Để triển khai và thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đáp ứn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ CÔNG VINH
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ CÔNG VINH
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả và số liệu trong khóa luận chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự an cam đoan này
Tác giả luận văn
Lê Công Vinh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI DƯỚI HÌNH THỨC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI 141.1 Các khái niệm tổ chức và hoạt động về công tác xã hội 141.2 Mô hình trung tâm bảo trợ xã hội: Khái niệm, đặc điểm trung tâm bảo trợ xã hội chức năng và nhiệm vụ 171.3 Các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động về công tác xã hội 231.4 Thể chế tổ chức và hoạt động về công tác xã hội 29
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II HÀ NỘI 332.1 Khái quát về Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội 332.2 Thực trạng về cơ cấu tổ chức và về chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội 332.3 Thực trạng hoạt động về công tác xã hội của Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội 392.4 Đánh giá chung về thực trạng tổ chức và hoạt động về công tác xã hội của Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội 46
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II
HÀ NỘI 513.1 Nhu cầu hoàn thiện tổ chức và hoạt động về công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội 513.2 Giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động về công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội 52
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU
_Toc461648263
Biểu số 2.2: Thực trạng trình độ chuyên môn cán bộ Trung tâm Bảo trợ xã hội
II Hà Nội 36 Biểu đồ 2.3: Thống kê danh sách đối tƣợng bảo trợ xã hội nuôi dƣỡng tại Trung tâm 38 Bảng 2.4: Cách giải quyết vấn đề tâm lý của NKT 43
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội sau giải pháp 54
Sơ đồ 2.1: Thực trạng tổ chức bộ máy Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội 35
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới Công tác xã hội là một nghề chuyên môn, với mục đích giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, thúc đẩy chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của con người Gần một thế kỷ qua công tác xã hội đã giải quyết được nhiều vấn đề xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội, mang lại công bằng cho con người và xã hội thông qua việc hỗ trợ, tác động đối với cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng
Tại Việt Nam, ngày 25 tháng 3 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội Đây được xem là một đề án có ý nghĩa chiến lược phát triển nghề công tác xã hội nhằm góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
Để triển khai và thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ để phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại cộng đồng dân cư và các cơ sở bảo trợ xã hội đang thực hiện nhiệm vụ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội là một công việc cần được triển khai nhanh chóng, kịp thời ở tất cả các tỉnh thành phố trên phạm vi cả nước
Cơ sở xã hội nói chung, trong đó có các cơ sở có sử dụng các phương pháp công tác xã hội nói riêng đều cần đến kiến thức kỹ năng và phương pháp quản lý, đặc biệt là quản lý trong ngành công tác xã hội Cũng như các ngành nghề khác, ngành công tác xã hội bao gồm các các cơ sở, nơi có đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp làm việc, vì vậy nhà quản lý các cơ sở này phải sử dụng đến kiến thức quản lý để điều hành công việc có hiệu quả
Quản lý công tác xã hội là công cụ quan trọng để tối đa hóa tính hiệu quả của các chương trình hoạt động công tác xã hội để giải quyết các vấn đề
xã hội và cải thiện điều kiện xã hội tốt hơn
Trang 8Quản lý công tác xã hội cung cấp nền tảng để thực hành công tác xã hội liên quan đến các chức năng của cơ sở xã hội Chất lượng thực hành công tác
xã hội phần lớn phụ thuộc vào cách quản lý ngành công tác xã hội
Thành phố Hà Nội hiện nay có 12 trung tâm bảo trợ xã hội thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng là người yếu thế hưởng chế
độ trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng, bao gồm các nhóm: Người cao tuổi cô đơn, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, người khuyết tật, người tâm thần, người lang thang cơ nhỡ Nhiệm vụ của các trung tâm này chủ yếu là chăm sóc, nuôi dưỡng, phục hồi chức năng, tổ chức hoạt động cho các đối tượng trong các cơ sở bảo trợ xã hội theo mục tiêu Đề án phát triển nghề công tác xã hội là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng, nó đòi hỏi phải có sự đổi mới trong tư duy của người lãnh đạo, quản lý và của bản thân cán bộ công nhân viên, nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại trung tâm, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác xã hội Để đáp ứng yêu cầu đó tại Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội, với vai trò là một người lãnh đạo đơn vị, đồng thời
là một học viên khoa Công tác xã hội Học viện khoa học xã hội tôi cần thấy cần phải có sự nhìn nhận đúng đắn từ thực tiễn tổ chức và hoạt động công tác
xã hội tại đơn vị công tác để góp phần đưa nhiệm vụ quản lý, chăm sóc phục
vụ đối tượng tại đây được tốt hơn nên tôi đã lựa chọn đề tài "Tổ chức và hoạt
động về công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II, thành phố Hà Nội" làm luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn xây dựng, cơ cấu
lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và người lao động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội cho đủ số lượng, đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, góp phần xây dựng mạng lưới công tác xã hội vững mạnh trên địa bàn thủ đô
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Công tác xã hội được chính thức công nhận là một nghề hợp pháp trong
xã hội, nó là động lực cho nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động công tác xã
Trang 9hội thêm hăng say nghiên cứu, giúp cho lý luận công tác xã hội thêm hoàn thiện Bên cạnh đó là cơ sở cho hoạt động thực tiễn, hoạt động hỗ trợ đối tượng yếu thế thêm hiệu quả
Để thuận lợi cho việc theo dõi, tôi phân loại các công trình nghiên cứu, các bài viết khoa học tiêu biểu theo các nội dung chính sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu về cơ sở pháp lý về nghề công tác xã hội
Quyết định phê duyệt Đề án phát trển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 của Chính phủ đã đặt nền móng vững chắc về cơ hội phát triển cho nghề công tác xã hội Mục tiêu của Đề án phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến
Để góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho nghề công tác xã hội cũng như các quy định có liên quan đến nhân viên xã hội và đối tượng xã hội, đã có nhiều ý kiến đánh giá, góp ý, xây dựng để hoàn thiện hơn khung pháp lý này
từ thực tế nghề công tác xã hội trong những năm vừa qua, tiêu biểu là bài viết
“ Đánh giá kết quả thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn
2010 - 2014” của tác giả Nguyễn Văn Hồi, Cục trưởng Cục Bảo trợ xã hội có
đề cập một số khó khăn tồn tại: “Khuôn khổ pháp lý phát triển nghề công tác
xã hội chưa được hoàn chỉnh, đặc biệt là vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội chưa được xác định cụ thể trong một số bộ Luật, Luật liên quan như Bộ Luật Lao động, Bộ Luật Dân sự, Luật hôn nhân
và gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,… Đây là các quá trình rất phức tạp, cần nhiều thời gian và liên quan đến nhiều Bộ, ngành khác nhau Chế độ phụ cấp
Trang 10ưu đãi nghề đối với cán bộ, nhân viên công tác xã hội làm việc trong các cơ
sở trợ giúp xã hội chưa được ban hành; sự phối hợp liên ngành còn hạn chế; chưa có cơ sở pháp lý quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Trung tâm công tác xã hội cấp tỉnh Việc áp dụng mã số, chức danh, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức công tác xã hội còn nhiều bất cập Các văn bản quy phạm pháp luật phát triển nghề công tác xã hội chưa được hệ thống hóa" [13]
Như vậy, trong thời gian tới sẽ có nhiều vấn đề về nghề công tác xã hội, nhân viên xã hội, đối tượng xã hội cần các cấp lãnh đạo xem xét các quy định của pháp luật hướng đến xây dựng một khung pháp lý hoàn thiện hơn
Thứ hai, các nghiên cứu về yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ của nhân viên xã hội trong hoạt động nghề công tác xã hội
Đề án phát triển nghề công tác xã hội như một tiếng báo hiệu cho cuộc chạy đua về nghiên cứu khoa học liên quan đến công tác xã hội và cụ thể là nhân viên xã hội Có nhiều ý kiến quan tâm đến vấn đề này nhằm góp phần xây dựng đội ngũ nhân viên công tác xã hội đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Nổi bật là các bài viết sau:
Trong bài viết “Nhân viên công tác xã hội, nguồn nhân lực góp phần
thực hiện chính sách an sinh xã hội tại Yên Bái” của tác giả Hoàng Thị Chanh
- Phó giám đốc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tỉnh Yên Bái trên trang web: http://solđtbxh.yenbai.gov.vn cho rằng, mặc dù đã có rất nhiều cố gắng,
nỗ lực thực hiện chính sách an sinh xã hội nhưng do diện đối tượng thụ hưởng chính sách ngày càng rộng, đội ngũ cán bộ làm công tác Lao động - Thương binh và Xã hội cấp cơ sở còn thiếu về số lượng, còn nhiều bất cập về trình độ, năng lực, do đó việc triển khai tổ chức thực hiện chính sách còn gặp nhiều khó khăn, đôi khi thiếu kịp thời Điều đó đặt ra nhu cầu cần thiết bổ sung nguồn nhân lực cho công tác này, hình thành mạng lưới nhân viên công tác xã
Trang 11hội cấp xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 32 /2010/QĐ-TTg và Kế hoạch số 32/KH-UBND, ngày 1/4/2011 của UBND tỉnh Yên Bái về triển khai
“Đề án phát triển nghề công tác xã hội” để góp phần thực hiện các chính sách
an sinh xã hội
Trong bối cảnh Việt Nam, những câu hỏi có thể được đặt ra cho đào tạo bậc cao là: Liệu sinh viên có đạt được mức độ kỹ năng cần thiết thực hành công tác xã hội trong cộng đồng, thị trấn, các tỉnh thành và quận huyện không? Phương pháp tiếp cận định hướng kết quả nói đến việc xác định và đánh giá những gì sinh viên thể hiện trong thực hành, thông qua quá trình phát triển năng lực của các em Mới đầu đọc bài viết này có vẻ không có mối liên quan đến các yêu cầu về nhân viên xã hội, nhưng thực tế là có mối liên hệ sâu sắc, bởi thực tập là một phần không thể thiếu trong khung chương trình đào tạo ngành công tác xã hội và chiếm giữ một vị trí quan trọng trong trải nghiệm học tập, cũng như trong làm việc của mỗi sinh viên Thông qua làm việc với các hệ thống thân chủ ở nhiều quy mô và hoàn cảnh đa dạng, các sinh viên được hỗ trợ để phát triển bản sắc nghề nghiệp với sứ mệnh và giá trị của nghề công tác xã hội
Thứ ba, các nghiên cứu về vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động công tác xã hội
Mỗi nhân viên xã hội sẽ có các vai trò, các biện pháp khác nhau nhằm
hỗ trợ cho những đối tượng khác nhau một cách hiệu quả nhất
Bài viết "Hỗ trợ gia đình và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt" của tác giả
Nguyễn Thị Bùi Thành, thông qua tìm hiểu khó khăn, nguyên nhân, tác giả đã đưa ra được những khuyến nghị đối với các bậc phụ huynh, đối với người hỗ trợ, đối với trường học, đối với nhà nước Để làm rõ vấn đề, ThS Nguyễn Thị Bùi Thành có dẫn chứng trường hợp rất cụ thể giúp cho người đọc cách nhìn nhận khách quan, rõ ràng, chú trọng đến vai trò của các bậc phụ huynh trong
Trang 12việc dành thời gian bên con, trò chuyện với con nhằm kích thích sự phát triển sớm của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ giao lưu với bạn cùng lứa Nếu thấy con có biểu hiện không bình thường nên cho con đi kiểm tra đánh giá tại những cơ quan uy tín để có thể phát hiện sớm và can thiệp kịp thời nhằm đảm bảo tương lai tốt đẹp của trẻ
Việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam - từ chính sách đến thực tiễn và vai trò của công tác xã hội của tác giả Phạm Huy Cường Ngoài nội
dung liên quan đến người khuyết tật, bài viết có đề cập đến vai trò của công tác xã hội, đặc biệt là nội dung nhấn mạnh quá trình nỗ lực tự thân của những người làm công tác xã hội, bên cạnh đó cần hết sức quan tâm đến các hoạt động giao lưu quốc tế, những kinh nghiệm của bạn bè quốc tế, cũng như các
hỗ trợ kỹ thuật hay vật chất có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy nhanh và mạnh lĩnh vực công tác xã hội ở Việt Nam, sớm đáp ứng nhu cầu của xã hội nói chung, cũng như nhu cầu của người khuyết tật, vấn đề việc làm nói riêng
Với mỗi đối tượng, mỗi hoàn cảnh, mỗi vấn đề thì nhân viên xã hội có những vai trò hỗ trợ khác nhau, điều này đòi hỏi nhân viên xã hội luôn trang
bị cho mình những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp, ham học hỏi, năng động và sống nhiệt huyết với tình yêu nghề lớn để tận tâm, tận lực hỗ trợ cho những đối tượng yếu thế có một cuộc sống ấm no, bình an và hạnh phúc
Thứ tư, nghiên cứu thực trạng triển khai các đề án, chương trình của Chính phủ liên quan đến công tác xã hội
Bài viết “Phát triển công tác xã hội ở Việt Nam về phương diện pháp
luật” của tác giả Hà Đình Bốn tại Hội thảo quốc tế về chia sẻ kinh nghiệm về
an sinh xã hội và công tác xã hội, ngày hội công tác xã hội 2012 tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Bài viết đưa ra một số hạn chế
về công tác xã hội ở Việt Nam, đối với những nội dung đã được pháp luật quy
Trang 13định vẫn còn chung chung, chưa cụ thể Bên cạnh đó, còn nhiều nội dung về công tác xã hội lại chưa được pháp luật quy định Các quy định liên quan đến
vị trí, vai trò, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và chính sách bảo đảm, hỗ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội, dịch vụ công tác xã hội trong các văn bản luật pháp chưa rõ ràng Các chính sách bảo đảm, hỗ trợ cho việc thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội đối với các đối tượng thực hiện nhiệm vụ này chưa tương xứng, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, như quy định chế
độ thụ hưởng chưa phù hợp với đặc thù của công việc mà họ đảm nhiệm, thực hiện Các loại hình dịch vụ công tác xã hội chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thực tiễn; các hoạt động mang tính công tác xã hội chuyên nghiệp vẫn còn yếu, đặc biệt đội ngũ cán bộ công tác xã hội vừa thiếu về số lượng và yếu về chất lượng Như vậy, về cơ bản các quy định có liên quan đến công tác xã hội rất đa dạng phong phú, tuy nhiên chưa được xác định rõ là các hoạt động công tác xã hội
Bài viết Đánh giá kết quả thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã
hội giai đoạn 2010 - 2014 của tác giả Nguyễn Văn Hồi trong Hội thảo khoa
học quốc tế: "Thực tiễn và hội nhập trong phát triển công tác xã hội ở Việt Nam có đề cập nguyên nhân của những mặt tồn tại này là do nhận thức về vai trò, vị trí của nghề công tác xã hội trong quá trình xây dựng nền an sinh xã hội tiên tiến của đất nước ở nhiều cấp, ngành còn hạn chế Nhiều địa phương nhận thức chưa đúng nên chưa chủ động, chưa quyết liệt triển khai Đề án phát triển nghề công tác xã hội trên địa bàn Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền, nhiều cấp, nhiều ngành đối với nhiệm vụ phát triển nghề công tác xã hội chưa được quan tâm đúng mức Thiếu cơ chế chính sách nhằm huy động sự tham gia, vào cuộc của các hội, đoàn thể, tổ chức dân sự xã hội và người dân trong phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp ở Việt Nam" [13]
Trang 14Như vậy, có thể thấy các hoạt động công tác xã hội quy mô và phạm vi hoạt động các dịch vụ xã hội của hoạt động công tác xã hội còn hạn chế, chưa hình thành ở trong các ngành y tế, giáo dục, tư pháp,… Bên cạnh đó, các hình thức trợ giúp, các dịch vụ công tác xã hội chưa phong phú và chất lượng cũng như hiệu quả chưa cao Các hoạt động hiện tại mang nặng tính quản lý nhà nước hơn là hướng dẫn hỗ trợ cung cấp các dịch vụ công cho đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt nhằm giúp họ tự giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh, phương thức can thiệp giải quyết vấn đề chủ yếu là xử lý vấn đề khi sự việc xảy ra chứ chưa chú trọng đến cả biện pháp phòng ngừa, do vậy kết quả chưa được thực sự hiệu quả
Việt Nam, một dân tộc vốn giàu truyền thống nhân đạo, trong quá trình hội nhập quốc tế đã, đang hình thành và phát triển công tác xã hội như một ngành, nghề, một khoa học trong hệ thống khoa học xã hội và nhân văn Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, công tác xã hội ở Việt Nam đã sớm hình thành từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Truyền thống “Lá lành đùm lá rách”, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”,… thấm đượm trong đời sống của mỗi người dân Việt Nam Đó là tiền đề cho công tác xã hội được công nhận và phát triển cùng với sự phát triển của thời đại, là điều kiện tiên quyết góp phần nâng cao trình độ, chuyên môn của nhân viên xã hội theo hướng chuyên nghiệp hơn Tuy nhiên, công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề trên hiện chưa được đề cập nhiều mà chủ yếu chỉ là các bài báo, các phóng sự, hội thảo thể hiện ở góc độ nhìn nhận, đánh giá khái quát về đội ngũ nhân viên
xã hội trong hoạt động công tác xã hội ở các cấp nói chung
Với tình hình thực tế về nguồn nhân lực trong công tác xã hội còn yếu
và thiếu như hiện nay cần có nhiều hơn nữa các công trình nghiên cứu nhằm nâng cao cả về chất lượng và số lượng đội ngũ hoạt động công tác xã hội Chính vì thế đề tài này tôi đi sâu tìm hiểu về nhân viên xã hội trong hoạt động
Trang 15công tác xã hội, những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế, thiếu sót, những thuận lợi và khó khăn từ thực tiễn hoạt động công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển và hoàn thiện công tác tổ chức
và hoạt động công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức, tổ chức hoạt động về công tác xã hội tại cơ sở bảo trợ xã hội
Nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức và hoạt động công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội II thành phố Hà Nội
Đánh giá công tác tổ chức và hoạt động công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội, tìm ra những điểm mạnh để phát huy, những điểm yếu, còn hạn chế trong tổ chức và hoạt động công tác xã hội để đề xuất thay đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng tổ chức và hoạt động công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội II thành phố Hà Nội
Trang 164.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi không gian
Phạm vi về đối tượng: Nghiên cứu công tác tổ chức hoạt động của các nhân viên xã hội trong hoạt động công tác xã hội Cụ thể là các yêu cầu của nhân viên xã hội như yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp;
Nghiên cứu vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động công tác xã hội
Phạm vi khách thể: gồm 2 nhóm khách thể, cụ thể:
Nhân viên xã hội và cán bộ lãnh đạo là 69 người (Ban Giám đốc, các phòng ban chức năng của trung tâm)
Đối tượng xã hội/thân chủ: 230 người
b Phạm vi thời gian: Từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ thống những
lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố liên quan như:
Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010-2020 (Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg) ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ, hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện nghề công tác xã hội …
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu: Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu từ sách, báo, tạp chí, các báo cáo khoa học
để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu Qua đó cũng xác định được
Trang 17một số khái niệm chính của đề tài như: Tổ chức, hoạt động, tổ chức hoạt động
công tác xã hội, tổ chức hoạt động công tác xã hội tại cơ sở bảo trợ xã hội
Thu thập thông tin từ các nguồn như các văn bản, báo cáo, các tạp chí, sách tham khảo, các văn bản pháp luật để tìm hiểu các số liệu liên quan đến quy mô, cơ cấu, tổ chức hoạt động công tác xã hội
Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này được sử dụng với đối
tượng là các đối tượng bảo trợ xã hội đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại trung tâm và cán bộ, nhân viên làm việc tại trung tâm, qua phỏng vấn 05 người cao tuổi cô đơn, 05 người khuyết tật, 05 người lang thang không nơi
nương tựa và 5 cán bộ nhân viên tại Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội
Với phương pháp này ở nội dung phỏng vấn cán bộ Trung tâm để thu thập những thông tin nhằm trả lời cho những câu hỏi như: Những hoạt động CTXH nào trung tâm đang triển khai tại Trung tâm? Những nguồn lực nào được Trung tâm huy động để trợ giúp? Khó khăn của Trung tâm trong việc tổ chức hoạt động công tác xã hội?
Đối với các nhóm đối tượng phỏng vấn sâu tập trung trả lời những câu hỏi như: Các đối tượng cảm thấy như thế nào khi sống ở Trung tâm? Họ được tham gia vào những hoạt động gì ở Trung tâm? Họ được cung cấp những dịch
vụ gì? Nhu cầu của các đối tượng hiện nay là gì? Những khó khăn các đối tượng đang gặp phải là gì?
Phương pháp điều tra khảo sát: Với phương pháp này, tôi chọn mẫu ngẫu nhiên, số lượng mẫu 30 để tìm hiểu các vấn đề, những khó khăn, nguyện vọng của đối tượng tại Trung tâm Với mỗi phiếu khảo sát, tôi xây dựng các câu hỏi, có những câu hỏi đóng và câu hỏi mở để tìm hiểu mức độ hài lòng của đối tượng với các khía cạnh trong cuộc sống Tôi đã nhận được sự hợp tác tích cực từ phía lãnh đạo, cán bộ nhân viên và đối tượng trong Trung tâm để hoàn thành phiếu điều tra
Trang 18Phương pháp quan sát: Với phương pháp này, tôi tiến hành làm việc với các phòng, ban trong trung tâm là nơi trực tiếp chăm sóc, triển khai các dịch vụ nhiều lần vào nhiều khoảng thời gian khác nhau, cùng tham gia vào các hoạt động của trung tâm và các nhóm đối tượng để quan sát, nắm bắt Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi chú trọng quan sát những hoạt động diễn ra tại trung tâm; các hoạt động hàng ngày của các đối tượng; môi trường vật chất; các phương tiện, kỹ thuật, trang thiết bị; các công trình công cộng đáp ứng nhu cầu của đối tượng trong sinh hoạt hàng ngày.
Phương pháp đàm thoại: Tiến hành đàm thoại với 5 cán bộ và 15 đối tượng tại Trung tâm Thông qua các cuộc trò chuyện để khai thác thêm thông tin, hỗ trợ các phương pháp khác trong việc xử lý phân tích và đưa ra kết luận khách quan Nội dung đàm thoại là những hoạt động CTXH đang triển khai trợ giúp cho đối tượng, đánh giá kết quả đạt được thông qua can thiệp CTXH với các nhóm đối tượng, nhu cầu về CTXH của trung tâm hiện nay, những khó khăn của trung tâm trong việc triển khai, tổ chức hoạt động công tác xã hội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Về mặt lý luận nghiên cứu về tổ chức và hoạt động về công tác xã hội
từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II thành phố Hà Nội có ý nghĩa khoa học quan trọng Các kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác tổ chức và hoạt động công tác xã hội tại các trung tâm bảo trợ xã hội Đồng thời chúng còn có ý nghĩa tham khảo cho những ai đang nghiên cứu, quan tâm đến lĩnh vực này
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài giúp chúng tôi có cái nhìn đúng đắn về tổ chức và hoạt động công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội hiện nay Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích tại các cơ sở đào tạo
Trang 19ngành, nghề CTXH Kết quả là cơ sở để lãnh đạo, cán bộ Trung tâm tham khảo trong việc thực hiện chính sách đối với các đối tượng bảo trợ xã hội tại Trung tâm
Qua quá trình nghiên cứu đề tài, bản thân tôi đã có những đánh giá khách quan về thực trạng tổ chức và hoạt động CTXH, hiểu được những khó khăn, nguyện vọng của đối tượng BTXH sống tại Trung tâm Từ đó giúp cho lãnh đạo Trung tâm có được cái nhìn đúng hơn để giúp cho việc tổ chức hoạt
động công tác xã hội tại Trung tâm được tốt hơn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên và sinh viên ngành CTXH
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương sau đây:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của tổ chức và hoạt động về công tác xã hội dưới hình thức trung tâm bảo trợ xã hội và trung tâm công tác xã hội
- Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động về công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động về công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VỀ CÔNG TÁC
XÃ HỘI DƯỚI HÌNH THỨC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI
1.1 Các khái niệm tổ chức và hoạt động về công tác xã hội
1.1.1 Khái niệm tổ chức và hoạt động
- Khái niệm tổ chức:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức, một định nghĩa có ý nghĩa triết học sâu sắc: Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật
Định nghĩa này bao quát cả phần tự nhiên và xã hội loài người Thái dương hệ là một tổ chức, tổ chức này liên kết mặt trời và các thiên thể có quan hệ với nó, trong đó có trái đất Bản thân trái đất cũng là một tổ chức, cơ cấu phù hợp với vị trí của nó trong thái dương hệ Giới sinh vật cũng có một
tổ chức chặt chẽ bảo đảm sự sinh tồn và thích nghi với môi trường để không ngừng phát triển Từ khi xuất hiện loài người, tổ chức xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện Tổ chức ấy không ngừng hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển của nhân loại Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó
- Khái niệm hoạt động
Theo tâm lý học: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới Hoạt động tạo nên mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới khách quan và với chính bản thân mình, qua đó tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới (khách thể), cả về phía con người (chủ thể)
1.1.2 Khái niệm tổ chức và hoạt động về công tác xã hội
- Khái niệm công tác xã hội:
Trang 21Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ, giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ
CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống
Còn theo thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004) định nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng, nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy
sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người,
sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của
họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ
Theo Đề án 32 của Chính phủ về phát triển nghề công tác xã hội, CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến
- Khái niệm tổ chức về công tác xã hội:
Cơ sở bảo trợ xã hội nói chung, trong đó có các cơ sở có sử dụng các phương pháp công tác xã hội nói riêng đều cần đến kiến thức, kỹ năng và phương pháp quản trị, đặc biệt là quản trị trong ngành công tác xã hội Cũng
Trang 22như các ngành khác, ngành công tác xã hội bao gồm các cơ sở, nơi có đội ngũ nhân viên xã hội chuyên nghiệp làm việc Vì vậy, nhà quản lý các cơ sở này phải sử dụng đến kiến thức quản trị để điều hành công việc có hiệu quả
Quản lý công tác xã hội là phương pháp quan trọng để tối đa hóa tính hiệu quả của các chương trình hoạt động công tác xã hội và cải thiện điều kiện xã hội tốt hơn
Quản lý công tác xã hội cung cấp nền tảng để thực hành công tác xã hội liên quan đến các chức năng của cơ sở xã hội Chất lượng thực hành công tác
xã hội phần lớn phụ thuộc vào cách quản lý công tác xã hội
- Khái niệm hoạt động về công tác xã hội:
Hoạt động công tác xã hội là việc triển khai các công việc để thực hiện chức năng quản lý công tác xã hội, liên quan đến việc cung ứng, phân phối các nguồn tài nguyên xã hội giúp con người đáp ứng nhu cầu của họ và phát huy tiềm năng bản thân
Các hoạt động về công tác xã hội: Hoạt động về công tác xã hội bao gồm các hoạt động:
- Khảo sát cộng đồng
- Xác định mục đích của cơ sở để chọn lựa
- Cung cấp các nguồn tài chính, lập ngân sách và kế toán
- Triển khai các chính sách của cơ sở, các chương trình và biện pháp thực hiện
- Làm việc với ban lãnh đạo cơ sở, nhân viên chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, ban điều hành, các ủy ban chuyên môn và những người tình nguyện
- Cung cấp bảo trì máy móc, thiết bị hàng hóa vật dụng
- Triển khai kế hoạch, thiết lập và duy trì các mối quan hệ hiệu quả với cộng đồng và các chương trình tăng cường sự hiểu biết với cộng đồng
Trang 23- Giữ gìn đầy đủ và chính xác các tư liệu hoạt động của cơ sở và lập báo cáo đều đặn
- Lượng giá liên tục chương trình hoạt động và nhân sự, kế hoạch và tổ chức nghiên cứu khảo sát
Ở Việt Nam hiện nay các cơ sở xã hội cơ cấu tổ chức thường được sắp xếp như sau: Nhà quản lý cấp cao (Giám đốc) có nhiệm vụ điều hành chung, được một số Phó Giám đốc giúp việc Các nhà quản lý trung gian (các trưởng phòng) có nhiệm vụ tham mưu cho Ban Giám đốc theo chức năng được phân công Các nhà quản lý cấp cơ sở (các trưởng ban, tổ trưởng, nhóm trưởng …) điều hành một số nhân viên thực hiện nhiệm vụ tác nghiệp Do bộ máy hành chính được thiết lập thống nhất theo mô hình quản lý nhà nước truyền thống nên nhân viên xã hội chuyên nghiệp (trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp) được tuyển dụng vào bố trí làm nhân viên tác nghiệp Phải làm việc lâu năm
và có thành tích mới có thể được giao trọng trách làm nhà quản lý Rất ít nhân viên xã hội được giao chức vụ quản lý các cấp, kể cả người có trình độ thạc sĩ CTXH
1.2 Mô hình trung tâm bảo trợ xã hội: Khái niệm, đặc điểm trung tâm bảo trợ xã hội chức năng và nhiệm vụ
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của trung tâm bảo trợ xã hội
Có thể thấy tính phổ quát của thuật ngữ “bảo trợ xã hội” (social protection) qua những tài liệu nghiên cứu và các thảo luận chính sách trong nhiều hội thảo quốc tế gần đây Tuy nhiên ở mức độ nào đó, khái niệm này còn chưa rõ ràng, chủ yếu là do có nhiều cách sử dụng khác nhau và cách đặt vấn đề khác nhau ở mỗi quốc gia Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội gần với khái niệm trợ giúp xã hội, là một trong ba trụ cột cơ bản của hệ thống an sinh Với mục đích khắc phục rủi ro, trợ giúp xã hội cùng với bảo hiểm xã hội có chức năng giảm thiểu rủi ro, và chính sách thị trường lao động chủ động nhằm
Trang 24phòng ngừa rủi ro cho người dân Trợ giúp xã hội còn được xem như “phao cứu sinh” nhằm hỗ trợ cho các thành viên trong xã hội không bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng hóa Như vậy ở Việt Nam bảo trợ xã hội có nội hàm hẹp hơn
so với an sinh xã hội và được triển khai dưới hình thức trợ cấp xã hội trên thực tế Từ điển thuật ngữ an sinh xã hội của Bộ Lao động-Thương binh và
Xã hội không có thuật ngữ “bảo trợ xã hội” mà chỉ có khái niệm “trợ giúp xã hội” là “sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà nước (lấy từ nguồn thuế, không phải đóng góp từ người dân) nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho đối tượng được nhận
Mặc dù các tổ chức phát triển quốc tế đều sử dụng định nghĩa riêng về bảo trợ xã hội song tất cả đều nhấn mạnh bản chất của bảo trợ xã hội thông qua các can thiệp chính sách cần thiết của nhà nước và các hoạt động tình nguyện ở cộng đồng Lấy ví dụ, Ngân hàng Thế giới (WB) nhấn mạnh vào việc kiềm chế nguy cơ gây tổn thương, làm mất nguồn sinh kế Trong khi
đó, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại hướng vào khả năng duy trì mức sống thông qua việc làm như một quyền của người lao động, đặc biệt trong khu vực phi chính thức Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) lại chú trọng đến tính dễ tổn thương của người dân khi gặp rủi ro nếu không có sự bảo trợ
xã hội Nhưng cho dù theo định nghĩa nào, các tổ chức quốc tế đều thống nhất trong cách tiếp cận coi bảo trợ xã hội như một biện pháp kiềm chế nguy
cơ bị tổn thương, duy trì được thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo Mục đích của bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo thu nhập và các điều kiện sống thiết yếu đối với các trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ sức lo liệu được cuộc sống
Đối với Việt Nam, bảo trợ xã hội như một lưới an toàn nhằm bảo đảm
sự an toàn về đời sống của người dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro và tự bản thân không khắc phục được Các hoạt động cứu trợ xã hội, giảm nghèo
Trang 25nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thương ở những đối tượng yếu thế, mất nguồn thu nhập và sinh kế, và không có điều kiện tiếp cận được các dịch vụ
xã hội cơ bản Quan điểm hiện đại về bảo trợ xã hội xem xét sự trợ giúp dưới
ba hình thức: hỗ trợ thu nhập, trợ cấp xã hội và dịch vụ xã hội
Bảo trợ xã hội là những giải pháp, sáng kiến nhằm đem lại thu nhập và dịch vụ cơ bản cho các cá nhân và nhóm yếu thế, bảo vệ họ khỏi các nguy cơ
đe dọa sinh kế, đói nghèo, giảm nhẹ tính dễ bị tổn thương, thúc đẩy công bằng
Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế thông qua tháng 7/2000 tại Montresal, Canada (IFSW) cho rằng: Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề công tác xã hội
Từ định nghĩa trên đây có thể hiểu rằng CTXH như một ngành khoa học, một nghề nghiệp phi lợi nhuận Sự giúp đỡ không mang ý nghĩa ban ơn, trả ơn hoặc bất kỳ một sự báo đáp nào Đối tượng phục vụ của ngành nghề này chủ yếu nhằm vào những cá nhân, nhóm hay cộng đồng yếu thế để duy trì
và ổn định cuộc sống của họ Mục tiêu cơ bản của CTXH không chỉ nhằm vào
Trang 26việc cứu giúp những người cần được giúp đỡ mà là vì lợi ích, vì sự ổn định và tiến bộ của toàn xã hội
Phương pháp trong CTXH bao gồm:
- Phương pháp CTXH với cá nhân
- Phương pháp CTXH với nhóm
- Phương pháp phát triển cộng đồng
1.2.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của trung tâm bảo trợ xã hội
Công tác tổ chức là một trong những chức năng của nhà quản trị liên quan đến các hoạt động thành lập nên các bộ phận trong tổ chức, bao gồm các khâu các bộ phận chức năng và các cấp, tức là quan hệ hàng dọc để đảm nhận những hoạt động cần thiết, xác lập các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm giữa các bộ phận đó
Mục tiêu của công việc tổ chức là tạo nên một môi trường nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức
Ở Việt Nam các cơ sở bảo trợ xã hội gồm các loại hình như sau:
- Trung tâm bảo trợ xã hội
- Trung tâm Giáo dục lao động xã hội
- Trung tâm giáo dục dạy nghề cho thiếu niên
- Trung tâm bảo trợ trẻ em
- Làng thiếu niên
- Viện/trung tâm dưỡng lão
- Trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật, trẻ mồ côi, trẻ nhiễm HIV/AIDS …
1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của của trung tâm bảo trợ xã hội
Vị trí, chức năng:
Trung tâm Bảo trợ xã hội là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Trung tâm có chức năng thực hiện chính sách Bảo trợ
Trang 27xã hội cho đối tượng xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn không tự lo được cuộc sống; cung cấp dịch vụ về công tác xã hội; trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí theo quy định của pháp luật
Trung tâm chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Giám đốc
Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Trung tâm có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng để giao dịch
Nhiệm vụ của Trung tâm bảo trợ xã hội:
* Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội, theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn bao gồm:
- "Đối tượng quy định tại Khoản 1 và khoản 3 Điều 5 thuộc Nghị định
số 136/2013/NĐ-CP thuộc diện khó khăn không tự lo được cuộc sống và không có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng:
+ Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng
+ Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào
cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng
- Người cao tuổi thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người cao tuổi
- Trẻ em khuyết tật, người khuyết tật thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người khuyết tật
Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp bao gồm:
- Nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị xâm hại tình dục, nạn nhân bị buôn bán, nạn nhân bị cưỡng bức lao động
Trang 28- Trẻ em, người lang thang xin ăn trong thời gian chờ đưa về nơi cư trú
- Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp khác theo Quyết định của Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Đối tượng tự nguyện sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội bao gồm:
- Người cao tuổi thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc
- Người không thuộc diện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP không có điều kiện sống tại gia đình, có nhu cầu vào sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội" [7]
* Tổ chức các hoạt động phục hồi chức năng (đối với cơ sở bảo trợ xã hội công lập có nhiệm vụ phục hồi chức năng) phải có cán bộ y tế, trang thiết
bị dụng cụ y tế, thuốc điều trị và phục hồi chức năng phù hợp
* Tổ chức học văn hóa, học nghề
Cơ sở bảo trợ xã hội đảm bảo cho trẻ em đang nuôi dưỡng được học văn hóa trong các trường phổ thông công lập, dân lập hoặc các trung tâm giáo dục thường xuyên hoặc tại cơ sở bảo trợ xã hội
* Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí
Cơ sở trang bị tủ sách, phòng đọc, cung cấp sách, báo, tạp chí, đài, ti
vi để đáp ứng nhu cầu về giải trí và thông tin cho các đối tượng, hàng tuần tổ chức hoạt động dạy hát, dạy nhạc hoặc sinh hoạt văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí phù hợp với sức khỏe cho từng đối tượng
* Nuôi dưỡng:
Cơ sở bảo trợ xã hội đảm bảo chất lượng các bữa ăn hàng ngày cho đối tượng nuôi dưỡng Ngoài chế độ trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng theo quy định
cơ sở bảo trợ xã hội huy động sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng
và tổ chức lao động tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống cho đối tượng
* Cung cấp dịch vụ về công tác xã hội: Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Nghị định số 68/2008/NĐ-CP bao gồm các hoạt động:
Trang 29"Tư vấn, tham vấn để giải quyết sự căng thẳng về quan hệ, tình cảm
và trợ giúp tiếp cận các dịch vụ xã hội, tổ chức các cuộc tiếp xúc, trao đổi tìm
ra khó khăn và cách thức giải quyết khó khăn, trợ giúp về thức ăn, chỗ ở tạm thời, hỗ trợ khám, chữa bệnh và học tập, trợ giúp học nghề, tìm việc làm, nâng cao thu nhập và vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa tinh thần
Nâng cao năng lực cho cán bộ liên quan ở cộng đồng, thành viên các gia đình để họ tự giải quyết các vấn đề phát sinh, vượt qua hoàn cảnh khó khăn
Tổ chức các hoạt động trợ giúp cộng đồng, nâng cao năng lực phát hiện vấn đề, xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực thông qua các chương trình dự án, tổ chức thực hiện kế hoạch có sự tham gia của người dân, người cao tuổi, người khuyết tật và trẻ em, thúc đẩy cộng đồng phát triển" [4]
* Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ công tác của các tổ chức chuyên môn, nghiệp vụ thuộc cơ sở bảo trợ xã hội, quản lý biên chế, thực hiện chế độ tiền lương và bảo hiểm xã hội, chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, nhân viên thuộc thẩm quyền quản lý của cơ sở bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp
* Thực hiện chế độ tự chủ về biên chế cán bộ, nhân viên và kinh phí hoạt động theo quy định của nhà nước
1.3 Các yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động về công tác xã hội
Hệ thống chính sách an sinh xã hội của mỗi nước có mối liên quan chặt chẽ với bối cảnh kinh tế xã hội của mỗi nước Vì thế trong xây dựng, triển khai, ban hành chính sách xã hội cần xuất phát từ đặc điểm kinh tế - xã hội Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hội nhập với các nền kinh tế trên thế giới Theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề công bằng xã hội là vấn đề cốt lõi Bản thân nền kinh tế thị trường tạo ra động lực cho sự phát triển, tăng
Trang 30trưởng kinh tế, song cũng gây ra các vấn đề xã hội bức xúc, trong đó có một
bộ phận dân cư, người lao động rơi vào tình trạng khó khăn trong cuộc sống, dẫn đến bất công xã hội và đe dọa sự bình đẳng xã hội Giữa phát triển kinh tế thị trường và công bằng, bình đẳng xã hội có sự tương tác chặt chẽ Có phát triển mới có cơ sở vật chất đảm bảo sự công bằng, bình đẳng, đồng thời có đảm bảo sự công bằng, bình đẳng mới có sự ổn định để phát triển Vì thế trong quá trình phát triển chúng ta phải chú ý vừa đảm bảo tăng trưởng, vừa đảm bảo sự công bằng xã hội
Chính sách pháp luật về an sinh xã hội có cùng mục tiêu ổn định xã hội, ổn định chính trị, an toàn xã hội Tuy chúng không tạo ra nguồn thu nhập trực tiếp cho ngân sách nhà nước như các hoạt động kinh tế khác, nhưng hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội là tạo ra sự ổn định, phát triển bền vững của
xã hội Chính sự ổn định chính trị, ổn định xã hội sẽ tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước Xét cho cùng, giá trị của hệ thống
an sinh xã hội chính là nền tảng đảm bảo cho kinh tế xã hội phát triển bền vững, khẳng định giá trị nhân văn, giá trị định hướng phát triển kinh tế xã hội bền vững, xây dựng một xã hội "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh"
Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý nền kinh tế và hội nhập với các nền kinh tế trên thế giới Chính những chuyển biến này ảnh hưởng lớn tới việc xây dựng
và hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội mà chúng ta phải tính đến
Do xóa bỏ cơ chế bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường với quy luật cung cầu khắc nghiệt làm cho chi phí sinh hoạt của các đối tượng bảo trợ và gia đình của họ gặp nhiều khó khăn Đời sống và dịch vụ xã hội cơ bản tăng nhanh so với thu nhập của họ, nhất là về chi phí y tế, giáo dục, học nghề Vì vậy cuộc sống của các đối tượng bảo trợ xã hội vốn đã khó khăn lại càng khó
Trang 31khăn hơn Sự xóa bỏ bao cấp và giảm dần sự bao cấp của nhà nước về dịch vụ
xã hội cơ bản trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã làm cho đối tượng được bảo trợ xã hội thiệt thòi hơn Thực tiễn những năm qua cho thấy, hậu quả của khủng hoảng kinh tế, biến động bất lợi của kinh tế thị trường, thiên tai, lũ lụt, hạn hán mất mùa thì người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội là người phải gánh chịu trước hết, còn những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tăng trưởng kinh tế thì người nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội lại là người được hưởng thụ sau
Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhưng mới chỉ ở mức tiền kinh tế thị trường, chưa hoàn chỉnh Nhiều thị trường phát triển còn sơ khai và ở trình độ thấp như thị trường vốn, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ … Điều này dẫn đến sự mất cân bằng giữa cung và cầu, thị trường bất động sản thì ảo lớn hơn cầu thật làm cho giá cả không phản ánh đúng giá trị thật của bất động sản Chỉ số lạm phát hàng năm có năm đã tới hai con số Tất cả những điều đó đều gây ra sự bất lợi cho người nghèo, đối tượng bảo trợ
xã hội, trong việc tìm kiếm việc làm, nhà ở, tìm nguồn vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dẫn đến chi tiêu lớn hơn thu nhập của họ
Hiện nay thị trường lao động phát triển chưa đồng đều và còn ở trình
độ thấp Lao động làm công ăn lương, có quan hệ lao động chiếm tỷ trọng thấp so với các nước trong khu vực, khoảng 25,6%, chính sách tiền lương chưa bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp, giữa khu vực doanh nghiệp
và khu vực hành chính, sự nghiệp, tiền lương của một bộ phận lao động thấp không đủ sức tái tạo sức lao động Vì vậy, số người tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội chính thức của nhà nước cũng rất thấp và khả năng tích lũy cho tuổi già cũng rất nhỏ
Sự biến động của nền kinh tế thị trường hiện nay gây ra những cú sốc
về kinh tế cho những nhóm dân cư vùng dân tộc thiểu số rất khó có thể thích
Trang 32nghi ngay với nền kinh tế thị trường hoặc những người nông dân có đất bị thu hồi trong quá trình đô thị hóa đất nước
Tình trạng di cư cũng làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội nơi mà người dân chuyển đến Lao động di trú từ nông thôn vào đô thị cũng làm cho việc thực hiện chính sách xã hội xét từ góc độ bình đẳng và công bằng khó thực hiện
Hậu quả của chiến tranh: Cuộc chiến tranh vĩ đại bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta kéo dài suốt 30 năm (1945-1975) và đã đi đến thắng lợi vẻ vang, nước nhà hoàn toàn độc lập, thống nhất, nhân dân được sống trong hòa bình, độc lập và tự do Mặc dù chiến tranh đã qua đi một phần ba thế kỷ, hậu quả về kinh tế có thể đã khắc phục được nhưng hậu quả về mặt xã hội còn rất nặng
nề, chưa thể giải quyết dứt điểm Cuộc chiến tranh đã lấy đi sinh mạng của hàng triệu con người, để lại hàng triệu người tàn tật, hàng triệu người nhiễm chất độc hóa học điôxin trong những năm 1964-1975 Do bị thương tật, bệnh tật trong chiến tranh lúc còn trẻ tuổi, nay về già họ cần có chính sách ưu đãi đặc biệt của nhà nước Bộ phận bị nhiễm chất độc hóa học, điôxin nay lại phát bệnh, hoặc sinh con bị dị tật, dị dạng, cuộc sống của họ gặp rất nhiều khó khăn Hiện nay có hàng trăm nghìn hộ gia đình có người tham gia chiến tranh sinh con bị dị dạng, dị tật, không có khả năng lao động, không có khả năng tự phục vụ, trong đó có hàng chục nghìn gia đình có từ 2 con trở lên Các đối tượng cần sự giúp đỡ của nhà nước và cộng đồng để ổn định cuộc sống và tham gia các hoạt động xã hội Một bộ phận nhân dân sống ở vùng chiến tranh cũng bị hậu quả nặng nề của bom mìn, chất độc hóa học không chỉ trong thời gian chiến tranh mà ngay cả trong cả khi hòa bình, nước nhà độc lập, thống nhất hàng chục năm Bị tàn tật do bom mìn còn sót lại, họ bị giảm sút khả năng lao động hoặc không còn khả năng lao động, không tự đảm bảo được cuộc sống Họ cần có sự giúp đỡ của gia đình, cộng đồng và nhà nước
Trang 33Việt Nam là nước phát triển ở trình độ thấp, dân số phần đông là nông dân, mặc dù kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ cao trong thời kỳ đổi mới, đời sống của đại bộ phận dân cư được cải thiện đáng kể, bộ mặt các xã nghèo
đã thay đổi nhưng Việt Nam vẫn là nước có trình độ phát triển thấp
Việt Nam đã có những thành tựu về giảm nghèo nhưng sự giảm nghèo chưa bền vững, có tình trạng tái nghèo
Một đặc điểm quan trọng khác là nước ta đang còn là một nước nông nghiệp, dân số nông nghiệp và nông thôn chiếm tỷ trọng lớn Một đất nước có dân số nông thôn lớn, nhất là ở phương Đông như nước ta thường gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai các chương trình an sinh xã hội Một mặt về tâm lý xã hội, tư tưởng "trẻ cậy cha, già cậy con" tồn tại lâu dài, những hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật về bảo hiểm xã hội thường chưa được hình thành Mặt khác, dân số nông thôn, hoạt động nông nghiệp thường có thu nhập thấp, do đó khả năng kinh tế tham gia an sinh xã hội thường gặp khó khăn Điều này đòi hỏi việc nâng cao nhận thức và xây dựng các mô hình an sinh xã hội phù hợp là vấn đề có ý nghĩa quyết định cho sự thành công của các chương trình an sinh xã hội ở nước ta
Việt Nam thường xuyên phải chịu hậu quả của thiên tai, bão lụt hạn hán với tần suất xuất hiện trong một năm ngày càng lớn và diễn biến phức tạp, khó lường do ảnh hưởng của ô nhiễm và sự tàn phá môi trường, biến đổi khí hậu Hàng năm có khoảng 700 người chết vì bão lũ và sạt lở đất do mưa lớn, trung bình mỗi năm thiệt hại 3-4 nghìn tỷ đồng, có năm lên tới 7-8 nghìn
tỷ đồng và làm cho trên một triệu lượt người rơi vào cảnh nghèo đói, năm cao nhất lên tới 1,45 triệu lượt người
Các gia đình sống ở các vùng dễ bị thiên tai như ven biển, miền núi … rất tích cực đa dạng hóa các nguồn thu nhập của mình để giảm thiểu rủi ro Tuy nhiên họ không thể tự bảo hiểm cho mình bằng cách tích trữ vật nuôi, cây
Trang 34trồng hay tài sản Đồng thời họ thường có ít lựa chọn đa dạng hóa hoạt động hơn vì không được tiếp cận nhiều với đất đai hay tín dụng Song nếu không làm tốt thì bảo hiểm có thể làm giảm tính tích cực của người lao động và cộng đồng trong phòng chống rủi ro thiên tai Điều này đặt ra yêu cầu phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách của nhà nước với sự phát triển của thị trường bảo hiểm
Già hóa dân số và xu hướng di dân diễn ra mạnh mẽ Kết quả của hơn
20 năm đổi mới đã mang lại cho Việt Nam những biến đổi sâu sắc về kinh tế,
xã hội Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến
bộ, thu nhập bình quân đầu người có sự cải tiến rõ rệt Qúa trình đó dân số Việt Nam đang có xu hướng biến đổi rất mạnh mẽ về số lượng, chất lượng Dân số - kế hoạch hóa gia đình được coi là một bộ phận quan trọng trong những vấn đề xã hội hàng đầu, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng con người, từng gia đình và toàn xã hội Do mức sinh giảm đáng kể trong khi đó tuổi thọ trung bình ngày càng tăng đã làm cho dân số nước ta có xu hướng già hóa với tỷ trọng dân số trẻ giảm và tỷ trọng người già ngày càng tăng Xã hội già hóa sẽ là thách thức đối với hệ thống bảo hiểm
xã hội
Theo tính toán tại thời điểm hiện nay tỷ lệ người ngoài độ tuổi lao động ở Việt Nam là 9,38% và có xu hướng tăng lên hơn 9,5% vào năm 2017, trong khi đó tỷ lệ người trong độ tuổi lao động giảm từ 63% xuống còn 60% Như vậy số người đóng phí BHXH để được hưởng lương hưu sẽ giảm trong khi những người hưởng hưu trí tăng lên
Vấn đề biến đổi cơ cấu dân số cũng làm tăng gánh nặng phúc lợi xã hội cho ngân sách nhà nước Ngày càng có nhiều người già thì khả năng ngân sách nhà nước phải chi cho cứu trợ xã hội cũng phải tăng lên, không chỉ đối với người cao tuổi cô đơn mà còn đối với những người sống trên 85 tuổi
Trang 351.4 Thể chế tổ chức và hoạt động về công tác xã hội
1.4.1 Quan điểm, chính sách của Đảng
Do hậu quả của chiến tranh, tác động của già hóa dân số và đô thị hóa nên số đối tượng có nhu cầu trợ giúp xã hội ở nước ta lớn, ước tính khoảng 20% dân số, gồm 9,4 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, hàng triệu người hưởng trợ cấp người có công với cách mạng, gần 12% hộ nghèo và 6% hộ cận nghèo (theo chuẩn đa chiều), trên 2,6 triệu đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, trên 1,8 triệu hộ gia đình cần được trợ giúp đột xuất hàng năm, khoảng 234 nghìn người nhiễm HIV được phát hiện, 204 nghìn người nghiện ma túy, hơn 48 nghìn người bán dâm, khoảng 30.000 nạn nhân bị bạo lực, bạo hành trong gia đình, ngoài ra còn nhiều phụ nữ, trẻ em bị ngược đãi, bị buôn bán, bị xâm hại hoặc lang thang kiếm sống trên đường phố Đồng thời hàng năm thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa dẫn đến khoảng 1,8 lượt triệu hộ thiếu đói
Đất nước vẫn tiếp tục còn nhiều khó khăn song Đảng và Nhà nước và
Bộ Lao động TBXH tập trung nguồn lực cho bảo đảm an sinh xã hội Ngay từ đầu năm 2015 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số: 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 trong đó chỉ đạo các Bộ ngành, địa phương thực hiện tốt các chính sách trợ giúp xã hội cho dân, phát triển các mô hình chăm sóc đối tượng dựa vào cộng đồng, nghiên cứu đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động công tác trợ giúp xã hội, phát triển nghề công tác xã hội, phát triển mạng lưới các
cơ sở trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người tâm thần, chăm lo các đối tượng chính sách, theo dõi sát tình hình thiếu đói giáp hạt, thiệt hại do thiên tai để kịp thời đề xuất các giải pháp khắc phục hậu quả, hướng dẫn các địa phương chủ động phòng, chống, khắc phục hậu quả do thiên tai
Trang 361.4.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước
Đến nay nước ta đã có trên 10 bộ luật, luật, 7 pháp lệnh, hơn 30 nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hơn 40 thông tư, thông tư liên tịch và nhiều văn bản chỉ đạo khác trực tiếp hoặc có nội dung quy định khung pháp lý, chính sách là cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội
Năm 2015 thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015; Chương trình công tác lĩnh vực lao động, người có công và xã hội năm 2015
Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ 3 quyết định, ban hành theo thẩm quyền 01 Quyết định, 02 Thông tư liên tịch và 03 Thông tư hướng dẫn Hiện nay Bộ Lao động TBXH đang tiếp tục nghiên cứu xây dựng 02 Nghị định, 03 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 01 Thông tư liên tịch
Đồng thời Bộ Lao động TBXH đã chủ động ban hành hàng trăm văn bản hướng dẫn, đôn đốc các địa phương thực hiện trợ cấp xã hội, Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020, Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020, Đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020, Đề án củng cố phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020 Hướng dẫn các địa phương báo cáo đánh giá 5 năm thực hiện Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi và Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi
Nhìn chung, công tác xây dựng, ban hành văn bản trong lĩnh vực bảo trợ xã hội đáp ứng yêu cầu chỉ đạo phù hợp với tình hình mới Quy trình xây dựng văn bản thực hiện theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tác động tích cực đến tình hình kinh tế, xã hội và công tác quản lý nhà nước
Trang 37Kết luận chương 1
Đảm bảo an sinh xã hội là một nhiệm vụ luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm chỉ đạo, thực hiện tốt, coi đó là một tiêu chí và là một đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội Đây là một mục tiêu chiến lược không chỉ để thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người mà còn hướng tới thực hiện “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” Điều này đòi hỏi cần có một đội ngũ được đào tạo chuyên nghiệp có kiến thức, kỹ năng làm việc với
sứ mệnh nghề nghiệp là chung tay với các ngành, các cấp tổ chức và hoạt động về công tác xã hội đạt hiệu quả cao nhất
Dựa trên các cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động công tác xã hội, tổng hợp lại những quan điểm mà nhiều tác giả đã đưa ra, có thể nhận định về
NVXH như sau: NVXH là những người được đào tạo hoặc tập huấn về
CTXH làm việc trực tiếp với đối tượng tại cộng đồng nhằm giúp cho đối tượng nâng cao năng lực và hòa nhập cộng đồng Các hoạt động công tác xã hội rất đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức đều hướng tới mục tiêu giúp con người đáp ứng nhu cầu của họ và phát huy tiềm năng bản thân Điều đó đòi hỏi các nhà quản lý cần nắm bắt thực tế, bám sát vào cơ sở lý luận, có kiến thức quản trị để xây dựng các hoạt động công tác xã hội phù hợp, có hiệu quả
Về nguyên tắc tổ chức của trung tâm bảo trợ xã hội được xác lập bởi các mối quan hệ hàng dọc nhằm hướng tới mục tiêu tạo nên một môi trường thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức Mỗi trung tâm bảo trợ xã hội có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định rõ tại các điều, khoản, nghị định của Chính phủ Vì vậy phải bám sát các quy định này để đảm bảo tính khách quan, công bằng, đúng pháp luật khi thực hiện các hoạt động công tác xã hội
Trang 38Có rất nhiều yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động công tác xã hội như: kinh tế thị trường, lao động thị trường, tình trạng di dân, hậu quả của chiến tranh, trình độ dân trí, hậu quả của thiên tai…Việt Nam đã có nhiều chính sách phúc lợi, bảo hiểm, các mô hình an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa…để đạt được mục tiêu công tác xã hội Đất nước vẫn tiếp tục còn nhiều khó khăn song Đảng, Nhà nước và Bộ Lao động TBXH tập trung nguồn lực cho bảo đảm an sinh xã hội Xuất phát từ thực tế,
từ đặc điểm kinh tế xã hội cụ thể của đất nước, Đảng, Nhà nước và Bộ Lao động TBXH đã ban hành các văn bản trong lĩnh vực bảo trợ xã hội phù hợp với tình hình mới Trang bị hành lang pháp lý cho các nhà quản lý và NVXH thực hiện nhiệm vụ
CTXH là một nghề chuyên nghiệp, một khoa học ứng dụng, các hoạt động CTXH của NVXH dựa trên nền tảng kiến thức chuyên môn và phương pháp CTXH đặc thù Các tri thức lý luận có liên quan đến CTXH, NVXH, những yêu cầu, hoạt động và yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH của
NVXH sẽ là định hướng quan trọng cho quá trình nghiên cứu đề tài "Tổ chức
và hoạt động về công tác xã hội từ thực tiễn trung tâm Bảo trợ xã hội II, thành phố Hà Nội"