Sửa chữa các bộ đôi của bơm cao áp: Các bộ đôi pit-tông – xy lanh bơm cao áp khi mòn đến mức không đảm bảo cungcấp đủ lượng nhiên liệu cấp cần thiết dưới áp suất quy định cho động cơ ho
Trang 1IV SỬA CHỮA HỆ THỐNG NHIÊN LIỆU DIESEl
4.1 Sửa chữa hệ thống cung cấp nhiên liệu thấp áp
Việc sửa chữa các chi tiết thùng nhiên liệu, đường ống dẫn và các bầu lọc nhiênliệu chủ yếu gồm thông rửa, làm sạch, hàn kín các chỗ rò rỉ, làm lại hoặc thay thế cácđầu ống nối hỏng Những công việc này tương đối đơn giảm nên không cần nhấn mạnh
ở đây Cụm chi tiết quan trọng của hệ thống cấp nhiên liệu áp thấp là chuyển nhiênliệu Hiện tượng mòn các chi tiết chính của bơm sẽ làm giảm lưu lượng cung cấp củabơm, do đó cần phải kiểm tra, sửa chữa Trong điều kiện cung cấp phụ tùng thuận lợi,các chi tiết mòn hỏng của bơm như pit-tông trong bơm chuyển nhiên liệu kiểu pit-tông,cặp bánh răng trong bơm chuyển kiểu bánh răng, cách gạt của bơm cánh gạt và các vanmột chiều cũng như các loại lò xo thường được thay mới Riêng thân bơm cần phục hồi,sửa chữa
Đối với pit-tông, xy lanh bơm mòn được sửa chữa bằng cách doa mài hết phần mònméo và các vết rỗ, vết lõm, đạt độ bóng và độ côn méo theo yêu cầu và lắp pit-tôngmới có kích thước phù hợp, đảm bảo khe hở lắp ghép trong phạm vi 0,015-0,03 mm.Thanh đẩy và lỗ dẫn hướng cũng được sửa chữa theo phương pháp tương tự Nếu khôngcó pit-tông kích thước lớn hơn kích thước nguyên thủy, có thể doa rộng xy lanh rồi épbạc vào gia công lại đến kích thước nguyên thủy và thay pit-tông mới có cùng cốt kíchthước Trong các xưởng sửa chữa lớn có đủ phương tiện, người ta có thể phục hồi, sửachữa pit-tông và xy lanh bơm bằng phương pháp mạ crôm mạ thép lên bề mặt mòn, sauđó mài lại đến kích thước nguyên thủy để đảm bảo khe hở lắp ghép theo yêu cầu
Với bơm bánh răng, việc sửa chữa được thực hiện như đối với bánh răng bơm dầuđã nói trước đây Các bơm cánh quạt thường được làm lyền với thân bơm cao áp (bơmcao áp kiểu bơm phân phối) nên việc kiểm tra, sửa chữa được thực hiện cùng với cả cụmbơm
Bơm sau khi sửa chữa được kiểm tra lưu lượng và áp suất trên bằng thử chuyêndùng dưới các điều kiện quy định bởi các nhà chế tạo Nếu không có thiết bị bằng thửchuyên dùng, có thể kiểm tra áp suất trên đường hút và áp suất trên đường cấp của bơmsau khi lắp lên động cơ Việc kiểm tra được thực hiện ở chế độ không tải của động cơ vàtheo phương pháp tương tự như phương pháp kiểm tra bơm chuyển xăng đã giới thiệu ởphần sửa chữa động cơ xăng Độ chân không ở đường hút để đánh giá đúng tình trạngcủa bơm Áp suất trên đường cấp của bơm tùy thuộc loại bơm và tốc độ làm việc củađộng cơ, cần dựa vào yêu cầu kỹ thuật cụ thể của mỗi loại bơm do nhà chế tạo quy định.Đối với các bơm cao áp kiểu bơm dãy (bơm Bosch kiểu dãy), van nhiên liệu hồitrên khoang nhiên liệu thấp áp duy trì áp suất nhiên liệu tối đa trong khoang khoảng 0,8-1,2kg/cm2 Có thể lắp áp kế kiểm tra áp suất này ở bất kỳ điểm thuận lợi nào trên đườngcấp nhiên liệu từ đường ra của bơm chuyển cho đến vị trí trước van nhiên liệu
Đối với các bơm phân phối trang bị bơm chuyển kiểu bánh răng hoặc kiểu cánh gạtngay trong bơm, để kiểm tra áp suất nhiên liệu cấp của bơm chuyển cần lắp áp kế vàolỗ vít kiểm tra trên thân bơm phân phối hình 5.I-69 thông vào khoang nhiên liệu trongbơm để kiểm tra Ở chế độ không tải chạy chậm của động cơ, áp suất có thể nằm trong
Trang 2khoảng 0,55-0,85 kg/cm2, còn ở chế độ tốc độ định mức, áp suất thường vào khoảng từ4-7kg/cm2
Hình 5.I-69 Chỗ lắp áp kế kiểm tra áp suất
nhiên liệu thấp áp trong bơm phân phối
4.2 Sửa chữa các bộ đôi của bơm cao áp:
Các bộ đôi pit-tông – xy lanh bơm cao áp khi mòn đến mức không đảm bảo cungcấp đủ lượng nhiên liệu cấp cần thiết dưới áp suất quy định cho động cơ hoặc không thểđiều chỉnh được độ đồng đều về lượng nhiên liệu cấp cho các xy lanh ở các chế độ làmviệc của động cơ thường được thay đổi Đối với bơm dãy hoặc bơm nhánh, khi thay bộđôi mới, cần phải thay bộ đôi của tất cả các tổ bơm Các bộ đôi mới này phải cùng nhómkích thước và cùng nhóm độ kín thủy lực để đảm bảo các bộ đôi có độ mòn đều và duytrì được độ đồng đều về lượng nhiên liệu cấp trong quá trình làm việc Các bộ đôi mớithường đã được đóng gói thành bộ theo các tiêu chuẩn nói trên cho mỗi động cơ, tức làmỗi gói có số bộ đôi tương ứng với số xy lanh động cơ, các bộ đôi này có kích thước vàđộ kín thủy lực giống nhau (sai lệch trong phạm vi quy định)
Các bộ đôi van và đế van cao áp khi mòn không đảm bảo độ kín có thể được sửachữa bằng cách rà lại mặt côn trên đế bằng bột rà tinh theo phương pháp tương tự như ràxupáp đã giới thiệu trước đây Tuy nhiên, nếu bề mặt làm việc của van bị mòn thành vếtsâu, cần phải thay van mới
Trong các xưởng lớn hoặc các nhà máy sửa chữa ô tô có số lượng sửa chữa hàngnăm lớn và có đủ các phương tiện, trang thiết bị sửa chữa, phục hồi chi tiết, người ta cóthể sửa chữa, phục hồi các bộ đôi bị mòn để dùng lại Việc phục hồi được thực hiện theomột trong các phương pháp là chọn lắp, mạ crôm hoặc chế tạo mới một trong hai chi tiếtcủa bộ đôi Đặc điểm của mỗi phương pháp như sau:
- Chọn lắp: Thực chất của phương pháp này là lấy pit-tông đã mòn trong nhóm bộđôi có dung sai kích thước lớn ghép cặp với xy lanh đã mòn trong nhóm bộ đôi có dungsai kích thước nhỏ hơn Hai chi tiết này có một bộ đôi mới nhất định và sẽ được gia cônglại bằng mài nghiền trên thiết bị mài nghiền chuyên dùng với bột rà thích hợp cho tớikhi đạt được độ bóng cần thiết và khe hở lắp ghép yêu cầu
Công đoạn đầu tiên của quy trình phục hồi bộ đôi bằng chọn lắp là dùng panme đokích thước để chọn ra các cặp pit-tông và xy lanh với đường kính pit-tông lớn hơn đườngkính xy lanh khoảng 0,05-0,1mm Sau đó, mài nghiền từng chi tiết trên các đầu nghiền
Trang 3với bột rà từ thô đến tinh để đạt đến kích thước và độ bóng yêu cầu và pit-tông có thểlắp được vào xy lanh nhưng chặt Đồ gá mài nghiền được giới thiệu trên hình 5.I-70.Tiếp theo, rà trực tiếp pit-tông và xy lanh của từng bộ với nhau bằng dầu bóng cho tớikhi pit-tông có thể chuyển động trơn tru trong xy lanh Công đoạn cuối cùng là kiểm trakích thước và kiểm tra độ kín thủy lực để phân nhóm bộ đôi
Hình 5.I-70 Đồ gá mài nghiền các chi tiết của bộ đôi xy lanh – pit-tông bơm cao áp.
1- trục gá; 2- bạc nghiền xy lanh; 3- cơ cấu kẹp;
4- pit-tông; 5- bạc nghiền pit-tông; 6- ống gá
Căn cứ vào dung sai kích thước chế tạo (khoảng 0,1mm) và yêu cầu về khe hở lắpghép của các chi tiết thành phẩm, có thể thấy phương pháp này chỉ thực hiện được khicó số lượng lớn các bộ đôi cần sửa chữa phục hồi (hàng nghìn bộ) và xác suất chọn lắpđược cũng thấp nên số chi tiết phải bỏ đi sẽ nhiều Tuy nhiên, sau khi chọn lắp được cácbộ đôi thích hợp, số lượng các chi tiết pit-tông và xy lanh còn lại không thỏa mãn yêucầu chọn lắp sẽ được phục hồi bằng các phương pháp khác
- Phục hồi bộ đôi bằng phương pháp mạ crôm: Mạ crôm cho phép phục hồi lại kíchthước đã mòn của chi tiết với bề đày lớp mạ trong phạm vi 0,5mm Độ cứng của lớpmạ cao(60-65 HRC) nên không cần nhiệt luyện lại Không như phương pháp chọn lắp,mạ crôm cho phép phục hồi được 100% số bộ đôi đã mòn Để phục hồi một bộ đôi, chỉcần mạ một trong hai chi tiết và nhường cho mạ pit-tông vì công nghệ mạ đối với chi tiếttrục thường đơn giản hơn chi tiết lỗ
Công nghệ phục hồi bằng mạ tương đối đơn giản, pit-tông được mài tròn hết phầnlượng dư mòn không đều, sau đó đưa vào phần xưởng mạ để mạ crôm tăng đường kính.Các công đoạn gia công sau khi mạ gồm mài nghiền từng chi tiết pit-tông và xy lanh, ràbóng các chi tiết cùng cặp với nhau rồi thực hiện công đoạn kiểm tra cuối cùng hoàntoàn giống như quá trình gia công đã nói ở phương pháp phục hồi bằng chọn lắp
- Chế tạo mới một trong hai chi tiết của bộ đội: So với chế tạo mới hoàn toàn,phương pháp này tiết kiệm được một nửa nguyên vật liệu vì chỉ phải chế tạo một chi tiếtcủa bộ đội Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có đầy đủ dây chuyền chế tạo mớinên không tiết kiệm về mặt kinh tế trong khi kích thước bộ đôi lại bị phân tán theo kíchthước dùng lại của chi tiết đã mòn mà không phải là kích thước thiết kế nguyên thủy củanó Do đó, phương pháp này ít được áp dụng trong sửa chữa
Hiện nay, việc chế tạo các chi tiết của động cơ nói chung và các chi tiết bộ đôi bơmcao áp nói riêng đã đạt tới trình độ công nghệ cao nên phụ tùng động cơ tương đối sẳnsàn và giá thành khá rẻ so với phục hồi Do đó, việc phục hồi các chi tiết bộ đôi cũ đãmòn ít được thực hiện, ngoại trừ một số bộ đôi của một xe đặc chủng khó tìm mua đượctrên thị trường
Trang 44.3 Kiểm tra và điều chỉnh bơm cao áp kiểu dãy
4.3.1 Kiểm tra các chi tiết
- Thân bơm: Cần kiểm tra hiện tượng nứt vỡ thân, hiện tượng cong vênh, mòn, xướccác bề mặt lắp ghép và hỏng các lỗ ren
- Trục cam: Cần kiểm tra hiện tượng mòn, xước, mẻ các vấu cam Vấu cam bị sứtmẻ hoặc xước sau phải thay trục cam mới
- Các ổ bi: Các ổ bi thường có tuổi thọ khá cao nên vẫn dùng lại được nếu không cócác vết tróc rỗ hoặc mòn thành vệt
- Con lăn, con đội, lò xo: Các chi tiết con lăn và đội nếu có vết xước thì nhìn thấyđược hoặc mòn quá 0,08 mm phải thay mới Lò xo nếu không có hiện tượng gãy hoặcbiến dạng vẫn có thể dùng lại được
- Bộ đôi pit-tông – xy lanh bơm và van – đế van cao áp: Các bộ đôi này được kiểmtra như đã nói ở phần trên
- Kiểm tra các chi tiết của bộ điều tốc: Các chốt quay của cơ cấu thanh nối nếumòn quá 0,05 mm cần phải thay mới Trục quả văng và khớp trượt nếu mòn quá 0,12
mm cần phải thay
4.3.2 Kiểm tra, điều chỉnh bơm cao áp trên bằng thử
Sau một thời gian sử dụng hoặc sau khi thay bộ đôi pit-tông – xy lanh mới, bơm caoáp phải được kiểm tra, điều chỉnh trên bằng thử về các chỉ tiêu làm việc sau đây:
- Thời điểm cung cấp nhiên liệu của từng nhánh bơm
- Lượng nhiên liệu cấp của từng nhánh bơm và độ đồng đều về lượng nhiên liệucấp ở chế độ định mức
- Lượng nhiên liệu cấp ở chế độ không tải
- Lượng nhiên liệu cấp ở chế độ khởi động
- Số vòng quay của bộ điều tốc khi bắt đầu cắt và khi cắt hoàn toàn nhiên liệu
Bằng thử bơm cao áp:
Bằng thử bơm cao áp có khá nhiều dạng kết cấu, nhưng nói chung đều thử được các chỉtiêu làm việc cơ bản của bơm như đã lyệt kê ở trên Một bằng thử điển hình của hãng Boschcó dạng như trên hình 5.I-71 Các bằng thử nói chung đều có các bộ phận cơ bản sau
- Bộ phận truyền động: gồm động cơ điện,
hộp biến tốc để thay đổi tốc độ trục quay của
bơm, cơ cấu đếm số lần phun (đếm số vòng
quay trục cam bơm) và tự động đóng ngắt nhiên
liệu vào cốc đo thể tích, bộ phận dẫn động bơm
nhiên liệu thấp áp của bằng thử
- Hệ thống cung cấp nhiên liệu (dầu
diesel) thấp áp gồm: bơm thấp áp gồm: bơm
thấp áp, các bộ lọc, các đường ống nhiên liệu
và các van khóa, đầu nối để cung cấp nhiên
liệu vào bơm hoặc phục vụ các nội dung kiểm
tra khác nhau Một số bằng thử còn có thêm
Trang 5một đường cấp nhiên liệu trung áp (áp suất khoảng 40-50kg/cm2) để phục vụ các côngviệc thử khác
Hình 5.I-71 Bằng thử bơm cao áp hãng Robert Bosch.
- Hệ thống nhiên liệu cao áp gồm: các đường ống cao áp, các vòi phun mẫu củabằng và các cốc đo lưu lượng Các vòi phun này hoàn toàn giống nhau và đã được cânchỉnh, đảm bảo các thông số làm việc như nhau, bơm nhiên liệu vào các cốc đo có hìnhdạng và dung tích như nhau trong quá trình đo Đường ống cao áp cũng vậy, cùng loại vàcó cùng độ đài để tạo ra các điều kiện làm việc giống nhau cho các tổ bơm của bơm caoáp cần kiểm tra trên bằng
- Hệ thống kiểm tra thời điểm cung cấp nhiên liệu của các nhánh bơm: gồm đĩachia độ lắp trên trục dẫn động bơm, hệ thống cảm biến và bộ xử lý điện tử phục vụ kiểmtra khoảng cách giữa các thời điểm bắt đầu cung cấp của các nhánh bơm (độ đồng đềuvề thời điểm cung cấp)
- Hệ thống hiển thị các thông số kiểm tra bơm và các thông số hoạt động của bằnggồm: đồng hồ hiển thị tốc độ trục dẫn (loại hiện số hoặc loại kim chỉ), bộ phận hiển thịlưu lượng cung cấp của các nhánh bơm (dung tích nhiên liệu cung cấp qua một số lầnbơm nhất định 50,100 hoặc 200 lần bơm được đo bằng các cốc đo), bộ phận hiển thị thờiđiểm phun theo vị trí góc quay của trục dẫn, các áp kế đo áp suất nhiên liệu cấp bởi bơmthấp áp của bơm
Chuẩn bị trước khi thử:
- Chuẩn bị bằng thử: Công việc chuẩn bị gồm kiểm tra nhiên liệu của bằng và bổsung nếu cần, tháo các vòi phun của bằng và cân chỉnh lại áp suất phun của nó trên thiết
bị thử vòi phun sao cho bằng với áp suất phun của vòi phun trên động cơ rồi lắp lại
- Gá lắp bơm lên bằng: Trên bằng thường có sẵn đồ gá vạn năng để có thể gá đượchầu hết các loại bơm thông dụng trên thị trường Tuy nhiên, nếu cân chỉnh các bơm cókết cấu khác lạ thì đôi khi phải tự tạo đồ gá phù hợp Khi gá bơm, cần chú ý điều chỉnhđộ đồng tâm giữa trục dẫn và trục bơm để tránh hiện tượng rung trong quá trình thử Nốicác đường nhiên liệu cao áp từ các vòi phun của bằng với các nhánh bơm cần thử và nốiđường ống cung cấp nhiên liệu của bằng với khoang nhiên liệu của bơm Đổ dầu bôitrơn vào cacte của bơm đến mức yêu cầu
- Chạy thử bằng: Cho bơm cung cấp nhiên liệu thấp áp của bằng hoạt động để cungcấp nhiên liệu thấp áp của bơm cao áp Kiểm tra và khắc phục hiện tượng rò rỉ của cácđầu nối Sau đó cho bằng hoạt động với tốc độ chậm (100vòng/phút) rồi tăng dần tốc độ,kiểm tra tình trạng chuyển động chung của bằng, của bơm và hiện tượng rò rỉ nhiên liệuđể khắc phục trước khi thử và cân chỉnh chính thức Đối với bơm mới được phục hồihoặc được thay chi tiết mới, cần chạy rà bơm ở một số tốc độ khác nhau với thanh răng ởcác vị trí cấp nhiên liệu khác trong khoảng 30 phút để đảm bảo bơm hoạt động trơn trutrước khi cân chỉnh
Kiểm tra và điều chỉnh thời điểm cấp nhiên liệu của các nhánh bơm
Thời điểm bắt đầu cấp nhiên liệu của bơm là thời điểm bơm cấp nhiên liệu lênđường ống cao áp, có thể coi gần đúng là thời điểm pit-tông vừa đóng kín các cửa hút xảnhiên liệu trên xy lanh bơm Thời điểm này được tính theo độ nâng của pit-tông bơm sovới điểm chết hoặc tính theo góc quay của cam so với vị trí cam khi pit-tông ở điểm chết
Trang 6trên Ví dụ độ nâng của pit-tông đối với các bơm APE của hãng AMBAC lắp trên các xehạng nặng của Mỹ là 3-3,2 mm Mỗi nhà chế tạo đều có quy định thông số kiểm tra cụthể đối với bơm của họ trong các tài liệu hướng dẫn sử dụng và bảo dưỡng Bơm củađộng cơ xe ủi DT54 của Nga có thời điểm cấp nhiên liệu tính theo góc của cam là
500+10, hay bơm 4B của Toyota diesel có thời điểm cấp nhiên liệu tính theo độ nâng củapit-tông là 1,2 mm
Cần phải điều chỉnh đúng thời điểm cấp nhiên liệu của bơm nhằm đảm bảo quyluật cung cấp nhiên liệu thực tế của bơm đúng như thiết kế theo biên dạng cam và đảmbảo thứ thự cấp nhiên liệu của các nhánh bơm đúng với thứ tự làm việc của các xy lanhđộng cơ
Để đo độ nâng của pit-tông bơm, có thể dùng đồ gá và đồng hồ so lắp lên cửa mặtchính của bơm để đo độ nâng của con đội hoặc tháo van cao áp ra và dùng đồng hồ so tìtrực tiếp vào đỉnh pit-tông để đo Phương pháp thứ hai chính xác hơn, tuy nhiên quá trìnhkiểm tra và điều chỉnh phải tháo van ra, lắp van vào nhiều lần nên phức tạp Do đó,thường dùng phương pháp đo độ nâng của con đội từ phía cửa chính của bơm
Quy trình kiểm tra và điều chỉnh thời điểm cấp nhiên liệu của bơm cao áp kiểu dãychỉ có rãnh chéo phía dưới được thực hiện như sau:
1 Tháo ống nhiên liệu cao áp của bằng thử khỏi nhánh bơm thứ nhất, tháo lò xovan cao áp khỏi van, lắp một ống cao áp ngắn và uốn cong xuống, lắp dụng cụ đo độnâng con đội vào thân bơm cạnh con đội của nhánh bơm thứ nhất
2 Quay trục cam để con đội nhánh bơm thứ nhất ở vị trí thấp nhất, đo vị trí con độibằng dụng cụ đo nói trên
3 Đẩy thanh răng bơm cao áp về vị trí cấp nhiên liệu cao nhất Cho bơm cấp nhiênliệu thấp áp của bằng hoạt động cấp nhiên liệu vào khoang nhiên liệu thấp áp của bơm
Vì pit-tông của tổ bơm thứ nhất đang ở vị trí điểm chết dưới và van cao áp không lắp lò
xo nên nhiên liệu chảy theo cửa vào xy lanh bơm, đẩy mở van và chảy qua rồi theođường ống ra ngoài Trong khi nhìn nhiên liệu chảy liên tục qua ống thóat, dùng tayquay từ từ trục bơm theo chiều quay làm việc của nó cho tới khi dòng nhiên liệu chảychậm lại từ từ nhỏ giọt Tiếp tục quay trục cam từng ít một cho tới khi giọt nhiên liệucuối cùng rơi mà bị treo trên miệng ống thì dừng lại Lúc này, pit-tông vừa vặn đóng kíncác cửa nhiên liệu trên xy lanh và được coi là thời điểm bắt đầu cấp nhiên liệu cao áp
Đo lại vị trí đầu con đội bằng dụng cụ đo nói trên Hiệu của trị số đo này và trị số đo conđội ở vị trí thấp nhất cho ta độ nâng của pit-tông tại thời điểm bắt đầu cấp nhiên liệu Nếu kết quả đo không nằm trong phạm vi độ nâng yêu cầu của nhà chế tạo, có thểđiều chỉnh bằng cách thay đổi chiều cao con đội nhờ điều chỉnh nâng hạ vít trên đầu conđội hoặc thêm bớt đệm điều chỉnh trên đầu con đội hình 5.I-72 rồi thử lại như trên Đểgiảm độ nâng pit-tông tại thời điểm cấp nhiên liệu (điều chỉnh thời điểm cấp nhiên sớmlên), phải thêm đệm đầu con đội hoặc tăng chiều cao vít điều chỉnh (nới vít đài ra rồihãm lại) Để tăng độ nâng, cần giảm đệm hoặc hạ thấp vít điều chỉnh
Sau khi điều chỉnh xong thời điểm cấp nhiên liệu của tổ bơm thứ nhất, lắp lò xo vancao áp trở lại và dịch chuyển kim đánh dấu trên đĩa cố định của bằng về vị trí thích hợpvà ghi lại chỉ số độ chia trên đĩa động thẳng với mũi kim hình 5.I-73 Chỉ số này đượcgọi là mốc để chỉnh thời điểm cấp nhiên liệu của các tổ bơm làm việc kế tiếp
Trang 7Hình 5.I-72 Điều chỉnh thời điểm Hình 5.I-73 Đầu trục dẫn động bơm cấp nhiên liệu
4 Kiểm tra và điều chỉnh thời điểm cấp nhiên liệu của các tổ bơm tiếp theo trongthứ tự làm việc của chúng Tuy nhiên, với tổ bơm này không cần đo độ nâng của con độimà cần kiểm tra góc quay của trục cam từ mốc đánh dấu thời điểm cấp nhiên liệu của tổbơm thứ nhất đến thời điểm cấp nhiên liệu của tổ bơm tiếp theo
Tháo lò xo van cao áp khỏi van của tổ bơm trong thứ tự làm việc kế tiếp tổ bơm thứnhất, lắp một ống ngắn uốn cong và đầu nối ống cao áp như đã làm khi thử tổ bơm 1.Cho bơm cấp nhiên liệu thấp áp của bằng hoạt động và đồng thời quay từ từ trục camtheo chiều quay làm việc cho tới khi dòng nhiên liệu ở ống thóat ngừng chảy (tương ứngvới thời điểm bắt đầu cấp nhiên liệu cao áp) giống như đã làm đối với tổ bơm 1 Lúcnày, chỉ số độ chia trên đĩa động thẳng với mũi kim trên đĩa cố định phải bằng chỉ số độchia xác định lúc trước đối với tổ bơm thứ nhất cộng với góc lệch công tác lý thuyết củabơm (3600/tổng số tổ bơm) Ví dụ, cụm bơm có 4 tổ bơm thì góc quay trục cam giữa thờiđiểm bắt đầu cấp nhiên liệu của hai tổ bơm làm việc kế tiếp nhau sẽ là 3600/4 = 900 Nếu góc quay của trục cam giữa những thời điểm cấp nhiên liệu của tổ bơm này sovới thời điểm cấp nhiên liệu của tổ bơm trước không đúng yêu cầu, phải điều chỉnh lạichiều cao con đội như đã giới thiệu ở trên Nếu góc lệch nhỏ hơn quy định, phải điềuchỉnh cấp nhiên liệu muộn đi bằng cách hạ vít điều chỉnh hoặc bớt đệm đầu con đội.Nếu góc lệch lớn hơn quy định, tức là cấp nhiên liệu muộn, cần điều chỉnh ngược lại Sau khi điều chỉnh tổ bơm này đạt yêu cầu, ghi lại chỉ số độ chia thẳng với mũi kimchỉ, lắp lò xo ván cao áp trở lại, tiếp tục kiểm tra và điều chỉnh các tổ bơm có thứ tự làmviệc tiếp theo tương tự như cách làm đối với tổ bơm trước cho đến khi tất cả các tổ bơmđều được kiểm tra và cân chỉnh
Một số bằng thử có cơ cấu giúp kiểm tra khoảng cách làm việc giữa các nhánh bơmmột cách tự động khi muốn kiểm tra thông số này Việc kiểm tra và điều chỉnh thờiđiểm bắt đầu cấp nhiên liệu của tổ bơm thứ nhất theo cách trình bày ở trên đảm bảo độnâng của pit-tông bơm tại thời điểm chết dưới đạt yêu cầu Để thực hiện việc kiểm tranày, trên bằng thử có các cảm biến xác định thời điểm bắt đầu cấp nhiên liệu của các tổbơm đặt tại đầu các vòi phun tương ứng, các cảm biến này đưa tín hiệu về bộ xử lý Thờiđiểm cấp nhiên liệu sớm hay muộn của các tổ bơm so với góc lệch công tác lý thuyếtgiữa chúng với tổ bơm thứ nhất (hoặc tổ bơm nào đó tuỳ chọn) được hiển thị bằng sốtrên màn hình hoặc bằng xung ánh sáng trên đĩa chia độ theo góc quay trục cam Tức là,
Trang 8
%1002
min max
min max x Q Q
Q Q
Kiểm tra và điều chỉnh lượng nhiên liệu cấp của các nhánh bơm:
Việc kiểm tra này nhằm điều chỉnh lượng cấp nhiên liệu của các nhánh bơm ở cácchế độ làm việc đạt đúng mức quy định của nhà chế tạo, đồng thời đảm bảo sự đồng đềuvề lượng cấp độ định mức
Trước khi kiểm tra, cho bằng thử kéo bơm hoặc ở tốc độ 500 vòng/phút với thanhrăng ở vị trí cấp nhiên liệu vào hệ thống cốc đo thử và ổn định nhiệt độ cùng các điềukiện làm việc khác của hệ thống
- Kiểm tra và điều chỉnh cho chế độ toàn tải: Trước tiên, cần điều chỉnh giới hạndịch chuyển tối đa của thanh răng theo quy định nhờ vít trên thanh nối giữa thanh răngvà bộ siêu tốc Sau đó, điều chỉnh tốc độ của bơm đến tốc độ định mức do nhà chế tạoquy định, gạt tay điều khiển về vị trí cao nhất và tiến hành đo lượng nhiên liệu cấp củacủa các nhánh bơm sau 100 lần bơm Thử một vài lần để khẳng định các giá trị đọc củacác lần thử đều giống nhau Nếu lượng nhiên liệu cấp của nhánh bơm nào đó khôngđúng quy định thì cần phải điều chỉnh lại bằng cách nới vít hãm vành răng trên ống xoayrồi xoay ống xoay để pit-tông bơm đi một góc theo chiều tăng hoặc giảm nhiên liệu tùytheo yêu cầu điều chỉnh hình 5.I-74 Sau đó, hãm chặt vít lại, cho bơm hoạt động vàkiểm tra lại lượng nhiên liệu cấp, có thể phải điều chỉnh và kiểm tra vài lần mới đạt yêucầu
Hình 5.I-74 Điều chỉnh lượng nhiên liệu cấp của từng nhánh bơm.
- Độ không đồng đều về lượng nhiên liệu cấp được tính như sau:
Trong đó: Qmax và Qmin tương ứng là lượng nhiên liệu của nhánh cấp nhiều nhất vàcủa nhánh cấp ít nhất trong số các nhánh bơm
Cần điều chỉnh đảm bảo không đồng đều về lượng cấp 4%
- Kiểm tra và đỉnh cho chế độ không tải: Điều chỉnh bằng thử hoạt động ở tốc độkhông tải chạy chậm quy định của bơm (thường khoảng 250-300 vòng/phút), quay cầnđiều khiển thanh răng về vị trí sát vít hạn chế không tải rồi kiểm tra lượng nhiên liệucấp của các nhánh bơm Nếu lượng nhiên liệu cấp không đúng với yêu cầu, điều chỉnhvít hạn chế cần điều khiển ở chế độ không tải Khi điều chỉnh, căn cứ vào lượng nhiên
Trang 92
min max
min max
n n
n n
Kiểm tra chế độ ngắt nhiên liệu khi tắt máy
Khi kéo cần điều khiển tắt máy, thanh răng phải dịch chuyển về vị trí cắt hoàn toànnhiên liệu để dừng động cơ, nếu không sẽ dẫn đến hiện tượng rồ ga, khó tắt máy Việckiểm tra hiện tượng này trên bằng thử được thực hiện bằng cách cho bơm làm việc ở sốvòng quay định mức, thanh răng ở vị trí toàn tải, sau đó vẫn giữ nguyên tốc độ vòngquay, kéo thanh răng về vị trí toàn tải, sau đó vẫn giữ nguyên tốc độ vòng quay, kéothanh răng về vị trí ngắt nhiên liệu Quan sát trên cốc đo nhiên liệu, nếu vòi phun vẫnphun nhiên liệu, cần phải điều chỉnh thanh nối giữa thanh răng và bộ điều tốc cho tới khivòn phun không phun nhiên liệu Sau đó gạt tay điều khiển về phía cao nhất và kiểm tralại lượng nhiên liệu cấp ở chế độ định mức, nếu không đạt yêu cầu, phải thay bộ đôimới
Kiểm tra sự làm việc của bộ điều tốc
Gạt tay điều khiển đến vị trí cao nhất và tăng dần tốc độ quay trực bơm đồng thờiquan sát thanh răng qua cửa sổ của bơm cho đến khi thanh răng bắt đầu bị bộ điều tốckéo về phía giảm cung cấp nhiên liệu Số vòng quay của bơm lúc này chính là số vòngquay bắt đầu tác động của bộ điều tốc nmin Tiếp tục tăng số vòng quay cho tới khi thanhrăng bị kéo hoàn toàn về phía cắt nhiên liệu, ta có số vòng quay tại đó bộ điều tốc cắthoàn toàn nhiên liệu nmax số vòng quay bắt đầu cắt nhiên liệu phải bằng số vòng quaycủa bơm ở chế độ tốc độ định mức của động cơ (tức là bằng nửa tốc độ định mức củađộng cơ 4 kỳ) Nếu giá trị này không đúng, phải điều chỉnh vít hạn chế của cần điềukhiển Độ chống đồng đều của bộ điều tốc đt được chỉnh vít hạn chế của cần điềukhiển Độ không đồng đều của bộ điều tốc đt được tính từ hai giá trị tốc độ trên như sau:
Độ không đồng đều cho phép trong phạm vi 3-5%
Kết thúc điều chỉnh
Sau khi điều chỉnh xong bơm, lắp nắp cửa sổ bên và nắp điều tốc lại, vặn chặt vítvà dùng dây thép khóa nắp và kẹp chì lại để ngăn ngừa sử dụng không có chuyên môntự ý chỉnh mò trên xe có thể gây sự cố đáng tiếc khi vận hành động cơ do điều chỉnh sai
4.4 Điều chỉnh bơm cao áp phân phối
Cũng như bơm cao áp kiểu dãy, sau một thời gian sử dụng, sửa chữa hoặc thay thếbộ đôi pit-tông – xy lanh bơm hay các chi tiết của bộ điều tốc, bơm cao áp phân phốicũng phải được đưa lên bằng thử để kiểm tra và điều chỉnh độ đồng đều về lượng nhiênliệu cấp đến các xy lanh Khi pit-tông mòn không đảm bảo phân phối đều nhiên liệuđến các xy lanh của động cơ thì phải thay bộ đôi pit-tông – xy lanh mới Các thông sốcần kiểm tra và điều chỉnh của bơm gồm thời điểm pit-tông đóng kín các cửa nạp xảnhiên liệu (thời điểm bắt đầu cấp nhiên liệu), lượng nhiên liệu cấp ở chế độ toàn tải,chế độ không tải và chế độ mômen cực đại, sự làm việc của bộ điều tốc
Trang 104.4.1 Kiểm tra và điều chỉnh bơm phân phối có van xả nhiên liệu cao áp
- Kiểm tra và điều chỉnh thời điểm cấp nhiên liệu: được thự hiện tương tự như đốivới bơm dãy Trước hết, cần quay trục cam cho rãnh theo hướng thẳng đứng lên trên(tương ứng với nhiên liệu được phân phối vào đường nhiên liệu cao áp đến xy lanh thứnhất của động cơ) Sau đó, tháo lò xo van cao áp, nếu bơm có các van cao áp đặt tại cácđầu nối của các đường nhánh cao áp tới xy lanh của động cơ thì tháo lò xo van cao ápcủa nhánh cao áp thứ nhất Đặt cơ cấu điều chỉnh góc cung cấp nhiên liệu sớm ở vị trímuộn nhất Dùng đồng hồ so và đồ gá để đo vị trí thấp nhất của pit-tông bơm (điểm chếtdưới) Nếu bơm có van cao áp trung tâm phía trên pit-tông, có thể tháo van và đo trựctiếp vị trí đỉnh pit-tông so với thân bơm bằng đồng hồ so hình 5.I-75 rồi lắp van lại đểthử tiếp Nối một ống ngắn hở đầu nối cao áp số 1 của bơm Cung cấp nhiên liệu vàokhoang thấp áp của bơm, nhiên liệu sẽ chảy ra từ đường ống vừa nối vào đầu nối số 1
Đo vị trí pit-tông bằng đồng hồ so và so sánh với vị trí ở điểm chết dưới để tính ra độnâng của pit-tông tại thời điểm bắt đầu cấp nhiên liệu Nếu độ nâng không đúng với yêucầu, cần điều chỉnh lại vị trí tương đối giữa pit-tông và xy lanh bơm bằng cơ cấu điềuchỉnh của bơm Sau khi điều chỉnh và kiểm tra đảm bảo yêu cầu thì lắp lò xo van cao áptrở lại và nối các đường ống cao áp của bằng thử vào các đầu nối trên bơm
Hình 5.I-75 Kiểm tra vị trí đỉnh pit-tông bơm.
- Chuẩn bị thử: Cho bơm chạy trên bằng ít nhất 10 phút để ổn định nhiệt độ và cácđiều kiện làm việc trước khi thử, điều chỉnh áp suất dầu trơn để áp suất 2,8 kg/cm2
- Kiểm tra lượng nhiên liệu cấp ở chế độ toàn tải: gạt tay điều khiển đến vị trí cấpnhiên liệu cho chế độ tốc độ định mức và toàn tải, điều chỉnh tốc độ bằng thử đến tốc độđịnh mức của bơm và đo lượng nhiên liệu cấp Nếu lượng nhiên liệu cấp không đúngnhư quy định thì điều chỉnh vít cữ dừng (vít hạn chế cấp nhiên liệu cực đại) trên bộ điềutốc (nghiên cứu kết cấu bơm và hướng dẫn của nhà chế tạo đối với mỗi kết cấu bơm cụthể trước khi điều chỉnh)
- Kiểm tra chế độ không tải chạy nhanh: Tăng tốc độ bơm lên cao hơn tốc độ địnhmức khoảng 75 vòng/phút, điều chỉnh vít điều chỉnh tải chạy nhanh cho đến khi cam tìcủa bộ điều tốc rời khỏi cữ dừng Kiểm tra lại lượng nhiên liệu cấp toàn tải và điềuchỉnh lại nếu cần
Trang 11- Kiểm tra sự cắt nhiên liệu của bộ điều tốc: Tăng tốc độ trục bơm vượt tốc độ địnhmức 17%, bộ điều tốc phải cắt hoàn toàn nhiên liệu cung cấp Nếu nhiên liệu không đạthoàn toàn ở tốc độ quy định này, cần kiểm tra và điều chỉnh lại độ căng lò xo điều tốckhi tay gạt điều khiển ở vị trí cao nhất
- Kiểm tra lượng nhiên liệu cấp ở chế độ quá tải (mômen cực đại): Cho bơm chạy ởtốc độ ứng với chế độ mômen cực đại của động cơ và kiểm tra lượng nhiên liệu cấp.Nếu lượng nhiên liệu cấp không đúng với yêu cầu, cần thay đổi vị trí góc cam tì của bộđiều tốc
- Kiểm tra chế độ tắt máy: Kiểm tra lại lượng cấp nhiên liệu ở chế độ định mức vàđiều chỉnh đúng nếu cần, sau đó gạt điều khiển về vị trí tắt máy và kiểm tra sự cắt nhiênliệu cấp Lúc này, nếu quan sát đầu các vòi phun sẽ thấy vòi phun không phun nhiênliệu Nếu vòi phun vẫn phun, phải kiểm tra và điều chỉnh lại cơ cấu điều khiển
- Kiểm tra chế độ không tải chạy chậm: Gạt tay điều khiển về vị trí cấp nhiên liệu
ở chế độ chạy chậm không tải, cho bơm hoạt động ở số vòng quay chạy chậm và kiểmtra lượng nhiên liệu cấp Nếu lượng nhiên liệu cấp không đúng với yêu cầu thì điềuchỉnh lại vít điều chỉnh chạy chậm
- Kết thúc điều chỉnh: Sau khi kiểm tra và điều chỉnh xong toàn bộ các chỉ tiêu làmviệc vủa bơm như trên cần kiểm tra và vặn chặt tất cả các vít điều chỉnh, lắp nắp bộđiều tốc và kẹp chì lại
4.4.2 Kiểm tra và điều chỉnh bơm phân phối kiểu DPA
Cũng như các bơm khác, sau một thời gian sử dụng hoặc sau khi sửa chữa thay thếcác chi tiết, bơm cần phải đưa lên bằng thử để kiểm tra, điều chỉnh Việc kiểm tra, điềuchỉnh loại bơm này gồm kiểm tra và chỉnh lượng nhiên liệu cấp, kiểm tra và điều chỉnhsự làm việc của bộ điều tốc, áp suất nhiên liệu cấp bởi chuyển nhiên liệu thấp áp, sựhoạt động của cơ cấu tự động điều chỉnh thời điểm bắt đầu cấp nhiên liệu Các loại bơmnày cũng như bơm phân phối có van xả nhiên liệu cao áp có thể kiểm tra và điều chỉnhtrên nhiều loại bằng thử
- Chạy thử sơ bộ: Nối đầu ống hút nhiên liệu của bơm với đường nhiên liệu củabằng và cho bơm chạy ở tốc độ 100vòng/phút cho tới khi nhiên liệu chảy ra ở các đầunối cao áp hoặc phun ra ở vòi phun Vặn chặt các đầu nối ống cao áp và đảm bảo chắcchắn bơm chuyển nhiên liệu cấp thấp áp tạo ra áp suất nhất định trong khoang nhiênliệu của bơm Cho bơm hoạt động với tốc độ 500vòng/phút, kiểm tra sự rò rỉ của cácđường nhiên liệu và khắc phục trước khi thử chính thức Cho bơm chạy ở chế độ ít nhất
10 phút để ổn định nhiệt độ làm việc và xả khí khỏi hệ thống
- Kiểm tra áp suất nhiên liệu cung cấp của bơm chuyển nhiên liệu: Lắp một áp kếthay vào vít lỗ thăm khoang chứa nhiên liệu của bơm, cho bơm hoạt động ở tốc độ quyđịnh; nếu áp suất không đúng yêu cầu, cần điều chỉnh vít điều chỉnh hoặc đĩa đệm lò xocủa cơ cấu điều chỉnh áp suất nhiên liệu cung cấp của bơm chuyển
- Kiểm tra cơ cấu tự động điều chỉnh thời điểm cấp nhiên liệu: Dùng dụng cụchuyên dùng để kiểm tra thông số này Cho bơm hoạt động ở tốc độ quy định rồi kiểmtra vị trí góc xoay của vành cam trên dụng cụ kiểm tra Nếu góc xoay không đúng nhưquy định, cần điều chỉnh lại Để điều chỉnh thời điểm cung cấp nhiên liệu theo tốc độ
Trang 12cần thêm hoặc bớt đệm giữa pit-tông của cơ cấu và đĩa lò xo Điều chỉnh thời điểm cấpnhiên liệu theo tải bằng cách điều chỉnh vít lệch tâm phía nắp sau của bộ điều tốc
- Kiểm tra lượng nhiên liệu ở chế độ toàn tải: Cho bơm chạy ở chế độ tốc độ địnhmức, tay gạt ở vị trí và kiểm tra lượng nhiên liệu cấp Nếu lượng nhiên liệu cấp khôngđúng quy định thì vặn vít điều chỉnh lại (cần nghiên cứu kết cầu cụ thể của từng bơm đểtìm vít điều chỉnh này theo chỉ dẫn của nhà chế tạo)
- Kiểm tra lượng nhiên liệu cấp ở chế độ khởi động: Cho bơm chạy ở tốc độ 100vòng/phút, tay điều khiển ở vị trí lớn nhất và kiểm tra lượng nhiên liệu cấp Nếu lượngnhiên liệu cấp không đủ so với yêu cầu, phải thay rôto và pit-tông bơm
- Kiểm tra chế độ tắt máy: Cho bơm chạy ở tốc độ định mức rồi gạt tay điều khiểntắt máy về vị trí tắt máy, vòi phun phải dừng phun nhiên liệu Nếu vòi phun vẫn phunnhiên liệu, phải điều chỉnh vít trên cơ cấu điều khiển tắt máy
- Kiểm tra chế độ tốc độ cực đại: Cho bơm chạy ở tốc độ cực đại (bằng nửa tốc độđộng cơ được ghi trên bơm) và điều chỉnh vít tốc độ cực đại để đạt được lượng nhiên liệucấp theo quy định
- Kiểm tra sự làm việc của bộ điều tốc: Căn cứ vào chỉ dẫn của nhà chế tạo đối vớitừng loại bơm để điều chỉnh
4.4.3 Làm sạch vòi phun
Trước tiên, cần làm sạch bên ngoài vòi phun bằng dung dịch tẩy rửa chuyên dùnghoặc nếu không có thì rửa bằng dầu diesel Sau đó cặp vòi phun lên êtô tháo lò xo vòiphun, bộ đôi kim phun và đế kim phun cùng các chi tiết khác ngâm vào khay rửa mớichứa dung dịch rửa hoặc dầu diesel sạch để làm sạch các chi tiết Nên tháo rửa từng vòiphun một, rửa xong, lắp lại rồi mới tháo đến vòi phun khác để tránh lẫn lộn các chi tiếtcủa các bộ đôi từ vòi phun này sang vòi phun khác
Làm sạch đầu kim phun và đầu đế kim phun cũng như lỗ phun bằng bàn chải dâyđồng Có thể dùng vật nhọn bằng gỗ để làm sạch và đánh bóng lỗ đế kim phun, đặc biệtlà mặt côn tì của đế Rà các mặt phẳng lắp ghép của thân vòi phun và của thân đế kimphun trên tấm rà phẳng với bột rà tinh để làm sạch, đảm bảo sự ghép khít với nhau củachúng
Kiểm tra các chi tiết để phát hiện hư hỏng, đặc biệt là cặp bộ đôi kim phun và đếkim phun, nếu có hiện tượng xước hoặc rỗ hay còn nhiều phải thay mới
Sau khi đã rửa sạch và kiểm tra, thay thế chi tiết hỏng, cần rửa lại tất cả các chi tiếttrong dầu diesel sạch, riêng cặp bộ đôi kim phun và đế kim phun phải được rửa riêng rờilắp vòi phun và thực hiện kiểm tra, điều chỉnh trên thiết bị thử
4.4.4 Kiểm tra vòi phun trên thiết bị thử
Thiết bị thử vòi phun hình 5.I-76 là một bơm pit-tông điều khiển bằng tay có khảnăng bơm nhiên liệu với áp suất cao cho vòi phun, đồng thời có khả năng duy trì được ápsuất sau khi tạo ra Vòi phun được nối qua ống nhiên liệu cao áp với đầu nối cung cấpnhiên liệu cao áp 2
Trang 13Hình 5.I-76 Thiết bị thử vòi phun.
1- cần bơm;
2- đầu nối ống nhiên liệu cao áp đến vòi phun thử;
3- áp kế; 4- bình nhiên liệu;
5- van khóa đường nhiên liệu lên áp kế
Quy trình kiểm tra và điều chỉnh vòi phun trên thiết bị thử như sau:
- Kiểm tra áp suất phun (áp suất mở kim phun): Lắp vòi phun lên thiết bị thử, dậpmạnh cần bơm của thiết bị cho vòi phun phun vài lần rồi dập nhè nhẹ và quan sát ápsuất chỉ trên áp kế lúc vòi phun bắt đầu phun Điều chỉnh vít trên đuôi vòi phun để đạtđược áp suất mở kim phun đúng quy định Sai lệch áp suất phun giữa các vòi phun củacác xy lanh của động cơ cho phép không quá 3 kg/cm3 Nếu thay lò xo mới hoặc bộ đôikim phun – đế kim phun mới thì điều chỉnh áp suất phun lớn hơn quy định khoảng 7kg/cm2 Sau khi chỉnh xong, hãm chặt vít điều chỉnh và dùng đệm mới lắp nắp chụp lại
- Kiểm tra tiếng kêu của vòi phun khi phun: dập mạnh cần bơm của thiết bị thử đểvòi phun phun với tần số 60 lần/phút và nghe tiếng kêu của kim phun khi đóng mở lỗphun trên đế Tiếng kêu cần phải đanh, rõ và dứt khoát Để tránh làm hỏng áp kế dobơm nhanh, nên tháo áp kế khi kiểm tra chỉ tiêu này
- Kiểm tra độ kín mặt côn kim phun trên đế: dập nhè nhẹ cần bơm của thiết bị thửđể tăng dần áp suất nhiên liệu chỉ trên áp kế đến áp suất nhỏ hơn áp suất phun của vòiphun 12-15 kg/cm2 và quan sát sự rò rỉ nhiên liệu ở đầu vòi phun Nếu sau 10 giây màkhông thấy giọt nhiên liệu ở đầu vòi phun là được, nếu có nhỏ giọt nhiên liệu thì phảithay bộ đôi kim phun – đế kim phun
- Kiểm tra hình dạng chùm tia phun: Dập cần bơm 60 lần/phút và quan sát hìnhdạng chùm tia phun Chùm tia phun không được có lõi là dòng nhiên liệu và phải hoàntoàn ở dạng sương mù
- Kiểm tra sự rò rỉ nhiên liệu theo khe hở giữa mặt trụ của kim phun và lỗ dẫnhướng của đế kim phun: Lượng rò rỉ cho phép thường không được đưa ra trong các tàiliệu nhưng nếu có hiện tượng nhỏ giọt nhiên liệu nhiều ở đường nhiên liệu hồi trong quátrình thử thì phải thay bộ đôi Sự rò rỉ này cũng có thể được kiểm tra theo phương phápkiểm tra độ kín thủy lực Dập nhè nhẹ cần bơm của thiết bị để bơm nhiên liệu vào vòiphun tới áp suất nhỏ hơn áp suất phun khoảng 12-15 kg/cm2 (kim phun vẫn đóng) rồi đothời gian áp suất giảm đi 20 kg/cm2, thời gian này thường khoảng 7-30 giây Nếu thờigian giảm áp nhỏ hơn 7 giây là rò rỉ quá nhiều, cần thay bộ đôi kim phun và đế kimphun mới
Nếu vòi phun thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn kiểm tra trên thì được lắp lên động cơđể sử dụng lại
Trang 144.5 Kiểm tra và điều chỉnh cụm bơm cao áp – vòi phun
4.5.1 Kiểm tra trên thiết bị thử
Cụm bơm cao áp – vòi phun được kiểm tra trên bằng thử chuyên dùng với đồ gáphù hợp cho mỗi loại vòi phun Bằng thử này khác với các bằng thử bơm cao áp thôngthường Nội dung kiểm tra gồm các công đoạn sau:
- Kiểm tra sự chuyển động trơn tru của thanh răng và pittông bơm: kẹp cụm vòiphun lên một đồ gá, đặt thanh răng ở vị trí không cấp nhiên liệu rồi ép con đội của cụmvòi phun và kéo thanh răng ra vào Nếu thanh răng chuyển động không trơn tru, cầnkiểm tra muội than bám trên vòi phun và hiện tượng các chi tiết của vòi phun lắp khôngthẳng tâm, pit-tông bị xước, thanh răng cong hoặc quá tròn
- Kiểm tra áp suất mở kim phun (áp suất phun): Việc kiểm tra được thực hiện trênmột thiết bị thử vòi phun bình thường Trước hết, lắp vòi phun lên thiết bị thử vòi phun,đặt thanh răng ở vị trí cấp nhiên liệu lớn nhất rồi thực hiện bơm nhiên liệu cao áp trênthiết bị thử cho vòi phun và kiểm tra áp suất mở kim phun trên áp kế Thông thường vớiloại vòi phun này, áp suất mở kim phun không nhỏ hơn 140 kg/cm2, nếu không đạt cầnthay lò xo kim phun hoặc thay đệm lò xo
- Kiểm tra sự rò rỉ: Lắp vòi phun lên thiết bị thử, thực hiện bơm tay để tạo ra ápsuất trong vòi phun khoảng 110-140 kg/cm2 rồi kiểm tra hiện tượng rò rỉ ở lỗ phun, cácvòng đệm và ở các bề mặt lắp ghép
- Kiểm tra lượng nhiên liệu cung cấp: Việc kiểm tra này được thực hiện trên thiết
bị bằng thử chuyên dùng cho thử cụm bơm cao áp – vòi phun Quy trình kiểm tra nhưsau:
1 Chọn thiết bị đồ gá trung gian phù hợp, lắp vòi phun lên đồ gá rồi lắp đồ gá lênbằng thử
2 Đặt thanh răng ở vị trí không cấp nhiên liệu
3 Khởi động bằng thử và điều chỉnh áp suất nhiên liệu cấp của bằng khoảng 3,5kg/cm2
4 Vận hành bằng thử 30 giây đến 1 phút để xả hết khí khỏi vòi phun
5 Điều chỉnh, chọn số lần bơm theo chỉ dẫn của bằng
6 Đo lượng nhiên liệu cấp bởi vòi phun sau số lần bơm trên, so sánh với số liệuquy định của nhà chế tạo để xử lý, điều chỉnh
4.5.2 Lắp vòi phun lên động cơ
Khi lắp cụm bơm cao áp – vòi phun lên động cơ cần phải kiểm tra và điều chỉnhđúng các thông số làm việc của vòi phun cho phù hợp với động cơ Cần xem hướng dẫncủa nhà chế tạo về quy trình kiểm tra và điều chỉnh cụ thể đối với loại vòi phun đangdùng để thực hiện Các thông số cần kiểm tra và điều chỉnh gồm:
- Điều chỉnh đúng thời điểm cấp nhiên liệu
- Điều chỉnh vị trí cần điều khiển thanh răng
- Điều chỉnh bộ điều tốc
- Điều chỉnh chế độ không tải chạy nhanh và không tải chạy chậm