Phương pháp nghiên cứu -Phương pháp phân tích tài liệu: Đọc và tìm hiểu những tài liệu liên quan đến CTXH như: nhập môn CTXH, CTXH nhóm, kỹ năng CTXH nhóm của nhân viên CTXH, CTXH đối
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI TIẾN THÀNH
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
CÔ ĐƠN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số III, thành phố Hà Nội” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, đúng với thực tiễn nghiên cứu, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác và thông tin trích dẫn trong luận văn cũng được chỉ rõ nguồn gốc trích dẫn
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Tác giả
BÙI TIẾN THÀNH
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 01
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN……… 12
1.1 Tổng quan về người cao tuổi và người cao tuổi cô đơn 12
1.2 Một số vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn 15
1.3 Luật pháp, chính sách về người cao tuổi và các mô hình hỗ trợ người cao tuổi cô đơn 26
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động của công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn 28
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI III, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 31
2.1 Khái quát về Trung tâm bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội 31
2.2 Thực trạng đời sống người cao tuổi cô đơn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội 32
2.3 Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội 44
2.4 Thực trạng về kỹ năng, phương pháp công tác xã hội nhóm của nhân viên công tác xã hội Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội 52
2.5 Những khó khăn, tồn tại trong công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội 54
Chương 3: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI III, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 57
3.1 Lý do sử dụng công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội 57
3.2 Tiến trình công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội 57
3.3 Khuyến nghị 74
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Giới tính và độ tuổi của người cao tuổi trong mẫu khảo sát
Bảng 2.2 Trình độ học vấn người cao tuổi cô đơn
Bảng 2.3 Nghề nghiệp trước khi vào Trung tâm của người cao tuổi cô đơn
Bảng 2.4 Tình hình sức khỏe của người cao tuổi cô đơn
Bảng 2.5 Người cao tuổi cô đơn tự đánh giá sức khỏe bản thân
Bảng 2.6 Đánh giá về tình hình đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đối với người cao tuổi
Bảng 2.12 Đánh giá về mối quan hệ giữa những người cao tuổi cô đơn
Bảng 2.13 Cách thức chủ yếu nắm bắt thông tin của người cao tuổi cô đơn
Bảng 2.14 Đánh giá mức độ nhu cầu tham gia hoạt động nhóm của người cao tuổi
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có tuổi thọ cao, đó là xu thế mà con người muốn hướng tới trong cuộc sống
và trên thực tế, tuổi thọ trung bình của con người trên thế giới ngày càng cao hơn Liên hợp quốc đã lưu ý rằng “kỷ nguyên của người cao tuổi” sẽ nổi lên trong thế kỷ XXI Những dự báo trên đã thành hiện thực khi nhóm người cao tuổi nhất thế giới tại thời điểm năm 2005 chiếm 18% tổng dân số toàn thế giới, 24% tại các quốc gia phát triển và 15% tại các quốc gia kém phát triển Dự kiến đến năm 2025 sẽ đạt tới 1,2 tỷ NCT chiếm khoảng 20% dân số thế giới Sự gia tăng số lượng NCT trong tổng số dân số toàn cầu là vấn đề đáng quan tâm Nó mang lại nhiều cơ hội song cũng không ít thách thức Hàng triệu người cao tuổi ở các nước phát triển trung bình
và thu nhập thấp đang đối mặt với những vấn đề nghèo đói và bệnh tật
Nhìn từ góc độ cuộc sống, chúng ta nhận thấy “Sinh-Lão-Bệnh-Tử” đó là quy luật của cuộc đời con người, gần như ai cũng phải trải qua các giai đoạn như thế Tuổi già dẫn đến sự thay đổi theo chiều hướng suy giảm về sức khỏe, trí nhớ, khả năng lao động, sự thay đổi về tâm sinh lý Điều đó khiến NCT cảm thấy hụt hẫng, có tâm lý tiếc nuối tuổi trẻ, hoài cổ, trầm tư, cô đơn Ngay cả khi sống trong gia đình có điều kiện kinh tế, vợ chồng, con cái đầy đủ thì nhiều khi NCT vẫn cảm thấy mình lạc lõng, như người thừa trong gia đình và xã hội, bản thân không còn hữu ích Bởi thế, họ mong muốn được động viên, chia sẻ, được tôn trọng từ phía con cái, gia đình và xã hội Tục ngữ Việt Nam có câu “Trẻ cậy cha, già cậy con”, đối với NCT, lúc “xế chiều” rất cần sự giúp đỡ của con cái, đặc biệt là những NCT
có sức khỏe yếu hay không đủ thu nhập nuôi sống bản thân
Như vậy đối với NCT cô đơn thì sẽ ra sao? Chắc chắn mọi thứ sẽ khó khăn hơn rất nhiều Những NCT với các hoàn cảnh kém may mắn như không chồng (vợ), không con cái, hoặc có con nhưng con đã chết vì bệnh tật, tai nạn Nhiều người không có nhà cửa, không có thu nhập nuôi sống bản thân, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhiều người phải đi tha phương cầu thực, làm thuê, nhặt rác, lang thang đầu
Trang 7Tuy nhiên, chất lượng cuộc sống của NCT cô đơn tại các trung tâm bảo trợ
xã hội mới chỉ dừng lại ở mức độ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, và một số nhu cầu sinh hoạt tinh thần thiết yếu Do nguồn kinh phí nhà nước bảo trợ cho các cụ còn hạn hẹp nên chất lượng cuộc sống của các cụ chưa cao, còn gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt cả về đời sống vật chất, tinh thần Mặc dù các cụ không đòi hỏi nhiều về chất lượng cuộc sống, vì đối với họ, có được cuộc sống ở Trung tâm Bảo trợ xã hội đã là niềm an ủi rồi Đối với những người làm CTXH phải luôn trăn trở, tìm tòi làm sao để nâng cao chất lượng sống của NCT cô đơn, giúp các cụ thực sự có một cuộc sống đầy đủ, ý nghĩa, thanh thản trong những năm tháng cuối đời, bù lại những gian nan, mất mát Có một thực tế hiện nay, một số cụ thường xuyên cảm thấy cô đơn trong lòng, lẻ loi trong tập thể, đời sống tinh thần trầm lắng và ít hoạt động tập thể Nhiều cụ sống khép mình, ngại chia sẻ, tâm sự, mặc cảm, tự ti Họ thường có tâm trạng u uất, phiền não, nhiều lúc họ không biết tâm sự chia sẻ với ai Bên cạnh đó, nhiều cụ có nguyện vọng được tham gia vào các hoạt động vui chơi giải trí, văn nghệ, thể dục…để được thoải mái tinh thần, được chia sẻ, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn Nhưng không có ai điều phối, phát động phong trào, hoặc có thì hoạt động không thành nề nếp, chỉ mang tính tự phát nhất thời, do đó các cụ ít có cơ hội để tham gia các hoạt động tập thể
Chính vì vậy, việc thành lập các nhóm các cụ tham gia theo nhu cầu nguyện vọng về lĩnh vực các cụ quan tâm là rất cần thiết trong Trung tâm Bảo trợ xã hội Tham gia vào nhóm sẽ tạo cơ hội cho các cụ sinh hoạt nhóm nề nếp, có điều kiện
Trang 83
thuận lợi cùng chia sẻ tâm tư nguyện vọng, tình cảm, hỗ trợ, động viên nhau trong cuộc sống, đồng thời làm phong phú đời sống tinh thần, giải tỏa những phiền muộn, nỗi buồn vơi đi và niềm vui được nhân lên Thiết nghĩ, CTXH nhóm đối với NCT tại Trung tâm Bảo trợ xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của các cụ, đồng thời là phương pháp hoạt động phù hợp góp phần tạo nên hiệu quả của CTXH, nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH, góp phần đổi mới tổ chức hoạt động CTXH Từ đó góp phần hướng tới phát triển dịch vụ đối với NCT mang tính chuyên nghiệp hơn, nhất là khi Nhà nước đang có chính sách dịch vụ mở rộng các loại hình dịch vụ trong đó có dịch vụ tự nguyện đóng góp kinh phí Bởi vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu là: “Công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội số III, thành phố Hà Nội”
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Một số nghiên cứu về người cao tuổi và người cao tuổi cô đơn
Nhà tâm lý học người Mỹ Ann Bowling (1998) dẫn ra một số nghiên cứu về
sự lão hóa có liên quan đến chất lượng sống của tuổi già: đó là sự tách rời, sự tiếp tục hoạt động và sự liên tục Tổng hợp kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các kiểu hình về chất lượng sống tuổi già của một số tác giả, ông đã kết luận về việc nâng cao chất lượng cuộc sống chính là tăng sức khỏe, niềm vui của tuổi già [22, pg.43] Năm 1998, các nhà tâm lý học M Pinquart, H Newman đã chứng minh tuy người cao tuổi có sức khỏe kém hơn những người trẻ tuổi nhưng trạng thái hạnh phúc không giảm đi ở tuổi già, có nghĩa là trạng thái hạnh phúc ở người cao tuổi không hề thấp hơn trạng thái hạnh phúc ở người trẻ tuổi hơn [24]
Tác giả Arnold Rose đã nghiên cứu về văn hóa thế hệ, cho rằng NCT có xu hướng thích tiếp xúc với những người cùng tuổi hơn là những người thuộc thế hệ trẻ hơn Do đó, họ có một sự định hướng trong ý thức về nhóm NCT và ý thức tự phát triển một cách mạnh mẽ và tích cực [22]
Năm 2001, trong nghiên cứu “Người cao tuổi và suy nghĩ tích cực”, các tác giả Susan Charles, Chandra Reynolds và Magaret Gatz đã nhận thấy rằng, trong tất
cả các thế hệ, cảm xúc tiêu cực giảm đi cùng với tuổi tác, hay nói cách khác, càng
Trang 94
nhiều tuổi người ta càng ít tiêu cực Trái với định kiến NCT thường ốm yếu, cáu kỉnh như quan niệm của nhiều người, NCT ngày nay thường có xu hướng thích cảm xúc hài lòng và hay nhớ lại nhiều ký ức, hình ảnh tích cực hơn là giới trẻ Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu đã xem xét xu hướng của NCT là điều chỉnh cảm xúc của
họ hiệu quả hơn những người trẻ tuổi bằng việc duy trì cảm xúc tích cực và giảm đi cảm xúc tiêu cực [23] Nghiên cứu cũng cho thấy, ở một số nước phát triển, những NCT xác định được vị trí của họ trong xã hội bằng cách phát triển nền văn hóa nhóm của mình Nền tảng của sự phát triển này là những mối quan tâm và kinh nghiệm của những NCT qua việc giao tiếp với nhau trong cùng nhóm tuổi Nguyên nhân thứ nhất là do có sự tác động của một số yếu tố làm tăng mối tương tác giữa những NCT, chẳng hạn như yếu tố xã hội và nhân khẩu học Những yếu tố này bao gồm sự tăng trưởng số lượng NCT, sự tập trung ngày càng tăng của những NCT vào những lĩnh vực đặc thù như cộng đồng hưu trí, các nhà dưỡng lão và sự tăng nhanh các dịch vụ xã hội dành cho NCT Nguyên nhân tiếp theo là do thành kiến của xã hội đối với những NCT và tâm lý sợ tuổi già nên NCT thường cảm thấy khó khăn khi tiếp xúc với cá nhân khác không cùng độ tuổi [23]
Năm 2014, tác giả Bùi Thị Mai Đông - Học viện Phụ nữ Việt Nam đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Tâm trạng của phụ nữ đơn thân trong giai đoạn hiện nay”, trong số 144 khách thể nghiên cứu trên địa bàn Huyện Sóc Sơn, có tới 75% là phụ
nữ cao tuổi đơn thân Đề tài đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến tâm trạng tích cực và tiêu cực, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường các yếu tố ảnh hưởng đến tâm trạng tích cực và hạn chế các yếu tố dẫn đến tâm trạng tiêu cực, góp phần cải thiện đời sống tinh thần cho phụ nữ đơn thân
Đi sâu nghiên cứu về đời sống tâm lý của NCT, năm 2003 và 2004, các tác giả Thiện Nhân và Phạm Đi cho rằng, đối với NCT, vấn đề quan tâm đến tâm linh, thờ cúng tổ tiên là quan trọng Ngoài ra, trong mối quan hệ với con cháu thì nhu cầu chăm sóc, yêu thương làm cho niềm vui của họ được nhân lên, tuổi thọ kéo dài NCT tự thấy mình già đi, sức khỏe giảm sút, cảm giác bị con cháu bỏ rơi, sống “thu mình” và xa cách người thân, hạn chế giao tiếp xã hội Chính vì vậy, NCT cảm thấy
Trang 105
sống những chuỗi ngày còn lại trống trải, cô đơn, vô dụng [14] [4]
Các nghiên cứu vào những năm 1997, 1999 ở Việt Nam cho thấy vấn đề hôn nhân và gia đình của NCT đang là vấn đề cần được quan tâm Cuộc điều tra dân số năm 1989 cho biết trong số 1,9 triệu cụ ông và 2,7 triệu cụ bà (từ 60 tuổi trở lên), có 282.307 cụ ông góa vợ và 1.414.077 cụ bà góa chồng Sự “ra đi” của một người làm cho người kia choáng váng, hụt hẫng Bởi vì họ có nhiều thời gian rỗi trong khi con cái đã trưởng thành và luôn bận rộn với những lo toan riêng; có phạm vi hoạt động hẹp, giao tiếp với bên ngoài ít nên khi phải sống một mình họ cảm thấy trống trải, buồn bã và cô đơn [1], [16]
2.2 Một số nghiên cứu về công tác xã hội với người cao tuổi
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa (2012) trong cuốn tài liệu “Công tác xã hội
trợ giúp người cao tuổi” đã trình bày một số nội dung về CTXH với NCT như: Các
khái niệm, hệ thống lý thuyết áp dụng, các chương trình, chính sách, một số mô hình trợ giúp NCT hiện nay Đây là kiến thức rất cần thiết để NVCTXH vận dụng thực hành trợ giúp NCT [7]
Tác giả Bảo Khang [9, 2009], cho rằng “già” chỉ là sự khủng hoảng tinh thần trong giá trị cuộc sống: mất đi sự tôn trọng, nói con cái không chỉ không nghe, không làm theo, mà còn không muốn cho nói, vì con cái nghĩ các cụ không còn minh mẫn nữa Chính sự thiếu tôn trọng NCT khiến họ cảm thấy tự ti với bạn bè, xóm giềng xung quanh Vì thế, NCT không còn muốn ra ngoài hay tham gia các hoạt động xã hội Đây là nguyên nhân làm cho NCT cảm thấy cô đơn buồn tủi vì không có ai để tâm sự, mình không được nói và không ai lắng nghe mình nói
Nghiên cứu của tác giả Bế Quỳnh Nga năm 2001 [13, tr.28-39] cho thấy những NCT thường thích tham gia hội NCT vì hội quan tâm đến các cụ Chính hội NCT là nơi các cụ gặp gỡ nhau có cơ hội chia sẻ và tâm sự tuổi già Thông qua hội NCT, các cụ cảm thấy mình được quan tâm hơn, được thăm hỏi khi ốm đau, được gặp nhau trao đổi tâm sự khi hội họp, điều này đã động viên các cụ rất nhiều
Tác giả Dương Chí Thiện (2001) đã khảo sát ở Hải Dương và Hưng Yên cho thấy 87,8% người cao tuổi trả lời là phải nhờ cậy con cháu giúp đỡ khi ốm đau và
Trang 116
chỉ có 4,6% trả lời là phải nhờ hàng xóm 82,5% là có con cháu thăm nom thường xuyên và 71% là các con tự biết Điều đó đã chỉ ra vai trò rất lớn của gia đình và mối quan hệ gia đình đối với việc chăm sóc sức khỏe cho NCT [18]
Tác giả Man Khánh Quỳnh, học viên Học viện Khoa học xã hội đã thực hiện
đề tài “Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” (2013) Kết quả nghiên cứu cho thấy NCT ở Huyện Văn Giang đã thiết lập một mạng lưới hỗ trợ khó khăn về vật chất và tinh thần trong cuộc sống NCT
Công trình nghiên cứu “Một số vấn để cơ bản về người cao tuổi ở Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020” của tác giả Lê Ngọc Lân - Viện nghiên cứu Gia đình và giới
- Viện Khoa học xã hội Việt Nam (Mã số CT 09-21) Đề tài đã đề cập tới một số nội dung như: khái niệm, các tiếp cận nghiên cứu về NCT, kinh nghiệm nghiên cứu NCT ở các nước và quan điểm của Đảng về NCT, một số vấn đề cơ bản về đời sống của NCT hiện nay Đề tài cũng là cơ sở để điều chỉnh chính sách nhằm phát huy hơn nữa vai trò của NCT và chăm sóc NCT tốt hơn trong giai đoạn 2011 - 2020
Theo tác phẩm “Tiếp cận văn hóa người cao tuổi” của tác giả Nguyễn Phương Lan (2000): “Người cao tuổi chuyển đổi từ môi trường hoạt động tích cực
sang môi trường nghỉ ngơi hoàn toàn Với thời gian rỗi qúa nhiều trong khi sức khỏe ngày càng kém đi đã khiến cho họ rơi vào trạng thái tâm lý cô lập với thế giới xung quanh, đòi hỏi cần có nhu cầu giao tiếp mãnh liệt Do kinh nghiệm sống của các cụ nhiều khi hơn lớp trẻ, được tiếp xúc với nhiều nên văn hóa mang tính truyền thống Khác với lớp trẻ, văn hóa của người cao tuổi không chỉ có đơn thuần là giao tiếp xã hội mà mang tính truyền thống với ba loại giao tiếp cơ bản: Giao tiếp với tự nhiên, với thế giới xung quanh; giao tiếp với thần linh, lực lượng siêu nhiên; giao tiếp với xã hội, con người” [11] Tác giả đã nhận định đối với các cụ trong đời
sống hiện nay thì nhu cầu giao tiếp xã hội, với con người ta là quan trọng nhất
Đề tài “Tìm hiểu mức độ trầm cảm ở người già sống trong trung tâm bảo trợ
xã hội thành phố Đà Nẵng” của hai sinh viên Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Thị Sánh
lớp 06CTL - Khoa Tâm lí - Giáo dục, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, cho thấy được mức độ trầm cảm và những yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm ở NCT sống trong
Trang 127
Trung tâm bảo trợ xã hội Đà Nẵng, giúp hiểu rõ và sâu sắc hơn về vấn đề trầm cảm
ở NCT sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội Từ đó có các biện pháp ngăn ngừa
và chữa trị phù hợp, các mô hình hỗ trợ có hiệu quả đối với NCT ở hoàn cảnh này
Nhìn chung, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đối tượng NCT nói chung,
ít nghiên cứu đi sâu về NCT cô đơn, đặc biệt là NCT cô đơn tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội Hiện nay, với nguồn kinh phí bảo trợ xã hội còn hạn hẹp, cơ sở vật chất của các trung tâm Bảo trợ xã hội còn khó khăn, thiếu thốn, bên cạnh đó phương pháp tổ chức hoạt động CTXH, tronng đó có CTXH nhóm tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội chưa đa dạng phong phú, nề nếp, chuyên sâu và tính chuyên nghiệp chưa cao Điều kiện sống của NCT cô đơn mới chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu, đời sống vật chất, tinh thần chưa cao, các cụ ít có cơ hội được tham gia các hoạt động nhóm, giao lưu, chia sẻ, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn trong cuộc sống Trong khi nhu cầu của các cụ tham gia các hoạt động nhóm tương đối cao Bởi vậy cần nhiều hơn nữa tính chuyên nghiệp trong tổ chức hoạt động CTXH, trong đó có phương pháp CTXH nhóm đối với NCT cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Chính vì thế, đề tài
nghiên cứu “Công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn từ thực tiễn Trung
tâm Bảo trợ xã hội số III, thành phố Hà Nội” là mối quan tâm thiết thực của tác giả
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận công tác xã hội nhóm đối với NCT cô đơn nói chung và thực tiễn CTXH nhóm đối với NCT cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội nói riêng Trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả CTXH nhóm đối với NCT cô đơn tại các Trung tâm Bảo trợ xã hội ở Việt Nam hiện
nay trong đó có Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
-Nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXH, CTXH nhóm, NCT cô đơn, các chính sách bảo trợ xã hội đối với NCT cô đơn sống tại Trung tâm Bảo trợ xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu
Trang 13-Đề xuất khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động chuyên môn CTXH nhóm đối với NCT cô đơn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội và các Trung tâm Bảo trợ xã hội ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm đối với NCT cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Người cao tuổi cô đơn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội
- Cán bộ nhân viên Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội
- Một số người thân (họ hàng, bạn bè…) của NCT cô đơn
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Các số liệu thu thập làm dữ liệu nghiên cứu là những số liệu từ năm 2012 đến nay
Phạm vi không gian: Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội
Giới hạn nội dung nghiên cứu:
- Chỉ tập trung vào nghiên cứu việc sử dụng loại hình nhóm can thiệp
- Chỉ nghiên cứu trong tổ chức các hoạt động nhóm đối với NCT cô đơn đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội
Giới hạn về khách thể nghiên cứu:
- Chỉ nghiên cứu NCT cô đơn được chăm sóc nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội (Không nghiên cứu NCT cô đơn tại cộng đồng)
Trang 149
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực tế về
NCT cô đơn, nhu cầu của NCT cô đơn trên cơ sở thực tiễn để đúc rút lý luận và những đề xuất thực tiễn, hoạch định chính sách về CTXH
Nghiên cứu vấn đề trong hệ thống: hệ thống lý thuyết liên quan trực tiếp, các
yếu tố liên quan: Dịch vụ trợ giúp, hệ thống chính sách, khả năng của NCT…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp phân tích tài liệu: Đọc và tìm hiểu những tài liệu liên quan
đến CTXH như: nhập môn CTXH, CTXH nhóm, kỹ năng CTXH nhóm của nhân viên CTXH, CTXH đối với nhóm yếu thế, kiểm huấn CTXH…Phân tích một số công trình nghiên cứu, những tài liệu, sách, báo, tạp chí,văn bản pháp luật đã công
bố, in ấn có liên quan đến đề tài; các tài liệu liên quan đến trợ giúp NCT cô đơn và các biện pháp can thiệp, giúp đỡ họ, đặc biệt trong tổ chức hoạt động nhóm…
-Phương pháp quan sát: Tri giác nghe, nhìn thực tế để thu thập thông tin về
các quá trình, hiện tượng xã hội trên cơ sở nghiên cứu của đề tài, mục đích của
nghiên cứu
-Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: là phương pháp phỏng vấn viết, được
thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng bảng hỏi để khảo sát một số nội dung về thực trạng sức khỏe, đời sống vật chất và tinh thần, những khó khăn và nhu cầu, nguyện vọng của 120
NCT tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội
-Phương pháp phỏng vấn sâu: Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi
đáp Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 10 NCT cô đơn để tìm hiểu sâu về quan điểm, chính kiến, thái độ, tình cảm, động cơ, các phản ứng của họ trong hoạt động nhóm; phỏng vấn sâu 03 CBNV Trung tâm bảo trợ xã hội III, TP
Hà Nội về sự cần thiết của thành lập các nhóm NCT cô đơn, về những khó khăn, thuận lợi khi thành lập, tổ chức hoạt động nhóm Bên cạnh đó, tác giả phỏng vấn một vài người thân của NCT cô đơn để nắm bắt thêm thông tin về NCT sống ở
Trang 1510
Trung tâm Trong luận văn, tác giả chọn đối tượng phỏng vấn ngẫu nhiên, đơn giản
-Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Là phương pháp thu thập thông tin
được thực hiện bởi những quan sát trong điều kiện gây biến đổi đối tượng khảo sát
và môi trường xung quanh đối tượng khảo sát một cách có chủ định Vận dụng phương pháp này, tác giả ứng dụng CTXH nhóm vào thực tiễn thông qua thành lập một nhóm NCT cô đơn và tổ chức thực hiện hoạt động nhóm thực tế tại Trung tâm
-Phương pháp thảo luận nhóm: Tác giả tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm: một
nhóm nhiệm vụ gồm 3 nhân viên chăm sóc NCT cô đơn và một nhóm thân chủ gồm
8 cụ là NCT cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội nhằm thu thập các
thông tin về việc thành lập, tổ chức hoạt động nhóm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu góp phần bổ sung và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về CTXH nhóm nói chung, CTXH nhóm đối với NCT cô đơn nói riêng, như: khái niệm, mục đích của CTXH đối với NCT cô đơn, tiến trình CTXH nhóm với NCT; vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH nhóm đối với NCT cô đơn Thông qua nghiên cứu này, có thể nhìn nhận về CTXH nhóm đối với NCT cô đơn từ góc độ khoa học, mô tả, đánh giá vấn đề bằng những lý thuyết khoa học liên quan ngành CTXH Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể là nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu về sau trong lĩnh vực này
6.2.Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu thực trạng CTXH nhóm đối với NCT cô đơn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội, đặc biệt, kết quả thử nghiệm ứng dụng phương pháp CTXH nhóm đối với NCT cô đơn tại Trung tâm đã góp phần khẳng định CTXH nhóm đối với NCT cô đơn là hoạt động mang tính chuyên nghiệp, đòi hỏi NVCTXH phải có những kiến thức nhất định về nhóm, về NCT cô đơn; có các
kỹ năng làm việc nhóm mới có thể giúp NCT cô đơn giải quyết các vấn đề của bản thân để sống vui, sống khỏe
Những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của CTXH nhóm đối với NCT
Trang 1611
cô đơn mà đề tài đề xuất trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn từ Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội là những gợi ý để lãnh đạo các trung tâm chăm sóc, nuôi dưỡng NCT nâng cao tính chuyên nghiệp nghề CTXH trong các hoạt động
chăm sóc nuôi dưỡng NCT tại đơn vị mình
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn còn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi
cô đơn
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội
Chương 3: Ứng dụng phương pháp công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi
cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội
Trang 1712
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN
1.1 Tổng quan về người cao tuổi và người cao tuổi cô đơn
1.1.1 Khái niệm
- Khái niệm người cao tuổi
Theo quan điểm Y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể Theo quan điểm của Công tác xã hội: NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động, thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của CTXH Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): Người cao tuổi là người đủ 70 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác
nhau về lứa tuổi và có các biểu hiện về già của mỗi nước khác nhau
Theo Pháp luật Việt Nam tại điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009 quy định:
Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên
Đặc điểm tâm lý cuả NCT
Về trí tuệ: Ở NCT, tính ham hiểu biết vẫn còn, chẳng hạn như họ hứng thú theo dõi tin tức, thời sự, khoa học kỹ thuật, những trào lưu mới trong xã hội Song
về mặt trí nhớ, tư duy có sự thay đổi rõ rệt:
Về trí nhớ: trí nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài hạn thì vẫn ở mức độ tương đối cao Do dó, NCT có tính hay quên, họ có thể quên ngay điều họ vừa thấy, hoặc quên những điều mình vừa làm Nhưng những kỷ niệm cũ có thể nhớ tương đối rõ
Vì thế họ thường sống nặng về nội tâm, nhớ về quá khứ, hoài cổ
Về tư duy: Hoạt động tư duy để ra quyết định chậm, nhưng do có nhiều kinh nghiệm sống, sự trải nghiệm nên quyết định của họ thường chín chắn hơn
Về tính cách: Thay đổi tính cách, họ thường khó tính hơn, kỹ tính, dễ cáu gắt, tủi thân, mủi lòng Nhiều người bị gọi là “lẩm cẩm” vì hay lo lắng chuyện không đâu, quá lo xa, quá cẩn thận, vì họ bị lạc hậu so với cuộc sống của giới trẻ
Trang 1813
Đặc điểm thể chất của NCT
Hiện tượng lão hóa xuất hiện, cường độ trao đổi chất giảm Hệ hô hấp, hệ
tuần hoàn kém hơn Độ nhạy cảm giác quan kém (mắt mờ, tai nghễnh ngãng, trí nhớ giảm) Khả năng chống đỡ tác nhân ngoại cảnh kém, khả năng tình dục giảm
Đời sống xã hội của NCT
NCT đã kết thúc giai đoạn lao động chính thức Nhiều người sau khi nghỉ
hưu vẫn tham gia lao động dưới nhiều hình thức Một số người tiếp tục tạo thu nhập
bằng nghề nghiệp cũ, hoặc nhận công việc mới phù hợp với sức lực, hoặc đảm đương công việc nội trợ gia đình, quản lý nhà cửa, trông nom các cháu Những suy nghĩ, việc làm của NCT có xu hướng không nhằm lợi ích kinh tế mà hướng vào các giá trị xã hội nhằm khẳng định vị thế, sự hữu ích, uy tín với con cháu, cộng đồng
Họ thường muốn truyền lại cho con cháu di sản phong phú về vật chất và tinh thần
Họ muốn thế hệ trẻ tôn trọng, ghi nhận những gì họ cống hiến cho gia đình, xã hội
Vai trò, chức năng của NCT được điều chỉnh lại phù hợp với sức khỏe, tuổi tác Trong gia đình, NCT vừa muốn sống độc lập không phụ thuộc con cháu, song
họ đều muốn gần gũi con cháu để tránh sự cô đơn, để được chăm nom lúc ốm đau Trong mối quan hệ gia đình, họ hàng, láng giềng, quan hệ đồng niên trong các hội NCT, họ thường lấy tình nghĩa làm trọng NCT tự cảm thấy mình đang mất dần các
uy thế, quyền lực Quan hệ xã hội có xu hướng thu hẹp, quan hệ giao tiếp xã hội thường giới hạn ở các nhóm nhỏ (hội NCT, hội dưỡng sinh, câu lạc bộ, tham gia lễ hội, chùa chiền…) Nhiều người hay nghĩ về quá khứ, hoài cổ, nuối tiếc về những
điều mình không làm được hoặc chưa kịp làm lúc tuổi thanh xuân
- Khái niệm người cao tuổi cô đơn
Theo Nghị định số 07 2000 NĐ-CP ngày 09 03 2000 của Thủ tướng chính
phủ quy định: Người cao tuổi cô đơn là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân,
người cao tuổi còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân
thích để nương tựa, không có nguồn thu nhập
Hiện nay, tại Khoản 5, Điều 5, Nghị định 136 2013 NĐ-CP ngày 21 10 2013
của Thủ tướng Chính phủ, NCT cô đơn được nhận trợ cấp xã hội hàng tháng của
Trang 1914
Nhà nước thường xuyên tại cộng đồng thuộc một trong các trường hợp sau:
a/ Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng;
b Người từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện quy định tại Điểm a khoản này, không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng;
c Người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng
Tại Điều 25, Khoản 1, Điểm b, Nghị định 136 2013 NĐ-CP cũng quy định đối tượng được chăm sóc nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội: Người cao tuổi thuộc diện được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội theo quy định của pháp luật về người cao tuổi [3, 2013]
Có thể hiểu NCT cô đơn được chăm sóc nuôi dưỡng trong Trung tâm Bảo trợ xã hội là NCT thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, được tiếp nhận vào Trung tâm Bảo trợ xã hội hưởng chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tập trung
NCT cô đơn trong đề tài này là những NCT được chăm sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội theo quy định trong Nghị định 136 2013 NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ
1.1.2 Vai trò của người cao tuổi
Vai trò là người trụ cột trong gia đình; vai trò là người lao động, góp phần tạo thu nhập cho gia đình; vai trò là người chăm sóc, giáo dục con cháu; vai trò là người dung hòa các mối quan hệ và bảo tồn các giá trị văn hóa gia đình; vai trò
nòng cốt trong các phong trào, các cuộc vận động ở địa phương [5, 2014]
1.1.3 Đặc điểm của người cao tuổi cô đơn
Đặc tâm lý, thể chất cuả NCT cô đơn
Người cao tuổi cô đơn cũng có những đặc điểm tâm lý, thể chất như những
NCT khác, bên cạnh đó họ còn có một số đặc điểm riêng sau:
Trang 20họ lấy đó là niềm an ủi lúc tuổi “xế chiều”, coi trung tâm bảo trợ xã hội là gia đình,
an phận sống nốt phần đời còn lại Tuy nhiên, sự thiếu thốn tình cảm luôn là nỗi buồn len lỏi trong lòng các cụ, nặng nề đầy suy tư, hiu hắt nỗi cô đơn, mất mát Họ thường cảm thấy cuộc đời thật bất hạnh, những NCT khác được sống quây quần bên con cháu, hưởng phúc lộc tuổi già, nhưng họ có hoàn cảnh éo le, cô đơn nên họ mặc cảm, tự ti, tủi thân, trống trải, nhiều người sống u uất, khó tính, tâm lý thất thường
Hầu hết NCT cô đơn có sức khỏe yếu, bởi họ phải trải qua cuộc sống khó khăn về kinh tế, ít có điều kiện được khám chữa bệnh Khi vào Trung tâm bảo trợ
xã hội, sức khỏe họ thường yếu, nhiều người mắc bệnh mãn tính từ trước
Đời sống xã hội cuả NCT cô đơn
Được vào sống tại Trung tâm bảo trợ xã hội, NCT cô đơn cảm thấy có một chỗ dựa ổn định, lâu dài, yên tâm đến cuối đời Nhưng hầu hết họ thường mặc cảm,
tự ti, bởi thế sống khép mình, ngại tham gia các hoạt động tập thể, ngại thể hiện bản
thân, ít giao lưu, không cởi mở, không hòa đồng với tập thể, nhiều người bất mãn
1.1.4 Những khó khăn và nhu cầu cơ bản của người cao tuổi cô đơn
- Những khó khăn chính của người cao tuổi cô đơn
Khó khăn về nơi ở: Hầu hết NCT cô đơn không có nhà cửa, nơi ở ổn định, họ thường phải ở nhờ hoặc ở lều tạm, lang thang “màn trời, chiếu đất”
Khó khăn về thu nhập, kiếm sống: NCT cô đơn thường thất nghiệp hoặc không có nghề nghiệp ổn định, chủ yếu là lao động chân tay, thu nhập thấp Nhiều người làm thuê, nhặt rác, xin ăn qua ngày hoặc sống nhờ sự chu cấp của người thân
Khó khăn về sức khỏe thể chất, tinh thần: NCT cô đơn thường có sức khỏe yếu, ít được chăm sóc sức khỏe y tế, bởi vậy có nhiều bệnh mãn tính Sức khỏe tinh thần bị ảnh hưởng từ những khó khăn do hoàn cảnh bản thân, thường tự ti, trầm lắng, buồn, cô đơn, nhiều người u uất, trầm cảm, bất mãn
Trang 2116
Khó khăn trong tham gia các hoạt động xã hội: NCT cô đơn ít có điều kiện tham gia các hoạt động xã hội, bên cạnh đó, do mặc cảm, sống khép mình nên họ thường ngại giao lưu, tham gia các hoạt động tập thể
- Nhu cầu cơ bản của người cao tuổi cô đơn
Nhu cầu về nơi ở: Nhiều người chỉ cần có chỗ ở ổn định, không phải sống cảnh lang thang, “Gầm cầu, góc chợ” Nhu cầu được có cơm ăn, áo mặc thường xuyên hàng ngày: Những điều kiện thiết yếu phục vụ cho con người sinh tồn Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe y tế: được khám, tư vấn và điều trị bệnh Nhu cầu được động viên, chia sẻ về tinh thần, tâm lý: giúp họ vượt qua sự mặc cảm, tự ti, nhìn vào nỗi đau, mất mát nhẹ nhàng hơn và sống vui vẻ, thanh thản hơn Nhu cầu được cảm thông, tôn trọng: Tuy hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh nhưng mỗi con người đều có lòng tự trọng, bởi vậy NCT cô đơn cần được cảm thông, tôn trọng như những NCT khác trong xã hội Nhu cầu được tham gia các hoạt động xã hội: Tham gia các hoạt động xã hội giúp NCT cô đơn hòa nhập vào cộng đồng xã hội, không bị tách rời cộng đồng, họ cảm thấy mình không cô đơn, lẻ loi và vẫn có ích cho xã hội
1.2 Một số vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn
1.2.1 Khái niệm, các loại nhóm người cao tuổi cô đơn
- Khái niệm nhóm
Theo quan điểm giải thích cổ điển, “Một nhóm được định nghĩa như là hai hay nhiều người có tương tác với một người khác theo cách mỗi một người đều gây ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của mỗi người khác” (Từ điển xã hội học, tr.299)
- Khái niệm nhóm xã hội
Theo các nhà xã hội học: “Nhóm xã hội là một tập hợp của những cá nhân được gắn kết với nhau bởi những mục đích nhất định Những cá nhân có những hoạt động chung với nhau trên cơ sở cùng chia sẻ và giúp đỡ nhau nhằm đạt được những mục đích cho mọi thành viên” (Từ điển Xã hội học phương Tây hiện đại, 1990)
- Khái niệm nhóm người cao tuổi cô đơn
Có thể hiểu, nhóm người cao tuổi cô đơn là một tập hợp NCT cô đơn có từ
hai người trở lên, giữa họ có sự tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình thực
Trang 2217
hiện hoạt động chung nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của các thành viên nhóm Các
thành viên nhóm được điều chỉnh, tuân theo các quy tắc, thiết chế nhất định
- Một số loại nhóm người cao tuổi cô đơn
Chúng ta có thể phân chia các loại hình nhóm NCT cô đơn khác nhau dựa trên mục đích trị liệu, nhu cầu của nhóm, nội dung sinh hoạt nhóm…Cùng một nhóm, nhưng tiếp cận ở góc độ khác nhau sẽ ra loại hình nhóm khác nhau
Nhóm trị liệu: Nhằm giúp NCT cô đơn trong nhóm giải tỏa cảm xúc tiêu cực,
vượt qua khủng hoảng, tổn thương tâm lý Từ đó giúp các cụ ổn định tâm lý, có suy nghĩ, nhận thức và hành vi tích cực
Nhóm giải trí: Giúp NCT cô đơn được vui chơi, giải tỏa tâm lý Giúp các cụ
sống đoàn kết, quan tâm chia sẻ và giúp đời sống tinh thần phong phú hơn
Nhóm giáo dục: Nhằm trang bị cho NCT cô đơn kiến thức về các lĩnh vực
mà các cụ quan tâm, góp phần nâng cao nhận thức, đặc biệt là các kỹ năng tự bảo
vệ, chăm sóc bản thân, nâng cao sức khỏe NCT
Nhóm tự giúp: Tạo cơ hội cho NCT cô đơn tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng
vượt qua khó khăn trong cuộc sống Cùng hoàn cảnh và đồng cảm giúp các cụ gần gũi, cảm thông, chia sẻ với nhau nhiều hơn, hiệu quả trợ giúp cao hơn
1.2.2 Khái niệm, mục đích, chức năng của CTXH nhóm với NCT cô đơn
1.2.2.1 Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn ứng dụng trong hệ thống an sinh xã hội ở nhiều quốc gia từ gần một thế kỷ nay Tùy vào thời gian, không gian văn hóa, mỗi quốc gia có các định nghĩa khác nhau về CTXH
Khái niệm 1: Theo Hiệp hội nhân viên xã hội quốc gia Mỹ (NASW): CTXH
là hoạt động chuyên nghiệp nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng
có hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động xã hội, để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích cá nhân [15, tr.25]
Khái niệm 2: Theo Hiệp hội nhân viên CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011): Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn
Trang 2318
đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền, giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống
xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống [19, tr.4]
CTXH là một nghề thúc đẩy xã hội thay đổi, bằng cách giải quyết vấn đề trong mối quan hệ giữa người với người, thúc đẩy trao quyền, giải phóng con người Mục đích cuối cùng của CTXH là đảm bảo hạnh phúc cho mọi người Người làm CTXH sử dụng lý thuyết hành vi con người, các hệ thống xã hội để can thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác với môi trường sống của mình [8, tr.2]
Khái niệm 3: Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH: “Công tác xã hội là một ngành khoa học xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý
xã hội của mình có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người”, là “Một nghệ thuật, một khoa học, một nghề giúp người dân giải quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng”
Khái niệm 4: Quan điểm của Philippin: CTXH là một nghề chuyên môn, thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân và môi trường vì nền an sinh của cá nhân và toàn xã hội [19, tr.57]
Khái niệm 5: Tác giả Bùi Thị Xuân Mai định nghĩa: “Công tác xã hội là một
nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [10, tr.63]
CTXH dưới nhiều hình thức đa dạng, nhằm vào vô số các tương tác phức hợp giữa con người và môi trường của họ Sứ mạng của nó là tạo năng lực giúp người dân phát triển tối đa tiềm năng, làm phong phú đời sống và ngăn ngừa các trục trặc CTXH chuyên nghiệp tập trung vào quá trình giải quyết các vấn đề và sự thay đổi Do đó, NVCTXH là tác nhân đổi mới trong xã hội và đời sống các cá nhân, gia đình, cộng đồng CTXH là một hệ thống liên kết các giá trị, lý thuyết và
Trang 2419
thực hành Có thể nói, CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo
ra sự thay đổi và phát triển xã hội Bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề
xã hội, vào quá trình tăng cường năng lực giải phóng tiềm năng ở mỗi cá nhân, nhóm, cộng đồng, CTXH giúp con người phát triển hài hòa, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho con người Mục tiêu cơ bản của CTXH không chỉ nhằm vào việc trợ giúp những người cần được giúp đỡ mà là vì lợi ích, sự ổn định, tiến bộ của toàn xã hội
1.2.2.2 Khái niệm công tác xã hội đối với người cao tuổi cô đơn
- Khái niệm công tác xã hội đối với người cao tuổi
Theo tác giả Bùi Thị Mai Đông (2014): “Công tác xã hội với người cao tuổi
là quá trình nhân viên xã hội sử dụng những kiến thức chuyên ngành, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp vào trong quá trình trợ giúp những người cao tuổi có vấn đề hoặc gia đình người cao tuổi, cộng đồng người cao tuổi đang gặp khó khăn nhằm nâng cao năng lực, tăng cường chức năng xã hội của họ trong chăm sóc người cao tuổi, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giải quyết vấn đề cá nhân, xã hội; góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho cộng đồng người cao tuổi” [5, tr.44]
- Khái niệm công tác xã hội đối với người cao tuổi cô đơn
Có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một định nghĩa cụ thể nào cho lĩnh vực CTXH đối với NCT cô đơn Tuy nhiên, dựa vào mục đích, mục tiêu chung của CTXH và từ việc phân tích các khái niệm công cụ nghiên cứu của đề tài đã trình
bày ở trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm CTXH đối với NCT cô đơn như sau:
“Công tác xã hội đối với người cao tuổi cô đơn là hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp người cao tuổi cô đơn nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu cơ bản về vật chất và tinh thần, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ tăng cường trợ giúp thực hiện quyền của người cao tuổi, góp phần đảm bảo
an sinh xã hội”
1.2.2.3 Khái niệm công tác xã hội nhóm
Có nhiều cách định nghĩa về công tác xã hội nhóm khác nhau:
Trong Từ điển CTXH của Barker (1995, tr.85), CTXH nhóm được định nghĩa là:
Trang 2520
“Một định hướng và phương pháp can thiệp CTXH, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Đối lập với trị liệu tâm lý nhóm, mục tiêu CTXH nhóm không chỉ là trị liệu những vấn đề tâm lý, tình cảm, mà còn là trao đổi thông tin, phát triển kỹ năng xã hội, lao động, thay đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả Các kỹ thuật can thiệp đều được đưa vào quá trình CTXH nhóm nhưng không hạn chế kiểm soát những trao đổi về trị liệu” [17, tr.85]
Khái niệm trên có đưa ra sự khác biệt giữa CTXH nhóm và trị liệu tâm lý nhóm ở việc “phát triển các kỹ năng xã hội vào lao động, thay đổi định hướng giá trị và làm chuyển biến hành vi chống lại xã hội” Để kiểm chứng cho khác biệt trên, chúng ta tìm hiểu khái niệm về trị liệu tâm lý, trong đó bao gồm cả trị liệu tâm lý nhóm Từ điển CTXH của Barker (1995) nêu: “Trị liệu tâm lý là một hoạt động tương tác đặc biệt và chính thức giữa một nhân viên xã hội hay các chuyên môn về sức khỏe tâm thần khác với thân chủ cá nhân, hai người, gia đình hay nhóm, ở đó mối quan hệ trị được thiết lập để giải quyết những biểu hiện của rối nhiễu tâm thần căng thẳng tâm lý xã hội, các vấn đề quan hệ và những khó khăn gặp phải trong môi trường xã hội” Như vậy có thể thấy sự khác biệt lớn trong trị liệu tâm lý nhóm và CTXH nhóm là ở những hoạt động mang tính chất chuyên sâu hơn và thường được các nhà tâm lý học hay tâm thần học sử dụng trong quá trình hỗ trợ, trị liệu thân chủ
có những tổn thương sức khỏe tâm thần và rối nhiễu tâm lý nghiêm trọng hơn [17]
Tác giả Toseland và Rivas (1998) cho rằng có nhiều cách tiếp cận với CTXH nhóm và mỗi cách có điểm mạnh và ứng dụng thực hành cụ thể Họ đưa ra định nghĩa bao quát được bản chất của CTXH nhóm, tổng hợp các điểm riêng biệt của các cách tiếp cận CTXH nhóm: “Công tác xã hội nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu về tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ” [17, tr.12]
Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan (2008) cho rằng: CTXH nhóm là một phương
Trang 2621
pháp can thiệp chính của CTXH Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn Trong hoạt động CTXH nhóm, một nhóm thân chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối người trưởng nhóm (có thể là nhân viên xã hội, có thể là thành viên của nhóm) và đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên xã hội (trong trường hợp trưởng nhóm là thành viên của nhóm) [12, tr.28-29]
Tác giả Hà Thị Thư (2012) cho rằng: “Công tác xã hội nhóm là một phương
pháp của công tác xã hội nhằm trợ giúp các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội
và môi trường hoạt động tương tác, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung khi tham gia vào các hoạt động nhóm để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên” [19, tr.61-62]
Nhóm trong CTXH là những thành viên cùng có hoàn cảnh khó khăn nhất định, chung vấn đề và họ cùng có chung nhu cầu, như nhóm người có HIV AIDS, nhóm phụ nữ bị bạo hành, nhóm trẻ em lang thang hay nhóm trẻ bị nhiễm và ảnh hưởng bởi HIV AIDS, nhóm phụ nữ bị buôn bán… Vì thế CTXH viên liên kết họ lại với nhau vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống Một trong những yếu tố quan trọng của CTXH nhóm đó chính là nơi sinh hoạt nhóm Ở nơi này các hoạt động nhóm được thực hiện giúp cho các thành viên nhóm được thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình Thông qua môi trường sinh hoạt nhóm, các thành viên nhóm được đáp ứng nhu cầu giao tiếp nhóm Nhiệm vụ của CTXH viên trong CTXH nhóm là tạo môi trường thuận lợi cho các thành viên nhóm có cơ hội được thể hiện tối đa tiềm năng phát triển năng lực, được bộc lộ cảm xúc và diễn tả cảm nghĩ, suy
tư của mình Giúp họ thay đổi thái độ, hành vi, cảm xúc của chính mình và hiểu được người khác Giúp họ tăng cường sự gắn bó, chấp nhận nhau, tạo sự tương tác giữa các thành viên, không khí thoải mái để thực hiện mục đích nhóm đặt ra Để thực hiện được nhiệm vụ của mình trong hoạt động CTXH nhóm thì CTXH viên
Trang 2722
cần phải có các kỹ năng cơ bản của CTXH nhóm đó là kỹ năng tổ chức giao tiếp nhóm, kỹ năng thúc đẩy tiến trình nhóm và kỹ năng điều phối nhóm [19, tr.62-63]
Mục tiêu của CTXH nhóm: Đánh giá cá nhân; Duy trì, hỗ trợ, thay đổi cá
nhân; Cung cấp thông tin, giáo dục; giải trí; Môi trường trung gian giữa cá nhân và
hệ thống xã hội; Thay đổi nhóm và hỗ trợ; Thay đổi môi trường; Thay đổi xã hội
Các đặc điểm của CTXH nhóm: Hoạt động nhóm là nơi thỏa mãn nhu cầu
của cá nhân; Đối tượng tác động là mối quan hệ tương tác trong nhóm; nhóm tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề; ảnh hưởng của nhóm giúp thay đổi hành vi, thái độ của cá nhân; nhóm là môi trường bộc lộ; các yếu tố cần quan tâm trong CTXH nhóm: Xác định đối tượng; nơi sinh hoạt, bối cảnh sinh hoạt; nhu cầu cần được đáp ứng; mục tiêu cần đạt được; giá trị (sinh hoạt nhóm dựa trên quan điểm gì?); Lý thuyết (sử dụng lý thuyết nào?); Phương cách thực hành
1.2.2.4 Khái niệm công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn
Từ việc phân tích các khái niệm công cụ nghiên cứu của đề tài đã trình bày
ở trên, trong luận văn này, tác giả đưa ra khái niệm công cụ công tác xã hội nhóm
đối với người cao tuổi cô đơn như sau: “Công tác xã hội nhóm đối với người cao
tuổi cô đơn là phương pháp của công tác xã hội nhằm trợ giúp những người cao tuổi cô đơn trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường hoạt động tương tác, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung khi tham gia vào các hoạt động của nhóm để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục tiêu của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn về tâm lý, đáp ứng nhu cầu cần trợ giúp trong đời sống của người cao tuổi cô đơn”
1.2.2.5 Mục đích của công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn
Mục đích của CTXH nhóm đối với NCT cô đơn: Tạo điều kiện thuận lợi cho NCT cô đơn là thành viên nhóm có môi trường tương tác với các thành viên khác trong nhóm, cùng nhau chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, động viên về tâm lý, tinh thần, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, đặc biệt những lúc ốm đau hay gặp vấn đề khủng hoảng tâm lý Cùng nhau chia sẻ những mối quan tâm, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm sống, đặc biệt những kiến thức về sức khỏe NCT, hướng dẫn, giúp đỡ
Trang 2823
nhau tham gia các hoạt động tập thể (lao động, giải trí, thể dục, văn nghệ…), góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, “Sống vui, sống khỏe, sống có ích”
1.2.2.6 Chức năng công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn
Xuất phát từ khái niệm và mục đích của CTXH nhóm, nhận thấy việc vận dụng CTXH nhóm đối với NCT cô đơn rất phù hợp và tạo ra hiệu quả cao trong hỗ trợ Với tâm lý của NCT cô đơn thường sống khép mình, ngại giao tiếp, ít tham gia các hoạt động về thể chất và tinh thần, đời sống của các cụ thường buồn tẻ, trầm lắng CTXH nhóm sẽ giúp các cụ có cơ hội tham gia các hoạt động nhóm, cùng chia
sẻ, tâm sự, giải tỏa khó khăn về tâm lý hoặc có thể tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động tinh thần khác, tương thân tương ái, trợ giúp nhau vượt qua khó khăn Các hoạt động nhóm sẽ giúp đời sống của các cụ phong phú, đa dạng hơn, góp phần làm vơi đi sự cô đơn mất mát của các cụ
NVCTXH đóng vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ CTXH nhóm NVCTXH rất cần có kỹ năng CTXH nhóm để hỗ trợ tổ chức hoạt động nhóm một cách có hiệu quả Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng CTXH nhóm với tư cách là một phương pháp hỗ trợ can thiệp tạo điều kiện cho NCT cô đơn tham gia hoạt động nhóm một cách nề nếp và với tinh thần tự giác cao, cùng nhau xây dựng và duy trì hoạt động nhóm thường xuyên, ngày một phong phú, đa dạng và hiệu quả Trong quá trình làm việc nhóm, tác giả lấy ý kiến của các thành viên, tạo điều kiện cho các thành viên nhóm bộc lộ suy nghĩ, quan điểm, cùng chia sẻ với nhau về các vấn đề quan tâm chung của nhóm, cũng như vấn đề của từng cá nhân Đồng thời, tác giả sử dụng các hoạt động trong vận hành nhóm để tạo không khí hài hòa, gắn kết trong nhóm, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ hoạt động nhóm
1.2.3 Tiến trình công tác xã hội nhóm với người cao tuổi cô đơn
CTXH nhóm đối với NCT cô đơn được thực hiện theo 4 giai đoạn:
(1) Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm:
- Xác định mục đích hỗ trợ nhóm
- Đánh giá khả năng thành lập nhóm: đánh giá khả năng tài trợ hoạt động nhóm;
- Khả năng tham gia của các thành viên; khả năng các nguồn lực khác
Trang 2924
- Thành lập nhóm: Tuyển chọn thành viên nhóm; quy mô thành viên nhóm
- Định hướng cho các thành viên nhóm; chuẩn bị môi trường; Viết đề xuất nhóm (2) Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động:
Giới thiệu các thành viên trong nhóm; làm rõ mục đích hỗ trợ nhóm của NVCTXH; xây dựng mục tiêu nhóm; thảo luận đưa ra nguyên tắc bảo mật thông tin nhóm; định hướng phát triển của nhóm; thỏa thuận các công việc của nhóm; dự đoán về khó khăn, cản trở
(3) Giai đoạn can thiệp/thực hiện nhiệm vụ:
- Chuẩn bị các cuộc họp nhóm; Tổ chức các bước trị liệu nhóm có kế hoạch; Giám sát đánh giá tiến bộ của nhóm
-Thu hút sự tham gia, tăng cường năng lực các thành viên nhóm; hỗ trợ các thành viên nhóm đạt được mục tiêu; Làm việc với các thành viên đối kháng
(4) Giai đoạn lượng giá, kết thúc:
- Đánh giá kết quả hoạt động nhóm, đánh giá mặt mạnh, mặt hạn chế
- Giải quyết những cảm xúc của các thành viên khi kết thúc nhóm; giảm sự phụ thuộc vào nhóm; duy trì, phát huy những lỗ lực thay đổi; lập kế hoạch hành động cho tương lai, chuyển giao, trao quyền
1.2.4 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn
Vai trò là người tìm hiểu và lập kế hoạch thành lập nhóm; Vai trò là người điều phối các hoạt động nhóm; Vai trò là người theo dõi, giám sát hoạt động nhóm; Vai trò là người kết nối các nguồn lực hỗ trợ hoạt động nhóm NCT cô đơn
1.2.5 Một số lý thuyết áp dụng trong công tác xã hội nhóm với người cao tuổi cô đơn
- Thuyết nhu cầu: Theo Abraham Maslow, hầu hết mọi người trong đó có NCT cô đơn đều có nhu cầu: Nhu cầu sinh lý (ăn uống, ngủ, hít thở…); Nhu cầu an toàn (muốn có cảm giác an toàn, ổn định); Nhu cầu xã hội (muốn yêu thương, được yêu thương, muốn tham gia hoạt động xã hội); Nhu cầu tự trọng (muốn là người có ích, được tôn trọng); Nhu cầu tự khẳng định (muốn làm điều mình thích, mơ ước)
Trang 3025
Vận dụng thuyết này, tác giả tiến hành nghiên cứu các nhu cầu của NCT cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội, đặc biệt là nhu cầu về đời sống tinh thần NCT cô đơn tuy cơ bản đã được đáp ứng nhu cầu ăn uống, chỗ ở song phần lớn họ cảm thấy cô đơn, phiền muộn, mặc cảm và đời sống tinh thần trầm lắng Bởi thế nhu cầu cần trợ giúp về tâm lý, tinh thần là rất cần thiết Nhu cầu được tham gia các hoạt động nhóm để có cơ hội, môi trường tương tác chia sẻ, giúp nhau vượt qua khó khăn trong cuộc sống là rất cần thiết Bên cạnh đó, NCT cô đơn cũng muốn được làm những điều mình mong muốn, yêu thích, phát huy sở trường mà do hoàn cảnh khiến họ không có cơ hội được thể hiện Tìm hiểu được những nhu cầu
đó, tác giả gợi mở, vận động, các cụ tham gia hoạt động nhóm với hiệu quả cao
- Lý thuyết hệ thống sinh thái của Ludwig Von Bertalanffy: Những hệ thống thực tế là mở và có sự tương tác lẫn nhau với môi trường và chúng có thể thêm các thuộc tính, định tính mới thông qua biểu hiện mới và kết quả của sự tiến hóa liên tục Hệ thống là sự kết hợp các yếu tố có tính trao đổi, tương tác lẫn nhau và những ranh giới dễ nhận biết Hệ thống có thể mang tính vật chất, cơ học, sinh học và xã hội hoặc kết hợp những yếu tố này
Vận dụng thuyết này, có thể nhận thấy NCT cô đơn là tiểu hệ thống, nằm trong mối quan hệ với hệ thống cấp trung mô là Trung tâm Bảo trợ xã hội Hệ thống trung mô lại nằm trong hệ thống vĩ mô là cơ quan chủ quản Sở Lao động Thương binh và Xã hội, các cấp có thẩm quyền của nhà nước Đối với CTXH nhóm đối với NCT cô đơn, NCT cô đơn (thành viên nhóm) là tiểu hệ thống trong hệ thống trung
mô là nhóm, nhóm lại nằm trong hệ thống cấp cao hơn là Trung tâm Bảo trợ xã hội Hiệu quả của CTXH nhóm phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong hệ thống, như sự tương tác giữa các nhóm viên với nhau; tương tác giữa nhóm viên với NVCTXH, CBNV;
Sự tương tác, phối hợp và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Trung tâm và các nguồn lực hỗ trợ khác trong khuôn khổ chính sách về CTXH có liên quan
- Thuyết quyền con người: Điều 1 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) đã được Liên hiệp quốc thông qua vào năm 1948 đề cập đến các trụ cột chính của hệ thống quyền con người, như: tự do, bình đẳng và đoàn kết Tự do
Trang 3126
tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, bảo đảm sự bình đẳng, như bảo vệ quyền bình đẳng chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử Sự đoàn kết thể hiện trong các quyền kinh tế và xã hội, như quyền được hưởng an sinh xã hội, được trả công, có một mức sống đủ, quyền về chăm sóc sức khoẻ và tiếp cận giáo dục
Vận dụng thuyết này vào CTXH nhóm đối với NCT cô đơn, tác giả chú trọng hướng tới đảm bảo quyền của người cao tuổi và quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được hưởng an sinh xã hội đối với NCT cô đơn Đồng thời tác giả sử dụng cách tiếp cận dựa trên quyền, điều này giúp NCT cô đơn cảm thấy được tôn trọng và chủ động tham gia các hoạt động nhóm một cách tích cực
1.3 Luật pháp, chính sách về người cao tuổi và các mô hình hỗ trợ người cao tuổi cô đơn
1.3.1 Luật pháp, chính sách liên
1.3.2 quan đến người cao tuổi, người cao tuổi cô đơn
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến NCT nói chung, NCT cô đơn nói riêng Có nhiều văn bản luật và dưới luật quy định, hướng dẫn hỗ trợ NCT
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Điều 64
quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính
trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ…” Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2000, tại Khoản 2, Điều 36 quy định: “Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi
dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật” Luật bảo vệ và chăm
sóc sức khỏe nhân dân, chương “Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe NCT”, trong đó,
Khoản 1, Điều 41 của Luật quy định: “Người cao tuổi… được ưu tiên khám bệnh,
chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khỏe của mình” Luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2002, Điều 124 : “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khỏe người lao động cao tuổi, không được sử dụng người cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm….ảnh hưởng đến sức khỏe” Điều 151 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Tội ngược đãi
và hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình”
Chỉ thị 59/CT-TW, văn kiện Đại hội Đảng, thông báo số 12-TB TW Ban Bí
Trang 3227
thư TW Đảng khẳng định: NCT là nền tảng gia đình, tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội Chăm sóc, phát huy tốt vai trò NCT thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta, đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết, vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng: “Vận động toàn dân tham gia các
hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng, người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội Chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của người già, nhất là người già cô đơn, không nơi nương tựa”
Chỉ thị 117/CP, 1996 của Thủ tướng chính phủ về chăm sóc NCT và hỗ trợ hoạt động cho Hội NCT Việt Nam, khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và Nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống của NCT là đạo lý của dân tộc, là tình cảm, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân
Luật người cao tuổi Việt Nam, ban hành ngày 23 11 2009 Luật NCT thể hiện rất rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của xã hội Việt Nam Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức đoàn thể chúc thọ, mừng thọ theo quy định, NCT được chăm sóc sức khỏe thông qua việc định kỳ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho người đủ 80 tuổi trở lên Mặc dù đất nước còn khó khăn nhưng Đảng, Chính phủ vẫn bố trí một phần ngân sách nhà nước thực hiện bảo trợ xã hội đối với NCT, hộ có NCT nghèo
Pháp lệnh người cao tuổi được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa X thông qua ngày 28 4 2000 và được Chủ tịch nước ban lệnh công bố ngày 12 5 2000
Quyết định 167 TTg ngày 08 4 1994 về việc bổ sung, sửa đổi một số chế độ trợ cấp đối với đối tượng cứu trợ xã hội, trong đó quy định mức trợ cấp thường xuyên đối với người già cô đơn Nghị định 07 2000 NĐ-CP ngày 09 3 2000 về chính sách cứu trợ xã hội, trong đó quy định: Người già cô đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập đảm bảo cuộc sống được hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên ở cộng đồng hoặc được nuôi dưỡng tập trung tại cơ sở bảo trợ xã hội
Nghị định 67 2007 NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng xã hội và Thông tư 09 ngày 13 7 2007 hướng dẫn Nghị định 67 2007 NĐ-CP quy định rõ đối
Trang 3328
tượng bảo trợ xã hội trong đó có NCT cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; NCT còn
vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (Theo chuẩn nghèo Chính phủ quy định cho từng thời kỳ) Nghị định 136 2013 NĐ-CP ngày 21 10 2013 quy định chính sách trợ giúp
xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó có đối tượng NCT cô đơn
1.3.2 Các mô hình hỗ trợ người cao tuổi cô đơn
Theo Nghị định 136 2013 NĐ-CP, có 2 mô hình cơ bản: Mô hình trợ cấp xã
hội hàng tháng thường xuyên tại cộng đồng cho NCT cô đơn; Mô hình chăm sóc,
nuôi dưỡng NCT cô đơn tập trung tại các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động của công tác xã hội nhóm đối với người cao tuổi cô đơn
Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ đề cập đến một số yếu tố cơ bản chi phối CTXH nhóm đối với NCT cô đơn trong Trung tâm Bảo trợ xã hội
1.4.1 Hệ thống chính sách, pháp luật
Đề án 32 của Chính phủ về phát triển nghề CTXH Theo Quyết định số
32 2010 QĐ-TTg ngày 25 3 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 Mục tiêu chung: Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH, xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức nhân viên, cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [2, 2010]
1.4.2 Nhận thức của Ban lãnh đạo và quan điểm chỉ đạo trong hoạch định chính sách liên quan đến công tác xã hội của đơn vị
Khi hoạch định chính sách CTXH của Trung tâm Bảo trợ xã hội, Ban Lãnh đạo có nhận thức được tầm quan trọng của CTXH nhóm hay không, sẽ là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lập, tổ chức thực hiện kế hoạch CTXH nhóm Cần phải đưa việc phát triển CTXH nhóm đối với NCT cô đơn vào hoạch định chính sách thường xuyên hàng năm Trong quá trình tổ chức thực hiện CTXH nhóm cần có sự giám sát, thúc đẩy, điều chỉnh của NVCTXH đối với hoạt động nhóm, giúp hoạt động
Trang 34Lực lượng nhân viên làm việc trực tiếp với đối tượng trong cơ sở bảo trợ xã
hội thường chiếm tỷ lệ cao hơn so với CBNV làm việc gián tiếp Họ tiếp cận, chăm sóc, phục vụ hàng ngày, nắm bắt tình hình, biểu hiện của đối tượng thường xuyên
và kịp thời nhất Trong CTXH nhóm, ngoài sự điều phối của NVCTXH thì nhân viên làm việc trực tiếp là lực lượng hỗ trợ quan trọng đối với các hoạt động nhóm Nếu nhân viên làm việc trực tiếp được đào tạo về chuyên môn CTXH thì sẽ thuận lợi hơn trong hỗ trợ thực hiện các hoạt động nhóm, góp phần duy trì nề nếp, tạo hiệu quả cao hơn Ngược lại, có thể dẫn tới giải quyết tình huống thiếu tính thuyết phục, không thu hút được nhiều đối tượng tham gia, thậm chí có thể gây rối loạn, mất đoàn kết, ảnh hưởng đến sự bền vững và hiệu quả trong hoạt động nhóm
1.4.4 Kỹ năng công tác xã hội nhóm của nhân viên công tác xã hội
Để thúc đẩy CTXH nhóm hoạt động có hiệu quả thì vai trò của NVCTXH tương đối quan trọng Tác giả Hà Thị Thư nhận thấy: “Những vấn đề xã hội, những nhóm xã hội yếu thế ở nước ta hiện nay rất cần được quan tâm, giúp đỡ Bên cạnh việc Nhà nước ban hành các chính sách giúp đỡ họ, các nhóm xã hội này rất cần được một lực lượng xã hội đặc thù, chuyên nghiệp giúp đỡ- đó là những người làm CTXH được đào tạo chuyên nghiệp là một nhu cầu tất yếu và không thể thiếu được
ở nước ta hiện nay Những người này cần có những kỹ năng làm việc, trước hết là các kỹ năng phối hợp giữa các thành viên trong nhóm CTXH” [19, tr.10]
NVCTXH có kỹ năng CTXH nhóm tốt sẽ thúc đẩy các hoạt động của nhóm duy trì tự chủ, nề nếp, có hiệu quả NVCTXH biết cách dùng kỹ năng CTXH nhóm
để trợ giúp, điều phối nhóm, tổ chức giao tiếp, thúc đẩy tiến trình nhóm sẽ giúp nhóm đạt được mục tiêu chung cũng như mục tiêu của các thành viên và ngược lại
1.4.4 Các nguồn lực hỗ trợ thực hiện công tác xã hội nhóm
Yếu tố nguồn lực tài chính góp phần làm cho CTXH nhóm hoạt động phong
Trang 3530
phú, đa dạng hơn về nội dung và hình thức Khi tổ chức các hoạt động nhóm rất cần trang thiết bị, dụng cụ, vật tư phụ trợ, nhân lực để hoạt động nhóm sinh động, thu hút và đảm bảo nhu cầu theo đặc trưng từng nhóm Chẳng hạn như đối với nhóm giải trí của NCT cô đơn trong Trung tâm Bảo trợ xã hội, rất cần nguồn lực tài chính
để cung cấp các trang thiết bị như: ti vi, đầu đĩa, đĩa nhạc, loa đài, đạo cụ, nhạc cụ, sách báo và các vật phẩm, hoặc thuê chuyên gia dạy văn nghệ, hội họa, dưỡng sinh
và chi phí cần thiết khác phục vụ hoạt động nhóm Nguồn nhân lực: Việc bố trí nhân lực thực hiện CTXH tại cơ sở bảo trợ xã hội là rất quan trọng, cần có phòng CTXH và bố trí NVCTXH chuyên trách điều phối các hoạt động CTXH trong đó có CTXH nhóm, để đảm bảo hiệu quả cao trong triển khai thực hiện CTXH của đơn vị
1.4.6 Công tác truyền thông nâng cao nhận thức về vai trò công tác xã hội nhóm
Công tác truyền thông cho NVCTXH và CBNV Trung tâm bảo trợ xã hội nhận thức được tầm quan trọng, tác dụng của CTXH nhóm và việc ứng dụng phương pháp CTXH nhóm sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong trợ giúp NCT cô đơn, đồng thời góp phần đổi mới tổ chức hoạt động CTXH tại Trung tâm Điều này
sẽ tác động đến ý thức trách nhiệm và tinh thần học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn CTXH trong đó có phương pháp CTXH nhóm Công tác truyền thông cho NCT cô đơn sẽ giúp họ thấy được lợi ích của mình khi tham gia nhóm, thấy được trách nhiệm của mình đối với mọi người xung quanh, đặc biệt đối với thành viên nhóm Sự chia sẻ, động viên sẽ giúp nhau san sẻ niềm vui, nỗi buồn, thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của thành viên nhóm, cũng như đạt được mục tiêu chung của nhóm
Tiểu kết chương 1
Trong nội dung chương 1, tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận liên quan đến NCT, NCT cô đơn, CTXH, CTXH nhóm, CTXH đối với NCT, CTXH nhóm đối với NCT cô đơn, cơ sở pháp lý của CTXH đối với NCT Đồng thời, tác giả đề cập đến đặc điểm tâm sinh lý, đời sống xã hội của NCT, NCT cô đơn; Một số hoạt động cơ bản của CTXH, CTXH nhóm đối với NCT cô đơn Nhiệm vụ CTXH nhóm đối với NCT cô đơn; Các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH nhóm đối với NCT cô đơn
Đó sẽ là cơ sở cho việc tìm hiểu thực trạng vấn đề nghiên cứu ở phần tiếp theo
Trang 3631
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
CÔ ĐƠN TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI III,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Khái quát về Trung tâm Bảo trợ xã hội III, thành phố Hà Nội
Trung tâm Bảo trợ xã hội III là đơn vị trực thuộc Sở Lao động Thương binh
và Xã hội Hà Nội Trung tâm được thành lập theo Quyết định số 1515 QĐ-UB ngày
15 tháng 7 năm 1992 của Ủy ban Nhân dân TP Hà Nội Trung tâm được giao nhiệm
vụ tiếp nhận, quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng người cao tuổi cô đơn không nơi nương
tựa, trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn TP Hà Nội
Trung tâm có 3 cơ sở: Cơ sở 1 (trụ sở chính) tại Miêu Nha, Phường Tây Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội Cơ sở 1 nuôi dưỡng 130 NCT cô đơn và 45 trẻ
em Cơ sở 2 tại Lạc Trung, Phường Thanh Lương, Quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội, nuôi dưỡng 30 trẻ em Cơ sở 3 tại Phú Mỹ, Phường Mỹ Đình, Quận Nam Từ Liêm,
TP Hà Nội Cơ sở 3 nuôi dưỡng 40 trẻ em Tổng số đối tượng là: 245 người, trong
đó 130 NCT cô đơn và 115 trẻ em Tổng số CBNV của Trung tâm là 79 người,
trong đó cơ sở 1 có 44 người, cơ sở 2 có 15 người, cơ sở 3 có 20 người
Tác giả nghiên cứu trên địa bàn cơ sở 1, Miêu Nha, Phường Tây Mỗ, Quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội (chăm sóc nuôi dưỡng toàn bộ NCT cô đơn và 45 trẻ
em) Ban Giám đốc Trung tâm có 03 người (01 Giám đốc và 02 Phó Giám đốc)
Trung tâm có 03 Phòng chuyên môn: Phòng Tổ chức-Hành chính; Phòng Y tế;
Phòng Quản lý, Giáo dục, Nuôi dưỡng
Diện tích Trung tâm (cơ sở 1): 6.200 m2 Có khu nhà hành chính, khu nhà bếp; khu nhà ở đối tượng (06 khu nhà NCT, 01 khu nhà trẻ em); Có sân chơi rộng rãi, thoáng mát, nhiều cây xanh; Khu vực sân thể thao có mái che cũng là nơi sinh hoạt tập thể của các cụ, các cháu Trung tâm nằm trên địa bàn khu dân cư Tổ dân phố 3 Miêu Nha, Phường Tây Mỗ Đây là một làng ven đô mang đậm chất nông
thôn, mới được đô thị hóa, không gian yên tĩnh, thanh bình
Trang 37NCT cô đơn được chăm sóc nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III, TP
Hà Nội được tiếp nhận theo Quyết định của Sở Lao động Thương binh và Xã hội
TP Hà Nội NCT cô đơn được quy định hưởng chế độ nuôi dưỡng tập trung tại Trung tâm Bảo trợ xã hội theo Nghị định 67 2007 NĐ-CP ngày 13 4 2007 và hiện
nay theo Nghị định 136 2013 NĐ-CP ngày 21 10 2013 của Thủ tướng Chính phủ
Hầu hết NCT cô đơn ở đây là những NCT có hoàn cảnh không chồng (vợ), không con, không có thu nhập, không người phụng dưỡng Một số NCT già yếu, không có thu nhập, có chồng (vợ) hoặc con nhưng bị bệnh thần kinh đang sống trong trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần Một số NCT thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng
BAN GIÁM ĐỐC
CƠ SỞ 1
( Tây Mỗ)
CƠ SỞ 2 (Lạc Trung)
CƠ SỞ 3 (Mỹ Đình)
Phòng quản
lý, giáo dục nuôi dưỡng
lý giáo dục nuôi dưỡng
Bộ phận Hành chính
Bộ phận
Y tế
Bộ phận quản
lý giáo dục nuôi dưỡng
Bộ phận quản
lý giáo dục nuôi dưỡng
Bộ phận quản
lý giáo dục nuôi dưỡng
Trẻ em thiệt thòi
NCT
cô đơn
Trẻ em thiệt thòi
Trẻ em thiệt thòi
Trang 3833
2.2.1 Thực trạng về hoàn cảnh của NCT cô đơn
Theo thống kê từ hồ sơ của 130 NCT cô đơn tại Trung tâm Bảo trợ xã hội III
TP Hà Nội được mô tả theo biểu đồ Hình 2.1 dưới đây
Biểu đồ Hình 2.1: Tình hình hoàn cảnh người cao tuổi cô đơn Trung tâm
Bảo trợ xã hội III, TP Hà Nội
A B C
(Nguồn: Hồ sơ đối tượng của Trung tâm Bảo trợ xã hội III năm 2015)
Trong đó: Ký hiệu A: NCT có hoàn cảnh không chồng (vợ), không con, không có thu nhập, không người phụng dưỡng: chiếm 92%
Ký hiệu B: NCT thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng: chiếm 5%
Ký hiệu C: NCT già yếu, không có thu nhập, có chồng (vợ) hoặc có con nhưng bị bệnh tâm thần sống ở trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần: chiếm 3%
Để tìm hiểu thêm chi tiết về hoàn cảnh NCT cô đơn, tác giả tiến hành phỏng
vấn sâu 02 NCT cô đơn Cụ Lê Thị H cho biết: “Tôi năm nay 72 tuổi, sống ở Trung
tâm được 6 năm rồi Đường tình duyên tôi gặp nhiều trắc trở lắm Lúc gần 30 tuổi, tôi quyết định lấy chồng, ai ngờ trước lúc cưới một tuần thì chồng sắp cưới của tôi
bị tai nạn xe chết Cuộc đời tôi nhỡ dở, sau đó cũng có một vài người có tuổi muốn tìm hiểu tôi nhưng số tôi chẳng có duyên, người thì chê tôi, người thì không hợp, tôi quá lứa nhỡ thì, cộng thêm bị bệnh yếu tim nên đành ở vậy Sau này về già tôi
C: 3%
A: 92%
B: 5%
Trang 3934
không còn đủ sức và vốn để buôn bán nữa, có đồng nào đổ hết vào chữa bệnh Tôi đành phải đi lang thang nhặt rác, kiếm củi sống cho qua ngày Vất vưởng lang thang đầu đường xó chợ, trở thành người ăn xin Ơn Đảng, ơn Nhà nước, tôi được vào Trung tâm Ở đây tôi có cái ăn cái mặc, không lo gì nữa”
Cụ Đỗ Thị M cho biết: “Tôi năm nay 73 tuổi, tôi vào Trung tâm được 5 năm
Chồng tôi làm nghề thợ xây, tôi ở nhà chăn nuôi lợn gà Chúng tôi có 2 cậu con trai, thằng cả học giỏi, làm giáo viên Nhưng tai họa tự dưng ập đến, thằng cả bị bệnh ung thư máu, mất sớm lúc chưa vợ con gì Thằng thứ 2 thì lười học, lêu lổng
từ bé, ăn bám bố mẹ, thỉnh thoảng lại cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút ma túy Ông nhà tôi lo nghĩ sinh bệnh và mất lúc 58 tuổi Thằng con nghiện ngập của tôi mò về nhà,
có cái gì nó lấy đi chích thuốc hết, có cái nhà 30 m 2
cũng bị nó bán Sau đó nó chết
vì sốc thuốc, bỏ lại tôi một mình, thân già nhiều bệnh tật mãn tính Tôi dựng lều tạm
ở cánh đồng để ở, rửa bát kiếm tiền Đứa em gái tôi lấy chồng cũng nghèo, chẳng giúp gì được Nhờ chính quyền địa phương xin cấp trên cho tôi vào Trung tâm Bảo trợ xã hội III Hà Nội, đó cũng là niềm an ủi cuối đời tôi rồi”
Có lẽ còn rất nhiều hoàn cảnh như thế mà NCT cô đơn ở Trung tâm gặp phải Mỗi người một hoàn cảnh, một nỗi khổ riêng
Trong nghiên cứu này, tác giả lấy mẫu nghiên cứu là 120 NCT cô đơn trong tổng số 130 NCT cô đơn vì lý do có 10 NCT cô đơn bị suy giảm trí nhớ (lẫn) nên không điều tra bằng bảng hỏi được, không phỏng vấn sâu được
2.2.2 Thực trạng về giới tính và độ tuổi của NCT cô đơn
Bảng 2.1 Giới tính và độ tuổi của người cao tuổi trong mẫu khảo sát
Giới tính
Độ tuổi
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng Tỷ lệ
(%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
60-69 tuổi 16 13,3 24 20 40 33,3 70-79 tuổi 14 11,7 38 31,7 52 43,4 80-89 tuổi 8 6,7 12 10 20 16,7
(Nguồn: Phân tích, tổng hợp từ phiếu điều tra)
Trang 4035
Kết quả về khảo sát giới tính NCT cô đơn trong mẫu nghiên cứu cho thấy, sự chênh lệch giới tính giữa nữ và nam là tương đối lớn Số cụ bà chiếm 66.7% và cụ ông chiếm 33,3% Về độ tuổi, NCT cô đơn ở độ tuổi 70-79 chiếm tỷ lệ cao nhất (43,4%), cụ bà có tỷ lệ cao hơn cụ ông, cụ thể là 31,7% so với 11,7% NCT cô đơn
ở độ tuổi 60-69 chiếm 33,3%, tỷ lệ cụ bà vẫn cao hơn nhưng mức độ chênh lệch không nhiều, cụ thể là 20% so với 13,3% Tỷ lệ các NCT cô đơn trên 90 tuổi rất ít (6,6%), cụ bà chiếm tỷ lệ cao hơn cụ ông (5% so với 1,6%) (Bảng 2.1)
Tác giả nhận định, xu hướng tuổi thọ cụ ông thường kém cụ bà, vì đàn ông Việt Nam là trụ cột trong gia đình, phải lo nghĩ nhiều việc, mặt khác do thói quen uống nhiều rượu bia và ngại đi khám bệnh của đàn ông NCT cô đơn thường yếu hơn NCT bình thường khác và có nghiên cứu cho thấy cô đơn làm tăng nguy cơ tử vong Theo một nghiên cứu mới đây của các nhà nghiên cứu thuộc đại học Clifornia Mỹ: Cô đơn không chỉ đồng hành với NCT mà nó còn làm tăng 10% nguy cơ tử vong ở NCT Người cao tuổi cô đơn khó hoàn thành các hoạt động sống thường
ngày gấp hai lần so với NCT khác Các nhà nghiên cứu cho biết “Không thể thay
đổi được di truyền nhưng có thể can thiệp khi một người cảm thấy cô đơn” [21]
Vì thế người làm CTXH cần tìm biện pháp hỗ trợ NCT cô đơn có hoạt động tinh thần phong phú, tăng cường động viên, chia sẻ giúp họ giảm bớt cô đơn Phương pháp CTXH nhóm là một trong những biện pháp hướng tới mục đích trên
2.2.3 Thực trạng về trình độ học vấn của NCT cô đơn
Bảng 2.2 Trình độ học vấn người cao tuổi cô đơn