thị trường cung cấp catalog, công cụ tìm kiếm và khả năng xóa bỏ giao dịch để họ có thể tiến hành bán được sản phẩm với giá cao nhất Một mô hình khác của mô hình TMĐT C2C đó là “rao vặt” Mô hình TMĐT C2C rao vặt cho phép cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá cố định Một khoản phí hoa hồng tính trên doanh thu bán hàng từ mỗi giao dịch thành công

sẽ được trả cho doanh nghiệp hay cá nhân sở hữu mô hình TMĐT C2C có giao dịch trên đó

1.2.2.4 Mô hình thương mại điện tử C2B

Mô hình TMĐT C2B là mô hình TMĐT giữa người tiêu dùng với doanh nghiệp Trong mô hình này, người tiêu dùng sử dụng các đại lý trực tuyến để tìm kiếm sản phẩm, dịch vụ phù hợp nhu cầu Loại hình phổ biến của TMĐT C2B là theo giá người mua (name-your-own-price) Mô hình này cho phép người mua tìm kiếm được người ban hàng hóa, dịch vụ trong khả năng mua sắm của họ Hiện nay, các trang web thành công trong cung cấp loại hình TMĐT này phải kể đến: Princeline.com, AutobyTel.com

Trang 25

1.2.2.5 Mô hình chính phủ điện tử

Đã có rất nhiều tổ chức và chính phủ đưa ra định nghĩa “Chính phủ điện tử” Tuy nhiên, hiện không có một định nghĩa thống nhất về chính phủ điện tử, hay nói cách khác, hiện không có một hình thức chính phủ điện tử được áp dụng giống nhau cho các nước Các tổ chức khác nhau đưa ra những định nghĩa về chính phủ điện tử của riêng mình

Khái niệm phổ biến nhất: Chính phủ điện tử là chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan chính phủ, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn

Trong quá trình triển khai xây dựng chính quyền điện tử, mục tiêu xuyên suốt là lấy người dân làm trung tâm, đây là một định hướng cho sự phát triển

Việc cung cấp thông tin, dịch vụ trực tuyến, các quan hệ tương tác của chính phủ điện tử được xác định trong mô hình chính phủ điện tử dựa trên các quan hệ giữa các cơ quan chính phủ, người dân, doanh nghiệp, các cán bộ, công chức, viên chức

1.2.3 Vai trò của các mô hình phát triển thương mại điện tử đối với hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ

1.2.3.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ

Việc xác định DNVVN chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của một nước, tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định, hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định Nhìn chung, trên thế giới việc xác định một doanh nghiệp là DNVVN chủ yếu căn cứ vào hai nhóm tiêu chí phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng

Tiêu chí định tính được xây dựng dựa trên các đặc trưng cơ bản của các DNVVN như trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng trên thực tế thường khó xác định Do đó, chúng chỉ được sử dụng để tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để xác định quy mô doanh nghiệp Tiêu chí định lượng được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như số lượng lao động, tổng giá trị

Trang 26

tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của doanh Số lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao động thường xuyên thực tế của doanh nghiệp Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản (hay vốn) còn lại của doanh nghiệp Các tiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định quy mô doanh nghiệp Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác nhau giữa các ngành nghề mặc

dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định

Hầu hết các quốc gia đều lấy tiêu chí số lao động bình quân làm cơ sở quan trọng để phân loại doanh nghiệp theo quy mô Điều này là hợp lý hơn so với việc lựa chọn các tiêu chí khác như doanh thu, vốn, là các chỉ tiêu có thể lượng hóa được bằng giá trị tiền tệ Các tiêu chí như doanh thu, vốn tuy rất quan trọng nhưng thường xuyên chịu sự tác động bởi những biến đổi của thị trường, sự phát triển của nền kinh tế, tình trạng lạm phát nên thiếu sự ổn định trong việc phân loại doanh nghiệp Điều này giải thích tại sao tiêu chí số lao động bình quân được nhiều quốc gia lựa chọn, tiêu chí này thường có tính ổn định lâu dài về mặt thời gian, lại thể hiện được phần nào tính chất, đặc thù của ngành, lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp đang tham gia Đa số các quốc gia chỉ sử dụng 1 trong 3 tiêu thức đánh giá trên, đặc biệt là nhóm các nước kinh tế đang chuyển đổi Một số quốc gia khác sử dụng kết hợp 2 trong 3 tiêu thức nói trên Một số ít quốc gia sử dụng kết hợp cả 3 tiêu thức số lao động, vốn và doanh thu

Ngân hàng Thế giới (World Bank) và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng đều

sử dụng tiêu chí số lao động để đánh giá Theo Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp được chia thành 4 loại tương ứng với số lượng lao động như sau: doanh nghiệp siêu nhỏ (số lao động <10 người), doanh nghiệp nhỏ (số lao động từ 10 người đến dưới

50 người), doanh nghiệp vừa (số lao động từ 50 người đến 300 người), doanh nghiệp lớn (số lao động > 300 người)

Ở Việt Nam hiện nay, tiêu chuẩn phân loại DNVVN được thực hiện theo điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ Theo Nghị định này, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy

Trang 27

mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như trong Phụ lục II

- Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các DNVVN là các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ và hầu hết hoạt động trong các ngành thương mại, dịch vụ sử dụng nhiều lao động Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, DNVVN có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và phát triển Có thể nhận thấy DNVVN có một số đặc điểm cơ bản sau:

Về các điểm mạnh:

- DNVVN dễ khởi sự: Hầu hết các DNVVN chỉ cần một lượng vốn ít, số lao động không nhiều, diện tích mặt bằng nhỏ với các điều kiện làm việc đơn giản đã có thể bắt đầu kinh doanh ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh

- DNVVN có tính linh hoạt cao: Vì hoạt động với quy mô nhỏ cho nên hầu hết các DNVVN đều rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của môi trường Trên góc độ thương mại, nhờ tính năng động này mà các DNVVN gia nhập thị trường khi thấy việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi nhuận hoặc rút khỏi các thị trường khi công việc kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả

- DNVVN có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống: So với các doanh nghiệp lớn thì DNVVN có lợi thế hơn trong việc khai thác, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống Đó là khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên hay vốn tại chỗ của từng địa phương Có rất nhiều DNVVN của Việt Nam và thế giới đã từng bước trưởng thành và lớn mạnh khi khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nhỏ còn có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong việc nắm bắt kịp thời nhu cầu và thị hiếu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng, qua đó tạo ra nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mới đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng

- DNVVN có lợi thế về sử dụng lao động: Quan hệ lao động trong các DNVVN thường có tính chất thân thiện, gần gũi hơn so với các doanh nghiệp lớn,

do đó người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn

Trang 28

trong công việc Đặc biệt là mối quan hệ gần gũi, thân thiện đó rất phù hợp với văn hoá của người Châu Á nói chung và của Việt Nam nói riêng Ngoài ra, với lợi thế trong việc khai thác các nguồn lực sẵn có của địa phương, đặc biệt là ngành sử dụng nhiều lao động, DNVVN có những tác động tích cực trong việc tạo ra việc làm cũng như nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư tại địa phương hoặc duy trì

và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống Bên cạnh đó, việc phát triển các DNVVN còn có lợi ích như giảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự các biệt giữa thành thị và nông thôn, qua đó cũng góp phần làm giảm tệ nạn

xã hội và giúp chính phủ giải quyết tốt hơn những vấn đề xã hội khác

- Các DNVVN do rất dễ khởi nghiệp nên cũng phải chịu nhiều loại rủi ro trong kinh doanh Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy, càng nhiều DNVVN ra đời thì cũng có càng nhiều DNVVN bị phá sản Có những doanh nghiệp

bị phá sản sau một thời gian hoạt động rất ngắn

- Bên cạnh các tác động ngoại lai tích cực thì DNVVN cũng gây ra không ít những ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực trong nền kinh tế như do ít vốn, hầu hết các doanh nghiệp không quan tâm đầy đủ đến việc bảo vệ môi trường hoặc khi nhiều DNVVN bị phá sản do hoạt động không hiệu quả gây ra sự thiếu tin tưởng của dân chúng với loại hình doanh nghiệp này, gây khó khăn cho người tiêu dùng khi chọn các sản phẩm tiêu dùng cũng như khi chọn các nhà cung cấp dịch vụ Điều này làm giảm uy tín của loại hình DNVVN đối với công chúng và người lao động

Trang 29

1.2.3.2 Vai trò của các mô hình phát triển thương mại điện tử đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quá trình tham gia TMĐT là quá trình doanh nghiệp từng bước chuẩn bị nguồn lực và kinh nghiệm Nếu không bắt tay vào tham gia TMĐT thì sẽ bỏ lỡ một hình thức kinh doanh qua mạng, sẽ là hình thức phổ biến trong thế kỷ này Các nghiên cứu đã có về TMĐT đều xác định các DNVVN là đối tượng hưởng lợi nhiều nhất từ quá trình này Điều này thể hiện qua các yếu tố sau đây:

Một là, tham gia vào TMĐT giúp DNVVN thu thập được nhiều thông tin Với việc tham gia vào môi trường điện tử toàn cầu, doanh nghiệp được tiếp cận với nguồn thông tin đa dạng và khổng lồ, qua đó có cơ hội lựa chọn các thông tin phù hợp nhất cho hoạt động kinh doanh của mình

Hai là, TMĐT giảm chi phí sản xuất TMĐT qua internet/web giúp người tiêu thụ và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch (giao dịch được hiểu là từ quá trình quảng cáo, tiếp xúc ban đầu, giao dịch đặt hàng, giao dịch thanh toán)

Ba là, TMĐT giúp tăng chất lượng dịch vụ khách hàng Sử dụng các tiện ích của TMĐT doanh nghiệp có thể nhanh chóng cung cấp cho khách hàng các catalogue, brochure, bảng giá, hợp đồng một cách gần như tức thời Bên cạnh đó với website bán hàng của mình doanh nghiệp tạo điều kiện cho khách hàng có cơ hội lựa chọn sản phẩm phù hợp với đầy đủ thông tin mà không cần thiết phải tới tận tay trụ sở hay xưởng sản xuất của doanh nghiệp

Bốn là, TMĐT là thị trường không biên giới vì vậy nó giúp cho doanh nghiệp có cơ hội quảng bá thông tin sản phẩm, dịch vụ của mình ra thị trường toàn cầu, qua đó giúp tăng số lượng khách hàng và tăng doanh thu Các tiện ích và công

cụ của TMĐT sẽ làm cho doanh nghiệp không còn thụ động ngồi chờ khách hàng đến mà sẽ chủ động trong việc tìm kiếm khách hàng

Năm là, trong thương mại truyền thống, các DNVVN khó cạnh tranh được với các doanh nghiệp lớn do sự chênh lệch quá lớn về vốn, thị trường, nhân lực, công nghệ… Tuy nhiên, khi ứng dụng TMĐT làm cho khoảng cách chênh lệch này

sẽ được thu hẹp do bản thân doanh nghiệp đó có thể cắt giảm nhiều chi phí Hơn thế

Trang 30

nữa với lợi thế của kinh doanh trên mạng sẽ giúp cho doanh nghiệp tạo ra bản sắc riêng về một phương thức kinh doanh mới khác với hình thức kinh doanh truyền thống

Sáu là, giúp mở rộng cơ hội gia nhập thị trường và thay đổi cấu trúc thị trường Khả năng truy cập và phát tán (diffusion) thông tin nhanh chóng qua

internet với chi phí thấp là cơ hội lớn cho các DNVVN gia nhập thị trường Chi phí

lập một cửa hàng ảo trên internet (gồm các chi phí đầu tư thiết kế trang web, chi phí đăng ký và duy trì tên miền (domain name)) chỉ bằng một phần rất nhỏ so với việc lập một cửa hàng hữu hình nhưng trong nhiều trường hợp, hiệu quả đem lại có thể lớn hơn nhiều lần Internet cho phép đưa thông tin đến từng cá nhân, vì thế chỉ cần một trang web bắt mắt với nhiều ý tưởng sáng tạo, doanh nghiệp có thể được đông đảo người tiêu dùng biết đến Cửa hàng bán lẻ trực tuyến Amazon.com là ví dụ cho

sự thành công nhờ tận dụng được lợi thế của TMĐT Điều đó cho thấy so với việc tạo lập danh tiếng trên thị trường theo phương cách truyền thống, TMĐT qua internet rõ ràng có những lợi thế nhất định

Tính chất cạnh tranh trên thị trường một phần tùy thuộc vào số lượng đối thủ cạnh tranh có mặt trên thị trường đó TMĐT không chỉ tạo điều kiện gia nhập thị trường dễ dàng mà còn tạo áp lực cho mọi doanh nghiệp phải “hiện hữu trực tuyến” (online presence) Tuy nhiên, khác với thị trường truyền thống, cạnh tranh trên thị trường TMĐT chủ yếu là cạnh tranh ở khả năng thông tin nhanh chóng và hiệu quả Điều này tạo cơ hội đồng đều cho các thành phần tham gia cạnh tranh Chu thời sản xuất được rút ngắn trên cơ sở tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch tất yếu dẫn đến những điều chỉnh nhất định trong cách thức tổ chức doanh nghiệp và những thay đổi mới ở nhiều ngành kinh doanh Lấy ngành vận tải du lịch làm một ví dụ, trước đây các công ty hàng không thường bán vé máy bay qua mạng lưới các đại lý phân phối

vé được thiết lập khắp nơi, nhưng với TMĐT qua internet, các công ty này có thể bán vé trực tiếp cho khách hàng và tiết kiệm được khoản hoa hồng phải trả cho đại

lý Điều này sẽ làm cho các công ty hàng không có xu hướng sáp nhập hoạt động bán vé vào trong hoạt động của mình, còn các đại lý có thể chuyển sang hình thức môi giới thông tin, so sánh giá cả và dịch vụ được cung cấp bởi các công ty khác nhau, vì khách hàng có khả năng sẽ trả một khoản tiền để có được thông tin theo yêu cầu

Trang 31

Chương 2 PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA

VÀ NHỎ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.1 Sự phát triển thương mại điện tử tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới

2.1.1 Khái quát về thương mại điện tử toàn cầu

Theo thống kê của eMarketer – Công ty Nghiên cứu thị trường của Mỹ, tổng doanh thu bán lẻ TMĐT toàn cầu năm 2014 đạt 1.316 tỷ đô la Mỹ, dự đoán năm

2015 đạt 1.592 tỷ đô la Mỹ với mức tăng trưởng là 20.9% Mức doanh thu này

không bao gồm dịch vụ du lịch và bán vé máy bay trực tuyến [33]

Theo ước tính của UNCTAD, doanh thu TMĐT B2B toàn cầu năm 2013 vượt quá 15 nghìn tỷ đô la Mỹ, trong đó doanh thu của Mỹ, Anh, Nhật Bản và Trung Quốc chiếm hơn ba phần tư TMĐT B2B toàn cầu [27] Theo “Báo cáo TMĐT B2C toàn cầu 2015” của Ecommerce Foundation, tổng doanh thu TMĐT B2C hàng hóa và dịch vụ toàn cầu bao gồm các loại thuế, chi phí vận chuyển đạt 1.938 tỷ đô la Mỹ, tăng 24% so với năm 2013 Dự đoán, năm 2015 đạt 2.245 tỷ đô

la Mỹ, tăng 15,8% so với 2014 [34]

TMĐT B2C được đánh giá phát triển nhanh chóng, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được đánh giá có tốc độ phát triển cao nhất, đạt 44% trong năm 2014 theo đánh giá của Ecommerce Foundation

Hình 2.1: Doanh thu B2C toàn cầu theo khu vực năm 2014

Nguồn: Ecommerce Foundation

Trang 32

Theo eMarketer, doanh số TMĐT B2C toàn cầu theo khu vực giai đoạn 2013-2018 được dự đoán như sau:

Bảng 2.1: Tỷ lệ doanh thu TMĐT B2C toàn cầu theo khu vực 2013 – 2018

Đối với khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, theo kết quả nghiên

cứu của Viện Nghiên cứu Daiwa, Nhật Bản, thị trường TMĐT Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng ổn định trong thời gian tới dựa trên mức độ tăng trưởng kinh tế nói chung và hạ tầng phát triển internet nói riêng Dự đoán, đến năm 2018 tốc độ tăng trưởng của TMĐT ở Indonesia và Việt Nam sẽ tương được hoặc vượt Singapore

Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (APAC), theo đánh giá của Ecommerce Foundation, doanh thu TMĐT B2C của khu vực này tăng trưởng ổn định và cao nhất toàn cầu

Hình 2.2: Doanh thu TMĐT B2C khu vực APAC (tỷ đô la Mỹ)

Nguồn: Ecommerce Foundation

Tuy nhiên, theo eMarketer đánh giá, tốc độ tăng trưởng của TMĐT B2C tại APAC trong năm 2015 là 35.7%, đạt 857 tỷ đô la Mỹ

Trang 33

Hình 2.3: Tỷ lệ doanh thu TMĐT bán lẻ trong tổng doanh thu bán lẻ

Hình 2.4: 10 quốc gia có doanh thu TMĐT B2C cao nhất 2014

* Tổng doanh thu TMĐT của Trung Quốc bao gồm TMĐT B2C và C2C

Nguồn: Ecommerce Foundation, 2015

Trang 34

Bảng 2.2: 10 quốc gia có doanh thu TMĐT bán lẻ cao nhất 2013 – 2018 Stt Quốc gia 2013 2014 2015 2016 2017 2018

This-Year/1011765

Theo dự đoán của eMarketer, 10 quốc gia dẫn đầu về doanh số bán lẻ TMĐT giai đoạn 2013-2018 có 2 đại diện mới là Hàn Quốc đứng thứ 7 và Brazil đứng thứ 10 thay thế cho 2 quốc gia là Tây Ban Nha và Úc trong bảng xếp hạng của Ecommerce Foundation Doanh thu TMĐT bán lẻ được thống kê không bao gồm vé máy bay và

du lịch trực tuyến Thống kê của Trung Quốc không bao gồm Hồng Công

Theo ước tính của UNCTAD, doanh thu TMĐT B2B toàn cầu năm 2013 vượt con số 15 nghìn tỷ đô la Mỹ Tổng doanh thu TMĐT B2B của Mỹ, Vương quốc Anh và Bắc Ireland, Nhật Bản và Trung Quốc chiếm hơn ba phần tư TMĐT B2B toàn cầu [27] Có thể thấy rằng doanh thu TMĐT B2C so với TMĐT B2B còn khá nhỏ Tuy nhiên TMĐT B2C đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt ở các quốc gia Châu Á, Châu Phi

Các số liệu trên cho thấy tầm quan trọng của TMĐT trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay Điều này đòi hỏi mỗi quốc gia phải có chính sách và chiến lược để phát triển cũng như tận dụng những lợi ích của TMĐT để thúc đẩy phát triển nền thương mại của mình Tuy nhiên, để đạt được mục đích mong muốn thì vai trò của doanh nghiệp của quốc gia lại giữ vai trò quyết định Đóng góp vào sự tăng trưởng

ấn tượng của TMĐT toàn cầu như các số liệu thống kê trên đây, có một vai trò to lớn của các DNVVN trên toàn cầu

Trang 35

2.1.2 Thương mại điện tử tại doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới hiện nay

Các quốc gia phát triển có nhiều lợi thế hơn các quốc gia đang phát triển trong phát triển TMĐT Các lợi thế ở đây là hạ tầng công nghệ thiết yếu cho TMĐT, hệ thống pháp lý của quốc gia tạo hành lang thúc đẩy TMĐT phát triển, mặt bằng dân trí cao, và yếu tố quan trọng nhất ở đây là bản thân các DNVVN tại các nước phát triển có một đội ngũ nhân lực tốt Sự ra đời của thương mại điện tử trên nền tảng internet cung cấp cơ hội lớn cho các DNVVN Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong TMĐT chỉ là một phần của một quá trình Mặc dù các DNVVN ngày càng sử dụng internet cho một loạt các mục đích thương mại và sản xuất có liên quan, nhưng nhìn chung các DNVVN có một sự hiểu biết hạn chế về các lợi ích của thương mại điện tử Sự thiếu nhận thức về tiềm năng to lớn của thương mại điện tử là một trong những rào cản lớn đối với sự phát triển của TMĐT Ngoài ra, các DNVVN cũng chưa đầu tư đầy đủ cho phát triển các

kỹ năng của một loại hình thương mại mới mẻ nhưng đầy triển vọng này Song song với đó là khoản chi phí đầu tư ban đầu tương đối cao đã ảnh hưởng đến việc phát triển các chiến lược thương mại điện tử Thực tế trên là vấn đề lớn cản trở sự phát triển của TMĐT trong cộng đồng DNVVN ở các quốc gia phát triển

Ngoài những lợi ích mang tính cố định, thì các DNVVN có thể sử dụng thương mại điện tử dựa trên internet để tạo ra giá trị gia tăng cho sản xuất sản phẩm mới, áp dụng tập quán kinh doanh hoàn toàn mới Tuy nhiên, để đạt được lợi ích do

sự thay đổi trên mang lại phụ thuộc phần lớn vào cách thức mà các doanh nghiệp tích hợp các ứng dụng thương mại điện tử vào các chức năng kinh doanh của mình DNVVN đã nhận thấy sự phát triển hiệu quả chiến lược thương mại điện tử có tầm quan trọng to lớn để giúp thành công trong thị trường trong nước và quốc tế DNVVN tại các nước phát triển thực hiện thương mại điện tử trong ba cách khác nhau Một là dùng TMĐT để tạo ra giá trị tăng thêm; hai là tạo ra các dịch vụ mới

và ba là tạo ra các mô hình kinh doanh mới

Chính phủ các nước phát triển nhận ra rằng sự ra đời của công nghệ thông tin, và đặc biệt là tiềm năng của internet đối với việc đổi mới, tổ chức lại sản xuất, thực hiện các giao dịch và liên kết các hoạt động đang phân tán trên các vùng địa lý

Trang 36

khác nhau rất lớn Có nghĩa là chính TMĐT đang làm thay đổi cách thức mà các doanh nghiệp làm kinh doanh Chính vì vậy các chính phủ tại các quốc gia này đã ban hành hàng loạt chính sách nhằm cải thiện môi trường cho thương mại điện tử phát triển Tuy nhiên, các chính sách thiết thực này ở mỗi quốc gia lại có sự khác biệt Chẳng hạn như chính sách về chi phí truy cập cơ sở hạ tầng viễn thông, phổ biến thông tin về thương mại điện tử, đào tạo, phát triển kỹ năng cho đội ngũ nhân lực… Ngoài ra, trong thực tế, DNVVN dễ bị “tổn thương” hơn các doanh nghiệp lớn do chính các vấn đề liên quan đến pháp lý như vấn đề thẩm định/chứng nhận, bảo mật dữ liệu, giải quyết các tranh chấp thương mại Vì vậy, trong xây dựng chính sách, các chính phủ luôn quan tâm đến việc tạo cơ chế công bằng giữa các doanh nghiệp

Những ảnh hưởng của TMĐT đến các DNVVN ở các nước phát triển là rất lớn, điều này thể hiện ở các mặt sau đây:

- Công nghệ TMĐT (công nghệ thông tin, công nghệ truyền thông…) có tác động đến tăng năng xuất tại các doanh nghiệp ở nhiều mức độ khác nhau Điều này thể hiện rõ khi xét trong mô hình TMĐT B2B, TMĐT dẫn đến việc hợp lý hóa quy trình kinh doanh, giúp giảm giá thành sản phẩm

- Các ứng dụng trên nền tảng internet không bị giới hạn bởi bất cứ ngành hay lĩnh vực nào mà nó có thể được ứng dụng trên phạm vi rộng lớn của nhiều ngành, doanh nghiệp Mỹ là quốc gia đi đầu trong việc chấp nhận và đưa vào ứng dụng các công nghệ thương mại điện tử và quốc gia này đã rất thành công Các sản phẩm công nghệ của Mỹ ngày nay luôn mang tính tiên phong trên thị trường Có được điều này chính là nhờ các doanh nghiệp đã ứng dụng mạnh các công nghệ TMĐT

và tận dụng tối đa lợi ích mà nó mang lại Chính do vậy, việc nắm bắt thị hiếu, xu hướng tiêu dùng của thị trường được thực hiện nhanh chóng thông qua công nghệ TMĐT Sản phẩm được thiết kế trong thời gian ngắn, sản phẩm được tùy biến một cách linh hoạt, tiêu chuẩn hóa sản phẩm ở mức độ cao đến từng chi tiết Đối với khâu sản xuất, hậu cần khi ứng dụng các công nghệ TMĐT giúp giảm chi phí lưu kho, sản xuất nhanh hơn với chi phí thấp hơn

Trang 37

- DNVVN ở các nước phát triển đã tận dụng tối đa lợi ích của TMĐT trong chuỗi cung ứng và phân phối sản phẩm: Trước đây, khi chưa có TMĐT, việc kết nối trực tiếp các thành phần trong chuỗi rất khó khăn, hiện nay vấn đề này trở nên dễ dàng Doanh nghiệp sử dụng công nghệ TMĐT một cách chủ động để tạo ra các sản phẩm mới, phương thức kinh doanh mới, thay đổi cách thức tương tác với thị trường (ví dụ: mối quan hệ với khách hàng, nhà cung ứng, đơn vị trung gian và đối thủ cạnh tranh…) Công dụng chiến lược của TMĐT cho phép các DNVVN ở các nước đang phát triển thâm nhập, duy trì, nâng cao vị thế của họ cùng với chuỗi giá trị trong ngành, lĩnh vực mà họ tham gia

- Để đạt được những lợi ích thiết thực to lớn của TMĐT phụ thuộc vào cách thức mà các doanh nghiệp tích hợp công nghệ TMĐT vào quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Các DNVVN ở các nước phát triển đã cho thấy tầm nhìn của họ Họ

đã tích hợp công nghệ TMĐT trong suốt chuỗi giá trị kinh doanh của họ

Để đạt được những thành công nhờ TMĐT mang mại, các DNVVN ở các nước phát triển cũng gặp nhiều khó khăn Có một loạt các lý do tại sao DNVVN ở các nước phát triển không đẩy nhanh ứng dụng thương mại điện tử Lý do rất khác nhau giữa các ngành và các quốc gia Tuy nhiên, một số lý do phổ biến nhất đó là: không phù hợp cho các loại hình doanh nghiệp; thiếu các yếu tố then chốt (kỹ năng công nghệ thông tin, trình độ nhân viên, cơ sở hạ tầng mạng); ảnh hưởng bởi yếu tố chi phí (chi phí thiết bị công nghệ thông tin và mạng còn cao, các chi phí mang tính liên tục để duy trì và phát triển hệ thống); yếu tố an ninh và sự tin tưởng (độ tin cậy của hệ thống thương mại điện tử, độ tin cậy của các phương thức thanh toán, các khuôn khổ pháp lý)

2.1.2.1 Lựa chọn mô hình thương mại điện tử của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới

Đứng trước những cơ hội cũng như thách thức do TMĐT mang lại, các DNVVN phải lựa chọn hướng đi cho riêng mình Thực tế hiện nay, xu thế lựa chọn của các DNVVN trên thế giới trong tiếp cận TMĐT đó là lựa chọn các giải pháp mang tính cạnh tranh nhưng với chi phí thấp và hướng đến đối tượng khách hàng cụ thể

Trang 38

Thập niên đầu tiên của thiên niên kỷ mới đã chứng kiến sự thay đổi sâu sắc

và sự gia tăng mạnh mẽ trong cách thức kinh doanh và thương mại trong TMĐT Hàng ngày nhiều người tiêu dùng ở các nước phát triển và đang phát triển truy cập internet thông qua các thiết bị đầu cuối khác nhau, trong đó số lượng lớn người truy cập thông qua công nghệ di động Theo dự đoán của các nhà phân tích, sử dụng internet thông qua các ứng dụng trên nền tảng di động sẽ tăng lên theo cấp số nhân trong các thập kỷ tới Công nghệ thông tin và truyền thông có tiềm năng rất lớn để đóng góp vào sự tiến bộ xã hội, phát triển kinh tế của các quốc gia trên phạm vi toàn thế giới Vai trò của DNVVN ở tiến trình này sẽ mang tính quyết định

Trong Báo cáo kinh tế thông tin 2010 của UNCTAD cho thấy cách thức các DNVVN sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để không chỉ cải thiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà còn giúp cải thiện sinh kế ở một số cộng đồng và khu vực nghèo nhất thế giới Nhiều doanh nhân ở các quốc gia đang phát triển ngày nay có khả năng đạt được lợi ích mong muốn trong các hoạt động kinh doanh nhờ công nghệ thông tin và truyền thông mang lại Bằng cách cải thiện các kênh truyền thông cả trong nước và quốc tế cũng như việc áp dụng công nghệ thông tin có liên quan và tác động rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Chính phủ các quốc gia đang nỗ lực để cải thiện, nâng cấp và mở rộng việc sử dụng công nghệ thông tin của khu vực tư nhân Nghiên cứu của UNCTAD chỉ ra rằng các chính phủ và các đối tác khác nhau của họ, trong đó bao gồm cả khu vực tư nhân, còn phải nỗ lực hơn nữa để có thể tận dụng những cơ hội do công nghệ thông tin mang lại trong bối cảnh mới hiện nay [23]

Hình 2.5: Số người dùng internet giai đoạn 2001 –2016

Nguồn: ITU World Telecommunication/ICT Indicators database

Trang 39

Sự phát triển nhanh chóng của CNTT và sự gia tăng về số lượng người sử dụng đang làm thay đổi bối cảnh kinh tế toàn cầu Theo ITU, từ năm 2001 đến năm

2015, số người sử dụng internet đã tăng từ 495 triệu người lên 3,2 tỷ người Dự báo đến năm 2016 con số này tăng lên gần 3,5 tỷ người Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức mà con người giao tiếp và làm kinh doanh

Trong tất cả những người sử dụng internet trong năm 2015 thì có 2 tỷ người

là từ các quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, mặc dù xu hướng ngày càng tăng trong việc sử dụng internet, các nước phát triển vẫn tiếp tục vượt qua các nước đang phát triển về số lượng kết nối Biểu đồ dưới đây phản ánh số lượng người dùng internet trên 100 dân được dự tính cho các khu vực trong năm 2016 Trong khi khu vực Châu Phi có tỷ lệ là 25,1 người dùng internet trong 100 người dân thì Châu Âu

có tỷ lệ 79,1 trong 100 người dân

Hình 2.6: Số người dùng internet trên 100 người dân

(theo khu vực năm 2016 * )

Nguồn: ITU World Telecommunication/ICT Indicators database

Có thể thấy, trong việc ứng dụng và phát triển TMĐT để phát triển kinh doanh, DNVVN ở các nước phát triển có nhiều thuận lợi hơn so với các DNVVN ở các nước đang phát triển

Internet đóng một vai trò lớn trong thương mại điện tử Số người dùng internet trên toàn cầu vẫn đang tiếp tục gia tăng Số người dùng internet tại các nước đang phát triển hiện đã vượt qua các nước phát triển Tiến bộ công nghệ thực

sự được phát triển mạnh ở cả các nước phát triển và đang phát triển Theo ITU, năm

Trang 40

2008 tỷ lệ người dùng internet tại các nước đang phát triển chiếm 52%, các nước phát triển chiếm 48%, dự đoán đến năm 2016 số liệu tương ứng là 71% và 29% Số người sử dụng internet gia tăng góp phần thúc đẩy TMĐT phát triển Một xu thế đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu có ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến các DNVVN ứng dụng TMĐT đó là sử dụng internet qua điện thoại di động và hoặc thiết bị cầm tay có kết nối mạng

Thiết bị công nghệ điện tử viễn thông phổ biến nhất ở các nước đang phát triển, đặc biệt ở Châu Phi, Châu Á đó là điện thoại di động Điện thoại di động đang ngày càng đóng một vai trò lớn hơn trong việc mở rộng thương mại điện tử ở các nước đang phát triển, đặc biệt là giữa các người dùng mà không cần kết nối thiết bị đầu cuối Theo số liệu của ITU, trên phạm vi toàn cầu, năm 2015 có 98,6 thuê bao

di động/100 người dân Năm 2016 được dự đoán là có 99,7 thuê bao/100 người dân Điện thoại di động không chỉ tác động đến sự vận hành của doanh nghiệp, nền kinh

tế mà nó còn giúp thu hẹp khoảng cách giàu nghèo Điện thoại di động giúp nông dân tham gia vào những dịch vụ tài chính di động, cho phép họ mở tài khoản tiết kiệm, hưởng lãi suất tiền gửi của họ và truy cập vào một loạt các sản phẩm tín dụng

và bảo hiểm

Mua hàng hóa trên nền tảng di động là một hình thức thực hiện TMĐT Sự khác nhau cơ bản giữa TMĐT trên nền tảng di động với TMĐT trên nền tảng máy tính đó là cơ chế truy cập Trong những năm gần đây, nhiều nước đang phát triển đã

có sự phát triển đột biến trong thương mại di động Internet thâm nhập Châu Phi là

ví dụ điển hình Thực hiện TMĐT qua điện thoại có lợi thế về chi phí rẻ Ở khu vực như Châu Phi, sử dụng máy tính để mua hàng thường quá đắt đỏ và người dân đã lựa chọn điện thoại di động

Ở nhiều nước đang phát triển điện thoại di động vẫn chủ yếu sử dụng để hội thoại và nhắn tin Tuy nhiên, điện thoại di động đang đang ngày càng được sử dụng cho các ứng dụng trao đổi dữ liệu như thương mại điện tử (M-ecommerce), ngân hàng di động (M-banking) Trong một số nước Châu Phi, đặc biệt là Kenya, Nam Phi, Tanzania và Zambia, điện thoại di động đang được sử dụng để làm các dịch vụ ngân hàng cá nhân Các doanh nghiệp đang sử dụng dịch vụ gọi điện thoại và nhắn

Ngày đăng: 07/10/2016, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Sách trắng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 2014, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách trắng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 2014
Tác giả: Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2014
7. Ts Ao Thu Hoài (2015), Thương mại điện tử, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử
Tác giả: Ts Ao Thu Hoài
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông
Năm: 2015
8. Ts Trần Văn Hòe (2006), Giáo trình Thương mại điện tử, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thương mại điện tử
Tác giả: Ts Trần Văn Hòe
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
10. Ths Nguyễn Duy Hùng (2016), Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong bối cảnh ký kết hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Tạp chí Kinh tế đối ngoại, (số 79, 01/2016), tr. 51-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trong bối cảnh ký kết hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Tác giả: Ths Nguyễn Duy Hùng
Năm: 2016
11. Trịnh Lê Nam và Nguyễn Phúc Trường Sinh (2001), Thương mại điện tử cho doanh nghiệp, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử cho doanh nghiệp
Tác giả: Trịnh Lê Nam và Nguyễn Phúc Trường Sinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 2001
12. Nguyễn Văn Hùng (chủ biên) cùng các tác giả Trương Anh Luân, Huỳnh Văn Hồng, Phan Quang Việt, Nguyễn Văn Bảo (2013), Thương mại điện tử, Nhà xuất bản Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại điện tử
Tác giả: Nguyễn Văn Hùng (chủ biên) cùng các tác giả Trương Anh Luân, Huỳnh Văn Hồng, Phan Quang Việt, Nguyễn Văn Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
14. Bijan Fazlollahi (2002), The successful strategy for e-commerce, IRM Press, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: The successful strategy for e-commerce
Tác giả: Bijan Fazlollahi
Năm: 2002
15. Efraim Turban (2008), Electronic Commerce: A Managerial Perpective, Prentice Hall, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic Commerce: A Managerial Perpective
Tác giả: Efraim Turban
Năm: 2008
16. Kenneth C. Laudon (2008), Electronic Commerce, Prentice Hall, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Electronic Commerce
Tác giả: Kenneth C. Laudon
Năm: 2008
17. Thomas L.Friedman (1999), The Lexus and The Olive tree, Farrar, Straus and Giroux, USATài liệu online Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Lexus and The Olive tree
Tác giả: Thomas L.Friedman
Năm: 1999
24. UNCTAD (2004), E-Commerce annd Development Report 2004, http://unctad.org/en/Docs/ecdr2004_en.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-Commerce annd Development Report 2004
Tác giả: UNCTAD
Năm: 2004
25. UNCTAD (2010), Information Economy Report 2010, http://unctad.org/en/Docs/ier2010overview_embargo2010_en.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information Economy Report 2010
Tác giả: UNCTAD
Năm: 2010
26. UNCTAD (2012), Information Economy Report 2012, http://unctad.org/en/PublicationsLibrary/ier2012_en.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information Economy Report 2012
Tác giả: UNCTAD
Năm: 2012
27. UNCTAD (2013), Information Economy Report 2013, http://unctad.org/en/PublicationsLibrary/ier2013_en.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information Economy Report 2013
Tác giả: UNCTAD
Năm: 2013
28. World Economic Forum (2014), The Global Information Technology Report 2014,http://www3.weforum.org/docs/WEF_GlobalInformationTechnology_Report_2014.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Global Information Technology Report 2014,h
Tác giả: World Economic Forum
Năm: 2014
29. UNCTAD (2015), Information Economy Report 2015, http://unctad.org/en/PublicationsLibrary/ier2015overview_en.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information Economy Report 2015
Tác giả: UNCTAD
Năm: 2015
34. OECD (2004), “ICT, E-Business and Small and Medium Enterprises”, OECD Digital Economy Papers, No. 86, http://dx.doi.org/10.1787/232556551425 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ICT, E-Business and Small and Medium Enterprises”
Tác giả: OECD
Năm: 2004
30. International Telecommunication Union (ITU) (2014), Measuring the Information Society Report 2014,http://unctad.org/meetings/en/Contribution/CSTD_2014_InfoSocietyReport_Summary_ITU_en.pdf Link
2. Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin - Bộ Công Thương (2011), Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2011 Khác
3. Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin - Bộ Công Thương (2012), Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Doanh thu B2C toàn cầu theo khu vực năm 2014 - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.1 Doanh thu B2C toàn cầu theo khu vực năm 2014 (Trang 31)
Hình 2.2: Doanh thu TMĐT B2C khu vực APAC (tỷ đô la Mỹ) - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.2 Doanh thu TMĐT B2C khu vực APAC (tỷ đô la Mỹ) (Trang 32)
Hình 2.3: Tỷ lệ doanh thu TMĐT bán lẻ trong tổng doanh thu bán lẻ - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.3 Tỷ lệ doanh thu TMĐT bán lẻ trong tổng doanh thu bán lẻ (Trang 33)
Hình 2.4: 10 quốc gia có doanh thu TMĐT B2C cao nhất 2014 - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.4 10 quốc gia có doanh thu TMĐT B2C cao nhất 2014 (Trang 33)
Bảng 2.2: 10 quốc gia có doanh thu TMĐT bán lẻ cao nhất 2013 – 2018 - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Bảng 2.2 10 quốc gia có doanh thu TMĐT bán lẻ cao nhất 2013 – 2018 (Trang 34)
Hình 2.5: Số người dùng internet giai đoạn 2001 –2016 - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.5 Số người dùng internet giai đoạn 2001 –2016 (Trang 38)
Hình 2.6: Số người dùng internet trên 100 người dân - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.6 Số người dùng internet trên 100 người dân (Trang 39)
Hình 2.7: Các rào cản đối với ứng dụng TMĐT ở các DNVVN - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.7 Các rào cản đối với ứng dụng TMĐT ở các DNVVN (Trang 45)
Hình 2.8: Tình hình sử dụng chữ ký điện tử trong doanh nghiệp - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.8 Tình hình sử dụng chữ ký điện tử trong doanh nghiệp (Trang 49)
Hình 2.9: Khó khăn trong tuyển dụng nhân sự có kỹ năng CNTT và TMĐT - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.9 Khó khăn trong tuyển dụng nhân sự có kỹ năng CNTT và TMĐT (Trang 50)
2.2.1.1. Hình thức giao dịch qua sàn giao dịch thương mại điện tử và mạng xã hội - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
2.2.1.1. Hình thức giao dịch qua sàn giao dịch thương mại điện tử và mạng xã hội (Trang 50)
Hình 2.11: Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch TMĐT qua các năm - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.11 Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia sàn giao dịch TMĐT qua các năm (Trang 51)
Hình 2.12: Tỷ lệ doanh nghiệp sở hữu website (nhóm theo lĩnh vực kinh doanh) - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.12 Tỷ lệ doanh nghiệp sở hữu website (nhóm theo lĩnh vực kinh doanh) (Trang 52)
Hình 2.13: Đánh giá việc bán hàng qua các hình thức - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.13 Đánh giá việc bán hàng qua các hình thức (Trang 53)
Hình 2.16: Số lượng đơn hàng trực tuyến đã nhận - Mô hình phát triển thương mại điện tử cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới và gợi ý cho việt nam
Hình 2.16 Số lượng đơn hàng trực tuyến đã nhận (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w