LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm p
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ THỊ THƯ
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các
đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 10
1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của trẻ khuyết tật vận động 10
1.2 Lý luận về công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động 13
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật 25 1.4 Các cơ sở pháp lý về công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật 27
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32
2.1 Khái quát đặc điểm trung tâm và khách thể nghiên cứu 32
2.2 Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động 38
2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động 50
Chương 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT 61
3.1 Giải pháp về nâng cao năng lực, trình độ cho nhân viên công tác xã hội 62 3.2 Giải pháp về nâng cao nhận thức, năng lực cho trẻ khuyết tật vận động và gia đình trẻ 63
3.3 Giải pháp về đổi mới nội dung và các phương thức thực hiện các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động 65
3.4 Giải phát về huy động nguồn kinh phí cho các hoạt động nhóm 66
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng trẻ KTVĐ chia theo giới tính 35
Bảng 2.2: Số lượng trẻ KTVĐ chia theo nhóm tuổi 36
Bảng 2.3: Nhu cầu của trẻ KTVĐ chia theo giới tính 36
Bảng 2.4: Lĩnh vực công việc chính của gia đình 37
Bảng 2.5: Mức sống kinh tế gia đình của trẻ KTVĐ 37
Bảng 2.6: Đánh giá về hoạt động phát triển kỹ năng giao tiếp ở trẻ KTVĐ 46
Bảng 2.7: Đánh giá kết quả phục hồi chức năng 49
Bảng 2.8: Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH đối với trẻ KTVĐ 51
Bảng 2.9: Đánh giá thái độ làm việc của nhân viên CTXH 54
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Nội dung của hoạt động giáo dục nhóm 39
Biểu đồ 2.2: Hình thức hoạt động giáo dục nhóm 40
Biểu đồ 2.3: Nội dung hoạt động vui chơi giải trí 41
Biểu đồ 2.4: Hình thức của hoạt động vui chơi giải trí 42
Biểu đồ 2.5: Đánh giá về hoạt động vui chơi giải trí đối với trẻ KTVĐ 43
Biểu đồ 2.6: Nội dung của hoạt động phát triển kỹ năng giao tiếp 44
Biểu đồ 2.7: Hình thức của hoạt động phát triển kỹ năng giao tiếp 45
Biểu đồ 2.8: Nội dung hoạt động phục hồi chức năng 47
Biểu đồ 2.9: Hình thức của hoạt động phục hồi chức năng 48
Biểu đồ 2.10: Yếu tố năng lực, trình độ của nhân viên ctxh 53
Biểu đồ 2.11: Yếu tố đặc điểm của trẻ khuyết tật 56
Biểu đồ 2.12: Yếu tố nhận thức của gia đình và cộng đồng 57
Biểu đồ 2.13: Yếu tố cơ sở vật chất và nguồn lực khác 58
Trang 8
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là niềm tự hào, hy vọng của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là thế hệ kế tục sự nghiệp xây dựng đất nước của dân tộc Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chiến lược phát triển con người được đặc biệt coi trọng, trong đó những ưu tiên cho trẻ em chiếm vị trí hàng đầu Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của xã hội, trẻ em ngày càng được chăm sóc tốt hơn Bên cạnh những mặt đạt được của quá trình phát triển xã hội Hiện nay tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em mồ côi, trẻ em vi phạm pháp luật, trẻ em lao động sớm, đặt biệt là trẻ em khuyết tật ngày càng nhiều Mỗi người sinh ra đều có đầy đủ bộ phận của con người, được sống trong tình yêu thương của mọi người được đến lớp đi học, chơi đùa với bạn
bè là điều hạnh phúc nhất Tuy nhiên không phải đứa trẻ nào sinh ra cũng được may mắn như vậy Vì một số lý do nào đó các em phải mang trên mình những khiếm khuyết của cơ thể Trẻ em là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất Nguyên nhân do các em vẫn chưa phát triển để có đủ năng lực về kiến thức, suy nghĩ và hành vi Trong đó, trẻ em khuyết tật chính là một trong những đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt của xã hội đối với đời sống cũng như các nhu cầu cơ bản cơ bản của các em
Trong tổng số 32 triệu trẻ em ở Việt Nam, trẻ khuyết tật có khoảng 1,1 triệu em chiếm 3,4% so với trẻ em cùng độ tuổi Qua một số khảo sát về đời sống vật chất và tinh thần ở trẻ em Việt Nam cho thấy: đa số trẻ khuyết tật còn chịu nhiều thiệt thòi, hầu hết các em sinh ra và lớn lên trong gia đình nghèo, tình trạng vật chất thiếu thốn, khó khăn, lại thêm mặc cảm về tật nguyền… nên hoạt động vui chơi, học hành cùng các trẻ khác vô cùng khó khăn Mặt khác tâm lý chung của nhiều người trong xã hội cũng cho rằng: trẻ
Trang 92
khuyết tật rất khó học văn hóa càng không thể có khả năng học chung với trẻ bình thường – đây là một định kiến xã hội mang tính áp đặt có ảnh hưởng xấu đến giáo dục đặc biệt nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng [20]
Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, Thành phố Hồ Chí Minh, là một trong những trung tâm trực thuộc Bộ Lao động Thương binh và xã hội Hiện Trung tâm đang chăm sóc, phục hồi chức năng cho 150 trẻ em nghèo khuyết tật, hoàn cảnh gia đình khó khăn Trẻ khuyết tật tại Trung tâm đa số là khuyết tật nặng, với các dạng khuyết tật: khuyết tật vận động, bại não, down, chậm phát triển trí tuệ, tự kỷ, đa khuyết tật…
Hiện nay, việc giải quyết vấn đề cho người khuyết tật ở Việt Nam nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng không chỉ bó hẹp trong phạm vi nhân đạo thuần túy mà còn là vấn đề kinh tế xã hội sâu sắc, không chỉ đòi hỏi sự quan tâm của nhà nước mà còn là vấn đề chung của toàn xã hội và của mọi người dân Đặc biệt đối với công tác xã hội, vấn đề hỗ trợ, giúp đỡ trẻ tự vượt qua những khó khăn trong cuộc sống bằng kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù là rất quan trọng
Từ những lý do trên, nên tôi chọn đề tài “Công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật tại thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề trẻ em khuyết tật là một vấn đề mang tính xã hội và được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm nhằm hướng tới một cuộc sống công bằng, bình đẳng trên tất cả các lĩnh vực, rút ngắn khoảng cách giữa những người khuyết tật và những người bình thường, giúp những trẻ em khuyết tật vươn lên trong cuộc sống, có một cơ hội mới cho các em
Trang 103
Trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về công tác xã hội với trẻ em khuyết tật, những đề tài, bài viết và nhiều chương trình, dự án có liên quan đến an sinh xã hội cho trẻ em khuyết tật
Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia tích cực vào các cam kết quốc tế và khu vực về vấn đề người khuyết tật Tháng 10/2007 việt Nam
ký công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền của người khuyết tật; đồng thời cam kết thực hiện khuôn khổ hành động Biwako “ hướng tới một xã hội hòa nhập, không vật cảng và vì quyền của người khuyết tật” của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thập kỷ thứ II về người khuyết tật (2003- 2012) với 7 lĩnh vực ưu tiên và một lĩnh vực của riêng Việt Nam là “ nâng cao nhận thức
xã hội với các vấn đề của người tàn tật” Để thực hiện các cam kết quốc tế
và khu vực, Việt Nam từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về người khuyết tật, triển khai các chương trình, các dự án trợ giúp người khuyết tật [25]
Các công trình nghiên cứu gần đây “mở rộng cộng đồng cho trẻ khuyết tật” (Viện khoa học giáo dục tổ chức cứu trợ và phát triển Mỹ 2002) “xây dựng mô hình giáo dục trẻ có tật” (Trịnh Đức Duy), “ phân tích tình hình trẻ khuyết tật ở Việt Nam” ( Bộ LĐTB&XH và UNICEF VN), nghiên cứu đặc điểm người khuyết tật và một số yếu tố liên quan đến dị tật bẩm sinh ở Hà Tây của tác giả Lê Văn Hải – Đại Học Quốc Gia Hà Nội, năm 2009
Tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật sống tại cộng đồng nghiên cứu trường hợp tại xã Tân An, Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang của tác giả Hà Thị Bích Hường Luận văn mô tả thực trạng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho trẻ khuyết tật ở địa phương Phân tích những điểm thuận lợi và hạn chế mà trẻ khuyết tật và gia đình đã trải qua trong khi tìm cách tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Đưa ra các giải pháp cần thiết để trẻ khuyết tật tiếp cận được với các dịch vụ chăm sóc
Trang 114
sức khỏe phù hợp với dạng khiếm khuyết của bản thân Chỉ rõ vai trò của người làm công tác xã hội trong việc giúp trẻ khuyết tật tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Nghiên cứu về trẻ khuyết tật và gia đình trẻ tại Đà Nẵng – Kiến thức – Thái độ - Hành vi, TNS thực hiện cho UNICEF 2009 Nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân dẫn tới tình trạng và dạng khuyết tật của trẻ chính là yếu tố chủ chốt bên trong vấn đề bao trùm của việc định nghĩa sự khuyết tật Cấu trúc gia đình, giới tính, và điều kiện kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên kiến thức, thái độ và hành vi, và từ đó la những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với trẻ khuyết tật [24]
Những khó khăn của gia đình có trẻ khuyết tật phát triển và nhu cầu của họ đối với các dịch vụ xã hội của tác giả Đỗ Hạnh Nga - Khoa Công tác
xã hội Trường ĐH KHXH & NV - ĐHQG TP.HCM Kết quả khảo sát cho thấy phụ huynh còn thiếu hiểu biết về các dấu hiệu chậm phát triển của con, thiếu những nhân viên xã hội hỗ trợ họ trong việc phát hiện sớm, chẩn đoán đánh giá khuyết tật của con họ cũng như giúp phụ huynh tìm kiếm các dịch vụ
xã hội Từ đó đề xuất xây dựng một số công việc mà nhân viên xã hội cần thực hiện để hỗ trợ gia đình người khuyết tật
Những rào cản chất lượng học tập của trẻ khuyết tật ở Việt Nam, đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Nghiên cứu Giáo dục, Tập 29, Số 2 (2013)
6471 Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu về các rào cản trẻ khuyết tật (TKT) đến trường và những rào cản TKT học có chất lượng trong các cơ sở giáo dục phổ thông ở Việt Nam
Những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề CTXH đối với trẻ khuyết tật như: đề tài „„Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật tại xã Hồng Quản, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế‟‟ của tác giả Trần Ngọc Hải Mục tiêu quan trọng mà đề tài này hướng đến đó là sự giúp đỡ của các ban
Trang 125
ngành chức năng nhằm giúp trẻ khuyết tật vươn lên hòa nhập cộng đồng để từ
đó họ có cuộc sống tốt hơn Qua đó nhằm nâng cao khả năng và cơ hội tiếp cận các nguồn lực cho trẻ khuyết tật Đề tài „„Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động trường hợp tại làng Hữu Nghị Việt Nam‟‟ của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang
Nhìn chung, những chương trình đề tài về trẻ khuyết tật chủ yếu tìm hiểu
về nguyên nhân khuyết tật, thực trạng chăm sóc sức khỏe, giáo dục, y tế mà chưa có đề tài nào về công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động Tìm hiểu về đặc điểm tâm lý cũng như nhu cầu của trẻ khuyết tật vận động
Vì vậy với đề tài này tôi không chỉ muốn tìm hiểu về thực trạng đời sống, thực trạng công tác xã hội nhóm và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động tại Trung tâm mà muốn góp phần tìm ra một số giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực trạng của công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, Tp Hồ Chí Minh Từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần
nâng cao hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật
Tìm hiểu, đánh giá thực trạng công tác xã hội nhóm, thực trạng công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật
Trang 136
Dựa trên cơ sở phân tích đánh giá, tìm hiểu các thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng nói trên để đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hơn nữa công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động tại Trung tâm
phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: công tác xã hội nhóm trong đề tài sẽ được
nghiên cứu trên 4 hoạt động chính sau: hoạt động giáo dục nhóm, hoạt động giải trí nhóm, hoạt động phát triển kỹ năng giao tiếp nhóm, hoạt động phục hồi chức năng nhóm
Phạm vi về khách thể nghiên cứu: đề tài nghiên cứu trên 45 trẻ em
khuyết tật vận động và 35 cán bộ làm việc với trẻ em
Phạm vi về thời gian: từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng
về sức khỏe, nhu cầu của trẻ khuyết tật, thực trạng của công tác xã hội nhóm đối với trẻ tại Trung tâm rút ra được những lý luận và đưa ra những đề xuất
về biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật, hệ thống chính sách dành cho trẻ khuyết tật
Trang 147
5.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp phân tích tài liệu: là phương pháp sử dụng các kỹ thuật
chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục
vụ cho quá trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để: Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH như: Nhập môn CTXH, Công tác xã hội nhóm, Lý thuyết CTXH…
Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn
đề CTXH đối với trẻ khuyết tật như: đề tài „„Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật tại xã Hồng Quản, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế ‟‟, đề tài
„„Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động trường hợp tại làng Hữu Nghị Việt Nam,
Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách
an sinh, giáo dục đối với trẻ khuyết tật và các loại hình can thiệp nhóm, để giúp trẻ khuyết tật
* Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi
đáp gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho các điều tra viên
Với phương pháp này, đề tài sẽ phát bảng hỏi dành cho 45 hộ gia đình có con khuyết tật vận động gửi tại Trung Tâm để tìm hiểu, thu thập thông tin chung về thực trạng đời sống của trẻ khuyết tật như điều kiện về nhà ở, kinh
tế gia đình, các nhu cầu của trẻ khuyết tật…, tìm hiểu về thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động tại Trung tâm
Trang 158
* Phương pháp phỏng vấn sâu: là một phương pháp thu thập thông tin
xã hội học thông qua việc tác động tâm lý học xã hội trực tiếp giữa người đi phỏng vấn và người được phỏng vấn trên cơ sở mục tiêu của đề tài nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích nhằm tìm hiểu, thu thập thông tin chuyên sâu về thực trạng đời sống của trẻ khuyết tật vận động, thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, Thành phố Hồ Chí Minh cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 5 hộ gia đình có trẻ khuyết tật vận động gửi tại Trung tâm và 5 cán bộ làm việc trực tiếp với trẻ
* Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin của nghiên
cứu xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát không gian sinh hoạt, khả năng giao tiếp, thể trạng của trẻ khuyết tật Cũng thông qua đó hình thành được câu trả lời đầy đủ và có được những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấn sâu Cụ thể đề tài tập trung quan sát các hoạt động công tác xã hội nhóm hoặc các hoạt động mang tính chất công tác xã hội Quan sát về môi trường, không sinh hoạt của trẻ khuyết tật Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của đối tượng khảo sát với người điều tra, nhằm xác định xem trẻ gặp phải những vấn đề khó khăn nào về sức khỏe, tâm lý, khả năng giao tiếp…
* Phương pháp phân tích toán học: phân tích số liệu, sử dụng phần
mềm SPSS 20.0
Trang 169
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về trẻ khuyết tật nói
riêng và lý luận về chính sách xã hội nói chung
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực trẻ khuyết tật vận động, chính sách xã hội và chính sách chăm sóc sức khỏe cho
trẻ khuyết tật vận động
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Với luận văn này tôi mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về thực trạng công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật; gợi mở một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hơn nữa công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật
Giúp cho nhân viên công tác xã hội nói riêng và các ngành khác nói chung hiểu biết thêm về các chính sách, chế độ ưu đãi, các dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hiệu quả công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp
trẻ tàn tật tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1710
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI
VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của trẻ khuyết tật vận động
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm khuyết tật
Có rất nhiều cách hiểu và cách diễn giải khác nhau về khuyết tật xuất phát từ sự đa dạng về khuyết tật, sự phức tạp về mức độ khuyết tật, công cụ
đo lường và đánh giá, cũng như sự khác biệt văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về khuyết tật
Trong hệ thống phân loại quốc tế ICF, Theo Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa khuyết tật như sau: khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố
cá nhân khác ) [7,tr.26]
* Khái niệm trẻ em khuyết tật
Trẻ em khuyết tật là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, sai lệch về chức năng cơ thể dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, hoạt động xã hội và học tập theo chương trình giáo dục phổ thông Sự thiếu hụt về cấu trúc và hạn chế về chức năng ở trẻ khuyết tật biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau Các nhóm trẻ khuyết tật gồm trẻ khiếm thính, khiếm thị, trẻ khó
khăn về ngôn ngữ, trẻ đa tật và trẻ có các dạng khuyết tật khác [20]
* Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động
Trẻ khuyết tật vận động là những trẻ do các nguyên nhân khác nhau, gây ra sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển, sinh hoạt và học tập… Trẻ khuyết tật vận động gồm có hai dạng: Trẻ khuyết
Trang 1811
tật vận động do chấn thương nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm què cụt, khoèo, liệt chân tay và trẻ khuyết tật vận động do tổn thương trung khu vận động não bộ… [8]
Theo bài giảng tập huấn giáo viên dạy trẻ khuyết tật của Phạm Văn Hiệu Những trẻ khuyết tật vận động thường không sử dụng được chân tay như trẻ bình thường, khi có những cử động như lắc người, chuyển dịch chậm chạp hoặc gặp khó khăn đi lại, nằm, ngồi, ăn uống, cầm nắm các đồ vật, trẻ gặp khó khăn khi phối hợp các thao tác vận động
Người bị khuyết tật vận động được phân thành hai dạng như sau:
Người bị hội chứng não nặng dẫn đến khuyết tật vận động
Khuyết tật vận động do chấn thương nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm khoèo chân, liệt chân, tay,… nhưng não bộ vẫn bình thường [24]
Các biểu hiện thường thấycủa trẻ bị khuyết tật vận động đó là: Trẻ nhỏ
có thể không bú được vì không thực hiện được động tác mút; khi bế đầu trẻ ưỡn ra sau, lưỡi thè ra khi mẹ đặt núm vú vào miệng, thường quấy khóc, không chịu chơi Trẻ ít hoặc không sử dụng tay, ít hoặc không di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác; ít chịu vận động, không chịu chơi, hay ngồi một mình, không tự chăm sóc mình được Đặc biệt đối với trẻ bị co cứng các khớp, chi hoặc toàn thân; trẻ bị mềm nhẽo một hay nhiều nhóm cơ hoặc toàn thân, trẻ bị trật khớp háng; trẻ có bàn chân nghịch (một hay hai chân)… [4, tr.27]
1.1.2 Biểu hiện tâm lý và nhu cầu của trẻ khuyết tật
* Biểu hiện tâm lý của trẻ khuyết tật vận động
Tâm lý khá đông trẻ khuyết tật là mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác
Dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng
Gặp khó khăn trong giao tiếp với môi trường xung quanh Họ dễ cảm thông với những người đồng cảnh ngộ, biết ơn khi được quan tâm, giúp đỡ
Trang 1912
Do những khiếm khuyết về chức năng và cơ thể nên cảm thấy tự ti Luôn cho rằng số phận mình không may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình Do đó, họ thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người
Trong mối quan hệ tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng,
họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng, hay tự ái Nếu sống trong những gia đình khó khăn, người khuyết tật có cảm giác mình bị bỏ rơi
Một số có ý chí, nghị lực cao, những người khuyết tật về vận động nhưng trí tuệ phát triển bình thường hoặc thậm chí rất tốt Họ thường cố gắng học tập, tìm kiếm việc làm để không phụ thuộc vào người khác [4, tr.27]
Với trẻ khuyết tật các em đang ở lứa tuổi mà tâm lý chưa ổn định, chưa
có sự hoàn thiện về nhân cách, dễ bị tổn thương do vậy mà các em rất cần sự động viên an ủi, chăm sóc, bảo vệ từ phía cộng đồng và xã hội
* Nhu cầu của trẻ khuyết tật vận động
“Người khuyết tật trước hết là con người”, do đó, họ cũng có những nhu cầu như mọi cá nhân khác trong xã hội
Theo quan điểm của nhà tâm lý học A.Maslow, con người có 5 loại nhu cầu cơ bản được sắp xếp theo bậc thang từ thấp đến cao
Các nhu cầu có mối quan hệ chặc chẽ với nhau.Trước tiên người khuyết tật cần được đáp ứng các nhu cầu ở mức độ thấp Sau đó mới tìm đến
sự đáp ứng các nhu cầu ở bậc cao hơn Các nhu cầu không tồn tại độc lập mà luôn nằm trong mối quan hệ gắn kết, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau, các
nhu cầu được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao
Nhu cầu trước hết của trẻ em khuyết tật là nhu cầu về vật chất phục vụ cho việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ … nói chung để đảm bảo sức khoẻ cho các em và cao hơn nữa là các em có điều kiện chữa trị bệnh tật
Trang 2013
Nhu cầu có một tổ ấm gia đình là chỗ dựa về cả vật chất và tinh thần cho các em, để các em vượt qua được bệnh tật cũng như những khó khăn trong cuộc sống Gia đình tạo tinh thần cho các em vượt qua khó khăn, thôi thúc nghị lực của các em chiến đấu với bệnh tật và vươn lên trong cuộc sống
Nhu cầu được vui chơi vui chơi, giải trí, học tập Cũng như bao trẻ em khác, trẻ em khuyết tật cũng có nhu cầu được vui chơi tham gia các hoạt động giải trí và tham gia vào hoạt động học tập, đây là những nhu cầu cho thấy các
em đang cố gắng nổ lực để hoàn thiện và vươn lên trong cuộc sống của mình
Nhu cầu được tôn trọng, đây là nhu cầu mà trẻ em khuyết tật luôn đòi hỏi việc thực hiện nhu cầu này ở người lớn, ở bạn bè cùng trang lứa và trước hết là ở những người cha người mẹ Sự tôn trọng, sự thừa nhận của mọi người
sẽ làm tăng sự tự tin, tăng nghị lực của trẻ
Thực tế cho thấy, hiện nay một số nhu cầu bậc cao của người khuyết tật
ít có cơ hội thực hiện hoá (ví dụ: người khuyết tật gặp khó khăn trong việc học tập, tìm kiếm việc làm, tiếp cận dịch vụ xã hội…) Người khuyết tật rất cần sự trợ giúp phù hợp từ phía gia đình, cộng đồng, xã hội để họ có thêm cơ hội đáp ứng các nhu cầu, để họ có cuộc sống bình thường, để được phát triển
và hòa nhập
1.2 Lý luận về công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
1.2.1 Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
Trên thế giới công tác xã hội đã được khẳng định là một ngành khoa học độc lập, có đối tượng nghiên cứu riêng, có hệ thống lý luận, phương pháp nghiên cứu riêng Sự khẳng định này đã được thực tiễn kiểm nghiệm khi công tác xã hội đã hướng tới sự giúp đỡ các đối tượng khó khăn trong cuộc sống, góp phần làm ổn định tiến bộ xã hội Sự hình thành và phát triển của công tác
xã hội là một yếu tố khách quan, vừa thể hiện nhu cầu thiết yếu của nó trong
Trang 2114
xã hội hiện đại, đồng thời có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện kinh tế chính trị và văn hóa xã hội Vì vậy, trong quá trình vận động với tư cách là một khoa học và một hoạt động thực tiễn, ở những thời điểm khác nhau có những quan điểm khác nhau về công tác xã hội Hiện nay, công tác xã hội có sự phát triển rộng khắp trên thế giới, với những xuất phát điểm, điều kiện lịch sử cụ thể, nền tảng văn hóa, mục đích và bản chất độ xã hội có những sự khác biệt nhất định, do dó xuất hiện nhiều quan điểm, trường phái khác nhau về công tác xã hội thì hầu hết mọi người đều công nhận định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Montreal, Canada (IFSW) [22]
Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề
ra Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng
xã hội là nguyên tắc căn bản của nghề [7, tr.10]
Hiện nay, trước những nhu cầu và yêu cầu của đời sống hiện tại, IFSW
đã đưa ra đề xuất cần tạo một khái niệm chung mang tính toàn cầu về công tác xã hội dựa trên các tiêu chí về thúc đẩy sự phát triển xã hội và cố kết xã hội; trợ giúp các cá nhân tạo nên sự thay đổi về điều kiện sống để phát triển bền vững; là hệ thống lý luận chung dựa trên tri thức bản địa; mọi hoạt động của công tác xã hội dựa trên vấn đề nhân quyền, trách nhiệm xã hội và công bằng xã hội ( IFSW 2013) [19]
Trang 2215
Qua những định nghĩa trên chúng ta nhận thấy công tác xã hội là một nghề chuyên hỗ trợ giúp đỡ những người gặp khó khăn hoặc những người bị đẩy ra ngoài xã hội Sứ mạng của ngành công tác xã hội là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu: những rào cản trong xã hội; sự bất công vá sự bất bình và
sự bất bình đẳng trong xã hội
* Khái niệm công tác xã hội nhóm (CTXHN)
CTXHN là phương pháp CTXH nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội, của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng ứng phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là : ứng dụng những kiến thức kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm ( hoặc năng động nhóm); nhóm nhỏ thân chủ có cùng vấn
đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề; các mục tiêu xã hội được thiết lập bởi nhân viên xã hội trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có mục đích nhằm giải quyết các vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu [26]
Theo từ điển CTXH của Barker (1995), CTXHN được định nghĩa là
“một định hướng và phương pháp can thiệp CTXH, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Đối lập với trị liệu tâm lý nhóm, mục tiêu của CTXHN không chỉ là trị liệu những vấn đề tâm lý, tình cảm mà còn trao đổi thông tin, phát triển các
kỹ năng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả Các kỹ thuật can thiệp đều được đưa vào quá trình CTXHN nhưng không hạn chế kiểm soát những trao đổi về trị liệu” [11, tr.35]
Như vậy, CTXH nhóm được coi là một phương pháp can thiệp của CTXH, là một tiến trình trợ giúp mà các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường để tham gia vào các hoạt động chung, có sự chia sẻ, tương
Trang 2316
tác lẫn nhau nhằm đạt mục tiêu chung của nhóm và giải quyết được vấn đề của từng cá nhân trong nhóm Trong đó, nhân viên xã hội chỉ đóng vai trò là chất xúc tác, hướng dẫn, tổ chức sinh hoạt nhóm để chính các thành viên trong nhóm có sự tương tác lẫn nhau và dùng mối quan hệ đó làm công cụ
chính để nhận diện và giải quyết vấn đề của từng cá nhân hoặc của nhóm
* Công tác xã hội đối nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
Trong những đối tượng cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhân viên công tác
xã hội thì trẻ khuyết tật là một nhóm cần được sự quan tâm, trợ giúp đặt biệt việc trợ giúp cùa nhân viên công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật được coi là một lĩnh vực chuyên sâu của người làm công tác xã hội, lĩnh vực này được gọi là “ công tác xã hội với trẻ em khuyết tật” Việc hỗ trợ, giúp đỡ đối với trẻ khuyết tật không chỉ có sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội mà còn là công việc của các chuyên gia giáo dục đặc biệt, giáo viên, chuyên gia tâm lý Tuy nhiên sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội không đi sâu vào bản thân trẻ khuyết tật hay tìm kiếm nguyên nhân gây khuyết tật, cũng như các phương pháp, biện pháp giáo dục và trị liệu cụ thể mà nhấn mạnh đến việc tác động vào hệ thống chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật như: như gia đình của trẻ khuyết tật, nhà trường, đoàn thể, cộng đồng mà họ sinh sống cũng như các chính sách của nhà nước dành cho họ Do vậy, công tác xã hội với trẻ khuyết tật có những đặc thù nhất định so với hoạt động công tác xã hội chung
Từ định nghĩa về công tác xã hội như trên thì có thể hiểu: công tác xã
hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động là việc nhân viên công tác xã hội sử dụng các kỹ năng chuyên môn và nghiệp vụ nhằm giúp các trẻ em đó vượt qua khó khăn trở ngại của mình để vươn lên hòa nhập cuộc sống Đồng thời huy động các nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để giúp đỡ các em một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, tham gia vào các hoạt động xã
hội trên nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội
Trang 24Trong đề tài “Công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động từ thực
tiễn Trung tâm hục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, Thành phố Hồ Chí
Minh” tác giả sẽ vận dụng lý thuyết nhu cầu và lý thuyết về quyền con người
* Lý thuyết nhu cầu
Là con người xã hội, mỗi người cần có những nhu cầu, nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần Các nhu cầu của con người thường rất đa dạng, phong phú và phát triển Nhu cầu con người phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí
xã hội của họ
Để tồn tại, con người cần phải được đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống như ăn mặc, nhà ở, chăm sóc y tế… để phát triển con người cần được đáp ứng các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và khẳng định Xét cho cùng
sự vận động và phát triển của xã hội loài người nhằm mục đích đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của con người Việc đáp ứng các nhu cầu con người chính
là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu Theo Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ
tự bậc thang từ thấp tới cao - từ các nhu cầu thiết yếu nhất tới các nhu cầu thứ yếu, cao hơn Khi con người thoả mãn được nhu cầu cấp thấp rồi thì sẽ tiến tới thoả mãn các nhu cầu cấp cao hơn [1, tr.17]
Trang 2518
Theo đó, ông chia nhu cầu của con người thành 5 thang bặc từ thấp đến cao đó là: nhu cầu sống, nhu cầu an toàn, nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó, nhu cầu được tôn trọng và cuối cùng là nhu cầu hoàn thiện
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu tác giả tìm hiểu nhu cầu của trẻ khuyết tật theo năm bậc thang về nhu cầu Từ đó xem xét các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo
ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A.Maslow
Dựa theo thang nhu cầu của Maslow thì tác giả nhận thấy hiện nay trẻ khuyết tật vận động đang có những nhu cầu như sau:
- Trẻ khuyết tật cần được chăm sóc nuôi dưỡng đặt biệt để tồn tại và phát triển
- Cần được an toàn về tư tưởng và thể chất
- Cần được khám chữa bệnh, phục hồi chức năng
- Cần được yêu thương và hòa nhập cộng đồng
- Cần được hòa nhập vui chơi với trẻ cùng lứa tuổi
- Cần được tôn trong, đánh giá, khuyến khích và động viên
- Cần được giúp đỡ để phát triển và hoàn thiện dần
* Lý thuyết về quyền con người
Tiếp cận dựa trên quyền con người là một khung lý thuyết có chứa đựng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và mục tiêu của hệ thống quyền con người trong quá trình lập kế hoạch và tiến trình thực hiện hoạt động CTXH [11,tr.167]
Cách tiếp cận này lấy nền tảng cơ bản chính là hệ thống quyền con người đã được pháp luật quốc tế bảo vệ NVCTXH cần dựa trên hệ thống quyền con người để xây dựng các phương pháp và hoạt động của những mô hình phát triển xã hội Cách tiếp cận này luôn đưa ra đối tượng tác động cụ thể, đó chính là con người với quyền cơ bản của mình
Trang 2619
Trên phương diện vĩ mô, cách tiếp cận dựa trên quyền con người có bàn đến tầm quan trọng của nhà nước và chính phủ trong mối quan hệ tương quan với công dân của họ về mặt quyền và nghĩa vụ Cách tiếp cận theo quyền lôi kéo sự chú ý của nhà nước về mặt chăm lo đời sống của những người dân dễ bị tổn thương kể cả những người dân không thể tự mình đứng lên đòi quyền lợi cho mình
Cũng giống như cách tiếp cận khác, tiếp cận quyền con người nhằm hướng đến việc cải thiện hoàn cảnh của con người, tập trung vào nhu cầu, vấn
đề và tiềm năng của họ Theo cách này, cách tiếp cận dựa trên quyền có đề cập đến những vấn đề luôn được coi là trọng yếu đối với sự phát triển, như là thực phẩm, nước, nhà ở, y tế Vì vậy, quyền con người vượt lên trên ý niệm
về nhu cầu cơ bản mà chứa đựng một cái nhìn nhân đạo hơn về con người, về khía cạnh công dân, chính trị, xã hội, kinh tế và vai trò văn hóa Đồng thời, nhắc đến quyền con người là nói đến nghĩa vụ và trách nhiệm, trong khi đó cách tiếp cận theo nhu cầu sẽ không đề cập đến
Tiếp cận quyền con người là cách tiếp cận mang tính nhân văn Coi trọng con người với những quyền mà họ được hưởng, đó là quan điểm hướng tới giá trị nhân văn cao đẹp về con người Với cách tiếp cận này, đối tượng dù đang gặp phải vấn đề khó khăn cũng được tôn trọng như là một con người với đầy đủ các giá trị Tiếp cận dựa trên quyền con người là trung tâm, tập trung vào nhu cầu và tiềm năng của họ để đi tới giải quyết vấn đề Tiếp cận dựa trên quyền con người giúp NVCTXH hướng đến các giải pháp mang tính bền vững
Và như vậy theo thuyết này thì trẻ khuyết tật cần phải có quyền được chăm sóc về thể chất, về tinh thần, có quyền được phát triển, tham gia các
hoạt động xã hội
Trang 2720
1.2.3 Mục đích và chức năng của công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
1.2.3.1 Mục đích của công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
Nhằm đánh giá nhu cầu, khả năng, hành vi qua việc trẻ tự đánh giá, người thân hoặc người chăm sóc của trẻ khuyết tật để từ đó tạo thành những nhóm trẻ khuyết tật vận động có cùng nhu cầu, khả năng, hành vi thì lập thành nhóm để lên kế hoạch hoạt động trợ giúp phù hợp
Nhằm duy trì hỗ trợ cá nhân đương đầu với những khó khăn của chính trẻ hay khó khăn trước hoàn cảnh xã hội
Thay đổi thái độ suy nghĩ tiêu cực của trẻ khuyết tật bởi trẻ khuyết tật
có tâm lý tự ti và mặc cảm về bản thân do đó thiếu tự tin để vượt qua những rào cản hòa nhập với cộng đồng
Tạo hoạt động vui chơi giải trí giúp trẻ có được sự thoải mái, rèn luyện
sức khỏe để vượt qua những đau đớn của bản thân và phát triển nhân cách
1.2.3.2 Chức năng của công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
Phát hiện sớm: Thông qua tiếp xúc với đối tượng, nắm bắt thông tin, nhân viên công tác xã hội có thể phát hiện sớm được khuyết tật, đưa ra hướng
tư vấn, trị liệu tâm lý kịp thời để đối tượng tự phục hồi chức năng [6, tr.46]
Tiếp nhận thông tin, đánh giá nhu cầu của người khuyết tật: Nhân viên công tác xã hội đánh giá tình hình của người khuyết tật bao gồm cả chính bản thân và các mối quan hệ gia đình Trong một số trường hợp, người làm công tác xã hội sẽ thu xếp dịch vụ chăm sóc thay thế cho người khuyết tật Nhân viên công tác xã hội cũng có thể can thiệp vào đời sống của gia đình, cộng đồng thông qua các phương pháp như tham vấn, liệu pháp tâm lý và giáo dục
để giúp họ hiểu được nhu cầu của người khuyết tật, nâng cao kỹ năng chăm sóc, phục hồi chức năng và tăng cường khả năng ứng phó với khủng hoảng [6, tr.46]
Trang 2821
Tư vấn, trị liệu tâm lý: trên cơ sở đánh giá, tiếp xúc với đối tượng, nhân viên công tác xã hội đưa ra các giải pháp để đối tượng tự giải quyết các vấn đề
Chuyển tuyến, kết nối dịch vụ: trẻ khuyết tật có nhiều nhu cầu cần trợ giúp khác nhau Cán bộ, nhân viên công tác xã hội đóng vai trò kết nối, chuyển đối tượng tiếp cận các dịch vụ để trợ giúp người khuyết tật như: học nghề, việc làm, trợ cấp xã hội, dịch vụ chỉnh hình và phục hồi chức năng, nhà
xã hội [6, tr.49]
Quản lý đối tượng: Nhân viên công tác xã hội lập các hồ sơ quản lý đối tượng, bao gồm các ghi chép lưu trữ về đánh giá nhu cầu, các trợ giúp, sự tiến triển của đối tượng trong phục hồi chức năng [6, tr.49]
Hỗ trợ Người khuyết tật tiếp cận với các chính sách phúc lợi xã hội: Nhân viên xã hội kết nối với chính quyền địa phương giải quyết các chính sách trợ giúp người khuyết tật như: bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội, …
Kiến nghị, vận động, tìm kiếm nguồn lực xây dựng môi trường học tập vui chơi phù hợp với trẻ khuyết tật
1.2.4 Các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
1.2.4.1 Hoạt động giáo dục nhóm
Mục đích nhằm trang bị kiến thức kỹ năng cho trẻ khuyết tật vận động, dựa trên những nhóm trẻ có cùng khả năng, năng lực với nhau tạo thành một nhóm để có chung một chương trình hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ Hoạt động giáo dục hướng đến hai kỹ năng:
- Kỹ năng sống
- Kỹ năng xã hội
- Nội dung của của hoạt động giáo dục là:
Trang 2922
- Pháp luật về người khuyết tật
- Kiến thức về chăm sóc sức khỏe; vệ sinh cá nhân
- Kiến thức về tâm lý, về điều chỉnh cảm xúc bản thân
- Về nghị lực và tấm gương người khuyết tật điển hình vượt lên hoàn cảnh khiếm khuyết
Hình thức tổ chức qua các buổi thảo luận nhóm, các hoạt động vui chơi nhóm, tập huấn…
Ở hoạt động này, nhân viên xã hội có vai trò giúp các thành viên trong gia đình có sự hỗ trợ nhất định với trẻ khuyết tật để trẻ có thể sống độc lập
Hỗ trợ từng cá nhân khuyết tật để họ phát huy được tiềm năng của mình ở mức cao nhất ngay tại gia đình và cộng đồng Muốn như vậy nhân viên xã hội luôn cần bàn bạc và thảo luận với các thành viên trong gia đình để
họ hiểu cùng hợp tác trong quá trình hỗ trợ
1.2.4.2 Hoạt động giải trí nhóm
Hoạt động giải trí nhóm là nhóm tập trung vào các loại hình vui chơi giải trí mục tiêu của nhóm giải trí là giúp các thành viên trong nhóm đáp ứng nhu cầu cá nhân Hoạt động này nhằm rèn luyện sức khỏe và phát triển nhân cách giúp trẻ gần gũi và tự tin thể hiện bản thân
Nội dung của hoạt động giải trí nhóm
- Chuẩn bị đồ chơi cho trẻ
- Chọn hoạt động chơi
- Tổ chức các hoạt động vui chơi
- Phát triển các kỹ năng cho trẻ thông qua vui chơi
Hình thức tổ chức sinh hoạt nhóm, tổ chức các chương trình văn nghệ, xem các chương trình thiếu nhi, trẻ tập chơi sắm vai…
Trò chơi nhằm phát triển khả năng vận động, di chuyển và cử động thân thể, trò chơi nhằm phát triển khả năng nhận thức, trò chơi phát triển giác quan: cảm giác sờ, khả năng nhìn, nghe hoặc ngửi [13]
Trang 3023
Ở hoạt động này, nhân viên xã hội là người tìm kiếm nguồn lực, tạo môi trường giao lưu, sinh hoạt và sân chơi cho các em Cung cấp các loại hình vui chơi giải trí phù hợp với thể trạng và khả năng của nhóm trẻ Tuỳ theo khả năng vận động, nhận thức, nhu cầu, sự phát triển, hành vi và trí tuệ của trẻ mà
chọn cho trẻ trò chơi thích hợp
1.2.4.3 Hoạt động phát triển kỹ năng giao tiếp nhóm
Kỹ năng giao tiếp có một vai trò quan trọng trong việc phát triển về tâm sinh lý cho trẻ Không có một sự lo lắng và khó chịu nào lớn hơn tình trạng không hiểu được nhau Trẻ không hiểu người lớn muốn gì ở mình và người lớn cũng không hiểu trẻ cần gì nếu như không xây dựng được một mối quan
hệ tốt thông qua những kỹ năng giao tiếp hiệu quả
KNGT là năng lực tiến hành các thao tác, hành động, kể cả năng lực thể hiện cảm xúc, thái độ nhằm giúp chủ thể giao tiếp, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm với đối tượng giao tiếp Nói một cách khác, KNGT là toàn bộ những thao tác cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ được phối hợp hài hòa, hợp lý của cá nhân hay với một nhóm xã hội nhằm điều khiển, điều chỉnh đối tượng giao tiếp để thực hiện mục tiêu của chủ thể giao tiếp [15, tr.21]
Nội dung của hoạt động phát triển kỹ năng giao tiếp nhóm:
- Kỹ năng sử dụng lời nói
Hình thức tổ chức thông qua hoạt động xem tranh, tham gia dã ngoại,
kể chuyện, đóng kịch…
Trang 3124
Ở hoạt động này, nhân viên xã hội cần tổ chức các chương trình tập huấn nâng cao năng lực cho trẻ khuyết tật và các thành viên trong gia đình có trẻ khuyết tật Tư vấn, tham vấn cho giáo viên chuyên biệt, người chăm sóc trẻ hiểu về trẻ Và nhân viên xã hội cần tiếp cận gia đình làm trung tâm khi hỗ trợ trẻ khuyết tật Giúp gia đình nhận định tình trạng của thân chủ và bàn kế hoạch giải quyết nhu cầu thiết yếu
1.2.4.4 Hoạt động phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng bao gồm các biện pháp y học, kinh tế, xã hội, giáo dục và kỹ thuật phục hồi chức năng, làm giảm tối đa các hoạt động của giảm chức năng và tàn tật Bảo đảm cho người khuyết tật hội nhập, tái hội nhập xã hội; có cơ hội tham gia các hoạt động xã hội
- Kết hợp điều trị với Botulinum Toxin A ( BoNT - A)
Hình thức tổ chức thông qua các bài tập vận động, tâm vận động, tập phối hợp tay – mắt, tập cơ khớp…
Nhân viên xã hội nhận định rõ tình trạng, tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng và dự đoán về khuyết tật và mức độ khuyết tật Tìm hiểu vế quá trình suy yếu và biểu hiện của tật
Tìm hiểu tâm trạng của thân chủ và gia đình, tạo cơ hội cho họ bày tỏ nỗi niềm về những mối lo buồn gây lòng tin tưởng và bày tỏ sự thông cảm với những khó khăn họ phải trải qua
Giúp gia đình tìm những dịch vụ y tế, xã hội, pháp luật… trong cộng đồng, nhận định những chuyển biến và tiến trình của thân chủ trong việc phục
Trang 321.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật
1.3.1 Đặc điểm của đối tượng
Hoạt động lao động: Trẻ khuyết tật vận động gặp rất nhiều khó khăn về
mặt hoạt động lao động, khó khăn trong việc đi lại Vì vậy trẻ sẽ có mặc cảm,
tự ti với bản thân và cô lập với mọi người xung quanh
Về sinh hoạt cá nhân: Cản trở là sự bất tiện đối với những cá nhân do
sự thiếu hụt, khiếm khuyết về cơ thể, điều đó làm hạn chế hoặc ngăn các cá nhân thực hiện vai trò cá nhân của mình như những người bình thường Mọi
sinh hoạt cá nhân đều có sự giúp đỡ của người khác
Học tập: Khả năng tiếp thu tri thức của trẻ khuyết tật vận động cũng
gặp nhiều khó khăn Vì vậy trẻ cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp
với đặc điểm khiếm khuyết của mình
1.3.2 Năng lực, trình độ của nhân viên công tác xã hội
Phát triển nghề CTXH là một trong những giải pháp hiệu quả để giải quyết các vấn đề xã hội, trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, góp phần bảo đảm an sinh xã hội Do đó, để hướng tới chuyên nghiệp hóa nghề CTXH thì việc phát huy năng lực, trình độ của đội ngũ nhân viên công tác xã hội là yêu cầu hết sức cần thiết
Nhân viên CTXH đóng vai trò cung cấp cho TKT và gia đình trẻ nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, từ hỗ trợ tâm lý cho đến việc phát triển mạng lưới liên kết
Trang 33Tuy nhiên NVCTXH của Trung tâm còn hạn chế về số lượng và chất lượng, chưa được đào tạo bài bản về chuyên nghành CTXH nên chưa nắm bắt hết được tâm lý cũng như nhu cầu và khả năng của trẻ khuyết tật vận động, chưa thực sự có phương pháp làm việc chuyên nghiệp
1.3.3 Điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực khác
Được sự quan tâm của Lãnh đạo Bộ, các Vụ, phòng ban chuyên môn thuộc Bộ trong mọi mặt hoạt động của Trung tâm và chính quyền đoàn thể của địa phương
Đội ngũ cán bộ, viên chức và người lao động có tinh thần đoàn kết cao,
có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác, yêu ngành, yêu nghề, có tâm huyết và tình thương đối với các cháu khuyết tật, có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực chăm sóc, nuôi dưỡng và PHCN cho trẻ khuyết tật
Đội ngũ giáo viên được đào tạo đúng chuyên ngành giáo dục đặc biệt, nhiều giáo viên đã giảng dạy trẻ em khuyết tật lâu năm với những kinh nghiệm phong phú, am hiểu tâm sinh lý các cháu và có chương trình giáo án giảng dạy phù hợp cho sự phát triển của các cháu khác nhau
Trung tâm đóng trên địa bàn thành phố nên có nhiều thuận lợi trong công tác tiếp nhận và điều trị phục hồi chức năng cho trẻ gia đình, công tác vận động, tuyên truyền, hỗ trợ và phối hợp cùng gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng và điều trị trẻ đạt hiệu quả cao
Trang 3427
Cơ sở vật chất, phòng ốc sử dụng đã lâu và xuống cấp; trang thiết bị y
tế chuyên môn về phục hồi chức năng còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ trẻ khuyết tật
Đội ngũ cán bộ, viên chức làm công tác chuyên môn y tế còn thiếu và khó tuyển dụng do đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn trong công
tác điều trị phục hồi chức năng
1.3.4 Nhận thức của gia đình và cộng đồng
Vấn đề kỳ thị và phân biệt đối xử xảy ra chính trong gia đình của trẻ khuyết tật, vẫn có sự phân biệt giữa những người con trong gia đình Những thành viên trong gia đình thường coi thường người khuyết tật, coi người khuyết tật là gánh nặng suốt đời, xem họ là người vô dụng nên hay lăn mạ thậm chí có những gia đình do nhận thức kém còn đánh đập, xích trong nhà, không cho ăn uống vá bắt đi xin ăn
Tuy nhiên những gia đình có kiến thức hiểu biết thì họ rất tôn trọng quyền của người khuyết tật nên tạo điều kiện cơ hội công bằng cho trẻ khuyết tật được tham gia vào các sinh hoạt của gia đình và cộng đồng; đôi khi còn ưu tiên hơn cho trẻ khuyết tật vì thấy chúng kém may mắn hơn những đứa trẻ bình thường khác
Cộng đồng nhìn trẻ khuyết tật như những người đáng thương, sống dựa vào người khác và ỷ lại sự giúp đỡ của người khác, không có cuộc sống bình thường, một số người lại cho rằng người bị khuyết tật như vậy là do số phận, hoặc là phải trả giá cho việc làm xấu xa ở kiếp trước hay ra đường mà gặp phải người khuyết tật là gặp phải vận đen Do đó, mọi người thường có thái
độ xa lánh hoặc không muốn tiếp xúc
1.4 Các cơ sở pháp lý về công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật
1.4.1 Cơ sở pháp lý về trẻ khuyết tật và khuyết tật vận động
* Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền của Người khuyết tật
Trang 3528
Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã ký cam kết tham gia Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật Mục đích của Công ước này là nhằm bảo hộ và thúc đẩy các quyền của người khuyết tật; đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận bình đẳng và thực hiện đầy đủ các quyền cơ bản như các cá nhân không khuyết tật khác
Công ước đề cập đến các nguyên tắc cơ bản như sau:
Không phân biệt đối xử;
Tham gia đầy đủ, hiệu quả và hoà nhập vào xã hội;
Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận người khuyết tật như một phần của nhân loại và sự đa dạng của con người;
Bình đẳng trong các cơ hội;
Khả năng tiếp cận;
Bình đẳng giữa nam và nữ;
Tôn trọng khả năng phát triển của trẻ em khuyết tật và quyền của trẻ
em khuyết tật trong việc bảo tồn bản sắc cá nhân
* Luật Người khuyết tật Việt Nam 2010
Luật Người khuyết tật đã được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 6 năm
2010 Luật Người khuyết tật Việt Nam gồm 10 chương, 53 điều và có hiệu lực
từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 Đây được coi như văn bản pháp lý quy định chi tiết và khá toàn diện về các vấn đề liên quan đến người khuyết tật
Theo đó, ngoài các quy định chung, Luật còn quy định cụ thể về xác nhận khuyết tật, gồm tiến trình, phương pháp, thủ tục và trách nhiệm của các
cơ quan tổ chức có liên quan
Nội dung chính của Luật chủ yếu đề cập đến các lĩnh vực có liên quan đến người khuyết tật bao gồm: chăm sóc sức khỏe; giáo dục; dạy nghề và việc làm; văn hóa, thể dục thể thao, giải trí và du lịch; nhà chung cư, công trình công cộng; giao thông; công nghệ thông tin, truyền thông; và bảo trợ xã hội
Trang 3629
* Đề án trợ giúp Người khuyết tật của chính phủ giai đoạn 2006- 2010 được phê duyệt tháng 10/2006 Đề án đưa ra phương pháp tiếp cận toàn diện đối với vấn đề người khuyết tật với việc mở rộng đối tượng tham gia đề án và
có sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan
* Giáo dục hòa nhập tầm nhìn tới 2015 Chính phủ đặt mục tiêu thực
hiện giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em khuyết tật vào năm 2015
1.4.2 Cơ sở pháp lý liên quan đến công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật
Nghề CTXH là một nghề hướng đến việc trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng xã hội “yếu thế” giúp họ phát triển khả năng của bản thân, gia đình cùng với cộng đồng và sự trợ giúp của nhà nước, để họ tự vươn lên hòa nhập đời sống cộng đồng Trên thế giới, đặc biệt
là các nước phát triển họ công nhận CTXH là một nghề chuyên nghiệp Ngày 25/3/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn 2010 –
2020 (gọi tắt là Quyết định 32)
Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Ngay sau khi Đề án được ban hành, các Bộ, Ngành chức năng đã ban hành các văn bản quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH, chức danh, mã số các ngạch viên chức CTXH, Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg ; Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH công lập…Như vậy Quyết định
Trang 3730
32 đã tạo ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp Đồng thời, cũng tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp bộ đảng, chính quyền và xã hội về nghề CTXH
Ở nước ta hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước về an sinh xã hội và CTXH được Chính phủ giao Bộ LĐ-TB-XH theo quy định của Chính phủ, Bộ LĐ-TB-XH có nhiệm vụ: thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động , việc làm, an toàn lao động, dạy nghề, chính sách đối với người khuyết tật, bảo trợ xã hội, …Và như vậy, trẻ khuyết tật là một đối tượng của nghành CTXH,
họ được trợ giúp các dịch vụ xã hội từ NVCTXH cũng như được NVCTXH trợ giúp trong việc bảo vệ quyền lợi; tham vấn tư vấn tâm lý, biện hộ cho họ, giúp họ đáp ứng được quyền lợi và những nhu cầu thiết yếu
Quyết định số 1305/QĐ-LĐTBXH ngày 22 tháng 10 năm 2010 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc Phê duyệt kế hoạch tổng thể thực hiện Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2015
Thông tư số 10/2010/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 3 năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành chương trình khung Giáo dục đại học ngành CTXH trình độ đại học, cao đẳng
Quyết định số 35/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 11 tháng 10 năm 2004 của
Bộ Giáo dục và Đạo tạo về việc ban hành chương trình khung giáo dục đại học ngành CTXH trình độ đại học, cao đẳng
Thông tư số 08/2010/TT-BNV ngày 25 tháng 8 năm 2010 của Bộ Nội
vụ về Quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH
Thông tư số 34/2010/TT-BLĐTBXH ngày 8 tháng 11 năm 2010 của
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về Quy định tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH đã quy định cụ thể về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH
Trang 3831
Thông tư liên tịch số 11/2011/TTLT/BTC-BLĐTBXH của Bộ Tài chính-Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội: Hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020
Kết luận chương 1
Trong chương 1 tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận về công tác
xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động, các khái niệm về trẻ khuyết tật, trẻ em khuyết tật vận động, về công tác xã hội nhóm, công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động Những khái niệm này làm rõ về khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài Đồng thời, chương này cũng trình bày các hoạt động công tác xã hội nhóm với trẻ khuyết tật vận động, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động, các cơ sở pháp lý về công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động
Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ định hướng cho việc nghiên cứu đề tài “ Công tác xã hội nhóm đối với trẻ khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, Tp.Hồ Chí Minh”
Trang 3932
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát đặc điểm trung tâm và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Khái quát đặc điểm trung tâm
Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật là đơn vị (thuộc
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) đóng trên địa bàn quận 3 thành phố
Hồ Chí Minh Trung tâm được thành lập ngày 09/3/1978 theo Quyết định số 86/TBXH của Bộ Thương binh và Xã hội từ việc tiếp nhận và hợp nhất hai cơ
sở là Trung tâm Y tế Xã hội Việt Nam (Terre des Hommes) và Nhà trẻ Caritas lấy tên là Trung tâm phục hồi trẻ mồ côi suy dinh dưỡng qua 2 lần thay đổi, chức năng và nhiệm vụ hoạt động vào năm 1996 và năm 2006 Trung tâm được đổi tên thành Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật ngày nay
Trang 4033
Trung tâm chuyên điều trị phục hồi chức năng và trợ giúp cho trẻ khuyết tật, trẻ mồ côi nghèo Ngoài ra Trung tâm còn thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng và huấn luyện về điều trị phục hồi chức năng cho đội ngũ cán bộ, nhân viên các cơ sở bảo trợ xã hội các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam
* Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm
Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật là đơn vị sự nghiệp thực hiện điều trị phục hồi chức năng, trợ giúp trẻ tàn tật, trẻ mồ côi nghèo; bồi dưỡng, huấn luyện về điều trị phục hồi chức năng
Điều trị phục hồi chức năng đối với trẻ tàn tật tại Trung tâm và tại
cộng đồng;
Nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến về phục hồi chức năng cho trẻ tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa;
Trợ giúp về dạy nghề, tạo việc làm phù hợp đối với trẻ tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hòa nhập cộng đồng;
Bồi dưỡng, huấn luyện về điều trị phục hồi chức năng cho cán bộ, nhân
viên cơ sở bảo trợ xã hội và cộng đồng;
Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu ứng dụng, điều trị phục hồi chức năng; vận động và tiếp nhận các chương trình, dự án viện trợ nhân đạo trong nước và quốc tế; tổ chức chuyển giao dự án địa phương, cơ sở thực hiện đảm
bảo đúng mục tiêu, đối tượng, hiệu quả
Quản lý tổ chức, cán bộ viên chức, tài chính, tài sản của Trung tâm theo quy định của pháp luật
* Đối tượng và phạm vi hoạt động
Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thực hiện theo nhiệm vụ, chức năng đã được giao để tiếp nhận các đối tượng xã hội, đối