ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ HẢI YẾN Tên đề tài : TÌM HIỂU NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG VIỆC PHÂN LOẠI, THU GOM
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
Tên đề tài :
TÌM HIỂU NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN
VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG VIỆC PHÂN LOẠI, THU GOM
VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI XÃ LA HIÊN, HUYỆN VÕ
NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : CHÍNH QUY Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Khóa học : 2011 - 2015
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
Tên đề tài :
TÌM HIỂU NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ HÀNH VI CỦA NGƯỜI DÂN
VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG VIỆC PHÂN LOẠI, THU GOM
VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI XÃ LA HIÊN, HUYỆN VÕ
NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : CHÍNH QUY Chuyên ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS LƯƠNG VĂN HINH
THÁI NGUYÊN – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một quá trình hoàn thiện kiến thức, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn công việc, năng lực công tác thực tế của mỗi sinh viên sau khi ra trường nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và nghiên cứu khoa học Được sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên em đã thực tập tốt nghiệp tại xã La Hiên - huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên để hoàn thiện và nâng cao kiến thức của bản thân
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban chủ nhiệm Khoa, cùng các thầy cô giáo khoa Môi Trường
- Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức, cũng như tạo mọi điều kiện học tập và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại Trường Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo
PGS.TS Lương Văn Hinh người đã định hướng, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện tốt nhất để em hoàn thành bản khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, chú, anh, chị cán bộ của UBND xã La Hiên và toàn thể nhân dân trong địa bàn xã La Hiên - huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên đã hết lòng tận tình, chỉ bảo hướng dẫn và giúp đỡ
em trong suốt quá trình thực tập
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè những người thân đã động viên và khuyến khích em trong suốt quá trình học tập để
em có thể hoàn thành tốt 4 năm học vừa qua của mình
Do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên khóa luận của
em còn những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và bổ sung của các thầy, cô giáo để bản khóa luận này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2015
SINH VIÊN
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Dân số của xã La Hiên, huyện Võ Nhai 37
Bảng 4.2: Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình trên địa bàn xã La Hiên 39
Bảng 4.3: Khối lượng rác thải phát sinh từ cơ quan, trường học, doanh nghiệp 40
Bảng 4.4: Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn xã La Hiên 41
Bảng 4.5: Thành phần rác thải sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình 41
Bảng 4.6: Thành phần rác thải khu vực chợ La Hiên 43
Bảng4.7: Tỷ lệ hộ gia đình phân loại rác trước khi xử lý 44
Bảng 4.8: Cách xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình 45
Bảng 4.9: Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của việc xả rác không đúng nơi quy định 48
Bảng 4.10: Nhận thức của người dân về lợi ích và hiệu quả của việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 49
Bảng 4.11: Nguyên nhân của việc xả rác không đúng nơi quy định của người dân 52
Bảng 4.12: Nhận thức của người dân về những hạn chế của các cơ quan quản lý địa phương về vấn đề phân loại, thu gom, xử lý rác thải 56
Bảng 4.13: Thái độ của người dân khi tham gia hoạt động dọn vệ sinh môi trường công cộng 58
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 :Tổng sản lượng chất thải rắn sinh hoạt của Mỹ năm 2010 [15] 20 Hình 4.1: Bản đồ xã La Hiên 35 Hình 4.2 Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã La Hiên 38 Hình 4.3: Biểu đồ mức độ tận dụng rác thải sinh hoạt để ủ phân hữu cơ của người dân 47 Hình 4.4: Biểu đồ đánh giá của người dân về việc xử lý rác thải sinh hoạt trong xã hiện nay 50 Hình 4.5: Biểu đồ thái độ của người dân khi thấy người khác xả rác bừa bãi 51 Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện phương tiện tiếp cận của người dân với vấn đề xử
lý rác thải và bảo vệ môi trường 54 Hình 4.7: Biểu đồ đánh giá của người dân về sự quan tâm của chính quyền địa phương đến vấn đề phân loại, thu gom, xử lý rác thải 55 Hình 4.8: Biểu đồ mức độ tham gia của người dân nếu được phát động tham gia phân loại rác tại nguồn 57 Hình 4.9: Biểu đồ mức độ tuyên truyền của người dân cho những người xung quanh về việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 59
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTN&MT: Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
CTRSH : Chất thải rắn sinh hoạt
HDND : Hội đồng nhân dân
IPCC : Intergovernmental Panel on Climate Change
(Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi khí hậu)
JICA : The Japan International Cooperation Agency
(Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản)
PGS.TS : Phó giáo sư - Tiến sĩ
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
THCS : Trung học cơ sở
TP : Thành phố
UBND : Uỷ ban nhân dân
UNEP : United Nations Environment Programme
(Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc ) URENCO :Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội
WB : Ngân hàng thế giới World Bank
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.2.3 Yêu cầu 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2 Cơ sở pháp lý 8
2.1.3 Cơ sở thực tiễn 9
2.2 Tình hình nghiên cứu nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường và hiện trạng rác thải sinh hoạt trên thế giới và ở Việt Nam 18
2.2.1 Hiện trạng vấn đề rác thải sinh hoạt trên thế giới 18
2.2.2.Hiện trạng vấn đề về rác thải sinh hoạt ở Việt Nam 22
2.2.3 Những nghiên cứu về nhận thức người dân về các vấn đề môi trường 25
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Phạm vi, đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
3.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 31
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
3.2 Nội dung nghiên cứu 31
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
3.3.1 Phương pháp kế thừa 32
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài thứ cấp 32
3.3.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn 32
Trang 83.3.4 Phương pháp xác định thành phần rác thải 32
3.3.5 Phương pháp phân tích xử lý và tổng hợp số liệu 34
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 35
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
4.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội 36
4.2 Hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt tại xã La Hiên 38
4.2.1 Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 38
4.2.2 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn xã La Hiên 38
4.2.3 Thành phần rác thải 41
4.3 Thực trạng công tác phân loại, thu gom, xử lý rác thải của xã La Hiên 43
4.3.1 Thực trạng việc phân loại rác thải sinh hoạt 43
4.3.2 Thực trạng việc thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt của xã La Hiên 45
4.4 Nhận thức, thái độ, hành vi của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 48
4.4.1 Nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt 48
4.4.2 Thái độ, hành vi của người dân khi tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 53
4.5 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 60
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
I Tài liệu tiếng Việt 65
II Tài liệu từ Internet 66
Trang 9Nhiều nghiên cứu cho thấy, có rất nhiều người đã quan tâm đến vấn đề môi trường và nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống hàng ngày Tuy nhiên, còn một số người chưa thật sự chú ý đến vấn đề môi trường đặc biệt là việc phân loại, thu gom rác thải sinh hoạt và việc xử lý rác của chính quyền địa phương Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến và tập huấn cho người dân vẫn chưa được các cơ quan quản lý chú trọng Cần thiết phải có các biện pháp tuyên truyền, hướng dẫn nhằm nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt từ đó thay đổi thái độ và hành vi của người dân trong việc bảo vệ môi trường
Trang 10Xã La Hiên - huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên là xã miền núi nằm ở phía Tây của huyện Võ Nhai cách trung tâm huyện lỵ (thị trấn Đình Cả) 17km
và cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 20km trên trục quốc lộ 1B Trước những tác động mạnh của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá, cùng với sự gia tăng dân số, lao động tập trung vấn đề rác thải sinh hoạt ngày càng tăng lên với khối lượng lớn chưa thể xử lý kịp thời triệt để Thêm vào đó nhận thức và hiểu biết của người dân về việc phân loại, thu gom, và xử lý rác thải ở xã La Hiên còn chưa được tìm hiểu cụ thể Đây là mô ̣t trong các nguyên nhân chính dẫn đến các ho ạt động làm ảnh hưởng đến môi trường sống của chính người dân trên đi ̣a bàn xã
Xuất phát từ tầm quan trọng và thưc tiễn trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thầy giáo PGS.TS Lương
Văn Hinh, em tiến hành thực hiện đề tài: “Tìm hiểu về nhận thức và thái độ hành vi của người dân về ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom và
xử lý rác thải sinh hoạt tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ”
1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định mức độ nhận thức của người dân về môi trường thông qua việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống tại địa bàn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã La Hiện, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Tìm hiểu thực trạng của việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải tại xã
La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Trang 11- Tìm hiểu nhận thức và thái độ của người dân tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trong việc thu phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân từ đó góp phần thay đổi hành vi trong việc bảo vệ môi trường
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế
- Là cơ hội để tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm trong thực tế
- Củng cố các kiến thức và lý luận thực tiễn vấn đề ô nhiễm môi trường thông qua việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt
- Nâng cao kiến thức thực tế, bổ sung tư liệu cho học tập
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
-Thông qua đề tài này, có thể giúp cho cộng đồng nhận thấy rõ hơn về vấn
đề ô nhiễm môi trường và những hậu quả của ô nhiễm môi trường qua việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt Để tự bản thân mỗi cá nhân, mỗi tổ chức trong cộng đồng tự xây dựng cho mình ý thức tự giác trong phòng ngừa, giảm thiểu
ô nhiễm môi trường và có những hành động tích cực dù là nhỏ nhất để bảo vệ môi trường sống của chính mình đồng thời hạn chế những thiệt hại những hậu quả những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường trong tương lai
- Qua đó cũng đề xuất một số kiến nghị giải pháp tăng cường kiến thức
về việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt và bảo vệ môi trường giúp cho người dân nâng cao nhận thức, có trách nhiệm với môi trường qua những hành động cụ thể
- Đề tài có thể trở thành tài liệu tham khảo
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Cơ sở lý luận
* Khái niệm nhận thức:
- Theo Viện ngôn ngữ học, 2011 [9]:
+ Nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó
+ (Động từ): Nhận ra và biết được
+ Nhờ hoạt động nhận thức mà con người phản ánh hiện thực xung quanh
ta và các hiện thực của bản thân ta, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ tình cảm
và hành động Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp
* Khái niệm thái độ:
- Theo Viện ngôn ngữ học, 2011 [9]:
+ Thái độ là những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm của người nói đối với người hoặc việc
+ Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình
+ Sự nhận thức đúng đắn, biểu hiện bằng thái độ, hành động cần phải có
Trang 13* Khái niệm hành vi:
- Theo Viện ngôn ngữ học, 2011 [9]:
+ Hành vi (danh từ): Toàn bộ nói chung những phản ứng, cách ứng xử, biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định
+ Hành vi là một chuỗi các hành động lặp đi lặp lại Hành động là toàn thể những hoạt động (phản ứng, cách ứng xử) của cơ thể, có mục đích cụ thể
là nhằm đáp ứng lại kích thích ngoại giới là hành động hoặc phản ứng của đối tượng (khách thể) hoặc sinh vật, thường sử dụng trong sự tác động đến môi trường, xã hội Hành vi có thể thuộc về ý thức, tiềm thức, công khai hay bí mật và tự giác hoặc không tự giác Hành vi là một giá trị có thể thay đổi qua thời gian (Từ điển bách khoa Việt Nam) [17]
* Khái niệm môi trường:
- Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Điều 3, Chương 1, Luật Bảo vệ môi trường 2014) [7]
- Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại
+ Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng các chất thải, cung cấp cho ta cảnh
đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
+ Môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở,
công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo,
Trang 14Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí đất, nước, ánh sáng, môi trường xã hội,…
* Khái niệm ô nhiễm môi trường:
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật (Điều 3, Chương 1, Luật Bảo
vệ môi trường 2014) [7]
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành (Điều 3, Chương 1, Luật Bảo vệ môi trường 2014) [7]
- Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt
- Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp
- Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp
Trang 15* Ô nhiễm nước :
Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi
cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã"
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước
* Khái niệm về chất thải rắn:
- Chất thải là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng
- Quản lý rác thải là hành động thu gom, phân loại và xử lý các loại rác thải của con người Hoạt động này nhằm làm giảm các ảnh hưởng xấu của rác vào môi trường và xã hội (Từ điển bách khoa Việt Nam) [17]
* Khái niện về quản lý chất thải rắn:
Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người (Nghị Định 59/2007/NĐ-CP của chính phủ về quản lý chất thải rắn)
Trang 16*Tiêu chuẩn môi trường:
"Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường"
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường
* Quản lý môi trường
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh
tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia (Theo Lê Văn Khoa, 2000) [6]
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
- Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường
- Nghị định 175/NĐ-CP ngày 18/10/1994 của chính phủ hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường
- Nghị định 121/2004/NĐ-CP ngày 12/15/2004 của chính phủ quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trang 17- Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 8/12/2008 hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006
- Luật số 57/2010/QH 12 của Quốc hội : luật thuế bảo vệ môi trường
- Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BKHCMT-BXD hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với việc chọn địa điểm, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp chấp thải rắn
- Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT quy định về lập thẩm định phê duyệt và kiểm tra , xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết, lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản
- Nghị Định 35/NQ-CP năm 2013 về vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do chính phủ ban hành
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn
- TCVN 6696-2000 chất thải rắn - bãi chôn lấp hợp vệ sinh - yêu cầu chung về bảo vệ môi trường
- TCVN 6705:2009 Chất thải rắn thông thường Phân loại
- QCVN 25:2009/BTNMT-QCKT Quốc gia về nước thải của bãi chôn lấp chất thải rắn
2.1.3 Cơ sở thực tiễn
2.1.3.1 Một số vấn đề về ô nhiễm môi trường trên toàn thế giới
Xã hội loài người đang tiến gần hơn đến sự phát triển bền vững Đó là việc vừa phát triển kinh tế hiện đại song song với bảo vệ môi trường sinh thái Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang hoành hành ở khắp mọi nơi trên hành tinh xanh Môi trường sinh sống, hoạt động và phát triển của con người vẫn đang ngày ngày bị tàn phá mặc dù cộng đồng quốc tế vẫn đang
Trang 18ra sức kêu gọi bảo vệ môi trường Sau cách mạng công nghiệp, nền kinh tế thế giới như thay da đổi thịt với tốc độ tăng trưởng kinh tế thần kỳ của nhiều nước Song sự lợi dụng tự nhiên của con người cũng ngày càng phá hoại môi trường nghiêm trọng hơn Một loạt các vấn đề an ninh sinh thái, môi trường
và tài nguyên mang tính toàn cầu và khu vực như sự thay đổi khí hậu mang tính toàn cầu, tầng ozone bị phá hỏng, tài nguyên nước bị thiếu nghiêm trọng
và khủng hoảng năng lượng đe doạ đến sự phát triển bền vững của con người
Ô nhiễm môi trường trở thành một vấn đề toàn cầu và buộc mọi quốc gia phải liên kết với nhau để cùng tìm phương thức giải quyết Hơn thế, vấn nạn sinh thái này có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến toàn bộ nền kinh tế thế giới
Các nhà khoa học về môi trường đã khái quát lên các yếu tố lớn vấn đề
ô nhiễm môi trường hiện nay
* Sự giảm sút tài nguyên rừng:
Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng mô ̣t phần ba diê ̣n tích đất liền của Trái đất , chiếm khoảng 40 triê ̣u km2
Rừ ng đem la ̣i nhiều lợi ích cho
Trang 19chúng ta, trong đó viê ̣c đảm bảo sự ổn định chu trình oxy và cacbon trong khí quyển và trên mă ̣t đất là rất quan tro ̣ng
Tuy nhiên , các vùng rừng rậm tốt tươi đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây Các vùng có rừng che phủ đã bị giảm đi kho ảng 40% trong vòng 300 năm qua và theo đó mà các loài đô ̣ng thực vâ ̣t , thành phần quan tro ̣ng của các hê ̣ sinh thái rừng , cũng bị mất mát đáng kể Loài người đã làm thay đổi các hê ̣ sinh thái mô ̣t cách hết sức nhanh chóng tro ng khoảng 50 năm qua, nhanh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây
Trong những năm gần đây , mô ̣t diên tích lớn rừng bi ̣ phá hủy , nhất là rừng râ ̣m nhiê ̣t đới , do đó hàng năm có khoảng 6 tỷ tấn CO2 được thải thêm vào khí quyển trên toàn thế giới , tương đương khoảng 20% lượng khí CO2
thải ra do sử dụng các nhiên liệu hóa thạch (26 tỷ tấn/năm) Điều đó có nghĩa
là việc giảm bớt sử dụng nhiên liệu hóa thạch và khuyến khích bảo vệ rừng và trồng rừng để giảm bớt tác động của biến đổi khí hậu là rất quan trọng
* Đa da ̣ng sinh học đang giảm sút hàng ngày:
Đa da ̣ng sinh ho ̣c đem la ̣i rất nhiều lợi ích cho con người như làm sa ̣ch không khí và dòng nước, giữ cho môi trường thiên nhiên trong lành, cung cấp các loại lương thực thực phẩm , thuốc chữa bê ̣nh , đa da ̣ng sinh ho ̣c còn góp phần ta ̣o ra lớp đất màu , tạo độ phì cho đất để phục vụ sản xuất sinh hoạt… Tất cả các dịch vụ của hệ sinh thái trên thế giới đã đem lại lợi ích cho con người với giá trị ước lượng khoảng 21-72 tỷ đôla Mỹ/năm so với tổng sản phẩm toàn cầu năm 2008 là 58 tỷ đôla Mỹ (UNEP, 2010) [12]
Sụp đổ hệ sinh thái và mất đa dạng sinh học sẽ gây nên nhiều khó khăn trong cuô ̣c sống nhất Vì thế, viê ̣c bảo tồn đa da ̣ng sinh ho ̣c là hết sức quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo mà chúng ta đang theo đuổi trong sự phát triển xã hô ̣i ở nước ta
Trang 20* Tài nguyên nước đang bị cạn kiệt dần:
Trái đất là mô ̣t hành tinh xanh , có nhiều nước , nhưng 95,5% lượng nước có trên Trái đất là nước biển và đa ̣i dương Lượng nước ngo ̣t mà loài người có thể sử du ̣ng được chỉ chiếm khoảng 0,01% lượng nước ngo ̣t có trên Trái đất Cuô ̣c sống của chúng ta và nhiều loài sinh vật khác phụ thuộc vào lượng nước ít ỏi đó Lượng nước quý giá đó đang bi ̣ suy thoái mô ̣t cách nhanh chóng do các hoạt động của con người và con người đang phải vật lộn với sự thiếu hu ̣t nước ngọt tại nhiều vùng trên thế giới
Để có thể bảo tồn nguồn tài nguyên nước hết sức ít ỏi của chúng ta , chúng ta phải nhận thức được rằng cần phải giữ được sự cân bằng nhu cầu và khả năng cung cấp bằng cách thực hiên các biê ̣n pháp thích hợp Để có thể hồi phục được sự cân bằng mỗi khi đã bị thay đổi sẽ tốn kém rất lớn , tuy nhiên có nhiều trường hợp không thể sửa chữa được Vì vậy, mọi người dân tại tất cả các vùng phải biết tiế t kiê ̣m nước , giữ cân bằng giữa nhu cầu sử du ̣ng với nguồn nước cung cấp , có như thế mới giữ được một cách bền vững nguồn nước với chất lượng an toàn
* Mư ́ c tiêu thụ năng lượng ngày càng cao và nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiê ̣t:
Trong lúc vấn đề ca ̣n kiê ̣t nguồn chất đốt hóa tha ̣ch đang được mo ̣i người quan tâm như dầu mỏ và khí đ ốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện tích rộng và dân số lớn, đang là nhưng nước đang phát triển nhanh ta ̣i châu Á,
đă ̣c biê ̣t là Trung Quốc có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào , đang tăng sức tiêu thu ̣ nguồn năng lượng này mô ̣t cách nhanh chóng Ở Trung Quốc, sức tiêu thu ̣ loa ̣i năng lượng hàng đầu này từ 961 triệu tấn và o năm
1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007, tăng gần gấp đôi trong khoảng 10 năm Tất nhiên lượng CO2 thải ra cũng tăng lên gần ½ lượng thải của Mỹ năm
Trang 212000, và đến nay Trung Quốc đã trở thành nước thải lượng khí CO 2 lớ n nhất trên thế giớ i, vượt qua cả Mỹ năm 2007
Viê ̣c sử du ̣ng các nguồn năng lượng hồi phu ̣c được như năng lượng mặt trời, đi ̣a nhiê ̣t, gió, thủy lực và sinh khối sẽ không làm tăng thêm CO2 vào khí quyển và có thể sử du ̣ng được mô ̣t cách lâu dài cho đến lúc nào mặt trời còn chiếu sáng lên Trái đất Tuy nhiên, so với chất đốt hóa tha ̣ch, năng lượng mặt trời rất khó tạo ra được nguồn năng lượng lớn, mà giá cả lại không ổn định Chúng ta không thể giải quyết vấn đề năng lượng chỉ bằng cách sử du ̣ng nguồn năng lượng sạch, mà chúng ta cần phải thay đổi cách mà chúng ta hiện nay đang sử dụng nguồn năng lượng để duy trì cuô ̣c sống của chúng ta và đồng thời phải tìm các làm giảm tác động lên môi trường Tiết kiê ̣m năng lượng là hướng giải quyết mà chúng ta phải theo đuổi mới mong thực hiện được sự phát triển bền vững
* Trái đất đang nóng lên:
Nóng lên toàn cầu không phải chỉ có nhiệt độ tăng t hêm, nó còn mang theo hàng loa ̣t biến đổi về khí hâ ̣u, mà điều quan trọng nhất là làm giảm lượng nước mưa ta ̣i nhiều vùng trên thế giới Mô ̣t số vùng thường đã bi ̣ khô ha ̣n , lượng mưa la ̣i giảm bớt ta ̣o nên ha ̣n hán lớn và sa m ạc hóa Theo báo cáo lần thứ tư của IPCC , nhiê ̣t đô ̣ trung bình toàn cầu đã tăng 0,7o
C so với trước kia
Do nóng lên toàn cầu , dù chỉ 0,7o
C mà trong những năm qua , thiên tai như bão tố, lũ lụt, hạn hán, nắng nóng bất thường, cháy rừng… đã xảy ra tại nhiều vùng trên thế giới Theo dự báo thì rồi đây , nếu không có các biê ̣n pháp hữu hiê ̣u để giảm bớt khí thải nhà kính, nhiê ̣t đô ̣ mă ̣t đất sẽ tăng thêm từ 1.8oC đến 6,4oC vào năm 2100, lượng mưa sẽ tăng lên 5-10%, băng ở hai cực và các núi cao sẽ tan nhiều hơn , nhanh hơn, nhiê ̣t đô ̣ nước biển ấm lên , bị giãn nở mà mức nước biển sẽ dâng lên khoảng 70-100cm hay hơn nữa và tất nhiên sẽ có nhiều biến đổi bất thường về khí hâ ̣ u, thiên tai sẽ diễn ra khó lường trước được cả về tần số và mức đô ̣
Trang 22* Dân số thế giơ ́ i đang tăng nhanh:
Sự tăng dân số mô ̣t cách quá nhanh chóng của loài người cùng với sự phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái thiên nhiên Tuy rằng dân số loài người đã tăng lên với mức đô ̣ khá cao ta ̣i nhiều vùng ở châu Á trong nhiều thế kỷ qua nhưng ngày nay , sự tăng dân số trên thế giới đã ta ̣o nên mô ̣t hiê ̣n tượng đă ̣c biê ̣t c ủa thời đại của chúng
ta, được biết đến là như là sự bùng nổ dân số trong thế kỷ XX Hiện tượng này có lẽ còn đáng chú ý hơn cả phát minh về năng lượng nguyên tử hay phát minh về điều khiển học Tình trạng quá đông dân số loài người trên trái đất đã đạt trung bình khoảng 33 người trên km 2
trên đất liền (kể cả sa mạc và các vùng cực ) Với dân số như vâ ̣y , loài người đang ngày càng gây sức ép ma ̣nh lên vùng có khả năng nông nghiê ̣p để sản xu ất lương thực và
cả lên những hệ sinh thái tự nhiên khác
2.1.3.2 Một số vấn đề ô nhiễm môi trường tại Việt Nam
Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế
hệ hiện tại và tương lai
* Độ che phủ và chất lượng rừng giảm sút nghiêm trọng:
Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng chiếm hơn 42% diện tích
tự nhiên của cả nước Năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm 29%) Đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%) Độ che phủ của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động Chất lượng rừng ở các vùng còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên sinh.Cách đây 40 năm, 400.000 ha đất ven biển nước ta được bao phủ bởi rừng ngập mặn, nhưng chỉ trong 5 năm, 2006 - 2011, 124.000 ha rừng
Trang 23ngập mặn ven biển đã biến mất để nhường chỗ cho các ao tôm, ao cá - tương đương diện tích bị mất trong 63 năm trước đó [13]
Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá để sử dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới trồng bù được hơn 700 ha.[13]
* Đa da ̣ng sinh học ở Viê ̣t Nam:
Viê ̣t Nam được xem là mô ̣t trong những nước thuô ̣c vùng Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học Do sự khác biê ̣t lớn về khí hâ ̣u , từ vùng gần xích
đa ̣o tới giáp vùng câ ̣n nhiê ̣t đới , cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam Cho đến nay đã thống kê được 11.373 loài thực vật bậc ca o có ma ̣ch và hàng nghìn loài thực vâ ̣t thấp như rêu , tảo, nấm… Hê ̣ đô ̣ng vâ ̣t Viê ̣t Nam cũng hết sức phong phú Hiện đã thống kê được 310 loài thú, 870 loài chim, 296 loài bò sát, 263 loài ếch nhái, trên 1.000 loài cá nước ngọt, hơn 2.000 loài cá biển và thêm vào đó hàng chục ngàn loài
đô ̣ng vâ ̣t không xương sống ở ca ̣n , ở biển và ở nước ngọt Ngoài ra Việt Nam còn có phần nội thủy và lãnh hải rộng khoảng 226.000 km2
, trong đó có hàng nghìn hòn đảo lớn nhở và nhiều rạn san hô phong phú , là nới sinh sống của hàng ngàn động vật, thực vâ ̣t có giá tri ̣ Tuy nhiên, thay vì phải bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này ở nhiều nơi đã và đ ang khai thác quá mức và phí pha ̣m , không những thế còn sử du ̣ng các biê ̣n pháp hủy diệt như dùng các chất nổ , chất đô ̣c, kích điện để săn bắt Nếu được quản
lý tốt và biết sử dụng đúng mức , nguồn tài nguyên sinh ho ̣c củ a Viê ̣t Nam có thể trở thành tài sản rất có giá tri ̣
* Thoái hóa đất:
Theo thống kê mới năm 2010, Viê ̣t Nam có 28.328.939 ha đất đã được sử du ̣ng, chiếm 85,70% diê ̣n tích đất tự nhiên, trong đó đất nông - lâm nghiê ̣p
Trang 24có 24.997.153 ha chiếm 75,48%, đất phi nông nghiê ̣p khoảng 3.385.786 ha chiếm 10,22% Đất chưa sử dụng là 4.732.786 ha chiếm 13,30% Đất nông nghiê ̣p tăng trong khi diê ̣n tích đất trồng lúa giảm (45,977 ha) Nhìn chung, đất sản xuất nông nghiê ̣p có nhiều ha ̣n chế, với 50% diê ̣n tích là đất có vấn đề như đất phèn, đất cát, đất xám ba ̣c màu, đất xói mòn manh trơ sỏi đá, đất ngâ ̣p
mă ̣n, đất lầy úng, và có diện tích khá lớn là đất có tầng mặt mỏng ở vùng đồi núi (Hô ̣i Bảo vê ̣ Thiên nhiên và Môi trường, 2004) [4]
*Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp:
Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao Trong đó, lo ngại nhất là chất thải từ chăn nuôi Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%), với tổng đàn gia súc 37,8 triệu con và trên 214 triệu con gia cầm Theo tính toán của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), lượng phân thải của bò khoảng 10 - 15 kg/con/ngày, trâu là
15 - 20 kg/con/ngày, lợn là 2,5 - 3,5 kg/con/ngày và gia cầm là 90 gr/con/ngày Như vậy, tính ra tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi của nước ta hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm
Kết quả điều tra năm 2006 cho thấy, khu vực nông thôn thải ra khoảng
10 triệu tấn/năm chất thải rắn sinh hoạt, nhưng đến năm 2010 tăng lên tới 13,5 triệu tấn/năm Số rác thải này cộng với lượng chất thải từ sản xuất nông nghiệp đã khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng trở nên đáng lo ngại [13]
*Ô nhiễm ở các làng nghề:
Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, 100%
Trang 25mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép Riêng Hà Nội, khảo sát tại 40 xã cho kết quả khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất
Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động gần đây cho biết, trong các làng nghề, những bệnh mắc nhiều nhất là bệnh liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72% Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4% Còn tại làng nghề sản xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8% [13]
*Khai thác khoáng sản:
Cùng với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu, nguồn tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất của nước ta đã bị khai thác khá mạnh Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ năm 2009 - 2011, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 2,1 - 2,6 triệu tấn khoáng sản các loại (không kể than, dầu thô) với điểm đến chủ yếu là Trung Quốc, nhưng chỉ mang lại giá trị 130 - 230 triệu USD Riêng năm
2012, lượng khoáng sản xuất khẩu vẫn gần 800.000 tấn thông qua đường chính ngạch Nếu cộng cả số xuất lậu, xuất qua đường biên mậu, số lượng xuất khẩu còn lớn hơn nữa (vào năm 2008, chỉ riêng xuất lậu quặng ti-tan ước tính đã lên đến 200.000 tấn)
Hậu quả của ô nhiễm môi trường từ những hoạt động khai thác khoáng sản đã quá rõ ràng Qua điều tra, cứ 4.000 người dân Quảng Ninh có 2.500 người mắc bệnh, chủ yếu là mắc bệnh bụi phổi, hen phế quản, tai mũi họng (80%) Kết quả quan trắc của các cơ quan chuyên môn cho thấy nồng độ bụi ở khu vực Cẩm Phả vượt từ 3 - 4 lần tiêu chuẩn cho phép, gần 0,3 mg/m3 trong
24 giờ (gồm bụi lơ lửng, bụi Pb, Hg, SiO2, khí thải CO, CO2, NO2) Mỏ Đèo
Trang 26Nai phải xử lý lượng đổ thải chất cao thành núi trong mấy chục năm qua Mỏ Cọc Sáu với biển nước thải sâu 200m chứa 5 triệu m3có nồng độ a-xít cao và
độ PH 4 - 4,5mgđl/l sẽ phải tìm công nghệ phù hợp để xử lý [13]
2.2 Tình hình nghiên cứu nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường và hiện trạng rác thải sinh hoạt trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Hiện trạng vấn đề rác thải sinh hoạt trên thế giới
Rác thải sinh hoạt tồn tại ở khắp nơi, trong mỗi gia đình, công sở, từ thành thị đến nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi Việc dân cư sống tập trung với mật độ cao và quá trình đô thị hóa đã tạo ra một lượng lớn rác thải
đô thị trên một diện tích nhất định, trong thời gian ngắn, diễn ra liên tục và tăng trưởng hàng năm Số lượng và mật độ rác đô thị (trên đầu người và trên diện tích) đều thể hiện xu hướng tăng mạnh mẽ cùng với tốc độ đô thị hóa Ở các nước đang phát triển, mức tăng còn cao hơn các nước phát triển Tuy nhiên, sự cần thiết đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý rác thải tại các nước đang phát triển gặp nhiều hạn chế, đặc biệt về vốn đầu tư và công nghệ
Ngày 06/06/2012, Ngân hàng Thế giới World Bank (WB) đã cảnh báo
về một cuộc khủng hoảng rác thải đang ngày càng nghiêm trọng và tạo gánh nặng khổng lồ về tài chính cũng như môi trường cho chính phủ các nước Các chuyên gia WB ước tính đến năm 2025, tổng khối lượng rác cư dân thành thị thải ra sẽ là 2,2 tỷ tấn/năm - tăng 70% so với mức 1,3 tỷ tấn hiện nay, trong khi chi phí xử lý rác thải rắn dự kiến lên tới 375 tỷ USD/năm, so với mức 205
tỷ USD ở thời điểm hiện tại [19]
Các chuyên gia của WB kêu gọi các nhà hoạch định chính sách trên thế giới đưa ra các kế hoạch xử lý và tái chế rác thải nhằm hạn chế các khí gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời tăng cường xử lý chất thải rắn, đặc biệt là ở các thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh và các quốc gia thu nhập thấp
Trang 27Theo thống kê của WB, Trung Quốc - quốc gia đã vượt Mỹ trở thành nước thải nhiều rác nhất thế giới năm 2004, hiện chiếm 70% số lượng rác thải của toàn khu vực Đông Á - Thái Bình Dương
Nền kinh tế thứ hai thế giới và các khu vực khác ở Đông Á cùng nhiều khu vực ở Đông Âu và Trung Đông có tốc độ "sản xuất" chất thải rắn đô thị tăng nhanh nhất thế giới Với lượng rác gom góp được trên toàn thế giới từ 2,5 đến 4 tỉ tấn một năm, thế giới hiện có lượng rác ngang bằng với sản lượng ngũ cốc (đạt 2 tấn) và sắt thép (1 tỉ tấn), khẳng định của Viện nguyên vật liệu Cyclope và Veolia Propreté, công ty quản lý rác lớn thứ hai thế giới [18]
Theo các chuyên viên nghiên cứu của hai cơ quan trên, trong tổng số rác trên thế giới, có 1,2 tỉ tấn rác tập trung ở vùng đô thị Mỹ và châu Âu là hai "nhà sản xuất" rác thải sinh hoạt ở đô thị chủ yếu với hơn 200 triệu tấn rác cho mỗi khu vực, kế tiếp là Trung Quốc với hơn 170 triệu tấn Theo ước tính, tỉ lệ rác thải sinh hoạt ở Mỹ ở mức 700kg/người/năm
Nước Anh hiện đang tái chế được khoảng 27% số rác thải sinh hoạt, trong khi con số này vào giai đoạn đầu thập niên mới chỉ là 7% Nếu so sánh với Đức và Áo (tái chế được hơn 50%) và nhất là Hà Lan (nơi tỷ lệ này lên tới 65%) thì đây rõ ràng là một con số quá khiêm tốn.[18]
Rác thải sinh hoạt bao gồm rác hữu cơ như giấy, bìa, thức ăn, rác làm vườn, nhựa, và các loại rác vô cơ như kim loại, đất, vữa, bê tông và thủy tinh Tỉ lệ trung bình của thành phần rác tùy thuộc vào một số yếu tố như đặc điểm địa phương, vùng miền, thời tiết, chu kỳ thời gian Ví dụ tại Mỹ, lượng rác thải đô thị năm 2010 là 250 triệu tấn, thành phần rác được giới thiệu trong hình 2.1
Trang 28Hình 2.1 :Tổng sản lượng chất thải rắn sinh hoạt của Mỹ năm 2010 [15]
Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh, dân cư ở mỗi khu vực Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng chung của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều
Vấn đề rác thải đô thị được nhiều nước trên thế giới quan tâm, ở các cấp độ khác nhau Nhiều nước đã giải quyết được vấn đề rác thải, đặc biệt, rác đã được chuyển thành nguyên liệu thô cho các hoạt động công nghiệp Các nước khu vực Bắc Âu, Singapore đã ứng dụng công nghệ WTE để xử
lý cho toàn bộ rác thải đô thị Một số nước công nghiệp như Nhật Bản, Mỹ, Đức đã phát triển các công nghệ sử dụng và tái chế rác thải đô thị ở mức từ 50% đến trên 75%
Công nghệ tiên tiến và có nhiều ưu điểm vượt trội là chuyển hóa rác thành điện Điện năng tự thân nó được xem là năng lượng sạch và là dạng năng lượng cao cấp nhất Tuy nhiên, điện hạt nhân, nhiệt điện sử dụng than hay dầu mỏ lại gây ra phát thải lớn, và hàng loạt các vấn đề môi trường
Trang 29khác Sự suy giảm nguồn than, dầu mỏ, và nhất là sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm thay đổi quan niệm của thế giới hiện đại, hình thành nhu cầu về năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và phát triển bền vững Năng lượng tái tạo bao gồm các loại năng lượng từ thủy năng, bức xạ mặt trời, năng lượng gió, sóng biển, sinh khối, địa nhiệt, thủy triều, nhiên liệu sinh học và đặc biệt, từ rác sinh hoạt
Trên thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loại và thu gom rác thải rất hiệu quả:
California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Nếu có những phát sinh khác nhau như: Khối lượng rác tăng hay các xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/tháng Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác
Nhật Bản: rác được phân thành hai loại là rác cháy được và không cháy được để riêng trong những túi có màu khác nhau Hàng ngày, khoảng 9 giờ sáng họ đem các túi đựng rác đó ra đặt cạnh cổng Công ty vệ sinh thành phố
sẽ cho ô tô đến từng nhà đem các túi rác đó đi Nếu gia đình nào không phân loại rác, để lẫn lộn vào một túi thì ngay hôm sau sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy báo đến phạt tiền Với các loại rác cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máy giặt, thì quy định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi ô tô đến chở đi, không được tuỳ tiện bỏ những thứ đó ở hè phố
Trang 302.2.2 Hiện trạng vấn đề về rác thải sinh hoạt ở Việt Nam
Lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị ở nước ta đang có
xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%
Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt
để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTRSH đô thị Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP Hồ Chí Minh khoảng 5.500 tấn/ngày, Hà Nội khoảng 2.500 tấn/ngày Đô thị có lượng CTRSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn là 12,3 tấn/ngày; Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP Yên Bái là 33,4 tấn/ngày và
Thành phần rác thải sinh hoạt ở nước ta rất đa dạng, đặc trưng theo từng khu vực cụ thể và phụ thuộc vào tập quán sinh hoạt và trình độ văn hóa
và tốc độ phát triển
Trang 31Thực tế việc quản lý và xử lý rác thải mặc dù đã có nhiều tiến bộ, cố gắng nhưng chưa ngang tầm với nhu cầu đòi hỏi Hiện nay, ở khu vực đô thị mới chỉ thu gom đưa đến bãi chôn lấp tập trung đạt khoảng 60-65%, còn lại rác thải xuống ao hồ, sông ngòi, bên đường Còn ở khu vực nông thôn, rác thải hầu như không được thu gom, những điểm vứt rác tràn ngập khắp nơi Tỉ
lệ thu gom rác thải ở Việt Nam đạt khoảng 31% Tỉ lệ rác thải không được xử
lý và tái sử dụng ở Việt Nam chiếm lượng lớn Ở Hà Nội có 80% rác thải không được tái sử dụng, chỉ có 20% được tái sử dụng [22]
Các phương pháp xử lý chất thải rắn đang được áp dụng tại Việt Nam hiện nay tập chung vào:
- Tái chế chất thải: Việc tái chế chất thải chỉ mang tính tự phát, tập trung ở những thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh Các loại phế thải có giá trị như: thuỷ tinh, đồng, nhôm, sắt, giấy được đội ngũ đồng nát thu mua ngay tại nguồn, chỉ còn một lượng nhỏ tới bãi rác và tiếp tục thu nhặt tại đó Tất cả phế liệu thu gom được chuyển đến các làng nghề Tại đây quá trình tái chế được thực hiện Việc thu hồi sử dụng chất thải rắn góp phần đáng kể cho việc giảm khối lượng chất thải đưa đến bãi chôn lấp, tận dụng được nguồn nguyên liệu đầu vào cho các quá trình sản xuất, tạo công ăn việc làm cho một số lao động
- Đốt chất thải: Được áp dụng để xử lý chất thải nguy hại như chất thải bệnh viện, các bệnh viện lao, viện 198 mới xây lò đốt chất thải Tại Hà Nội có
lò đốt chất thải bệnh viện công suất 3,2tấn/ngày đặt tại Tây Mô Tại TP Hồ Chí Minh có lò đốt chất thải bệnh viện công suất 7,5 tấn/ngày Phương pháp đốt chất thải còn được dùng để xử lý chất thải công nghiệp như lò đốt chất thải giầy da ở Hải Phòng, lò đốt cao su công suất 2,5tấn/ ngày ở Đồng Nai
- Chôn lấp chất thải rắn: Chôn lấp đơn thuần không qua xử lí, đây là phương pháp phổ biến nhất theo thống kê, nước ta có khoảng 149 bãi rác cũ
Trang 32không hợp vệ sinh,trong đó 21 bãi rác thuộc cấp tỉnh - thành phố, 128 bãi rác cấp huyện - thi trấn Được sự giúp đỡ của nước ngoài đã xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, TP
Một số công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt hiện đại đã được áp dụng tại các thành phố trong cả nước như:
Tại Cà Mau, một nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt áp dụng mô hình công nghệ VIBIO đang hoạt động, biến rác thải thành phân vi sinh và các chất hữu ích khác như Compost 50-55%, đóng rắn 3-5%, phế liệu 15-20%, hóa dầu 10-15%, đốt 3,5%, chôn lấp 5-7% Lượng rác thu gom trên địa bàn tỉnh mới đáp ứng công suất 160 tấn/ngày của nhà máy Cà Mau đang lên kế hoạch xây dựng thêm nhiều nhà máy giống như vậy, và sẽ đưa công nghệ chế biến phân vi sinh thành phân thương phẩm bán ra thị trường [20]
Tại thành phố Đà Nẵng, nhà máy chế biến rác thải nilon thành dầu PO của Công ty Cổ phần Môi trường Việt Nam là nhà máy xử lý rác thải rắn đầu tiên tại Việt Nam cho ra thành phẩm là dầu và các loại nguyên liệu có lợi cho môi trường khác Hơn 50 tấn nilon mỗi ngày trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
sẽ được đưa đi xử lý Theo tính toán của công ty, cứ 3 tấn nilon được tái chế
sẽ cho ra 1 tấn dầu PO và RO Trong tương lai, mỗi ngày nhà máy có thể sản
Trang 33xuất ra 17 tấn dầu cho thành phố Đà Nẵng với lượng rác thải như hiện nay Ở giai đoạn 1, nhà máy đang đi vào hoạt động với công suất xử lý 9 tấn/ngày Lượng rác thải chôn lấp tại đây sẽ chỉ còn khoảng 10% Hơn 90% rác sẽ được chế biến thành các sản phẩm hữu ích cho cuộc sống
2.2.3 Những nghiên cứu về nhận thức người dân về các vấn đề môi trường
* Nhận thức của người dân về phân loại, thu gom, xử lý rác thải
Nhóm tác giả khoa Xã Hội Học trường Đại học Bình Dương đã thực
hiện đề tài “Tìm hiểu về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về ô
nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại Phú Thọ, Thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” Theo đó kết quả đạt được
là: Mọi người dân đều có hiểu biết về tầm quan trọng của môi trường trong cuộc sống của mình và đồng ý với việc bảo vệ môi trường bằng cách không vứt rác thải bừa bãi và có những thái độ, hành vi nhất định để ngăn chặn hay hạn chế hành vi gây mất vệ sinh môi trường của người khác Xu hướng chung
là đều cảm thấy khó chịu, có nhắc nhở hoặc tự nhặt lại và cho vào thùng rác Người dân càng có trình độ học vấn cao thì mức độ quan tâm, hiểu biết
về vấn đề môi trường càng nhiều
Một thực trạng chung là có rất nhiều hộ gia đình biết cách phân loại rác nhưng trong thực tế lại rất ít hộ gia đình thực hiện phân loại, chỉ một số hộ dân trong phường thường phân loại rác thải sinh hoạt hàng ngày còn đa số hộ dân thì chưa phân loại Đa số việc phân loại rác sinh hoạt hàng ngày của gia đình là do người vợ đảm nhận nhưng bên cạnh đó sự tham gia của người chồng, con hoặc người khác trong gia đình tham gia phân loại cũng chiếm tỷ
lệ không nhỏ [8]
Việc phân loại rác sinh hoạt của người dân tại địa bàn phường chưa đồng bộ, vẫn còn mang tính tự phát và không triệt để Ý thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường thông qua việc phân loại rác của nhiều người dân
Trang 34chưa cao Nhiều hộ gia đình chưa thực sự quan tâm đến vấn đề phân loại rác thải sinh hoạt của gia đình mình Điều này sẽ gây nhiều khó khăn cho bộ phận thu gom khi phải thu gom một lượng rác thải lớn như khó tách ra và khó sử dụng rác có thể tái chế
Quá trình xử lý rác thải sinh hoạt của người dân và chính quyền địa phương bao gồm các giai đoạn: Phân loại, thu gom và xử lý
Người dân coi việc xử lý rác là rất quan trọng mặc dù vậy họ chưa thực
sự chú ý đến việc xử lý rác của địa phương, mà họ chỉ quan tâm đến việc làm cho gia đình mình hết rác còn rác sau khi đem đi bỏ được xử lý như thế nào thì ít được quan tâm đến.[8]
Theo kết quả của Hoàng Thái Sơn, trường Đại học Y dược Thái
Nguyên với luận văn thạc sỹ học “Thực trạng, kiến thức, thái độ, thực hành
về vệ sinh môi trường của người dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”
Trong số 400 người được phỏng vấn 76,6% người dân kể tên được một nguồn nước sạch 33,2% số người kể được từ hai bệnh trở lên nguyên nhân do
sử dụng nguồn nước không sạch gây ra Người dân có thái độ tích cực đối với việc sử dụng nước sạch, có 98% số người được hỏi cho rằng cần có nguồn nước vệ sinh Số hộ không có nguồn nước sạch thấp (17,6%), số hộ không thực hiện các việc làm thiết thực để bảo vệ nguồn nước rất cao (54,3%)
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức, thái độ, thực hành của người dân
về nguồn nước còn rất thấp, tỷ lệ số người có kiến thức tốt mới đạt 11,3%, thái độ tốt chiếm tỷ lệ khá hơn 38,3% và thực hành tốt mới chỉ chiếm 21,7% [10]
* Nhận thức của người dân về Luật BVMT [16]
Kết quả điều tra của nhóm nâng cao nhận thức cộng đồng (chương trình SELMA - Bộ Tài nguyên và Môi trường) tại 3 tỉnh Hà Giang, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu cho thấy, nhìn chung cán bộ công chức của 3 tỉnh đều có hiểu biết chính sách pháp luật đất đai và môi trường Sự hiểu biết của họ chủ yếu là
Trang 35do bản thân chủ động nghiên cứu và nghe trên phương tiện truyền thông đại chúng Song sự tiếp cận cũng như hiểu về Luật Đất đai và Bảo vệ môi trường
ở những mức độ khác nhau
Đa số cán bộ trong cơ quan Nhà nước hiểu biết về chính sách pháp luật đất đai nhiều hơn và sâu hơn, còn Luật bảo vệ môi trường thì các cán bộ viên chức chỉ hiểu biết ở tầm khái quát chung Song khi đi vào chi tiết nhiều người còn chưa nắm bắt được Ví dụ phỏng vấn câu hỏi về trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường là trách nhiệm thuộc về ai? Tại Hà Giang có tới 80% trả lời là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, Nghệ An có 54,9% và Bà Rịa - Vũng Tàu có 53,19% có cùng câu trả lời Trong khi đó nhiệm vụ này là của chủ dự án Nhận thức về chính sách, pháp luật đất đai và môi trường của cộng đồng dân cư đô thị của 3 tỉnh có cao hơn cộng đồng dân cư nông thôn nhưng cũng chỉ “mạnh” về đất đai, còn mảng môi trường nhiều người chưa biết hoặc trả lời sai một số câu hỏi Ví như, việc khắc phục ô nhiễm theo nhiều người thì trách nhiệm thuộc về cơ quan quản lý nhà nước, song trên thực tế trách nhiệm này thuộc về người gây ô nhiễm Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường hiện vẫn là vấn đề được nhiều người quan tâm bởi có tới 96,15% dân
cư tại Hà Giang; 81,82% dân cư tại Nghệ An; 97,98% dân cư tại Bà Rịa - Vũng Tàu Từ đó ta thấy cấn thiết phải tham khảo ý kiến người dân trong đánh giá tác động môi trường và việc tham khảo này nên tổ chức họp dân là phù hợp nhất
Để nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mọi người dân về bảo
vệ môi trường (BVMT) , góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững đất nước, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã nghiên cứu, xây dựng dự thảo “Chương trình toàn dân tham gia bảo vệ môi trường đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020”
Trang 36Mục tiêu của Chương trình là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động của toàn dân từ mỗi cá nhân, hộ gia đình đến cộng đồng dân cư; phát huy quyền làm chủ, nâng cao tính tích cực, chủ động của mỗi người dân tham gia vào quá trình xây dựng, thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, cũng như xây dựng các quy chế, quy ước của cộng đồng trong lĩnh vực BVMT; xây dựng ý thức trách nhiệm, tự giác BVMT và sống thân thiện với môi trường Đưa nội dung BVMT vào cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”
Để đảm bảo tính khả thi và đồng bộ của Chương trình toàn dân tham gia BVMT, dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã vạch ra 7 nhiệm
vụ trọng tâm Nhiệm vụ nổi bật là thực hiện tuyên truyền, giáo dục, vận động mọi tầng lớp nhân dân nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi theo hướng tích cực thực hiện nhiệm vụ BVMT trong quá trình tổ chức các hoạt động kinh doanh, sản xuất, canh tác nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thuỷ hải sản…
Bên cạnh đó, cần vận động nhân dân xây dựng và nhân rộng các mô hình cộng đồng BVMT về hệ thống tự quản tài nguyên thiên nhiên, BVMT Đồng thời, tăng cường, mở rộng đoàn kết, tạo sự đồng thuận trong xã hội đối với sự nghiệp BVMT và tham gia giải quyết kịp thời các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột lợi ích về môi trường, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; thực hiện kinh tế hóa, xã hội hoá ngành tài nguyên và môi trường, đa dạng hoá các hình thức tổ chức, phương thức hoạt động; đặc biệt chú trọng phối hợp đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả các chiến dịch, phong trào, cuộc vận động huy động toàn dân BVMT ở trong nước và thế giới Dự thảo cũng nêu
rõ, Chương trình Toàn dân tham gia BVMT phải đưa vào cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và vào tiêu chuẩn xét khen thưởng
Trang 37Để hướng tới bảo vệ môi trường bền vững, điều cốt lõi nhất là xây dựng ý thức bảo vệ môi trường trong mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ Nhận thức rõ ý nghĩa của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho giới trẻ UBND tỉnh Thái Nguyên đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Cùng với đó, một loạt các hoạt động nhằm kêu gọi người dân và thế hệ trẻ chung tay bảo vệ môi trường đã được phát động và triển khai mạnh mẽ Trong đó, nổi bật là chuỗi hoạt động nhằm hưởng ứng Chiến dịch quốc gia làm cho thế giới sạch hơn năm 2014
Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn là chiến dịch do Australia khởi xướng từ năm 1993 và được Chương trình Môi trường Liên hợp quốc phát động trên phạm vi toàn cầu, tổ chức vào tuần thứ Ba tháng Chín hàng năm
Kể từ đó đến nay, Chiến dịch này đã thu hút được nhiều quốc gia trên thế giới hưởng ứng tham gia, trong đó có Việt Nam Thông qua các hoạt động như: Trồng cây, làm sạch công viên hoặc bãi biển, bảo tồn nước hoặc thực hiện các sáng kiến nâng cao nhận thức môi trường và giáo dục… chiến dịch đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng thế giới về bảo vệ môi trường, bảo vệ hành tinh của chúng ta Hạn chế sử dụng túi nilon, sử dụng tiết kiệm nguyên liệu, trồng thêm nhiều cây xanh là những hoạt động mà Việt Nam sẽ thực hiện
để bảo vệ môi trường, cùng các quốc gia hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2014
Chương trình: “Tập huấn nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ
môi trường thông qua việc áp dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến (SRI) – khoá 5” Từ ngày 7/5 đến ngày 12/5/2011 Trung tâm Hợp tác Quốc tế - Đại
học Thái Nguyên tổ chức triển khai khóa tập huấn thứ 5 của dự án
VIE0402711-23 Mục tiêu của khóa tập huấn là nâng cao nhận thức của người
dân về bảo vệ môi trường thông qua việc áp dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI Tham dự khóa tập huấn lần này có 35 học viên là đại diện cán bộ và
Trang 38nhân dân 7 xã thuộc 3 huyện của tỉnh Thái Nguyên ( Phú Lương, Phú Bình,
Đại Từ), gồm:
- Xã Tức Tranh, xã Hợp Thành - huyện Phú Lương
- Xã Thanh Ninh, Nhã Lộng, Nga My - huyện Phú Bình
- Xã Yên Lãng, Văn Yên - huyện Đại Từ
- Đại diện phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn của 3 huyện Khóa tập huấn giúp các học viên được tiếp cận với những kiến thức cơ bản về Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, và kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI Phương pháp tập huấn khuyến khích sự tham gia thảo luận
và chuyến đi tham quan mô hình thực tế giúp học viên có thể tiếp thu kiến thức một cách nhanh hơn và sâu sắc hơn Kết thúc khóa học, các đơn vị sẽ xây dựng kế hoạch hành động nhằm lồng ghép mục tiêu bảo vệ môi trường vào sản xuất nông nghiệp của xã mình
Trang 39Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phạm vi, đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tìm hiểu thái độ nhận thức và hành
vi của người dân về vấn đề ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom,
xử lý rác thải sinh hoạt
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Địa bàn xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu của đề tài: Xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài này được thực hiện từ tháng 8/214 đến tháng 12/214
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã La Hiện, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Tìm hiểu thực trạng của việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải tại xã
La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Tìm hiểu nhận thức và thái độ của người dân tại xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trong việc thu phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân từ đó góp phần thay đổi hành vi trong việc bảo vệ môi trường
Trang 403.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp kế thừa
Tham khảo tài liệu, giáo trình, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn
khoa học… có liên quan đến đề tài nghiên cứu
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài thứ cấp
Việc thu thập và phân tích tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu là rất quan trọng nhằm nhận biết vấn đề một cách nhanh chóng và tổng quát Những tài liệu này là cơ sở ban đầu định hướng cho kế hoạch và triển khai các mục tiêu nghiên cứu
Thu thập tài liệu, số liệu có liên quan như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội của địa phương, hiện trạng rác thải sinh hoạt, công tác thu gom, vận chuyển, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại UBND xã La Hiên và mạng internet, sách, báo,… về vấn đề môi trường
3.3.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình để thu thập thông tin về hiện trạng môi trường, số lượng, thành phần rác thải, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa phương và nhận thức, thái độ hành
vi của người dân về ô nhiễm môi trường trong việc phân loại, thu gom và xử
lý rác thải sinh hoạt
Số lượng phiếu: 80 phiếu
Số phiếu này được chia đều cho các xóm và lựa chọn đối tượng phỏng vấn ngẫu nhiên
3.3.4 Phương pháp xác định thành phần rác thải
* Rác thải của hộ gia đình:
- Dân cư trên địa bàn xã được chia ra làm 3 khu vực khác nhau về mật
độ dân số, phân bố dân cư, điều kiện cơ sở hạ tầng, gồm: