1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái

96 911 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác xã hội cá nhân trong việc phát hiện, can thiệp sớm và trợ giúp trẻ em khiếm thính đã được triển khai thực hiện ở một số địa phương như Yên Bái đã thu được những thành công nhất

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LƯU THỊ THU HẰNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ KHIẾM THÍNH

TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM TRỢ GIÚP VÀ CAN THIỆP SỚM TRẺ KHUYẾT TẬT HƯƠNG GIANG, TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số : 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN HẢI HỮU

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác

và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Lưu Thị Thu Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG TRỢ GIÚP VÀ CAN THIỆP SỚM TRẺ KHIẾM THÍNH 11 1.1 Cơ sở lý luận về trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính 11 1.2 Công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khiếm thính 15 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính 28 Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ

KHIẾM THÍNH TẠI TRUNG TÂM TRỢ GIÚP VÀ CAN THIỆP SỚM TRẺ KHUYẾT TẬT HƯƠNG GIANG, TỈNH YÊN BÁI 33 2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 33 2.2 Nhu cầu trợ giúp của trẻ em khiếm thính tại tỉnh Yên Bái 36 2.3 Thực trạng công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung tâm Hương Giang, tỉnh Yên Bái 37 Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ KHIẾM THÍNH TẠI TRUNG TÂM TRỢ GIÚP

VÀ CAN THIỆP SỚM TRẺ KHUYẾT TẬT HƯƠNG GIANG, TỈNH YÊN BÁI 58 3.1 Các giải pháp thực hiện công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính tại Trung tâm TG &CTS trẻ khuyết tật Hương Giang 58 3.2 Giải pháp đảm bảo các điều kiện môi trường hoạt động CTXH của Trung tâm Trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang 69 KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 4

3 CTTE Hội cứu trợ trẻ em tàn tật Việt Nam

4 CRC Công ước quốc tế về quyền trẻ em

6 NVCTXH Nhân viên công tác xã hội

8 Sở LĐ-TB&XH Sở Lao động - Thương binh và Xã hội

9 TG&CTS Trợ giúp và can thiệp sớm

10 Trung tâm Hương

Giang

Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT TÊN BẢNG SỐ LIỆU TRANG

Bảng 2.1 Nhu cầu sử dụng dịch vụ tại Trung tâm Hương Giang 41 Bảng 2.2 Thực trạng CTXH đối với gia đình có trẻ khiếm thính

được TG &CTS tại Trung tâm Hương Giang

Bảng 3.2 Nguyên tắc trợ giúp mà nhân viên CTXH đang thực hiện

tại Trung tâm Hương Giang

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP

Hình 1.2 Con người trong môi trường xã hội của cá nhân 20

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức của Trung tâm Hương Giang 38

Hộp 2.1 Trẻ khiếm thính có nhu cầu về TG &CTS 37

Hộp 2.2 Đánh giá chất lượng dịch vụ trợ giúp và can thiệp sớm tại

Trung tâm Hương Giang

53

Hộp 2.3 Những khó khăn, thuận lợi mà Trung tâm gặp phải trong

quá trình vận dụng CTXH cá nhân đối với gia đình trẻ khuyết tật, trẻ khiếm thính

56

Hộp 3.1 Những phương pháp mà Trung tâm sẽ vận dụng trong

TG&CTS cho trẻ khuyết tật và gia đình trẻ khuyết tật, trẻ khiếm thính

60

Hộp 3.2 Ý kiến của giáo viên về vai trò của NVCTXH trong hoạt

động trợ giúp và can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính của Trung tâm Hương Giang

63

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Do các nguyên nhân khách quan, chủ quan xã hội luôn tồn tại một bộ phận dân cư gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Một trong những đối tượng đó là trẻ em khuyết tật Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng luôn cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em ghi nhận trẻ em khuyết tật có quyền được chăm sóc đặc biệt, được hưởng quyền giáo dục bình đẳng, được đào tạo để có điều kiện hòa nhập vào xã hội, phát triển nhân cách cả về mặt thể chất lẫn tinh thần nhằm giúp trẻ tham gia tích cực vào cộng đồng [21] Theo thống kê của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, hiện cả nước có khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm 1,5% dân số và 3,5% số lượng trẻ em Trong số trẻ em khuyết tật có khoảng 20% dạng khiếm thính Việc phát hiện, chẩn đoán và can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính có ý nghĩa vô cùng quan trọng Can thiệp sớm sẽ giúp giảm thiểu đáng kể ảnh hưởng của khuyết tật đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt về khả năng ngôn ngữ và giao tiếp Ngoài ra can thiệp sớm còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và cuộc sống của trẻ, gia đình trẻ sau này, chuẩn bị tiền đề cho trẻ học hòa nhập ở các trường phổ thông Tuy nhiên, do trẻ bị tổn thương cơ quan thính giác, rất khó phát hiện, can thiệp và

hỗ trợ hòa nhập, cần phải có phương pháp, công cụ và phương pháp hỗ trợ, can thiệp sớm riêng thì mới đạt được kết quả tốt

Công tác xã hội cá nhân trong việc phát hiện, can thiệp sớm và trợ giúp trẻ

em khiếm thính đã được triển khai thực hiện ở một số địa phương như Yên Bái đã thu được những thành công nhất định, giúp trẻ tiếp cận được với giáo dục, hòa nhập cộng đồng, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Tuy nhiên, kết quả này mới chỉ

ở những mô hình thí điểm, chi phí lớn và chưa được thực hiện trên diện rộng Nhiều

cơ sở chưa xây dựng được quy trình, phương pháp và công cụ phát hiện sớm và trợ giúp hiệu quả Điều này cho thấy cần có tổng hợp kinh nghiệm thực tiễn và xây

Trang 8

dựng quy trình, nghiệp vụ và đề xuất hệ thống chính sách để hoàn thiện, phát triển hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính

Yên Bái là tỉnh miền núi, có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, nhiều trẻ em khiếm thính Bên cạnh đó Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái đã và đang triển khai hỗ trợ và can thiệp sớm đối với trẻ em khiếm thính thông qua các phương pháp và công cụ công tác xã hội bước đầu có những thành công nhất định Đây là mô hình có thể hoàn thiện và nhân rộng trong toàn tỉnh nói riêng và toàn quốc nói chung

Xuất phát từ những lý do trên việc nghiên cứu đề tài: “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái” là cần thiết cả về cơ sở lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

2.1 Nghiên cứu ngoài nước

Sự tồn tại của một bộ phận không nhỏ trẻ khuyết tật là thực tế khách quan ở tất cả các nước trên thế giới và ở mọi giai đoạn của lịch sử xã hội loài người Vấn

đề chăm sóc, giáo dục cho trẻ khuyết tật cũng đã được quan tâm trong các giai đoạn lịch sử đó Người đầu tiên lập ra một trường công để dạy các học sinh có khuyết tật

là ông Charles Michea, tức linh mục De`L Epee (1700-1789) ở nước Pháp Năm

1760, ông đã mở trường quốc gia dạy trẻ câm điếc Năm 1784, theo gương linh mục De` L Epee, ông Valentin Haiiy (1745-1822) bắt đầu dạy 12 trẻ em mù ở Paris và lập ra Trường quốc gia dạy các thiếu niên mù Cả hai trường này đều được thành lập phần lớn là nhờ vào sự ủng hộ của nhà vua, được sự bảo trợ của giới quý tộc và nhận các trường hợp trẻ điếc được giới tăng lữ chăm lo Trái với các gia sư cũng làm công việc này, các ông Epee và Haiiiy rất mong muốn chứng minh các phương pháp của mình và trao đổi kinh nghiệm với người khác Các ông đã viết sách báo giới thiệu công việc của mình làm và đã gây được ảnh hưởng tốt đối với nhiều nhà giáo và gia đình có trẻ khuyết tật

Ở Tây Ban Nha, cha Perdudepone đã dạy trẻ điếc về quyền thừa hưởng gia sản trong các gia đình quý tộc ở Anh Năm 1653, John Wallis viết cuốn sách có tên

Trang 9

“Cần phải dạy các cử chỉ điệu bộ tự nhiên cho người điếc và sử dụng các ký hiệu này dạy ngôn ngữ của chúng ta cho người điếc”

Trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận Ngoài việc tranh luận về cách tổ chức giáo dục đặc biệt như thế nào, các nhà công tác xã hội, tâm lý học, còn tranh luận về nhiều vấn đề khác liên quan đến can thiệp sớm, trong đó có vấn đề nội dung chương trình giảng dạy và các tài liệu

hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật

2.2 Nghiên cứu trong nước

Hiện nay, tại Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, ấn phầm, đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đề cập đến công tác xã hội đối với người khuyết tật Sau đây tôi xin điểm một số công trình nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến đề tài của Luận văn

Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình “Nhập môn công tác xã hội” Trong đó

tác giả đã phân tích về đặc điểm khó khăn của NKT, vai trò, phương pháp CTXH với NKT Đồng thời tác giả cũng cho rằng CTXH đối với NKT có tính chất thực hành CTXH và có các dịch vụ CTXH cá nhân riêng biệt [23]

Hà Thị Thư (2012), Giáo trình trung cấp nghề “Công tác xã hội với người khuyết tật” Tác giả đã tổng hợp khung kiến thức cơ bản có ý nghĩa thiết thực trong

công tác trợ giúp NKT hòa nhập cộng đồng, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống như: những đặc điểm của NKT, vai trò và hướng tiếp cận, kỹ năng, phương pháp tiếp cận trong CTXH với NKT cũng như các chính sách, pháp luật và dịch vụ

hỗ trợ NKT [31]

Hội trợ giúp người khuyết tật Việt Nam và Trường Đại học Lao động - Xã

hội (2014), Giáo trình “Công tác xã hội với người khuyết tật” đã cung cấp những

kiến thức, kỹ năng cho cán bộ làm việc với NKT tại các trung tâm, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng NKT Qua đó, những cán bộ, nhân viên tham gia tập huấn có thể trở thành hạt nhân nguồn trong việc nhân rộng kiến thức tới các đồng nghiệp nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng hỗ trợ NKT [16]

Trang 10

Tổ chức Lao động quốc tế do Cơ quan hợp tác phát triển Ailen tài trợ, Tài

liệu hướng dẫn “Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho NKT thông qua hệ thống pháp luật” Hướng dẫn này thể hiện quan điểm nhìn nhận vấn đề về NKT

như một vấn đề về quyền Với mục đích phục vụ đối tượng là các nhà hoạch định chính sách và các nhà lập pháp Hướng dẫn này được xây dựng nhằm hỗ trợ cải thiện tính hiệu quả của pháp luật của các quốc gia liên quan đến vấn đề đào tạo

và việc làm cho NKT [18]

Eric Rosenthal và Viện Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần

(2009) công bố báo cáo về “Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt Nam - đưa luật pháp của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật”

Đây là nghiên cứu thực hiện theo đặt hàng của UNICEF Việt Nam Nghiên cứu thực hiện rà soát tính tương đồng chính sách của mình phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về quyền của NKT (CRPD) Cùng với việc đánh giá hệ thống luật pháp, chính sách của Việt Nam, tác giả đã đề xuất Việt Nam phải có thay hệ thống luật pháp và tổ chức thực hiện để tăng cường thực hiện quyền của NKT [12]

Quỹ Dân số Liên hợp quốc - UNFPA (2009), “Người khuyết tật ở Việt Nam” Tài liệu này nhằm đưa ra một bức tranh kinh tế - xã hội sơ bộ về NKT ở Việt

Nam dựa trên phân tích số liệu mẫu 15% của Tổng điều tra dân số 2009 với mục

tiêu là: Thứ nhất, đưa ra một bức tranh chung về tỷ lệ NKT ở Việt Nam; Thứ hai,

đưa ra một số đặc trưng nhân khẩu và kinh tế - xã hội cơ bản của NKT và so sánh

với các đặc trưng của nhóm người không khuyết tật; Thứ ba, đưa ra các gợi ý chính

sách có liên quan đến NKT dựa trên các kết quả phân tích [35]

Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam – NCCD (2010)

công bố báo cáo về “Hoạt động hỗ trợ Người khuyết tật Việt Nam” Báo cáo đã

điểm lại những hoạt động trong lĩnh vực NKT như thực trạng NKT; hệ thống luật pháp về NKT tại Việt Nam; tình hình thực hiện chính sách đối với NKT tại Việt Nam về nâng cao nhận thức, chăm sóc sức khỏe, giáo dục cho trẻ em khuyết tật, dạy nghề và việc làm, trợ giúp xã hội, giảm nghèo, tiếp cận giao thông, tiếp cận thông tin, văn hóa…từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tế hoạt động và định

Trang 11

hướng các hoạt động những năm tiếp theo Báo cáo được xây dựng trên cơ sở tổng hợp báo cáo của thành viên NCCD, các địa phương, ý kiến của NKT và kết quả hoạt động Đề án “Hỗ trợ người tàn tật giai đoạn 2006 - 2010” [3]

Đoàn Tâm Đan (2010), nghiên cứu về lượng giá dự án “Chương trình khuyết tật và phát triển”, do Tổ chức Chương trình khuyết tật và phát triển (DRD) thuộc

Trung tâm thực hành CTXH - Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện dưới sự tài trợ của Ford Foundation Nghiên cứu đã lượng giá hiệu quả của dự án trong việc tạo và tăng cường nhận thức cho NKT và xã hội, cũng như cơ hội cho sự công bằng tham gia vào các hoạt động xã hội của NKT, lượng giá tác động của dự án trong việc thay đổi nhận thức và nâng cao năng lực cho NKT và các hội nhóm khuyết tật cũng như vai trò của DRD trong việc tạo nên những thay đổi về nhận thức, giá trị xã hội đối với NKT Bên cạnh đó, báo cáo còn lượng giá sự phát triển của DRD về mặt tổ chức, vận hành các hoạt động, chất lượng và hiệu quả của cơ cấu quản lý tổ chức của DRD Từ đó, rút ra bài học trong thực hiện chương trình [11]

Hà Thị Thư (2012), chuyên đề “Công tác xã hội với người khuyết tật - Chương trình đào tạo bồi dưỡng nghề công tác xã hội cho cán bộ tuyến cơ sở” Chuyên đề trình bày về những nội dung chủ yếu là: Thứ nhất, những vấn đề chung

về NKT, cán bộ tuyến cơ sở sẽ được cung cấp kiến thức về khuyết tật, NKT, nguyên nhân, biện pháp phòng ngừa khuyết tật, các chính sách cơ bản cho NKT,

các mô hình can thiệp trong lĩnh vực khuyết tật ; Thứ hai, xác định nhu cầu và vấn

đề của NKT ở một số dạng tật thường gặp; Thứ ba, các mô hình dịch vụ, mạng lưới truyền thông nâng cao nhận thức về NKT; Thứ tư, một số phương pháp CTXH với

NKT, cán bộ tuyến cơ sở sẽ được cung cấp kiến thức về quản lý trường hợp NKT

và công tác phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; Thứ năm, chuyên đề cung cấp

một số kỹ năng cơ bản trong làm việc với NKT như: kỹ năng sống độc lập, kỹ năng đánh giá, kỹ năng thúc đẩy NKT tham gia [30]

Đại học Văn Lang, (30/8/2011), bài viết “Việc làm cho người khuyết tật: Một số cách tiếp cận”, trong kỷ yếu Hội thảo về Việc làm cho người khuyết tật Bài

viết này tập trung nhìn nhận vấn đề việc làm của NKT trên góc độ cách tiếp cận về

Trang 12

quyền và dịch vụ hiện đang được áp dụng ở nhiều quốc gia và hướng đến đề ra một

số đề xuất về vấn đề việc làm cho NKT hiện nay ở Việt Nam [10]

Tạ Hải Giang, có bài viết “Dịch vụ xã hội cho NKT: Thách thức và triển vọng” Tác giả khái quát thực trạng việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội của NKT

tại Việt Nam như: dịch vụ y tế, giáo dục, việc làm, giao thông, đồng thời chỉ ra được một số thách thức trong việc tham gia của NVXH trong các dịch vụ dành cho NKT Bên cạnh đó, bài viết cũng đưa ra một số dịch vụ xã hội nên và cần có sự góp sức của NVXH như: phòng ngừa khuyết tật bẩm sinh, phát hiện sớm - can thiệp sớm, giáo dục hòa nhập, hướng nghiệp và việc làm [13]

Lê Minh Hằng (2013), báo cáo chuyên đề tốt nghiệp đại học về “Giáo dục hòa nhập - Cánh cửa rộng mở cho trẻ em khuyết tật tại Việt Nam” đã mô tả những

rủi ro của sự nghèo đói và bị gạt ra khỏi xã hội đối với NKT dẫn đến sự phân biệt đối xử Báo cáo cũng giải thích vì sao giáo dục hòa nhập được cho là giải pháp của vấn đề, đồng thời tóm tắt các chính sách hỗ trợ nhằm cung cấp cơ sở pháp lý cho việc giáo dục hòa nhập tại Việt Nam Ngoài ra, báo cáo còn mô tả những thành tựu cũng như thách thức trong thực thi các chính sách giáo dục hòa nhập và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam [15]

Bùi Thị Huệ (2011), nghiên cứu đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc giải quyết vấn đề của người khuyết tật” Tác giả khái quát những đặc điểm của NKT và thực trạng NKT trên thế giới và ở Việt Nam, chỉ ra một số vấn đề gặp phải của NKT trong cuộc sống, đồng thời còn đề cập đến vai trò của CTXH trong hoạt động trợ giúp NKT nói chung [17]

Đỗ Hạnh Nga, nghiên cứu chuyên đề về “Những khó khăn của gia đình có trẻ khuyết tật phát triển và nhu cầu của họ đối với các dịch vụ xã hội” Tác giả đã phân tích những khó khăn của gia đình có trẻ khuyết tật và nhu cầu của họ đối với các dịch

vụ xã hội, kết quả khảo sát trên 105 gia đình có con khuyết tật có dấu hiệu chậm phát triển đang học tại trường chuyên biệt tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy phụ huynh còn thiếu hiểu biết về các dấu hiệu chậm phát triển của con, thiếu những

Trang 13

NVXH hỗ trợ họ trong việc phát hiện sớm, chẩn đoán đánh giá khuyết tật của con họ cũng như giúp phụ huynh tìm kiếm các dịch vụ xã hội Từ đó, đề xuất xây dựng một

số công việc mà NVXH cần thực hiện để hỗ trợ gia đình NKT [24]

Nguyễn Dạ Đan Trang (2014), luận văn thạc sỹ về đề tài “Vận dụng những kiến thức, kỹ năng công tác xã hội nói chung và công tác xã hội với người khuyết tật nói riêng trong can thiệp, trợ giúp người khuyết tật” Tác giả đã khái quát tình hình NKT, đưa ra những nhiệm vụ của NVXH khi làm việc với đối tượng và ví dụ trường hợp điển cứu cụ thể có ý nghĩa thực tế [33]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều chỉ ra được những đặc điểm nổi bật của NKT cũng như thực trạng NKT hiện nay ở Việt Nam, những khó khăn thường gặp phải, các mô hình can thiệp chủ yếu, chính sách, pháp luật trong việc

hỗ trợ NKT thực hiện quyền Trong đó nhấn mạnh đến việc làm thế nào để NKT

có thể tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội và tiếp cận đầy đủ các dịch vụ như những người không khuyết tật, đồng thời còn đề cập đến vai trò của CTXH trong việc giúp đỡ NKT và sự cần thiết của CTXH trong giai đoạn hiện nay Song, các công trình nghiên cứu chưa đề cập đến việc phải làm gì để CTXH phát triển ở những Trung tâm phục hồi chức năng, Cơ sở bảo trợ - nơi mà NKT tìm đến khi cần sự giúp đỡ Vì vậy, CTXH đối với trẻ em khiếm thính từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng, trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật là lĩnh vực còn khá mới mẻ, đặc biệt ở Yên Bái là chưa có

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính tại trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang tỉnh Yên Bái để xây dựng quy trình, phương pháp can thiệp có hiệu quả nhất đối với trẻ khiếm thính Lấy kết quả nghiên cứu thực tiễn tại Trung tâm Hương giang để nhân rộng mô hình trợ giúp và can thiệp sớm cho trẻ khiếm thính

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính

Trang 14

- Đánh giá thực trạng công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính tại Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái

- Đề xuất giải pháp tăng cường và phát triển dịch vụ công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính tại Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái nói riêng và các cơ sở chăm sóc xã hội nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Trẻ khiếm thính, bố mẹ của trẻ khiếm thính đang phục hồi chức năng và can thiệp sớm tại Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái

- Cán bộ, giáo viên, nhân viên công tác xã hội đang làm việc tại Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 1 đến 5 năm 2016

- Không gian: Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Trong đó, phương pháp luận duy vật biện chứng để xem xét hoạt động công tác xã hội đối với trẻ khiếm thính trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường và hệ thống xung quanh, đặt vấn đề trong một tổng thể Những vấn đề liên quan đến trẻ khiếm thính và các phương pháp công tác xã hội chuyên nghiệp được phân tích theo các tương quan để đưa ra một quyết định khách quan, toàn diện

Trang 15

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như sau:

* Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp liên quan: Phân tích những công

trình nghiên cứu có liên quan tới vấn đề giáo dục hòa nhập, phục hồi chức năng, can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật và các tài liệu có liên quan đến công tác xã hội đặc biệt

là phương pháp công tác xã hội cá nhân

* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng bảng hỏi để thu thập các

thông tin về thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với 70 cha mẹ của trẻ khiếm thính đang sử dụng dịch vụ trợ giúp và can thiệp sớm tại Trung tâm Hương Giang

* Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn sâu đối

với 01 cán bộ quản lý, 05 cô giáo và NVCTXH, 2 cha mẹ trẻ khiếm thính Qua

đó, tìm hiểu các thông tin về dịch vụ CTXH mà Trung tâm Hương Giang đang cung cấp; Trung tâm đã áp dụng phương pháp CTXH cá nhân đối với trẻ khuyết tật trên địa bàn tỉnh Yên Bái như thế nào? nhu cầu được trợ giúp và can thiệp sớm của trẻ khiếm thính? Chất lượng dịch vụ cung cấp công tác xã hội tại trung tâm? Đã có những chính sách nào để hỗ trợ trẻ khuyết tật, đặc biệt là trẻ khiếm thính trên địa bàn tỉnh Yên Bái

* Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy học của giáo viên, hoạt

động can thiệp, phục hồi chức năng của trẻ, sự tham gia của trẻ khiếm thính vào các hoạt động Quan sát điều kiện sinh hoạt và môi trường học tập của trẻ khiếm thính Đồng thời quan sát thái độ, hành vi của giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh đối với trẻ khiếm thính

* Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Sử dụng phương pháp này qua nghiên cứu 2 trường hợp điển hình để so sánh những kết quả của công tác xã hội cá nhân đối với trường hợp trẻ khiếm thính được trợ giúp và can thiệp sớm với một trường hợp trẻ khiếm thính không được trợ giúp và can thiệp sớm

Là những câu chuyện có thật đã đang được Trung tâm Hương Giang cung cấp các dịch vụ về công tác xã hội

Trang 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận công tác xã hội

cá nhân đối với phục hồi chức năng cho trẻ khiếm thính, qua đó làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá hoạt động phục hồi chức năng cho trẻ khiếm thính tại Trung tâm Hương Giang nói riêng và trẻ khuyết tật nói chung Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến lĩnh vực Phục hồi chức năng, can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quan về hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính tại Trung tâm TG & CTS trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái, từ đó nâng cao trách nhiệm của mọi người cùng với sự

hỗ trợ của Nhà nước nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ khiếm thính được phục hồi chức năng, can thiệp sớm được học hòa nhập như bao trẻ bình thường khác Đồng thời đề tài cũng chỉ ra những hoạt động trợ giúp của nhân viên công tác xã hội đối với việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ khiếm thính tại Trung tâm Hương Giang cũng như thấy được tầm quan trọng của công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp những đối tượng yếu thế trong xã hội

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khiếm thính

Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính tại Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái

Chương 3: Một số giải pháp thực hiện nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính tại Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG

TRỢ GIÚP VÀ CAN THIỆP SỚM TRẺ KHIẾM THÍNH

1.1 Cơ sở lý luận về trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính

1.1.1 Một số khái niệm

* Khái niệm người khuyết tật:

Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, luôn có những quan niệm và khái niệm khác nhau về khuyết tật và người khuyết tật Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay thì đều thống nhất theo khái niệm quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật người khuyết tật

là: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc

bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [11]

Với khái niệm này thì người khuyết tật, bao gồm cả trẻ em phải có 3 điều kiện là: (i) Khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng; (ii) phải biểu hiện dưới các dạng tật và (iii) tác động dẫn đến lao động, học tập và sinh hoạt khó khăn Trong đó dạng khuyết tật [18] bao gồm:

(1) Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu,

cổ, chân, tay thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển

(2) Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói

(3) Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường

(4) Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường

Trang 18

(5) Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc

(6) Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường khuyết tật trên

Với quy định dạng tật như trên, thì người khiếm thính là người khuyết tật thuộc dạng khuyết tật nghe nói

Trẻ khiếm thính là trẻ em khuyết tật thuộc dạng tật nghe nói, là những trẻ em

do tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe dẫn đến lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn

1.1.2 Nguyên nhân gây ra khiếm thính

Trẻ em khiếm thính có thể do nguyên nhân bẩm sinh và các nguyên nhân môi trường sau khi sinh dẫn đến khiếm thính Cụ thể:

* Nguyên nhân bẩm sinh:

Khi trẻ em sinh ra đã mất khả năng nghe, không nghe được Nguyên nhân này thường do các tác nhân tác động đến người mẹ khi mang thai như: người mẹ

bị nhiễm độc, dùng thuốc sai, người mẹ bị bệnh do virus gây nên do quai bị, cúm, sởi hoặc trẻ bị khiếm khuyết về cấu trúc cơ quan thính giác, di truyền…

* Các nguyên nhân do bệnh tật, tác nhân của môi trường:

Những trường hợp này là trẻ mất khả năng nghe sau khi sinh Thường các nguyên nhân này do di chứng của viêm não, viêm màng não, sởi, các bệnh khác như

Trang 19

quai bị, cúm hoặc do chấn thương (va đập, tiếng động quá lớn); hay do sử dụng thuốc không đúng (nhiễm độc, thuốc kháng sinh; do bị còi xương nặng) và các tác

nhân khác của môi trường sống, sinh hoạt của trẻ gây nên

1.1.3 Đặc điểm của trẻ em khiếm thính

Do không có khả năng nghe, hoặc nghe bị hạn chế nên trẻ em khiếm thính thường khó khăn trong tiếp nhận thông tin bên ngoài, dẫn đến hạn chế chung trong học tập và sinh hoạt, cần có sự hỗ trợ, chăm sóc của người khác Những khó khăn trong sinh hoạt, học tập này xuất phát từ những đặc điểm về sinh lý của trẻ như sau:

- Cảm giác và tri giác: Quá trình nhận thức thiếu sự tham gia của thính giác

Thị giác tinh nhạy do có sự bù trừ Ngoài ra cảm giác vận động, cảm giác xúc giác trở nên quan trọng, là nền tảng cho trẻ học ngôn ngữ

- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của trẻ điếc nghèo nàn, đơn điệu

- Trí nhớ: Ghi nhớ máy móc, không bền vững

- Tư duy: Đơn giản, rập khuôn

- Về tưởng tượng: Khả năng tưởng tượng hạn chế Trẻ không hiểu được các ý

ẩn dụ, nghĩa bóng của từ, những biểu thị tượng trưng

- Khả năng bản thân: Khả năng quan sát và bắt chước của trẻ khiếm thính

thường rất tốt, và trẻ khiếm thính thường có 1 số tài lẻ như vẽ… theo kiểu luật bù trừ

Những đặc điểm tâm lý trên, chưa phải là bao trùm toàn bộ những đặc trưng

cơ bản của trẻ Nhưng có hàm ý để gia đình và người chăm sóc, hỗ trợ, nhất là giáo viên, nhân viên công tác xã hội khi làm việc với trẻ em khiếm thính cần hiểu đúng những sự khác biệt này Thông qua quan sát, biết được trẻ có những điểm hạn chế, nổi trội về mặt nào Khoa học cũng đã chứng minh, phương pháp giao tiếp dùng cách ra dấu bằng tay, nhìn môi/(khẩu hình miệng) người đang nói, cùng nhiều kiểu luyện nghe, luyện phát âm mang tính chất áp đặt đã được áp dụng trong các trường

chuyên biệt dành riêng cho trẻ khiếm thính Xu hướng hiện nay lấy phương pháp

Trang 20

khẩu truyền với sự hỗ trợ của máy trợ thính (đối với trẻ điếc dưới 100Db, còn với

trẻtrên 100Db có chỉ định cấy điện cực ốc tai…) làm phương tiện chủ yếu giúp trẻ

rèn luyện khả năng nghe - nói

1.1.4 Nhu cầu của trẻ em khiếm thính

Trẻ khiếm thính cần được thông cảm, được yêu thương và cần được cư xử như những con người bình thường Không những chỉ giúp trẻ học ngôn ngữ, chúng

ta còn phải chú trọng tất cả các mặt phát triển khác của trẻ về thể chất, tinh thần trí tuệ và kỹ năng giao tiếp xã hội Tuỳ theo khuynh hướng và khả năng, trẻ có thể được tiếp tục học lên các bậc cao đẳng, đại học hoặc được đào tạo một nghề nghiệp thích hợp để sau này tự nuôi sống bản thân, có ích cho gia đình và xã hội Trẻ có thể học chữ/ học văn hóa hết cấp I, hoặc II, hoặc III, sau đó học lên chuyên nghiệp CĐ,

ĐH cũng có thể học hết cấp II, hoặc III xong chuyển sang học nghề Ở một số nước, luật pháp có những điều qui định cụ thể bảo đảm cho trẻ khiếm thính, cũng như những trẻ khuyết tật khác, có quyền học tập và sau này tham gia các ngành nghề lao động như những người bình thường

1.1.5 Trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính

- Mục đích trợ giúp và can thiệp sớm: Nhằm giúp trẻ khiếm thính bình

thường hóa cuộc sống Mục tiêu cơ bản là phát triển tối đa sức nghe còn lại của trẻ khiếm thính, phát triển khả năng giao tiếp để trẻ có cuộc sống càng bình thường càng tốt Tạo cơ hội cho trẻ và gia đình trẻ khiếm thính tiếp cận được với các dịch đáp ứng được nhu cầu của họ

- Nội dung trợ giúp và can thiệp sớm:

Trợ giúp và can thiệp về thính học cho trẻ khiếm thính: Đối với trẻ khiếm

thính, nếu càng được phát hiện và chẩn đoán sớm, chỉ định đeo máy trợ thính thì trẻ càng có cơ hội học nghe nói, càng có nhiều cơ hội hiểu và vận dụng ngôn ngữ nói

trong giao tiếp Phát hiện trẻ khiếm thính không chỉ bằng cách quan sát các dấu hiệu

khác thường, chương trình khám sàng lọc tật khiếm thính mà còn sử dụng các

phương pháp đo sao cho phù hợp với độ tuổi của trẻ

Trang 21

Chẩn đoán: Tập hợp những phương pháp đo khám nhằm mục đích xác

định mức độ, loại điếc cũng như nguyên nhân gây điếc Kết quả chẩn đoán là cơ

sở chỉ định đeo máy trợ thính, cấy điện cực ốc tai…, xây dựng kế hoạch giáo dục trẻ khiếm thính

Chăm sóc thính học: Các dịch vụ chăm sóc thính học bao gồm: chỉ định,

hiệu chỉnh, duy trì và bảo quản máy trợ thính hay những thiết bị hỗ trợ thính học khác Chăm sóc thính học do các chuyên gia thính học hay các kĩ thuật viên các cơ sở dịch vụ

1.2 Công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khiếm thính

1.2.1 Một số khái niệm

* Khái niệm công tác xã hội

Theo Hiệp hội công tác xã hội quốc tế thì CTXH được hiểu như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự

tương tác của con người với với môi trường sống

* Công tác xã hội cá nhân

Công tác xã hội cá nhân trước hết được khẳng định như là một phương pháp chuyên nghiệp được các nhân viên xã hội sử dụng để hỗ trợ cá nhân vượt qua khó khăn trong việc thực hiện các chức năng xã hội của họ Nhân viên xã hội can thiệp giải quyết vấn đề của cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội của cá nhân đó Gia đình cũng được coi như một trường hợp với các mối quan hệ đặc thù giữa các cá nhân trong gia đình đó vì thế đã được xếp vào phương pháp công tác xã hội cá nhân Trong đó, “cá nhân” được hiểu theo nghĩa rộng là một trường hợp cụ thể cần sự quan tâm sâu sắc hơn Trong phương pháp này, nhân viên

xã hội có điều nhấn mạnh vào nguyên tắc cá thể hóa sự giúp đỡ đối với thân chủ là một cá nhân hay đối với trường hợp là cả gia đình Cụ thể công tác xã hội cá nhân

Trang 22

được khái quát là “hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng, trong đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế xã hội và môi trường thông qua các mối quan hệ một - một” [21]

* Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khiếm thính

Cho đến nay, chưa có tài liệu nào cụ thể hóa định nghĩa về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khiếm thính, nhất là công tác xã hội trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính Xuất phát từ những khái niệm trẻ em khiếm thính, trợ giúp

và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính, công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân…có thể khái quát khái hiểu công tác xã hội trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em kiếm thính là hoạt động công tác xã hội được sử dụng trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ

em khiếm thính nhằm tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của các em, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ trẻ khiếm thính, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp các em một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng công bằng trong xã hội

1.2.2 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

- Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow

Theo Abraham Maslow hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành hai cấp là nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao Trong đó:

- Nhu cầu cấp thấp gồm hai nhu cầu: (i) Nhu cầu về vật chất là nhu cầu tối thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo con người tồn tại bao (ăn, uống, ở, mặc, ngủ nghỉ, đi lại…); (ii) Nhu cầu về an toàn bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần

- Nhu cầu cấp cao gồm ba nhu cầu: Nhu cầu về xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong

Trang 23

xã hội Khi thỏa mãn được nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có xu hướng được tôn trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực, địa vị, uy tín…cao nhất trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu được phát triển toàn diện

Theo lý thuyết này, khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất đinh sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn Hàm ý đối với hoạt động công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính thì cần tiếp cận theo nhu cầu Trong các hoàn cảnh cụ thể trẻ khác nhau, hoàn cảnh không giống nhau, có các nhu cầu khác nhau Có những trẻ cần đáp ứng nhu cầu bậc thấp

từ đầu, những cũng có những trẻ chỉ cần trợ giúp các nhu cầu ở bậc cao, vì bản thân trẻ đã đáp ứng được những nhu cầu bậc thấp rồi Bên cạnh đó việc hỗ trợ theo nhu cầu của các trẻ khác nhau, nên các biện pháp can thiệp cũng phải khác nhau Từ nguyên tắc này, cần xem xét nhu cầu nào đã được bảo đảm, nhu cầu nào chưa được bảo đảm, mức độ ưu tiên nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau

Hình 1.1 Thang nhu cầu của Maslow

Trang 24

- Lý thuyết hệ thống

Hệ thống là một tập hợp các phần tử khác nhau, giữa chúng có mối liên hệ và tác động qua lại theo quy luật nhất định tạo thành một chỉnh thể, có khả năng thực hiện những chức năng cụ thể Mỗi hệ thống bất kỳ nào đều có các thành tố; hành vi, cấu trúc, văn hóa và diễn biến của hệ thống

Môi trường xã hội được hiểu là những liên hệ, tác động, ảnh hưởng giữa các thành tố cùng tồn tại trong một môi trường sống Những mối liên hệ này có tính hai chiều và phụ thuộc vào nhau

Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó

Lý thuyết hệ thống cho rằng một hệ thống, vừa bao gồm các tiểu hệ thống nhỏ trong nó đồng thời có cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống rộng lớn hơn Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành tố càng

đa dạng Giữa các thành tố có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự thay đổi, biến động của mỗi thành tố trong một hệ thống đều ảnh hưởng, tác động đến các thành tố khác và ngược lại Bởi những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu hệ thống và thành tố tạo thành một sự toàn vẹn, thống nhất

Trong bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng, lý thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng đến trẻ Lý thuyết hệ thống sinh thái cho phép phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trẻ khiếm thính và hệ thống sinh thái - môi trường xã hội Mỗi cá nhân trẻ khiếm thính đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh

Khi làm việc với trẻ hoặc cha mẹ trẻ khiếm thính, nhân viên công tác xã hội cần xem xét bản thân họ là một hệ thống, hệ thống này nằm trong hệ thống lớn hơn

là hệ thống gia đình và hệ thống gia đình là một phần tử trong hệ thống một cộng đồng nhất định chứa gia đình đó Các hệ thống này đều có sự tương tác và ảnh

Trang 25

hưởng lẫn nhau Khi xác định vấn đề của trẻ hoặc gia đình trẻ thì cần đặt trong mối quan hệ tương tác giữa các hệ thống này để phân tích sâu hơn về các nguyên nhân dẫn đến vấn đề đó

Các hệ thống có sự tương hỗ lẫn nhau Vấn đề ở đây nếu chưa có sự tương

hỗ này là do những xung đột nhất định hoặc vì một lí do nào đó mà trẻ và gia đình trẻ chưa tiếp cận tới được các hệ thống hỗ trợ đó Vì vậy, nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội là tìm ra những mâu thuẫn trong việc kết nối giữa các nhu cầu của trẻ và các hệ thống trợ giúp bên ngoài để có thể hỗ trợ trẻ và gia đình trẻ nhiều hơn Ngoài ra áp dụng thuyết hệ thống sinh thái sẽ giúp nhân viên công tác xã hội

Trên cơ sở lý thuyết hệ thống, vấn đề trợ giúp của nhân viên công tác xã hội đối với trẻ khiếm thính là một hệ thống trong đó bao gồm các tiểu hệ thống: cán bộ quản lý, giáo viên là làm công tác chăm sóc, can thiệp, giáo dục trẻ khiếm thính, cha

mẹ và người nuôi dưỡng trẻ khiếm thính, hàng xóm, họ hàng, các hội đoàn thể, chính sách chăm sóc trẻ em, cơ sở vật chất, tài chính…Mặt khác, hệ thống giáo dục dành cho trẻ khiếm thính tại Trung tâm Hương Giang cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống bảo vệ, chăm sóc trẻ em rộng lớn hơn của ngành Lao động

- Thương binh và Xã hội

- Con người trong công tác xã hội cá nhân

Cá nhân có sự độc lập của cá thể đó với người khác, có đặc điểm riêng, mong muốn riêng và các nhu cầu riêng biệt Từ tính đặc trưng này mà mục đích công tác xã hội là hướng tới giúp cá nhân thỏa mãn nhu cầu, tăng cường chức năng xã hội thông qua các biện pháp can thiệp Điều này có nghĩa là không chỉ tác động để nhân thay đổi, mà thay đổi tương tác giữa cá nhân và môi trường để phù hợp với môi trường Khi cá nhân rơi vào tình huống khó khăn, gặp phải những vấn đề trong cuộc sống và họ không có khả năng tự giải quyết được vấn

đề khi đó họ cần đến sự giúp đỡ của xã hội Mục tiêu của công tác xã hội cá nhân

là hướng tới tạo nên sự tương tác tích cực của con người với môi trường xã hội, giúp cá nhân và gia đình tiếp cận được những nguồn lực trong cộng đồng, phát

Trang 26

huy những nội lực và ngoại lực để tăng cường sự tương tác giữa cá nhân, gia đình, cộng đồng với môi trường

Hành vi của con người cần phải được thực hiện trong một bối cảnh lớn hơn bao gồm các môi trường khác nhau trong đó họ thực hiện chức năng của mình Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến mỗi cá nhân và chiều ngược lại cá nhân cũng có thể ảnh hưởng đến yếu tố của môi trường Điều này tạo lên nguyên lý, công tác xã hội cần được thực hiện trong bối cảnh môi trường có các yếu tố trợ giúp cá nhân nâng cao năng lực của mình

Hình 1.2 Con người trong môi trường xã hội của cá nhân

CÁ NHÂN

Là một con người có đặc điểm tâm sinh lý

Các mối quan hệ xã hội về vật chất/sinh học tâm lý tình cảm nhận thức

Trang 27

Các yếu tố cấu thành công tác xã hội cá nhân bao gồm cá nhân, vấn đề của đối tượng đang gặp phải, cơ quan, tổ chức, các quy trình nghiệp vụ công tác xã

hội Trong đó:

- Cá nhân có thể là bất cứ ai: người đàn ông, phụ nữ, trẻ em, thanh niên, người già… mà họ thấy cần có sự trợ giúp về những vấn đề trong cuộc sống Khi họ bắt đầu nhận được sự trợ giúp đó, họ được gọi là "thân chủ" Mỗi cá nhân luôn thay đổi và hoàn chỉnh qua quá trình sống

- Vấn đề của cá nhân là khi nhu cầu của họ không được đáp ứng, họ có những trở ngại trong cuộc sống, sự thất vọng hoặc không thích nghi Những yếu tố này đe dọa cuộc sống của họ, khiến họ hoạt động không hiệu quả, kém thích nghi Vấn đề của thân chủ thường phức tạp và đa dạng Do vậy cần "chia nhỏ" vấn đề để giải quyết Thân chủ và NVXH cần cùng làm việc để xác định vấn đề ưu tiên, vấn

đề trọng tâm để giải quyết trong các vấn đề thân chủ đang gặp phải

- Các cơ quan/tổ chức cung cấp dịch vụ xã hội hoặc cơ sở xã hội cung cấp dịch vụ xã hội thuộc cơ quan phúc lợi Đây là cơ quan và tổ chức xã hội được thiết lập để giải quyết các vấn đề xã hội của con người, giúp những người đang gặp các vấn đề trong cuộc sống

Lý thuyết vai trò

Vai trò là khái niệm nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích những kỳ vọng trong xã hội ấy Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và nhóm đối tác đó có một

hệ kỳ vọng riêng của họ Vai trò không chỉ đơn giản liên quan đến những hành vi được xã hội quan sát mà trong thực tế còn bao gồm xã hội quan niệm những hành vi

đó phải được thực hiện ra sao Những hành vi được thực hiện đúng với mong muốn của xã hội được gọi là những chuẩn mực và giá trị xã hội đó Trong xã hội, mỗi người không phải chỉ đảm nhận một vai trò mà thường đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Các vai trò không được tổ chức và vận dụng logic, hài hòa sẽ dẫn đến xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, biến đổi vai trò Những đòi hỏi quan trọng nhất đối

Trang 28

với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò mà còn thể hiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước của xã hội hay không? Có hai khuynh hướng lý thuyết chính liên quan đến vai trò Khuynh hướng thứ nhất cho rằng quá trình xã hội hóa chính là quá trình xã hội áp đặt các khuôn mẫu vai trò cho các thành viên trong đó Khuynh hướng thứ hai giải thích việc học “đóng vai” ngoài đời giống như học theo một thứ kịch bản gợi ý, một thứ kịch bản mở Loại kịch bản này buộc các “diễn viên” phải linh hoạt với hoàn cảnh thực tế hoặc tạo ra những chi tiết thích hợp để biết rằng mình cần phải làm gì, làm thế nào, làm cho ai

Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy mỗi một bộ phận bao gồm: giáo viên, cán bộ quản lý, NVCTXH, bản thân trẻ, gia đình trẻ…có những vai trò nhất định Mỗi một vai trò thể hiện qua những công việc, nhiệm vụ cũng như trách nhiệm của mình

Đối với cán bộ, giáo viên làm công tác can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật vai trò thể hiện ở việc tổ chức, quản lý các hoạt động trợ giúp, can thiệp qua công việc như: lập kế hoạch, soạn giáo án, phân công nhiệm vụ, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá…các hoạt động trợ giúp và can thiệp Đối với giáo viên, NVCTXH phải thể hiện được vai trò là người quan trọng nhất trong việc đáp ứng nhu cầu của trẻ và thực hiện các hoạt động dạy và chăm sóc trẻ

Tóm lại, các thuyết trên là nền tảng lý luận cho phép nghiên cứu, phân tích,

lý giải mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần, bộ phận, chức năng liên quan đến vấn đề CTXH đối với trẻ khiếm thính; các chức năng của mỗi thành phần, bộ phận

ấy tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự hài hòa của cấu trúc tổng thể; và mỗi thành phần, bộ phận đều có những vai trò cụ thể khi tham gia vào các mối quan hệ trong cùng hệ thống hoặc với hệ thống khác xung quanh Ngoài ra, việc thể hiện nhu cầu và đáp ứng nhu cầu của trẻ khiếm thính cần được đặc biệt quan tâm bởi hơn

ai hết các em đã và đang chịu thiệt thòi hơn về cuộc sống, tình yêu thương so với những trẻ em bình thường khác

Trang 29

1.2.3 Mục đích, nội dung công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính

Hoạt động nghề nghiệp của CTXH là hướng tới tạo ra “thay đổi” tích cực trong xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhóm người yếu thế Công tác xã hội thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương tác hài hoà giữa cá nhân, gia đình và xã hội hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội Hoạt động CTXH cá nhân đối với trẻ khiếm thính hướng tới 2 mục đích cơ bản sau:

Một là, trợ giúp can thiệp sớm cho nhóm đối tượng trẻ khiếm thính có cơ hội hòa nhập cộng đồng

Hai là, tư vấn các dịch vụ xã hội để hỗ trợ trẻ khiếm thính, gia đình trẻ khiếm thính và cộng đồng thực hiện các chức năng, vai trò của họ có hiệu quả

Công tác xã hội, ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới, hướng tới các can thiệp

xã hội nhằm phát triển, bảo vệ, ngăn ngừa và/ hoặc chữa trị cho các nhóm đối tượng, cụ thể như sau:

* Tạo điều kiện thuận lợi hoà nhập cộng đồng cho những nhóm người bị cách

li khỏi xã hội, bị xã hội xua đuổi, bị tước đoạt tài sản, dễ bị tổn thương và đang trong nguy hiểm

* Xoá bỏ những rào cản, thách thức, không bình đẳng và không công bằng tồn tại trong xã hội

* Hỗ trợ và huy động các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng nâng cao chất lượng sống và năng lực giải quyết vấn đề của họ

* Khuyến khích con người tham gia vào các hoạt động liên quan tới các mối quan tâm của vùng, quốc gia, khu vực và thế giới

* Hỗ trợ xây dựng và thực hiện các chính sách phù hợp với các nguyên tắc đạo đức của nghề

Trang 30

* Hỗ trợ sự thay đổi các điều kiện để trợ giúp cá nhân trong tình trạng cách li với xã hội, không có tài sản và dễ bị tổn thương

* Làm việc theo hướng bảo vệ những người có hoàn cảnh không tự bảo vệ được bản thân họ, ví dụ như trẻ em có nhu cầu chăm sóc và những người bị tâm thần hay chậm phát triển trí tuệ, trong khuôn khổ của pháp luật được thừa nhận và hợp với luân thường đạo lý

Trong những đối tượng cần sự hỗ trợ của công tác xã hội thì người khuyết tật là một trong những nhóm yếu thế cần được sự quan tâm, trợ giúp đặc biệt Việc trợ giúp của nhân viên công tác xã hội đối với người khuyết tật được coi là một lĩnh vực chuyên môn sâu của người làm công tác xã hội, lĩnh vực này được gọi là

“công tác xã hội đối với người khuyết tật” Việc hỗ trợ, giúp đỡ đối với người khuyết tật không chỉ có sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội mà còn là công việc của các chuyên gia giáo dục đặc biệt, giáo viên, chuyên gia tâm lý Tuy nhiên

sự trợ giúp của CTXH không đi sâu vào bản thân người khuyết tật hay tìm kiếm nguyên nhân gây khuyết tật, cũng như các phương pháp, biện pháp giáo dục và trị liệu cụ thể mà nhấn mạnh đến việc tác động vào hệ thống chăm sóc và giáo dục người khuyết tật như: gia đình của người khuyết tật; nhà trường; cơ quan; đoàn thể; cộng đồng mà họ sinh sống; làm việc cũng như các chính sách của nhà nước dành cho họ Do vậy công tác xã hội với người khuyết tật có những đặc thù nhất định so với hoạt động công tác xã hội chung

1.2.4 Nguyên tắc công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính

Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp của ngành CTXH có nhiều nguyên tắc khác nhau, tuy nhiên trong quá trình làm việc của CTXH cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính cần bảo đảm nguyên tắc cơ bản:

Các nguyên tắc tâm lý- giáo dục: Chiếm một vị trí to lớn trong cấu trúc các

hình thái lý luận khoa học lôgic Chúng thể hiện yêu cầu lựa chọn phương tiện gây

Trang 31

tác động tâm lý - giáo dục tới thân chủ của những ngành phục vụ xã hội, sự cần thiết phải tính đến đặc điểm của cá nhân trong việc thực hiện bất kỳ các thủ tục công nghệ

- xã hội Những nguyên tắc chủ yếu của nhóm này là: Phân tích tổng hợp việc đánh giá các điều kiện hoạt động sống của thân chủ và lựa chọn các hình thức - phương pháp làm việc với họ, giải pháp cá nhân, mục tiêu và địa chỉ của công tác xã hội

Nguyên tắc thân chủ là trung tâm có nghĩa là thừa nhận việc ưu tiên các

quyền lợi của thân chủ trong mọi trường hợp Trong khuôn khổ của nguyên tắc này

có thể xem xét tính chủ quyền và độc lập của thân chủ - người có quyền tiếp nhận hoặc không tiếp nhận sự giúp đỡ của các cán bộ xã hội, người có quyền lựa chọn một hình thức giúp đỡ nào đó hoặc một kịch bản giải quyết những vấn đề sống còn của mình, cần tiếp nhận một thông tin đầy đủ về công việc đối với họ, kể cả có quyền ngăn cách cuộc sống cá nhân của mình với sự can thiệp của người khác ở mức độ không gây thiệt hại cho quyền hạn và quyền lợi của những người khác

Nguyên tắc dựa vào sức mình nhấn mạnh vai trò chủ thể của thân chủ, vị trí

tích cực của họ trong việc giải quyết những vấn đề của bản thân họ Không thể có một

kẻ nào đó lại có thể thay cho chính con người giải quyết các khó khăn trong đời sống của con người, loại trừ được xung đột, cải thiện được quan hệ với những người thân cận Người cán bộ xã hội cần tham vấn cho thân chủ lựa chọn những giải pháp hỗ trợ tốt nhất, thoát khỏi những khủng hoảng, giúp đỡ về mặt tâm lý cho họ, kích thích tính

tự giúp đỡ bản thân, tạo điều kiện tập hợp những cha mẹ cùng có con bị khuyết tật, bị khiếm thính, hoặc có các vấn đề khó khăn giống nhau lại để cùng khắc phục khó khăn

Nguyên tắc giữ bí mật cho thân chủ có liên quan đến điểm: Trong quá trình

hoạt động người cán bộ xã hội cần có thông tin về thân chủ, mà thông tin này khi được công bố có thể gây hại cho họ hoặc người thân của họ Đó là những thông tin

cá nhân: hồ sơ bệnh án, các thói quen xấu, các xung đột trong gia đình, tội lỗi trong quá khứ và hiện nay Thông tin này chỉ có thể được sử dụng vì mục đích nghề nghiệp, không cần phải công bố, trừ những trường hợp do luật định và có liên quan đến khả năng bạo lực, gây tổn thương cho người khác

Trang 32

*Nguyên tắc chấp nhận: Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản và rất

quan trọng của CTXH nói chung và CTXH cá nhân nói riêng Chấp nhận tạo cơ hội cho nhân viên công tác xã hội xóa đi khoảng cách giữa một nhà chuyên môn và thân chủ là người được giúp đỡ Mỗi con người dù là bình thường hay bất bình thường,

dù nhiều tuổi hay ít tuổi đều có nhân phẩm, có giá trị riêng và có quyền được tôn trọng, bình đẳng Chính vì vậy trong hoạt động trợ giúp, nhân viên xã hội cần phải

có thái độ tôn trọng và chấp nhận họ

*Nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định của trẻ và gia đình: Vai trò của

nhân viên xã hội (NVXH) là người hỗ trợ trẻ và gia đình đưa ra quyết định, phù hợp với hoàn cảnh của họ Như vậy, không phải lúc nào NVXH không quyết định thay, không gây áp lực hay áp đặt ý kiến cá nhân trong việc lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề của các nhân Như vậy trẻ, sẽ tự tin hơn, thấy mình còn có ích, đồng thời cũng thấy rằng hoàn cảnh của họ chưa phải là tuyệt vọng, từ đó nâng cao khả năng

tự ra quyết định, cố gắng khắc phục khó khăn để vươn lên trong cuộc sống

*Nguyên tắc tạo điều kiện tự giải quyết vấn đề: Thực tế cho thấy, vấn đề khó

khăn của trẻ chỉ có thể giải quyết tốt nhất khi có sự tham gia của chính trẻ và gia đình Họ được trải nghiệm thực tiễn, bổ sung, tích lũy kinh nghiệm để giải quyết vấn đề Để khuyến khích, tạo dựng hy vọng, huy động sự tham gia phù hợp thì cần tránh tình trạng gây áp lực có thể làm cho tình trạng của họ không được cải thiện

mà ngược lại trầm trọng thêm

*Nguyên tắc bảo đảm tính khác biệt của mỗi trường hợp: Con người có nhu

cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh sống và tính cách khác nhau nên ngoài những nhu cầu chung không thể thiếu được, mỗi cá nhân còn có những nhu cầu riêng không giống nhau Đây là một yêu cầu đối với NVXH trong thực hành nghề nghiệp là không thể áp dụng một cách máy móc hình thức, phương pháp, thậm chí là họ gặp phải cùng một vấn đề khó khăn như nhau NVXH căn cứ vào các thông tin thu thập được từ đối tượng, từ những người có liên quan thảo luận với họ

và cùng đưa ra những hình thức và phương pháp giúp đỡ phù hợp

Trang 33

1.2.5 Quy trình thực hiện công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính

Quy trình thực hiện công tác xã hội là sự trao đổi tương tác giữa những cán

bộ chuyên nghiệp (nhân viên xã hội) và thân chủ theo các bước với những hoạt động cụ thể nhằm giải quyết vấn đề Quy trình này được chia thành 7 bước như sau:

Bước 1: Tiếp cận và xác định vấn đề ban đầu: Mục đích là tạo mối quan hệ

với thân chủ hướng đến việc hợp tác và chia sẻ thông tin và xác định xem thân chủ

đang gặp phải vấn đề gì?

Bước 2: Thu thập thông tin: Mục đích đề xác định thông tin về tiểu sử xã

hội, điểm mạnh, điểm yếu, vấn đề đề đang gặp phải, những ấn tượng và đề xuất của công tác xã hội đối với trẻ và gia đình trẻ em Thông tin được thu thập qua các nguồn thứ cấp (hồ sơ của trẻ), phỏng vấn, trao đổi, quan sát trẻ Thông thường trước khi thu thập thông tin, cần có bước xây dựng cộng cụ và lựa chọn

phương pháp thu thập thông tin

Bước 3: Chuẩn đoán: Bước này nhân viên công tác xã hội kết hợp các cá

nhân thực hiện trợ giúp cùng xác định và khẳng định lại vấn đề thân chủ gặp phải, nguyên nhân dẫn đến vấn đề, vấn đề cần được giải quyết ở đâu, công việc trị liệu

bắt đầu như thế nào…

Bước 4: Lập kế hoạch can thiệp: Lập kế hoạch do nhân viên CTXH và các

bộ phận chuyên môn lập Trong đó nêu rõ mục tiêu cần đạt được, xác định thời gian trị liệu, xây dựng kế hoạch trị liệu theo từng mốc thời gian, xác định nguồn lực hỗ trợ… Trong quá trình thực hiện lập kế hoạch cần lưu ý là kế hoạch phải được xây dựng trên cơ sở những thông tin thu thập được từ chính thân chủ và hiểu biết của NVXH về các hệ thống hỗ trợ, hệ thống mục tiêu Kế hoạch phải mang tính bao

quát ở các mức can thiệp khác nhau (vi mô, trung mô, vĩ mô - nếu cần thiết)

Bước 5: Thực hiện và giám sát việc thực hiện kế hoạch: Giám sát để đánh

giá kết quả, nhận biết sự thay đổi, giúp điều trình kế hoạch hỗ trợ thân chủ trong việc theo đuổi kế hoạch Chính vì vậy mà giám sát phải được thực hiện trong cả quá

Trang 34

trình can thiệp đối tượng Giám sát cũng cần phải ghi chép lại quá trình thực hiện, đánh dấu những điều làm được, những điều chưa làm được, những đều tiến bộ, những điều cản trở tiến trình phát triển Đồng thời quá trình giám sát phải có sự

tham gia của đối tượng

Bước 6: Lượng giá: Lượng giá về tiến trình và kết quả đầu ra, những việc đã

làm được, chưa làm được, nguyên nhân, những kiến nghị, đề xuất Lượng giá dựa trên

những công việc thực hiện được nhằm hướng đến việc giải quyết vấn đề của thân chủ

Bước 7: Kết thúc: Có thể phát triển một số kế hoạch tiếp theo để thân chủ

theo đuổi thực hiện Thông thường, giai đoạn kết thúc diễn ra khi các mục tiêu can thiệp đạt được hay vấn đề của thân chủ được giải quyết Trong những trường hợp đối tượng đã vượt qua, đối tượng không đủ khả năng theo đuổi kế hoạch, đối tượng qua đời, đối tượng không đồng ý tiếp nhận dịch vụ, đối tượng được chuyển tuyến

…Tuy nhiên, vẫn còn có một số lý do khác khiến việc can thiệp phải kết thúc thân

chủ tự vượt qua được

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân trong trợ giúp và can thiệp sớm trẻ em khiếm thính

1.3.1 Cơ chế chính sách đối với trẻ em khiếm thính

Bản thân trẻ em khiếm thính là nhóm trẻ em khuyết tật và thường luôn gặp khó khăn về kinh tế, có điều kiện sinh hoạt thiếu thốn Đồng thời các điều kiện để gia đình bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền của trẻ là rất khó khăn Cụ thể như đáp ứng yêu cầu về giáo dục, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí…Chính điều này đòi hỏi cần có chính sách trợ giúp về đời sống, hỗ trợ trong giáo dục, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí và đặc biệt là hỗ trợ trang bị phương tiện phục hồi khả năng nghe của trẻ Cơ chế chính sách bao gồm cả chính sách chung và chính sách riêng của địa phương Đối với việc trợ giúp, can thiệp sớm ở các cơ sở cung cấp dịch vụ thì chính sách phải toàn diện các phương diện chăm sóc, giáo dục cũng như đáp ứng các nhu cầu cho trẻ, giúp các em được đảm bảo quyền lợi và có cuộc sống tốt nhất

Trang 35

1.3.2 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc, giáo dục

Yếu tố cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu chăm sóc, nhu cầu giáo dục cho trẻ tại các cơ sở trợ giúp xã hội (như Trung tâm trợ giúp, can thiệp sớm) là rất quan trọng Trẻ khiếm thính sống ở cộng đồng, chăm sóc ở các cơ sở dịch vụ chăm sóc như Trung tâm Hương Giang luôn có nhu cầu và cơ sở chăm sóc phải bảo đảm ăn, mặc, ở…để đáp ứng được các nhu cầu đó, cơ sở phải xây dựng không gian sống, sinh hoạt và học tập tốt nhất Nếu cơ sở vật chất nghèo nàn, thiếu thốn, không đầy đủ các trang thiết bị thiết yếu thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động chăm sóc trẻ Để các hoạt động về chăm sóc trẻ đạt được các yêu cầu đề ra thì các yếu tố về cơ sở vật chất là không thể thiếu và là điều kiện tiên quyết để giúp trẻ mồ côi phát triển, đáp ứng được các nhu cầu đề ra

1.3.3 Điều kiện về nguồn lực con người

Nhân viên công tác xã hội là những người có kiến thức kỹ năng, có tay nghề vững chắc, họ là cầu nối giữa các đối tượng với nguồn lực hỗ trợ của xã hội và kết nối giữa các phòng, ban, tổ chức có liên quan đến đối tượng để có được sự thống nhất nhằm hiệu quả tối đa nguồn hỗ trợ cho đối tượng Chính vì thế nhân viên công tác xã hội có vai trò trách nhiệm rất quan trọng trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, giáo dục trẻ Nếu nhân viên công tác xã hội có đủ bốn yếu tố: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và thái độ phục vụ tốt sẽ là tiền đề giúp trẻ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, giáo dục và ngược lại nếu nhân viên công tác xã hội có những hạn chế về những vấn đề đó sẽ là rào cản lớn trong việc tiếp cận các dịch vụ của trẻ

1.3.4 Đặc trưng, nhu cầu trợ giúp và can thiệp sớm của trẻ em khiếm thính trên địa bàn

Trẻ em khiếm thính do có sự khác biệt so với các trẻ bình thường khác nên tâm lý của nhiều em còn trông chờ, ỷ lại, chưa chủ động trong các hoạt động chung cũng như những hoạt động phục vụ cho chính cuộc sống của các em Nên các em chưa chủ động trong các hoạt động phục vụ cho việc đáp ứng các nhu cầu chăm sóc, hay dịch vụ giáo dục thì sẽ là rào cản đối với các nhân viên công tác xã hội trong

Trang 36

hoạt động chăm sóc và đáp ứng các dịch vụ, nhu cầu của trẻ và ngược lại, nếu các

em luôn có tinh thần cầu tiến, chủ động trong các hoạt động, tích cực học hỏi, chăm chỉ học hành, tự chăm sóc bản thân thì đã góp phần trong việc giúp các em tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, dịch vụ giáo dục phục vụ cho chính mình và cho tập thể cũng

là động lực cho các em khác học tập và noi theo

Nhu cầu được chăm sóc sức khỏe và giáo dục là yếu tố ảnh hưởng tới các hoạt động công tác xã hội đối với chính trẻ em khiếm thính Nếu các nhân viên công tác xã hội sẵn sàng giúp đỡ, phục vụ trẻ nhưng trẻ lại không có nhu cầu về chăm sóc hay nhu cầu đáp ứng các dịch vụ giáo dục thì mọi cố gắng của các nhân viên công tác xã hội sẽ trở thành vô nghĩa Nhưng ngược lại, nếu sự nhiệt tình trợ giúp của các nhân viên công tác xã hội cộng với sự nỗ lực mong muốn được đáp ứng thì hoạt động công tác xã hội sẽ thuận lợi hơn

1.4 Hệ thống pháp luật về chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật

Vấn đề khuyết tật, đặc biệt là trẻ khuyết tật ngày càng được các quốc gia

trên thế giới quan tâm Việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em khuyết tật được xác định không chỉ có ý nghĩa nhân đạo mà còn là vấn đề mang tính chất kinh tế,

xã hội và pháp lý Liên hiệp quốc cùng cộng đồng quốc tế đã có những hoạt động tích cực và ra một số văn bản liên quan đến quyền của người khuyết tật, trong đó

có trẻ em khuyết tật bao gồm: Tuyên ngôn về quyền của người khuyết tật về tâm thần 1971(The Declaration on the Rights of Mentally Retarted Persons); Tuyên ngôn về quyền của người khuyết tật 1975 (The Declaration on the Rights of Disabled Pesons); Chương trình hành động thế giới về người khuyêt tật 1982 (The World programme of Action for Disabled Persons); Thập kỷ của Liên hiệp quốc

về người khuyết tật giai đoạn 1983 -1992 (The United Nations Decade of Disabled Persons); Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989; Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật 2007

Việt Nam, sau 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng phấn khởi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đời sống của người dân ngày càng được nâng lên, thành tựu to lớn trên các mặt kinh tế, xã hội Những thành

Trang 37

tựu đó đã khẳng định con đường mà Đảng ta và Bác Hồ đã cho là hoàn toàn đúng đắn

là xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Thực hiện song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, Đảng ta rất quan tâm đến việc thực hiện các chính sách xã hội: xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, thực hiện công bằng xã hội…Đặc biệt, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến các đối tượng người dân bị thiệt thòi, trong đó có đối tượng trẻ em khuyết tật, quan tâm đến nhu cầu học tập, hòa nhập cộng đồng của những trẻ em bị khuyết tật, thiệt thòi trong cuộc sống, tạo cơ hội để các em vượt lên số phận, trở thành người lao động có khả năng cống hiến công sức của mình cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế thị trường đã mang lại cho chúng ta những thành tự kinh tế to lớn, nhưng tác động mặt trái của nó cũng không nhỏ làm thay đổi một số giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, đạo đức của một bộ phân học sinh phổ thông nói chung đang bị sa sút, đua đòi chạy theo những phong trào không lành mạnh, sống thực dụng, thiếu hoài bảo lý tưởng, thiếu lòng nhân ái, tiêm nhiễm các tệ nạn xã hội vì vậy công tác xã hội đối với trẻ khiếm thính không còn phải quan tâm việc giáo dục đạo đức cho các em, hình thành

ở các em những giá trị nhân cách tốt đẹp

Hiểu rõ vai trò đó của giáo dục, Đảng ta cũng nêu rõ “Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững” (Nghị quyết Trung ương Đảng khoá VIII) Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển giáo dục, chúng ta còn thực hiện sự công bằng trong giáo dục Có thể nói vấn đề công bằng giáo dục được coi là trọng tâm và là nhiệm vụ chính trị của ngành giáo dục Chính

vì lẽ đó, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến những người thiệt thòi trong xã hội, nhất là đối với trẻ em bị khuyết tật về thể chất và tinh thần

Để thực hiện các Công ước, nghị quyết của liên hiệp quốc và các cuộc vận động, chương trình hành động khu vực Châu Á- Thái Bình Dương về các vấn đề người khuyết tật mà Việt Nam tham gia, đồng thời thực hiện trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, xã hội đối với người khuyết tật, nhiều chính sách văn bản pháp luật về người khuyết tật đã được ban hành Cụ thể: Luật Trẻ em,Luật giáo dục, Luật người

Trang 38

khuyết tật, Luật dạy nghề, Luật Việc làm, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật bảo hiểm y tế…Đồng thời Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành hàng trăm nghị đinh, thông

tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chính sách đối với người khuyết tật, trẻ

em khuyết tật (trong đó có trẻ em khiếm thính) Cùng với hệ thống pháp luật, Chính phủ cũng đã và đang triển khai Chiến lược phát triển giáo dục giai đoan 2011-2020,

Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2011-2020, Đề án nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020, Đề án quy hoạch hệ thống cơ sở chăm sóc xã hội (có cơ sở chăm sóc trẻ em khiếm thính)…

Kết luận chương 1

Với nhiệm vụ tìm hiểu, cung cấp hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn, chương

1 tập trung đi sâu vào làm sáng tỏ những hiểu biết chung về người khuyết tật nói chung và trẻ em khiếm thính nói riêng, các lý thuyết ứng dụng trong quá trình nghiên cứu cùng với những khái niệm liên quan; đồng thời trang bị những kiến thức

cơ bản nhất về nghề nghiệp chuyên môn công tác xã hội

Bên cạnh đó, việc đưa ra cơ sở thực tiễn của đề tài cũng là một nội dung chủ đạo trong chương này Thông qua việc tìm hiểu nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật, các chính sách trên thế giới cũng như tại Việt Nam về người khuyết tật đã góp phần chứng minh rằng; mặc dù hiện nay người khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng đã nhận được nhiều sự quan tâm hơn từ xã hội nhưng tất cả những

sự trợ giúp đó còn mang tính chủ quan, nặng về hình thức mà chưa thực sự tìm hiểu, đánh giá đúng những nhu cầu, mong muốn của người khuyết tật

Như vậy, chính cơ sở lý luận và thực tiễn đã một lần nữa khẳng định việc

thực hiện đề tài “ Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn Trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật Hương Giang, tỉnh Yên Bái”

là hoàn toàn có căn cứ, cơ sở, xuất phát từ chính nhu cầu của trẻ khiếm thính

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI

TRẺ KHIẾM THÍNH TẠI TRUNG TÂM TRỢ GIÚP VÀ CAN THIỆP SỚM

TRẺ KHUYẾT TẬT HƯƠNG GIANG, TỈNH YÊN BÁI

2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm kinh tế- xã hội tỉnh Yên Bái

Yên Bái là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc có một thị xã, 7 huyện

và một thành phố trực thuộc tỉnh, với 180 xã, phường, thị trấn Trong đó, 70 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn

Về dân số: Năm 2015, tổng dân số trên 78 vạn người (nữ chiếm 50,1%) và 80% sống ở khu vực nông thôn Tỉnh Yên Bái có 30 nhóm dân tộc thiểu số, trong

đó có 07 nhóm có số dân trên 10.000 người, chiếm tỷ lệ đông dân nhất là nhóm người Kinh, chiếm khoảng trên một nửa dân số toàn tỉnh, tiếp theo là nhóm người Tày dưới 20%, nhóm người Dao và H’Mông, mỗi nhóm dưới 10% Mỗi nhóm dân tộc có nền văn hoá và ngôn ngữ khác nhau, có những nét khác biệt về phương thức sản xuất và thích ứng với môi trường địa phương

Về diện tích: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 688.300 ha, trong đó 70%

là cao nguyên và núi, khoảng 30% diện tích đất thích ứng cho nhiều loại cây trồng

Về cơ sở hạ tầng: Tỷ lệ phủ sóng phát thanh đạt 97%, sóng truyền hình đạt 95% địa bàn dân cư, 91,2% số xã có điện thoại, 91,2% số xã có điện lưới quốc gia

Về giao thông có 4.647 km đường bộ, trong đó có 4 tuyến quốc lộ, 11 tuyến tỉnh lộ, 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã

Về giáo dục: Tỉnh Yên Bái được xếp vào hạng “có mức phát triển trung bình”, xếp thứ 53/64 tỉnh thành theo chỉ số phát triển nguồn nhân lực quốc gia (HDI), là tỉnh có tỷ lệ nghèo đói còn ở mức cao Tuổi thọ bình quân của người dân là 67,2 tuổi 12,9% người dân không thể sống đến tuổi 40 40,6% trẻ em suy dinh dưỡng

Trang 40

19,9% dân số không sử dụng công trình vệ sinh Tỷ lệ biết chữ của người lớn đạt 84,8% Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học chiếm 85%

Về y tế chăm sóc sức khoẻ nhân dân: Có 248 cơ sở điều trị, điều dưỡng, trong đó có 04 bệnh viện tuyến tỉnh, 08 bệnh viện tuyến huyện, 27 phòng khám đa khoa khu vực, 178 trạm y tế xã, phường, thị trấn với 2.462 giường bệnh Tổng số cán bộ y tế là 2.735 người, trong đó có 425 bác sỹ ; 39,4% trạm y tế xã, phường có

em khiếm thính còn nhiều khó khăn Theo kết quả khảo sát của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phần lớn các hộ có trẻ em khiếm thính đều có mức sống thấp, có 32,5% số hộ thuộc loại nghèo, 58% số hộ có mức sống trung bình, chỉ

có 9% số hộ thuộc loại khá và 0,5 % số hộ giàu, 24 % ở nhà tạm, 34% từ 6 tuổi chưa biết chữ và 21,24 % chưa tốt nghiệp tiểu học, 88,9% từ 16 tuổi trở lên chưa được đào tạo chuyên môn Những khó khăn này cản trở trẻ em khiếm thính, người khiếm thính tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng

Tỉnh Yên Bái hiện có 01 Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật được thành lập tháng 01/2009 (trước đây là Trung tâm Nuôi dưỡng giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn) Hiện nay, trung tâm có 24 cán

bộ giáo viên, nhân viên và 60 học sinh trong đó có 41 học sinh khuyết tật, còn lại học sinh dân tộc vùng sâu, vùng cao, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ các vùng, miền, huyện, thị, thành phố trong toàn tỉnh So với các loại hình giáo

Ngày đăng: 07/10/2016, 10:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Chính phủ (2012), Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020 10. Đại học Văn Lang, TP Hồ Chí Minh (30/8/2011), bài viết “Việc làm chongười khuyết tật: Một số cách tiếp cận”, trong kỷ yếu Hội thảo về Việc làm cho người khuyết tật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020 "10. Đại học Văn Lang, TP Hồ Chí Minh (30/8/2011), bài viết "“Việc làm cho "người khuyết tật: Một số cách tiếp cận”
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
14. Huỳnh Thị Thu Hằng, CN. Lê Thị Hằng, CN. Trần Thị Hòa (2008), Can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật
Tác giả: Huỳnh Thị Thu Hằng, CN. Lê Thị Hằng, CN. Trần Thị Hòa
Năm: 2008
15. Lê Minh Hằng (2013), Giáo dục hòa nhập - Cánh cửa mở rộng cho cho trẻ em khuyết tật tại Việt Nam”, Trường Swarthmore College, năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hòa nhập - Cánh cửa mở rộng cho cho trẻ em khuyết tật tại Việt Nam”
Tác giả: Lê Minh Hằng
Năm: 2013
16. Hội trợ giúp người khuyết tật Việt Nam, USAID và Trường Đại học Lao động xã hội (2014), Công tác xã hội với người khuyết tật, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: Hội trợ giúp người khuyết tật Việt Nam, USAID và Trường Đại học Lao động xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2014
17. Bùi Thị Huệ (2011), Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc giải quyết vấn đề của người khuyết tật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc giải quyết vấn đề của người khuyết tật
Tác giả: Bùi Thị Huệ
Năm: 2011
18. ILO và Cơ quan hợp tác phát triển Ailen (2004), Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, Thụy Sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật
Tác giả: ILO và Cơ quan hợp tác phát triển Ailen
Năm: 2004
19. Trần Văn Kham, Công tác xã hội với người khuyết tật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với người khuyết tật
20. Nguyễn Ngọc Lâm (2005), Công tác xã hội với trẻ em và gia đình, Đại học Mở bán công thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với trẻ em và gia đình
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lâm
Năm: 2005
23. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2012
24. Đỗ Hạnh Nga (2011), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Công tác xã hội - kết nối và chia sẻ, trường Đại học KHXH&NV Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Công tác xã hội - kết nối và chia sẻ
Tác giả: Đỗ Hạnh Nga
Năm: 2011
25. Nguyễn Thị Oanh (1997), An sinh xã hội và các vấn đề xã hội, Đại học Mở bán công thánh phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội và các vấn đề xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 1997
26. Lê Văn Phú (2004), Nhập môn công tác xã hội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
29. Hà Thị Thư (2008), Tâm lý học phát triển, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Hà Thị Thư
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2008
31. Hà Thị Thư (2012), Công tác xã hội với người khuyết tật, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: Hà Thị Thư
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2012
32. Nguyễn Hiệp Thương (2007). Công tác xã hội với NKT, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với NKT
Tác giả: Nguyễn Hiệp Thương
Năm: 2007
34. Trần Đình Tuấn (2010), Công tác xã hội lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội lý thuyết và thực hành
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
35. UNFPA (2011), Người khuyết tật ở Việt Nam: Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam 2009. UNFPA - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người khuyết tật ở Việt Nam: Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam 2009
Tác giả: UNFPA
Năm: 2011
1. Nguyễn Quốc Anh (2010), Thực trạng người khuyết tật và kết quả thực hiện chăm sóc người khuyết tật Khác
2. Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (2010), Tài liệu hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Khác
3. Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (2010), Báo cáo năm 2010 về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Thang nhu cầu của Maslow - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái
Hình 1.1. Thang nhu cầu của Maslow (Trang 23)
Hình 1.2. Con người trong môi trường xã hội của cá nhân - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái
Hình 1.2. Con người trong môi trường xã hội của cá nhân (Trang 26)
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức trung tâm - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức trung tâm (Trang 44)
Bảng 2.1. Nhu cầu sử dụng dịch vụ tại Trung tâm Hương Giang - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái
Bảng 2.1. Nhu cầu sử dụng dịch vụ tại Trung tâm Hương Giang (Trang 47)
Bảng 2.2. Thực trạng đáp ứng dịch vụ công tác xã hội đối với gia đình có  trẻ khiếm thính được TG & CTS tại Trung tâm Hương Giang - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái
Bảng 2.2. Thực trạng đáp ứng dịch vụ công tác xã hội đối với gia đình có trẻ khiếm thính được TG & CTS tại Trung tâm Hương Giang (Trang 48)
Bảng 2.3.  Một ngày hoạt động của G tại trung tâm - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái
Bảng 2.3. Một ngày hoạt động của G tại trung tâm (Trang 56)
Bảng 3.1. Nội dung khi đánh giá sự tiến bộ của trẻ khiếm thính tại - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái
Bảng 3.1. Nội dung khi đánh giá sự tiến bộ của trẻ khiếm thính tại (Trang 73)
Bảng 3.2. Nguyên tắc trợ giúp mà nhân viên CTXH đang thực hiện tại - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái
Bảng 3.2. Nguyên tắc trợ giúp mà nhân viên CTXH đang thực hiện tại (Trang 74)
BẢNG THU THẬP THÔNG TIN  (Dành cho cán bộ, giáo viên tại Trung tâm) - Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ khiếm thính từ thực tiễn trung tâm trợ giúp và can thiệp sớm trẻ khuyết tật hương giang, tỉnh yên bái
nh cho cán bộ, giáo viên tại Trung tâm) (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w