1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyễn Khuyến và chủ đề tự Thuật trong văn chương

20 840 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 38,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi thi đỗ, Nguyễn Khuyến ra làm quan, ông đựơc được giữ chức vụ khá nhàn nhã,không phải lo lắng những vấn đề gay go của đất nước.Thế nhưng chỉ sau mười một năm ra làm quan dưới triề

Trang 1

II NỘI DUNG CHƯƠNG I Chương 1

SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA -BỐI CẢNH LỊCH SỬ- THỜI ĐẠI-VĂN HÓA ĐẾN THỜI ĐẠI LỊCH SỬ VÀ VĂN CHƯƠNG NGUYỄN KHUYẾN

1 Bối cảnh lịch sử-thời đại

Theo những tài liệu về Nguyễn Khuyến được biết ông sinh năm ất Ất Mùi

1835 ở quê mẹ, làng Hoàng Xá, huyện ý Ý Yên, tỉnh Nam Định nhưng lớn lên chủ yếu ở quê cha là làng Yên Đổ,huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.Tên lúc đầu là Thắng,

về sau mới đổi là Khuyến để chỉ rõ quyết tâm học tập của mình.

Nguyễn Khuyến được sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, từ bé đã nổi tiếng học giỏi Tuy nhiên, Nguyễn Khuyến đã phải vất vả mấy lần thi hỏng sau đó mới lần lượt đỗ Hội nguyên, rồi Đình nguyên, được vua Tự Đức ban cờ biển và viết cho ông hai chữ “Tam nguyên” Sau khi thi đỗ, Nguyễn Khuyến ra làm quan, ông đựơc được giữ chức vụ khá nhàn nhã,không phải lo lắng những vấn đề gay go của đất nước.Thế nhưng chỉ sau mười một năm ra làm quan dưới triều Nguyễn, đến năm 1883, Nguyễn Khuyến đã xin từ quan về ở ẩn (với danh nghĩa về hưu non do bị đau mắt) không màng chính sự khi ông mới 49 tuổi Tại sao lại có sự “nghỉ hưu non” này?

Như trên đã nói, ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Khuyến đã nổi tiếng học giỏi khắp vùng; gia đình ông lại là dòng dõi Nho gia.Vì thế mà tương lai của ông được vạch ra theo thứ tự: học-thi đỗ-làm quan Và sau nhiều năm dùi mài kinh sử,cận kề đèn sách,Nguyễn Khuyến đã đậu được đến Tam Nguyên Tuy nhiên, đường quan trường của ông không có gì nổi trội,hiển hách là mấy.Có lẽ,vì trong khoảng mười hai năm làm quan thì có đến sáu năm (một nửa đời làm quan của ông)

là làm ở sử quán, một công việc rất nhàn nhã,không phải lo lắng cho quốc sự nhiều.Năm 1858, thực dân Pháp chính thức đem quân sang xâm lược nước ta , chúng chiếm lấy Bắc Bộ rồi chiếm luôn cả kinh thành, vua Tự Đức chết khiến cho cả triều đình hỗn loạn như rắn mất đầu Các quan lại hoang mang lo lắng,tình hình vô

Trang 2

cùng rối ren.Bản thân Nguyễn Khuyến là một nhà nho theo đạo Thánh hiền, lấy chữ Trung làm trọng,vì thế mà ông quan niệm phải trung với vua,thờ vua giúp nước.Hơn nữa,qua ba lần thi Hương,thi Hội,thi Đình ông đều đạt giải nguyên đỗ đầu ,lại được vua tự tay khen thưởng, “cái ơn huệ” đối với ông có nghĩa là trách nhiệm (Theo “Nguyễn Khuyến-một phong cách lớn”, Nguyễn Lộc) [ , ] Có lẽ do vậy mà sau khi thi đậu, mặc dù lúc đó nước ta đã bị thực dân Pháp xâm lược, tình hình hết sức rối ren, nhưng Nguyễn Khuyến vẫn quyết định ra làm quan,vì ông nghĩ rằng đó là con đường duy nhất để một nhà nho có thể thực hiện được lý tưởng “trí quân trạch dân” của mình:

“Mười mấy năm qua ấn với thao

Thân này mong được đức vua yêu”

Tuy nhiên khi giặc Pháp nổ súng và xâm lược,Nguyễn Khuyến đã không có dũng khí lấy cái chết để đền nợ nước như Trần Bích San,hay Phan Thanh Giản, ông cũng không đủ tự tin và can đảm để theo tướng tài chiêu mộ binh sĩ chờ thời cơ khởi nghĩa như tổng đốc Sơn Tây Nguyễn Đình Nhuận hay nho sĩ Nguyễn Quang Bích.Nhưng ông cũng chẳng làm quan cho giặc như Nguyễn Hữu Độ mà chọn con đường từ quan về nhà để khỏi mang tiếng xấu đến muôn đời.

Trứơc Trước lẽ xuất xử,Nguyễn Khuyến đã băn khoăn, chết thì:

Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị Đáo đắc thoan tuần biện diệc nan

( Xuân dạ liên nga)

(Nếu như thảng thốt mà xông vào chỗ chết thì còn dễ, nhưng dùng dằng mà quyết chết được thực là khó)

Nếu theo Nguyễn Quang Bích thì ông tự nhận thấy mình không đủ tài cán:

Vô tài cự khả khinh đầu bút Hữu dục an năng bất sĩ bào

(Bất tài há dám xem nhẹ việc bứt bút theo quân Còn ham muốn sao cho khỏi thẹn với tấm áo)

Trang 3

Có thể thấy một điều là ở vào thời điểm đó, đối với ông giải pháp nào cũng là gượng gạo và miễn cưỡng Đó là giai đoạn khủng hoảng và bế tắc buộc Nguyễn Khuyến Ông đã so sánh giữa tình thế và sức lực của mình với kẻ khác ,giữa bản thân với gia đình để cuối cùng lựa chọn con đường cáo quan về quê:

Việc nhiều,hay ốm, đành hưu vậy Ngày một lần ăn chưa nỗi nào Giúp nước bạn bè còn lại đó

Về nhà con cháu chắc hiền đâu?

Nguyễn Khuyến nghĩ rằng bạn bè ông ở lại giúp nước còn ông đã già lại đau

ốm không đủ tài đủ sức để chống giặc mà cứ bám lấy một chức quan là tham lam.Suy nghĩ của ông về lẽ xuất xử chỉ đơn giản là thời thế loạn lạc, không hành được thì tàng chứ chẳng phải là do thiếu ơn tri ngộ hay do gặp hôn quân gian thần Ông chọn cách ẩn dật để mong chút tự do,thoải mái cho riêng mình Có những lúc ông đã ao ước giá mình là một hòn đá vô tri vô giác vì ông sợ lương tâm còn thì hẳn còn khiến ông suy nghĩ và khổ sở.Kiểu ẩn dật mà Nguyễn Khuyến lựa chọn cũng như nhiều nho sĩ khác, đó là cách lựa chọn thái độ sống của nhà nho.Tuy nhiên,lựa chọn theo cách đó phải có tiền đề là một thể chế chính trị xã hội cho phép con người quan niệm mình không có trách nhiệm với xã hội ,hoặc trách nhiệm đó thuộc về vua hoặc cá nhân là cứu cánh -đồng thời có hoàn cảnh kinh tế tự túc, có thể sống biệt lập ,có ít liên quan với kẻ khác.Nhưng hoàn cảnh hiện tại không cho Nguyễn Khuyến sống biệt lập như các ẩn sĩ đời xưa; vì thế mà ông luôn phải suy nghĩ và khổ sở bởi điều ấy.

Theo ông Nguyễn Lộc, Nguyễn Khuyến cáo quan lui về vườn Bùi chốn cũ là

do sự chi phối của một tâm lý bất lực thất bại chủ nghĩa Ông nhìn thấy nước không còn nữa nên đành quay về ở ẩn:

Cờ đương dở cuộc không còn nước Bạc chửa thâu canh đã chạy làng

Trang 4

Thực ra,sự lựa chọn của Nguyễn Khuyến đã bao phen làm ông suy đi nghĩ lại bởi lịch sử bấy giờ chưa thể có câu trả lời chính xác,người nho sĩ bị dồn vào thế

bí Nguyễn Khuyến bị bao mối ràng buộc:

Ơn vua chưa chút báo đền Cúi trông hổ đất,ngửa lên thẹn trời

Nhưng nếu làm quan lại để tiếng xấu cho đời sau.Cho nên ,sự lựa chọn xuất

xử của Nguyễn Khuyến không được rõ ràng ,vì ông từ quan với danh nghĩa là về hưu non, ông lại không tham gia chống Pháp và vẫn giao thiệp tốt với những bạn

quan cũ,bởi vậy mà lẽ xuất xử của ông không minh bạch, “vẫn có chỗ để nghi ngờ,chê cười”(theo GS.Trần Đình Hượu) Điều này khiến nhà thơ hết sức khổ tâm;

đó cũng là lúc con người cá nhân của ông được bộc lộ:một con người khát khao được thờ vua giúp nước nhưng gặp thời buổi nhiễu nhương đành bất lực làm một ông già vườn Bùi trốn thân vào cảnh vật Đó là một kẻ sĩ bụng đầy chữ mà không được đem hết ra để trả nợ tang bồng cho vẹn chí nam nhi.Nỗi niềm thương cho dân tình thế thái của Nguyễn Khuyến chẳng lúc nào nguôi ngoai cả khi ông từ quan về ở

ẩn Sự lựa chọn xuất xử của ông trong thời buổi ấy có lẽ chỉ có thể như thế nhưng những khổ tâm, dằn vặt của ông về quyết định lựa chọn của mình đã được ông giải toả qua những vần thơ mà từ đó,ta hiểu hơn con người Tam nguyên Yên Đổ, một nhân cách lớn.

2.Sự ảnh hưởng của nho giáo đến tư tưởng Nguyễn Khuyến.

Nnhững lý tưởng về mặt chính trị xã hội của hệ tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng rất loén đến tư tưởng Nguyễn Khuyến.Học thuyết này,luôn được giáo dục đề cao tinh thần “tự nhiệm” lấy “tu thân” làm gốc để cảm hoá lòng người (Tu kỉ trị nhân).Tuy nhiên, khi bắt tay vào thực tế,trước sự phức tạp của thời đại cũng như chốn bổng lộc quan trường đầy cám dỗ “làm thế nào để trọn đạo Vua-tôi?”, “sống làm sao để giữ được chữ Tâm cho thanh sạch?” …đó là vấn đề bao thế hệ Nho gia suy tư trăn trở

Chúng ta trước hết có thể khẳng định Nho giáo là nguồn gốc sâu xa đặt ra vấn đề Xuất - xử Hay nói cách khác, sự lựa chọn Hành hay Tàng, ở hay Về là một

Trang 5

sự chọn lựa ứng xử của các nhà Nho khi áp dụng tư tưởng của Nho giáo vào thực tiến.Chính vì vậy, ta cần nắm vững những điều cốt lõi về lịch sử cũng như nội dung

tư tưởng của hệ ý thức này.

Thứ nhất, Nho giáo là một học thuyết đạo đức-chính trị mang tính chất tôn giáo, được sáng lập bởi nhà tư tưởng Trung Hoa cổ đại Khổng Tử (551-479 TCN) Sau khi ra đời, Nho giáo đã nhanh chóng phát triển thành hệ tư tưởng chính thống

và Nho học được xem là loại hình giáo dục phổ biến của Trung Hoa,kéo dài suốt thời trung đại (Thế kỉ II TCN đến Cách mạng Tân Hợi 1911.1913) Nhưng chưa dừng lại ở đó, học thuyết này còn gây ảnh hưởng sâu đậm khắp khu vực Đông á,trong đó có Việt Nam.

Ở nước ta,Nho giáo được truyền bá rất sớm,từ thời Bắc thuộc( khoảng năm 111TCN hoặc sớm hơn) nhưng phải đến giai đoạn từ thời Trần sang thời Lê nó mới trở thành ý thức hệ chính thống.Vai trò độc tôn của Nho giáo ở Việt Nam kéo dài gần năm thế kỉ (Thế kỉ XV-Thế kỉ XIX) gây ảnh hưởng sâu sắc và toàn diện tới mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội nước ta Đặc biệt hơn,nó đã tạo ra một đội ngũ trí thức Nho học uyên bác Đây chính là những chủ thể thẩm mỹ trực tiếp cấu thành nên loại hình văn học nhà Nho-một bộ phận quan trọng trong nền Văn học trung đại Việt Nam.

Từ sự sơ khảo về lịch sử như trên đã chỉ rõ lịch sử hình thành và phát triển của Nho giáo nói chung và ở nước ta nói riêng ở phần sau này, chúng tôi sẽ tập trung trình bày làm nổi bật nội dung tư tưởng cốt lõi học thuyết đạo đức-chính trị này.Bởi đây chính là cơ sở giúp ta lí giải nguồn gốc nảy sinh vấn đề Xuất-xử trong Nho gia.

Nội dung cơ bản của Nho giáo được thể hiện tập trung trong ba học thuyết: Thuyết “Đạo đức”,Thuyết “Lễ trị” và Thuyết “Chính danh”.Trong đó,lí tưởng của học thuyết là chủ trương thiết lập lại trật tự xã hội một cách ổn định thông qua việc

tu luyện đạo đức nhằm hoàn thiện nhân cách bản thân và cảm hoá lòng người (Tu kỉ trị nhân) Chính bởi vậy các môn sinh luôn phải lấy tu thân làm gốc, lấy chữ

“Nhân”, chữ “Nghĩa” làm đức mục cao nhất của quá trình tu thân.

Trang 6

Việc hiện thực hoá lí tưởng kiến tạo xã hội trên được Nho giáo giao phó tập trung ở một số lớp người, được xem là tinh hoa của thời đại Đó là những nhà nho,các bậc thánh nhân quân tử,lớp người được xem là đã đạt được tính mẫu mực điển hình của con đường tu thân dưỡng đức Bởi vậy, trong nhân cách của họ,thường trực một tinh thần “tự nhiệm”, “nhập thế” trước hiện thực đời sống.

“Vũ trụ giai ngô phận sự” (Nguyễn Công Trứ).Và để thể hiện tinh thần hữu

trách-phẩm chất đặc trưng của nhà Nho,họ sẽ bứơc vào con đường “lập thân ,cứu thế” mà Nho giáo cho là “chính đạo”, đó là con đường học-thi đỗ và ra làm quan.Nho giáo quan niệm rằng nhà Nho bước vào chốn quan trường là để giúp vua giáo hoá dân chúng,ban ân huệ cho dân bằng chính đạo đức nhân cách của mình (con đường “Đức trị”, phò vua trị quốc, trị quốc cứu đời, trị đời để cứu dân) Chính

vì thế con đường trước tiên, con đường chính thống nhất mà nhà Nho muốn lựa chọn bao giờ cũng là con đường “nhập thế”.

Tuy nhiên, có một nghịch lý nảy sinh là giữa lý tưởng hành đạo của nhà Nho với thực tế lại bị mâu thuẫn với nhau rất sâu sắc Nho giáo quan niệm trọng “Đạo” khinh vật chất và chủ trương coi con đường làm quan là con đường hành đạo chân chính nhất Thế nhưng quan trường chính là nơi trực tiếp liên quan đến đời sống chính trị, thời đại, lại là nơi có nhiều thủ đoạn trục lợi cầu danh, phức tạp nhất, khó nắm bắt nhất.Do vậy,mặc dù tu thân lập tề theo con đường “Chính đạo” nhưng các

nhà nho vẫn luôn trăn trở giữ mình, giữ được chí khí của bậc quân tử “Phú quý bất năng dâm,bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (Giàu sang không cám dỗ được

lòng mình, nghèo khó không làm mình nao núng,cường quyền không làm mình khuất phục) Nhưng chưa dừng ở đó, việc nhà nho có thực hiện được lí tưởng của mình hay không lại phụ thuộc vào phẩm chất của các ông vua: có được vua minh tin dùng thì họ mới có thể đem sở học của mình ra phò vua giúp nước được.Hơn nữa,thời thế luôn luôn thay đổi, lại thêm buổi loạn lạc phân li…càng đẩy các nhà

nho vào bi kịch “Tài cao phận thấp chí khí uất” Nhưng dù rơi vào hoàn cảnh nào,

nhân cách của nhà nho cũng buộc họ phải hành xử sao cho trọn đạo.Chính vì vậy

mà họ thường xuyên phải đặt ra vấn đề Xuất -Xử Tâm lý họ luôn mong muốn

Trang 7

“nhập thế”, “hành đạo” nhưng thời cuộc thay đổi, để bảo vệ phẩm giá của mình,họ

sẵn sàng chọn con đường ẩn dật “Lánh đục về trong”.

Lựa chọn con đường ẩn dật đồng nghĩa với việc các nhà nho bước ra ngoài chốn quan trường chính sự để về với cuộc sống “an bần lạc đạo” hưởng thú thanh nhàn nơi cảnh quê yên tĩnh Nhưng trong thực tế,họ chỉ nhàn “thân” mà không nhàn “tâm”;họ trốn vào thiên nhiên cảnh vật đấy mà lòng vẫn đau đáu sự đời:

“Bui có một lòng trung với hiếu Mài chăng khuyết ,nhuộm chăng đen”

(Thuật hứng 24-Nguyễn Trãi)

Chính sự day dứt này đã trở thành nguồn xúc cảm để các nhà nho tự bạch lòng mình,làm nên một bộ phận đặc sắc trong văn học-Văn chương nhà Nho ẩn dật Độc giả hẳn không thể quên dòng tâm sự trong thơ Nguyễn Trãi,Nguyễn Công Trứ,Cao Bá Quát,Nguyễn Đình Chiểu,Nguyễn Khuyến…Họ cũng chọn lựa con đường “Lánh đục về trong” để bảo toàn phẩm giá trước những đổi thay của thời cuộc Tuy nhiên, sự lựa chọn Xuất-Xử của họ lại đựơc thể hiện theo những phương

thức xúc cảm riêng Đây chính là cơ sở để chúng tôi đi đến việc tìm tìm hiểu “Cái Tôi của nhà thơ Nguyễn Khuyến trong sự lựa chọn Xuất-xử”.

Tóm lại, những việc trình bày như trên cho ta thấy rằng Nho giáo là một học thuyết chính trị-đạo đức giàu tính thực tiễn và có ý nghĩa tích cực Trong đó nó chủ trương hứơng tới việc tạo dựng một xã hội thái bình thịnh trị Đồng thời đề cao tinh thần hữu trách tự nhiệm của nhà nho trước hiện thực cũng như coi trọng phẩm cách của họ trước cuộc đời Đây chính là nguyên nhân làm nảy sinh mối trăn trở mà nhà nho luôn băn khoăn,day dứt,suy tư: đó là vấn đề về sự lựa chọn xuất-xử.Trước mỗi bậc chính nhân luôn có hai con đường:gặp thời ra sức làm quan phò vua giúp nước;bất phùng thời sẵn sàng từ chức về an trù tại quê hương.Chính vì vậy mà việc

bỏ Hành về Tàng vẫn được xem là con đường “dũng thoái”.Nó vừa thể hiện thái độ phản ánh của nhà nho trước thực tại vừa góp phần giữ gìn tâm hồn trong sạch của bản thân.

Trang 8

CHƯƠNG II .SỰ THỂ HIỆN CÁI TÔI TRONG VĂN CHƯƠNG NGUYỄN KHUYẾN

II.1 Tư thế một nhà Nho tự thẹn, tự nhận thức, tự trào

Chín lần lều chõng đi thi và đỗ đạt (Tam Nguyên), Nguyễn Khuyến là nhà Nho đích thực, một danh Nho Vậy điều gì làm cho nhà Nho Yên Đổ băn khoăn, tự thẹn, trăn trở day dứt ? Tư cách một nhà Nho, các nho sĩ trước Nguyễn Khuyến có

lo nghĩ day dứt không ? Điều này không khó trả lời, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… các tác giả văn học nổi tiếng này đã không ít đau buồn và cô độc khi lui về

ở ẩn Vì sao vậy ? PGS.TS Trần Nho Thìn cắt nghĩa khá rõ: “Sự kiên trì lý tưởng đạo đức, quyết tâm giữ vững nhân cách nhà Nho Chủ trương một lối sống lánh đời tất mang sắc thái lội ngược dòng lánh đục về trong và tất có nét cô độc” Nguyễn Khuyến khi từ chối chức Tổng đốc Sơn Tây tức là từ chối danh lợi như không ít các nhà Nho trước đó Có điều, đối với các nhà Nho trước, có hai con đường: xuất và

xử Khi con đường làm quan hanh thông thì tiếp tục làm quan, khi không thuận lợi thì cáo quan về ở ẩn hoặc dạy học Có trường hợp từ quan vì vua không “minh quân”, quan lại ganh ghét đố kị Như trường hợp của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Con đường từ chối chức Tổng đốc Sơn Tây không vì lẽ đó khi giặc Pháp thực sự đặt ách thống trị lên đất nước (1881), nhiều nho sĩ, trí thức Việt Nam đã đi theo ngọn cờ Cần Vương Nguyễn Khuyến đã băn khoăn trước ngã ba đường, cuối cùng, ông quyết không hợp tác với giặc, nhưng cũng không đủ trí dũng để chiến đấu Giải pháp của nhà nho này là từ quan về với vườn Bùi, quê hương của ông Như đã nói, về quê là một bước ngoặt trong đời thơ Nguyễn Khuyến Ở đây cần nhấn mạnh một vấn đề khác: tư cách nhà Nho Nguyễn Khuyến Là một nho sĩ từng bước qua cửa khổng sân trình, cũng như bao Nho sĩ khác, ông mong muốn và tin tưởng “vào sứ mệnh cao cả và thiêng liêng cao cả mà một nhân cách đứng giữa trời

Trang 9

đất như mình được, tin tưởng vào tính hữu ích của cái học vấn mà mình có được nhờ học tập sách thánh hiền” (Trần Nho Thìn) Nhưng giờ đây “áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già” nhà Nho Nguyễn Khuyến luôn day dứt, mặc cảm về sự bất lực của bản thân trong tư cách một nhà Nho “Có thể nói, qua thơ Nguyễn Khuyến, lần đầu tiên trong lịch sử, nhà Nho tự thú về sự vô dụng của mẫu người mà mình đại diện Nhà thơ tự trách vấn, tự xỉ vả, thậm chí tự mạt sát” Tư cách một nhà văn hóa, một người tự ý thức rất rõ về sự bất lực của loại hình nhân cách như mình, sự vô dụng của một trí thức trước cảnh nước mất, nhà tan:

“Sách vở ích gì cho buổi ấy

Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già”

(Ngày xuân dặn các con) Cũng ở bi kịch của một nhà Nho trước thời cuộc, “cái tôi” Nguyễn Khuyến hiện ra ở biểu hiện “tự trào”:

“Mở miệng nói ra gàn bát sách Mềm môi chén mãi tít cung thang Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng”

(Tự trào) Như vậy, bối cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ - sự đô hộ của giặc Pháp – là một

sự kiện tác động lớn đến ý thức của nhà Nho Việt Nam, khiến con người văn hóa Nguyễn Khuyến không khỏi nhận thức lại vị trí của giai cấp mình.

Cũng với tư cách nhà Nho trước thời cuộc, ông đã nhìn về kẻ thù với cái nhìn nhà Nho.

Bởi theo Nguyễn Khuyến, một trong hai tội ác của giặc là việc làm đương khai mỏ có hại cho vận mệnh dân tộc giống như việc làm tổn thương long mạch theo quan điểm phong thương Cách nghĩ cách nhìn này rõ ràng đứng ở tư cách một nhà nho:

Khoét rỗng ruột gan trời đất cả Phá tung phênh dậu hạ di rồi

Trang 10

Trước thời cuộc nhiễu nhương mà mình - một trí thức, một nhà nho bất lực, Nguyễn Khuyến tự thẹn, tự trào với chính mình Nhiều bài thơ của thi nhân đã hiện

ra “cái tôi” như thế:

Cánh vô thực học tì suy thế Thặng hữu hư danh quán đại đình

(Cận thuật) (Dịch nghĩa: Đã không có cái học để giúp đời đang suy lại còn mang cái hư danh đỗ đầu thi đình.)

Chân thành tự thẹn với chính mình, đó là một nhân cách đáng trọng Tuy nhiên, Nguyễn Khuyến không nghĩ thế Càng tự ý thức về bản thân, thi nhân Nguyễn Khuyến càng cảm thấy cái sự học của nhà Nho thật vô nghĩa, thấy bản thân mình thật đáng bị phủ định Ông phủ định chính mình bằng hình thức “tự trào” thật chua chát:

Năm nào năm nảo hãy còn ngây

Sầm sập già đây hãy đến ngay

Mái tóc phần sâu phần lốm đốm

Hàm răng chiếc rụng chiếc lung lay

Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tơ

Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say

Còn một nỗi này thêm chán ngán

Đi đâu lủng củng cối cùng chày

Thông thường, tư cách nhà nho khiến cho các nho sĩ trước đó diễn tả trong thơ tư thế thiên sứ của mình: thực thi cái đạo (nguyên lý trị nước, nguyên lý tổ chức

xã hội, nguyên lý sống và các nguyên lý khác của vũ trụ) Nhà nho truyền thống quan niệm: trời sinh đức ở ta tự thấy mình có nhân cách và hướng quan sát xã hội

từ bên ngoài, bên trên Họ tỏ rõ sự nghiêm túc, khi ngợi ca hay phê phán Do vậy, đến Nguyễn Khuyến mới có hiện tượng một danh Nho “tự trào”, thậm chí lấy cái xấu, cái tệ của mình ra mà cười cợt Mạch “tự trào” trong việc thể hiện “cái tội” của

Ngày đăng: 07/10/2016, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w