1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em bị xâm hại tình dục từ thực tiễn huyện chợ mới, tỉnh an giang

100 1,5K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục tiêu đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, từng bước hạn chế tình trạng tr

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HOÀNG KHANH

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM

BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHỢ MỚI

Trang 2

ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo đọ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Trang 3

ỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm khoa Công tác xã hôi – Học viện Khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cũng như những kiến thức mà quý Thầy, Cô đã truyền đạt cho tôi để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PSG.TS Đỗ Hạnh Nga – Trưởng khoa công tác xã hội Trường Đại Học Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, Nhân viên Trung tâm Công tác xã hội Bảo vệ trẻ em tỉnh An Giang, Chính quyền địa phương, Huyện Chợ Mới đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các bậc phụ huynh đã nhiệt tình hợp tác với tôi trong quá trình nghiên cứu trên địa bàn

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ Ý UẬN VỀ C NG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC 11

1.1 Hệ thống các khái niệm 11

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 17

1.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác xã hội đối với trẻ em bị xâm hại tình dục 23

1.4 Vai trò và nhiệm vụ cơ bản của công tác xã hội đối với trẻ bị xâm hại tình dục 30

Chương 2: THỰC TRẠNG C NG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ EM BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC TẠI HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH AN GIANG 34

2.1 Đặc điểm địa bàn khảo sát 34

2.2 Thực trạng xâm hại tình dục trẻ em gái trên địa bàn huyện Chợ Mới 38

2.3 Nguyên nhân xảy ra tình trạng xâm hại tình dục trẻ em 46

2.4 Công tác xã hội cá nhân với trẻ em bị xâm hại tình dục 48

2.5 Đánh giá mức độ tiếp cận và kết quả hỗ trợ xã hội cho đối tượng 58

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHO VIỆC ĐƯA C NG TÁC XÃ HỘI VÀO CAN THIỆP HỖ TRỢ TRẺ BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC 64

3.1 Biện pháp cho đẩy mạnh cung cấp dịch vụ xã hội trong phòng ngừa, can thiệp, trị liệu cho trẻ bị xâm hại tình dục 64

3.2 Các biện pháp can thiệp hỗ tợ trẻ em bị xâm hại tình dục 66

DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO 72 PHỤ ỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG - BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Những hoàn cảnh cha mẹ giáo dục cho trẻ phòng, tránh bị xâm hại tình dục 52 Biểu đồ 2.1 Trình độ học vấn của cha mẹ trẻ 50Biểu đồ 2.2 Hoàn cảnh sống của trẻ em 50

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay công tác xã hội (CTXH) không còn là một nghề quá xa lạ tại Việt Nam Nghề CTXH đã và đang được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng và trung cấp trong nhiều năm nay Xã hội chúng ta đã dần dần hình thành một đội ngũ người làm nghề CTXH từ nhiều năm nay Sở dĩ có đội ngũ người làm nghề CTXH hiện nay là nhờ có những chính sách đúng đắn của Chính phủ được ban hành tạo điều kiện cho nghề CTXH phát triển Ngày 25/03/2010 Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010- 2020(QĐ số 32/2010/QĐ-TTg) Điểm nổi bật của Đề án 32 là quyết định đào tạo và đào tạo lại đội ngũ 60.000 người làm nghề CTXH với mục tiêu chính là hỗ trợ những nhóm người yếu thế trong xã hội

Một trong những đối tượng yếu thế đáng quan tâm nhất của CTXH là trẻ em Chúng ta có Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em năm 2004, quy định 10 nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần được ưu tiên hỗ trợ và trẻ em bị xâm hại tình dục là một trong mười nhóm trẻ đó Theo các kết quả nghiên cứu gần đây, trẻ em bị xâm hại tình dục ngày càng có chiều hướng gia tăng và có dấu hiệu trẻ hóa độ tuổi và ngày càng phức tạp(theo báo cáo của tổng kết chương trình bảo vệ trẻ em của Bộ LĐTBXH 2015) Khi một đứa trẻ chẳng may trở thành nạn nhân của nạn xâm hại tình dục thì đứa trẻ đó gặp rất nhiều khó khăn để vượt qua “tai nạn” xảy ra với mình Trong khi đó, phần lớn trẻ em bị xâm hại tình dục đều thiếu những kiến thức

kỹ năng cơ bản cho việc giải quyết vấn đề của bản thân Những hạn chế này khiến cho trẻ em bị xâm hại tình dục thường bị tổn thương tâm lý rất nặng, các em thường rơi vào trạng thái trầm cảm, chán nản, hoang mang, lo sợ và có nhiều em đã tìm đến cái chết để tự giải quyết vấn đề của mình Đây là một trong những vấn đề cấp thiết cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền, các ban ngành làm công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới về Sức khỏe và Bạo lực năm 2002, có khoảng 20% phụ nữ và 5% nam giới đã từng bị xâm hại tình dục trong thời thơ ấu

Trang 8

Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh Xã hội Việt Nam cho biết có hơn 1,5 triệu trẻ em (dưới 16 tuổi) có hoàn cảnh đặc biệt năm 2015, chiếm 9% tổng số trẻ em cả nước và trong đó có 900 trẻ em bị xâm hại tình dục

Các hành vi xâm hại, bạo hành và bóc lột đối với trẻ em là những vấn đề xã hội cơ bản gây ra những tác động rất lớn, có ảnh hưởng đến đời sống và sự ổn định lâu dài của xã hội Tuy nhiên, trên thực tế những vụ xâm hại tình dục thường không

bị tố cáo, số vụ xâm hại tình dục trẻ em xảy ra trên thực tế nhiều hơn số vụ được báo cáo, nguyên nhân của tình trạng này là do người bị hại không muốn hoặc không dám tiết lộ, do đó vẫn còn nhiều thủ phạm xâm hại tình dục trẻ em không bị xét xử Ở tỉnh An Giang, trong những năm qua tình hình xâm hại tình dục trẻ em là vấn đề rất đáng lo ngại do số vụ xâm hại tình dục trẻ em ngày càng gia tăng Theo kết quả báo cáo tình hình trẻ em bị xâm hại của Sở Lao động Thương binh – Xã hội tỉnh An Giang, từ năm 2012 đến năm 2015 tổng số vụ xâm hại tình dục trẻ em là 194 vụ và

có sự gia tăng liên tục qua từng năm Từ năm 2012 là 39 vụ, năm 2013 là 47 vụ, năm 2014 là 65 vụ, năm 2015 là 43 vụ Trong đó, thành phố Châu Đốc và huyện Chợ Mới là hai địa phương có tỷ lệ trẻ em bị xâm hại tình dục cao nhất tỉnh, với số lượng là 14 vụ ở thành phố Châu Đốc và 18 vụ ở huyện Chợ Mới Theo báo cáo từ Trung tâm công tác xã hội bảo vệ trẻ em tỉnh An Giang từ năm 2012-2015, những

vụ án xâm hại tình dục trẻ em gần đây xảy ra trên địa bàn tỉnh An Giang thì hầu hết nạn nhân là trẻ em gái, trẻ em gái có nguy cơ bị xâm hại tình dục cao hơn so với trẻ

em trai đặc biệt là trong độ tuổi từ 6 tuổi đến 16 tuổi, đối tượng xâm hại chủ yếu là những người thân của trẻ như: cha ruột, cha dượng, anh em họ hàng, hoặc những người hàng xóm thân quen với trẻ Tác động của hành vi này là để lại cho trẻ em những tổn thương về thân thể, tình cảm, tâm lí, từ cảm giác lo lắng, sợ hãi, đến những biểu hiện bất ổn về tinh thần, hoảng loạn Những tổn thương này không chỉ

là những tác hại trước mắt mà nó có thể kéo dài đến quãng đời sau này của trẻ Xâm hại tình dục trẻ em bởi những người thân trong gia đình là tội loạn luân mà hệ quả của nó kéo dài và nghiêm trọng về sự phát triển tâm lí của trẻ em

Trang 9

Những vụ xâm hại tình dục đều để lại hậu quả rất nặng nề Nạn nhân không chỉ bị tổn thương về thể chất mà còn luôn sống trong sợ hãi và sự ám ảnh Những trẻ em này rất khó hòa nhập lại với cộng đồng, sống biệt lập trong một thế giới riêng Do đó, vấn đề giáo dục cho trẻ em ý thức cảnh giác, biết phát hiện sớm, tự phòng ngừa các hoạt động xâm hại tình dục là một biện pháp thiết thực và quan trọng nhất nhằm góp phần phòng chống việc lạm dụng tình dục trong cuộc sống Tuy nhiên, hiện nay vấn đề giáo dục cho trẻ em những kỹ năng sống để phòng, tránh nguy cơ bị xâm hại tình dục vẫn chưa được gia đình và cộng đồng ở tỉnh An Giang nói chung và ở huyện Chợ Mới nói riêng quan tâm thực hiện đúng mức Huyện Chợ Mới với đặc điểm là vùng nông thôn nên việc tiếp cận thông tin trong việc giáo dục trẻ em những kỹ năng trong cuộc sống của gia đình còn nhiều hạn chế Phần lớn các vụ xâm hại tình dục trẻ em xảy ra trên địa bàn trong thời gian qua

là do gia đình thiếu sự quan tâm đến trẻ em, không đảm bảo môi trường an toàn cho cuộc sống của trẻ, sự thiếu cảnh giác của gia đình đối với những đối tượng có thể gây ra xâm hại tình dục với trẻ Để giải quyết tình trạng xâm hại tình dục trẻ em gái, trước hết phải trang bị cho các em kỹ năng biết tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị xâm hại, đây là việc làm hết sức cần thiết tránh để những vụ án xâm hại tình dục trẻ

em đáng tiếc xảy ra Do đó, việc thực hiện đề tài “Công tác xã hội cá nhân đối với

trẻ em bị xâm hại tình dục từ thực tiễn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” là hết sức

cần thiết nhằm đánh giá được thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm giảm bớt tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trẻ em là một trong những nhóm đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Luật pháp trong việc bảo đảm cho các em có được quyền sống, được học tập và được phát triển Có rất nhiều nghiên cứu của các nhà các nhà khoa học trong và ngoài nước

đề cập đến những vấn đề của trẻ em Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, các đánh giá, bài viết tiêu biểu có liên quan dưới đây:

Thứ nhất, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em nói chung:

Trang 10

“Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em” do Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em Bộ

LĐTB&XH thực hiện năm 2015 Với mục tiêu đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, từng bước hạn chế tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em có cơ hội phát triển một cách toàn diện cả về thể chất, nhân cách và trí tuệ

“Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực hiện năm

2010 Báo cáo lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình Kết quả nghiên cứu đã làm rõ tình hình trẻ em nam và nữ, nông thôn và thành thị, dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, trẻ

em giàu và trẻ em nghèo hiện nay ở Việt Nam Trong đó, nhóm trẻ em thiếu sự chăm sóc của bố mẹ ở Việt Nam có diễn biến phức tạp Các cơ sở chăm sóc cả công lập và dân lập có ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính thức khác Tình trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là biện pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác Ngoài

ra, báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật

Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản về trẻ em Việt Nam” của tác giả Đặng Bích

Thủy đã chỉ ra những vấn đề xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em đang phải đối mặt như bất bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội chăm sóc, bảo vệ, lao động sớm, bị xâm hại, bị bỏ rơi

“Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ Thị Ngọc Phương

nhận định tại Anh, Mĩ, c, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơ quan ban ngành

Thứ hai, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em bị xâm hại tình dục

Trang 11

Bài viết “Công tác xã hội với trẻ em bị xâm hại tình dục” Tác giả Đinh Thị Nga và Đỗ Thị Bắc Trong đó một trong những nguyên nhân xâm hại tình dục trẻ

em là do liên quan đến văn hóa truyền thống “Văn hóa Việt Nam vẫn còn e dè khi nhắc đến những cụm từ liên quan đến “tình dục” hay “xâm hại tình dục”…nên việc dạy con cách thức phòng tránh lạm dụng tình dục vẫn chưa được chú trọng hoặc còn lúng túng trong các gia đình việt Một nét văn hóa nữa liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em đó là sự tổn hại đến “danh dự gia đình” Khi trẻ bị xâm hại tình dục, nhiều gia đình đã phải làm ngơ vì lo ngại dư luận ảnh hưởng đến danh dự của gia đình Đây là một hạn chế khiến cho các cơ quan chức năng khó khăn trong việc thu thập số liệu, bỏ sót tội phạm hay công tác điều tra của cơ quan đại diện pháp luật”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em bị xâm hại tình dục Đề tài đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em thông qua phương pháp của công tác xã hội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa một số lý luận về:công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội với

trẻ em, trẻ em bị xâm hại tình dục và công tác xã hội với trẻ em bị xâm hại tình dục

- Đánh giá thực trạng trẻ em bị xâm hại tình dục trên địa bàn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục trên địa bàn huyện và nhân rộng cho toàn tỉnh An Giang

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

- Vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc phòng, chống xâm hại tình dục

trẻ em trên địa bàn huyện Chợ Mới tỉnh An Giang

- Công tác xã hội đối cá nhân với trẻ em bị xâm hại tình dục từ thực tiễn huyện Chợ Mới tỉnh An Giang

Trang 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung làm rõ vai trò của gia đình và xã hội ở một số nội dung

chính:

Vai trò của gia đình:

+ Giáo dục cho trẻ em gái những kỹ năng phòng, tránh bị xâm hại tình dục + Chăm sóc, bảo vệ trẻ em trước những nguy cơ bị xâm hại tình dục

+ Hỗ trợ trẻ em bị xâm hại tình dục tái hòa nhập cộng đồng

Vai trò của cộng đồng:

+ Hoạt động của chính quyền địa phương trong công tác truyền thông nâng

cao nhận thức phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

- Khách thể nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những hộ gia đình có trẻ

em gái trong độ tuổi từ 5 tuổi đến dưới 16 tuổi và nghiên cứu trẻ em gái trong độ

tuổi từ 5 tuổi đến 16 tuổi

- Phạm vi về nội dung: Tập trung vào đánh giá thực trạng trẻ em bị xâm hại

tình dục từ thực tiễn huyện Chợ Mới tỉnh An Giang

- Địa bàn nghiên cứu: Huyện Chợ Mới tỉnh An Giang

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 06 tháng (từ tháng 02/2016 đến 07/ 2016)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng

5.1.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng:

Điều tra bằng bảng hỏi để thu thập thông tin về sự giáo dục kỹ năng cho trẻ

em gái phòng chống bị xâm hại tình dục

Chọn mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm:

- Hộ gia đình: đối tượng chọn thực hiện phiếu điều tra là những hộ gia đình có con gái trong độ tuổi từ 5 tuổi đến dưới 16 tuổi với số lượng là 150 hộ chia đều cho

3 đối tượng nghiên cứu (Phụ lục 1)

+ Hộ gia đình công nhân viên chức (có cha hoặc mẹ là công nhân viên chức Nhà nước): 50 hộ

Trang 13

+ Hộ gia đình nông dân(cha mẹ trẻ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp):50hộ + Hộ gia đình kinh doanh (cha mẹ trẻ lao động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ): 50 hộ

Căn cứ trên danh sách hộ gia đình có con gái trong độ tuổi từ 5 tuổi đến dưới

16 tuổi do địa phương cung cấp, chúng tôi sẽ tiến hành phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên các hộ gia đình để thực hiện điều tra bằng phiếu hỏi

- Trẻ em: đối tượng được chọn thực hiện phiếu điều tra là trẻ em gái trong độ tuổi từ 5 tuổi đến 16 tuổi với số lượng 100 trẻ em được chia đều cho 3 địa bàn tiến hành nghiên cứu (Phụ lục 2)

Địa bàn nghiên cứu:

+ Thị trấn Chợ Mới: đại diện cho vùng thành thị

+ Xã Long Điền B: đại diện cho vùng nông thôn phát triển

+ Xã Hội An: đại diện cho vùng nông thôn kém phát triển

5.1.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu

các đối tượng:

- Trẻ em gái bị xâm hại tình dục (09 trẻ em – Phụ lục 3)

- Gia đình có trẻ em gái bị xâm hại tình dục (09 gia đình trẻ - Phụ lục 4)

- Cán bộ quản lí địa phương (4 cán bộ - Phụ lục 5)

5.2 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu, thu thập, xử lý, khái quát hóa những thông tin, những nghiên cứu thuộc các vấn đề liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến hoạt động can thiệp, hỗ trợ cho trẻ em bị xâm hại tình dục từ các ban ngành liên quan, cũng như làm sáng tỏ các thuật ngữ có liên quan đến đề tài Từ đó phân tích, tổng hợp nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu: Công tác

xã hội đối với trẻ em bị xâm hại tình dục

5.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Để tìm hiểu thực trạng các dịch vụ can thiệp, hỗ trợ cho trẻ em bị xâm hại

tình dục trên địa bàn huyện hiệu quả hay chưa? Nhu cầu của gia đình trong việc tư vấn điều trị cho trẻ ra sao? Phát hiện vấn đề của trẻ sớm hay muộn có ý nghĩa gì?

Trang 14

Vai trò của NVCTXH người trực tiếp hỗ trợ cho trẻ có phát huy hay chưa? Tôi dùng các phương pháp sau:

5.3.1 Điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp với khách thể

nghiên cứu nhằm thu thập thông tin để làm rõ thực trạng nhu cầu hỗ trợ từ các chính sách, dịch vụ đối với trẻ em bị xâm hại tình dục

5.3.2 Quan sát thực tế: Được tận mắt chứng kiến đời sống tâm lý của trẻ em

bị xâm hại tình dục qua các hoạt động thường ngày Song song với quá trình điều tra bằng bảng hỏi, các thông tin thu thập được trong quá trình quan sát sẽ làm cơ sở

bổ sung cho các thông tin liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu

5.3.3 Phỏng vấn trực tiếp (Phỏng vấn sâu): Phương pháp này nhằm thu thập

các thông tin từ ban ngành địa phương và những người hỗ trợ trẻ về khả năng đáp ứng cũng như tính hiệu quả của các hoạt động trợ giúp trẻ em bị xâm hại tình dục Đồng thời cũng nhằm kiểm tra lại mức độ tin cậy của các thông tin liên quan đến

đề tài nghiên cứu thu thập qua điều tra, quan sát

5.4 Phương pháp thống kê toán học (Xử lý số liệu)

- Điều chỉnh lại phiếu điều tra

- Phân loại phiếu điều tra (hợp lệ, không hợp lệ)

- Dùng các phương pháp toán thống kê để tính các hệ số tương quan cần thiết: phần trăm, trung bình, lập bảng số liệu, lập biểu đồ

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận về trẻ em bị xâm hại tình dục, về giải pháp đưa công tác xã hội vào can thiệp hỗ trợ cho trẻ em bị xâm hại tình dục ngày càng hiệu quả hơn Qua đó có thể giúp mọi người nhìn nhận vấn đề tái hòa nhập đối với trẻ em bị xâm hại tình dục là điều rất quan trọng, cũng như nhìn nhận vai trò của các dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ, can thiệp cũng như điều trị đối với trẻ em bị xâm hại tình dục

Trang 15

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin và giải pháp đưa công tác xã hội vào can thiệp hỗ trợ tái hòa nhập cho trẻ em bị xâm hại tình dục tại gia đình và cộng đồng Trên cơ sở đó có thể được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham khảo trong việc hoàn thiện chính sách, xây dựng những mô hình nhân rộng về phòng ngừa tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục Từ đó, các đối tượng liên quan trong đề tài có được những trợ giúp như:

6.2.1 Đối với trẻ em bị xâm hại tình dục

Giúp trẻ em bị xâm hại tình dục có thể thay đổi những hành vi, tâm lý hiện tại

Từ đó trẻ sớm vượt qua những biến cố và có thể hòa nhập với cộng đồng đang sống

để phát triển tốt hơn

6.2.2 Đối với phụ huynh gia đình có trẻ em bị xâm hại tình dục

Giúp cho các bậc phụ huynh có cái nhìn đúng hơn về tình trạng hiện tại của trẻ, nhìn nhận trẻ em bị xâm hại tình dục không phải là lỗi của trẻ Giúp cho cha mẹ

có thêm những biện pháp trong kết hợp phục hồi cho trẻ

6.2.3 Đối với ban ngành làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em

Góp phần tìm thêm những giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ

can thiệp hỗ trợ cho trẻ em trên địa bàn huyện và toàn tỉnh

6.2.4 Đối với học viên nghiên cứu

Giúp học viên có cái nhìn tổng quan về nhu cầu can thiệp hỗ trợ của trẻ em bị xâm hại tình dục và khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của người làm CTXH Quá trình nghiên cứu là cơ hội để học viên có thể áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, phát huy được những khả năng, sự sáng tạo của mình, từ đó làm phong phú thêm vốn kiến thức, kỹ năng đã học

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn là nguồn tài liệu tham khảo cho các đề tài liên quan sau này

Trang 16

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài các phần như: mục lục, danh mục, các bảng, hình vẽ, mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em bị xâm hại tình dục Chương 2: Thực trạng Công tác xã hội đối với trẻ em bị xâm hại tình dục trên

địa bàn huyện Chợ Mới

Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị cho việc đưa công tác xã hội vào trợ

giúp trẻ em bị xâm hại tình dục ngày càng hiệu quả hơn trên địa bàn huyện Chợ Mới

và toàn tỉnh An Giang

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ Ý UẬN VỀ C NG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM

BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC 1.1 Hệ thống các khái niệm

1.1.1 Khái niệm Công tác xã hội

Từ điển Bách khoa ngành Công tác xã hội (1995) có ghi “Công tác xã hội là

một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại niềm an sinh cho người dân trong xã hội”[15, tr.34]

Có nhiều khái niệm về công tác xã hội được đưa ra ở các góc độ khác nhau

Có quan niệm cho rằng, công tác xã hội là một dạng trợ giúp giống như việc đưa ra bàn tay giúp đỡ cho những người nghèo, cá nhân, gia đình có khó khăn về kinh tế,

về tình cảm, về quan hệ xã hội trong các cơ sở xã hội, y tế hay giáo dục, công tác xã hội giúp cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ để đảm bảo nhu cầu và đảm bảo an sinh

xã hội (A.Skidmore, 1997)

Tại Đại Hội Liên Đoàn công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế ở Canada năm

2004, công tác xã hội được khẳng định là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra

sự thay đổi, phát triển của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn

đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội), vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng, công tác xã hội giúp cho con người phát triển hài hòa và đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người dân

Hội đồng Đào tạo công tác xã hội Mỹ định nghĩa: công tác xã hội là một nghề

nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi trường có hiệu quả Hoạt động này bao gồm ba nhóm: phục hồi

năng lực đã bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội, và phòng ngừa sự

suy giảm chức năng xã hội [15, tr.39]

Trang 18

Công tác xã hội ở Việt Nam được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác nhau:

Tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng, công tác xã hội là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề Công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội Theo quan điểm của Bà, công tác xã hội là hoạt động thực tiễn bởi nhân viên xã hội luôn làm việc trực tiếp với các đối tượng, với nhóm người cụ thể Tuy nhiên Bà cho rằng, công tác xã hội không phải là hướng tới giải quyết mọi vấn đề xã hội mà chỉ hướng vào giải quyết những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày của con người Thực hành công tác xã hội được diễn ra ở những lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các vấn đề khác nhau như: tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình, hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển cộng đồng xã hội

Từ những phân tích trên theo từ điển Bách khoa Xã hội khái niệm về công tác

xã hội như sau:

Theo Từ điển Bách khoa Xã hội, “Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho mọi người trong xã hội” Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [18 tr.42]

1.1.2 Khái niệm Công tác xã hội cá nhân

Trong lịch sử phát triển nghề CTXH thế giới, phương pháp đầu tiên được sử dụng là tiếp xúc trực tiếp để hỗ trợ những cá nhân và gia đình khó khăn về kinh tế Với phương pháp này, những người thuộc các hiệp hội/tổ chức trợ giúp người nghèo tại Mỹ đã trực tiếp đến viếng thăm từng người nghèo tại gia đình của họ, hỗ

Trang 19

trợ họ tìm kiếm việc làm, tham vấn và tạo lập cho họ tính tôn trọng bản thân, tự chủ Đây chính là sự khởi đầu để hình thành một phương pháp can thiệp chuyên nghiệp hiện nay, đó là phương pháp CTXH với cá nhân

CTXH cá nhân trước hết được khẳng định như một phương pháp chuyên nghiệp, mà các nhân viên xã hội sử dụng để hỗ trợ cá nhân vượt qua khó khăn trong việc thực hiện các chức năng xã hội của họ Với phương pháp này nhân viên xã hội can thiệp giải quyết vấn đề của cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường

xã hội của cá nhân đó Gia đình cũng được coi như một trường hợp (một case) với các mối quan hệ đặc thù giữa các cá nhân trong gia đình đó, vì thế đã được xếp vào phương pháp CTXH cá nhân Như vậy “cá nhân” có thể được hiểu rộng hơn là một case hay một trường hợp cụ thể, cần sự quan tâm sâu sắc Vì thế, trong phương pháp này, nhân viên xã hội có điều kiện nhấn mạnh vào nguyên tắc cá thể hóa sự giúp đỡ đối với thân chủ là một cá nhân hay đối với trường hợp là cả gia đình Mối quan hệ một – một được nhắc đến như là một chìa khóa quan trọng trong phương pháp CTXH cá nhân, quyết định vai trò và ciệc lựa chọn các kỹ năng tác nghiệp của người nhân viên xã hội Với mối quan hệ một - một, nhân viên xã hội là người tương tác trực tiếp với chủ nhân, để tìm hiểu sâu sắc vấn đề và hoàn cảnh của một cá nhân đó Khi tác nghiệp, thân chủ cùng với các mối quan hệ xã hội của thân chủ là mối quan tâm hàng đầu của nhân viên xã hội Như vậy vai trò của người nhân viên xã hội trong phương pháp CTXH cá nhân là người tạo điều kiện, giúp cá nhân đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tài năng, điểm mạnh tiến đến nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề của bản thân Bên cạnh đó, nhân viên xã hội khi tương tác trong mối quan hệ một – một với cá nhân, cũng có thể cùng lúc tham gia với các vai trò khác như nhà giáo dục, nhà biện hộ, người môi giới Để thực hiện việc tương tác trực tiếp đạt hiệu quả cao, nhân viên xã hội cần phải thành thạo các kỹ năng sử dụng trong đối thoại trực tiếp như: Kỹ năng tạo lập mối quan hệ ban đầu, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng vấn đàm, kỹ năng quan sát

Mối quan hệ một - một cũng được đề cao khi nhân viên xã hội làm việc với gia đình Trong khi làm việc với gia đình, vai trò chủ yếu của nhân viên xã hội

Trang 20

chính là người trung gian, giúp cho các cá nhân trong gia đình cùng thấy một quan điểm chung và giúp họ cùng hiểu quan điểm của nhau Tuy nhiên, đa số các trường hợp, nhân viên xã hội ngoài những buổi làm việc chung với cả gia đình, còn làm việc với từng cá nhân trong gia đình vì nhiều lý do Có thể tìm hiểu thêm thông tin

mà cá nhân đó không tiện chia sẻ trước các thành viên khác trong gia đình, hoặc trong trường hợp gia đình không giống nhau, dẫn đến cùng một hành vi trái pháp luật Như vậy, sự quan tâm một - một cho phép giúp đỡ sâu sắc từng đứa trẻ có hành vi làm trái pháp luật, với những bản kế hoạch can thiệp không giống nhau

Theo đó CTXH cá nhân được khái niệm là “ hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng Trong đó, các khái niệm về tâm

lý xã hội, hành vi và hệ hống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề về tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, giữa cá nhân với đời sống kinh tế - xã hội và môi trường thông qua quan hệ một – một”[6,

tr.32]

1.1.3 Khái niệm công tác xã hội đối với trẻ bị xâm hại tình dục

Theo tôi: Công tác xã hội đối với trẻ bị xâm hại là những hoạt động có kỹ

thuật mà nhân viên xã hội chuyển hóa từ các kỹ năng, các phương pháp trong việc

hỗ trợ cho trẻ tự bị xâm hại một cách có định hướng đạt đến những mục đích rõ ràng Nhằm tác động đến đứa trẻ và giúp nó cải thiện hay tăng năng lực về mặt thể chất và tinh thần, những hoạt động này mang giá trị tích cực và có hiệu quả lâu dài hơn là những hoạt động trị liệu bằng y học trong thời gian ngắn và không thường xuyên

1.1.4 Khái niệm trẻ em

Theo Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc năm 1989: Trẻ em được xác định

là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật quốc gia áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn

Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì: Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi Như vậy, trẻ em Việt Nam là tất cả những ai từ chưa đủ 16 tuổi trở xuống, đó có thể là những trẻ sơ

Trang 21

sinh, là những bé thơ trong nhà trẻ, mẫu giáo, là các em học sinh trong các trường tiểu học, trung học cơ sở hoặc trong trường trung học phổ thông, với một điều kiện duy nhất là các em chưa đủ 16 tuổi (tính theo tháng)

1.1.5 Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em

Có nhiều định nghĩa khác nhau về xâm hại tình dục trẻ em được các tổ chức quốc tế, các cơ quan trong nước, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đưa ra

Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa xâm hại tình dục như sau: “Xâm hại tình dục trẻ em là việc lôi kéo trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục mà trẻ em đó không hiểu một cách đầy đủ, không có khả năng quyết định ưng thuận một cách có hiểu biết, hoặc hành động đó là trái luật pháp hoặc trái quy tắt xã hội Xâm hại tình dục trẻ em là hành động diễn ra giữa một trẻ em với một người trưởng thành hoặc với một trẻ em khác mà do độ tuổi và mức độ phát triển, người này có mối quan hệ trách nhiệm, tin tưởng hoặc quyền hành với trẻ và hành động gây ra nhằm thoả mãn nhu cầu của người đó”

Trong trường hợp thủ phạm xâm hại tình dục trẻ em là một thành viên trong gia đình hoặc có họ hàng với trẻ, thì việc xâm hại tình dục được coi là loạn luân Xâm hại tình dục trẻ em cũng có thể xảy ra dưới hình thức bóc lột thông qua văn hoá phẩm khiêu dâm hoặc hoạt động mại dâm

Trong phạm vi nghiên cứu của vấn đề này chúng tôi sử dụng định nghĩa về xâm hại tình dục đã được tổ chức SIDA nêu lên trong nghiên cứu “Thực trạng xâm hại tình dục trẻ em đường phố tại thành phố Huế và Hà Nội” do Viện sức khoẻ sinh sản và gia đình thực hiện Theo đó, xâm hại tình dục trẻ em được hiểu là: “việc tiếp xúc hoặc tác động qua lại giữa trẻ và một người lớn tuổi hơn trẻ, có hiểu biết hơn trẻ hoặc giữa trẻ và một người lớn (người lạ, anh chị em hoặc người có địa vị quyền lực, ví dụ như là bố mẹ, người chăm sóc hoặc người nào khác) trong tình huống trẻ

bị sử dụng như một vật để thoã mãn nhu cầu tình dục của người lớn hoặc của trẻ Những hành vi về xâm hại tình dục bao gồm: phô bày bộ phận sinh dục nơi công cộng, gọi điện thoại quấy rối, sờ mó bộ phận kín, xem người khác thay quần áo hoặc đang quan hệ tình dục, xem các ấn phẩm khiêu dâm trẻ em, cố tình xâm phạm,

Trang 22

hãm hiếp, loạn luân và bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại (ví dụ như mại dâm trẻ em, buôn bán trẻ em vì các mục đích tình dục)”

1.1.6 Khái niệm về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em của gia đình và cộng đồng

Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng

và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp Gia đình với chức năng phòng, chống bạo lực và ngăn ngừa các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc

Có rất nhiều định nghĩa về gia đình, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều thống nhất quan điểm “gia đình là một thiết chế xã hội, dựa trên hai mối quan hệ cơ bản là hôn nhân (vợ - chồng) và huyết thống (cha - mẹ - con)” Luật hôn nhân và gia

đình Việt Nam năm 2012 đã nêu lên định nghĩa: “Gia đình là tập hợp những người

gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”

(Chương 1 - điều 8 - Khoản 10)

Cộng đồng là một nhóm người chung sống trên cùng một lãnh thổ (xóm, ấp, làng xã) và cùng chia sẻ những lợi ích chung

Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài khái niệm vai trò của gia đình

và cộng đồng trong việc phòng chống xâm hại tình dục trẻ em có thể được hiểu: đó

là những hoạt động của cha mẹ hoặc người chăm sóc trẻ, những người sống cùng làng, xã, chính quyền địa phương trong việc quản lí, giáo dục, tuyên truyền nhằm trang bị cho trẻ em những kỹ năng biết tự bảo vệ bản thân trước các hình thức xâm hại về mặt tình dục Các hoạt động phòng, chống bao gồm phòng tránh không cho các hành vi xâm hại tình dục xảy ra với trẻ em và cả việc giải quyết khi vấn đề xảy

ra nhằm đảm bảo cho trẻ em trong xã hội được sống trong môi trường an toàn

Trang 23

1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

1.2.1 Quyền trẻ em

Trong thực tiễn quyền, theo nghĩa tiếng Việt, là cái mà luật pháp, xã hội, phong

tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành và khi thiếu được yêu cầu để

có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại Về khái niệm khoa học, quyền là

nguyên tắc đạo đức xác định và thừa nhận sự tự do hành động của con người trong một

xã hội nhất định Khái niệm quyền chỉ liên quan đến hành động, mà cụ thể là liên quan

đến tự do hành động, nghĩa là thoát khỏi những cưỡng chế về mặt thể xác, thoát khỏi tình trạng bị ép buộc hay bị can thiệp bởi/từ những người khác Đối với mỗi cá nhân,

quyền là sự thừa nhận về mặt đạo đức đối với một sự chọn lựa tích cực, được tự do

hành động theo lý trí, vì các mục tiêu riêng, do sự lựa chọn riêng tự nguyện, không bị cưỡng ép Về phần những người xung quanh, các quyền của cá nhân đó không áp đặt nghĩa vụ nào lên những người xung quanh ngoại trừ một quyền phủ quyết: họ không được vi phạm các quyền của cá nhân đó

Một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc

tế

Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc, quyền con người là

những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người

Ở Việt Nam, chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về quyền con người như một định nghĩa Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm quyền con người được thể hiện trong những quy định cụ thể Điều 50 của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy

định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị,

dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” thì Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung:

Trang 24

“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân

về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”

Với các cách hiểu về quyền con người, vậy quyền trẻ em được hiểu như thế nào? Chúng ta có thể nhìn nhận căn bản thì quyền trẻ em là những đặc quyền tự nhiên

mà trẻ em được hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham gia và phát triển toàn diện Quyền trẻ em chính là biện pháp nhằm bảo đảm cho trẻ em không những là những người tiếp thu thụ động tình thương hay lòng tốt của bất cứ ai, mà trở thành chủ thể của quyền

Hai thuyết nổi tiếng về quyền trẻ em thuộc về Maichael Fretrean (1983) và John Eekelaar (1986) Theo Fretrean đưa ra 4 loại quyền: Quyền an sinh (là quyền chỉ ra một loại những đòi hỏi “tuổi thơ hạnh phúc” như đã được định trong Bản tuyên bố Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em như: quyền được học hành, dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe và không phân biệt đối xử, Quyền được bảo vệ (bảo vệ trẻ em khỏi sự nguy hại), Quyền được đối xử như người lớn và Quyền chống lại cha mẹ (được đặt vào vai trò của người đại diện cho trẻ em) Còn theo John Eekelaar, quyền của trẻ dựa trên việc suy đoán nhìn lại cái gì đứa trẻ đã từng muốn khi nó đạt tới vị trí trưởng thành, vì thế ông đưa ra 3 loại quyền lợi làm nền tảng cho quyền, đó là: Quyền được chăm sóc (cha

mẹ - người chăm sóc yêu cầu phòng ngừa để tránh những nguy hại đến sự phát triển của trẻ), Quyền được phát triển (cha mẹ và nhà nước đảm bảo rằng tất cả mọi trẻ em đều có cơ hội như nhau để tiếp cận tối đa với những nguồn lực sẵn có) và Quyền độc lập (sự tự do lựa chọn cách sống, quan hệ xã hội theo khuynh hướng không bị kiểm tỏa bởi uy quyền của thế giới người lớn)

Việc tiếp cận các vấn đề của trẻ em trên khía cạnh quyền không phải là nội dung quá mới trên thế giới, nhưng ở Việt Nam việc tiếp cận những vấn đề của trẻ em về quyền chưa thực sự rõ ràng, nhất là những quyền đó khi triển khai vào thực tiễn đời sống xã hội còn nhiều bất cập Khi tiếp cận vấn đề về phòng ngừa tai nạn thương tích

Trang 25

đối với trẻ em dựa trên quyền của trẻ em là cách tiếp cận có nội dung thực tế vào đời sống trẻ em, bởi không chỉ là những vấn đề cá nhân của trẻ em mà còn liên quan đến những nội dung về thể chế, chính sách Trong đó nội hàm về quyền của trẻ em được hiểu khá rộng, theo Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 và có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 Việt Nam

là một trong những quốc gia phê chuẩn Công ước từ rất sớm Đây là văn kiện quan trọng nhất về quyền con người của trẻ em trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người, bao gồm các điều luật như: Trẻ em có quyền được lắng nghe, được tự do bày tỏ quan điểm về tất cả các vấn đề có tác động đến trẻ, được tự do phát biểu, suy nghĩ, hội họp và tiếp cận thông tin, thúc đẩy lợi ích tốt nhất của trẻ và tăng cường sự phát triển cá nhân; Có quyền tham gia bình đẳng với nhau không phân biệt; Có quyền được bảo vệ tránh khỏi bị lôi kéo, bạo lực, lạm dụng và bóc lột Trong quá trình từng bước làm hài hoà Công ước với hệ thống luật pháp quốc gia, các quyền cơ bản của trẻ

em được xem xét trong việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các luật và bộ luật Các quyền này nếu được thực hiện đầy đủ sẽ tạo cơ hội cho trẻ em được thực hiện quyền chính trị, xã hội của mình, trong mối tương quan với các quyền dân sự, văn hóa, kinh

tế

Từ những nhóm quyền căn bản như: quyền được sống, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển, quyền được tham gia phải được thực thi khi xây dựng, triển khai các chính sách về trẻ em, cũng như các chính sách về kinh tế, chính trị, xã hội Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, gần như tất cả các chính sách, pháp luật về kinh tế, chính trị, xã hội đều có những tác động nhất định đến trẻ em Chính vì vậy việc lồng ghép vấn đề quyền trẻ em trong xây dụng những chính sách pháp lý cũng phải được bảo đảm thực hiện Vậy, trong vấn đề can thiệp hỗ trợ trẻ tự kỷ thì quyền trẻ em được thực hiện như thế nào? Các chính sách về trẻ tự kỷ có phải là nguyên nhân dẫn đến vấn đề đưa công tác xã hội vào hỗ trợ trẻ tự kỷ thường gặp khó khăn hay không? Đó chính là những câu hỏi buộc chúng ta tìm hiểu khi tiếp cận quyền của trẻ em đối với vấn đề Công tác xã hội đối với trẻ bị xâm hại tình dục

Trang 26

Với tư cách là một chủ thể, một thực thể tồn tại trong xã hội loài người và có đầy

đủ các quyền của mình, chính vì vậy, ngoài việc đảm bảo các yếu tố để triển khai thực hiện quyền căn bản của con người, thì cần có những chế tài phù hợp để ưu tiên đáp ứng nhu cầu và những vấn đề khác liên quan đến trẻ em như là một đối tượng được ưu tiên đặc biệt

Là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong đời sống xã hội, như nội dung trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, Liên hiệp quốc đã công bố rằng trẻ em

có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt Vấn đề trẻ tự kỷ hiện nay đang có chiều

hướng gia tăng làm ảnh hưởng đến cuộc sống của toàn bộ các thành viên trong gia đình Quyền của em trong vấn đề này đó chính là được học tập để phát triển, quyền này của trẻ em phải được chính gia đình, xã hội, chính quyền và các tổ chức bảo đảm

thực hiện, chính trong Tuyên bố của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em Ghi nhớ rằng trẻ

em, do chưa trưởng thành về thể chất và tinh thần, cần có sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, bao gồm sự bảo vệ về pháp lý thích hợp, trước cũng như sau khi ra đời, đồng thời

cũng đã Khẳng định rằng, loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em những điều tốt

đẹp nhất

Việc tiếp cận vấn đề về can thiệp sớm cho trẻ bị xâm hại tình dục bằng phương pháp công tác xã hội, buộc chúng ta nhìn nhận vấn đề cung cấp các dịch vụ CTXH chưa thực sự hiệu quả xuất phát căn nguyên các chính sách dành cho trẻ bị xâm hại chưa được đề xuất trong các chương trình cụ thể hiện nay Quyền của trẻ em được thực hiện đó chính là được tạo điều kiện để học tập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, trách nhiệm của xã hội, của Nhà nước là tạo ra môi trường phù hợp cho trẻ để trẻ em có thể được học tập và phát triển Nội dung này quy trách nhiệm của xã hội, của Nhà nước trong việc bảo đảm việc cung cấp các dịch vụ xã hội cho trẻ Chính vì vậy, cần có sự thực thi các chính sách có liên quan để thúc đẩy, triển khai những nội dung về quyền của trẻ em

và phải thể hiện được trách nhiệm của xã hội và Nhà nước đối với những vấn đề của trẻ

em

Cùng với việc phát triển kinh tế, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và toàn

xã hội ngày càng quan tâm đến công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bước đầu tạo cho

Trang 27

trẻ có điều kiện được thực hiện đầy đủ các quyền của mình cũng như tạo môi trường sống an toàn, phát triển hài hòa của trẻ

Luật BVCSGDTE (2004) quy định: Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi,

có quyền tham gia vào mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội- đặc biệt đối với các vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của trẻ

Nền tảng triết lý về quyền con người được đưa vào toàn bộ tiến trình CTXH

hỗ trợ giải quyết vấn đề thân chủ Mọi người có quyền tiếp nhận dịch vụ có chất lượng không bị phân biệt đối xử, không bị từ chối, phẩm giá, năng lực, tài nguyên,… của thân chủ được tôn trọng, nhìn nhận một cách đầy đủ, khách quan Có như vậy CTXH mới hoàn thành vai trò sứ mạng của mình đó là giúp cho thân chủ

tự phát huy năng lực của bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình và hình thành những kỹ năng, cách thức ứng phó, giải quyết vấn đề đó trong tương lai

1.2.2 Lý thuyết nhu cầu

Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của

cá nhân Nếu nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ tạo nên cảm giác thoải mái và an toàn cho

sự phát triển và ngược lại, nếu không được đáp ứng thì sẽ gây nên sự căng thẳng và

có thể dẫn tới hậu quả nhất định Theo cách hiểu thông thường, thì nghĩa của từ nhu

là cần thiết, còn cầu là đòi hỏi, mong muốn Như vậy, “nhu cầu là một yếu tố cần

thiết, tất yếu để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân” Theo từ điển tiếng

Việt (2002 của NXB Đà Nẵng): “nhu cầu là điều đòi hỏi của đời sống tự nhiên và xã

hội” và như vậy nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được cho

là thiết yếu cho sự sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì khác Theo nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu Đã cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau theo thứ tự từ thấp đến cao về tầm quan trọng Thang nhu cầu của ông chia làm hai cấp: cấp thấp và cấp cao

Nhu cầu cấp thấp gồm hai nhu cầu về vật chất và an toàn Nhu cầu về vật chất là nhu cầu tối thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo cho con người tồn tại bao gồm các

Trang 28

hành vi: ăn, uống, mặc, ở, ngủ nghỉ, đi lại,… Nhu cầu về an toàn không bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần

Nhu cầu cấp cao gồm ba nhu cầu về xã hội, tôn trọng và phát triển Nhu cầu về

xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong xã hội Khi thỏa mãn được nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có xu hướng được tôn trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực, địa vị, uy tín… Cao nhất trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu được phát triển toàn diện Cũng theo ông, khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn Như vậy, là con người nên trẻ em và người lớn đều có những nhu cầu giống nhau về vật chất như (ăn, mặc, ở, học tập, lao động), nhu cầu về tinh thần (vui chơi, giải trí) và sự yêu thương đùm bọc của người thân Song do trẻ chưa phát triển đầy đủ

về thể chất, tâm lý, tình cảm, thiếu kinh nghiệm sống nên chúng còn phải phụ thuộc nhiều vào người lớn, đó là sự chăm sóc, nuôi nấng dạy dỗ của người lớn…

Ứng dụng lý thuyết nhu cầu khi nghiên cứu về trẻ em nói chung cũng như hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH cho trẻ tự kỷ chúng ta có thể xác định hệ thống nhu cầu căn bản của trẻ em, đó là:

- Nhu cầu vật chất: Những yếu tố đảm bảo cho sự phát triển thể lực của trẻ như:

Thực phẩm, nước uống, nơi ở, điều kiện chăm sóc vệ sinh sức khỏe, không khí và môi trường trong sạch, quần áo,…

- Nhu cầu về mái ấm gia đình: Chỗ dựa vật chất và tinh thần, nơi an toàn tuyệt

đối của trẻ: Đó là tình thương yêu cha mẹ, ông bà, anh chị em…bởi gia đình chính là cái nôi đầu tiên xã hội hóa trẻ em, từ đây trẻ em được hoạt động, được học cách làm

người, học cách “cho” và “nhận” tình yêu thương nhân loại, học cách gánh vác trách

nhiệm của cha mẹ, anh chị…Mối quan hệ sau này ở tuổi trưởng thành có thành công hay không là phụ thuộc nhiều vào chất lượng mối quan hệ trong gia đình của trẻ

- Nhu cầu được vui chơi, học hành, được phát triển trí tuệ: Yếu tố giúp trẻ được

giao tiếp với mọi người, được trải nghiệm cuộc sống và tích lũy những hiểu biết, kiến

Trang 29

thức cho mai sau: Sự tham gia những hoạt động vui chơi, sự thu nhận tri thức của trẻ dưới nhiều dạng nhận thức và trong những môi trường khác nhau

1.3 Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác xã hội đối với trẻ em bị xâm hại tình dục

1.3.1 Căn cứ pháp lý xác định đối tượng trẻ em bị xâm hại tình dục

Một số chủ trương của Đảng và Nhà nước trong vấn đề bảo vệ, giáo dục và chăm sóc trẻ em

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là đường lối nhất quán, xuyên suốt trong

sự nghiệp lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Sự quan tâm của Đảng trong công tác bảo vệ trẻ em được thể hiện trong chính sách và thông qua nội dung các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X và XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, các chương trình hành động, các biện pháp cụ thể ở các ngành, các cấp

Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần XI đã chủ trương "Bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em, tạo môi trường lành mạnh để trẻ em được phát triển toàn

diện về thể chất và trí tuệ Chú trọng bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc

biệt, trẻ em gia đình nghèo, trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn; ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em Nhân rộng các mô hình làm tốt việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em dựa vào cộng đồng (trang 103)

Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 23/2001/QĐ - TTg ngày 26/2/2001 với mục tiêu tổng quát của chương trình là tạo mọi điều kiện tốt nhất nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và các quyền cơ bản của trẻ em, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em, xây dựng môi trường an toàn và lành mạnh để trẻ em Việt Nam có cơ hội được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện

về mọi mặt có cuộc sống ngày càng tốt hơn

Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2012 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1555/QĐ-TTg ngày 17/10/2012 với mục tiêu tổng quát của chương trình là “Xây dựng môi trường sống

Trang 30

an toàn, thân thiện và lành mạnh để thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ

em Từng bước giảm khoảng cách chênh lệch về điều kiện sống giữa các nhóm trẻ

em và trẻ em giữa các vùng, miền Nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo cơ hội phát triển bình đẳng cho mọi trẻ em” Với các hoạt động cụ thể của chương trình là: Truyền thông, giáo dục, vận động xã hội để nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành

vi thực hiện các quyền của trẻ em; Xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và thực hiện quyền trẻ em; Khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,

tổ chức xã hội nghề nghiệp, gia đình, cộng đồng, người dân và trẻ em tham gia bảo

vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Củng cố hệ thống tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm việc với trẻ em ở các cấp, các ngành Kiện toàn và phát triển mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở cơ sở Nâng cao chất lượng công tác theo dõi, giám sát và đánh giá

Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011 với mục tiêu tổng quát của chương trình là “Tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở

đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, trẻ em bị bạo lực Trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, tạo cơ hội để các em được tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển” Thực hiện mục tiêu cụ thể đã đề ra chương trình đã xây dựng các nội dung hoạt động với 5 dự án, trong đó đặc biệt dự án 1 và dự án 5 đã thể hiện tinh thần phòng ngừa và bảo vệ trẻ em phòng tránh các nguy cơ bị xâm hại ngay tại gia đình và cộng đồng

+ Hoạt động 1: là Truyền thông, giáo dục, vận động xã hội với mục tiêu cụ thể 90% gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội và trẻ em được nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về bảo vệ trẻ em, với nội dung hằng năm tổ chức các chiến dịch truyền thông nhằm tạo mối quan tâm và thúc đẩy sự thay đổi về nhận thức của toàn

Trang 31

xã hội đối với công tác bảo vệ trẻ em Nghiên cứu, xây dựng, phát triển các chương trình, sản xuất các sản phẩm truyền thông về bảo vệ trẻ em nhằm thay đổi hành vi của gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội và trẻ em về bảo vệ trẻ em Tổ chức các hoạt động truyền thông trực tiếp tại cộng đồng, trường học về bảo vệ trẻ em có sự tham gia của cộng đồng, các thành viên gia đình, giáo viên và trẻ em

+ Hoạt động 2: là Dự án xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng, 80% trẻ em khuyết tật được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chỉnh hình và phục hồi chức năng, giáo dục và các dịch

vụ công cộng; 90% trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc; giảm hàng năm 10% số trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực; 100% trẻ em được phát hiện bị xâm hại tình dục, bị bạo lực được can thiệp, trợ giúp; giảm tỷ lệ trẻ em lang thang xuống 7/10.000 trẻ em; giảm tỷ lệ trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại xuống 10/10.000 trẻ em; giảm tỷ lệ người chưa thành niên vi phạm pháp luật xuống 7/10.000 trẻ em Với các mô hình của dự án Mô hình trợ giúp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ

em khuyết tật dựa vào cộng đồng (mô hình thứ nhất, duy trì và nhân rộng mô hình phòng ngừa, trợ giúp trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực dựa vào cộng đồng (mô hình thứ ba) Hoạt động chủ yếu của các mô hình: Tư vấn, tham vấn, phục hồi tâm

lý cho trẻ em; trợ giúp trẻ em tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí và phúc lợi xã hội khác để hòa nhập cộng đồng; tập huấn kỹ năng bảo

vệ trẻ em cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ em; tập huấn kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ em; trợ giúp hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm phù hợp cho trẻ

em và gia đình; một số hoạt động đặc thù khác

Nhằm đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng và Nhà nước trong công tác chăm sóc trẻ em, đặc biệt đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể việc thực hiện nhằm hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thực hiện được những quyền cơ bản của trẻ em như:

Trang 32

+ Quyết định số 134/1999/QĐ - TTg về Chương trình hành động Bảo vệ trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999 - 2002 với mục tiêu chung là tạo ra sự

chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong toàn xã hội về công tác bảo

vệ trẻ em, ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giải quyết cơ bản vào năm 2002 tình trạng trẻ em lang thang kiếm sống, trẻ em phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc

và độc hại, trẻ em bị xâm hại tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, trẻ em vi phạm pháp luật [trích quyết định 134/1999/QĐ - TTg]

+ Quyết định 19/2004/QĐ - TTg ban hành ngày 12/2/2004 về Chương trình

Phòng ngừa và Giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em làm việc trong các điều kiện nặng nhọc và độc hại giai đoạn 2004 -2010

chương trình tập trung vào các việc tăng cường nhận thức và đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội đối với vấn đề bảo vệ trẻ em; phòng ngừa và giảm dần số lượng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em làm việc trong các điều kiện nặng nhọc và độc hại đến năm 2010; hỗ trợ những đối tượng trẻ em này tiếp cận các dịch

vụ chăm sóc, bảo vệ và giáo dục, phát triển toàn diện và có cuộc sống tốt đẹp hơn + Quyết định 138/1998/QD-TTg ngày 31/7/1998 về việc phê duyệt Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm trong đó có phòng chống các loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên

+ Chỉ thị 1408/CT-TTg ngày 01/09/2009 của Thủ tướng chính phủ về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em Chỉ thị đã đánh giá trên thực tế, một số quyền của trẻ em chưa được thực hiện tốt, một số chỉ tiêu đến năm 2010 về bảo vệ trẻ em của Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001 –

2010 (Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngày 26 tháng 02 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) và Chương trình Ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004 – 2010 (Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày

12 tháng 02 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ) có khả năng không đạt, đặc biệt là chỉ tiêu giảm số lượng trẻ em bị xâm phạm tình dục, bị lạm dụng sức lao động, bị mua bán, bị bạo lực, bị tai nạn, thương tích, nhiễm HIV, phạm các tội đặc biệt

Trang 33

nghiêm trọng Nhiều hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền trẻ em, xâm hại tình dục, bạo lực và mua bán trẻ em đã gây bức xúc trong dư luận xã hội Chỉ thị cũng nêu ra nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do hệ thống luật pháp, chính sách về bảo

vệ, chăm sóc trẻ em chưa đầy đủ, đồng bộ; đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực chuyên môn, đặc biệt ở cấp xã; hệ thống dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa được hình thành đầy đủ và chưa đáp ứng được yêu cầu; ý thức chấp hành pháp luật về bảo vệ, chăm sóc trẻ em của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, cha mẹ, giáo viên và công dân chưa tốt; kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc trẻ em của nhiều gia đình và trẻ em chưa đầy đủ; hệ thống thông tin quản lý, cơ sở dữ liệu về bảo vệ, chăm sóc trẻ em chưa đầy đủ, thiếu tin cậy Để tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, đặc biệt công tác bảo vệ trẻ em, đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả các mục tiêu vì trẻ em đến năm 2010, tạo cơ sở để thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong những năm tiếp theo chỉ thị đã nêu ra những nhiệm

vụ trước mắt và lâu dài cần triển khai thực hiện

+ Thông tư số 23/2010/TT-LĐTBXH ngày 16/8/2010 quy định quy trình can thiệp và trợ giúp trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục: Nhà nước đã phát động nhiều chương trình tái hoà nhập cho trẻ em bị xâm hại tình dục Các chương trình này cũng được lồng ghép vào các chương trình đào tạo nghề, tạo việc làm và xoá đói giảm nghèo Các chính sách về khám chữa bệnh và chăm sóc cho trẻ bị xâm hại nhân phẩm và tình dục cũng được đề ra Hoạt động tham vấn tâm lí xã hội cùng những hỗ trợ khác dành cho trẻ em nạn nhân đã được thực hiện

Như vậy, có thể thấy rằng, trong suốt một thời gian dài, qua nhiều giai đoạn lịch sử, Đảng ta luôn đặt công tác Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em lên hàng đầu Đảng đã đề ra những đường lối, chính sách cụ thể về chính trị, pháp luật và xã hội Tất cả tạo nên một quá trình đồng bộ, nhất quán và toàn diện nhằm hướng tới một chế độ chính trị - pháp lý hoàn chỉnh cho công tác Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em

Trang 34

1.3.2 Pháp luật Việt Nam về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em

Trong những năm qua, nhằm thể chế hoá các quan điểm, đường lối của Đảng

về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và thực hiện Công ước quốc tế về Quyền trẻ

em mà Việt Nam đã ký kết từ năm 1990, Quốc hội đã ban hành, bổ sung, sửa đổi nhiều đạo luật quan trọng, như: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Giáo dục; Luật Phòng, chống mua bán người; Bộ Luật Hình sự; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Lao động; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phòng chống bạo lực gia đình và một số luật, pháp lệnh khác…quy định nhiều nội dung trực tiếp hoặc gián tiếp về việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em khỏi bị bạo lực, xâm hại Trên cơ sở đó, Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các nội dung này Các văn bản này là cơ sở pháp lý, căn cứ quan trọng để các bộ, ngành, cơ quan hữu quan và ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo triển khai và tổ chức các hoạt động phòng ngừa, bảo vệ, trợ giúp trẻ em khỏi bị bạo lực, xâm hại

Trong những năm qua, vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có trẻ em bị xâm hại tình dục đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Những chủ trương chính sách của Đảng đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đã được thể chế hóa trong nhiều văn bản luật và dưới luật, tạo thành một hệ thống các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ trẻ em tránh khỏi tình trạng bị xâm hại

Trên cơ sở phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1990, Việt Nam

đã xây dựng Luật Bảo vệ Chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 và sửa đổi bổ sung năm 2004 nhằm thể chế hóa việc thực hiện các quyền của trẻ em tại Việt Nam Luật Bảo vệ Chăm sóc và giáo dục trẻ em bao gồm 5 chương, 60 điều quy định các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân trong việc đảm bảo thực hiện các quyền

cơ bản của trẻ em Các quy định được nêu trong Luật như: Mọi trẻ em đều được bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật; Gia đình, nhà trường, nhà nước xã hội và công dân có trách nhiệm tôn trọng và thực

Trang 35

hiện các quyền của trẻ em; Các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện, mọi hành vi vi phạm quyền của trẻ em làm tổn hại đến sự phát triển bình thường của trẻ đều bị nghiêm trị theo quy định pháp luật; Luật nghiêm cấm các hành vi để trẻ em rơi vào các hoàn cảnh đặc biệt, bóc lột, lạm dụng trẻ em như: trẻ lang thang, trẻ bị xâm hại tình dục, trẻ bị bóc lột sức lao động, trẻ bị xâm phạm tính mạng, nhân phẩm

Tại điều 56 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em năm 2004 quy định trẻ em bị xâm hại tình dục cần phải được gia đình, cộng đồng, Nhà nước hỗ trợ thông qua các dịch vụ tham vấn, phục hồi sức khoẻ và tâm lí, tạo điều kiện phù hợp

để trẻ tái hoà nhập gia đình và cộng đồng

Hiện nay luật pháp, chính sách chủ yếu liên quan đến trẻ em bị xâm hại tình dục được quy định trong Bộ luật hình sự, theo đó xâm hại tình dục trẻ em là một trong những tội đặc biệt nghiêm trọng (từ năm 1985 và được sửa đổi tại các năm

1999, 2012) với 4 tội danh: Hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu và dâm ô với trẻ em

“Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ mười ba tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ

em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi ba năm, tù chung thân hoặc tử hình” (Điều 112 Bộ Luật Hình sự quy định về Tội Hiếp dâm trẻ em) Trẻ em bị xâm hại tình dục là một trong 10 nhóm trẻ có hoàn cảnh có hoàn cảnh đặc biệt được ghi trong Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em Quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục trẻ em được quy định trong Thông tư 23 là một trong những quy định quan trọng nhằm trợ giúp, bảo vệ trẻ em khi phát hiện hoặc nghi ngờ có dấu hiệu xâm hại tình dục tại cộng đồng Xử lí hành chính hành vi được coi là xâm hại trẻ em và hỗ trợ gia đình trẻ em là nạn nhân được quy định Nghị định 91 và Thông tư 181 Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015 là chương trình duy nhất trong phòng ngừa không để trẻ em bị xâm hại tình dục

Trang 36

1.4 Vai trò và nhiệm vụ cơ bản của công tác xã hội đối với trẻ bị xâm hại tình dục

Trong quá trình chăm sóc và hỗ trợ giúp trẻ em bị xâm hại tình dục, NVCTXH đóng vai trò rất quan trọng trong suốt tiến trình trợ giúp như:

NVCTXH đóng vai trò cung cấp cho trẻ bị xâm hại và gia đình trẻ nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, đến việc phát triển các mạng lưới liên kết để có thể giúp trẻ bị xâm hại tiếp cận được các dịch vụ y tế, xã hội hoặc tiếp cận các tổ chức có khả năng trợ giúp trẻ bị xâm hại Các NVCTXH là người phải hiểu được cảm xúc và phản ứng của trẻ bị xâm hại, sự ảnh hưởng từ tình trạng hiện tại của trẻ bị xâm hại đến sự phát triển trong tương lai NVCTXH là người cung cấp mức độ của trẻ bị xâm hại đến các cơ sở y tế (nếu cần), để trẻ sớm nhận được sự hỗ trợ đúng đắn và hiệu quả NVCTXH đóng vai trò là nhà giáo dục, giúp trẻ phát triển những kỹ năng xã hội cần thiết như giao tiếp, tương tác xã hội, góp phần tạo cơ hội cho trẻ thuận lợi hơn trong việc hòa nhập cộng đồng

NVCTXH là người giúp các thành viên khác trong xã hội hiểu rõ và đúng hơn

về trẻ tự kỷ và bản chất của sự “khuyết tật” để xã hội có cái nhìn khách quan và khoa học về trẻ tự kỷ, những khó khăn và rào cản từ phía xã hội dẫn đến hạn chế cho trẻ tiếp thu các kỹ năng trong tương tác xã hội

NVCTXH là người kết nối các nguồn lực xã hội dành cho trẻ bị xâm hại

1.4.1 Trợ giúp trị liệu cho trẻ

Dù sự thật là trẻ bị xâm hại không phải là một căn bệnh mà một người có thể chữa khỏi một cách đơn giản, vẫn có rất nhiều phương pháp điều trị có thể giúp trẻ

bị xâm hại học các kỹ năng mới và vượt qua những khó khăn trong quá trình phát triển Nhu cầu đặc biệt của các em có thể được đáp ứng bằng các liệu pháp điều chỉnh hành vi tại nhà và các chương trình hỗ trợ tại trường học, các Trung tâm chuyên biệt Với kế hoạch điều trị đúng đắn, bằng những phương pháp thông qua

các trò chơi, phát triển tư duy, nhận thức, giao tiếp xã hội,…

Đây là hoạt động đầu trong nhiệm vụ cơ bản của quá trình trị liệu cho trẻ bị xâm hại NVCTXH trước tiên tiến hành các khảo sát đánh giá về tình trạng hiện tại

Trang 37

của trẻ như thế nào, khi nhận thấy kết quả kiểm tra của trẻ ở mức độ nào của trẻ bị xâm hại, người NVCTXH phải đưa ra được kế hoạch trị liệu cho trẻ bao gồm nâng cao sự tự ý thức về các chức năng xã hội mà trẻ đang hạn chế, tác động nhằm giảm những cảm xúc tiêu cực như: tự làm đau mình, cáu giận, hiếu chiến, Những hoạt động này có thể đạt được thông qua tham vấn các nhân, thực hành qua bài tập, trị liệu theo nhóm và gia đình,

Trong nhiệm vụ này, NVCTXH phải là người tiếp hành thu thập thông tin của trẻ, hoàn cảnh sống của trẻ, tình trạng của trẻ bị xâm hại Từ kết quả nhận được, NVCTXH sẽ phải lên một kế hoạch cụ thể từng bước trong quá trình trị liệu

Thực hiện công việc này NVCTXH cần phải biết đánh giá tình trạng hiện tại của trẻ sau đó cần xác định những nguồn lực phù hợp với nhu cầu của trẻ để từ đó kết nối một cách hiệu quả những nhu cầu về nguồn lực đó Trong hoạt động trị liệu NVCTXH phải hiểu được các phương pháp cơ bản của trị liệu ở trẻ bị xâm hại như thế nào là phù hợp nhất như:

1.4.2 Tư vấn cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ

Đây là nhiệm vụ khá quan trọng trong tiến trình can thiệp, hỗ trợ cho trẻ bị xâm hại NVCTXH sẽ là người trực tiếp tư vấn cho cha mẹ trẻ hiểu được tình trạng hiện tại của trẻ, giúp cha mẹ chấp nhận sự bất thường của trẻ, giải tỏa trạng thái bế tắc của cha mẹ trong việc tìm kiếm phương pháp can thiệp cho trẻ Ngoài ra NVCTXH còn hướng đến nâng cao năng lực cho các bậc phụ huynh hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ về các kiến thức, kỹ năng như: “Kỹ năng đối phó, kỹ năng phản hồi cùng trẻ qua các bài tập, kỹ năng chăm sóc trẻ bị xâm hại, ” NVCTXH cũng cố tinh thần cho phụ huynh và yêu cầu họ phải đảm bảo theo các nguyên tắc sau:

- Tìm hiểu về tâm sinh lý của trẻ bị xâm hại: NVCTXH khuyến khích cha mẹ

trẻ nên tìm hiểu về chứng rối loạn về tâm sinh lý của trẻ bị xâm hại thì phụ huynh sẽ càng có được những quyết định đúng đắn cho con mình Vì thế, cha mẹ nên tự tìm hiểu về những phương pháp điều trị, đặt ra những câu hỏi và tham gia vào tất cả quá trình điều trị tâm sinh lý cho trẻ bị xâm hại thông qua NVCTXH

Trang 38

- Cha mẹ hãy là một chuyên gia về con mình: Cha mẹ nên biết điều gì khiến

con mình có những hành vi tiêu cực và điều gì có thể khuyến khích những phản ứng tích cực cực ở trẻ Điều gì khiến trẻ cảm thấy căng thẳng, khó chịu hay thoái mái và bình tĩnh? Nếu cha mẹ biết rõ những thứ có khả năng tác động đến con mình, cha

mẹ sẽ biết cách xử lý các sự cố một cách tốt hơn và có thể tránh được các tình huống không mong muốn Vì thế cha mẹ hãy trở thành một chuyên gia cho trẻ trong cải thiện các chức năng phát triển của con mình

- Chấp nhận con mình, với tất cả những điều khác biệt của trẻ: Thay vì tập

trung vào những điểm khác biệt hay những điều mà con mình không có so với những đứa trẻ bình thường, hãy học cách chấp nhận những điều đó Học cách làm quen với những điểm khác biệt của trẻ, trân trọng những thành công bé nhỏ mà trẻ đạt được và đừng nên so sánh con mình với những đứa trẻ khác Không điều gì có thể giúp trẻ hiệu quả hơn bằng việc chấp nhận và yêu thương con bạn vô điều kiện Trong trường hợp này NVCTXH, phải thấu hiểu được những mong muốn của cha

mẹ đối với trẻ là ngoài khả năng của trẻ trong đó đặc biệt nhất là mẹ trẻ Cha mẹ cần hiểu rằng trẻ không chọn được những gì khác biệt của bản thân so với người khác, vì thế cha mẹ cần nhìn nhận và chấp nhận sự khác biệt đó

- Đừng bao giờ từ bỏ: Cha mẹ không thể đoán được diễn biến của chứng rối

loạn tâm sinh lý ở một đứa trẻ Đừng vội vàng kết luận về cuộc sống tương lai của

trẻ Giống như tất cả mọi người, những người mắc bệnh rối loạn tâm sinh lý khi bị xâm hại cũng có một quãng đường đời phía trước để lớn lên và phát triển những khả năng của họ vì thế ngoài sự hướng dẫn hỗ trợ của NVCTXH thì quyết tâm của cha

mẹ trong tiến trình này là yếu tố quan trọng

NVCTXH trong nhiệm vụ này đóng vai trò là một nhà tham vấn thật sự, NVCTXH hiểu được những bế tắc mà các bậc cha mẹ có trẻ bị xâm hại tình dục đang phải đối đầu từ đó đưa ra những phương pháp phù hợp với hoàn cảnh gia đình,

vì trên thực tế một số cha mẹ hiểu được vấn đề của trẻ nhưng không thể tiếp nhận những phương pháp can thiệp đã được tư vấn Tư vấn cho cha mẹ trẻ về vấn đề của trẻ bị xâm hại còn bao gồm cung cấp kiến thức cơ bản về tâm sinh lý, các dấu hiệu

Trang 39

nhận biết phát hiện sớm trẻ rối loạn tâm lý của con em mình Đối với nhiệm vụ này NVCTXH cần trang bị tốt kiến thức cũng như kỹ năng nhằm đáp ứng được những trợ ngại của cha mẹ trong quá trình thực hành kiến thức này gặp hạn chế

1.4.3 Kết nối các nguồn lực

Nhiệm vụ tiếp theo của CTXH đối với trẻ bị xâm hại tình dục còn thể hiện ở việc kết nối các nguồn lực dành cho trẻ và gia đình trẻ Như chúng ta đã biết trong CTXH để có thể hỗ trợ một cách tốt nhất cho đối tượng thì không thể nào thiếu đi việc kết nối các nguồn lực xung quanh môi trường sống của trẻ bao gồm:

- Trước tiên là Phụ huynh, người chăm sóc trẻ: Đây được xem là đối tượng đảm bảo cung cấp tốt nhất về tinh thần cho trẻ, vì thế NVCTXH có nhiệm vụ phát huy tình thương của người trong gia đình của họ đối với trẻ bị xâm hại

- Chính quyền địa phương: Nơi quản lý và lập hồ sơ cho trẻ được hưởng các chế độ chính sách tại địa phương, một trong những dịch vụ mà trẻ không thể thiếu trong quá trình phát triển

- Các tổ chức Đoàn thể: Các đoàn thể cũng là một trong những kênh nguồn lực

mà NVCTXH phải nghĩ đến khi thực hiện CTXH đối với trẻ bị xâm hại Các Đoàn thể tổ chức có thể cung cấp dịch vụ đưa trẻ vào các hoạt động nhóm trẻ đặc biệt trong các buổi sinh hoạt nhỏ, giúp trẻ có những tương tác xã hội

- Các nguồn lực vận động khác:Các mạnh thường quân trong các chương trình

hỗ trợ phát triển kỹ năng, năng lực về trẻ bị xâm hại được NVCTXH tìm hiểu có

Kết luận chương 1

Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ bị xâm hại tình dục là những hoạt động có

kỹ thuật mà nhân viên xã hội chuyển hóa từ các kỹ năng, các phương pháp trong việc hỗ trợ cho trẻ bị xâm hại một cách có định hướng đạt đến những mục đích rõ ràng Nhằm tác động đến đứa trẻ và giúp nó cải thiện hay tăng năng lực về mặt thể chất và tinh thần, những hoạt động này mang giá trị tích cực và có hiệu quả lâu dài

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG C NG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ EM BỊ XÂM HẠI

TÌNH DỤC TẠI HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH AN GIANG

2.1 Đặc điểm địa bàn khảo sát

2.1.1 Vài nét về vị trí địa lý, tình hình kinh tế xã hội huyện Chợ Mới

Chợ Mới là huyện cù lao nằm giữa sông Tiền, sông Hậu Có diện tích đất tự nhiên là 328,06 km2, trong đó đất được sử dụng vào mục đích nông nghiệp chiếm tỷ

lệ khá cao với tổng diện tích gieo trồng cả năm 80.664 ha trong đó diện tích lúa chiếm 49.513 ha trên tổng diện tích gieo trồng lúa, rau màu Dân số huyện là 229.306 người với mật độ dân số 699 người/km2

Về vị trí địa lí

Huyện Chợ Mới phía Đông giáp Thành Phố Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp, phía Tây giáp huyện Phú Tân, Châu Thành, phía Nam giáp thành phố Long Xuyên và huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp, phía Bắc giáp huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp Huyện có 2 thị trấn và 16 xã Trên địa bàn huyện có 4 dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khmer với phần lớn là người Kinh sinh sống Chợ Mới là huyện có vị trí địa lí thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán hàng hóa với các địa phương lân cận

Điều kiện kinh tế, xã hội của huyện Chợ Mới

Với địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ, có nhiều sông ngòi kênh rạch, cùng với khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, nên người dân chủ yếu sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp Trong năm 2015, tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản đạt 8.186,4 tỷ đồng, đạt 92,45% so nghị quyết, tăng 7,22% so với năm 2014 Việc áp dụng chương trình “3 giảm 3 tăng”, “1 phải 5 giảm” tiếp tục được quan tâm thực hiện Hiện nay, huyện đang thực hiện thí điểm

mô hình sản xuất rau an toàn tại xã Kiến An với diện tích 4.000m2

và tổ chức gian hàng bày bán tại thị trấn Chợ Mới

Với tình trạng đất hẹp, người đông mà chỉ đơn thuần sản xuất nông nghiệp thì rất khó cải thiện đời sống Vì thế, ngoài việc sản xuất nông nghiệp nhân dân huyện Chợ Mới còn sản xuất một số ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp truyền

Ngày đăng: 07/10/2016, 11:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Những hoàn cảnh cha mẹ giáo dục cho trẻ phòng, - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em bị xâm hại tình dục từ thực tiễn huyện chợ mới, tỉnh an giang
Bảng 2.1 Những hoàn cảnh cha mẹ giáo dục cho trẻ phòng, (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w