Vì vậy, hiện nay tỉ lệ trẻ em khuyết tật được học tại các trường, lớp theo mô hình hòa nhập còn thấp; việc tiếp cận các công trình công cộng của một bộ phận người khuyết tật còn nhiều kh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM THÚY
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ TÀN TẬT
MỒ CÔI THỊ NGHÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ
khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh” là đề tài nghiên cứu độc lập của riêng tôi,
được đưa ra dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè Các số liệu là trung thực và chưa được công bố tại các công trình nghiên cứu có nội dung tương đồng nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Kim Thúy
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ TÀN TẬT MỒ CÔI THỊ NGHÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 8
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 15
1.3 Công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật 20
1.4 Chức năng của dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật 23
1.5 Cơ sở pháp lý 27
Chương 2: THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ TÀN TẬT MÔ CÔI THỊ NGHÈ, THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH 38
2.1 Giới thiệu chung về trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị nghè 38 2.2 Thực trạng trẻ em khuyết tật tại Trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, thành phố Hồ Chí Minh 42
2.3 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, thành phồ hồ Chí Minh 45
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, thành phố Hồ Chí Minh 59
Chương 3: BIỆN PHÁP CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ TRẺ TÀN TẬT VÀ MỒ CÔI THỊ NGHÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 65
3.1 Định hướng bảo đảm thực hiện công tác xã hội với trẻ khuyết tật 65 3.2 Các biện pháp nâng cao dịch vụ công tác xã hội đối với Trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh 68
3.3 Khuyến nghị 74
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê số nhân viên và phụ huynh trả lời phỏng vấn 43
Bảng 2.2: Mức độ đáp ứng nhu cầu về chăm sóc, nuôi dưỡng 45
Bảng 2.3: Mức độ đáp ứng nhu cầu ăn, uống, dinh dưỡng 47
Biểu đồ 2.1 : So sánh mức độ đáp ứng nhu cầu của trẻ 60
Biểu đồ: 2.2: So sánh mức độ đáp ứng nhu cầu của trẻ 48
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“ Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” – Đó là khẩu hiệu mà các quốc gia
và cộng đồng quốc tế hướng tới nhằm mục đích chăm sóc, bảo vệ và phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia và nhân loại Thế nhưng, nhiều trẻ em khi sinh ra đã phải chịu những thiệt thòi khi mang trong mình những dị tật bẩm sinh vĩnh viễn không nghe được âm thanh của cuộc sống, không được ríu rít trò chuyện với những đứa bạn cùng trang lứa, hay không thấy ánh sáng của cuộc đời, v.v…
Trẻ khuyết tật là trẻ bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn Do đó, việc đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ bình đẳng, đúng pháp luật cho trẻ khuyết tật trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, vui chơi giải trí, v.v… là trách nhiệm của gia đình, cộng đồng xã hội và Nhà nước
Trong thời gian qua, có nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ trẻ khuyết tật, đó là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta trong việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho những số phận kém may mắn, thể hiện tính nhân đạo, nhân văn của chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng Với việc phê duyệt Đề án
hỗ trợ người tàn tật nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng giai đoạn
2006-2010 tại Quyết định số 239/2006/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt với sự ra đời và có hiệu lực của Luật người khuyết tật năm 2011 thì nhiều chính sách hỗ trợ người khuyết tật đã được triển khai thực hiện Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, gia đình, xã hội đối với người khuyết tật; quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật đã được quy định tương đối đầy đủ, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động trợ giúp người khuyết tật, góp phần cải thiện,
Trang 62
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đa số người khuyết tật Một số Bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ người khuyết tật trong các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, dạy nghề và tạo việc làm, khám chữa bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng,…
Trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, thành phố Hồ Chí Minh
là nơi tập trung trẻ tàn tật mồ côi Tại đây đã thực thi công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật Tuy nhiên trong thời gian qua, quá trình thực hiện công tác xã hội cho trẻ em khuyết tật còn nhiều bất cập Các quy định của pháp luật liên quan đến công tác xã hội với trẻ em khuyết tật còn thiếu và chưa đồng bộ, không cụ thể và chưa chú trọng nghiên cứu đề ra các biện pháp cụ thể trong việc tổ chức thực hiện công tác xã hội Vì vậy, hiện nay tỉ lệ trẻ em khuyết tật được học tại các trường, lớp theo mô hình hòa nhập còn thấp; việc tiếp cận các công trình công cộng của một bộ phận người khuyết tật còn nhiều khó khăn, trở ngại; còn tồn tại không ít trường hợp người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn chưa được hưởng chính sách trợ cấp, trợ giúp mặc dù có đủ điều kiện theo quy định; v.v… Để tất cả trẻ em khuyết tật trên địa bàn được thụ hưởng những ưu đãi, hỗ trợ mà Đảng, Nhà nước đã cam kết thì việc đánh giá lại công tác xã hội cho trẻ em khuyết tật để phát hiện những sai sót, bất hợp lí cũng như những khó khăn trong việc triển khai nhằm đưa ra biện pháp điều chỉnh, xử lí
là một đòi hỏi cấp thiết
Xuất phát từ thực tế nêu trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh” để làm đề tài luận văn thạc
sĩ của mình Tôi mong rằng công trình nghiên cứu của bản thân sẽ góp phần nhỏ bé vào việc hoàn thiện hơn nữa công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại
Trang 73
trung tâm bảo trợ xã hội trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung trong thời gian tới
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề thực thi chính sách cho người khuyết tật có liên quan tới nhiều
Bộ, ngành, nhiều địa phương, ở các lĩnh vực khác nhau như y tế, giáo dục, lao động việc làm,v.v… vì thế đã có một số công trình nghiên cứu của các tổ chức,
cá nhân liên quan đến vấn đề này Cụ thể:
Tác giả Nguyễn Thị Báo (2008), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học Luận án trên
đã tập trung phân tích, đánh giá sự hình thành, phát triển và thực trạng pháp luật về người khuyết tật; trên cơ sở đó đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở
hệ thống pháp luật về quyền của người khuyết tật ở nước ta hiện nay.[3]
Tác giả Phạm Xuân Trường trong luận văn thạc sĩ hành chính công về đề tài “Quản lý Nhà nước về việc làm cho người khuyết tật ở nước ta hiện nay” (2014) đã nghiên cứu sâu về vấn đề việc làm cho người khuyết tật Luận văn cũng đã chỉ ra những kết quả và tồn tại trong lĩnh vực lao động việc làm của người khuyết tật hiện nay Tuy nhiên luận văn mới chỉ dừng lại ở một chính sách cụ thể là lao động, việc làm và tác giả chọn hướng tiếp cận từ góc độ quản
lý nhà nước.[4]
Một số báo cáo về tình hình hỗ trợ người khuyết tật trong một số dự án ở nước ta cũng đánh giá về những thực trạng trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong thời gian vừa qua Các báo cáo đó là: Báo cáo năm
2011 về tình hình hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, Nxb Lao động - xã hội Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam (2013), Báo cáo năm 2012 về hoạt động trợ giúp người khuyết tật Việt Nam, Nxb Lao động - xã
Trang 84
hội Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2006 - 2010 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội năm 2008 [6]
Những Báo cáo trên đã nêu lên kết quả và hạn chế trong việc triển khai các chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật, đồng thời cũng đã chỉ ra được một
số vướng mắc trong quá trình triển khai chính sách Tuy nhiên, các báo cáo trên chưa tập trung phân tích sâu những tồn tại trong quá trình triển khai chính sách nên chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể, tập trung để giải quyết những tồn tại đó Mặt khác, các Báo cáo trên là tổng hợp tình hình trợ giúp người khuyết tật trên phạm vi cả nước nên không thể căn cứ vào đó để đánh giá và đề
ra giải pháp cho vấn đề chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn một tỉnh cụ thể
Nghiên cứu “Cuộc sống của trẻ em lang thang trên địa bàn Hà Nội” của
tác giả Nguyễn Thanh Bình được lấy kết quả từ điều tra xã hội học về trẻ em lang thang trên địa bàn Hà Nội vào tháng 3/2009 Nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát 126 trẻ em lang thang, trong đó có 48 em nữ và 78 em nam với các độ tuổi khác nhau từ 10 đến dưới 18 tuổi Nghiên cứu đi sâu theo hướng mô tả về thực trạng đời sống của trẻ em lang thang trên địa bàn thành phố Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỗ ở của trẻ em lang thang rất đa dạng, bao gồm mái ấm, nhà tình thương, nhà ở không mất tiền, nhà trọ, nhiều em phải ngủ tại bến xe, nhà
ga, số khác ngủ tại gia đình đang làm thuê Công việc của trẻ em lang thang thường là lao động chân tay, không yêu cầu trình độ và kiến thức Thu nhập của các em ở mức thấp và không ổn định Chi tiêu của trẻ em lang thang chủ yếu cho những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống ở mức thấp và tiết kiệm Cuộc sống của các em rất thiếu thốn, khó khăn Hoàn cảnh gia đình không được bình thường; trình độ học vấn thấp; các em dễ bị ảnh hưởng của các tệ nạn xã hội Tác giả đã
Trang 93.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với cho trẻ khuyết tật
- Khảo sát, đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số biện pháp cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với cho trẻ khuyết tật tại trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Biện pháp cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 106
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác xã hội cho trẻ khuyết tật từ thực tiễn trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 2011 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về chính sách cho người khuyết tật và việc thực thi chính sách cho người khuyết tật
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bởi các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp
để xử lí tài liệu thu thập được, so sánh thông qua các bảng số liệu và tham khảo các nguồn tài liệu để làm rõ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận
về trẻ khuyết tật và công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật Luận văn chỉ ra những thực trạng công tác xã hội cho trẻ khuyết tật từ thực tiễn trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội cho trẻ khuyết tật từ thực tiễn trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè, Thành phố Hồ Chí Minh
Đối với gia đình trẻ khuyết tật: Gia đình trẻ khuyết tật được Đảng và Nhà nước quan tâm bằng việc trợ cấp, trợ giúp đối với Người nuôi dưỡng trẻ khuyết tật đồng thời cũng đề cao trách nhiệm của gia đình trong việc chăm sóc
và trợ giúp trẻ khuyết tật Gia đình trẻ khuyết tật được biết thêm những thông
Trang 117 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục Bảng Biểu, Sơ đồ, Danh mục Chữ viết tắt và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 3 chương, 16 tiết như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật, mồ côi
Chương 2: Thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật,mồ côi Thị Nghè
Chương 3: Biện pháp cung cấp dịch vụ công tác xã công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm bảo trợ trẻ tàn tật và mồ côi Thị Nghè
Trang 12- Hệ thống: là bất cứ đơn vị, tổ chức nào có những giới hạn xác định được với những bộ phận tương tác, những đơn vị, tổ chức này có thể mang tính vật chất, tính xã hội, mang tính kinh tế hoặc mang tính lí luận Nói cách khác, hệ thống là tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống Tiểu hệ thống là
hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ Các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các ranh giới Đồng thời hệ thống đó cũng là một bộ phận của hệ thống lớn hơn
- Bản thân mỗi cá nhân cũng là một hệ thống và hệ thống cá nhân này lại bao gồm các tiểu hệ thống như: hệ thống sinh lý, hệ thống nhận thức, hệ thống tình cảm, hành động và các hệ thống phản ứng
- Theo Pincus và Minahan (năm 1970) thì hệ thống mà nhân viên CTXH làm việc là những hệ thống rất đa dạng: gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội, môi trường văn hoá mà con người hiện đang tồn tại Ví dụ: đối với học sinh đang ở độ tuổi vị thành niên, hệ thống được chia thành ba hình thức chính bao
Trang 139
gồm: (1) Hệ thống phi chính thức: gia đình, bạn bè (2) Hệ thống chính thức: trường học (3) Hệ thống xã hội: các tổ chức xã hội
Các hệ thống luôn có sự tác động lên các cá nhân Có thể đó là sự tác động tích cực hoặc tiêu cực Tuy nhiên sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối vì với
cá nhân này hệ thống trợ giúp có thể là hệ thống chính thức nhưng với cá nhân khác lại là hệ thống xã hội Vì thế cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối Hoặc có thể đối với cá nhân một là hệ thống chính thức, nhưng đối với cá nhân khác đó lại là
hệ thống xã hội
1.1.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Thuyết hệ thống sinh thái dựa trên quan điểm của Germain & Gitterman và Germain (1980) cho rằng con người ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng tới môi trường Ngược lại môi trường cũng ảnh hưởng đến con người
Nguyên tắc cơ bản của sinh thái là mỗi cơ thể sống có quan hệ qua lại liên túc với các thành phần khác tạo nên môi trường của chúng (những hệ thống sinh thái là một khoa học khác với khoa học môi trường)
Lý thuyết hệ thống sinh thái được coi như là mô hình về cuộc sống Mô hình này chủ yếu được xây dựng trên lý thuyết sinh thái Mô hình này còn có tên gọi là
“con người trong môi trường” (Person In Environment PIE), trong đó người ta tác động lẫn nhau và tác động vào môi trường sống Mục tiêu của CTXH là làm thế nào để con người phù hợp với môi trường sống của họ
Vận dụng lý thuyết hệ thống và sinh thái trong nghiên cứu, giúp tác giả đưa
ra một số định hướng sau: Thứ nhất, người nghèo ở tại địa bàn nghiên cứu là một
hệ thống nằm trong những hệ thống khác lớn hơn như: Hệ thống các làng, xã; các
cơ quan đoàn thể, hội; hệ thống các chính sách có liên quan đến người nghèo
và chịu sự tác động của những hệ thống đó Vì vậy, khi trợ giúp người nghèo nhân viên công tác xã hội cần tác động và huy động sự trợ giúp từ nhiều hệ thống
Trang 1410
để tạo sức mạnh cho người nghèo có tiềm lực vươn lên thoát nghèo, chẳng hạn: huy động sự trợ giúp từ hệ thống chính sách liên quan đến vốn tín dụng, chính sách liên quan đến bảo hiểm y tế, sự hỗ trợ từ hội phụ nữ, hội thanh niên Tuy nhiên, tùy vào khả năng của từng hộ gia đình và năng lực của từng cá nhân mà khả năng tiếp cận của họ đối với các hệ thống trợ giúp là khác nhau Do đó, khi làm việc với thân chủ, nhân viên công tác xã hội cần có những cách thức tiếp cận
và hỗ trợ khác nhau Thứ hai, người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng
xa nên ít có cơ hội tiếp xúc với các hệ thống khác, có xu hướng giữ vững những gì trong hệ thống sẵn có, ít tiếp thu, chịu ảnh hưởng từ các hệ thống bên ngoài khác
Do đó giữa các hệ thống ít có sự trao đổi với nhau, có cũng là một phần nguyên nhân khiến vấn đề nghèo đói tồn tại dai dẳng ở cộng đồng người dân tộc thiểu số
Thứ ba, môi trường sống cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống và
khả năng thích nghi của những hộ nghèo Môi trường ở đây xét theo góc độ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Chính vì vậy, để trợ giúp các hộ nghèo, nhân viên công tác xã hội cần quan tâm đến việc tạo ra sự thay đổi về môi trường sống của các hộ nghèo Chẳng hạn, giúp người nghèo cải thiện về môi trường không bị ô nhiễm; cải thiện việc thực hiện các chính sách hỗ trợ; tư vấn để hỗ trợ vốn, đất sản xuất cho hộ nghèo.v.v
1.1.3 Cách tiếp cận dựa trên lý thuyết nhận thức hành vi
Đại biểu của trường phái này là A.Ellis (1913-1970), Sheldon, và Beck Trong Công tác xã hội, nếu như nhận thức là cách nhìn nhậ của một người về một vấn đề nào đó theo hai chiều hướng tích cực hoăc tiêu cực thì trị liệu nhận thức là phương pháp tác động vào thân chủ làm thay đổi nhận thức tiêu cực của
họ
Theo các nhà hành vi thì hành vi của con người là một cách trả lời, ứng xử với một tác nhân kích thích tương ứng Nhưng trên thực tế thì hành vi của con
Trang 1511
người còn phức tạp hơn nhiều chứ không phải đơn thuần là do những tác nhân kích thích Những nhà tâm lý học cho rằng con người có suy nghĩ rất phức tạp không thể quan sát và những suy nghĩ này có ảnh hưởng vô cùng lớn đến hành
vi của các nhân Họ cho rằng nhận thức sai lầm là tâm điểm của những hành vi sai lầm Muốn thay đổi hành vi sai lầm, phải tạo ra một mô hình nhận thức mới hợp lí
Trị liệu nhận thức là một trường phái tư tưởng với chủ đề chính tập trung xung quanh khái niệm tư duy Sự tư duy của cá nhân được định hình bởi
xã hội và hoàn cảnh trực tiếp của người ấy Trên chiều cạnh này tư duy quyết định cảm xúc lẫn hành vi Như vậy việc thực hiện chức năng xã hội của một cá nhân bị khiếm khuyết thì có nghĩa là tư duy của người ấy không hoàn hảo Chính vì vậy, hành vi của con người thay đổi thì phương thức tư duy cũng phải thay đổi theo Do vậy, muốn biến đổi hành vi bất thường, phải tạo ra mô hình nhận thức mới hợp lí Như vậy vận dụng lí thuyết này vào hoạt động xóa đói giảm nghèo NVXH phải giúp cho mọi người trong cộng đồng nhận ra những suy nghĩ không phù hợp của họ sau đó đưa ra những liệu pháp nhằm tạo ra những mô hình nhận thức mới tích cực hơn từ đó sẽ tạo những hành vi đúng đắn tương ứng
Vận dụng lý thuyết nhận thức hành vi vào trong hoạt động xóa đói giảm nghèo: một trong những yếu tố quyết định đến việc giải quyết vấn đề nghèo đói
đó chính là yếu tố con người Bản thân đối tượng có muốn thoát nghèo hay không, hay là họ an phận ở lại cùng với nghèo đói để nhận được những nguồn lực
hỗ trợ từ các chính sách của nhà nước Có rất nhiều những dự án của nhà nước, các tổ chức phi chính phủ nhằm hướng tới sự thoát nghèo cho người dân như các
dự án về hỗ trợ về vốn, tín dụng Nhưng trên thực tế thì hiều quả mang lại của các
dự án này vô cùng hạn chế và cái nghèo vẫn dai dẳng bám theo người dân Nguyên nhân chính là đối tượng thụ hưởng không biết sử dụng nguồn vốn đã
Trang 1612
được vay ưu đãi vào trong hoạt động sản xuất, phát triển sinh kế Hình thức sử dụng vốn phổ biến của họ là vay để ăn dần hoặc cho người khác vay lại để hưởng chênh lệch phần trăm lãi suất, thậm chí vay vốn rồi cất vốn đi đến kì hạn mang đi trả
Xét về mặt lý thuyết hoạt động trợ giúp của công tác xã hội là cho “cần câu” chứ không cho “cá” Trên thực tế hoạt động trợ giúp như vậy chưa mang lại kết quả cao và triệt để Bởi vì họ có “cần câu” rồi nhưng họ không biết “câu” như thế nào Do vậy, ngoài việc cho “cần câu” NVCTXH còn phải dạy cho họ cách “câu”, cùng với sự nỗ lực, lòng kiên nhẫn để chờ đợi thành quả
Đối với người dân tộc thiểu số (tại địa bàn nghiên cứu) việc thay đổi nhận thức cho họ là vô cùng quan trọng và tương đối khó khăn Vì từ khi họ sinh ra sống trong một cuộc sống khó khăn, nghèo khó, và họ đã quen với cuộc sống như vậy, đó là điều bình sinh đối với họ Do đó, muốn thoát nghèo hiệu quả, bền vững thì NVXH phải tạo cho họ một ý chí, niềm tin thoát nghèo, vượt qua hoàn cảnh hiện tại Chỉ khi nào họ nhận thức thực sự sâu sắc về những thiệt thòi của mình do nghèo đói mang lại khi đó họ mới nỗ lực, tự thân, tìm kiếm nguồn lực để thoát nghèo, cộng với sự giúp đỡ từ bên ngoài (NVXH, các chính sách xã hội) hỗ trợ thì khi đó hoạt động xóa đói giảm nghèo cho người dân mới mang lại hiểu quả cao, bền vững
1.1.4 Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu Theo Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự
Trang 1713
bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn Sự thoả mãn nhu cầu của con người cũng theo các bậc thang đó Khi con người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến tới thoả mãn các nhu cầu cấp cao hơn:
Nhu cầu cơ bản:bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người đây là các
nhu cầu phục vụ cho mục đích sinh tồn như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục,…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn
Nhu cầu về an toàn: Nhu cầu an toàn này thể hiện ở mặt thể chất và tinh
thần Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gây hấn, đe dọa…
Nhu cầu về xã hội:Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn
thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương Nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh
Nhu cầu tôn trọng:Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể
hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, sự tự tin vào khả năng của bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho con người có suy nghĩ tích cực hơn, cảm thấy tự tin hơn
Nhu cầu được phát triển: Nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là
chính mình, được làm những cái mà mình muốn Nói một cách đơn giản hơn,
Trang 1814
đây chính là nhu cầu được phát huy hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để đạt được các thành quả trong xã hội
Theo A.Maslow ông cho rằng việc thỏa mãn các nhu cầu ở bậc thấp (bậc
cơ bản) thì cá nhân mới nảy sinh các nhu cầu ở bậc cao hơn Do đó, trong hoạt động xóa đói giảm nghèo NVCTXH phải hết sức lưu ý rằng việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản là rất cần thiết, nó tạo tiền đề để phát triển nhu cầu cao hơn
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu chúng tôi tìm hiểu nhu cầu của những hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu theo năm bậc thang về nhu cầu Từ đó xem xét các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A.Maslow Trong các hoạt động công tác xã hội với nghèo NVCTXH luôn phải lấy thuyết nhu cầu của A.Maslow làm kim chỉ nam cho các hoạt động của mình Phải hướng các hoạt động của mình vào các nhu cầu của người nghèo và đáp ứng được các nhu cầu của họ Chỉ khi nào người nghèo thấy được lợi ích, thấy được các nhu cầu, mong muốn của bản thân được đáp ứng, được đảm bảo thì khi đó họ mới chủ động tham gia vào tiến trình hoạt động thay đổi Khi nhu cầu cấp thấp được đáp ứng sẽ nảy sinh nhu cầu cấp cao hơn, chủ thể sẽ tiến hành hành động để đáp ứng các nhu cầu của bản thân Đó là động lực cho phát triển
1.1.5 Tiếp cận dựa trên quyền trẻ em
Tiếp cận dựa trên quyền của trẻ là cách tiếp cận cung cấp các dịch vụ đảm bảo trẻ em được thực hiện đầy đủ các nhóm quyền của trẻ em Trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thì quyền trẻ em bao gồm 10 nhóm quyền cơ bản: Quyền được khai sinh và có quốc tịch; Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; Quyền được sống chung với cha mẹ; Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, than thể,
Trang 1915
nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền được học tập; quyền được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịc; Quyền được phát triển năng khiếu; Quyền được có tài sản; Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia các hoạt động xã hội Theo công ước Liên hợp quốc thì quyền trẻ em được chia làm 4 nhóm quyền cơ bản là: Quyền được sinh tồn; quyền được bảo vệ; quyền được phát triển; quyền được tham gia
Việc tiếp cận dựa trên quyền sẽ giúp đảm bảo quyền của trẻ em nhóm yếu thế được quan tâm thực thi nhiều hơn Như vậy sẻ mang lại sự công bằng trong xã hội
Từ đó sẽ góp phần vào việc tang cường sức mạnh cho các tổ chức địa phương, cộng đồng và các nhóm Đây là nền tảng cho sự phát triển bền vững.[28, tr.138]
1.2 Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm trẻ khuyết tật
Theo Công ước về quyền của người khuyết tật được định nghĩa như sau:
“ Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.”
Ở một số quốc gia, người khuyết tật được hiểu là người: “mất khả năng
về nhìn, nghe, nói hoặc về thể chất, mất khả năng về trí não, rối loạn tâm thần, khuyết tật bị đa tật hoặc các dạng khuyết tật khác”
Ở Mỹ định nghĩa người khuyết tật “là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”
Ở Việt Nam, theo pháp lệnh về người tàn tật ban hành năm 1998 khái niệm
về người tàn tật như sau: “Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật
là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện
Trang 2016
dưới những dạng tàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn.”[15, tr.2]
Luật người khuyết tật được ban hành năm 2010 thay thế cho Pháp lệnh
về người khuyết tật 1998, theo đó Luật chính thức sử dụng khái niệm “người tàn tật” cho phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn
Trẻ có thể bị khuyết tật ở những bộ phận và chức năng khác nhau, với mức độ khác nhau rất đa dạng Tuy nhiên có thể tạm chia ra thành 2 nhóm
Trang 2117
khuyết tật Thứ nhất là nhóm trẻ bị khuyết tật về các bộ phận trên cơ thể con người gây tổn thương về tai, mắt, chân, tay…với những biểu hiện như khiếm thính, khiếm thị hay khuyết tật vận động… Thứ hai, nhóm trẻ khuyết tật về trí tuệ do bị tổn thương ỏ não bộ, gây khó khăn trong việc nhận thức và hoạt động nhận thức với các biểu hiện như động kinh, bại não hay hay rối loạn tâm thần như (tự kỷ, tăng động giảm chú ý, trầm cảm…)
Như vậy trẻ em khuyết tật nói chung rất đa dạng về hình thức và phong phú
về mức độ biểu hiện; còn khuyết tật trí tuệ nói riêng là một khái niệm rộng
* Phân loại trẻ khuyết tật
Bại não: Là rối loạn vận động và tư thế do tổn thương ở não bộ gây ra Bại não không diễn tiến nặng hơn nhưng lại có nhiều biến chứng như co rút các khớp, vẹo cột sống, bệnh lý do nằm lâu: loét da, viêm phổi…
Các kiểu bại não: -Bại não gồng cứng tứ chi
- Bại não yếu liệt nửa người
- Bại não gồng cứng 2 chi dưới
- Bại não múa vờn
- Bại não thất điều( mất thăng bằng)
- Bại não dạng phối hợp
Trị liệu: Tập vật lý trị liệu để giúp phát triển vận động và ngăn ngừa các biến chứng
Gíao dục đặc biệt: nếu trẻ có chậm phát triển trí tuệ đi kèm theo
Điều trị bằng thuốc trong một số trường hợp như có động kinh đi
kèm, gồng cứng quá nhiều…
Trang 2218
Hội chứng Down: Là hội chứng do có 3 nhiễm sắc thể 21 trong các tế bào gây ra ( bình thường mỗi tế bào chỉ có 2 NST 21), các trẻ bị hội chứng Down có biểu hiện bên ngoài gần giống nhau: trán rộng, gáy phẳng,mắt xếch Mông cổ….thường là trẻ chậm phát triển trí tuệ theo những mức độ khác nhau,
có trẻ có khả năng ngôn ngữ, có trẻ không, có trẻ bị chậm phát triển cả vận động
Về tâm lý: trẻ bị hội chứng Down là trẻ dễ giao tiếp, nhiều tình cảm, thích ôm ấp, thích khen ngợi nhưng lai là những trẻ đôi khi bướng bỉnh và thích biểu lộ quyền hành với trẻ khác
Trẻ bị hội chứng Down thường hay có các bệnh lý khác đi kèm như: Bệnh tim bẩm sinh, Viêm Ami-đan phì đại, viêm kết mạc, tắc tuyến lệ, bệnh da: da khô…
Trị liệu: giáo dục đặc biệt
Khám bệnh để phát hiện các bệnh lý đi kèm để kịp thời xử lý: Ví dụ, nếu trẻ có bệnh tim bẩm sinh thì nên khám để được mổ sớm
Là các trẻ có khả năng học tập kém, hiểu kém, kỹ năng tự phục vụ kém,
kỹ năng xã hội kém
Các trẻ này thường thụ động, dễ bị e thẹn, khả năng chú ý và tập trung kém, hay lăng xăng không biết giới hạn và đôi khi dễ nổi nóng
Hướng trị liệu: Gíao dục đặc biệt
Hỗ trợ hoặc trị liệu tâm lý đối với các trường hợp có nhiều hành vi khó khăn, thách đố Dạy nghề để tạo cơ hội hòa nhập tùy theo khả năng của trẻ
Trẻ tự kỷ: Là những trẻ bị mất hoặc suy kém khả năng liên hệ và giao tiếp với người khác, trẻ này thường không nhìn người khác, tránh các giao tiếp, ngôn ngữ kém ( không nói, nói ít hoặc nói các từ vô nghĩa), trẻ có các hành
Trang 2319
động lập đi lập lại: gật gù, lắc lư thân người, xoay người, chơi tay, lắc tay…và nhiều khi chống lại các thay đổi: ví dụ: trẻ chỉ thích đi một con đường, hay chỉ thích xem một chương trình tivi, hay thích sắp xếp đồ đạc theo một thứ tự nào
đó, nếu chỉ cần thay đổi các trật tứ này là trẻ sẽ lên cơn nổi giận la hét tự đánh mình hay đánh người khác
Trị liệu: Gíao dục đặc biệt
Hành vi liệu pháp : Phương pháp phân tích hành vi áp dụng ( ABA) Trẻ bị di chứng sốt bại liệt: Thường bị teo cơ một bên hoặc hai bên kèm theo yếu cơ, các trẻ này vẫn có khả năng về trí tuệ, nhưng cũng thường bị thiếu
tự tin, mặc cảm do bị khuyết tật, do bị giới hạn trong vận động
Trị liệu: Tập vật lý trị liệu, mang giày nẹp tùy trường hợp, ngăng ngừa các biến chứng vẹo cột sống, hỗ trợ về tâm lý: Gia tăng lòng tự tin, nhìn nhận tốt về hình ảnh bản thân, đươc hỗ trợ nghề nghiệp phù hợp
Trẻ bị khiếm thính: Có thể mất khả năng nghe hoàn toàn hay còn một phần, nếu sự suy kém thính giác xảy ra sớm, trẻ sẽ có khó khăn về ngôn ngữ, do sự giới hạn trong việc tiếp nhận thông tin nên trẻ cũng khó khăn trong việc diễn đạt, kèm theo bị đối xử phân biệt điều này dễ làm cho trẻ ấm ức khó chịu
Trị liệu: Gíao dục đặc biệt dành cho trẻ khiếm thính, máy trợ thính
Trẻ khiếm thị: Có thể không nhìn thấy hoàn toàn hay còn nhìn thấy một phần.Do bị giới hạn tiếp nhận thông tin qua thị giác nên cũng làm cho trẻ bị giới hạn trong việc tương tác với môi trường Các trẻ này thường có khả năng tốt về thính giác và khối hình tri giác( có khả năng âm nhạc và khả năng nhận biết hình dạng đồ vật thông qua cảm giác lòng bàn tay)
Trị liệu và hỗ trợ: Chữ nổi, từ điển sách nói, âm nhạc, gia tăng lòng tự tin, đánh giá đúng giá trị bản thân, nghề nghiệp phù hợp
Trang 2420
1.3 Công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
1.3.1 Khái niệm công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
Là hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng, ở đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ trẻ em giải quyết những vấn đề về nội tâm – tâm lý, quan hệ giữa trẻ em với mọi người xung quanh, với xã hội, môi trường thông qua các mối quan hệ mặt đối mặt Từ đó giúp trẻ em hòa nhập với xã hội,
có điều kiện sống tốt hơn và phát triển hoàn thiện cả về thể chất lẫn tinh thần
CTXH trong trợ giúp cho trẻ khuyết tật chính là đánh giá nhu cầu về khía cạnh xã hội của đối tượng; đồng thời đóng vai trò là người quản lý trường hợp, hỗ trợ trẻ khuyết tật tiếp cận những dịch vụ phù hợp, duy trì tiếp cận một loạt các dịch vụ phối hợp tốt nhất trong trường hợp cần thiết,nhân viên CTXH cũng cung cấp hỗ trợ tâm lý cho trẻ khuyết tật và gia đình của họ Như vậy, bằng những kiến thức, kỹ năng và phương pháp, nhân viên CTXH đã trợ giúp
cá nhân, gia đình, cộng đồng người khuyết tật, phục hồi các chức năng xã hội
bị suy giảm
Trong những đối tượng cần hỗ trợ, sự giúp đỡ của nhân viên CTXH thì trẻ khuyết tật là một nhóm cần được sự quan tâm, trợ giúp đặc biệt Việc trợ giúp của nhân viên CTXH đối với trẻ khuyết tật được xem là một lĩnh vực của người làm CTXH CTXH nhấn mạnh đến tác động vào hệ thống chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật như: gia đình trẻ khuyết tật; nhà trường, cơ quan, đoàn thể; cộng đồng mà họ sinh sống, làm việc cũng như chính sách của nhà nước dành cho trẻ khuyết tật
Bên cạnh đó, CTXH còn thúc đẩy môi trường xã hội bao gồm: chính sách, pháp luật, cộng đồng thân thiện để giúp trẻ khuyết tật hòa nhập xã hội và phát huy tốt chức năng của họ Đội ngũ nhân viên CTXH đóng vai trò rất quan
Trang 2521
trọng, là người biện hộ để cá nhân, gia đình trẻ khuyết tật được hưởng các chính sách an sinh xã hội dành cho họ Trên cơ sở đó, giúp người khuyết tật nâng cao chức năng của mình
Từ định nghĩa về CTXH chúng ta có thể hiểu : “CTXH với NKT tật là họat động chuyên nghiệp của nhân viên CTXH giúp đỡ NKT tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội”
1.3.2 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
Dịch vụ xã hội (DVXH): là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho
các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội Bên cạnh cách hiểu trên, một cách hiểu khác nhìn từ vai trò của người cung cấp dịch vụ và đối tượng khách hàng cho rằng: DVXH là các dịch vụ do nhà nước, tập thể cung cấp cho thành viên xã hội Tuy nhiên, cách hiểu này ít nhiều “máy móc”, thiếu tính bao quát và cũng không phổ biến DVXH cho nhóm yếu thế là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế
Dịch vụ CTXH đối với trẻ em gồm cung cấp chỗ ở, thức ăn, bảo vệ trẻ
em, cho đi học,, khám chữa bệnh, hoạt động vui chơi giải trí, quản lý ca, chăm sóc thay thế và hỗ trợ tâm lý Trên thế giới, việc bảo vệ chăm sóc trẻ em được thực hiện bởi những trung tâm CTXH , cơ sở trợ giúp trẻ em và một phần ủy quyền cho các tổ chức phi chính phủ như mô hình trị liệu tập trung hướng tới gia đình và Mô hình hướng tới an sinh trẻ em Việt Nam có mô hình chăm sóc
Trang 2622
tập trung tại các cơ sở bảo trợ xã hội, Mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng,
mô hình nhà xã hội, mái ấm, nhà mở và mô hình chăm sóc thay thế dành cho trẻ em mồ côi không nơi nương tựa của nhà nước và các tổ chức nước ngoài Khi thực hiện hoạt động CTXH đối với trẻ em thì cần đảm bảo các quyền lợi cơ bản cho trẻ là quyền được sống còn, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được học tập,quyền được vui chơi, giải trí…
Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật ?
Dịch vụ CTXH trong trợ giúp trẻ khuyết tật chính là đánh giá nhu cầu của đối tượng; đồng thời hỗ trợ trẻ khuyết tật tiếp cận các dịch vụ một cách tốt nhất Nhân viên CTXH thực hiện các hoạt động như giáo dục phòng ngừa, tập huấn, cung cấp kiến thức cho gia đình, người thân chăm sóc trẻ khuyết tật để giúp đối tượng có khả năng tự chăm sóc, qua đó giúp trẻ tự tin hơn trong cuộc sống Thông qua việc cung cấp các dịch vụ xã hội như: chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tâm lý…nhân viên CTXH sẽ giúp trẻ khuyết tật tiếp cận các dịch vụ để giải quyết vấn đề của bản thân
Vai trò của nhân viên CTXH là người hỗ trợ, giúp trẻ giải quyết vấn đề, giáo dục, tâm lý, pháp luật, kết nối nguồn lực thông qua việc thực hiện các chính sách, chương trình và các công việc cụ thể
1.3.3 Các nguyên tắc trong công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
CTXH đối với trẻ em là một lĩnh vực của CTXH, vì vậy khi thực hiện các hoạt động CTXH đối với trẻ em cũng cần tuân theo các nguyên tắc của CTXH Các nguyên tắc trong CTXH đối với trẻ em bao gồm:
Nguyên tắc chấp nhận trẻ, tức là cho dù trẻ là ai, ở hoàn cảnh nào hay có hành vi gì người làm CTXH với trẻ cần chấp nhận trẻ như vốn dĩ con người của trẻ
Trang 2723
Nguyên tắc trẻ cùng tham gia giải quyết vấn đề, CTXH là hoạt động giúp than chủ tự giúp vì vậy việc để trẻ cùng tham gia giải quyết vấn đề là cần thiết
để trẻ hiểu vấn đề, hiểu bản thân mình
Nguyên tắc quyền tự quyết của trẻ Mỗi cá nhân đều có quyền tự quyết định và định đoạt những gì liên quan đến bản thân theo quy định của pháp luật, trẻ em cũng có quyền tự quyết các vấn đề của chúng Nhân viên CTXH cũng cần lưu ý đối với các trẻ em còn nhỏ nếu chưa đủ năng lực nhận thức, và độ tuổi để đưa ra các quyết định thì cần có sự giám hộ của người than, hay người đại diện hợp pháp của trẻ
Nguyên tắc cá biệt hóa, mỗi trẻ là một cá nhân riêng biệt Có thể nhiều trẻ cùng vấn đề nhưng mỗi trẻ là khác nhau, vì vậy khi làm việc với trẻ nhân viên CTXH cần lưu ý là phải linh hoạt Không để đồng nhất các cách tiếp cận, làm việc hay giải quyết các vấn đề từ trẻ này sang trẻ khác
Nguyên tắc giữ bí mật, khi làm việc với thân chủ là trẻ em thì mọi thông tin liên quan đến trẻ cần được giữ bí mật Việc giữ bí mật giúp trẻ cảm thấy được sự tin tưởng Nhân viên CTXH có thể nói ra các thông tin này khi trẻ đồng ý, hoặc các thông tin liên quan đến pháp luật và ảnh hưởng đến sự an toàn của trẻ
Ngoài ra khi làm việc với trẻ, nhân viên CTXH cần ý thức về bản thân, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với trẻ để trẻ tin tưởng, và mang lại kết quả khi làm việc
1.4 Chức năng của dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
1.4.1 Chức năng của dịch vụ công tác xã hội
Dịch vụ xã hội cung cấp và hỗ trợ thông qua các dịch vụ đặc thù giúp các công dân trong xã hội có thể xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn bằng sự độc lập
Trang 2824
về kinh tế, sự khẳng định quyền con người được hòa nhập và tham gia vào thị trường lao động cũng như các hoạt động cộng đồng, xã hội Các DVXH phổ biến là:
- Tạo điều kiện cho những người thuộc nhóm thu nhập thấp có việc làm
và tham gia vào các hoạt động sản xuất tạo thu nhập có thể đáp ứng được nhu cầu tối thiểu và duy trì được sự độc lập về tài chính;
- Các DVXH giúp cho các đối tượng yếu thế trở nên bình đẳng và có thể đóng góp và hoà nhập cao nhất đối với gia đình, cộng đồng và xã hội;
- Thúc đẩy tính trách nhiệm và mối quan hệ gắn kết giữa gia đình và các thành viên và bảo đảm gia đình thành chỗ dựa an toàn nhất cho các đối tượng yếu thế;
- Trẻ em thuộc những gia đình không có khả năng chăm sóc có thể nhận được sự giúp đỡ từ cộng đồng, xã hội;
- Cung cấp các dịch vụ về nhà ở với tiêu chuẩn đáp ứng được điều kiện tối thiểu về chất lượng cuộc sống;
- Giúp người tàn tật có khả năng sống độc lập hơn và tham gia một cách tích cực trong các hoạt động kinh tế cũng như hoạt động cộng đồng;
- Thúc đẩy việc chăm sóc sức khoẻ và gắn kết các chủ thể với các nguồn lực;
- Tạo ra các dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm lý cho các đối tượng;
- Giúp đối tượng tiếp cận với các kênh thông tin các hoạt động hoà giải, biện hộ
1.4.2 Nội dung Các dịch vụ công tác xã hội với trẻ em khuyết tật
Trong CTXH đối với trẻ em bao gồm bảo vệ trẻ em và chăm sóc trẻ em, tuy nhiên căn cứ trẻn tình hình thực tế trẻ khuyết tật đang được chăm sóc, điều
Trang 2925
trị, giáo dục phục hồi tại Trung tâm có hoạt động CTXH chủ yếu tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật được chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị phục hồi, giáo dục và tổ
chức các hoạt động vui chơi giải trí cho trẻ khuyết tật
Việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc, nhà ở….mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực
Hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng là việc thực hiện các hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu về mặt sinh lý, sinh tồn, tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ phát triển về mặt thể chất cho trẻ bao gồm hoạt động ăn, ở, nước sạch, vệ sinh cá nhân và y tế Các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khuyết tật qua các hoạt động trên nhằm xem xét các điều kiện có đảm bảo cuộc sống và sự phát triển của trẻ khuyết tật
Ăn: số lượng bữa ăn trong ngày, mức độ đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng,
an toàn vệ sinh thực phẩm và có phù hợp với tình trạng khuyết tật cũng như lứa tuổi của trẻ
Ở: Số lượng trẻ ở trong khoa, cách bố trí trẻ, mức độ đảm bảo an toàn và thoải mái trong sinh hoạt và học tập vui chơi
Vệ sinh cá nhân: thời gian trẻ khuyết tật được cung cấp đồ dùng sinh hoạt
và chăm sóc bản thân
Nước sạch: Trẻ khuyết tật có được sử dụng nước sạch cho việc ăn, uống, tắm rữa, giặt cũng như sinh hoạt hàng ngày một cách đầy đủ không?
* Dịch vụ y tế:
Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng
về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng
Trang 30và các chương trình ngoại khóa
Việc tìm hiểu các hoạt động CTXH cung cấp các dịch vụ giáo dục sẽ đảm bảo cho trẻ có quyền được tham gia học tập, mức độ đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ khuyết tật
Vai trò của nhân viên CTXH là người giáo dục, hướng dẫn trẻ học, hỗ trợ
và tổ chức học tập cho trẻ
Cách tổ chức hoạt động,, mức độ đáp ứng được nhu cầu của trẻ, thuận lợi
và khó khăn và các yếu tố tác động khi tổ chức thực hiện việc học tập
* Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin:
Đây là loại hình dịch vụ xã hội rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao,… nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt
Trang 3127
Hoạt động vui chơi, giải trí là việc tổ chức và tạo điều kiện để trẻ tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, hoạt động thể dục, thể thao giúp trẻ giao lưu và tạo điều kiện cho trẻ được hòa nhập với xã hội và phát triển
Tìm hiểu hoạt động vui chơi, giải trí để trẻ có điều kiện tham gia hoạt động vui chơi giải trí và mức độ đáp ứng nhu cầu của trẻ
Cơ sở vật chất tổ chức các hoạt động vui chơi, trò chơi và trang thiết bị tổ chức trò chơi
Thời gian tổ chức: Tết Nguyên Đán, Tết Thiếu nhi, Tết Trung thu, Nôel Vai trò của nhân viên CTXH là người tổ chức, hỗ trợ, điều phối, kết nối các nguồn lực với các cá nhân và tổ chức tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí
Cách tổ chức hoạt động, mức độ đáp ứng được nhu cầu của trẻ, thuận lợi
và khó khăn và các yếu tố tác động khi tổ chức thực hiện hoạt động vui chơi, giải trí
1.5 Cơ sở pháp lý
Công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật được Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 6/12/2006 và có hiệu lực từ ngày 3/5/2008 là công cụ đầu tiên bảo vệ toàn diện quyền của người khuyết tật, và là văn bản quốc tế chính thức khẳng định vị thế và quyền hợp pháp của những người khuyết tật và nghĩa vụ của các quốc gia tham gia Công ước này có ý nghĩa đặc biệt khi thay đổi cách nhìn nhận khuyết tật là vấn đề xã hội chứ không chỉ đơn thuần là vấn đề trách nhiệm của ngành y tế.[17]
Việt Nam là quốc gia thứ 118 tham gia ký Công ước Quốc tế về Quyền của Người khuyết tật, vào tháng 10 năm 2007
Trang 3228
Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12 được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010, đã trở thành hành lang pháp lý chính thức bảo
vệ toàn diện quyền của NKT tại Việt Nam
Luật NKT ra đời, đánh dấu sự ghi nhận về quyền và nghĩa vụ của NKT, cũng như quy định trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, và xã hội đối với NKT Luật NKT của Việt Nam là khung pháp lý nhằm tăng cường, phát huy và đảm bảo quyền lợi và cơ hội cho NKT được tham gia, cũng như huy động và đảm bảo quyền lợi và cơ hội cho NKT được tham gia, cũng như được tiếp cận mọi phương diện cơ bản của cuộc sống, bao gồm: chăm sóc y tế, giáo dục; dạy nghề - việc làm; các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, giải trí, du lịch…; nhà
ở, công trình công cộng, giao thông, công nghệ thông tin, truyền thông, dịch vụ bảo trợ xã hội dành cho NKT; và các hoạt động khác
1.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ
khuyết tật
Yếu tố thuộc về chính sách
Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục phục hồi cho trẻ khuyết tật là chính sách của Đảng và Nhà nước ta Các chính sách có ảnh hưởng đến hoạt động CTXH với trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng
Về mặt tích cực, thông qua hiến pháp đã cụ thể hóa các quan điểm và chính sách về trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng đều quan tâm đến quyền lợi của trẻ em quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được tham gia học tập, vui chơi, giải trí, được khám chữa bệnh Việc ra đời của Nghị định 67/2007/NĐ-CP và Nghị định 136/NĐ-CP là rất cần thiết giúp cho trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn có nơi ăn, chốn ở, được tham gia học tập, vui chơi, giải trí, được hưởng trợ cấp giúp ổn định cuộc sống
Trang 3329
Tuy nhiên các chính sách cũng ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động CTXH đối với trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng Trẻ khuyết tật sống trong trung tâm có tâm lý rụt rè tự ti, đội ngũ nhân viên tuyển vào thường là các ngành khác sang Bên cạnh đó các chính sách về lương và phụ cấp cho nhân viên còn hạn chế Chính những phần này cũng ảnh hưởng đến chất lượng hạot động CTXH đối với trẻ khuyết tật
Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội
Nhân viên CTXH thực hiện các hoạt động CTXH với trẻ khuyết tật cần được yêu cầu có trình độ và được trang bị một cách đầy đủ kiến thức về CTXH, tâm lý học, XHH, cũng như những chuyên ngành cần thiết khác Tham gia các khóa tập huấn, lớp bồi dưỡng kiến thức về CTXH chương trình do Bộ LĐTBXH ban hành và nhân viên CTXH cần sử dụng các kỹ năng lắng nghe, quan sát, giao tiếp, tham vấn, tư vấn Khi làm CTXH với trẻ khuyết tật thì ngoài các kỹ năng trên thì cần thêm kỹ năng tiếp cận và thiết lập mối quan hệ với trẻ
Yếu tố thuộc về nhóm đối tượng
Trẻ khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn có những đặc điểm khác nhau về thể chất, tâm lý, xã hội Phần lớn trẻ khuyết tật có sự phát triển không bình thường cần được quan tâm, chăm sóc đặc biệt
Về đặc điểm tâm lý trẻ khuyết tật khả năng nhận thức còn giới hạn, năng lực hành vi còn hạn chế nên cần được chăm sóc, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ cần thiết Đa số trẻ vào Trung tâm đều có hoàn cảnh khó khăn bị bỏ rơi, khuyết tật trẻ cần được bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị và giáo dục, phục hồi chức năng
Trang 3430
Yếu tố thuộc về cơ sở vật chất
Để việc cung cấp dịch vụ CTXH đảm bảo thì cần có đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị như nhà ở đảm bảo an toàn, thuận lợi cho trẻ khuyết tật, Khu nhà bếp, nhà giặt, lớp học, phòng tập vật lý trị liệu, khu vui chơi Phòng học, Trạm y tế, sân chơi tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí cho trẻ khuyết tật Các trang thiết bị, vật dụng thuận lợi và đảm bảo an toàn cho trẻ khuyết tật
và hỗ trợ cho nhân viên CTXH cụ thể như phòng ở của các em có đầy đủ giường, chiếu, phòng học được trang bị máy vi tính, thư viện cho trẻ học và sinh hoạt, phòng tập vật lý trị liệu trang bị đầy đủ các máy móc, trang thiết bị phục vụ cho việc phục hồi các chức năng cho trẻ khuyết tật
Yếu tố thuộc về ngân sách và khả năng kết nối nguồn lực
Nguồn lực CTXH bao gồm nhân lực và tài chính Phần nhân lực đã được đề cấp đến ở ý thứ 2 trong các yếu tố thuộc về nhân lực Nguồn lực thuộc
về tài chính bao gồm ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động của Trung tâm, nguồn lực huy động từ các tổ chức cá nhân trong xã hội và công đồng Thuận lợi hàng năm Trung tâm được ngân sách nhà nước cấp để duy trì hoạt động cùng với sự vận động kết nối các nguồn lực từ bên ngoài từ các mạnh thường quân, các doanh nghiệp trong và ngoài nước Trung tâm có khả năng vận động
và kết nối các nguồn lực tốt thì mang lại lợi ích cho trẻ khuyết tật làm tăng thêm nguồn tài chính chi cho hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ khuyết tật
1.5.2 Kinh nghiệm thực thi chính sách đối với người khuyết tật ở một số nước
Liên quan đến chủ đề người người khuyết tật được coi là một dạng tật
hiện nay có công trình nghiên cứu về bảo trợ và thúc đẩy xã hội “thiết kế và
triển khai mạng lưới an sinh hiệu quả” nhóm tác giả margaret grosh, carlo del
ninno, emil tesliuc với sự trợ giúp của annamaria milazzo và christine weigand,
Trang 3531
nhà xuất bản văn hóa – thông tin năm 2008 Là bộ tài liệu nghiên cứu về mạng lưới an sinh xã hội, đóng góp như thế nào vào chính sách phát triển xã hội Nhóm tác giả cũng đưa ra cơ sở lý luận của sự cần thiết của mạng lưới an sinh; cung cấp tài chính và chi tiêu cho mạng lưới an sinh đó; cách thức xác định đối tượng trợ cấp, điều kiện hợp lệ và tiếp nhận đối tượng; mức hưởng và cơ chế chi trả Họ cũng đưa ra cách thức giám sát, đánh giá và cải thiện chương trình, tìm hiểu và căn thiệp, hỗ trợ nhóm dễ bị tổn thương Đồng thời đan kết mạng lưới an sinh xã hội và điều chỉnh các mạng lưới an sinh xã hội theo bối cảnh kinh tế xã hội của từng quốc gia
Công trình của tác giả macionic (1987), jonathan kenneth burns (2008), alan walker (1989) Macionic (1987) đi vào phân tích các định nghĩa về bệnh tâm thần, các mô hình lý thuyết của rối loạn tâm thần cũng như các mô hình chăm sóc bệnh nhân tâm thần Theo đó các bệnh nhân tâm thần thường phải gánh chịu những kỳ thị cũng như cái nhìn gán ghép của xã hội Bệnh tâm thần không chỉ bắt nguồn từ những nguyên nhân sinh học mà còn có nguồn gốc từ yếu tố văn hóa, xã hội và ảnh hưởng từ những người được xem là có quyền
“gán nhãn“ cho người bệnh tâm thần
Bệnh viện tâm thần là một định chế toàn phần mà ở đó người ta được gỡ
bỏ khỏi xã hội rộng lớn hơn trong một thời gian thấy rõ, phổ biến trong giai đoạn thập niên 1840- 1850 Một phát triển quan trọng về mặt đường lối trong chuyện chăm sóc cho người bị các rối loạn tâm thần đã xảy ra qua việc thông qua đạo luật về các trung tâm chăm sóc tâm thần cộng đồng năm 1963, xem bệnh nhân như là những bệnh nhân ngoại trú, cho phép họ vẫn tiếp tục công việc và sinh sống tại nhà Vào năm 1980 việc chăm sóc sức khỏe dựa trên cộng đồng đã thay thế cách nhập viên như một dạng chữa trị tiêu biểu
Tương đồng với macionic (1987), alan walker (1989) cũng phân tích vấn
đề chăm sóc sức khỏe nhờ vào cộng đồng, nhưng vấn đề này lại đặt trong bối
Trang 3632
cảnh lớn hơn là thể chế của nước anh cuối thập niên 80 với việc cắt giảm chi phí cho lĩnh vực chăm sóc công mà chuyển hẳn vai trò cho nhóm tư nhân và dựa vào cộng đồng, từ đây dẫn tới số lượng bệnh nhân trong các bệnh viện giảm xuống rõ rệt Tuy nhiên điều lại dẫn đến tình trạng tăng đột biến số lượng bệnh nhân ở lĩnh vực tư và các cơ sở cộng đồng, trong khi yếu tố nguồn lực chưa được chuẩn bị kỹ dẫn tới những khó khăn và cách thực thi chính sách kiểu nửa vời
Jonathan kenneth burns (2008) cho rằng khuyết tật tâm thần và chăm sóc sức khỏe tâm thần đang bị bỏ qua đáng ngạc nhiên trong tranh luận toàn cầu về bình đẳng y tế Điều này đồng nghĩa với các vấn đề bất bình đẳng trong chăm sóc sức khỏe cho người bị bệnh tâm thần Các biến ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng bao gồm chủng tộc, dân tộc, giới tính, vùng miền, nghề nghiệp, thu nhập
Tóm lại các công trình nghiên cứu nước ngoài chủ yếu tiếp cận vấn đề
an sinh xã hội ở khía cạnh thể chế, chính sách cùng những xung đột xung quanh việc áp dụng chính sách ở các nước, bên cạnh đó là các chính sách đối với người tâm thần cũng như hệ thống lý thuyết về người tâm thần Từ những tài liệu đã tiếp cận có thể thấy vấn đề an sinh xã hội của người tâm thần là một chủ đề có lịch sử khá mới, lịch sử nghiên cứu của vấn đề từ những năm cuối của thập kỷ 80, thế kỷ 20 nhưng đã tạo ra những diễn biến khá sôi nổi trong các cuộc tranh luận Đây là chủ đề hứa hẹn sẽ mở ra những sự quan tâm tiếp theo của những người có liên quan Còn các nghiên cứu trong nước về vấn đề này?
Các tài liệu trong nước mà tác giả tiếp cận chủ yếu là chủ đề về khả năng tiếp cận chính sách an sinh xã hội, bảo trợ xã hội tại Việt Nam của các nhóm đối tượng thụ hưởng ở góc độ lý luận và thực tiễn
Một số tác giả liên quan đến chủ đề này có thể kể đến như Nguyễn Ngọc Toản (2010), Nguyễn Bá Ngọc- Bùi Xuân Dự (2011), Đặng Nguyên Anh và
Trang 3733
cộng sự (2007), Nguyễn Đức Chiện (2012), Nguyễn Quốc Anh (2010), Lê Thị Thanh Tâm (2012) Mỗi tác giả có những góc độ tiếp cận khác nhau, từ các thành phần của an sinh xã hội như chính sách xã hội thường xuyên cộng đồng
ở việt nam, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội, dịch vụ xã hội đến khả năng tiếp cận của các nhóm khác nhau, từ nhóm nghèo, lao động di cư, cán
bộ công chức đô thị cho đến người khuyết tật, lao động trong lĩnh vực phi chính thức
Nguyễn Ngọc Toản (2010) đưa ra cơ sở lý luận về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng, thực trang chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng và các giải pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng Về phương pháp nghiên cứu, tác giả chủ yếu dùng số liệu thống kê sẵn có và sưu tầm, phân tích tài liệu Tác giả cũng chỉ ra được những bất cập của thực trạng trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng và đề ra các giải pháp khắc phục, hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng [35,tr.19]
Nguyễn Bá Ngọc- Bùi Xuân Dự (2011) nghiên cứu vấn đề này dưới góc
độ lý luận, trong đó trình bày khung nghiên cứu khả năng tiếp cận, đề cập đến các yếu tố liên quan đến cung cấp dịch vụ xã hội bao gồm hệ thống chính sách,
hệ thống bộ máy với điều kiện kỹ thuật và nguồn nhân lực thực hiện, nguồn lực tài chính cùng với các yếu tố về bản thân đối tượng thu hưởng cũng như các nhu cầu của họ
Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2007) đề cập đến khả năng tiếp cận một yếu tố của an sinh xã hội là bảo hiểm y tế của các nhóm: người nghèo, lao động
di cư và cán bộ công chức ở đô thị Theo nhóm nghiên cứu, bảo hiểm y tế là phương thức lâu dài và là lựa chọn của người nghèo vì họ không có khả năng chi trả cho các dịch vụ nhiều tiền hơn Tuy nhiên mức độ bao phủ của bảo
Trang 38Nguyên nhân của tình trạng người dân không dễ dàng tiếp xúc với bảo hiểm y tế có liên quan đến việc chỉ bán thẻ theo phong trào, thí điểm tại một số địa phương nhất định và dành cho một số đối tượng hạn chế: đối tượng chính sách, học sinh sinh viên, người nghèo hay bảo hiểm y tế bắt buộc
Nguyễn Đức Chiện (2012) tiếp cận dưới góc độ chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên và những thành công, bất cập của nó Theo đó các chính sách trợ giúp xã hội không ngừng được thay đổi và hoàn thiện để ngày càng đáp ứng nhu cầu của đối tượng thụ hưởng Tuy nhiên vẫn có những bất cập tồn tại như một số nhóm yếu thế vẫn bị bỏ quên trong khi nhóm đối tượng khác mới nảy sinh do những biến cố kinh tế- xã hội cũng đang cần xem xét để đưa vào danh sách thụ hưởng Mức trợ cấp còn rất thấp, mang tính cào bằng và thay đổi chậm hơn so với biến động giá cả thị trường Các điều kiện chăm sóc không đúng với nhu cầu thực tế do lực lượng cần được trợ cấp quá đông Sự tham gia chồng chéo của các bộ ngành nên hiệu quả không cao
Nguyễn Quốc Anh (2010), để cập đến những khó khăn cản trở mà người khuyết tật tiếp cận dịch vụ xã hội Từ đó cho thấy hệ thống văn bản chưa thật sự đồng bộ, tính khả thi của một số chính sách chưa cao, công tác tuyên truyền, kiểm tra giám sát chưa thường xuyên.[3]
Lê Thị Thanh Tâm (2012) đề cập đến vấn đề tiếp cận an sinh xã hội của lao động phi chính thức ở Việt Nam Theo bà, việc đóng bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội đối với người lao động trong khu vực này vẫn chưa phổ biến Bảo
Trang 3935
hiểm y tế không giúp làm giảm đi gánh nặng về y tế mà họ lại mất đi một khoản tiền để đóng bảo hiểm mà họ đang rất cần trong chi tiêu trong giai đoạn bão giá hiện nay
Đối với chủ đề về người tâm thần, các bài viết tác giả tiếp cận đa số là các bài báo, các tham luận hội thảo hơn là những công trình nghiên cứu khoa học về chủ đề này Bên cạnh đó các bài báo về người tâm thần chủ yếu ở góc
độ bệnh lý và những cảnh bảo nguy cơ bênh tâm thần ở các nhóm xã hội
Bài viết “Việc làm cho nguời khuyết tật tại việt nam - từ chính sách đến thực tiễn và vai trò của công tác xã hội” Ths Phạm Huy Cường, trang 531, hội
thảo quốc tế chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về công tác xã hội và an sinh xã hội, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012 Tác giả đề cấp đến thực trạng việc làm của người khuyết tật, việc đào tạo nghề cũng như việc tạo việc làm cho những người khuyết tật nói chung và cho người khuyết tật được đào tạo nghề nói riêng mới chỉ hướng vào một số đối tượng nhỏ Ở khía cạnh còn một số vấn đề cản trở: nhận thức của người khuyết tật và gia đình về vấn đề đào tạo nghề còn chưa đầy đủ; nhu cầu học nghề của người khuyết tật còn thấp; hệ thống dạy nghề còn yếu, mới chỉ tập trung vào một số loại hình công việc và được tổ chức trong một thời gian ngắn, chưa tạo được kỹ năng thiết yếu theo yêu cầu thị trường lao động; công tác giới thiệu việc làm cho người khuyết tật chưa được quan tâm và mở rộng; số liệu về người khuyết tật nói chung và vấn đề tay nghề, đào tạo nghề còn chưa được cập nhật Điều này có ảnh hưởng lớn đến công việc triển khai đào tạo nghề và tạo cơ hội việc làm cho người khuyết tật
Nguyễn Hải Hữu chủ biên cuốn “giáo trình nhập môn an sinh xã hội”, tác giả cũng tiến hành nghiên cứu về “thực trạng TGXH và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị tới năm 2015” và đề tài “hỗ trợ thực hiện chính sách giảm nghèo và BTXH” Tiếp cận theo quan điểm hoạch định chính
Trang 4036
sách, Nguyễn Hải Hữu (2007) và một số tác giả có cùng quan điểm cho rằng
“TGXH là trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội gồm: trẻ em
mồ côi; người già cô đơn; người từ 80 tuổi trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng và khuyết tật nặng; gia đình có từ 2 người khuyết tật trở lên là người khuyết tật không có khả năng tự phục vụ; người nhiễm HIV/AIDS; gia đình, người thân nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; trợ giúp về ý tế, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm, tiếp cận các công trình công cộng, hoạt động văn hóa thể thao và trợ giúp khẩn cấp Từ đó kiến nghị giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội, khám chữa bệnh, giáo dục
và các chính sách bộ phận khác của chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên.[31]
1.5.3 Bài học cho Việt Nam
Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu các công trình nghiên cứu trước đây, cũng như quan sát và thông qua truyền thông đại chúng Chúng tôi thấy đang tồn tại một vấn đề làm chúng tôi trăn trở, đó là tại sao khi chúng ta còn khỏe mạnh, chúng ta có quyền làm việc và hưởng tiền công, tiền lương còn người khuyết tật thì không? Khi chúng ta khỏe mạnh thì họ thuê mướn, khi chúng ta tật nguyền khiếm khuyết lại không? V V Dựa vào đâu họ tự cho mình cái quyền đó với người khuyết tật Thiết nghĩ người khuyết tật họ có quyền con người, có quyền của người khuyết tật đã được pháp luật quốc tế và Việt Nam công nhận Tại sao người khác lại có quyền tước mất cái quyền đó của họ? Trong khi rất nhiều nhiều người khuyết tật có nhu cầu được học tập, được chăm sóc, được phục hồi chức năng Từ đó thôi thúc chúng tôi đi vào tìm hiểu động cơ, nguyên nhân, cơ chế vận động hình thành và phát triển của vấn đề để tìm ra câu trả lời thỏa đáng Tuy nhiên ở bình diện là một luận văn thạc sĩ, trình