VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN VĂN BON PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ TỈNH LONG AN Chuyên ngành:
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN BON
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ
TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội từ
thực tiễn các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An” là công trình nghiên cứu của bản thân
tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, được
trích từ các nguồn công khai, hợp pháp, không sao chép từ bất lỳ công trình nào
khác
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 8
1.1 Khái niệm, vai trò, vị trí, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề 8
1.2 Khái niệm, nội dung phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề 15
1.3 Những yếu tố tác động đến phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề 19
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ TỈNH LONG AN 25
2.1 Thực trạng tác động của các yếu tố đến phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An 25
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An 29
2.3 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An 34
2.4 Đánh giá kết quả phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An và những vấn đề đặt ra 37
Chương 3: TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ TỈNH LONG AN 41
3.1 Nhu cầu và định hướng tăng cường phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An 41
3.2 Các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ỏ các cơ sở dạy nghề của tỉnh Long An 44
3.3 Thăm dò tính cần thiết và khả thi các giải pháp 57
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐNGVDN Đội ngũ giáo viên dạy nghề
ĐNGVCTXH Đội ngũ giáo viên công tác xã hội
GVCTXH Giáo viên công tác xã hội
LĐTBXH Lao động-Thương binh và xã hội NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Danh sách các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Long An đến
cuối năm 2015 Bảng 2.2: Thống kê kết quả tuyển sinh các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An Bảng 2.3: Thống kê số lượng giáo viên CTXH năm 2015
Bảng 2.4: Thực trạng phẩm chất đạo đức, tư tưởng, chính trị của
GVCTXH
Bảng 2.5: Thống kê trình độ đào tạo và nghiệp vụ sư phạm GVCTXH tỉnh
Long An năm 2015 Bảng 2.6: Thống kê trình độ ngoại ngữ, tin học GVCTXH của tỉnh đến
cuối năm 2015 Bảng 2.7: Thống kê về đào tạo, bôi dưỡng, tự học tập nâng cao trình độ
GVCTXH từ năm 2012-2015 Bảng 2.8: Thống kê trình độ GVCTXH tỉnh Long An
Bảng 3.1: Nhu cầu đào tạo GVCTXH tỉnh Long An giai đoạn 2016-2020 Bảng 3.2: Đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
CTXH là một nghề chuyên nghiệp đã được thừa nhận ở nhiều Quốc gia trên thế giới và ngành CTXH đã được đưa vào giảng dạy ở nhiều trường đại học từ đầu thế kỷ 19.Hiện nay, ở Việt Nam CTXH là một nghề được pháp luật công nhận, có
vị trí ngày càng quan trọng trong mục tiêu và chiến lược phát triển KT-XH của đất nước CTXH góp phần giải quyết công bằng và sự tiến bộ của xã hội
Để phát triển CTXH thành một nghề ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 (Quyết định 32/2010/QĐ-TTg), còn gọi là Đề án 32 Một trong những nội dung quan trọng của đề
án là: Trong giai đoạn 2010 - 2020, tổ chức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng để nâng cao năng lực cho 60.000 cán bộ, nhân viên và cộng tác viên CTXH
Long An triển khai thực hiện Đề án 32, hầu hết cán bộ, nhân viên và cộng tác viên làm việc trong lĩnh vực này còn thiếu và chưa được đào tạo bài bản cả ở khâu hoạch định chính sách cũng như khâu tác nghiệp cụ thể, nhất là cán bộ làm việc trực tiếp với đối tượng Đội ngũ nhân viên này phát triển có tính tự phát chủ yếu là của các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, cán bộ phường, xã đôi khi là những người dân tự nguyện Họ làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm Việc đào tạo, tập huấn cho cán bộ, nhân viên CTXH của các CSDN của tỉnh mới dừng lại ở giai đoạn đầu, thiếu giáo viên, kinh nghiệm đào tạo ít; Chương trình, giáo trình và tài liệu giảng dạy CTXH còn thiếu, nhiều bất cập Điều này đã ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện Đề án 32
Đội ngũ giáo viên là yếu tố đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định tới chất lượng và hiệu quả, tới sự thành công của sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo Để các CSDN tỉnh Long An phát triển ngành CTXH, một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng đó chính là phát triển ĐNGVCTXH Trong khi đó các GVCTXH hiện có đều dược đào tạo từ các ngành gần với ngành CTXH, hoặc chuyên môn khác CTXH, các giáo viên này chỉ tập huấn, bồi dưỡng lớp GVCTXH do Bộ LĐTBXH
Trang 7tổ chức Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên Công tác xã hội còn nhiều tồn tại và bất cập, do đó ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CTXH của tỉnh
Do đó việc phát triển ĐNGVCTXH ở các CSDN tỉnh Long An đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn là việc làm cần thiết có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Chính vì vậy, tác giả chọn chủ đề “Phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã
hội từ thực tiễn các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An” làm đề tài luận văn thạc sĩ
CTXH
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây, CTXH còn khá mới với Việt Nam, do đó việc đào tạo, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, GVCTXH là vấn đề được sự quan tâm các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong nước Nhưng ở Việt Nam hiện nay chưa có công trình nghiên cứu sâu về đội ngũ giảng viên, GVCTXH Đây là những khó khăn trong quá trình nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả đã nghiên cứu, phân tích một số công trình nghiên cứu về CTXH của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các chuyên gia:
“Đào tạo CTXH ở Việt Nam” của Vũ Trùng Dương Bộ LĐTBXH (trích tài liệu hội thảo Công tác xã hội phát triển bền vững) phát hành tháng 12 năm 2014 Tác giả đã cho thấy nhu cầu đào tạo nhân viên CTXH là nhu cầu cấp thiết, cho rằng điểm khởi đầu để nâng cao chất lượng giảng dạy - đào tạo chính là đào tạo và đào tạo lại những người thầy (người đi giáo dục phải được giáo dục - C.Mác) là cần thiết nhất để nâng cao chất lựợng đào tạo
“Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên CTXH trong giai đoạn hiện nay” của Phạm Văn Tư, Tiến sĩ, Trưởng bộ môn, khoa CTXH, Trường Đại học sư phạm Hà Nội (trong hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo CTXH với chuyên nghiệp hóa dịch vụ CTXH, tháng 02 năm 2016) Tác giả đã phản ánh kết quả của việc nghiên cứu đánh giá về thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên, đề xuất các giải
Trang 8pháp để nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên CTXH của Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội Tác giả chưa đề cập đến thực trạng đội ngũ giáo viên Công tác xã hội ở các
cơ sở dạy nghề của các tỉnh, thành phố hiện nay ở Việt Nam
“Phát triển nguồn nhân lực xã hội đáp ứng nhu cầu thực tiễn và hội nhập” công trình nghiên cứu của Tiến sĩ, Nguyễn Hải Hữu, Chủ tịch Hội các trường đào tạo CTXH Việt Nam, (trích tài liệu hội thảo CTXH phát triển bền vững ) phát hành tháng 12 năm 2014 Tác giả nêu ra yêu cầu cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực CTXH, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của nước ta và yêu cầu hội nhập
“Chương trình đào tạo lấy thực hành làm thước đo cho chất lượng đào tạo Công tác xã hội” của Phó giáo sư, Tiến sỹ, Đỗ Hạnh Nga, Trưởng khoa CTXH, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (trích trong tài liệu hội thảo quốc tế : Nâng cao chất lượng đào tạo công tác xã hội với chuyên nghiệp hóa dịch vụ CTXH, tháng 02 năm 2016), nội dung bài viết về Chương trình đào tạo Khoa CTXH trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn –Đại học Quốc Gia Hồ Chí Minh, đây là chương trình đào tạo lấy thực hành làm thước đo chất lượng đào tạo cử nhân CTXH Tác giả cho rằng đào tạo cử nhân CTXH phải bố trì một thời gian, thời lượng đáng kể về số lượng tín chỉ vào việc tổ chức hoạt động thực hành, thực tập cho người học Tác giả khẳng định những kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh viên thông qua thực tập chính là thước đo việc đào tạo cử nhân CTXH của trường
“Đào tạo, bồi dưỡng giảng viên ngành CTXH ở Việt Nam” của TS Nguyễn Văn Thủ, Học viện Hành Chính thành phố Hồ Chí Minh tham khảo tại trang (lib.education.vnu.edu.vn:8121/bitstream/123456789/ /NguyenVanThu.doc), nghiên cứu cho thấy tác giả đã nêu ra vấn đề cần thiết phải đào tạo đội ngũ nhân viên công tác xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, muốn nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Công tác xã hội thì việc làm trước tiên là đào tạo đội ngũ giáo viên CTXH; tác giả cũng đề xuất một số giải pháp đào tạo giáo viên công tác xã hội Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ nêu nhận định của mình về thực trạng đội ngũ giảng viên công tác xã hội hiện nay từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng, chứ chưa đi sâu phân tích thực trạng ĐNGVCTXH hiện nay
Trang 9“Một vài suy nghĩ về đào tạo Công tác xã hội ở Việt Nam” của đồng tác giả
Lê Hải Thanh và Dương Hoàng Lộc ( Khoa CTXH, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn TP Hồ Chí Minh) tham khảo tai trang http://lib.education.vnu.edu.vn:8121/bitstream/123456789/6347 Tác giả cho rằng việc Đào tạo nguồn nhân lực CTXH sẽ góp phần phát triển bền vững vùng ĐBSCL,
là một trong những giải pháp thực hiện chính sách ASXH, hỗ trợ cộng đồng và nâng cao chất lượng sống cho người dân ở đây Đây còn là một mục tiêu phát triển bền vững Trong thời gian tới, vấn đề đào tạo nhân viên xã hội có kiến thức và kĩ năng
là một yêu cầu lớn ở các địa phương Tây Nam Bộ khi có nhiều vấn đề xã hội đang đặt ra và cần có sự giải quyết mang tính chuyên nghiệp Do vậy, chất lượng đào tạo nguồn lực này là một trong chìa khóa then chốt để ngành CTXH phát triển, đóng góp vào công cuộc phát triển toàn diện và bền vững ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập hiện nay
Những những công trình nghiên cứu trên đã góp phần không nhỏ vào việc khẳng định tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát triển đội ngũ giảng viên, GVCTXH, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho nghề CTXH theo đề án
32 của Chính Phủ, nó làm cơ sở định hướng cho những nghiên cứu về phát triển ĐNGV ở các cơ sở đào tạo CTXH Tuy nhiên những nghiên cứu trên chưa đề cập đến thực trạng ĐNGVCTXH ở các CSDN trực thuộc tỉnh, thành phố hiện nay của Việt Nam
Đến thời điểm hiện nay ở Việt Nam chỉ có những hội thảo, những bài viết của các nhà nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên, GVCTXH, chưa có một đề tài khoa học nghiên cứu sâu về đội ngũ giảng viên, GVCTXH, đặc biệt là các CSDN tỉnh Long An thì chưa có đề tài nào đề cập đến Do đó tài liệu tham khảo rất khan hiếm, đây cũng là khó khăn trong quá trình nghiên cứu cần phải khắc phục
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của việc phát triển đội ngũ giáo viên nói chung, phát triển đội ngũ giáo viên CTXH nói riêng; đề
Trang 10tài đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên CTXH ở các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện tại và tạo tiền đề cho sự phát triển lâu dài, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành công tác xã hội cho tỉnh Long An
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung thực hiện 3 nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ GV nói chung và GVCTXH ở các CSDN nói riêng
Đánh giá thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng công tácphát triển ĐNGVCTXH tại các CSDN trên địa bàn tỉnh Long An;
Đưa ra các giải pháp có tính khả thi và hiệu quả áp dụng vào công tác phát triển ĐNGVCTXH ở các CSDN tỉnh Long An
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các giải pháp phát triển ĐNGVCTXH ở các CSDN trên địa bàn tỉnh Long An
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lý luận và thực trạng phát triển ĐNGVCTXH ở các CSDN trên địa bàn tỉnh Long An
Đề tài cũng chỉ nghiên cứu giới hạn ở các CSDN tỉnh Long An
Thời gian nghiên cứu: 2 năm từ 2015 đến 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Qua đánh giá thực trạng, để từ đó rút ra những vấn đề về lí luận và đề xuất những giải pháp khả thi để tăng cường phát triển ĐNGVCTXH ở các CSDN tỉnh Long An
Trang 11Luận văn cũng nghiên cứu một cách hệ thống các lý thuyết về giáo viên, đội ngũ GV, về phát triển, công tác đào tạo, bồi dưỡng, hệ thống chính sách liên quan đến ĐNGV dạy nghề nói chung và GVCTXH nói riêng
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật lịch sử: đối tượng được nghiên cứu đánh giá theo một trục thời gian nhất định và mang tính lịch sử rõ nét Như vậy những vấn đề liên quan trong đề tài nghiên cứu có so sánh đối chiếu theo lịch sử
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp quản lý như báo cáo tổng kết năm của các CSDN, phòng dạy nghề, Sở LĐTBXH tỉnh Long An
Tìm hiểu, đánh giá nhận xét tài liệu có liên quan đến chính sách đào tạo của
tỉnh Long An
5.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp mà người được hỏi, trả lời với hình thức tụ viết vào bảng hỏi để đưa cho người được hỏi dưới dang bảng hỏi
5.2.3 Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến các chuyên gia (Ban giám hiệu, cấp ủy, trưởng phó khoa các CSDN) về công tác tổ chức, công tác cán bộ ở các CSDN để có những thông tin nhận xét, đánh giá về chất lượng thực trạng của ĐNGVCTXH ở các CSDN tỉnh Long An
5.2.4 Phương pháp hệ thống hóa
Thông qua các báo cáo của các CSDN, báo cáo của Sở LĐTBXH tỉnh, báo cáo của Bộ LĐTBXH qua các năm, từ đó hệ thống hóa những kinh nghiệm trong phát triển ĐNGV dạy nghề nói chung và giáo viên CTXH nói riêng
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hộitại các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An
Chương 3: Tăng cường phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hộitại các cơ
sở dạy nghề tỉnh Long An
Trang 13Chương 1 NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI 1.1 Khái niệm, vai trò, vị trí, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ [6, tr.3]
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và
dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Theo tài liệu nghề CTXH – Nền tảng triết lý và kiến thức: CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo
ASXH [6, tr.3]
1.1.1.2 Khái niệm giáo viên
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Giáo viên được hiểu là người dạy học ở các Nhà trường, các cơ sở giáo dục hoặc tương đương” [32, tr.380] để chỉ những người dạy học ở các cấp, bậc học
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục Việt Nam (Luật số 44/2009/QH12 của Quốc hội) cũng đã quy định cụ thể tên gọi đối với từng đối
Trang 14tượng nhà giáo theo cấp bậc giảng dạy và công tác Theo đó, tại mục 23, khoản 3, Điều 70 qui định: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, TCN, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường CĐN gọi là giảng viên” [19, tr.8]
1.1.1.3 Giáo viên dạy nghề
Theo Điều 58, Luật Dạy nghề: GVDN là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các CSDN GV dạy lý thuyết trình
độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp TCN trở lên; GV dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp TCN trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
GV dạy lý thuyết trình độ TCN phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; GV dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp CĐN hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao; GV dạy lý thuyết trình độ CĐN phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành trở lên; GV dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp CĐN hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao [18, tr.21-22]
Trường hợp GVDN quy định tại các điểm nêu trên không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ đào tạo sư phạm
1.1.1.4 Đội ngũ giáo viên công tác xã hội
Từ điển Bách khoa Việt Nam đã định nghĩa: “Đội ngũ là khối đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng” [31, tr.243]
“ĐNGV là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức, hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến sức lực, toàn bộ tài năng của họ đối với giáo dục” [5, tr.10]
ĐNGV là một tập hợp những người làm nghề dạy học – giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của
Trang 15một nhà giáo cùng thực hiện các nhiệm vụ và được định hướng các quyền lợi theo Luật giáo dục và các Luật khác được Nhà nước quy định
GVCTXH là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các CSDN về CTXH.GV dạy lý thuyết trình độ sơ cấp CTXH phải có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành CTXH trở lên; GV dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp CTXH trở lên.GV dạy lý thuyết trình độ trung cấp CTXH phải có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành về CTXH; GV dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp CĐN về thực hành chuyên ngành CTXH; GV dạy lý thuyết trình độ CĐN phải có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành CTXH trở lên; GV dạy thực hành phải là người có bằng tốt đại học nghiệp chuyên ngành CTXH Trường hợp GVCTXH nêu trên không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ đào tạo sư phạm
ĐNGVCTXH là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở các CSDN, họ gắn kết với nhau thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo nghề CTXH, cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục học sinh, sinh viên theo ràng buộc của những nguyên tắc có tính chất hành chính của ngành dạy nghề và của nhà nước
1.1.1.5 Phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội
Phát triển được hiểu là sự thay đổi, chuyển biến tạo ra cái mới theo hướng tích cực, tốt hơn hay nói cách khác phát triển là xu thế đi lên của sự vật hiện tượng ngày càng hoàn thiện hơn Phát triển còn là sự biểu hiện hàng loạt sự biến đổi kế tiếp của
sự vật và hiện tượng qua các giai đoạn khác nhau, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc sự biến đổi.Quá trình đó cũng chính là quá trình thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất, cấu trúc của sự vật, hiên tượng
Việc phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề nói chung và phát triển giáo viên Công tác xã hội nói riêng, là cơ sở, là điều kiện của việc tạo ra những "máy cái" để sản sinh ra những "máy con"hay nói đúng hơn đó là cách rèn đúc ra những "Khuôn mấu tinh xảo, chuẩn mực, ưuviệt" để từ đó làm cơ sở cho việc tạo ra hàng loạt
Trang 16những sản phẩm có giá trị về mặt xã hội tiêu chuẩn về Pháp luật, chuẩn mực về quy phạm đạo đức
Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề Công tác xã hội đó là: Có đủ lực lượng giáo viên xã hội cần thiết, tổ chức giảng dạy các lớp học sinh đúng quy chuẩn như: Học lý thuyết không quá 35 em/lớp/thầy Khi tổ chức thực hành nghề không quá 18 học sinh/lớp/thầy.thực hiện theo quy đnhị (Điều 13 Quyết định 775-BLĐTB-XH/ngày 09/08/2001 về quy chế trường dạy nghề)
Như vậy, phát triển ĐNGVCTXH thực chất là phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục nghề CTXH cho các CSDN, nhằm đạt các mục tiêu sau: Phát triển GVCTXH đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng theo chuẩn, đồng bộ về cơ cấu, thực hiện tốt kế hoạch đào tạo
1.1.2 Vị trí, vai trò của giáo viên công tác xã hội
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng ĐNGV và cán bộ quản lý giáo dục là sự nghiệp nồng cốt trong sự nghiệp giáo dục – đào tạo Bác Hồ rất quan tâm đúng mức
và đánh giá cao Trong Lá thư gửi Hội nghị Giáo dục toàn quốc tháng 3/1955, Bác
Hồ đã viết: “Trách nhiệm nặng nề và vẻ vang của người thầy là chăm lo cho con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”
Vị trí, vai trò của người GV trong sự nghiệp giáo dục có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển con người là động lực phát triển -XH.ĐNGV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Vai trò của đội ngũ GV đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã được Đảng
và Nhà nước ta đánh giá cao và khẳng định qua các văn bản, nghị quyết, thông tư, chỉ thị trong từng giai đoạn gắn với sự phát triển KT-XH của cả nước, vùng Cụ thể:
- Luật Giáo dục đã xác định rõ vai trò của giáo viên: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”
- Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 xác định 8 giải pháp phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, trong đó giải pháp 1 “Đổi mới quản lý giáo dục” là
Trang 17giải pháp đột phá và giải pháp 2 “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” là giải pháp then chốt
- Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 xác định 9 giải pháp phát triển dạy nghề trong đó giải pháp 1 “Đổi mới quản lý Nhà nước về dạy nghề” và giải pháp 2 “Phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề” là hai giải pháp đột phá
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 xác định mục tiêu tổng quát là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới
Các yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nhân lực ở các CSDN gồm: ĐNDVDN; chương trình đào tạo nghề; nguồn lực vật chất (cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề) và nguồn lực tài chính Trong các yếu tố trên thì ĐNGV giữ vai trò vô cùng quan trọng, là nhân tố quyết định chất lượng đàotạo và phát triển nhân lực
Tóm lại, ĐNGV dạy nghề nói chung, GVCTXH nói riêng có vai trò là chủ thể tham gia phát triển nhân lực, là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo nhân lực và phát triển KT - XH của vùng và cả nước, do đó phát triển ĐNGVCTXH ở các CSDN tỉnh Long An góp phần đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực CTXH cho tỉnh Long An và vùng ĐBSCL
1.1.3 Nhiệm vụ của giáo viên công tác xã hội
Theo Luật Giáo dục và Điều lệ nhà trường, giáo viên có những nhiệm vụ sau đây: Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý, chương trình giáo dục; Gương mẫu thực hiện nhiệm vụ công dân, các quy định của pháp luật và điều lệ nhà trường; Giữ gìn phẩm chất uy tín, danh dự của nhà giáo, tôn trọng nhân cách người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của
Trang 18người học; Không ngừng học tập, rèn uyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nêu gương tốt cho người học
Điều 59, Luật Dạy nghề quy định: Giáo viên dạy nghề có các nhiệm vụ quy định tại Điều 72 của Luật giáo dục; Giáo viên dạy nghề có các quyền quy định tại Điều 73 của Luật giáo dục và các quyền sau đây:
Được đi thực tế sản xuất, tiếp cận với công nghệ mới; Được sử dụng các tài liệu, phương tiện, đồ dùng dạy học, thiết bị và cơ sở vật chất của CSDN để thực hiện nhiệm vụ được giao; Được tham gia đóng góp ý kiến về chủ trương, kế hoạch của CSDN, xây dựng chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy và các vấn
đề có liên quan đến quyền lợi của giáo viên [18, tr 22]
Là giáo viên CTXH ở các CSDN thì giáo viên CTXH có nhiệm vụ như GVDN trên lĩnh vực CTXH
1.1.4 Yêu cầu đối với giáo viên công tác xã hội
1.1.4.1 Yêu cầu về phẩm chất
Phẩm chất chính trị
Chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên học tập nâng cao nhận thức chính trị; có ý thức tổ chức kỷ luật; có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung; đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp; gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội
Đạo đức nghề nghiệp
Yêu nghề, tâm huyết với nghề; có ý thức giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín, lương tâm nhà giáo; đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp, có ý thức xây dựng tập thể tốt để cùng thực hiện mục tiêu dạy nghề; thương yêu, tôn trọng người học, giúp người học khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt, bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của người học
Giáo viên ngành CTXH cần có tinh thần vị tha, biết hướng về người nghèo, biết gần gũi, quan tâm, hỗ trợ và sẵn sàng chia sẻ những khó khăn với những người có hoàn cảnh khó khăn (PGS.TS Nguyễn Văn Thủ, Học viện Hành chính tại TP HCM)
Trang 19Lối sống, tác phong
Sống có lý tưởng, có mục đích, ý chí vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; có lối sống lành mạnh, văn minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã hội; có thái độ ủng
hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ Tác phong làm việc khoa học; trang phục khi thực hiện nhiệm vụ giản dị, gọn gàng, lịch sự, không gây phản cảm và phân tán sự chú ý của người học; có thái độ văn minh, lịch sự, đúng mực trong quan
hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học, với phụ huynh người học
và nhân dân; giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo; xây dựng gia đình văn hoá; biết quan tâm đến những người xung quanh; thực hiện nếp sống văn hoá nơi công cộng
Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo
Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy chế, quy định; không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân; không gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục; không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối
xử, thành kiến người học; không tiếp tay bao che cho những hành vi tiêu cực trong giảng dạy, học tập, rèn luyện của người học và đồng nghiệp; không trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, tự ý bỏ việc; không đi muộn về sớm, bỏ giờ, bỏ buổi dạy, cắt xén, dồn ép chương trình, vi phạm quy chế chuyên môn làm ảnh hưởng đến
kỷ cương, nền nếp của nhà trường; không tổ chức, tham gia các hoạt động liên quan đến tệ nạn xã hội
1.1.4.2 Yêu cầu về năng lực
Người giáo viên phải có năng lực chuyên môn sâu
Hiểu biết về thực tiễn CTXH, thực tiễn của nền kinh tế, của nền văn hóa, của công tác giáo dục, y tế…có tầm quan trọng đặc biệt trong CTXH GVCTXH cần phải được bồi dưỡng, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, tiếp cận, nắm bắt và
Trang 20nhận diện những vấn đề của thực tiễn để có được một tầm nhìn thực tế, một khả năng tác động và gây được ảnh hưởng đối với người khác, đặc biệt là đối với học sinh; cần được bồi dưỡng, nâng cao năng lực trong việc phát hiện vấn đề, đề xuất các phương án giải quyết những vấn đề CTXH nẩy sinh trong đời sống xã hội; hơn thế là năng lực thiết kế, hoạch định, phân tích các chính sách, cũng như việc tổ chức
và quản lý các dự án, chương trình CTXH GVCTXH cần được rèn, nâng cao năng lực nghiên cứu, đặc biệt là về năng lực tư duy, để tiếp cận, tìm hiểu và nhận diện các vấn đề CTXH; để tìm kiếm, cập nhật thông tin và sắp xếp thành hệ thống kiến thức, thực hiện các đề tài, công trình nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên tiếp cận và thực hành nghiên cứu khoa học (PGS.TS Nguyễn Văn Thủ Học viện Hành chính tại TP HCM)
Người GVCTXH phải có kỹ năng sư phạm
Kỹ năng quan trọng của người GVCTXH phải có kỹ năng sư phạm, đặc biệt
là phương pháp dạy học chuyển từ việc lấy “Giáo viên làm trung tâm sang học sinh làm trung tâm” Ở đây, người thầy chỉ là người tổ chức, hướng dẫn, cố vấn người học phát hiện, biểu đạt vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau, vạch hướng giải quyết, thiết kế các nghiên cứu lý luận hay thực tiễn để giải quyết vấn đề và trên cơ sở vấn
đề được giải quyết, nêu hay phát hiện những vấn đề mới Điểm nổi bật của các phương pháp dạy học tích cực này là nâng cao tính thực tiễn của môn học, chủ động, sáng tạo của người học, đảm bảo vị thế tích cực, phát triển hứng thú nhận thức, thỏa mãn nhu cầu tìm tòi, khám phá của người học; nâng cao kỹ năng trình bày, bảo vệ và phản biện ý kiến trước đám đông
1.2 Khái niệm, nội dung phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các
cơ sở dạy nghề
1.2.1 Qui hoạch phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội
Là xây dựng kế hoạch dài hạn bố trí,sắp xếp ĐNGVCTXH trong phạm vi quản
lý của các CSDN Qui hoạch phải thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Căn cứ vào qui định hướng dẫn của các cơ có thẩm quyền và yêu cầu thực tế của CSDN để xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch; kế hoạch phải xuất phát từ dự
Trang 21báo nhu cầu phát triển và phù hợp với qui hoạch dạy nghề CTXH của địa phương Công tác quy hoạch phải xây dựng được các tiêu chuẩn về trình độ, phẩm chất và năng lực đối với GVCTXH trong từng giai đoạn.Xây dựng được ĐNGVCTXH đủ
về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo chất lượng, xác định số lượng GVCTXH đào tạo, bồi dưỡng từng năm học.Các điều kiện để triển khai công tác bồi dưỡng GVCTXH
Qui trình xây dựng qui hoạch phải đảm bảo các quy định và quy trình về công tác quy hoạch, phải căn cứ từ về thựctrạng ĐNGVCTXH và nhu cầu phát triển của ĐNGV các CSDN Công tác quy hoạch được xem xét điều chỉnh hàng năm
- Mục tiêu của qui hoạch về số lượng ĐNGVCTXH là: Đảm bảo duy trì đủ, ổn định ĐNGVCTXH; Đảm bảo số lượng học sinh, sinh viên/ GV theo qui định; Đảm bảo cho ĐNGVCTXH hoàn thành nhiệm vụ và tạo điều kiện cho ĐNGVCTXH có thời gian tự học, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nghiệp vụ; Đảm bảo việc sử dụng hợp lý và hiệu quả, đồng thời phát huy tối đa khả năng của ĐNGVCTXH
- Mục tiêu của qui hoạch về cơ cấu của ĐNGVCTXH là tạo ra sự đồng bộ và cân đối ĐNGV trong nhà trường thể hiện ở độ tuổi, giới tính, trình độ, ngành nghề
- Mục tiêu của qui hoạch về chất lượng ĐNGVCTXH là để đảm bảo ĐNGVCTXH có trình độ, năng lực, phẩm chất theo chuẩn qui định và đáp ứng được mục tiêu đào tạo nghề CTXH; tạo ra sự kế tục giữa các thế hệ GV, không bị hụt hẫng về chất lượng ĐNGVCTXH Đây là một trong những nội dung quan trọng của phát triển ĐNGVCTXH
1.2.2 Tuyển chọn và sử dụng
Tuyển chọn là quá trình nhà trường sử dụng các phương pháp nhằm lựa chọn,
quyết định chọn người đủ tiêu chuẩn Do đó phải xây dựng các tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng cho từng vị trí tuyển chọn, vừa có những tiêu chuẩn chung vừa có tiêu chuẩn
cụ thể, cá biệt phù hợp với yêu cầu để có được ĐNGVCTXH đủ về số lượng, mạnh
về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng được mục tiêu kế hoạch đào tạo của trường Việc tuyển chọn GV thường tiến hành theo các bước:
Trang 22- Chuẩn bị tổ chức tuyển chọn; thông báo tuyển GV; thu nhận và nghiên cứu
hồ sơ; tổ chức tuyển; quyết định tuyển
Sử dụng GV: Sử dụng GV chính là sự sắp xếp, bố trí, đề bạt GV vào các
nhiệm vụ,chức danh cụ thể nhằm phát huy tối đa khả năng hiện có của GV để hoàn thànhđược mục tiêu đào tạo của nhà trường Sử dụng GV phải gắn với việc đào tạo, bồi dưỡng và tạo môi trường phát triển để người GV luôn cập nhật kiến thức mới, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp đápứng nhu cầu đào tạo của nhà trường
1.2.3 Đào tạo và bồi dưỡng
Đào tạo: là quá trình hoạt động nhằm trang bị, phát triển một cách cơ bản, hệ
thống và tương đối tổng hợp về tri thức, phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo Không chỉ trong lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ mà rộng hơn là hoàn thiện nhân cách cho chủ thể đào tạo để họ lao động, cống hiến cho xã hội với một nghề nghiệp nhất định
Đào tạo lại: là cá nhân đã qua quá trình đào tạo với một trình độ nghề nghiệp
nhất định nay có nhu cầu được đào tạo nghề nghiệp mới hoàn toàn hoặc đào tạo mới một phần để tham gia hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp mới Đào tạo diễn ra dưới hình thức tập trung dài hạn, chính quy, không chính quy, văn bằng hai ở các trình độ đào tạo khác nhau.Mục tiêu của đào tạo, đào tạo lại GVCTXH nhằm chuẩn hóa GV hoặc nângchuẩn GV (đào tạo sau đại học)
Bồi dưỡng: là quá trình cập nhật, bổ sung những kiến thức và kỹ năng đã lạc
hậu hoặc còn thiếu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ Bồi dưỡng và đào tạo lại có thể diễn ra ở bên ngoài quá trình giáo dục đào tạo chính quy
Bồi dưỡng GVCTXH: bồi dưỡng GVCTXH nhằm cập nhật những kiến thức,
kỹ năng chuyên ngành CTXH, những phương pháp mới, tiếp thu các kinh nghiệm dạy tiên tiến, phù hợp với thế giới
- Các hình thức bồi dưỡng GV dạy nghề: Bồi dưỡng do nhà trường thực hiện;
Tự bồi dưỡng của cá nhân giảng viên Ngoài ra, còn các hình thức bồi dưỡng toàn diện, bồi dưỡng từng phần hay theo các chuyên đề
Trang 23Việc đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV nhằm hình thành hệ thống kiến thức, năng lực
sư phạm, kỹ năng nghề, thái độ nghề nghiệp theo chuẩn và phải được xác định là nhiệm vụ thường xuyên của cán bộ quản lý và ĐNGV dạy nghề nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế
1.2.4 Thực hiện chính sách
Theo Điều 59, Luật Dạy nghề 2006 qui định quyền và nhiệm vụ của GV dạy nghề, Quản lý nhà trường cần phân tích cho GV nhận rõ quyền và nhiệm vụ, đồng thời phải thực hiện tốt các chế độ chính sách đối với đội ngũ GV dạy nghề Trong điều kiện hiện nay, một khái niệm cần được quan tâm đó là “lương bổng và đãi ngộ”: Lương bổng và đãi ngộ: khái quát chung là toàn bộ những thu thập, phần thưởng bằng lợi ích vật chất và tinh thần mà ta gọi chung là những giá trị mà cá nhân có được nhờ đánh đổi sức lao động (một cách chính đáng) của mình cho tổ chức, cho xã hội
Thực hiện các chính sách, chế độ của Đảng và nhà nước, địa phương đối với giáo viên dạy nghề nói chung và giáo viên CTXH nói riêng
1.2.5.Quan hệ hợp tác với các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở dịch vụ công tác
xã hội và các địa phương
- GVCTXH gắn với các Trung tâm Bảo trợ xã hội, Trung tâm cung cấp dịch
vụ CTXH là một trong những biện pháp để góp phần chuẩn hóa và nâng cao chất lượng ĐNGVCTXH Vì mối quan hệ liên kết giữa nhà trường với các trung tâm mang lại các lợi ích cho cả hai bên Cơ sở bảo trợ xã hội, dịch vụ CTXH có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp học sinh áp dụng lý thuyết vào thực tiễn.Thông qua thực hành tại cơ sở, sinh viên bước đầu sử dụng kiến thức đã được học để giải quyết các công việc cụ thể, hình thành kỹ năng cần thiết sau khi ra trường
Để phát triển ĐNGVCTXH các CSDN của tỉnh đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực thì việc thiết lập mối quan hệ giữa các CSDN và các trung tâm CTXH của tỉnh (thậm chí các tỉnh lân cận trong khu vực) là một vấn đề cấp thiết, góp phần chuẩn hóa ĐNGV, nâng cao chất lượng ĐNGV dạy nghề, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nhân lực ngành Công tác xã hội
Trang 241.3 Những yếu tố tác động đến phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề
1.3.1 Cơ chế, chính sách của nhà nước
Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc đổi mới trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo và dạy nghề Nghị quyết TW khóa VIII nhấn mạnh: “đầu tư cho Giáo dục –Đào tạo là đầu tư cho phát triển”; thực hiện chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với Giáo dục –Đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương, lương GV phải được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm chế độ phụ cấp tùy theo tính chất của công việc, theo vùng do Chính phủ quy định” Nghị quyết TW2 cũng khẳng định đào tạo lao động kỹ thuật là đào tạo nhân tài cho đất nước trong thế kỷ 21 Trên cơ sở tổng kết thực hiện nghị quyết TW2 (khóa VIII)
và cụ thể hóa nghị quyết đại hội IX của Đảng, hội nghị TW6 (khóa IX) đề ra nhiệm
vụ đến năm 2010, trong đó có nội dung: “Có chính sách thu hút cán bộ khoa học trình độ cao của các viện nghiên cứu trong nước và các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài tham gia đào tạo lao động kỹ thuật; Tăng cường đầu tư cho Giáo dục –Đào tạo đúng với yêu cầu quốc sách hàng đầu” Các tư tưởng và quan điểm trên đã từng bước được thể chế hóa và cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật, chính sách của Nhà nước, đặc biệt trong Bộ luật lao động, Luật giáo dục, Luật dạy nghề…cũng như các văn bản dưới luật Luật giáo dục đã xác định “giáo dục nghề nghiệp” là một cấu phần quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó đã quy định những điều khoản rất cụ thể về quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong quan hệ giáo dục -đào tạo nghề nghiệp (người học, người đào tạo, người sử dụng…) Quyết định số 70/1997/QĐ-TTg ngày 17/11/1997 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định GV dạy nghề được hưởng phụ cấp ưu đãi ở mức 35% lương theo ngạch, bậc
Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Long An Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 03 tháng 4 năm 2007 về phát triển đào tạo nghề giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo Ngày 28 tháng 3 năm 2008 UBND tỉnh ban hành quyết định số 13/2008/QĐ-UBND về ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 03 tháng 4 năm 2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển đào
Trang 25tạo nghề giai đoạn 2008 - 2010 và những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh Long An.ỦY Ban Nhân dân tỉnh Long An ban hành đề án “Đào tạo nghề tỉnh Long An giai đoạn 2010- 2015 (ban hành kèm theo Quyết định số 71/2008/QĐ-UBND ngày 16/12/2008 của UBND tỉnh Long An), trong đó có quy định chế độ cho giáo viện dạy nghề nói chung giáo viên CTXH nói riêng:
+ Để có thể tuyển dụng đủ số lượng giáo viên dạy nghề theo mục tiêu đề ra, cần hỗ trợ cho những người tốt nghiệp đại học, có nguyện vọng trở thành giáo viên tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh, cam kết phục vụ từ 10 năm trở lên, với mức hỗ trợ cụ thể là được cấp 100% học phí, hỗ trợ tiền ăn 300.000 đ/người/tháng,
hỗ trợ tiền ở 150.000đ/người/tháng cho toàn bộ thời gian đã học (bình quân 4,5 năm) Các đối tượng được hỗ trợ trên, nếu không phục vụ như cam kết thì phải bồi thường kinh phí được cấp theo quy định hiện hành [35]
+ Những sinh viên mới tốt nghiệp đại học, có nguyện vọng làm giáo viên dạy nghề tại các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh, cam kết phục vụ từ 10 năm trở lên được ký kết hợp đồng tuyển dụng và được hưởng chế độ hỗ trợ với mức như khoản
1, mục III, phần II của đề án Dự kiến áp dụng giải pháp nầy đến năm 2015 sẽ tuyển dụng được 40% nhu cầu giáo viên dạy nghề, cụ thể là tuyển dụng được: 779 GV x 40% = 312 GV (công lập: 185 GV, ngoài công lập: 127 GV) [35]
+ Các Trường Đại học công lập khác trong khu vực có ngành nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu ngành nghề cần tuyển dụng giáo viên của tỉnh để nắm được số sinh viên Long An đang theo học, lập kế hoạch sơ tuyển, nếu đạt yêu cầu thì ký kết hợp đồng cam kết Những sinh viên được hợp đồng (cam kết làm giáo viên dạy nghề tại tỉnh sau khi tốt nghiệp từ 10 năm trở lên) sẽ được hưởng chế độ hỗ trợ cho toàn bộ thời gian học với mức như như khoản 1, mục III, phần II của đề án Dự kiến
áp dụng giải pháp nầy đến năm 2015 sẽ tuyển dụng được 50% nhu cầu giáo viên dạy nghề, cụ thể là tuyển được: 779 x 50% = 390 GV (công lập: 232 GV, ngoài công lập: 158 GV) [35] Ngoài ra còn quy định chế độ đào tạo sau đại học
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển ĐNGVDN nói chung và giáo viên CTXH nói riêng đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực ngành Công tác xã hội trong điều kiện
Trang 26kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì chính sách hiện hành đối với GVDN nói chung và giáo viên CTXH nói riêng còn những hạn chế:
+ Các chính sách hiện hành chưa đủ mạnh để tạo động lực khuyến khích người dạy, người học nhằm làm thay đổi căn bản tình hình Chính sách tiền lương
và đãi ngộ cho giáo viên trong hệ thống đào tạo lao động kỹ thuật chưa đạt được yêu cầu mà Nghị quyết TW2 nêu ra Trên thực tế, thang bậc lương cho GVDN Công tác xã hội ở các cấp trình độ khác nhau chưa được hoàn thiện, chưa hình thành được một mãng riêng trong chính sách tiền lương cho đội ngũ GVDN
+ Chưa có chính sách thu hút được những GV giỏi, đặc biệt là GV đầu ngành + Chính sách về đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, NCKH chưa tạo động lực
để GVDN không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ Xuất phát từ yêu cầu thực tế, ngành dạy nghề cần ĐNGV có kiến thức, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt, nhưng các chính sách đãi ngộ cho ĐNGV chưa tương xứng, vì vậy chưa tạo được động lực để GV yên tâm công tác và cống hiến cho sự nghiệp dạy nghề, việc duy trì và phát triển ĐNGV đủ về số lượng và chất lượng giai đoạn hiện nay là vô cùng khó khăn
Tóm lại, thực trạng về cơ chế và chính sách hiện nay đã tác động sâu sắc đến việc phát triển ĐNGV dạy nghề nói chung và ĐNGV CTXH nói riêng, đòi hỏi phải
có những đổi mới về cơ chế, chính sách nhằm phát triển ĐNGV dạy nghề, đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực cho ngành Công tác xã hội góp phần phần giải quyết công tác An sinh xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
1.3.2 Về nhận thức
Trình độ nhận thức của CBQL và ĐNGV góp phần lớn trong việc phát triển ĐNGV Phát huy được thế mạnh của giáo viên trong giảng dạy và tham gia các hoạt động của nhà trường tạo điều kiện để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, đồng thời cũng góp phần tích cực cho công tác phát triển ĐNGV Công tác xã hội với nhiệt tình và tự giác của ĐNGV
Trang 271.3.3 Trình độ đội ngũ giáo viên
Trình độ được hiểu là mức độ về sự hiểu bản chất, về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo một tiêu chuẩn nhất định nào đó Tại khoản 1, Điều 77, Luật giáo dục 2005 quy định chuẩn trình độ đào tạo của các nhà giáo nới chung là: có bằng tốt nghiệp Trung cấp sư phạm đối với GV mầm non, GV dạy tiểu học; có bằng tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp Cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở; có bằng tốt nghiệp Đại học Sư phạm hoặc bằng tốt nghiệp Đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học phổ thông; có bằng tốt nghiệp TCN, CĐN hoặc nghệ nhân, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao đối với giáo viên hướng dẫn thực hành ở CSDN; có bằng tốt nghiệp Đại học sư phạm hoặc bằng tốt nghiệp Đại học khác và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm hoặc đối với giáo viên Trung học chuyên nghiệp; có bằng tốt nghiệp Đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học, bằng thạc sỹ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sỹ, có bằng tiến sỹ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận án tiến sĩ [18, tr.25-26]
1.3.4 Năng lực của đội ngũ giáo viên
Năng lực được bao gồm các yếu tố chuyên môn, phẩm chất, tâm lý, kỹ năng để tiến hành hoạt động sư phạm có hiểu quả.Kỹ năng được hiểu là khả năng vận dụng những kiến thức được học được tìm hiểu trong hoạt động sư phạm và biến nó thành
kỹ xảo.Kỹ xảo là khả năng đạt đến mức thành thục Hệ thống kỹ năng gồm có: kỹ năng nền tảng và kỹ năng chuyên biệt
+ Kỹ năng nền tảng bao gồm những nhóm sau: Nhóm kỹ năng thiết kế; Nhóm
kỹ năng nhận thức
+ Kỹ năng chuyên biệt gồm: Nhóm kỹ năng giảng dạy; Nhóm kỹ năng giáo dục; Nhóm kỹ năng nghiên cứu khoa học; Nhóm kỹ năng hoạt động xã hội; Nhóm
kỹ năng tự học, tự nghiên cứu
Qua đó, ta thấy hệ thống tri thức và kỹ năng trong mỗi một GV thể hiện năng lực sư phạm của người GV đó cùng với tư cách đạo đức, phẩm chất hợp thành một
Trang 28thể hoàn chỉnh, giúp cho từng GV và ĐNGV có thể hoàn thành nhiệm vụ của mạnh đáp ứng yêu cầu ngành càng cao của sự nghiệp giáo dục - đào tạo
1.3.5 Cơ cấu đội ngũ giáo viên
Cơ cấu được hiểu: Là cách tổ chức các thành viên nhằm thực hiện chức năng của chỉnh thể Cơ cấu của ĐNGV là cấu trúc bên trong của đội ngũ, sẽ được nghiên cứu trên các tiêu chí có liên quan đến các giải pháp phát triển ĐNGV, các tiêu chí
cơ bản là:
+ Cơ cấu chuyên môn (theo môn dạy) hay còn gọi là cơ cấu bộ môn: Đó là tình hình về tỷ lệ giáo viên của các môn hiện có của cơ sở, sự thừa thiếu GV ở mỗi môn học Cái này phải phù hợp với định mức quy định thì ta có cơ cấu chuyên môn hợp lý.Ngược lại thì phải có sự điều chỉnh, nếu không sẽ ảnh hưởng tới chất lượng
và hiệu quả đào tạo
+ Cơ cấu theo trình độ đào tạo: là sự phân chia giáo viên tỷ lệ của các chương trình đào tạo Đó là tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ, đại học ở các bộ môn.Xác định cơ cấu trình độ hợp lý cũng là một giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV.Số giáo viên chưa đạt chuẩn phải được đào tạo để nâng chuẩn Tùy thuộc vào điều kiện hiện có cụ thể của từng CSDN, các trường phải lựa chọn phương án tối ưu trong công tác lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng GV
+ Cơ cấu về tuổi: Phân tích GV theo độ tuổi, nhằm xác định cơ cấu đội ngũ theo từng nhóm tuổi, đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ: già, trẻ, trung niên của đội ngũ để có thể vừa phát huy được tính năng động, sáng tạo của tuổi trẻ, kinh nghiệm nghề nghiệp của tuổi già
+ Cơ cấu giới tính: Cơ cấu giới tính mục đích đảm bảo tỷ lệ giữa GV nam và
GV nữ, phù hợp với từng ngành nghề đào tạo Cơ cấu giới tính liên quan đến chất lượng và hiệu quả đào tạo của CSDN
Tóm lại, phát triển ĐNGV phải hiểu bao gồm những yếu tố trên, mỗi yếu tố điều có vị trí quan trọng và giữa các yếu tố đó có quan hệ khắng khít với nhau, có tác động qua lại lẫn nhau, nương tựa nhau hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh làm cho ĐNGV phát triển
Trang 29Phát triển ĐNGV có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển giáo dục toàn diện của mỗi CSDN.Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đang tiến hành sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, yêu cầu của việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao càng cấp thiết hơn bao giờ hết thì vai trò của người thầy càng hết sức quan trọng.Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng ĐNGV, công tác phát triển ĐNGV phải được tăng cường
Chính vì GVDN nói chung, GVCTXH nói riêng ở các CSDN tỉnh Long An có những nét đặc thù nên trong việc quản lý, đề xuất những giải pháp phát triển đội ngũ này cũng cần có phương pháp, biện pháp, cách thức phù hợp, tránh máy móc, cứng nhắc mà cần khéo léo, linh động, mềm dẽo, tinh tế và hết sức nhạy cảm
- Phát triển ĐNGVCTXH nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực phải đảm bảo về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu và chuẩn giáo viên các CSDN theo quy định
- Phát triển ĐNGVCTXH ở các CSDN tỉnh Long An đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực là sự tác động của chủ thể quản lý nhằm đảm bảo ĐNGVCTXH đạt chuẩn, đạt yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu theo qui định, đồng thời chịu tác động của yếu
tố khách quan và chủ quan trong nền kinh tế thị trường, hội nhập khu vực và quốc tế
- Nội dung phát triển ĐNGVCTXH đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực bao gồm các khâu: quy hoạch; tuyển chọn và sử dụng; đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng; quan hệ hợp tác với các Trường Đại học trong khu vực nhất là thành phố Hồ Chí minh và các cơ sở CTXH của tỉnh và khu vực
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ở CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ TỈNH LONG AN 2.1 Thực trạng tác động của các yếu tố đến phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Long An
Tỉnh Long An vừa nằm ở khu vực Tây Nam bộ vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Phía Đông giáp với TP.HCM và tỉnh Tây Ninh, giáp với Vương quốc Camphuchia về phía bắc, với đường biên giới dài 137,7 km, giáp với tỉnh Đồng Tháp về phía tây và giáp tỉnh Tiền Giang về phía nam Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 4.492,39 km2, dân số khoảng 1.486.800 người Về đơn vị hành chính, Long An có 01 thành phố, 01 thị xã, 13 huyện, 192 xã, phường, thị trấn; trong đó có
01 thị xã và 5 huyện nằm trong khu vực Đồng Tháp Mười, địa hình trũng bao gồm Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Kiến Tường, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa và Đức Huệ, với diện tích tự nhiên là 298.243 ha, các huyện còn lại là khu vực phát triển khá ổn định và đa dạng Có thành phố Tân An là đô thị loại 3 là trung tâm kinh tế văn hoá xã hội của tỉnh
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Long An
Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2015 đạt 21.801 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994), tốc độ tăng trưởng 11,6% (kế hoạch 11,5%), trong đó: khu vực I tăng 3,2% (kế hoạch 3,2%); khu vực II tăng 15,4% (kế hoạch 15,2%); khu vực III tăng 12% (kế hoạch 12%)
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng định hướng, cụ thể: khu vực I chiếm
tỷ trọng 26,2% giảm 2,4% so với năm 2014; khu vực II chiếm 42,7% tăng 1,6% so với năm 2014; khu vực III chiếm 31,1% tăng 0,8% so với năm 2013.GDP bình quân đầu người năm 2015: 50,4 triệu đồng/người/năm (kế hoạch 50 triệu đồng/người/năm, năm 2014 là 44,5 triệu đồng/người/năm)
- Sản lượng lương thực 2.914.013 nghìn tấn đạt 103,5% kế hoạch tăng 1,9 %
so với năm trước Kim ngạch xuất khẩu 3.702,9 triệu USD, đạt 100% kế hoạch,
Trang 31tăng 13% so với năm trước Tổng thu ngân sách trên địa bàn 7.933 tỉ đồng, đạt 121
% bằng 123,2% so với năm trước Tổng chi ngân sách địa phương 7.969 tỉ đồng, đạt 115,6% so dự toán, bằng 105,5% so với cùng kỳ
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 26.199 tỉ đồng tăng 11,35% so với năm trước, chiếm 35,26% (kế hoạch 36-38%) Tỉ lệ xã có bác sĩ 100% Tỉ lệ hộ sử dụng điện 99,63% (trong đó khu vực nông thôn 99,5 %) Tỉ lệ học sinh học tiểu học đúng
độ tuổi vượt kế hoạch đề ra Tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 58,14% (có 375 trường đạt chuẩn) Tỉ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học 131/192 đạt 68,2% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên 0,7% (kế hoạch dưới 1,1%) Giảm tỉ
lệ hộ nghèo theo chuẩn giai đoạn 2011-2015 còn 2,65% (kế hoạch dưới 3%).Tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cân nặng theo tuổi dưới 10,7% (kế hoạch 10,7%).Tỉ lệ lao động qua đào tạo 60,2% đạt 100,3% kế hoạch (trong đó qua đào tạo nghề 40,1% đạt 100,3% kế hoạch) Giải quyết việc làm 32.668 lao động (kế hoạch 30.000 lao động), đạt 108,9%, tăng 6,8% so với năm trước Tỉ lệ bảo hiểm y tế toàn dân 72% đạt kế hoạch đề ra.Tỉ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh 94% (kế hoạch 94%).Tỉ lệ hộ dân thành thị sử dụng nước hợp vệ sinh 99% (kế hoạch 99%) Tỉ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị 100% Tỉ lệ khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đang hoạt động 84% (kế hoạch 84%).Diện tích rừng toàn tỉnh 25.635 ha
Với điều kiện về vị trí địa lý và sự phát triển kinh tế xã hội của Long An đã tác
động đến việc phát triển đội ngũ giáo viện CTXH của tỉnh nhà
2.1.3 Thực trạng công tác giáo dục – đào tạo của tỉnh Long An
Những kết quả đạt được
Công tác giáo dục và đào tạo trong tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, về
cơ bản đã thực hiện được phần lớn các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của người dân Toàn tỉnh có 653 trường học, cơ sở giáo dục, trong đó: 196 trường Mầm non (11 tư thục), 255 trường Tiểu học, 132 trường Trung học cơ sở, 46 trường Trung học phổ thông (05 trường tư thục), 01 trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật, 17
Trang 32Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp, 03 trường trung cấp chuyên nghiệp (01 trường tư thục), 01 trường Cao đẳng, 02 trường đại học tư thục (3 trường cao đẳng nghề, 6 trường trung cấp nghề, 7 trung tâm dạy nghề, do ngành LĐTBXH quản lý)
Giáo dục và đào tạo tỉnh đang đứng ở tốp 3 khu vực ĐBSCL và đạt mức trung bình khá so với cả nước Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực Đội ngũ nhà giáo tăng nhanh về số lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ được nâng cao Trong tổng số 16.705 GV có: 95,9% GV Mầm non đạt chuẩn (trong đó có 52,8% trên chuẩn), 99,7% GV Tiểu học đạt chuẩn (trong đó có 81,1% trên chuẩn), 99,7% GV Trung học cơ sở đạt chuẩn (trong đó có 54,7% trên chuẩn), 99,7% GV Trung học phổ thông đạt chuẩn (trong đó có 3,8% trên chuẩn)
Năm 2014 - 2015, Long An có 274/629 trường đạt chuẩn quốc gia, tỉ lệ 43,6% Cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống giáo dục được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa Năm 2014 - 2015, Long An có 274/629 trường đạt chuẩn quốc gia, tỉ lệ 43,6%
Xã hội hóa giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng.Về lĩnh vực dạy nghề, trong giai đoạn 2011-2013, Trung ương và tỉnh đã đầu
tư khá nhiều cho các trường dạy nghề Giai đoạn 2011-2013, trung ương và tỉnh đã đầu tư đã đầu tư trên 210 tỷ đồng cho các trường dạy nghề, CSDN đã đầu tư trên
210 tỷ đồng, trong đó các CSDN công lập được Trung ương và tỉnh đầu tư trên 100
tỷ đồng
Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
Công tác phân luồng học sinh sau tốt nghiệp Trung học cơ sở còn hạn chế, tỉ lệ học sinh vào học nghề còn thấp; chương trình đào tạo nghề (trung cấp, cao đẳng) giảng dạy còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành; chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu; giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc đạt hiệu quả chưa cao, tình trạng vi phạm đạo đức, pháp luật trong học sinh, sinh viên có chiều hướng gia tăng; công tác đánh giá chất lượng, kiểm tra nội bộ tại cơ sở giáo dục và đào tạo chưa được coi trọng đúng mức Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ
Trang 33chức xã hội và gia đình chưa chặt chẽ; sự quan tâm giáo dục con em của một bộ phận gia đình, các tổ chức xã hội chưa tốt; nguồn lực của nhà nước và khả năng của phần đông gia đình đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu Nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục có hiệu quả trong giai đoạn vừa qua, nay không còn phù hợp, cần được điều chỉnh; hệ đào tạo không chính quy (vừa học vừa làm, từ
xa, đào tạo liên thông, liên kết) chất lượng thấp; lĩnh vực đào tạo nghề còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu xã hội
Nguyên nhân của những hạn chế trên là do quan điểm “Giáo dục và Đào tạo
cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu” chưa được nhận thức và
thực thi một cách đầy đủ ở một số cấp ủy, chính quyền, sở ngành, địa phương Công tác quy hoạch, củng cố, kiện toàn tổ chức, đội ngũ cán bộ quản lý và xây dựng các quy định, quy chế, phân cấp quản lý chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển Công tác
dự báo, dự đoán, nắm thông tin dữ liệu về nhu cầu của thị trường lao động, đào tạo còn nhiều hạn chế, chưa sát hợp, dẫn đến nguồn nhân lực sau đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu thị trường và hội nhập quốc tế; công tác quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo, dạy nghề chưa theo kịp tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay Ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo có tăng song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Mặt khác, tác động của cơ chế thị trường, tâm lý khoa cử,
sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa nhà trường - gia đình - xã hội đã ảnh hưởng đến kết quả giáo dục và đào tạo
2.1.4 Thực trạng công tác dạy nghề ở tỉnh Long An
Mạng lưới CSDN (Phụ lục Bảng 2.1)
Mạng lưới CSDN trên địa bàn tỉnh phát triển theo quy hoạch được phê duyệt,
số lượng CSDN tăng nhanh từ 7 cơ sở năm 2000 (1 trường dạy nghề, 5 cơ sở công lập có tham gia dạy nghề và 1 lớp dạy nghề tư thục)
Hiện nay, tổng số CSDN của tỉnh là 41 cơ sở (26 cơ sở công lập, chiếm tỷ lệ 63%; 15 cơ sở ngoài công lập, chiếm tỷ lệ 37%), trong đó: 3 Trường CĐN, 6 Trường TCN, 7 trung tâm dạy nghề, 19 đơn vị công lập, 5 doanh nghiệp và 1 hợp tác xã có tham gia dạy
Trang 34Kết quả đào tạo nghề (Phụ lục Bảng 2.2)
Công tác tuyển sinh học nghề trong 4 năm, từ năm 2012 đến 2015, các CSDN trên địa bàn tỉnh đã tuyển sinh đào tạo 80.841 lao động Trong đó: 2.750 CĐN, 4.188 TCN, 73.737 sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng, trung cấp nghề CTXH
166 Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2012 là 54% đến cuối năm 2015 đạt 60,21% (kế hoạch 60%), trong đó tỷ lệ qua đào tạo nghề năm 2012 đạt 34,47% đến năm
2015 đạt 40,13% (kế hoạch 40%), vượt chỉ tiêu của tỉnh
Trong 4 năm từ 2012 đến năm 2015, các CSDN trên địa bàn tỉnh đã triển khai dạy nghề cho 31.372 (13.979 nữ) lao động nông thôn, trong đó dạy nghề phi nông nghiệp cho 10.592 lao đông, dạy nghề nông nghiệp cho 20.810 lao động, kinh phí 31.820 tỷ đồng
Riêng dạy nghề CTXH, từ khi có Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/3010 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020, đã có 06 đơn vị cử GV, giảng viên tham gia lớp giảng viên đào tạo nghề CTXH hoặc lớp cấp cao CTXH do Cục Bảo trợ xã hội – Bộ LĐTBXH tổ chức (riêng TCĐ nghề Tây Sài Gòn và LaDec là 2 đơn vị tư thục thu nhận chuyên ngành CTXH, sau đó đưa đi học nghiệp vụ sư phạm để trở thành GV chuyên ngành CTXH)
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An
2.2.1 Về số lượng giáo viên (Phụ lục Bảng 2.3)
Theo bảng 2.3 cho thấy, hiện nay, có 41 CSDN trên địa bàn tỉnh Long An; nhưng chỉ có 05/41 CSDN có GVCTXH chiếm tỷ lệ rất thấp (12,19%), chỉ có các CSDN công lập là có GVCTXH, các cơ sở Tư thục nếu có số lượng rất thấp, chỉ có
01 GV; các CSDN còn lại chưa có GV nào Trong ĐNGV hiện có của tỉnh, chưa có
GV được đào tạo đúng chuyên ngành CTXH, hầu hết là GV các ngành khác chuyển sang; toàn tỉnh chỉ có 04 cán bộ của Sở LĐTBXH được đào tạo GV cấp cao CTXH
do Bộ LĐTBXH tổ chức và hiện 04 cán bộ này đang học lớp sau đạo học Từ đó cho chúng thấy, số lượng giáo viên ngành CTXH hiện nay ở các CSDN của tỉnh vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu đào tạo nhân viên CTXH Vì vậy, phát triển
Trang 35ĐNGVCTXH ở các CSDN tinh Long An là một trong những yếu tố cần thiết nhất
để nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của tỉnh về CTXH theo đề án
32 của Chính Phủ
2.2.2 Về chất lượng giáo viên
2.2.2.1 Thực trạng phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị của ĐNGVCTXH (Phụ lục Bảng 2.4)
Kết quả bảng 2.4 khảo sát cho thấy:
- Chấp hành chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước: Chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước 81,1%, có 16,3% chấp hành khá và chỉ có 2,5% chưa chấp hành tốt Có 64,5% thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận động mọi người chấp hành luật pháp, chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước, có 20,7% khá, 18,3% trung bình, có 3,5% chưa đạt yêu cầu
- Có 76,6% GVDNCTXH tham gia tổ chức các hoạt động xã hội và các phong trào của đơn vị, của địa phương, có 21,2% khá, 2,2% trung bình Có 69,3% hoàn thành tốt việc giúp đỡ đồng nghiệp thực hiện tốt các nhiệm vụ của người GVDNCTXH, có 18,2% khá, 10,3% trung bình
- Yêu nghề, tận tụy với nghề:
Có 85,7% GVDNCTXH làm tốt việc đối xử công bằng với học sinh, sinh viên, không thành kiến với học sinh, sinh viên, có 13,2% khá, 1,1% trung bình Có 73,4% GVDNCTXH thực hiện tốt việc hướng dẫn học sinh, sinh viên học tập, thực hành… Có 17,2% khá, 9.1% trung bình và 1,7% chưa đạt yêu cầu.Tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ có 88,2% GVDNCTXH thực hiện tốt, 10,4% khá
và 1,4% trung bình.Thường xuyên cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao kết quả học tập của học sinh, sinh viên có 60,1% GVDNCTXH thực hiện tốt, 23,4% khá, 11,3% trung bình và 5,2% chưa đạt yêu cầu
- Tinh thần trách nhiệm trong công tác, đoàn kết, hợp tác với đồng nghiệp:
Có 79,9% GVDNCTXH hoàn thành tốt các công việc được giao, có 13,2% khá, 6.9% trung bình.Số GV dạy nghề CTXH có lối sống trung thực, giản dị và lành mạnh, gương mẫu trước học sinh, sinh viên ở mức độ tốt là 78,3%, khá là 14,3%,
Trang 36trung bình là 7,4%.Số GV dạy nghề CTXH có tinh thần học hỏi, giúp đỡ đồng nghiệp
ở mức độ tốt là 65,5%, khá 18,4%, trung bình 11,9% và chưa đạt yêu cầu 4,2% Số
GV dạy nghề CTXH tích cực tham gia xây dựng tập thể đơn vị vững mạnh ở mức độ tốt là 62,7%, khá là 26,3%, trung bình là 12.9% và chưa đạt yêu cầu
- Ý thức tự học, tự bồi dưỡng
Có 74,5% GV dạy nghề CTXH có nhu cầu và kế hoạch tốt để tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, có 17,3% khá, 6,1% trung bình và 2,1% chưa đạt yêu cầu Tham gia đầy đủ nội dung bồi dưỡng thường xuyên của đơn vị và của ngành 87,1% tham gia tốt, 11,2% khá, 1,7% trung bình 63,2% GV dạy nghề CTXH có ý thức tốt trong công việc tìm tòi, học hỏi để vận dụng phương pháp mới vào công tác giảng dạy, giáo dục học sinh, sinh viên, 17,4% khá, 15,2% trung bình và 4,2% chưa đạt yêu cầu
Qua kết kết quả điều tra thực trạng về phẩm chất tư tưởng, chính trị, đạo đức của đội ngũ GV dạy nghề CTXH cho thấy:
Hầu hết GV dạy nghề CTXH có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, tham gia tổ chức các hoạt động xã hội và các phong trào của đơn vị, các nhiệm vụ chính trị của cấp trên giao cho Tuy nhiên, số GV dạy nghề CTXH giúp đỡ đồng nghiệp thực hiện tốt các nhiệm vụ của người giáo viên, tuyên truyền mọi người chấp hành luật pháp, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước còn chiếm tỷ lệ chưa cao
Đa số GV dạy nghề CTXH có lòng yêu nghề, say mê, tận tụy với nghề, đối xử công bằng và không thành kiến với học sinh, sinh viên, tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ Tuy nhiên vẫn có những GV dạy nghề CTXH còn dao động, chưa thật sự yên tâm công tác.Việc cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao kết quả học tập của học sinh, sinh viên chưa được GV dạy nghề CTXH quan tâm
Số đông GV dạy nghề CTXH có tinh thần trách nhiệm trong công tác, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, có lối sống trung thực, giản dị, lành mạnh, gương mẫu trước học sinh, sinh viên Song việc học hỏi, giúp đỡ đồng nghiệp, tham gia
Trang 37xây dựng tập thể đơn vị vững mạnh tỷ lệ chưa cao Đây là một hạn chế lớn đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV dạy nghề CTXH
Phần lớn GV dạy nghề CTXH có ý thức tự học, tự bồi dưỡng, thể hiện ở việc tham gia đầy đủ nội dung bồi dưỡng thường xuyên của đơn vị, của ngành, có nhu cầu và kế hoạch tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ Tuy nhiên, việc lựa chọn nội dung để tự học, tự bồi dưỡng (về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học), bố trí thời gian, phương pháp tự học, tự bồi dưỡng còn nhiều hạn chế; ý thức tìm tòi, học hỏi để vận dụng phương pháp mới vào giảng dạy chưa cao
2.2.2.2 Thực trạng về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giáo viên dạy nghề (Phụ lục Bảng 2.5)
Qua bảng 2.5 cho thấy: Năm 2015 số lượng GV dạy nghề CTXH: 12 người, trong đó GV có trình độ đại học 12 người chiếm tỷ lệ 66,6% Trong đó, không có
GV đạt chuẩn về chuyên môn ngành CTXH, GV đạt chuẩn về nghiệp vụ sư phạm đạt tỷ lệ 100%
Với số lượng GV dạy nghề CTXH là 12 người, qua thống kê cơ cấu GV dạy nghề CTXH theo độ tuổi và giới tính, cụ thể như sau:
- Độ tuổi dưới 31: 03 người (nữ1)
(Nguồn: xử lý số liệu do phòng Dạy nghề - Sở LĐTBXH Long An cung cấp)
Qua cơ cấu về độ tuổi cho thấy GVCTXH ở các CSDN tỉnh Long An, từng bước được trẻ hóa về độ tuổi: Tuổi từ 41-45 02/12 chiếm tỷ lệ 16,66%,; tuổi từ 36-40: 03/12 chiếm tỷ lệ 25%, tuổi 31-35: 02/12 chiếm tỷ lệ 16,66%; tuổi dưới 30: 03 chiếm
tỷ lệ 25% Qua đó cho thấy về cơ cấu độ tuổi của ĐNGVCTXH từng bước được trẻ hóa Về cơ cấu nữ cho thấy các CSDN có quan tâm, tỷ lệ nữ khá: 05/12 chiếm tỷ lệ 41,66% Về độ tuổi cho thấy tuổi trẻ và cơ cấu nữ ngày càng được nâng lên
Trang 382.2.2.3 Thực trạng trình độ ngoại ngữ-tin học của giáo viên dạy nghề (Phụ lục Bảng 2.6)
Qua bảng 2.6 cho thấy, đến cuối năm 2015: GV dạy nghề CTXH trên địa bàn tỉnh Long An đạt chuẩn về ngoại ngữ theo quy định chiếm tỷ lệ 83,3 % (10/12), đạt chuẩn về trình độ tin học theo quy định chiếm tỷ lệ 91,66% (11/12)
Căn cứ quy định tại Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH ngày 29/9/2010 về việc quy định chuẩn GV, giảng viên dạy nghề, tại chương II, điều 5 quy định về kiến thức chuyên môn về ngoại ngữ và tin học, cụ thể: Đối với GV sơ cấp nghề có trình độ A về tin học trở lên; Đối với giáo viên TCN có trình độ B về một ngoại ngữ thông dụng và có trình độ A về tin học trở lên; Đối với GV, giảng viên CĐN có trình độ B về một ngoại ngữ thông dụng và có trình độ B về tin học trở lên
Như vậy, qua bảng 2.6 cho thấy GV dạy nghề CTXH hiện nay có trình độ về một ngoại ngữ thông dụng vẫn còn 16,6% chưa đạt chuẩn (2/12 GVDNCTXH) và
có trình độ về tin học còn 8,3% chưa đạt chuẩn (1/12)
2.2.2.4 Thực trạng về đào tạo, bồi dưỡng, tự học tập nâng cao trình độ của giáo viên dạy nghề (Phu lục bảng 2.7)
Theo thống kê của bảng 2.7 ta thấy: dưới sự chỉ đạo của Sở LĐTBXH, Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ LĐTBXH trong những năm gần đây, các CSDN đã luôn quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của ĐNGV dạy nghề CTXH Từ năm 2012 đến nay, các CSDN công lập do ngành LĐTBXH quản lý có 12 cán bộ,
GV được đi học bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm, 10 cán bộ, GV được đi học về ngoại ngữ, 11 GV học tin học Việc nghiên cứu khoa học, tự học tập, bồi dưỡng về chuyên môn, ngoại ngữ, tin học cũng được tiến hành thường xuyên Ngoài ra, việc duy trì tổ chức hội giảng cấp cơ sở, thi hội giảng GVDN giỏi cấp tỉnh, cấp toàn quốc, tham gia các chuyên đề về đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng công nghệ thông tin, phương tiện hiện đại vào giảng dạy đã góp phần quan trọng vào công tác bồi dưỡng, nâng cao chất lượng ĐNGVCTXH của các CSDN
Mặc dù công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự học tập nâng cao trình độ của GV dạy nghề CTXH đã được quan tâm, song vấn đề này vẫn còn bị động, chưa có quy
Trang 39hoạch mục tiêu, đối tượng rõ ràng Để làm tốt công tác này phải có sự quan tâm, đầu tư xây dựng quy hoạch, kế hoạch cụ thể cho chuyên ngành CTXH, từng đối tượng theo phương hướng phát triển chung của các CSDN
2.3 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An
2.3.1 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực
Thực hiện Luật Dạy nghề, thực hiện Đề án 71-ĐA-UBND tỉnh về Đào tạo
GVDN tỉnh Long An giai đoạn 2009-2015 Công tác phát triển ĐNGVDN, nói
chung và GVCTXH nói riêng đã được quan tâm từ lãnh đạo Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ, Hội đồng Nhân dân tinh, ủy Bna Nhân dân tỉnh đến Sở LĐTBXH và cán
bộ quản lý các CSDN của tỉnh đã góp phần thực hiện tốt công tác phát triển công tác dạy nghề của tỉnh, các cấp đã quan tâm thực hiện tốt các đề án thành lập các CSDN gắn liền liền với sự phát triển ĐNDVDN nói chung và GVCTXH nói riêng Tuy nhiên, nhận thức về tầm quan trọng của công tác phát triển ĐNGVCTXH còn một số hạn chế sau:
Cán bộ quản lý ở các CSDN chưa quan tâm đúng mức và chủ động có kế hoạch đầu tư cho các nội dung tuyên truyền, thông tin, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức trong nhà trường, cộng đồng xã hội, đặc biệt là ĐNDVDN về cơ hội và thách thức đối với sự nghiệp dạy nghề CTXH của tỉnh trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; trong nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho nghề CTXH của tỉnh theo Đề án 32 của Chính phủ; trước những yếu tố tác động đến phát triển ĐNGVCTXH
2.3.2 Công tác qui hoạch phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Nhà trường đã chủ động trong xây dựng kế hoạch phát triển ĐNDVDN, nói chung và GVCTXH nói riêng theo chỉ đạo của Sở LĐTBXH hàng năm; nhà trường
đã triển khai tốt Đề án 71-ĐA-UBND tỉnh về Đào tạo GVDN tỉnh Long An giai
đoạn 2009-2015
Trang 40Các trường có căn cứ vào công tác quy hoạch phát triển ĐNGVCTXH để đào tạo, đào tạo lại, tuyển dụng và sử dụng GVCTXH; bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật,
kỹ năng sư phạm, xây dựng và phát triển chương trình đào tạo Do đó trình độ của ĐNGVDN nói chung và GVCTXH nói riêng từng bước được nâng lên rõ rệt ở các CSDN của tỉnh
Tuy nhiên vẫn còn hạn chế:
- Các CSDN vẫn còn bị động theo kế hoạch để cử GVCTXH chưa đạt chuẩn
về kiến thức chuyên ngành CTXH đi đào tạo lại
- Một số trường chưa có kế hoạch cụ thể khai thác phát triển nguồn nội lực nhà trường trong nghiên cứu khoa học và nâng khả năng tự bồi dưỡng của ĐNGV Trong 5 năm các trường chưa tổ chức bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho ĐNGV
2.3.3 Đổi nới công tác tuyển chọn và sử dụng
Các CSDN đã từng bước quan tâm tuyển chọn và sử dụng GVDN theo chuẩn trình độ đào tạo, chuyên môn chuyên ngành CTXH, nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, xem xét kết quả học tập và điều kiện triển vọng phát triển nghề nghiệp trong thời gian tới của các ứng viên Đặc biệt có trường xây dựng và thực hiện quy trình tuyển chọn và sử dụng GV trên tinh thần trách nhiệm, dân chủ, công khai và hiệu quả Phát huy vai trò của Khoa chuyên môn trong bước kiểm tra để đánh giá ứng viên về kiến thức chuyên môn, năng lực sư phạm và kỹ năng nghề, đồng thời phân công GVCTXH nồng cốt phụ trách hướng dẫn, kèm cặp giúp đỡ GV mới được tuyển trong thời gian thử việc
- Số lượng GV được tuyển dụng đa phần là lực lượng trẻ, đạt chuẩn GVDN,
có những thuận lợi hơn so với số GVDN trước đây về điều kiện học tập nâng cao trình độ trên chuẩn
Mặt hạn chế của công tác tuyển dụng và sử dụng trong thời gian qua là:
- Các CSDN vẫn còn bị động về điều kiện tuyển dụng GVDN: Công tác tuyển dụng còn khó khăn, GVDN nói chung, GVCTXH nói riêng là người Long An khi ra trường thường ở lại công tác ở hành phố Hồ Chí mInh; công tác tuyển sinh dù đạt