Các hoạt động tại các trung tâm chủ yếu là chăm sóc nuôi dưỡng, chưa chú trọng các hoạt động của Công tác xã hội; Đội ngũ nhân viên Công tác xã hội được đào tạo chính qui về nghề Công tá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN ĐỊNH
QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BÙI THỊ MAI ĐÔNG
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN VĂN ĐỊNH
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM 8
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN VÀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 8
1.1 Tổng quan về trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn(CHCĐBKK) 8
1.2 Những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 20
1.3 Một số lý thuyết áp dụng trong QLTH trẻ em CHCĐBKK 37
1.4 Luật pháp, chính sách về trẻ em và các mô hình hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 43
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Quản lý trường hợp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 45
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN CỦA TRUNG TÂM BẢO TRỢ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH NINH BÌNH 48
2.1 Khái quát về Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội Ninh Bình, tình hình trẻ em CHCĐBKK tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình 48
2.2 Quản lý trường hợp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình 52
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH NINH BÌNH 62
3.1 Yêu cầu của quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình 62
3.2 Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình 63
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 73
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là hạnh phúc của mỗi gia đình, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Cùng với sự phát triển của đất nước, trẻ em ngày càng được Đảng, Nhà nước, xã hội và gia đình quan tâm, chăm sóc tốt hơn, được tạo mọi điều kiện để phát triển và phát huy vai trò chủ nhân của mình trong tương lai
Cùng với những thành tựu về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, các chính sách và chương trình liên quan đến bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em bước đầu
đã mang lại kết quả đáng khích lệ; các chỉ tiêu liên quan đến dinh dưỡng, sức khỏe trẻ em; giáo dục trẻ em; bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; vui chơi giải trí của trẻ em; nước sạch vệ sinh môi trường đã được cải thiện đáng kể sau hơn 20 năm đổi mới
Tuy nhiên, từ thực trạng kinh tế - xã hội của một nước nghèo, chậm phát triển, phải gánh chịu những hậu quả nặng nề sau chiến tranh, dưới tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường và tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế; sự chuyển dịch, biến đổi về văn hoá, xã hội từ cái cũ sang cái mới Các hiện tượng xã hội như nghèo đói, phân hoá giàu nghèo với khoảng cách,
sự chênh lệch ngày càng lớn về mức sống, thu nhập giữa những bộ phận dân cư trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội đối với trẻ em, khiến trẻ em trở thành đối tượng dễ bị tổn thương Bên cạnh đó, các trào lưu xã hội như di cư, sự băng hoại các giá trị đạo đức, sự thay đổi thang giá trị xã hội, tình trạng ly hôn ngày càng cao, nạn bạo hành và phân biệt đối xử về giới, tình trạng bất cập, thiếu hụt hoặc lệch lạc trong giáo dục gia đình đã làm xuất hiện trong xã hội nhiều nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đó là những trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em lang thang đường phố, trẻ em bị bạo hành, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em vi phạm pháp luật
Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội và UNICEF, ước tính trong năm 2014 cả nước có hơn 26 triệu trẻ em dưới 16 tuổi (chiếm 28,7% dân số), trong đó có gần 1.468.000 em có “hoàn cảnh đặc biệt,” Con số này bao gồm:
Trang 52
170.187 em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; 1.223.156 em khuyết tật; 18.349 em là nạn nhân chất độc hoá học; 5.301 em nhiễm HIV/AIDS; 1.081 em lao động trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm; 7.308 trẻ em lang thang; 1.544 em bị xâm hại tình dục; 1.105 em nghiện ma tuý; 6.464 em vi phạm pháp luật; 13.341 em làm việc xa gia đình và trên 2.175.000 em thuộc các nhóm khác như trẻ em bị mua bán, bắt cóc; trẻ em bị ngược đãi, bạo lực; trẻ em trong các gia đình nghèo; trẻ em
bị tai nạn thương tích (nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
Trong những năm qua, kể từ khi Đề án Số: 32/2010/QĐ-TTg về phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 được triển khai thực hiện, Công tác xã hội nói chung, công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng, đã có những khởi sắc mới, càng ngày càng được nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động Tuy nhiên, công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng cũng như trong các cơ sở bảo trợ xã hội, các trung tâm cung cấp dịch vụ xã hội còn hạn chế bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong
đó có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan: Công tác xã hội là một nghề còn non trẻ ở Việt Nam; Khung pháp lý cho nghề Công tác xã hội nói chung, cho Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng, còn thiếu
và chưa đồng bộ; Các hoạt động tại các trung tâm chủ yếu là chăm sóc nuôi dưỡng, chưa chú trọng các hoạt động của Công tác xã hội; Đội ngũ nhân viên Công tác xã hội được đào tạo chính qui về nghề Công tác xã hội trong các cơ sở bảo trợ xã hội còn ít nên tính chuyên nghiệp trong các họat động chưa cao; Việc quản lý đối tượng, trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn còn lúng túng, chưa có sự thống nhất chung, vai trò của nhân viên Công tác xã hội còn mờ nhạt vì vậy, mặc
dù trẻ em được chăm sóc đầy đủ về thể chất nhưng đời sống tinh thần ít được cải thiện
Xuất phát từ những lý do trên, em nhận thấy việc thực hiện nghiên cứu:
“Quản lý trường hợp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Trang 63
2 Tình hình nghiên cứu về đề tài
Bác sĩ Nguyễn Trọng An (chủ biên) trong tập bài cuốn: “Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong thời kỳ mới”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2012 đã
khái quát Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em trong thời kỳ mới; tình hình thực hiện Công ước quốc tế về Quyền trẻ em ở Việt Nam; thực trạng các vấn đề: Bao lực và lạm dụng trẻ em; tai nạn thương tích trẻ em; suy dinh dưỡng ở trẻ em; trẻ em bị nhiễm HIV; trẻ em bị rối nhiễu tâm trí…và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn,
xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; can thiệp, hỗ trợ trẻ em bị rỗi nhiễu tâm trí, trẻ em
tự kỷ, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS
Th.s Nguyễn Thị Hằng Phương “Thực trạng các vấn đề khó khăn và nhu cầu
hỗ trợ tâm lý của trẻ em tại các trung tâm bảo trợ xã hội” Tác giả đưa ra khó khăn
vật chất học tập, tinh thần của trẻ em trong các trung tâm bảo trợ xã hội Đề tài đã chỉ ra khó khăn của trẻ em trong trung tâm bảo trợ và cần sự hỗ trợ các nguồn lực bên ngoài Bên cạnh đó đề tài cho thấy nhu cầu tâm lý từng đối tượng trong trung tâm
Trong “Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” năm 2010, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội
đã tập trung đánh giá khung luật pháp, chính sách về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt,
so sánh với các chuẩn mực quốc tế, tìm ra thiếu hụt và hạn chế pháp luật Việt Nam đảm bảo từng bước hài hòa với pháp luật và chuẩn mực quốc tế Đánh giá cũng chỉ
ra những vấn đề cần khắc phục, xây dựng khung pháp lý về công tác đánh giá một cách có hệ thống và chuyên nghiệp đối với trẻ mồ côi Quyết định mô hình nào là chăm sóc phù hợp với lợi ích tốt nhất cho các em, đảm bảo các em được nhận nuôi trong một gia đình thay thế phù hợp nhất lợi ích của các em
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng thời tiến hành khảo sát thực trạng các hoạt động Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình; đề tài
Trang 74
phân tích, đánh giá những kết quả đạt được và làm rõ nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn , từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả Quản lý trường hợp trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình nói riêng, nâng cao hiệu quả công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích, làm
rõ cơ sở lý luận của Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình
- Tìm hiểu, đánh giá những kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân những hạn chế của hoạt động Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nâng cao tính chuyên nghiệp của công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý trường hợp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội Ninh Bình
Trang 85
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Các số liệu, dữ liệu khảo sát được sử dụng trong luận văn
là những dữ liệu, số liệu từ năm 2010 đến nay
- Phạm vi không gian: Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các hoạt động Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Qui trình Quản lý trường hợp và các hoạt động trong qui trình; Việc Lập hồ sơ lưu trữ; Việc điều phối các dịch vụ công tác xã hội ; Vai trò và các kỹ năng của cán bộ Quản lý trường hợp và nhân viên công tác xã hội của Trung tâm
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu 40 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội Ninh Bình (Không nghiên cứu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang được chăm sóc tại cộng đồng)
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Phương pháp luận:
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng về trẻ em, khó khăn và nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên cơ cở thực tiễn để đúc kết rút thành lý luận và những đề xuất thực tiễn, chính sách pháp luật
Nghiên cứu vấn đề trong hệ thống: hệ thống những lý thuyết có liên quan, hệ thống các yếu tố có liên quan, dịch vụ trợ giúp, hệ thống chính sách
5.2 Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thu thập thông tin từ các nguồn như các văn bản, báo cáo, các tạp chí, sách tham khảo, các văn bản pháp luật để tìm hiểu các số liệu liên quan đến quy mô, cơ cấu, các hoạt động cung cấp dịch vụ, thực trạng công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Trang 96
+ Phỏng vấn sâu cán bộ của trung tâm: Nhằm làm rõ vai trò, công việc của cán bộ tại Trung tâm Tìm hiểu thuận lợi và khó khăn trong Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm
+ Phỏng vấn sâu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Tìm hiểu những khó khăn và nguyện vọng của các em
+ Phỏng vấn sâu các thành viên trong gia đình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhằm xác định vai trò của gia đình, mối liên hệ giữa gia đình trẻ em và trung tâm trong Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
- Phương pháp quan sát:
+ Quan sát điều kiện sinh hoạt của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm
+ Quan sát các hoạt động của nhân viên trong các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, trị liệu….trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
+ Quan sát hoạt động hằng ngày của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để tìm hiểu thái độ của các em đối với người chăm sóc, nuôi dưỡng, nhân viên công tác xã hội
- Phương pháp xử lý số liệu:
Thống kê, khai thác có hiệu quả những số liệu, rút ra những nhận xét kết luận khoa học khách quan đối với vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình vừa có ý nghĩa về mặt lý
luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Những kết quả nghiên cứu lý luận góp phần làm sáng tỏ và phong phú hơn các
lý thuyết về Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; tính hợp lý của các lý thuyết công tác xã hội được sử dụng trong quá trình Quản lý trường hợp
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
Trang 107
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ, đúng đắn hơn về Quản lý trường hợp
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và công tác
xã hội Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích tại các cơ sở đào tạo ngành, nghề công tác xã hội nói chung và công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng; kết quả nghiên cứu thực tiễn là cơ sở để lãnh đạo, cán bộ trung tâm tham khảo trong việc thực hiện chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Các giải pháp và khuyến nghị mà đề tài đưa ra góp phần phát triển dịch vụ
công tác xã hội tại tỉnh Ninh Bình Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên và sinh viên ngành công tác xã hội
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Chương 2: Thực trạng Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình
Chương 3: Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả Quản lý trường hợp trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình
Trang 118
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN VÀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
1.1 Tổng quan về trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
1.1.1 Khái niệm trẻ em và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
- Trẻ em:
Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em quy định: "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn" (Điều 1)
Pháp luật liên bang của Hoa kỳ qui định: “Trẻ em là người dưới 18 tuổi” Quy định về độ tuổi trẻ em của các quốc gia hiện nay chưa thống nhất, đa số các quốc gia quy định dưới 18 tuổi, một số quốc gia quy định dưới 16 tuổi, dưới 17 tuổi, có quốc gia quy định dưới 21 tuổi, phụ thuộc vào sự phát triển thể chất, tâm sinh
lý của trẻ em và sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó Tuy độ tuổi được coi
là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng khái niệm trẻ em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm: Thể chất và trí tuệ chưa phát triển hoàn thiện, cần có sự bảo
vệ, chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội
Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định: “Trẻ
em qui định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” (Điều 1)
- Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
Khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định:
“Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng.” Điều 40 của Luật qui định 10 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cụ thể bao gồm: “trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại;
Trang 129
trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ
em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật.”
Cụ thể như sau:
- Trẻ mồ côi, không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi: Là trẻ em dưới 16 tuổi
mà cha mẹ đã qua đời hoặc bị cha mẹ bỏ rơi và không có họ hàng hay người nào có thể nuôi dưỡng hoặc cha mẹ đã bị mất tích hay không có khả năng nuôi dưỡng
- Trẻ em khuyết tật: Là những trẻ em bị khiếm khuyết một hoặc một số bộ
phận trên cơ thể hoặc bị suy yếu hoặc mất đi một số chức năng của cơ thể
- Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học: Là những trẻ em là con, cháu
của các gia đình có người bị nhiễm chất độc hóa học trong chiến tranh, gây ra
những tổn hại nặng nề về sức khỏe và tinh thần
- Trẻ em nhiễm HIV/AIDS: Là trẻ có HIV/AIDS trong cơ thể, được xét nghiệm có HIV dương tính (H+)
- Trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại: Là
những trẻ em chưa đến tuổi lao động theo pháp luật quy định nhưng đã phải làm việc mưu sinh cho bản thân và gia đình, trong điều kiện lao động độc hại, nguy hiểm, công việc quá sức so với độ tuổi phát triển của các em, gây những tổn thương
cả về thể chất và tinh thần
Với trẻ em phải lao động trong môi trường nguy hiểm độc hại, Bộ Lao Thương binh và Xã hội đã đưa ra danh mục các công việc được cho là hình thức lao động tồi tệ nhất như sau: mại dâm trẻ em, lao động trong hầm mỏ, trẻ em làm việc ở những địa điểm tư nhân khai thác bán vật liệu xây dựng, bới rác Các khu vực đánh giá là có nguy cơ nguy hiểm độc hại là lang thang kiếm sống trên đường phố, lao động trong các làng nghề truyền thống, trẻ em làm nghề hàn kim loại
động Trẻ em phải làm việc xa gia đình: Là những trẻ em chưa đến tuổi lao động
theo pháp luật quy định nhưng đã phải làm việc mưu sinh cho bản thân và gia đình, không có người thân bảo hộ nên có nguy cơ bị ngược đãi, xâm hại, bóc lột sức lao động
- Trẻ em lang thang: Là những trẻ em thiếu sự chăm sóc của gia đình và phải
tự kiếm sống bằng nhiều hoạt động khác nhau diễn ra hàng ngày trên đường phố
Trang 1310
Cụm từ “trẻ em lang thang” được hiểu với nhiều cách khác nhau như là: “trẻ bụi đời”, “trẻ cơ nhỡ”, “trẻ đường phố” v.v…
- Trẻ em bị xâm hại tình dục: Là những trẻ em bị thuyết phục hay bị cưỡng
ép tham gia vào các hoạt động tình dục bao gồm những hành vi tiếp xúc như động chạm, giao cấu, cũng như những hành vi không tiếp xúc như quan sát hoạt động tình dục, ghi băng những hình ảnh khiêu dâm, bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại
- Trẻ em nghiện ma túy: Là những trẻ em sử dụng lặp đi lặp lại một hay
nhiều chất ma túy dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kì hay mãn tính, bị lệ thuộc về thể chất và tinh thần Khi nghiện ma túy nếu ngừng sử dụng sẽ bị hội chứng cai nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần trong một thời gian nhất định tùy thuộc vào mức độ nghiện
- Trẻ em vi phạm pháp luật: Là những trẻ em có hành vi làm trái với chuẩn
mực đạo đức của xã hội Những hành vi này có tác động có hại cho xã hội và con người Những hành vi đó của trẻ em không chỉ có tác hại cho xã hội mà còn có tác hại mạnh mẽ đối với chính bản thân các em Nhưng với độ tuổi còn ít, các em chưa ý thức hết được hậu quả của mình làm cho các em ngày càng sa lầy vào các tệ nạn xã hội
Như vậy, có thể hiểu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó là những trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện các quyền cơ bản của mình, khó hòa nhập với gia đình và cộng đồng
1.1.2 Đặc điểm của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
1.1.2.1 Hoàn cảnh sống:
Về phía gia đình, từ trước tới nay, gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu
tố quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Trẻ em là thành phần quan trọng cấu thành gia đình Quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng chính là hai trong ba mối quan hệ cơ bản tạo nên gia đình Cha mẹ và các thành viên trong gia đình là những người gần gũi mật thiết thường xuyên ở bên cạnh trẻ em, việc chăm sóc không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện tình yêu thương con trẻ Trong gia đình, việc bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em cần được thực hiện một cách khoa
Trang 1411
học với những kiến thức, kỹ năng phù hợp Chăm sóc phải gắn liền với bảo vệ Phải xác định gia đình chính là nơi an toàn nhất cho trẻ em Tuy nhiên trên thực tế vấn đề giáo dục trẻ em trong gia đình đã nảy sinh những thách thức không nhỏ, đó
là trẻ em nghiện vi tính, mạng xã hội với những nội dung ít nhiều độc hại, phản giáo dục, phi văn hoá, bạo lực gia đình gia tăng, bình đẳng giới dưới mức an toàn Đặc biệt, cùng với việc di dân tự do hiện nay, sự xuất hiện nhiều mô hình gia đình mới như gia đình bố (mẹ) đơn thân, gia đình đồng tính, gia đình cấu tạo lại, gia đình thỏa thuận chung sống… Điều này gây khó khăn cho việc giáo dục nhân cách con trẻ bởi sự thiếu hoàn thiện, sự bấp bênh và sự phi tự nhiên của nó không thể mang lại một môi trường giáo dục đầy đủ, bình thường cho con cái
Về phía xã hội, các yếu tố kinh tế như nghèo đói, chênh lệch về thu nhập và
sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cũng làm cho các em trở nên dễ bị tổn thương hơn Các trào lưu xã hội như di cư, các giá trị gia đình đang bị băng hoại và tình trạng phân biệt đối xử về giới cũng ảnh hưởng xấu tới trẻ em Các vấn đề bất cập mang tính hệ thống như thiếu một khung pháp lý toàn diện, việc thực thi pháp luật còn yếu và nhận thức về vấn đề bảo vệ trẻ em còn hạn chế cũng đe dọa ảnh hưởng tới trẻ em Số trường hợp nhiễm HIV đang gia tăng cũng khiến cho trẻ em phải đối mặt với nguy cơ cao hơn
1.2.2.1 Đặc điểm thể chất:
Đa phần trẻ mồ côi và trẻ bị bỏ rơi đều trong tình trạng sức khỏe không tốt như suy dinh dưỡng, khuyết tật hoặc bị nhiễm HIV/AIDS Các em có thể bị thiếu ăn, suy nhược, đó là hệ quả tất yếu của cảnh nghèo khó hoặc của việc lơ là không biết tự chăm sóc bản thân
Nhóm trẻ em lao động nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, nhóm trẻ em lang thang thường có sức khỏe phát triển không bình thường, hay ốm đau mệt mỏi, thân thể thường có những vết thương, vết sẹo, vết bầm tím Ở nông thôn, trong quá trình làm việc các em có thể gặp nhiều tai nạn khác nhau, một số em phải tiếp xúc với chất độc hại như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ gây ảnh hưởng sức khỏe lâu dài Ở thành phố, một sô em nhặt phế liệu, phế thải xung quanh các bãi rác, rất mất vệ sinh Một số em khác lao động trong các cơ sở sản xuất, xây dựng,
Trang 1512
dịch vụ trong chợ, bến xe như: đi làm phụ nề, đóng gạch, bưng bê thức ăn, rửa bát đĩa tuy đây là hình thức lao động giản đơn nhưng nguy hiểm là không có ai bảo vệ các em, nên thời gian lao động và nghỉ ngơi có thể rất tùy tiện Trẻ lang thang trên đường phố thích tự do, sống lang thang trên đường phố phần lớn với mục đích là để kiếm sống, đảm bảo cho sự no đủ của dạ dày
Nhóm trẻ em bị xâm hại tình dục có những đặc điểm thể chất điển hình tùy theo lứa tuổi của trẻ Những trẻ dưới 5 tuổi thường gặp khó khăn khi vận động như
đi lại, ngồi Những trẻ từ 6 đến 9 tuổi thì đi lại, chạy nhảy không bình thường, quần
áo lót của trẻ bị rách, bị bẩn một cách bất thường, bị ngứa ngáy khó chịu hoặc có vết máu ở cơ quan sinh dục, âm đạo, hậu môn; Những trẻ từ 10 tuổi trở lên thì ngoài những đặc điểm thể chất giống với các trẻ nhỏ tuổi hơn ở các em còn có đặc điểm như có tiền và đồ vật lạ nhưng không rõ nguồn gốc, ăn mặc khác thường, có triệu chứng xanh gầy, đau vùng cơ quan sinh dục, bị viêm nhiễm, mắc các bệnh lây qua đường tình dục hoặc mang thai…
1.2.2.2 Đặc điểm tâm lý:
Trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng đang phải chịu những tác động mạnh mẽ bởi rất nhiều yếu tố tiêu cực của môi trường xung quanh Sự phát triển của xã hội, sự tương tác giữa các cá nhân và các nhóm khác nhau Trong quá trình phát triển của xã hội nhận thức và hành vi bị chi phối và chịu sự tác động của môi trường xã hội từ đó trẻ em có những nhận thức lệch chuẩn
về bản thân, hoặc hệ thống giáo dục gây sức ép quá lớn gây sức ép khiến trẻ em bị khủng hoảng về tâm lý ảnh hưởng tiêu cực của hoàn cảnh dễ xa vào các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, bỏ nhà đi lang thang Hệ quả của các vấn đề xã hội này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của trẻ lâu dài, có thể là suốt cuộc đời
Ngoài những đặc điểm tâm lý nêu trên thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn còn có những đặc điểm tâm lý riêng mang tính đặc thù cụ thể như:
Trầm cảm: Trầm cảm được biểu lộ bằng trạng thái suy kém rõ ràng với sự mất quan tâm hoặc vui thú trong các hoạt động bình thường Sự trầm cảm cũng có thể là kết quả của những ý nghĩa tiêu cực, bao gồm cái nhìn tiêu cực về bản thân, những diễn dịch tiêu cực về các kinh nghiệm riêng và những quan điểm tiêu cực về
Trang 1613
tương lai Các em gái thường biểu lộ sự trầm cảm theo cách hướng nội, băn khoăn hoặc trở nên lo lắng Trẻ em trải qua rối loạn lo lắng có thể cho thấy các triệu chứng nôn nóng, bất an, phiền muộn, mất ngủ, kém tập trung, trạng thái kích động, trí tuệ yếu, choáng váng, mệt mỏi
Hoài nghi, thiếu tin tưởng: vì phải sống trong hoàn cảnh khó khăn vì thế trẻ thường có đủ lý do để ngờ vực Trẻ cảm thấy những người xung quanh mình có vẻ
xa cách và dường như không hiểu được những khó khăn của mình Trẻ mất niềm tin, luôn cho rằng người khác là xấu xa và có ác ý với mình Vì vậy có lúc điều tích
cực xảy ra nhưng đều bị trẻ làm ngơ hoặc phủ nhận
Khó diễn tả cảm xúc bằng lời: Có thể do bị choáng ngộp bởi chính tâm trạng của mình và muốn đè nén những tâm trạng đó hoặc trẻ chưa bao giờ được khuyến khích để tự nói về mình và không có đủ lời để diễn tả tâm trạng
Một số tâm trạng thường gặp khác ở trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
là: Tâm lý bất cần đời, liều lĩnh và manh động; tính cách của trẻ em vi phạm pháp luật thường phát triển theo khuynh hướng thích chứng tỏ đã là người lớn và mong
muốn người xung quanh thừa nhận Do vậy, các em thường gặp sai lầm trong khi muốn xử lý gấp mọi vấn đề khó khăn gặp phải, nhằm chứng tỏ sự trưởng thành của mình Nhiều trường hợp trẻ đã tỏ ra khó chịu, tự ái, thậm chí trở nên hung dữ khi bị coi là con nít, mặc cảm và khi bị xúc phạm, dễ có tâm lý tiêu cực, mà hệ quả thông thường là phản ứng bằng những hành vi sai trái hoặc hành vi vi phạm pháp luật Những trẻ này thường thiếu tự chủ, luôn hướng tới sự ham thích mới lạ, hiếu động, bồng bột và dễ sa ngã Thậm chí, có những em sẵn sàng sử dụng vũ khí nóng để bắn trả lực lượng làm nhiệm vụ khi bị truy đuổi
- Về học tập:
Do những đặc điểm về hoàn cảnh sống, về tâm sinh lí quy định, hầu hết trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt thường khó khăn trong tiếp cận cơ hội học tập Đa số các
em có trình độ học vấn thấp ở bậc tiểu học và phổ thông cơ sở, số em có trình độ học vấn ở trình độ phổ thông trung học rất thấp Sự khiếm khuyết về giáo dục dễ dẫn các em đến những méo mó về nhân cách trong quá trình phát triển gây ra những
Trang 17Tuy nhiên, do hoàn cảnh đưa đẩy, các em lại có những trải nghiệm cuộc sống nhiều hơn các bạn cùng trang lứa Nên ở mức độ nhất định, những em này cũng tích lũy được một số kinh nghiệm và kỹ năng sống để tránh được tác động của tệ nạn xã hội ở mức độ nhất định Những kỹ năng này thể hiện sự nhanh nhạy của các em trong ứng phó với những tình huống nhất định, nhưng nó không định hướng cho sự phát triển bền vững của các em Mặt khác, sự tác động của mặt trái xã hội thì hết
Trang 1815
sức đa dạng và tinh vi, trong khi nhận thức của các em, kỹ năng của các em thì hạn chế nên các em chưa thể phân tích, phán đoán và có cách phòng tránh tệ nạn xã hội cho bản thân và bạn bè cùng cảnh
1.1.3 Những khó khăn của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
1.1.3.1 Điều kiện sinh hoạt:
Sinh tồn là nhu cầu cơ bản nhất của mỗi con nguời, là nền tảng cho mọi hoạt động của con nguời Đặc biệt đối với trẻ em cần đủ dinh dưỡng để phát triển thể chất, cần có những điều kiện sinh hoạt đảm bảo vệ sinh, an toàn Nhưng trên thực tế
đa số trẻ em có cuộc sống rất khó khăn, thiếu thốn, trong đó con em của những gia đình nghèo và cả những đứa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Những trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi (trừ số ít các em được nuôi dưỡng trong các cơ sở xã hội), trẻ
em lang thang kiếm sống trên đường phố, trẻ em phải lao động kiếm sống…dường như các em không được ở trong một ngôi nhà an toàn với đầy đủ tiện nghi mà các
em phải sống ở những nơi đầu đường, xó chợ, bến xe, gầm cầu, nay đây mai đó Một số khác cúng có nơi chốn đi về nhưng những ngôi nhà họ ở là những căn nhà tạm bợ, dột nát, chật chội Nhiều căn nhà không đủ đảm bảo an toàn, không bảo đảm sức khoẻ cho con người, đó là những túp lều tạm bợ ở khu ổ chuột, quây tạm hay nhà tranh, vách nứa, mái lá đơn sơ gió rét, mưa dột, không có điện thắp sang, không có khả năng trang bị những vật dụng hiện đại như ti vi, tủ lanh, quạt điện, vệ sinh môi trường không đảm bảo… Những điều kiện về nơi ở thiếu thốn, khó khăn
đã kéo theo hệ lụy như ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần nghèo nàn, thiếu cơ hội để học tập trang bị những kiến thức, kỹ năng cho tương lai, nên cuộc sống cứ như một cái vòng luẩn quẩn không thể thoát ra
Điều kiện vệ sinh, nước sạch: Đây là vấn đề rất quan trọng trong cuộc sống
Có nhiều nguồn nước khác nhau được con người sử dụng: nước giếng, nước mưa, nước ao hồ, nước sông suối, nước máy… nhưng nguồn nước phổ biến nhất không chỉ với người nông thôn mà cả với người thành thị đó là nguồn nước giếng Nguồn nước này có thể sạch hơn các nguồn nước từ ao hồ, sông suối nhưng thực tế trong nước giếng có những chất gây hại cho con người khi vượt quá nồng độ cho phép Hiện nay, nước máy vẫn được xem là nguồn nước sạch, đủ tiêu chuẩn cho sức khỏe
Trang 1916
con người và chương trình nước sạch quốc gia đang hướng đến đưa nước sạch đến cho mọi người trên đất nước mà trước tiên là cho người dân thành thị Tương tự, nhà tiêu hợp vệ sinh đang là một vấn đề quan trọng rất được chú ý Nhà vệ sinh là nơi tiềm ẩn nhiều vi sinh vật gây bệnh nhất trong không gian sống Nhà vệ sinh không sạch là nguy cơ lây lan bệnh trong cộng đồng và trẻ em là đối tượng dễ mắc bệnh nhất Nhà tiêu có nhiều loại, tự đào và tự hoại, trong đó chúng ta đang hướng đến xóa bỏ nhà tiêu tự đào, xây dựng nhà tiêu tự hoại, đảm bảo vệ sinh của cá nhân
và môi trường xung quanh
Trẻ em là đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh nhất của vấn đề vệ sinh nước sạch này Trẻ em không được sử dụng nguồn nước sạch, không được sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh và không được giáo dục cách giữ vệ sinh bản thân trở thành nguyên nhân cơ bản khiến trẻ dễ mắc các bệnh về tiêu chảy và đường hô hấp, đường ruột,
tả, lỵ, thương hàn, các bệnh nhiễm ký sinh trùng, giun sán Với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, từ sự khó khăn về nơi ăn, chốn ở dẫn đến điều kiện về vệ sinh, nước sạch cũng không thể được đảm bảo
1.1.3.2 Điều kiện chăm sóc sức khoẻ:
Tại khoản 1, Điều 24, Công ước quốc tế về quyền trẻ em: Các quốc gia thành viên công nhận quyền của trẻ em được hưởng mức cao nhất có thể được hưởng về sức khỏe Các quốc gia thành viên phải cố gắng đảm bảo rằng không có trẻ em nào
bị tước đoạt quyền được hưởng những dịch vụ chăm sóc sức khỏe như vậy Đồng thời, khoản 2 của Công ước đã đưa ra những mục tiêu về chăm sóc sức khỏe trẻ em
và nâng cao hiểu biết của người chăm sóc trẻ
Điều 15, Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em quy định: Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập Điều 27 của Luật này cũng quy định: Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng, khám chữa bệnh cho trẻ em
Nhưng trên thực tế trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do thiếu sự quan tâm, chăm sóc của gia đình, người thân, các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội cũng không thể quan tâm tới tất cả các em trong nhóm trẻ này nên có nhiều trẻ vẫn
Trang 2017
không tiếp cận được với các dịch vụ y tế mà đáng lẽ các em được hưởng (do không ý thức được tầm quan trọng của nó hoặc do không biết) như: Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho trẻ em như khám chữa bệnh, tiêm chủng vắc xin, uống vitamin A…rất quan trọng Những chương trình hỗ trợ của Nhà nước để trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc sức khỏe y tế các em cũng không được biết đến
Ngoài những khó khăn về điều kiện chăm sóc sức khỏe thể chất, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn còn có những khó khăn trong đời sống tinh thần Mặc
dù việc chăm sóc sức khỏe tinh thần không quá tốn kém nhiều kinh phí, người chăm sóc chỉ cần yêu thương, quan tâm đến trẻ bằng chính những hành động thiết thực của mình như an ủi trẻ, trò chuyện với trẻ, thường xuyên hỏi thăm tình hình của trẻ, vui chơi cùng trẻ, khuyến khích trẻ trong cuộc sống… Nhưng trên thực tế một số trẻ không có được những mối quan tâm đơn giản như vậy do các em không có cha mẹ, hoặc cha mẹ mất sớm, bỏ rơi con cái… một số trẻ khác thì vì sinh ra trong gia đình khó khăn nên cha mẹ mải lo toan cho cuộc sống với miếng cơm manh áo nên đời sống tinh thần của các em không được quan tâm đúng mức
1.1.3.3 Điều kiện vui chơi giải trí:
Nhiều nghiên cứu của các khoa học chứng minh rằng, trẻ em phát triển và hình thành thể chất, trí tuệ, nhân cách… một cách toàn diện một phần nhờ tham gia các hoạt động vui chơi giải trí phù hợp Vui chơi giải trí không chỉ giúp trẻ giải tỏa căng thẳng trong học tập mà còn giúp trẻ học được nhiều điều trong cuộc sống như thích ứng xã hội, phát triển trí tưởng tượng, học cách hợp tác với người khác… Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là trẻ em và tất nhiên quyền vui chơi giải trí là cần thiết
và quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Vui chơi giải trí càng cần thiết để các em hòa nhập với bạn bè, giúp trẻ giảm bớt những mất mát, thiệt thòi, tự ti mặc cảm về số phận của mình
Ngày nay các trung tâm vui chơi giải trí mọc lên ngày càng nhiều, hình thức vui chơi ngày càng đa dạng phong phú Có những khu vui chơi bình dân, có những khu vui chơi cao cấp, và đa phần khi tham gia vui chơi thì phải trả tiền, chỉ có một
số ít khu vui chơi công cộng là không mất tiền Vậy một câu hỏi đặt ra: Tại sao kinh
tế ngày càng phát triển thì xã hội ngày càng đi xuống Tại sao trẻ em phải trả tiền để
Trang 2118
được vui chơi Chúng ta quá phát triển kinh tế trong khi chất lượng cuộc sống tinh thần không được quan tâm đúng mức Nếu không có những khu vui chơi cho trẻ em nghèo, những trẻ có hoàn cảnh khó khăn thì những đứa trẻ này chỉ có thể đứng từ xa
mà “nhìn ngắm” trẻ khác chơi mà thôi
Có thể nói, hoạt động vui chơi, giải trí của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vẫn chưa được quan tâm đúng mức Trẻ không tiếp cận được các hình thức vui chơi, giải trí phù hợp để thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của các em
1.1.3.4 Điều kiện học tập:
Giáo dục đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Giáo dục giúp cho trẻ có cơ hội để phát hiện và phát triển khả năng, trí tuệ Giáo dục định hướng giá trị cho trẻ, giúp trẻ tiếp nhân các tri thức khoa học, cũng như các chuẩn mực xã hội Ngoài ra giáo dục cũng là môi trường mà ở đó trẻ có cơ hội giao tiếp, hoà nhập hơn với cộng đồng xung quanh Theo Luật phổ cập giáo dục Việt Nam quy định: Các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết để đạt được trình độ tiểu học Tuy nhiên, với tr trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì việc tiếp cận với cơ hội học tập gặp nhiều hạn chế do nhiều lý do khác nhau:
Do điều kiện kinh tế khó khăn các em không thể đến trường hoặc phải bỏ học giữa chừng: đó là những trẻ em sinh ra trong gia đình nghèo, phải lao động sớm, những trẻ sống lang thang trên đường phố, những trẻ mồ côi không nơi nương tựa
Đa số các em có trình độ học vấn thấp, các em không có cơ hội học tập nên gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt mà chủ yếu làm những công việc giản đơn, lao động chân tay nặng nhọc nhưng lương thấp Có một số trẻ mồ côi thuộc đối tượng bảo trợ xã hội vẫn đang được đến trường Tuy nhiên, điều kiện học tập còn nhiều khó khăn như thiếu thốn nhiều về quần áo, sách
vở và dụng cụ học tập, chưa kể đến trẻ không có không gian học tập tại nhà hay chưa được chăm sóc đủ sức khỏe để học tập vì điều kiện kinh tế eo hẹp
Một số trẻ em thì khó khăn do không tìm được động cơ trong học tập Các
em không tìm thấy được niềm vui, hứng thú do những yếu tố gia đình chi phối như
bố mẹ li hôn, li thân, bạo lực gia đình; hoặc với những trẻ bị xâm hại tình dục các
Trang 2219
em sẽ rất sợ khi phải đến trường sợ bạn bè biết về những việc “xấu xa” mà mình đã trải qua Mặt khác, do chương trình giáo dục của nhà trường hiện nay đang nặng về
lý thuyết với phương pháp dạy học chưa kích thích được tư duy, sáng tạo của các
em nên các em cảm thấy nhàm chán, trong khi đó những thú vui ngoài xã hội thì có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các em
1.1.4 Nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
Nhu cầu chung:
- Vật chất là nhu cầu đầu tiên, cơ bản và thiết yếu đối với mỗi con người Nhu cầu vật chất bao gồm: thức ăn, nước uống, chỗ ở, quần áo, được chăm sóc khi đau ốm…đamr bảo cho sự phát triển về mặt thể chất của trẻ;
- Nhu cầu về mái ấm gia đình, là chỗ dữa về mặt thể chất và tinh thân của trẻ Gia đình đóng vai trò rất quan trọng Đối với trẻ em mô côi luôn khát khao một mái ấm gia đình có đầy đủ cả cha lẫn mẹ và anh chị em ruột của mình;
- Nhu cầu được giải trí, vui chơi, học tập Thông qua những hoạt động này để trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn luôn được hòa đồng với xã hội để tự khẳng định mình;
- Nhu cầu được tôn trọng, trẻ luôn đòi hỏi nhu cầu này từ bạn bè, và người lớn để làm tăng sự tự tin và nghị lực của trẻ;
Mọi trẻ em đều có nhu cầu được cung cấp vật chất ở mức tối thiểu để có thể tồn tại và ở mức độ phù hợp để phát triển tối đa những tiềm năng của mình Nếu những nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, trẻ sẽ không thể tồn tại và phát triển một cách bình thường Các nhu cầu này biến đổi cùng với sự tăng trưởng của trẻ
- Nhu cầu riêng:
Có thể nói, nhu cầu vật chất là nhu cầu đầu tiên của bất cứ đứa trẻ nào Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng như những trẻ khác, đều muốn được đảm bảo các nhu cầu chính đáng của bản thân Hiện nay, những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt phần lớn đều sống trong tình trạng thiếu thốn, khó khăn về kinh tế Đa số các em sống trong hoàn cảnh nghèo và rất nghèo, rất cần có sự quan tâm, đáp ứng kịp thời về nhu cầu vật chất Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần có một môi trường, một mái ấm và người chăm sóc tốt, có tình yêu thương để vượt qua
Trang 2320
những khó khăn, mặc cảm của chính mình; trẻ cần có kỹ năng, kiến thức để tự chăm sóc, bảo vệ, có đủ về vật chất, dinh dưỡng để phát triển bình thường như những đứa trẻ khác, được học hành, tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí và các hoạt động xã hội khác để hòa nhập với cộng đồng Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đến tuổi trưởng thành cần được định hướng nghề nghiệp, được hỗ trợ học nghề và tạo việc làm để có cuộc sống tự lập Người chăm sóc trẻ cần được hỗ trọe để có kiến thức, kỹ năng nuôi dậy trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện
Quản lý trường hợp (tiếng Anh là Case Management) còn được gọi là quản
lý ca Ở một số nước, quản lý trường hợp được sử dụng trong các lĩnh vực cung cấp dịch vụ an sinh cho con người (quản lý trường hợp trong y tế nhằm chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân; quản lý trường hợp với người nghiện ma túy, người nhiễm HIV, v.v.) và cả trong lĩnh vực luật pháp (luật sư tư vấn luật cho các khách hàng)
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý trường hợp Về cơ bản có thể hiểu quản
lý trường hợp như sau: Quản lý trường hợp hay còn được gọi là quản lý ca là một công cụ tiếp cận hỗ trợ đối tượng trong chuyên môn công tác xã hội Đây là một quá trình có sự tham gia của đối tượng và gia đình đối tượng vào việc xác định vấn đề, lên kế hoạch giải quyết vấn đề và hỗ trợ họ thực hiện các kế hoạch đã đề ra để đạt được mục tiêu mong muốn Trong quá trình này nhân viên xã hội có nhiệm vụ tìm kiếm, kết nối và điều phối các dịch vụ hỗ trợ, giúp đỡ đối tượng có thể kết nối với các nguồn lực bên trong (bản thân đối tượng, gia đình đối tượng) và bên ngoài (cộng đồng, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể…) để đáp ứng tốt nhất cho đối tượng các nhu cầu về thể chất, tâm lý giúp đảm bảo an sinh xã hội cho đối tượng hỗ
trợ họ có cuộc sống phát triển hài hòa nhất có thể
Trang 2421
- Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Từ khái niệm
Quản lý trường hợp nói trên, Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn có thể được hiểu như sau:
Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một quá trình
tổ chức, điều phối hệ thống dịch vụ xã hội nhằm đảm bảo tất cả các chương trình tổng thể hay đơn lẻ được phối hợp một cách chặt chẽ, đáp ứng việc chăm sóc trẻ đạt hiệu quả tối ưu Trong quá trình này nhân viên xã hội là người kết nối và điều phối
các dịch vụ và hỗ trợ trực tiếp về tâm lý xã hội cho trẻ Đây là một quá trình có sự
tham gia của trẻ và người nuôi dưỡng, giám hộ trẻ vào việc xác định vấn đề, lên kế hoạch giải quyết vấn đề và hỗ trợ trẻ hoặc người nuôi dưỡng trẻ thực hiện các kế hoạch đã đề ra để đạt được mục tiêu mong muốn Trong quá trình này nhân viên quản lý trường hợp có nhiệm vụ tìm kiếm, kết nối và điều phối các dịch vụ hỗ trợ, giúp đỡ trẻ hoặc người nuôi dưỡng phát huy các nguồn lực bên trong (như các nguồn lực về sức khỏe, thể chất, tâm lý, điều kiện kinh tế, các mối quan hệ của trẻ hoặc người nuôi dưỡng) và có thể kết nối với bên ngoài (cộng đồng, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể có cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, các chế độ chính sách hỗ trợ trẻ em mồ côi và người nuôi dưỡng ) để đáp ứng tốt nhất cho các nhu cầu của trẻ về vật chất và tinh thần cũng như nhu cầu của người nuôi dưỡng trẻ để người nuôi dưỡng có thể có các điều kiện
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được tốt nhất
1.2.2 Các nguyên tắc trong quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
- Tôn trọng, không phán xét: Chấp nhận thân chủ trong hoàn cảnh của họ sẽ
giúp cán bộ Quản lý trường hợp có được thái độ tôn trọng và tránh sự phán xét khi làm việc với thân chủ Điều này giúp thiết lập và tăng cường mối quan hệ giữa người trợ giúp và thân chủ Trên cơ sở đó sẽ thúc đẩy hiệu quả giúp đỡ
- Đảm bảo bí mật: là một trong những nguyên tắc trọng yếu trong hoạt động
trợ giúp con người, đặc biệt với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Bảo mật các thông tin cá nhân của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn sẽ làm tăng sự tin cậy
từ đối tượng và tạo điều kiện cho việc thu thập thông tin cũng như các hoạt động
Trang 2522
can thiệp Việc bảo mật thông tin cần được tuân thủ tốt trong cả tiến trình, từ các thông tin qua chia sẻ nói chuyện với trẻ đến các giấy tờ hồ sơ liên quan đến cả tiến trình can thiệp Cán bộ quản lý trường hợp cần lưu ý tới nguyên tắc bảo mật có điều kiện để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc của mình là vì lợi ích cao nhất cho trẻ Chẳng hạn, với các thông tin tiết lộ liên quan tới tính mạng của trẻ hoặc có tính đe dọa tới tính mạng của người khác từ trẻ thì cần được thông tin cho cá nhân, cơ quan
có liên quan để kịp thời can thiệp
- Thúc đẩy và vận động xã hội tạo điều kiện để hỗ trợ trẻ giải quyết vấn đề thông qua hệ thống cung cấp dịch vụ:
Quản lý trường hợp là hoạt động trợ giúp những cá nhân, gia đình gặp phải những khó khăn cản trở họ tiếp cận các nguồn lực để có được một cuộc sống như những cá nhân bình thường khác Cán bộ quản lý trường hợp thực hiện hoạt động trợ giúp này thông qua tìm kiếm các nguồn lực, điều phối việc cung cấp các dịch vụ
và nguồn lực liên quan đến nhu cầu của trẻ Do vậy, thúc đẩy và vận động xã hội để
có được hệ thống dịch vụ tốt hơn sẽ trợ giúp cho hoạt động nghề nghiệp đạt hiệu
quả hơn
- Thu hút sự tham gia của trẻ, gia đình, cộng đồng và các nhà cung cấp dịch
vụ vào tiến trình quản lý trường hợp:
Quản lý trường hợp là một phương pháp công tác xã hội, do vậy, việc tuân thủ các phương pháp tiếp cận dựa trên các giá trị triết lý nghề nghiệp được đề cao Thu hút sự tham gia của cá nhân trẻ, gia đình trẻ, cộng đồng và các nhà cung cấp dịch vụ sẽ chứng tỏ được nền tảng triết lý của công tác xã hội là: mỗi cá nhân đều
có sức mạnh họ ở trong hoàn cảnh nào; giữa các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội luôn có mối quan hệ tương tác; cá nhân có trách nhiệm với gia đình và cộng đồng, ngược lại, gia đình, cộng đồng và xã hội phải có trách nhiệm với mỗi cá nhân
- Cung cấp các dịch vụ trợ giúp thích hợp, liên tục, toàn diện và hiệu quả:
Hiệu quả trợ giúp đối tượng chỉ đạt được khi nó được thực hiện dựa trên một
kế hoạch khả thi, phù hợp với nhu cầu của trẻ Hoạt động trợ giúp các gói dịch vụ mang tính toàn diện cần được duy trì liên tục cho tới khi trẻ “phục hồi”, có khả năng
tự lực trong cuộc sống Ngoài ra, khi xây dựng kế hoạch can thiệp, Cán bộ quản lý
Trang 2623
trường hợp cần có trách nhiệm với cơ quan tổ chức khi lưu ý tới tính hiệu quả của dịch vụ để đảm bảo tiết kiệm tối đa chi phí nhưng phải đảm bảo chất lượng dịch vụ Điều này đòi hỏi cán bộ quản lý trường hợp phải có ý thức trong việc nâng cao trình
độ chuyên môn và cam kết nghề nghiệp và trách nhiệm cao trong công việc
1.2.3 Quy trình quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Quy trình quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tuân thủ qui trình quản lý trường hợp chung, bao gồm các bước sau:
Bước 1: Tiếp nhận và đánh giá sơ bộ
- Ti p nh n th ng tin
Các thông tin tiếp nhận bao gồm những thông tin cần thiết về bản thân trẻ, về gia đình trẻ, môi trường trẻ đang sống và thông tin về nội dung sự việc: Tình trạng của trẻ (Tổn thương, nguy cơ,.); Khả năng tự bảo vệ mình của trẻ…Tìm hiểu xem trong trường hợp này trẻ hoặc gia đình trẻ đã gọi hoặc tìm đến các cơ quan nào hay chưa; Đã có những hỗ trợ nào cho trẻ hay chưa Nếu vấn đề của trẻ là nghiêm trọng
cần hướng dẫn trẻ hoặc người thông báo cách can thiệp ngay lập tức
Để tiếp nhận thông tin, Cán bộ quản lý trường hợp có thể trực tiếp lắng nghe thân chủ (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) hoặc người thông báo; cũng có thể nhận thông tin qua văn bản cứng, văn bản mền (thư điện tử,…), điện thoại, báo chí…
Cán bộ quản lý trường hợp cần ghi nhanh vào hồ sơ những thông tin được cung cấp theo trình tự thời gian liên quan đến hoàn cảnh, sự việc và các hình thức trợ giúp thân chủ đã nhận được Cán bộ quản lý trường hợp có thể ghi thô, sau đó sàng lọc thông tin để có những dữ liệu mấu chốt; Cần nhớ là không được đưa quan điểm cá nhân của mình vào hồ sơ
- Đánh giá sơ bộ:
Mục đích của đánh giá sơ bộ là tổng hợp lại thông tin, đánh giá mức độ cần
can thiệp, từ đó đưa ra kế hoạch thời gian
Với những thông tin nhận được ban đầu, cán bộ quản lý trường hợp cần có những đánh giá tổn hại và nguy cơ với trẻ Nội dung đánh giá bao gồm:
Trang 2724
- Đánh giá bản thân trẻ, yếu tố nguy cơ đối với trẻ: Đánh giá về tình trạng
của trẻ: Theo những thông tin ban đầu thì trẻ có những tổn thương về cơ thể hay tình cảm chưa Các tổn thương xảy ra với trẻ có nghiêm trọng, đe doạ mạng sống không? Trẻ có nguy cơ bị tổn thương nếu môi trường sống vẫn như cũ không
Đánh giá về các nguy cơ tiếp theo có thể xảy ra với trẻ: Liệu trẻ có gặp
phải các tổn thương tiếp theo nếu không được can thiệp kịp thời
Đánh giá về người hoặc các yếu tố gây tổn thương cho trẻ:Thủ phạm/yếu
tố có còn khả năng gây tổn thương đến thân chủ không Người sống cùng thân chủ hiện nay có cam kết đủ nguồn lực và khả năng bảo vệ thân chủ trong lúc thân chủ không được an toàn không?
Đánh giá hệ thống liên quan đến trẻ: Cán bộ quản lý trường hợp cần xác
định mạng lưới hỗ trợ sẵn có của trẻ vì một số mạng lưới này có khả năng đáp ứng được những yêu cầu cần ưu tiên của trẻ Điều quan trọng cần nhớ rằng trẻ là người quyết định chính và cần được tư vấn trong tiến trình phát triển cũng như thực hiện
Kế hoạch quản lý trường hợp Một điều nữa là trẻ là một phần trong chính hệ thống
hỗ trợ của trẻ và có thể tự đóng góp để thỏa mãn nhu cầu của bản thân
Bước 2: Thu thập thông tin và đánh giá toàn diện
- Thu thập thông tin:
Mục đích của thu thập thông tin là xác minh, làm rõ những thông tin đã thu
thập là có thật không; Tìm ra nguyên nhân; Đưa ra kết luận; Đánh giá mức độ tổn thương; để có căn cứ lập và thực hiện kế hoạch nhằm đáp ứng các nhu cầu của trẻ
Các nguồn có thể thu thập thông tin là từ chính trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn, qua lời kể, quan sát hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ của trẻ; từ người thân với trẻ (cha mẹ, anh chị em, họ hàng, bạn bè…); Từ người nghi ngờ gây ra vụ việc; Từ cán bộ cơ sở (cán bộ ngành lao động thương binh và xã hội, công an, phụ nữ…; từ những người dân tại cộng đồng; từ các tổ chức đoàn, đội mà trẻ là thành viên; từ văn bản của địa phương, các phương tiện truyền thông đại chúng,…và những người khác liên quan đến sự việc
Những nội dung thông tin cần thu thập:
+ Tiền sử vụ việc:
Trang 2825
Trẻ đã bao giờ bị tổn hại hay gặp nguy cơ như vậy chưa Nếu có thì từ khi nào, hoàn cảnh xảy ra? gây ra dạng tổn hại và nguy cơ nào Từ khi bắt đầu đến nay
đã xảy ra bao nhiêu lần?
+ Quá trình dịch vụ can thiệp:
Trẻ đã nhận được sự hỗ trợ can thiệp nào? Số lần nhận được sự hỗ trợ can thiệp Tác động, những sự hỗ trợ can thiệp lần trước là gì?
- Nhận diện vấn đề:
Đây là công việc hết sức quan trọng Kết quả của nhận diện vấn đề sẽ định hướng cho các bước tiếp theo Nhân diện vấn đề đúng sẽ chuẩn đoán và trị liệu đúng nguyên nhân và kết quả
Cán bộ quản lý trường hợp cần nhận diện được tình huống của vấn đề: có những ai trong tình huống, đã kéo dài bao lâu, mức độ trầm trọng như thế nào? Thông tin tổng quát về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và những người liên quan (tiểu sử gia đình, trình độ văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã hội, tính tình, tiềm năng); Thông tin về môi trường sống hiện tại của trẻ và những người có liên quan (Ai là người giới thiệu / chuyển giao trẻ đến cán bộ quản lý trường hợp và tại sao chuyển giao?) Nếu đây là vấn đề kéo dài một thời gian, thông tin về tiểu sử vấn đề rất quan trọng Các biểu hiện không lời của trẻ: ăn mặc, dáng điệu, cử chỉ, hành động, lối giao tiếp?; Tình hình môi trường sống trước đây Những thông tin liên quan đến học vấn, mối quan hệ, các công việc đã làm?; Mong muốn thay đổi của trẻ Điểm mạnh/ tích cực liên quan tới nhận thức của bản thân trẻ cũng như liên quan đến môi trường mà nó sẽ hỗ trợ cho việc giải quyết vấn đề của trẻ
Nhận diện vấn đề là công việc trong suốt quá trình thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi Nên thông tin luôn được cập nhật và bổ sung Kết quả của nhận diện vấn đề phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tham gia của cả 2 bên: Cán bộ quản lý trường hợp và đối tượng Đối tượng cung cấp thông tin, cán bộ quản lý trường hợp tập hợp, bổ sung hoàn chỉnh
và thâu tóm, sâu chuỗi thông tin trong mối quan hệ với thông tin khác
Nhận diện vấn đề được thực hiện trên nhiều phương diện, nhiều chiều; Vấn
đề hiện tại phải tìm nguyên nhân quá khứ và tác động trong tương lai
Trang 2926
Bước 3 Xây dựng kế hoạch can thiệp
Mục đích của việc xây dựng kế hoạch là hệ thống những công việc cần can thiệp; đồng thời sắp xếp công việc theo thứ tự ưu tiên trong một thời gian nhất định, đáp ứng đúng nhu cầu cấp thiết của trẻ Đôi khi nhiều hoạt động diễn ra trong cùng một lúc Do đó, sắp xếp thứ tự ưu tiên một cách khoa học sẽ tặng hiệu quả hoạt động, tránh trùng lắp, lộn xộn, lãng phí thời gian và khó theo dõi, giám sát Các bước trong xây dựng kế hoạch can thiệp:
- Xây dựng mục tiêu
Trong lập kế hoạch, mục tiêu phải đảm bảo 05 yếu tố: cụ thể (Ai, cái gì, ở
đâu ),; Mục tiêu phải đo được mức độ thay đổi / chuyển đổi của trẻ; Mục tiêu phải đảm bảo tính khả khi ( có khả năng thực hiện) và đảm bảo tính thực tế (Đáp ứng được đúng nhu cầu của trẻ); phải có thời gian nhất định
- Xác định thành phần tham gia:
Tham gia nghĩa là sự dự phần của các cá nhân, tổ chức có liên quan, của chính đối tượng để giải quyết vấn đề; Cần xác định; Ai tham gia; Mức độ tham gia; Thời điểm tham gia Tham gia giúp các cá nhân, tổ chức có liên quan xác định được những khó khăn, nhu cầu của trẻ Trên cơ sở đó có trách nhiệm lập kế hoạch để đáp ứng nhu cầu của trẻ giúp kế hoạch có tính bền vững và khả thi cao
- Xác định nhu cầu của trẻ:
Nhu cầu là sự cách biệt giữa tình trạng hiện tại so với tình trạng mong muốn đạt được; Việc xác định nhu cầu, phải căn cứ vào vấn đề của ĐT đã thực hiện ở bước Thu thập thông tin Chuyển từ vấn đề sang nhu cầu tương ứng
Thí dụ: Chuyển đối từ vấn đề thành nhu cầu
Bố dượng nghiện ma túy Trẻ cần phải được bảo vệ khỏi những
ảnh hưởng của ma túy
Mẹ nghiên rượu Trẻ cần phải được bảo vệ khỏi những
ảnh hưởng của việc mẹ say xỉn
Bố dượng thô bạo với trẻ Trẻ cần được bảo vệ khỏi bị đánh và bị
Trang 3027
Bước 4 Thực hiện kế hoạch
Đây là giai đoạn cần nhiều thời gian nhất trong toàn bộ tiến trình quản lý trường hợp
Cán bộ quản lý trường hợp nhận trách nhiệm chính trong triển khai và giám sát mọi hoạt động của kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch Cụ thể cán bộ quản lý trường hợp thực hiện các công việc:
- Kết nối, vận động:
+ Tạo mối quan hệ giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ;
+ Tăng cường nguồn lực: khai thác tiềm năng, phát huy nguồn lực từ các bên tham gia để đối phó với những thiếu hụt về tài chính, kỹ thuật trong quá trình giải
quyết vấn đề
+ Tăng cơ hội lựa chọn trong lập kế hoạch Khi có thêm nguồn lực về con người
và kinh phí tài chính, nhiều giải pháp sẽ được tính tới, việc quyết định giải pháp tốt
nhất không lệ thuộc vào vấn đề tài chính mà dựa vào tính hiệu quả của vấn đề;
+ Thiết lập mạng lưới: cá nhân, cơ quan tổ chức cung cấp các dịch vụ xã hội; các cơ sở bảo trợ xã hội; các trung tâm tham vấn, tư vấn; các chương trình dự án; các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước; các tổ chức xã hội chính thức và
không chính thức, …
- Cung cấp dịch vụ
+ Làm việc cùng với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
Để chuẩn bị cho việc hỗ trợ; cán bộ quản lý trường hợp giới thiệu cho trẻ
biết mình là người sẽ giúp trẻ trong hoàn cảnh khó khăn Cần tạo lập được sự gắn
bó, xây dựng được mối quan hệ tốt với trẻ, trên cơ sở đó triển khai hoạt động tham vấn, tư vấn một cách hiệu quả nhất Tiếp tục phân tích để tìm ra nguyên nhân vấn
đề mà trẻ đang phải đối mặt Thông báo cho trẻ kế hoạch can thiệp (đã xây dựng trong bước 3) nhằm giúp trẻ chuẩn bị tâm thế hợp tác tốt khi thực hiện kế hoạch
Để triển khai hoạt động can thiệp, cán bộ quản lý trường hợp tìm kiếm hệ
thống dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp như các cơ sở y tế, các dịch vụ tham vấn, hội Chữ thập đỏ… để thực hiện hỗ trợ về tinh thần và thể chất cho trẻ; Tăng cường kỹ năng
Trang 3128
tự chăm sóc, bảo vệ bản thân cho trẻ thông qua tư vấn, truyền thông giáo dục Khuyến khích trẻ tham gia vào các nhóm đồng đẳng tại cộng đồng nhằm thực hiện các chức năng: Phòng ngừa, phục hồi và phát triển; Tổ chức sinh hoạt nhóm để trang bị kiến thức, tăng khả năng ứng phó về vấn đề trẻ đang gặp phải Với những trường hợp như bị xâm hại, hồi gia, việc tham gia nhóm giúp trẻ có cơ hội hoà nhập với cộng đồng nhanh hơn, tránh được suy nghĩ bi quan, tiêu cực
Trong bước triển khai kế hoạch, cán bộ quản lý trường hợp cần thể hiện thái
độ quan tâm, sẵn lòng giúp đỡ trẻ vì trẻ đang là người yếu thế, bị tổn thương Cần tôn trọng, không phán xét, không thúc ép khi trẻ chưa sẵn sàng Thể hiện sự quan tâm lắng nghe điều trẻ nói Thể hiện sự nhiệt tình qua cách giao tiếp cởi mở, thân
thiện, thẳng thắn Biết chấp nhận những cảm xúc trẻ đang có; chấp nhận con người
trẻ; Sẵn sàng đánh giá cao về trẻ, bất chấp những hành vi không tốt của trẻ trước đây Trường hợp cán bộ quản lý trường hợp được phân công làm việc cùng trẻ nhận thấy mình khó khăn trong chấp nhận thân chủ thì cần chuyển ca cho cán bộ quản lý trường hợp khác Cần thể hiện sự chân thành qua việc cư xử, giao tiếp chân thật, không giả dối qua lời nói
- Làm việc với các thành viên trong gia đình
+ Giới thiệu vai trò của cán bộ quản lý trường hợp
+ Tìm hiểu quan điểm, ý kiến, mong muốn của gia đình về vấn đề và kế hoạch thực hiện
+ Phát huy nguồn lực, ngăn chặn những yếu tố tăng nguy cơ không an toàn cho đối tượng trong gia đình thông qua sơ đồ phả hệ để tạo môi trường an toàn gần nhất cho đối tượng
+ Giữ liên lạc thường xuyên với gia đình để thông báo diễn biến các hoạt động giúp đỡ của cán bộ quản lý trường hợp
+ Cùng tiến hành thực hiện các hoạt động chia sẻ, động viên khích lệ đối tượng
+ Nâng cao năng lực về vấn đề đối tượng đang gặp phải cho các thành viên gia đình, cho cán bộ địa phương để họ có khả năng hỗ trợ và bảo vệ đối tượng hiệu quả nhất
Trang 3229
+ Lựa chọn các thành viên trong gia đình để phối hợp quản lý các hoạt động sinh hoạt, các hành vi bất thường của đối tượng cũng như của người gây tổn thương trong gia đình Điều này yêu cầu cán bộ quản lý trường hợp phải làm việc với từng thành viên, tìm hiểu về khả năng, mức độ tham gia của họ trong việc hỗ trợ giám sát người gây tổn hại và đối tượng, qua đó có sự phân công nhiệm vụ hợp lý
Lưu ý: Liên lạc thông tin với gia đình thường xuyên để theo dõi, đánh giá sự thay đổi của đối tượng, kịp thời điều chỉnh hoặc bổ sung các dịch vụ khác một cách kịp thời
- Làm việc với thành viên gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại tới trẻ
+ Thông báo tới thành viên gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại về kế hoạch trợ giúp đối tượng;
+ Yêu cầu ký cam kết không gây tổn hại tới đối tượng;
+ Kết hợp với các cá nhân, các ban ngành liên quan (Đoàn thanh niên, hội phụ nữ, cán bộ phường /xã, hội người cao tuổi …) giám sát thực hiện cam kết của đối tượng đảm bảo an toàn cho đối tượng Việc giám sát cần thực hiện nghiêm túc,
có trách nhiệm để kịp thời giúp đối tượng tránh được các nguy cơ gây tổn hại ngay khi đang là một trường hợp được bảo vệ; làm điều này tốt sẽ tăng niềm tin ở đối tượng, gia đinh đối tượng vào kế hoạch trợ giúp;
+ Nâng cao năng lực: Truyền thông giáo dục thay đổi nhận thức cho đối tượng Điều này đòi hỏi cán bộ quản lý trường hợp phải tìm hiểu sâu sắc vấn đề mà đối tượng gặp phải, nguyên nhân dẫn đến thái độ và hành vi nguy hiểm cho đối tượng Từ đó, cán bộ quản lý trường hợp sẽ lựa chọn hình thức giáo dục phù hợp để giúp đối tượng thay đổi tốt hơn;
+ Phối hợp cùng các nhà chuyên môn tiến hành tham vấn, tư vấn giúp đối tượng thay đổi nhận thức nhằm giảm và tiến tới chấm dứt các hành vi gây tổn hại hoặc nguy cơ đến sự an toàn của đối tượng, tạo ra môi trường an toàn cho đối tượng tại gia đình và cộng đồng
- Những lưu ý khi làm việc với gia đình
Tôn trọng hoàn cảnh, quyền riêng tư của gia đình;
Thông cảm với cảm xúc của gia đình khi họ cho rằng những hỗ trợ chưa thoả đáng;
Trang 33Giám sát:
- Nhận diện các thiếu sót kịp thời;
- Điều chỉnh một khâu nào đó trong kế hoạch, giúp bên tham gia hoạt động
có hiệu quả;
- Giúp cán bộ quản lý trường hợp điều phối các bên liên quan tham gia giải quyết vấn đề hiệu quả nhất;
- Nhận dạng các nguy cơ cao gây cản trở việc thực hiện mục tiêu
Bước 5: Lượng giá và kết thúc
Trong tiến trình trợ giúp này, cán bộ quản lý trường hợp sẽ cần đảm bảo một
số yêu cầu chuyên môn như sau: (1) thiết lập mối quan hệ với trẻ; (2) thu thập thông tin và cùng với các bên liên quan phân tích thông tin, đánh giá nhu cầu của trẻ; (3) Xây dựng kế họach trợ giúp trẻ theo các mục tiêu đã xác định (4) Liên kết và điều phối và thúc đẩy mạng lưới các nhà cung cấp dịch (5) Thiết lập hồ sơ và lưu trữ hồ
sơ của trẻ đảm bảo nguyên tắc và làm cở sở theo dõi cho quá trình can thiệp trợ
giúp
Lượng giá là giai đoạn mà cán bộ rà soát lại và nhận xét về hoạt động của mình với trẻ nhằm đánh giá xem phương pháp tiếp cận quản lý vấn đề có hiệu quả không khi được dùng để giải quyết nhu cầu dịch vụ cho trẻ Điều quan trọng là cán
bộ quản lý trường hợp coi lượng giá là cơ hội để học hỏi về những gì đã làm tốt trong hoạt động can thiệp và những gì chưa tốt
Trang 341 Đã xây dựng được một kế hoạch phù hợp chưa
2 Kế hoạch đã được thực hiện hiệu quả như thế nào?
3 Đã đạt được những kết quả nào?
Lượng giá được tiến hành trong suốt quá trình quản lý trường hợp
Công việc lượng giá được cán bộ quản lý trường hợp cùng với trẻ tiến hành nhằm rà soát lại các hoạt động và mục đích của các hoạt động theo từng giai đoạn hoặc kết thúc một ca
Việc lượng giá sẽ được ghi chép lại trong hồ sơ cá nhân nhằm giúp cán bộ quản lý trường hợp và trẻ theo dõi được tiến trình quản lý trường hợp, mức độ hiểu quả của từng giai đoạn, từng hoạt động và cả quá trình
Kết thúc là bước cuối cùng của quy trình quản lý trường hợp, điểm mà chứng tỏ toàn bộ tiến trình đã được thực hiện Nhân viên xã hội và trẻ hoặc gia đình trẻ thấy rằng, họ đã đạt được mục đích mà tiến trình nhằm tới hoặc họ quyết định rằng không thể đạt được những mục đích ấy và không còn muốn tiếp tục nữa
Kết thúc cũng là lúc cán bô quản lý trường hợp đóng hồ sơ khi mà vấn đề của trẻ đã được giải quyết; hoặc khi cán bộ quản lý trường hợp chuyển giao hồ sơ của trẻ cho một cán bộ quản lý trường hợp khác nếu vấn đề không được giải quyết; hoặc đóng hồ sơ khi trẻ không muốn tiếp tục vì thấy không hiệu quả
Trang 3532
1.2.4 Vai trò của Nhân viên c ng tác xã hội trong quản lý trường hợp trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Để có thể giải quyết các vấn đề và nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhân viên xã hội cần phải cùng lúc đảm nhiệm một số vai trò Vai trò là những hành vi đòi hỏi ở một người khi người đó ở trong một tình huống cụ thể Vì vậy vai trò là những hành vi đòi hỏi cần có ở một cán bộ xã hội trong một bối cảnh tình huống cụ thể Theo quan điểm của Feyerico (1973), nhân viên xã hội có những vai trò sau đây:
- Vai trò người giao tiếp: Nhân viên công tác xã hội thiết lập mối quan hệ với
trẻ, gia đình trẻ, các nhà chuyên môn và cơ sở cung cấp dịch vụ thành một ekip chuyên nghiệp giải quyết vấn đề cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; Để thực hiện vai trò này, nhân viên công tác xã hội phải có các kỹ năng giao tiếp hiệu
quả: Kỹ năng lắng nghe, phản hồi, thiết lập mối quan hệ,…
- Vai trò là người vận động nguồn lực: nhân viên xã hội được coi là người trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tìm kiếm các nguồn lực về tài chính, kỹ thuật, thông tin, chính sách…
- Vai trò là người kết nối (trung gian): nhân viên xã hội là người am hiểu về các thông tin liên quan đến chính sách, dịch vụ, tài chính, kỹ thuật… chính họ là người giới thiệu và làm cho trẻ em hoặc người bảo hộ của trẻ em biết và tiếp cận với các dịch vụ đó
- Vai trò là người biện hộ: nhân viên xã hội lúc này là người bảo vệ quyền lợi cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để các em được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi, đặc biệt trong trường hợp trẻ bị từ chối những dịch vị và chính sách đáng
- Vai trò người tạo sự thay đổi; Vai trò là người tư vấn, người tham vấn
Trang 3633
- Vai trò người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng; người chăm sóc, trợ giúp; Vai trò người xử lý dữ liệu; Vai trò là người quản lý hành chính; Vai trò là người tìm hiểu, khám phá cộng đồng…
- Người kết nối, điều phối
Cán bộ quản lý trường hợp cần đánh giá phân tích nguồn lực của trẻ, gia đình
và nguồn lực bên ngoài (các cơ quan, tổ chức, ban ngành trong cộng đồng); Tìm hiểu và điều phối nguồn lực bên ngoài sao cho nguồn lực đó đến với trẻ kịp thời Khi các nguồn lực được nối kết Cán bộ quản lý trường hợp cần điều phối, giám sát
để các nguồn lực giúp đỡ trẻ không bị chồng chéo, gây lãng phí
- Người biện hộ
Để biện hộ có hiệu quả, cán bộ quản lý trường hợp cần nắm vững các nguyên tắc biện hộ; đảm bảo sự bình đẳng và công bằng; đây là kim chỉ nam cho hành động biện hộ để hướng tới việc bảo vệ quyền lợi của thân chủ, giúp họ tiếp nhận được các nguồn lực mà lẽ ra họ được hưởng nhưng lại chưa đựơc hưởng Người quản lý trường hợp cần lấy lợi ích và nhu cầu của thân chủ là yếu tố nền tảng để đàm phán thương thuyết với các cơ quan cung cấp dịch vụ Đảm bảo sự tham gia của thân chủ
và gia đình Biện hộ không có nghĩa là làm thay thân chủ mà cần thu hút họ vào hoạt động đàm phán thương thuyết để có được chính sách, dịch vụ Thu hút sự tham gia của thân chủ vào từ ngay khi thu thập thông tin, phân tích nhu cầu và đưa trình cho các cơ quan dịch vụ có chức năng Cần khích lệ họ tham gia tích cực vào quá trình biện hộ vì quyền lợi của chính họ Cán bộ quản lý trường hợp luôn luôn ý thức được rằng biện hộ của họ đóng vai trò hỗ trợ cho đối tượng tự đứng lên biện hộ cho chính mình Nguyên tắc này hướng tới việc trao quyền Người quản lý trường hợp
là những người đứng bên để ủng hộ, hỗ trợ để thân chủ tự giải quyết vấn đề của mình Tôn trọng các bên trước hết bảo vệ quyền lợi cho thân chủ trong khuôn khổ của luật pháp Biện hộ là làm việc đại diện cho thân chủ, đứng về phía thân chủ nhưng cũng không chống đối lại tổ chức mà chỉ là tìm ra một giải pháp hữu hiệu cho cả hai phía
Cán bộ quản lý trường hợp cũng cần nắm vững quy trình biện hộ:
Trang 3734
Chuẩn bị biện hộ cần xác định rõ biện hộ cho ai, vấn đề gì nổi cộm cần biện
hộ để xác định được chắc chắn nhu cầu biện hộ; người quản lý trường hợp nên trao đổi bàn bạc với một số đồng nghiệp, người chuyên môn để trao đổi về lời than phiền của trẻ; Trong một số trường hợp, cần báo cáo với người lãnh đạo
Cán bộ quản lý trường hợp phải tìm hiểu xem ai sẽ là người có sức mạnh làm thay đổi vấn đề Cách thức tiếp cận thực hiện biện hộ như thế nào Chính là các bước thực hiện quá trình biện hộ đảm bảo thành công
Nghiên cứu, thu thập thông tin, nhu cầu thân chủ và cơ sở cung cấp dịch vụ Xác định cách thức tiếp cận cơ sở cung cấp dịch vụ: nghiên cứu và tìm cách tiếp cận phù hợp với cơ sở cung cấp dịch vụ
Thực hiện các công việc chuẩn bị hành chính khác (như hẹn gặp, chuẩn bị tài liệu, liên hệ địa điểm, mời họp…)
Thực hiện biện hộ:
- Người quản lý trường hợp đến gặp trẻ, gia đình trẻ hay điều phối các cuộc họp nhóm, cũng cần gặp các cá nhân tổ chức có trách nhiệm để chuyển tải ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu của họ đến với nơi có thể giải quyết được Cán bộ quản lý trường hợp cố gắng vận động sự ủng hộ và sử dụng tối đa sự ủng hộ cho vấn đề biện hộ
- Người l p và lưu trữ hồ sơ
Lập và lưu trữ hồ sơ là hoạt động thể hiện tính chuyên nghiệp của tiến trình
quản lý trường hợp; Một hồ sơ tốt là hồ sơ: giúp chẩn đoán, lập kế hoạch hỗ trợ và
để theo dõi tiến trình can thiệp; Dùng để tham khảo tiến độ của ca và những quyết định trước đó; Giúp tổ chức sắp xếp dịch vụ hỗ trợ Đáp ứng yêu cầu pháp lý về lưu trữ hồ sơ khi những thông tin này cần tới cho những cơ quan liên quan về pháp lý
Là cơ sở để cán bộ quản lý trường hợp đánh giá tổng quan hoạt động trợ giúp
Một số nguyên tắc trong lưu trữ hồ sơ đối tượng:
Hồ sơ cần được lưu trữ cẩn thận trong tủ có khóa; đảm bảo tính bảo mật, có ghi mã số, để trong tủ có khoá, chỉ người có chức năng mới đựơc quyền xem hồ sơ của thân chủ (người kiểm huấn, cơ quan pháp lý )
Một số phương thức lưu trữ thông tin:
Trang 3835
- Ghi chép/ phúc trình: Ghi chép là việc cán bộ quản lý trường hợp ghi lại
những thông tin trong quá tình trao đổi với thân chủ trong các cuộc họp, trong quá trình làm việc với các cơ quan chức năng…
Việc ghi chép trong quá trình làm việc với thân chủ cần lưu ý: Ghi những gì cần thiết như phiếu đánh giá, phiếu tiếp nhận; Trong khi trao đổi nên hạn chế ghi bởi sẽ làm cho trẻ cảm thấy bối rối và người quản lý trường hợp sẽ bị chi phối sự tập trung chú ý tới trẻ; Nên ghi lại ngay sau buổi nói chuyện
- Ghi băng và ghi hình
Ghi băng và ghi hình có thuận lợi hơn so với ghi chép như lưu lại toàn bộ thông tin về đối tượng cả thông tin ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Tuy nhiên nó cũng
có nhiều hạn chế nên việc sử dụng cũng cần cân nhắc:
+ Cần phải có sự đồng ý của thân chủ, nếu họ không đồng ý thì không được sử dụng
+ Cách thức này khá tốn kém Mặt khác khi đối tượng biết là có thu hình ngay cả khi họ đồng ý họ cũng e ngại chia sẻ một cách toàn bộ
- Lưu các văn bản liên quan tới thân chủ
Các văn bản khác liên quan tới đối tượng như các giấy tờ về tình hình sức khoẻ, các giấy chứng nhận về giáo dục, tình trạng kinh tế, văn bằng giấy tờ của đối tượng, các giấy giới thiệu khi chuyển giao, giấy tờ liên quan tới pháp lý như toà án (nếu có), hình ảnh trẻ vẽ Những văn bản này đều cần được sắp xếp lưu trữ cẩn thận và phân loại theo chủ đề hay theo thời gian Nó có thể là văn bản hay chuyển tải sang hình thức thông tin điện tử tuỳ thuộc yêu cầu và trình độ thông tin mỗi địa phương
Hồ sơ đối tượng: Có thể bao gồm:
- Giấy tiếp nhận khi mới đến, giấy giới thiệu chuyển giao
- Giấy đánh giá thực trạng đối tượng, hoàn cảnh gia đình, tiến trình can thiệp (nếu
đã có)
- Các phiếu đánh giá sự thay đổi, đánh giá nhu cầu, mức độ tổn thương, kế hoạch trợ giúp
Trang 39Tóm lại, nhân viên xã hội có nhiều vai trò khi thực hiện chức năng của mình ứng với vị trí là người trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Họ có thể đảm nhiệm một hay nhiều vai trò tùy thuộc công việc được giao và vị trí được đảm nhiệm
1.2.5 Một số kỹ năng trong quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn