Cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế, nhiều vấn đề xã hội đang được đặt ra: khoảng cách gia tăng giữa nông thôn và đô thị, giữa giàu và nghèo đã tạo nên nhiều sự biến đổi xã hội
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ TRANG ĐÀI
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
TỪ THỰC TIỄN TẠI TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS BÙI ANH THỦY
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt từ thực tiễn tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” là công trình nghiên cứu của bản
thân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, được trích từ các nguồn công khai, hợp pháp, không sao chép từ bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Trang Đài
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, thầy cô, bạn bè, những người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS TS Bùi Anh Thủy Với sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm, thầy không chỉ giúp đỡ tôi về kiến thức, phương pháp, mà còn truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong quá trình nghiên cứu cho tôi để tôi có thể hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin cảm ơn tất cả thầy cô giáo trong Khoa Công tác xã hội đã tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, người dân và các em có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng cũng như tại các cơ sở Bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã nhiệt tình giúp tôi trong quá trình điều tra và thu thập thông tin thực địa
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do khả năng còn hạn chế nên khóa luận khó tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý vị
để báo cáo được hoàn thiện hơn
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 6 năm 2016
Học viên
Lê Thị Trang Đài
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 9
1.2 Chính sách xã hội 11
1.3 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 15
1.4 Cơ sở pháp lý hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 20
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TẠI TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU 27
2.1 Đặc điểm địa lý- kinh tế- xã hội tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu 27
2.2 Thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 29
2.3.Chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu hiện nay 37
2.4 Việc thực hiện chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vẫn còn nhiều bất cập, nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gặp khó khăn trong cuộc sống 67
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 71
3.1 Những phương hướng chung bảo đảm chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 71
3.2 Những giải pháp cụ thể bảo đảm chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 72
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Phân bố TECHCĐB tại tỉnh BR-VT 29
Bảng 2.2 Đặc điểm xã hội TECHCĐB tỉnh BR-VT 30
Bảng 2.3 Phân dạng TECHCĐB tỉnh BR-VT 32
Bảng 2.4 Các CSXH đối với TECHCĐB 33
Bảng 2.5 Nhu cầu của TECHCĐB, mong muốn của người thân 35
Bảng 2.6 Mức trợ cấp xã hội hàng tháng đối với TECHCĐB 38
Bảng 2.7 Trợ cấp xã hội cho TECHCĐB 39
Bảng 2.8 Bữa ăn mỗi sáng của TECHCĐB 46
Bảng 2.9 Nhận xét của TECHCĐB về không gian nhà ở 48
Bảng 2.10 Mức độ nói chuyện và tâm sự của TECHCĐB 50
Bảng 2.11 Nội dung nói chuyện của TECHCĐB với người chăm sóc 51
Bảng 2.12 Tỷ lệ TECHCĐB được tiêm chủng 52
Bảng 2.13 Cảm nhận về sức khỏe của TECHCĐB 52
Bảng 2.14 Cách chăm sóc sức khỏe của TECHCĐB khi bị bệnh 54
Bảng 2.15 Tỷ lệ TECHCĐB tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí 62
Bảng 2.16 Hình thức giải trí của TECHCĐB 63
Bảng 2.17 Sự khuyến khích TECHCĐB tham gia hoạt động xã hội 65
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Từ khi thực hiện đường lối Đổi mới do Đại hội lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra năm 1986, đến nay nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển cơ bản, đời sống của nhân dân được cải thiện đáng kể Cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế, nhiều vấn đề xã hội đang được đặt ra: khoảng cách gia tăng giữa nông thôn và đô thị, giữa giàu và nghèo đã tạo nên nhiều sự biến đổi xã hội phức tạp, nhiều dòng di cư lao động từ nông thôn ra các đô thị ngày càng tăng, kéo theo vấn đề người già và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, ô nhiễm môi trường, tệ nạn
xã hội…
Một trong những đối tượng yếu thế đáng quan tâm nhất là TECHCĐB Đây
là những trẻ chịu nhiều thiệt thòi vì các em có khuyết tật về mặt thể chất, tinh thần
so với trẻ em cùng lứa tuổi khác, chính vì vậy các em cần được sự quan tâm đặc biệt Theo đánh giá của Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và chăm sóc trẻ
em giai đoạn 2011-2015, Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ TECHCĐB, tuy nhiên, một bộ phận các em vẫn chưa thoát ra khỏi hoàn cảnh của chính mình để hòa nhập xã hội Tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, bất bình đẳng về cơ hội phát triển giữa nhóm trẻ em nghèo và không nghèo, giữa trẻ em ở vùng nông thôn với trẻ em ở vùng đô thị, dẫn đến nguy cơ gia tăng trẻ em lao động, trẻ em lang thang, tai nạn thương tích trẻ em, trẻ em vi phạm pháp luật Sự thay đổi trong các chuẩn mực về giá trị sống và đạo đức xã hội có sự thay thế từng bước của gia đình hạt nhân cho gia đình truyền thống
đa thế hệ đã làm tăng nguy cơ sao nhãng, ngược đãi, bạo lực và xâm hại trẻ em Theo dự báo, công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em trong những năm tới đang đứng trước những khó khăn, thách thức mới Chính vì vậy, nhằm nâng cao hoạt động hỗ trợ xã hội cho các trẻ em, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 647/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 phê duyệt Đề án Chăm sóc TECHCĐB khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hỗ trợ nhóm chủ thể yếu thế này
Trang 8Nhờ hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội, sự phối hợp chung tay hoạt động của các ban ngành liên quan trong việc huy động các nguồn lực mà TECHCĐB trên địa bàn tỉnh BR-VT đã và đang được quan tâm chăm sóc nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải giải quyết Vì ngoài vai trò quan trọng của người trực tiếp chăm sóc trẻ, bên cạnh đó còn là cộng đồng nơi trẻ sống, các chế độ chính sách cũng là đối tượng tích cực trong việc giúp TECHCĐB hòa nhập với xã hội
Chúng ta biết rằng, việc hoạch định ra được một chính sách xã hội đúng đắn
đã khó Nhưng để đưa chính sách xã hội đó vào cuộc sống, được cuộc sống chấp nhận và đạt được mục tiêu đề ra lại càng khó khăn hơn Điều đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể, xem xét sự tác động của chính sách xã hội tới đối tượng của nó để có thể thấy sự bất cập của một chính sách khi đi vào cuộc sống tới đối tượng cụ thể để nhận thức rõ hơn những vấn đề tích cực cũng như hạn chế để giúp cho hoạt động công tác xã hội với TECHCĐB ngày càng tốt hơn, phù hợp hơn với điều kiện phát triển xã hội hiện nay Tuy nhiên hiện nay trên địa bàn tỉnh BRVT vẫn chưa có một cuộc khảo sát nào có quy mô trên toàn tỉnh nghiên cứu về hoạt động chính sách xã hội cho TECHCĐB Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề
tài “Chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn tại tỉnh Bà
Rịa-Vũng Tàu” làm đề tài luận văn thạc sĩ công tác xã hội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về TECHCĐB, trong đó có thể
kể đến các nghiên cứu tiêu biểu sau:
Tài liệu tập huấn “Công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt”
của tổ chức CFSI, bao gồm các chuyên đề của CTXH với các nhóm có nhu cầu đặc biệt trong xã hội như: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật, người có HIV, người cao tuổi, người sử dụng ma túy…
Nghiên cứu “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt- Lý luận và thực tiễn” của tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Dung, trình bày những qui định pháp luật về bảo vệ TECHCĐB, thực trạng việc bảo vệ TECHCĐB, từ đó đưa ra kiến nghị khắc phục những bất cập nhằm bảo vệ trẻ em tốt hơn
Trang 9Chuyên đề “Bảo vệ trẻ em” của tổ chức UNICEF tại Việt Nam Nội dung
báo cáo chỉ ra ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế đến an sinh của con người, đặc biệt là trẻ em Sự thiếu hụt hệ thống mạng lưới hỗ trợ xã hội chuyên nghiệp dẫn đến việc hỗ trợ cho trẻ em còn nhiều hạn chế Những hoạt động và kết quả đạt được của UNICEF tại Việt Nam Hướng hoạt động nâng cao năng lực cho hệ thống nhân lực trong lĩnh vực hỗ trợ trẻ em
Nghiên cứu “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ
sở lý luận và thực tiễn pháp lý dân sự ở Việt Nam hiện nay” của Dương Hải Yến đã
phân tích các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ chăm sóc TECHCĐB từ đó đưa ra giải pháp để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ chăm sóc TECHCĐB trong thực tiễn
Nghiên cứu “Thực trạng chăm sóc bảo vệ trẻ em Việt Nam” của Đỗ Văn
Bình chỉ ra thực trạng chăm sóc bảo vệ trẻ em ở Việt Nam giai đoạn 2008, nguyên nhân của thực trạng và đề xuất giải pháp ưu tiên về chăm sóc và bảo vệ trẻ em
Bài trích “Trang bị kỹ năng sống cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” của Quỹ
Bảo trợ trẻ em Hà Nội, đưa ra gợi ý về các kỹ năng sống cơ bản để giúp các em tự tin, chủ động vượt qua những khó khăn cũng như những tình huống bất lợi xảy ra trong cuộc sống, xóa bỏ mặc cảm
Nghiên cứu “Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các dự báo đến năm
2020” của tác giả Lê Thu Hà, đã phản ánh thực trạng TECHCĐB khó khăn ở Việt
Nam đến năm 2010, cơ hội thách thức và các dự báo đến năm 2020 Qua đó, có thể thấy nhóm TECHCĐB đang cần rất nhiều hỗ trợ để hòa nhập cộng đồng Xã hội cần
ý thức việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em để hạn chế gia tăng số lượng của nhóm chủ thể này trong giai đoạn mới
Chuyên đề “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng
đồng-những cơ sở xã hội và thách thức” của Nguyễn Hồng Thái Chăm sóc thay thế
trẻ em đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng-chuyển đổi từ cách tiếp cận truyền thống sang cách tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em Chăm sóc trẻ đặc biệt khó khăn tại trung tâm bảo trợ xã hội và những trở ngại có thể có trong việc thực hiện quyền
Trang 10trẻ em Thách thức và trở ngại của chiến lược chăm sóc trẻ em đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng
Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản về trẻ em Việt Nam” của Đặng Bích Thủy
đã chỉ ra những vấn đề xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em đang phải đối mặt như bất bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội chăm sóc, bảo vệ, lao động sớm, bị xâm hại,
bị bỏ rơi
Bài viết “Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc
phát triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ
Thị Ngọc Phương, trong đó nhận định: tại Anh, Mĩ, c, Philippines, Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các Bộ và cơ sở
Tài liệu tập huấn “Công tác xã hội với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt”
của tổ chức CFSI bao gồm các chuyên đề của CTXH với các nhóm có nhu cầu đặc biệt trong xã hội như: trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người khuyết tật, người có HIV, người cao tuổi, người sử dụng ma túy…
Tài liệu tập huấn “Hỗ trợ tâm lý xã hội cho những người dễ bị tổn thương”
của tổ chức CFSI
Nghiên cứu “Tình hình học nghề của trẻ em đường phố tại TP Hồ Chí
Minh” do nhóm tác giả Đỗ Văn Bình, Trần Thị Vân, Nguyễn Thị Nhật, Tống Thanh
Vân (Trung tâm nghiên cứu xã hội, Hội LHTNVN, SCF/UK phòng nghiên cứu tư vấn phát triển xã hội 1995) tiến hành Nghiên cứu đã cho thấy những thuận lợi và khó khăn trong việc học nghề của trẻ đường phố
“Khả năng tái hội nhập với gia đình của trẻ lang thang và trẻ em lao động”
do Viện nghiên cứu thanh niên thực hiện Nghiên cứu được thực hiện tại một xã nghèo nhất của huyện Ninh Thanh-Hải Dương, nơi mà 70% trẻ bỏ nhà ra đi Nghiên cứu đề cập những giá trị truyền thống, các chuẩn mực, quan niệm, cũng như thái độ của trẻ về đời sống gia đình
“Trẻ em trong bóng tối” nghiên cứu của Trung tâm CTXH, Hội LHTNVN
với sự hỗ trợ của Radda Barnen, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1999 Cuộc
Trang 11nghiên cứu này đã khảo sát tình trạng bán dâm của trẻ em tại TP.HCM
Trên cơ sở phân tích các công trình nghiên cứu trên đã cho thấy sự quan tâm, tìm hiểu và đề ra những giải pháp tốt đối với TECHCĐB Tuy nhiên những nghiên cứu này cũng mới chỉ đề cập đến vấn đề mối quan hệ giữa TECHCĐB với gia đình, việc học nghề, nhu cầu của TECHCĐB… mà chưa đề cập đến các chính sách xã hội đối với TECHCĐB Do đó, luận văn này sẽ tìm hiểu và mô tả những kết quả đạt được, thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân trong quá trình thực hiện các chính sách
xã hội đối với TECHCĐB tại tỉnh BR-VT hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp để góp phần đảm bảo hoạt động chính sách xã hội cho các em
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng thực hiện chính sách xã hội đối với TECHCĐB tại tỉnh BR-VT, đề tài đề xuất số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách xã hội đối với TECHCĐB
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về Chính sách xã hội đối với TECHCĐB
từ thực tiễn TECHCĐB tại tỉnh BR–VT
- Đánh giá thực trạng Chính sách xã hội đối với TECHCĐB và những yếu tố chi phối đến công tác Chính sách xã hội đối với TECHCĐB tại tỉnh BR – VT
- Đưa ra khuyến nghị về giải pháp cho việc thực hiện Chính sách xã hội đối với TECHCĐB theo hướng chuyên nghiệp
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Chính sách xã hội đối với TECHCĐB từ thực
tiễn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này tập trung nghiên cứu thực trạng chính
sách xã hội đối với TECHCĐB trên địa bàn tỉnh
Về mặt thời gian: nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ 2010 đến 2015 với
Trang 12thời gian khảo sát trong 3 tháng (2/2016 đến 4/2016)
Về nội dung: tập trung vào đánh giá thực trạng thực hiện chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại tại các trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghiên cứu chính sách xã hội tác động tới đời sống TECHCĐB phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với các chính sách xã hội đối với các giai cấp, các tầng lớp các nhóm xã hội khác nhau
Nghiên cứu chính sách xã hội tác động tới đời sống TECHCĐB phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với các chính sách xã hội đối với các giai cấp, các tầng lớp các nhóm xã hội khác nhau
Bản chất của nghiên cứu là nghiên cứu khảo sát và trong đề tài này tác giả sử dụng bốn phương pháp nghiên cứu cơ bản:
- Nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu định lượng
- Nghiên cứu định tính
- Phương pháp quan sát Trong đó, chủ yếu là phương pháp nghiên cứu định lượng và tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để bổ sung chuyên sâu cho một số vấn đề nghiên cứu mà bằng phương pháp nghiên cứu định lượng khó thu thập được hết các khía cạnh của vấn đề
5.1 Nghiên cứu tài liệu
Với phương pháp này chúng tôi thu thập các cách tiếp cận nghiên cứu, các luận điểm, luận cứ, các kết quả phân tích thực nghiệm, các khác biệt và tranh luận đối với các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài Mục đích của phương pháp này là dựa trên các tài liệu đã có từ thống kê, báo cáo, các luận văn có liên quan đến vấn đề tác động của quá trình đô thị hóa Qua những nghiên cứu trên giúp cho tác giả có thêm thông tin và cơ sở lý luận phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Trang 13Thu thập, xử lý thông tin qua văn bản, báo cáo, báo chí, thông tin trên phương tiện truyền thông đại chúng
5.2 Nghiên cứu định tính
Để có thông tin sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, đề tài cũng tiến hành các cuộc phỏng vấn sâu đối với người dân nhằm khai thác tối đa có chiều sâu hơn các nội dung mà phương pháp điều tra định lượng không phù hợp hoặc bổ sung cho cách tiếp cận này
Đề tài cũng tiến hành phỏng vấn sâu ngẫu nhiên 08 trường hợp (6 người chăm sóc TECHCĐB, 01 lãnh đạo phòng LĐTB&XH, 01 nhân viên CTXH tại
trung tâm BTXH)
5.3 Nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này là phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên các khái niệm đã được thao tác hóa Bảng hỏi là công cụ thu thập thông tin chủ yếu trong cuộc điều tra này, bao gồm những câu hỏi được xây dựng xoay quanh các vấn đề: chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Thông qua việc thu thập và phân tích các thông tin định lượng giúp đo lường một cách hệ thống các vấn đề mà cuộc nghiên cứu đặt ra
Đề tài nghiên cứu ngẫu nhiên 324 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại tỉnh
BR-VT Trong đó: 75 trẻ ở các cơ sở BTXH công lập; 75 trẻ ở các cơ sở BTXH ngoài công lập và 174 trẻ ở ngoài cộng đồng Tổng số phiếu khảo sát là 324 phiếu với dạng câu hỏi tự điền
5.4 Phương pháp quan sát
Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bối cảnh sống, thái độ của người được điều tra Cũng thông qua đó hình thành được câu trả lời đầy đủ
và có được những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấn sâu
Cụ thể đề tài tập trung quan sát các hoạt động công tác xã hội hoặc các hoạt động
Trang 14mang tính chất công tác xã hội Quan sát về môi trường, không gian sống, thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của đối tượng khảo sát với người điều tra
5.5 Quá trình xử lý và diễn giải số liệu
Đối với thông tin định lượng, sử dụng phần mềm SPSS để xử lý các thủ tục thống kê về tần số, bảng tương quan 2 biến số Đối với thông tin định tính, mã hoá trực tiếp các nội dung theo nhóm chủ đề và các đặc điểm Phân tích kết hợp từ kết quả xử lý định lượng và định tính
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiên của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Để thực hiện hoàn chỉnh đề tài: “Chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt từ thực tiễn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu hiện nay” tác giả đã vận dụng
nhiều tri thức, phương pháp nghiên cứu xã hội để phân tích nhiều hiện tượng đang tồn tại và bức xúc hiện nay Ngoài ra đề tài còn được triển khai trên cơ sở kiến thức chuyên ngành xã hội học chính sách xã hội, đồng thời để kiểm nghiệm những tri thức, lý thuyết khoa học đang vận dụng trong thực tiễn xã hội hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tìm hiểu sự tác động của chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, qua đó thấy được thực trạng đời sống của trẻ thuộc diện chính sách, trên cơ sở khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của chính sách xã hội Từ đó giúp cho trẻ
có hoàn cảnh đặc biệt yên tâm học tập, lao động, sinh sống, bỏ qua những mặc cảm đời thường, hòa nhập với xã hội
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc của luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm chính sách xã hội đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow [13, tr.103] được xem như cha
đẻ của lý thuyết nhu cầu, đã cho rằng, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau theo thứ tự từ thấp đến cao về tầm quan trọng Thang nhu cầu được ông chia làm hai cấp: cấp thấp và cấp cao
Nhu cầu cấp thấp bao gồm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về an toàn Nhu cầu về vật chất là nhu cầu tối thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo cho con người tồn tại bao gồm các hành vi: ăn, uống, mặc, ở, ngủ nghỉ, đi lại…Nhu cầu về an toàn là không bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất và tinh thần
Nhu cầu cấp cao bao gồm: nhu cầu về xã hội, nhu cầu về tôn trọng và nhu cầu về phát triển Nhu cầu về xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong xã hội Khi thỏa mãn được nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có xu hướng được tôn trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực, địa vị, uy tín… Cao nhất trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu được phát triển toàn diện
Theo Maslow, khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn
Ứng dụng khi làm việc với TECHCĐB: Trẻ em thuộc nhóm này gặp rất nhiều vấn đề, để giải quyết các vấn đề đó triệt để cần phải chuyển sang các nhu cầu
cụ thể Trong mỗi trẻ khác nhau, với từng hoàn cảnh khác nhau thì nhu cầu cũng khác biệt chính vì vậy việc tiếp cận theo nhu cầu khi làm việc trực tiếp với trẻ sẽ giúp nhân viên CTXH hỗ trợ trẻ tốt hơn Giải quyết vấn đề theo từng tầng bậc trong từng trường hợp
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu, tác giả tìm hiểu
Trang 16các nhu cầu của TECHCĐB trên địa bàn tỉnh BR-VT và xem xét các CSXH có bảo đảm các nhu cầu từ phía trung tâm, nhân viên CTXH, người giáo dục, người chăm sóc, sự ưu tiên về nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay các nhu cầu được đáp ứng theo trình tự của thang nhu cầu A.Maslow Nhu cầu nào chưa đáp ứng được và nguyên nhân vì sao, từ đó có thể biết được những mặt tích cực và hạn chế của các CSXH đối với TECHCĐB từ thực tiễn tỉnh BR-VT
1.1.2 Lý thuyết vai trò
Vai trò là khái niệm nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích những kỳ vọng trong xã hội ấy Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và nhóm đối tác đó có một
hệ kỳ vọng riêng của họ
Vai trò không chỉ đơn giản liên quan đến những hành vi được xã hội quan sát
mà trong thực tế còn bao gồm xã hội quan niệm những hành vi đó phải được thực hiện ra sao Những hành vi được thực hiện đúng với mong muốn của xã hội được gọi là những chuẩn mực và giá trị xã hội đó
Trong xã hội, mỗi người không phải chỉ đảm nhận một vai trò mà thường đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Các vai trò không được tổ chức và vận dụng logic, hài hòa sẽ dẫn đến xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, biến đổi vai trò Những đòi hỏi quan trọng nhất đối với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò mà còn thể hiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước của xã hội hay không
Có hai khuynh hướng lý thuyết chính liên quan đến vai trò Khuynh hướng thứ nhất cho rằng quá trình xã hội hóa chính là quá trình xã hội áp đặt các khuôn mẫu vai trò cho các thành viên trong đó Khuynh hướng thứ hai giải thích việc học
“đóng vai” ngoài đời giống như học theo một thứ kịch bản gợi ý, một thứ kịch bản
mở Loại kịch bản này buộc các “diễn viên” phải linh hoạt với hoàn cảnh thực tế hoặc tạo ra những chi tiết thích hợp để biết rằng mình cần phải làm gì, làm thế nào, làm cho ai? [13, tr.86]
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu cho thấy, mỗi một CSXH quy
Trang 17định cá nhân có những vai trò nhất định Vai trò thể hiện qua những công việc, nhiệm vụ gắn với trách nhiệm cụ thể Đối với cán bộ quản lý, vai trò thể hiện ở việc
tổ chức, quản lý các hoạt động của trung tâm như: lập kế hoạch, phân công nhiệm
vụ, tổ chức thực hiện, giám sát, đánh giá các hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em tại trung tâm… Đối với TECHCĐB, các em có vai trò trong học tập, sinh hoạt, học nghề…Qua lý thuyết vai trò, chúng ta có thể thấy các CSXH được các cá nhân thực hiện như thế nào ở địa phương, những mặt nào thực hiện tốt và những mặt chưa tốt,
từ đó có những giải pháp khắc phục
Tóm lại, lý thuyết vai trò, lý thuyết nhu cầu là nền tảng lý luận cho phép nghiên cứu, phân tích, lý giải mối quan hệ tương hỗ giữa các thành phần, bộ phận, chức năng liên quan đến CSXH đối với TECHCĐB; mỗi thành phần, bộ phận đều
có những vai trò cụ thể khi tham gia vào các mối quan hệ trong cùng hệ thống hoặc với hệ thống khác xung quanh Mặt khác, việc thể hiện nhu cầu và đáp ứng các nhu cầu của TECHCĐB cần được đặc biệt quan tâm bởi hơn ai hết các em đã và đang chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống so với những trẻ em bình thường khác
dự báo về các quan hệ, các quá trình xã hội và sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm mục đích quản lý các quá trình và quan hệ ấy
Có thể nói quan điểm Rôgôvin nhấn mạnh:
Trước hết chính sách xã hội là một lĩnh vực tri thức xã hội:
- Nghiên cứu hệ thống các quá trình xã hội, mà trong xã hội quá trình đó diễn
ra trên rất nhiều lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội
Trang 18- Nó quyết định hoạt động sống của con người trong các quá trình đó (xét theo khả năng tác động quản lý)
- Chính sách xã hội là một sự hòa quyện giữa khoa học và thực tiễn
- Chính sách xã hội là một sự phân tích phức hợp
- Dự báo về các quan hệ các quá trình xã hội
- Sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm quản lý các quá trình và quan hệ xã hội ấy
Theo quan điểm của GS.Winkler: “Chính sách xã hội là sự tổng hợp các biện pháp và phương pháp của Đảng của giai cấp công nhân của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các Liên hiệp công đoàn của đảng phái và các tổ chức chính trị khác nhằm tiếp tục các quan hệ xã hội…, phục vụ những nhu cầu lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, trí thức và những người lao động khác” [1, tr.21]
Theo quan điểm của Winker thì:
- Chính sách xã hội thực chất là tổng hợp những phương pháp, biện pháp
- Chính sách xã hội đề cập đến sự phát triển các quan hệ xã hội
- Với tư cách là những quan hệ giữa những giai cấp, tầng lớp và nhóm xã hội trong quá trình xích lại gần nhau
Quan hệ giữa các quá trình xã hội giữa quan hệ chung nhất với quan hệ đặc thù (quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội) Qua quá trình hoạt động các mối quan hệ xã hội diễn ra không cô lập với các mối quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị quan hệ văn hóa, v.v…
Vì vậy chính sách xã hội và các chính sách khác nhau như chính sách kinh
tế, chính sách văn hóa, chính sách dân tộc, v.v… cũng không tách rời nhau
Theo Anthony Giddens, sự nghiên cứu có hiệu quả về xã hôi học, khoa học chính trị, khoa học kinh tế được chờ đợi nhằm biến đổi sự hoạch định chính sách trong chính phủ và do đó dẫn đến sự tiến bộ xã hội và thịnh vượng kinh tế Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách được xem như một công cụ, một phương diện nhằm mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội một cách có hiệu quả
Trang 19Các nghiên cứu của Giddens nhấn mạnh:
- Tầm quan trọng của chính sách xã hội
- Sự nghiên cứu có hiệu quả của các lĩnh vực khoa học như XHH, chính trị, kinh tế được chờ đợi nhằm biến đổi chính sách trong chính phủ
- Sự biến đổi CSXH dẫn đến sự phát triển xã hội và thịnh vượng kinh tế Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách như là một công cụ, một phương diện nhằm mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và biến đổi xã hội có hiệu quả
Như vậy có thể nói chính sách xã hội là tổng hợp các phương thức các biện pháp của Nhà nước, của đảng phái và tổ chức chính trị khác nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, phù hợp với trình độ kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, phù hợp với bản chất chế độ chính trị xã hội nhất định
* Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Nghị quyết VI (12-1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: Chính sách xã hội bao trùm lên mọi mặt đời sống của con người, điều kiện lao động sinh hoạt giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình quan hệ giai cấp quan hệ dân tộc Coi nhẹ chính sách xã hội tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta đã nhấn mạnh: Phương hướng lớn của chính sách xã hội là phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng bình đẳng về quyền lợi nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa đáp ứng nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội
Những quan điểm trên chính là tư tưởng cơ bản, có tính chất quyết định đối với mọi chính sách xã hội được hoạch định trong thời gian trước mắt cũng như trong chiến lược lâu dài của Việt Nam
1.2.1 Khái niệm trẻ em
Nhìn từ góc độ lịch sử, mỗi thời đại có quan niệm không hoàn toàn giống nhau về trẻ em Hiện nay, khái niệm này không đồng nhất tại nhiều quốc gia trên
Trang 20thế giới Ở Australia và Anh, trẻ em được quy định dưới 18 tuổi Còn tại Singapore, trẻ em là người dưới 14 tuổi…
Theo Công ước của LHQ về Quyền trẻ em: “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1)
Nhìn chung mỗi nước có qui định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em Việc qui định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em ở mỗi quốc gia Do đó, các quốc gia qui định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc trể hơn 18 tuổi như được xác định trong Công ước về Quyền trẻ em
Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:
Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành
Cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt pháp lý
Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) và Luật Trẻ
em được Quốc hội thông qua ngày 05/4/2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2017) đều quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”
Ngoài ra trong các văn bản qui phạm pháp luật Việt Nam còn các khái niệm
“người thành niên”, “người chưa thành niên” Người thành niên là người trên 18 tuổi Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi
Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm về trẻ em, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi
1.2.3 Khái niệm chính sách xã hội với trẻ em
CSXH với trẻ em là những đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước, của các tổ chức chính trị được cụ thể hóa, thể chế hóa bằng pháp luật nhằm thúc đẩy mối quan hệ của trẻ em với các lực lượng xã hội và gia đình để giải quyết các vấn
đề của trẻ Thiết lập các chương trình, dịch vụ xã hội để đảm bảo các chính sách xã hội cho trẻ, giúp trẻ được an toàn và phát triển tốt đẹp
Trang 211.3 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
1.3.1 Khái niệm
Theo quy định tại Luật BVCS&GDTE (2004) và Luật Trẻ em (2016) thì TECHCĐB được hiểu là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng
Từ định nghĩa trên ta thấy TECHCĐB có những đặc điểm sau: 1) Thể chất
và tinh thần không bình thường: đó là các trẻ em có khuyết tật về thể chất, tinh thần; 2) Không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình và cộng đồng
Điều 40 Luật BVCS&GDTE (2004) quy định: "TECHCĐB bao gồm trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật"
Theo đó:
Trẻ em mồ côi và trẻ em bị bỏ rơi: là trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị
bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là
mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều 78 của Bộ luật Dân sự (2005) hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng
Trẻ em khuyết tật: là trẻ em có khuyết tật về thể chất và tinh thần Trẻ em khuyết tật cũng bao gồm đối tượng trẻ em bị khuyết tật bẩm sinh hoặc khuyết tật do
ốm đau bệnh tật, do tai nạn, do mìn/vật gây nổ hoặc nhiễm các chất hóa học
Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học: là trẻ em bị khuyết tật, dị tật bẩm sinh do di chứng di truyền từ bố mẹ bị nhiễm chất độc hóa học hoặc bị tiếp xúc với chất độc hóa học gây ra những tổn hại nặng nề về sức khỏe, tinh thần
Trang 22Trẻ em nhiễm HIV/AIDS: trong kế hoạch hành động Quốc gia và trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS được xác định bao gồm: Trẻ em bị nhiễm HIV và trẻ có nguy cơ cao nhiễm HIV
Trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại: theo Công ước 182 của ILO, lao động trong điều kiện môi trường độc hại và nguy hiểm
là những công việc mang tính chất gây hại cho sức khỏe, sự an toàn và đạo đức của trẻ em
Trẻ em phải làm việc xa gia đình: là trẻ em vì những lí do khác nhau nên phải làm việc xa gia đình Các em không thường xuyên được về gia đình và chịu nhiều nguy cơ rủi ro từ môi trường làm việc và xã hội
Trẻ em lang thang/đường phố bao gồm bốn nhóm trẻ em sau đây:
Trẻ em bỏ nhà và sống trên đường phố, những khu vực công cộng như công viên, dưới gầm cầu ở các thành phố lớn mà không có bố mẹ hoặc người giám hộ (không có mối liên hệ với gia đình)
Trẻ em do hoàn cảnh kinh tế khó khăn phải bỏ nhà đi kiếm sống trên đường phố, tuy nhiên vẫn còn giữ mối liên hệ với gia đình
Trẻ em từ các gia đình di cư lên thành phố, sống và kiếm sống trên đường phố, các khu công cộng cùng cha mẹ của các em
Trẻ em dành phần lớn thời gian kiếm sống trên đường phố nhưng vẫn sống tại nhà với bố mẹ hoặc người giám hộ
Trẻ em bị xâm hại tình dục: theo định nghĩa của WHO, “Xâm hại tình dục”
là sự tham gia của trẻ em vào hoạt động tình dục mà đứa trẻ đó chưa đủ phát triển
cả về mặt tâm sinh lý để tham gia và không thể chấp thuận tham gia, hoặc hoạt động tình dục trái với các quy định của pháp luật hoặc thuần phong mỹ tục của xã hội
Trẻ em nghiện ma túy: là trẻ em sử dụng và lệ thuộc vào các chất gây nghiện được gọi chung là ma túy dẫn đến sự suy giảm các chức năng xã hội và ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ em
Trẻ em vi phạm pháp luật: trẻ em/người chưa thành niên vi phạm pháp luật là những người dưới 18 tuổi bị cáo buộc hoặc bị kết tội vi phạm pháp luật, bất kể là về
Trang 23phương diện hành chính hay hình sự
Sự phân loại trên đây chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi cùng một trẻ em cũng
có thể thuộc vào vài nhóm đối tượng Tuy nhiên, từng loại trẻ em nêu trên đã được nhận dạng khá rõ ràng trong đời sống xã hội hiện nay
Trẻ em có nguy cơ/dễ bị tổn thương: là trẻ em chưa hoàn toàn rơi vào hoàn cảnh đặc biệt nhưng có nhiều nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, do có xuất hiện một số nguy cơ trong gia đình và cộng đồng
Trẻ em thuộc nhóm có nguy cơ bao gồm:
Trẻ em bị ngược đãi, bạo lực; trẻ em bị tai nạn thương tích; trẻ em bị buôn bán, bắt cóc; trẻ em bị bỏ học (chưa học xong chương trình THCS); trẻ em sống trong gia đình nghèo; trẻ em sống trong các gia đình có vấn đề xã hội (cha mẹ ly hôn, bạo lực gia đình); trẻ em sống trong gia đình có cha hoặc mẹ hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp chết vì HIV/AIDS; trẻ em sống trong gia đình có người mắc tệ nạn
xã hội; trẻ em sống trong gia đình có người vi phạm pháp luật; trẻ em sống trong gia đình có cha mẹ đi làm ăn xa
1.3.2 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Không tin tưởng vào người lớn: Trẻ có thể đã bị người lớn đối xử hung bạo, lừa gạt nên không còn sự tin tưởng, có trẻ lại không muốn đem lòng thương mến ai
Trang 24Tuy nhiên, những trẻ mồ côi lại thường bám chặt vào người lớn như sợ bị bỏ rơi thêm một lần nữa
Buồn bã và khó tính, rất dễ nổi cáu: Trẻ buồn bã vì những chuyện đã xảy ra với bản thân mình, nhiều trẻ khó chịu với mọi thứ xung quanh và dễ cáu gắt khi có điều khiến trẻ không hài lòng
Khó diễn tả cảm xúc bằng lời: Có thể do bị choáng ngợp bởi chính tâm trạng của mình và muốn đè nén những tâm trạng đó hoặc trẻ chưa bao giờ được khuyến khích để để tự nói về mình và không có đủ vốn từ để diễn tả tâm trạng
Hoài nghi, thiếu tin tưởng: Trẻ sống trong hoàn cảnh khó khăn thường có đủ
lý do để ngờ vực bởi các em có thể từng bị lợi dụng, mất cảm giác an toàn với môi trường đang sống Những người lớn mà trẻ thường gặp ít thân thiện, gần gũi, không hiểu được những khó khăn của các em
Giận giữ và có ác cảm: Một số trẻ tức giận người lớn vì bị bạc đãi, không được chăm sóc thích đáng hoặc có thể do các em cứ đinh ninh mình sẽ bị phê bình, trừng phạt
Mặc cảm tội lỗi, tự trách mình: Trẻ hổ thẹn vì những điều xảy đến với mình như bị cưỡng dâm, bị làm nhục hoặc các em tự trách mình vì đã không tự bảo vệ được bản thân
Không nói thật trong thời gian tiếp xúc ban đầu: Trẻ ước mơ một hoàn cảnh khác, tránh né những đề tài đau thương, sợ bị hậu quả xấu, trẻ cố gắng muốn lấy lòng người lớn (cố gắng nói ra những điều hay hoặc những điều mà người lớn muốn nghe) Trẻ cố ý nói dối để tránh câu chuyện, không muốn tiếp xúc với người khác hoặc để gây sự chú ý của người nghe
1.3.2.2 Nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Nhu cầu chăm sóc về thể chất: Là nhu cầu được đáp ứng về ăn uống, chỗ ở, quần áo, an toàn thân thể, khám và chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe hàng ngày… Nhu cầu này được đảm bảo thường xuyên hàng ngày và phải hợp lý
Nhu cầu chăm sóc về tâm lý: Là nhu cầu xây dựng được ý thức phù hợp và toàn diện về con người, giá trị và khả năng hành động của bản thân Giúp cho trẻ
Trang 25em hình thành cái tôi tích cực phù hợp hơn là cái tôi tiêu cực Cái tôi tích cực phù hợp giúp cho trẻ tự tin vào bản thân mình khi giao tiếp xã hội và cái tôi tiêu cực làm cho trẻ mất tự tin khi giao tiếp xã hội
Nhu cầu chăm sóc về tình cảm: Là nhu cầu được gắn bó, được quan tâm bởi người chăm sóc Khi được nhận tình cảm yêu thương từ người chăm sóc, trẻ sẽ hình thành được cảm xúc, tình cảm tích cực và trẻ cũng sẽ quan tâm đến người khác và xây dựng những mối quan hệ tình cảm tích cực với những người xung quanh Nếu được yêu thương, trẻ cũng sẽ học được cách yêu thương, biết quý trọng nhu cầu tình cảm của người khác
Nhu cầu chăm sóc về nhận thức: Là nhu cầu phát triển về kiến thức và kỹ năng Chăm sóc về nhận thức là khuyến khích và hỗ trợ cho khả năng học hỏi của trẻ, tạo cho trẻ những cơ hội học tập thông qua trường lớp và gia đình để có thể học hỏi được những kiến thức và hiểu biết mới Chăm sóc về nhận thức cho trẻ cần tùy theo khả năng nhận thức học hỏi của từng cá nhân trẻ Người chăm sóc khuyến khích trẻ tạo dựng thái độ tích cực và yêu thích việc học hỏi
Nhu cầu chăm sóc về đạo đức: Là nhu cầu của mọi trẻ em được giáo dục về những quy tắc xử sự trong xã hội, về những hành vi được coi là đúng hoặc sai Người chăm sóc có trách nhiệm giáo dục cho trẻ em về những quy tắc và quy định
về đạo đức của xã hội, đồng thời minh họa cho trẻ em thấy những điển hình về tư cách và thái độ tốt Người chăm sóc phải luôn giám sát hành vi thái độ của trẻ, giáo dục trẻ khi trẻ có hành vi không phù hợp
Nhu cầu chăm sóc về mặt xã hội: Là nhu cầu được học cách giao tiếp, tương tác với những người trong gia đình, cộng đồng và xã hội, góp phần đóng góp vào sự phát triển lành mạnh của cả cộng đồng Chăm sóc về mặt xã hội bao gồm việc giáo dục trẻ và minh họa qua ví dụ cách thức để giao tiếp với người khác và thể hiện được sự tôn trọng, đúng mực
1.3.2.3 Khái niệm về chính sách xã hội đối với TECHCĐB
CSXH với TECHCĐB là các chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị nhằm kết nối nguồn tài nguyên trong xã hội, giúp trẻ phát huy những
Trang 26năng lực vốn có, vượt qua những khó khăn, trở ngại của mình để vươn lên và hoà nhập với cuộc sống trong cộng đồng
1.4 Cơ sở pháp lý hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Việt Nam phê chuẩn Công ước LHQ về Quyền trẻ em vào ngày 20/02/1990 Công ước này ghi nhận các nhóm quyền của trẻ em bao gồm:
* Quyền sống
Trẻ em được sống cuộc sống bình thường và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát triển thể chất Đó là mức sống đủ, có nơi ở, ăn uống đủ chất, được chăm sóc sức khoẻ Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi ra đời
* Quyền được phát triển
Bao gồm những điều kiện để trẻ em có thể phát triển đầy đủ nhất về cả tinh thần và đạo đức, bao gồm việc học tập, vui chơi, tham gia các hoạt động văn hoá, tiếp nhận thông tin, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo Trẻ em cần có sự yêu thương và cảm thông của cha mẹ để có thể phát triển hài hoà
* Quyền được bảo vệ
Bao gồm những quy định như trẻ em phải được bảo vệ chống tất cả các hình thức bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm dụng ma tuý, sao nhãng và
bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán Trẻ em còn được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư Quyền được bảo vệ bao gồm cả không bị tra tấn, đánh đập và lạm dụng trong trường hợp trẻ em làm trái pháp luật hay bị giam giữ
* Quyền được tham gia
Tạo mọi điều kiện cho trẻ em được tự do bày tỏ quan điểm và ý kiến về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của mình Trẻ em còn có quyền kết bạn, giao lưu và hội họp hoà bình, được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp
Công ước quốc tế về Quyền trẻ em cũng nhấn mạnh trẻ em có quyền được lắng nghe, quyền được biểu đạt quan điểm của mình mà không sợ bị tổn hại hoặc trừng phạt
Đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Việt Nam đã đạt những tiến bộ
Trang 27trong việc đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến lược phát triển Kinh tế-Xã hội và luật pháp quốc gia Quyền trẻ em và công tác BVCS&GDTE được thể hiện thông qua hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước Đó là cơ sở pháp lý đòi hỏi các tổ chức, cá nhân, gia đình phải tôn trọng các quyền trẻ em, phải có trách nhiệm BVCS&GDTE, mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật Hệ thống pháp luật ở nước ta liên quan đến việc BVCS&GDTE
có thể thấy qua các văn bản pháp luật, quan trọng nhất là Hiến pháp
Hiến pháp 1992 đã thể hiện sự cam kết của Nhà nước Việt Nam trong thực thi Công ước của LHQ về quyền trẻ em, là cơ sở quan trọng để hình thành hệ thống pháp luật trong việc BVCS&GDTE Cho đến nay, Hiến pháp sửa đổi (2013) một lần nữa thể hiện sự cam kết này qua các Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39
* Luật Trẻ em năm 2016
Luật Trẻ em (2016) gồm 7 chương với 106 điều (tăng 46 điều so với Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004), có hiệu lực từ 01/6/2017 Chương I Những quy định chung (từ điều 1 đến điều 11); Chương II Quyền và bổn phận của trẻ em (từ điều 12 đến điều 41), Chương III Chăm sóc và giáo dục trẻ em (từ điều
42 đến điều 46); Chương IV Bảo vệ trẻ em (bao gồm cả nội dung về bảo vệ trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt-từ điều 47 đến điều 73); Chương V Trẻ em tham gia vào các vấn đề về trẻ em (từ điều 74 đến điều 78); Chương VI Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em (từ điều 79 đến điều 102); Chương VII Điều khoản thi hành (từ điều 103 đến điều 106)
Cùng với Luật Trẻ em, Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã có các quy định liên quan đến bảo vệ trẻ em:
Chương X: Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm: Các quy định các nguyên tắc xử lý với người chưa thành niên phạm tội, các biện pháp tư pháp áp dụng với người chưa thành niên phạm tội, các hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội…
Pháp luật hình sự nước ta rất nghiêm khắc đối với với hành vi phạm tội xâm
Trang 28hại đến trẻ em và các quyền trẻ em Nhìn chung, các tội phạm xâm hại đến trẻ em trong Bộ luật Hình sự phần lớn đều thuộc loại tội có tình tiết tăng nặng Cụ thể một
số tội danh như: Tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120); Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112)…
* Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần xây dựng, củng cố gia đình Việt Nam, giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc; Luật còn là công cụ để xác định mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con và của con đối với cha mẹ (Chương V Quan hệ giữa cha mẹ và con)
* Các quy định của Bộ luật Dân sự 2005
Quy định nhiều nội dung liên quan đến các quyền của trẻ em, trong đó có các quyền về nhân thân, quyền về tài sản (Điều 20); cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh (Điều 29); cá nhân có quyền có quốc tịch Việc công nhận, thay đổi, nhập quốc tịch, thôi quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch (Điều 45)
* Các quy định của Bộ luật Lao động 2013
Bộ luật Lao động qua các lần sửa đổi, bổ sung đã có một số quy định liên quan đến lao động trẻ em tại chương XI: Những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên và một số loại lao động khác Từ Điều 161 quy định người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi Điều 162 về Sử dụng người lao động chưa thành niên; Điều 163 nguyên tắc sử dụng lao động là người chưa thành niên; Điều 164 sử dụng lao động dưới 15 tuổi bao gồm người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ LĐTBXH quy định…; Điều 165 quy định cấm sử dụng người chưa thành niên làm các công việc như mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của họ; sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;…
Từ đầu những năm 1990, Việt Nam đã xây dựng một số chương trình về quyền trẻ em trong đó có hai Chương trình hành động quốc gia về trẻ em Việt Nam
Trang 29(giai đoạn 1991-2000 và giai đoạn 2001-2010) Mặc dù các chương trình này tập trung vào đối tượng trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt nhưng lại chưa xây dựng được một khuôn khổ chính sách vĩ mô toàn diện về bảo vệ trẻ em
Chương trình hành động quốc gia về bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2002 tập trung chủ yếu vào tình trạng trẻ em đường phố, trẻ em làm việc trong điều kiện nặng nhọc, trẻ em bị xâm hại tình dục, nguy hiểm, độc hại; giai đoạn 2004-2010 tập trung vào tăng cường nhận thức của toàn xã hội về trẻ em Chương trình cũng hướng tới việc ngăn ngừa và tới năm 2010 giảm dần số lượng trẻ rơi vào các nhóm trên, giúp trẻ em được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục, phát triển toàn diện và có cuộc sống tốt hơn [27,tr.8]
Tiếp nối những thành tựu của hai chương trình quốc gia và những chương trình trên, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 Với những mục tiêu: Tạo dựng được môi trường sống mà nhờ
đó tất cả trẻ em đều được bảo vệ, trong đó ưu tiên nhóm trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt, nhóm trẻ em có nguy cơ cao Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu hoặc loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em, giảm thiểu tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị ngược đãi, xâm hại, bạo lực, buôn bán và sao nhãng Trợ giúp, phục hồi kịp thời cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị tổn hại, tạo cơ hội
để các em tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát triển, thông qua phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em đồng bộ và hoạt động có hiệu quả Chính phủ đã có những nỗ lực nhằm tăng cường hệ thống bảo vệ trẻ em và đang dần chuyển sang việc xây dựng các chương trình phúc lợi lớn và tạo ra khuôn khổ pháp luật và chính sách cho hoạt động của hệ thống phúc lợi xã hội Hướng chuyển trách nhiệm quản
lý trẻ từ các trường giáo dưỡng thuộc Bộ Công an cho Bộ LĐTBXH cũng là một tiến triển tích cực cho thấy nhận thức của Chính phủ về vấn đề này và về cách thức tiếp cận theo hướng thân thiện với trẻ em với mục đích hỗ trợ phục hồi thay vì trừng phạt trẻ [27, tr.9]
Một trong những bước tiến quan trọng những năm gần đây là, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án phát triển nghề công tác xã hội tại Việt Nam giai
Trang 30đoạn 2010-2020 (theo Quyết định 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010) nhằm phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam; nâng cao nhận thức của toàn
xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, trong đó có dịch vụ bảo vệ trẻ em
Việt Nam đã xây dựng một số kế hoạch, chính sách và chương trình quốc gia
về bảo vệ trẻ em bao gồm:
Chương trình quốc gia về phòng ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em đường phố, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em làm việc trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại giai đoạn 2004-2010 Chính phủ xác định xâm hại tình dục trẻ em và mại dâm trẻ em là những vấn đề ưu tiên của chương trình này
Kế hoạch hành động quốc gia phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em giai đoạn 2004-2010
Kế hoạch hành động quốc gia về “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010” Ghi nhận tính cấp thiết của việc thiết lập các hình thức chăm sóc thay thế cho trẻ em
Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng xã hội
Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV và AIDS đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg
Mục tiêu trong đề án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em
bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010” đề ra chuyển 1000 trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em tàn tật nặng đang được chăm sóc tại các cơ
sở bảo trợ xã hội của Nhà nước về chăm sóc ở cộng đồng thông qua các hình thức gia đình hoặc cá nhân nhận nuôi dưỡng, nhận đỡ đầu, nhận nuôi con nuôi và chăm
Trang 31sóc tại các nhà xã hội
Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng
và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn
hạ ngược đãi trẻ em, bóc lột sức lao động trẻ em, mua bán trẻ em…còn xảy ra rất nghiêm trọng đòi hỏi cần phải giải quyết Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đối với các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể, nhà trường và gia đình theo chức trách và khả năng của mình phải có kế hoạch, biện pháp cụ thể để thực hiện có kết quả các nghị quyết, luật, nghị định và chương trình hành động của Đảng, Nhà nước về vấn đề bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, hướng sự chú ý vào việc vận động nhân dân quan tâm hơn nữa đến công tác nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em nói chung và TECHCĐB nói riêng Đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục hình thành nhân cách tốt đẹp, phát huy trí tuệ của các em trong đó sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội luôn có ý nghĩa quyết định
Trang 32Kết luận chương 1
Mặc dù có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực trẻ em nói chung và TECHCĐB nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về chính sách xã hội đối với TECHCĐB tại tỉnh BR-VT Việc nghiên cứu hoạt động CSXH trong lĩnh vực TECHCĐB trên cơ sở lý luận và thực tiễn sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về hoạt động CTXH chuyên nghiệp, từ đó áp dụng vào thực tế tỉnh BR-VT để cải thiện hoạt động CSXH hỗ trợ cho TECHCĐB tại đây Trên thực tế, nhu cầu về CTXH của TECHCĐB là rất lớn, Nhà nước đã ban hành nhiều CSXH tạo tiền đề pháp lý
để CTXH tiến tới hỗ trợ chuyên nghiệp cho TECHCĐB để từ đó các em có thể được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu, tiến tới hòa nhập cộng đồng xã hội
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TẠI TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU 2.1 Đặc điểm địa lý- kinh tế- xã hội tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu
Tỉnh BR-VT tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía Bắc, giáp thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây, giáp tỉnh Bình Thuận ở phía Đông, còn phía Nam giáp Biển Đông Địa hình tỉnh chia làm 4 vùng: bán đảo, hải đảo, vùng đồi núi bán trung du và vùng thung lũng đồng bằng ven biển BR-VT có 2 thành phố trực thuộc tỉnh và 6 huyện với 82 đơn vị hành chính cấp xã (07 thị trấn, 29 phường và 46 xã) Trong đó: Thành phố Vũng Tàu là trung tâm du lịch, dịch vụ hàng hải, phát triển cảng và khai thác dịch vụ dầu khí và đầu mối giao lưu của miền Đông Nam bộ cũng như của tỉnh BR-VT Thành phố Bà Rịa là trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh BR-VT Thành phố Tân Thành trong tương lai (hiện nay là huyện Tân Thành) được xây dựng là đô thị công nghiệp, cảng biển, là trung tâm kinh tế quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía nam và của tỉnh BR-VT Các đô thị vệ tinh như Châu Đức, Đất Đỏ, Long Điền, Xuyên Mộc hỗ trợ, cung cấp hàng hóa dịch vụ cho các đô thị cảng biển
Năm 2011, dân số toàn tỉnh đạt gần 1.027.200 người, mật độ dân số đạt 516 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 512.100 người, dân số sống tại nông thôn đạt 515.100 người Nam giới có 513.410 người, nữ 513.800 người Tỷ
lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,9% Số liệu của Tổng cục thống kê cho thấy, tính đến ngày 01/4/2009, toàn tỉnh có 28 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống Trong đó, người Kinh đông nhất với 972.095 người, tiếp sau
đó là người Hoa có 10.042 người, đông thứ ba là người ChơRo với 7.632 người; người Khơ Me chiếm 2.878 người, người Tày có 1.352 người, cùng một số dân tộc
ít người khác như người Nùng, người Mường, người Thái… Mỗi năm, tỉnh BRVT tăng thêm khoảng 30.000 dân (chủ yếu từ các tỉnh thành khác đến sinh sống)
Tính đến ngày 08/9/2015, trên địa bàn tỉnh có 505 trường học ở cấp phổ thông trong đó có trung học phổ thông có 31 trường, trung học cơ sở có 92 trường,
Trang 34tiểu học có 184 trường, trung học có 4 trường, có 1 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 198 trường mẫu giáo Với hệ thống trường học như thế, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh Về Y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh BR-VT có 98 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế Trong đó có 10 Bệnh viện,
6 phòng khám đa khoa khu vực và 82 Trạm y tế phường xã, với 1444 giường bệnh
và 478 bác sĩ, 363 y sĩ, 644 y tá và khoảng 261 nữ hộ sinh
Cơ cấu kinh tế BR-VT năm 2012: công nghiệp–xây dựng 69,7%; dịch vụ 24,5% và nông lâm ngư nghiệp 5,8% Định hướng đến năm 2020, BRVT sẽ trở thành thành phố cảng, đô thị cảng lớn nhất nước cùng với Hải Phòng, trung tâm Logistics và công nghiệp hỗ trợ, trung tâm công nghiệp quan trọng của cả nước Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, BR-VT còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước
Kể từ khi Chính phủ có chủ trương di dời các cảng tại nội đô thành phố Hồ Chí Minh, BR-VT trở thành trung tâm cảng biển chính của khu vực Đông Nam Bộ, thuộc nhóm cảng biển số 05 bao gồm: TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và BRVT Các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải Sông Thị Vải có luồng sâu đảm bảo cho tàu có tải trọng trên 50.000 tấn cập cảng Các tàu container trên 100.000 tấn đã
có thể cập cảng BR-VT đi thẳng sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ Tỉnh BR-VT là cửa ngõ giao thương của khu vực miền Nam, nằm gần đường hàng hải quốc tế và là tỉnh có nhiều cảng biển ở Việt Nam
Tuy nhiên, song song với sự phát triển không ngừng đi lên của kinh tế cũng kèm theo các hệ lụy về việc nảy sinh các vấn đề xã hội, tạo sức ép lên an sinh xã hội trong tỉnh Mặt khác, với điều kiện kinh tế-xã hội ổn định, đang tạo ra những cơ hội
hỗ trợ tốt hơn cho các nhóm người yếu thế nói chung và TECHCĐB nói riêng trên địa bàn tỉnh, tinh thần chia sẽ trách nhiệm xã hội của cộng đồng sẽ cao hơn khi đời sống được đảm bảo
Trang 352.2 Thực trạng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnhr Bà Vũng Tàu
Rịa-2.2.1 Phân bố trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh
Bảng 2.1 Phân bố TECHCĐB tại tỉnh BR-VT, 2015, %
Nguồn: Báo cáo tổng hợp TECHĐB năm 2015 của sở LĐTB&XH tỉnh BR-VT
Kết quả phân tích bảng 2.1 về phân bố TECHCĐB tại tỉnh BR-VT cho thấy: Thành phố Vũng Tàu có số lượng TECHCĐB nhiều nhất, chiếm tỷ lệ 19,7% TECHCĐB toàn tỉnh; tiếp theo là huyện Xuyên Mộc, chiếm tỷ lệ 16,6% TECHCĐB toàn tỉnh; hai huyện Châu Đức và huyện Tân Thành có tỷ lệ bằng nhau, chiếm 15,6% TECHCĐB toàn tỉnh; Thành phố Bà Rịa chiếm tỷ lệ 11,9% TECHCĐB toàn tỉnh; huyện Côn Đảo có số lượng TECHĐB thấp nhất, chiếm tỷ lệ 0,5% TECHCĐB toàn tỉnh; Các cơ sở BTXH công lập và ngoài công lập có số lượng TECHĐB thấp thứ hai, chiếm tỷ lệ 4,7% TECHCĐB toàn tỉnh
Với những lợi thế phát triển về công nghiệp, thương mại, dịch vụ, nông nghiệp…có thể lý giải tại sao các huyện, thành phố như Vũng Tàu, Xuyên Mộc, Tân Thành, Châu Đức… lại có tỷ lệ TECHCĐB cao Kinh tế phát triển, một mặt tạo điều kiện phát triển của người dân nhưng cũng làm nảy sinh một số vấn đề: sự phân hóa giàu nghèo; thiếu việc làm ở nông thôn tạo ra lực đẩy khiến trẻ em và người lớn
di cư tự do từ nông thôn đến đô thị kiếm sống, lao động thời vụ; giao lưu văn hóa trong và ngoài nước ở các đô thị được mở rộng, phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông (máy tính, internet, điện thoại thông minh…) nhưng sự quản lý chưa chặt chẽ, thiếu quan tâm của gia đình… khiến cho tệ nạn xã hội phát triển mạnh trong đó có trẻ em
Trang 362.2.2 Đặc điểm xã hội TECHCĐB tại tỉnh BR-VT
Bảng 2.2 Đặc điểm xã hội TECHCĐB tại tỉnh BR-VT năm 2015, %
Stt Đơn vị
Giới tính Trình trạng đi học Nam Nữ Tổng Còn đi học Đã nghỉ học Chưa đi học Tổng
I Tại các huyện,thành phố Chung 53,6 46,4 100,0 77,1 13,2 9,7 100,0
1 Trung tâmBTTE Vũng Tàu 58,7 41,3 100,0 68,0 12,0 20,0 100,0
2 Trung tâmCTXH 57,3 42,7 100,0 64,0 10,7 25,3 100,0
3 Trung tâmXã hội 71,4 28,6 100,0 0,0 0,0 100,0 100,0
4 Nhà Xã hộiĐất Đỏ 60,0 40,0 100,0 100,0 0,0 0,0 100,0
N 98 69 167 109 17 41 167 III Cơ sở BTXH ngoài công lập Chung 56,9 43,1 100,0 44,3 0,0 55,7 100,0
1 Cơ sở Dòng Mến Thánh Giá Sơn Bình 50,0 50,0 100,0 0,0 0,0 100,0 100,0
2 Cơ sở chăm sóc trẻ MC-KT Thiên Thần 27,6 72,4 100,0 0,0 0,0 100,0 100,0
3 Trung tâm nhân đạo Hộ Pháp 100,0 0,0 100,0 100,0 0,0 0,0 100,0
4 Trung tâm nhân đạo Từ Ân 50,0 50,0 100,0 63,1 0,0 36,9 100,0
5 Trung tâm nhân đạo Hồng Quang 75,9 24,1 100,0 6,9 0,0 93,1 100,0
IV Toàn bộ mẫu khảo sát Chung 53,8 46,2 100,0 76,0 12,8 11,2 100,0
N 3893 3338 7231 5497 927 807 7231 Nguồn: Báo cáo tổng hợp TECHĐB năm 2015 của sở LĐTB&XH tỉnh BR-VT
Bảng 2.2 cho thấy: Trung tâm nhân đạo Hộ Pháp có TECHCĐB là nam giới chiếm tỷ lệ 100% TECHCĐB tại trung tâm, trong khi đó Cơ sở chăm sóc trẻ mồ côi
- khuyết tật Thiên Thần có tỷ lệ TECHCĐB là nữ cao nhất, chiếm 72,4% TECHĐB tại Cơ sở; đối với toàn mẫu khảo sát thì tỷ lệ này là 53,8% trẻ em nam có hoàn cảnh đặc biệt so với 46,2% trẻ em nữ có hoàn cảnh đặc biệt Sở dĩ Trung tâm nhân đạo
Trang 37Hộ Pháp có tỷ lệ có tỷ lệ 100% TECHCĐB là nam vì đây là trung tâm do các tăng thành lập nên chỉ nhận trẻ em nam
Về tình trạng đi học, so với toàn mẫu khảo sát thì có 76,0% TECHCĐB đang
đi học, 12,8% đã nghỉ học, 11,2% chưa đi học, gộp chung với đang đi học và chưa
đi học thì tỷ lệ này chiếm 88,8% TECHCĐB toàn tỉnh Với tỷ lệ cao như vậy, yêu cầu các cấp chính quyền địa phương cần phải chú trọng, thực hiện tốt các chính sách về giáo dục, có các biện pháp để hỗ trợ các em học hành tốt hơn
So với TECHCĐB tại các huyện, thành phố, cơ sở BTXH công lập thì tỷ lệ TECHCĐB đang đi học chiếm tỷ lệ cao hơn rõ rệt (77,1% TECHCĐB đang đi học
ở các huyện, thành phố và 65,3% TECHCĐB đang đi học ở các cơ sở BTXH công lập) Tuy nhiên ở các cơ sở BTXH ngoài công lập, tỷ lệ TECHCĐB chưa đi học lại chiếm tỷ lệ cao hơn (55,7%), trong đó có các cơ sở như cơ sở chăm sóc trẻ mồ côi – khuyết tật Thiên Thần, Cơ sở Dòng Mến Thánh Giá Sơn Bình, Trung tâm Xã hội có
tỷ lệ 100% TECHCĐB chưa đi học và ở trung tâm nhân đạo Hồng Quang thì tỷ lệ TECHCĐB chưa đi học là 93,1% Cơ sở Dòng Mến Thánh Giá Sơn Bình, Trung tâm Xã hội đang nuôi dạy trẻ khuyết tật nặng, tâm thần nên có tỷ lệ 100% TECHCĐB chưa đi học Trung tâm nhân đạo Hồng Quang, thì đa số các trẻ đều trong độ tuổi 01 đến 03 Cơ sở chăm sóc trẻ mồ côi – khuyết tật Thiên Thần vừa nuôi trẻ khuyết tật, vừa nuôi trẻ mồ côi [bảng 2.3], riêng trẻ mồ côi chưa đến tuổi đi học Từ thực tiễn đó, đòi hỏi cần phải thực hiện tốt các chính sách với trẻ em khuyết tật tại các cơ sở Dòng Mến Thánh Giá Sơn Bình, cũng như sự theo dõi, hỗ trợ, thực hiện các chính sách đối với trung tâm nhân đạo Hồng Quang, cơ sở chăm sóc trẻ mồ côi–khuyết tật Thiên Thần để đảm bảo các trẻ ở đây được đi học đúng độ tuổi…
Đối với những trẻ đã nghỉ học có nhiều nguyên nhân: do gia đình gặp biến
cố, một số trẻ bị bệnh nên không thể theo kịp nội dung, chương trình học của nhà trường, trẻ không muốn tiếp tục theo học nên tự ý bỏ học…Những trẻ này đòi hỏi phải có chính sách, sự quan tâm của các cơ quan chức năng để giúp trẻ hòa nhập cộng đồng, có việc làm, phòng ngừa trẻ vi phạm pháp luật, nghiện ma túy…
Trang 38Bảng 2.3 Phân dạng TECHCĐB tại tỉnh BR-VT năm 2015, %
Stt Đơn vị
Phân dạng trẻ ĐBKK
Mồ côi
Khuyết tật
Chất độc hóa học
HIV AIDS
Lao động nặng nhọc
Lang thang
Bị xâm hại
Nghiện
ma túy
Vi phạm
PL
Làm việc xa gia đình
Tại các cơ sở BTXH
ngoài công lập
Chung 83,9 16,1 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0 100,0
1 Cơ sở Dòng Mến Thánh Giá Sơn Bình 0 100 0 0 0 0 0 0 0 0
Toàn bộ mẫu khảo
sát
Chung 71,2 23,9 0,3 0,8 0,0 1,5 0,2 0,0 0,1 2,0 100,0
N 5148 1728 21 56 3 110 14 0 5 146 7231 Nguồn: Báo cáo tổng hợp TECHĐB năm 2015 của sở LĐTB&XH tỉnh BR-VT
Bảng 2.3 cho thấy: TECHCĐB tại tỉnh BR-VT hầu hết là trẻ mồ côi và khuyết tật (71,2% trẻ mồ côi và 23,9% trẻ khuyết tật) Riêng các cơ sở BTXH ngoài công lập, chỉ có nuôi dưỡng hai đối tượng trẻ mồ côi và khuyết tật (83,9% trẻ mồ côi và 16,1% trẻ khuyết tật) trong đó các Trung tâm nhân đạo: Hộ Pháp, Từ Ân,
Trang 39Hồng Quang có trẻ em mồ côi chiếm tỷ lệ 100% TECHCĐB nuôi tại trung tâm, Cơ
sở Dòng Mến Thánh Giá Sơn Bình có trẻ khuyết tật chiếm tỷ lệ 100% TECHCĐB nuôi tại cơ sở Cơ sở BTXH công lập thì chỉ nuôi dưỡng bốn đối tượng là trẻ mồ côi, trẻ khuyết tật, trẻ nhiễm HIV/AIDS, trẻ lang thang, trong đó trẻ mồ côi chiếm
tỷ lệ 40,1% TECHCĐB tại cơ sở; trẻ lang thang chiếm tỷ lệ 26,3% TECHCĐB tại
cơ sở; trẻ khuyết tật chiếm tỷ lệ 24,6% TECHCĐB tại cơ sở và trẻ HIV/AIDS chiếm tỷ lệ 9,0% TECHCĐB tại cơ sở Tại các cơ sở BTXH công lập thì có Trung tâm Xã hội có trẻ khuyết tật, trong khi đó nhà xã hội Đất Đỏ có trẻ mồ côi chiếm tỷ
lệ 100% TECHCĐB nuôi tại đây Ở các huyện, thành phố có nhiều phân dạng TECHCĐB nhưng trẻ em mồ côi và khuyết tật vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (71,6% trẻ
mồ côi và 24,1% trẻ khuyết tật)
Do điều kiện về kinh tế, cơ sở vật chất, nhân lực… nên các cơ sở BTXH ngoài công lập chỉ có thể nuôi dưỡng được các trẻ mồ côi là chủ yếu trong khi đó các cơ sở Dòng Mến Thánh Giá và cơ sở chăm sóc trẻ mồ côi–khuyết tật Thiên Thần có nguồn lực, cơ sở vật chất , nhân lực… nên có thể đảm bảo trong việc nuôi trẻ khuyết tật
Các cơ sở BTXH công lập có các chức năng, nhiệm vụ khác nhau nên nuôi dưỡng các đối tượng trẻ em khác nhau, như: Trung tâm Xã hội có chức năng chuyên
về tiếp nhận, nuôi trẻ khuyết tật, tâm thần; trung tâm BTTE Vũng Tàu có chức năng tiếp nhận, quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đối tượng là trẻ em lang thang cơ nhỡ không nơi lương tựa; trẻ em bị cha mẹ ruồng bỏ hoặc từ chối nuôi dưỡng; trẻ
em bị cha mẹ bỏ rơi không rõ nguồn gốc, quê quán; trẻ em nhiễm HIV/AIDS
Bảng 2.4 Các CSXH đối vớiTECHCĐB đang thực hiện tại tỉnh BR-VT, 2015, %
Stt Đơn vị Những chính sách trợ giúp mà trẻ được hưởng
Trợ cấp
Mạnh
TQ
Nuôi ở
cơ sở BTXH
BHYT Học
tập
Nghề Tư vấn
Tặng quà Tổng
Trang 40Nguồn: Báo cáo tổng hợp TECHĐB năm 2015 của sở LĐTB&XH tỉnh BR-VT
Hầu hết TECHCĐB trên địa bàn tỉnh BR–VT đã được hưởng các chính sách trợ giúp xã hội phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đối tượng theo quy định của các chính sách trợ giúp xã hội hiện hành như: Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em khuyết tật nặng và đặc biệt nặng đều được trợ cấp hàng tháng cấp thẻ BHYT được miễn giảm học phí theo quy định tại Nghị số 136/2013/NĐ-CP; Nghị định số 28/2012/NĐ-CP và Nghị định số 74/2013/NĐ-CP Hỗ trợ TECHCĐB học nghề theo Quyết định 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ ; Hỗ trợ
đồ dùng học tập, đồng phục, sách giáo khoa, sữa cho trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS theo Quyết định 570/QĐ-TTg ngày 22/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ.Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Thủ tướng chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục