Về công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn 1954 1975. Các vấn đề chung về thực trạng đất nước trong giai đoạn 1954 1975. Các vấn đề quan trọng và vai trò của công tác ngoại giao, tuyên truyền, đối ngoại đối với độc lập của dân tộc và hành động cụ thể của Đảng cộng sản VIệt Nam.
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60220315
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHÙNG THỊ HIỂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nộidung nêu trong luận văn là trung thực, minh bạch và chưa được ai công bốtrong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Thắm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô Khoa Lịch sử Đảng, Họcviện Chính trị Khu vực I đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gianhọc tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Phùng Thị Hiển, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Thắm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1 Tình hình cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
6 Những đóng góp của luận văn 9
7 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG I: CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1964 10
1.1 Hoàn cảnh lịch sử và những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng trong những năm 1954 - 1964 10
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử 10
1.1.2 Những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền đối ngoại từ năm 1954 đến năm 1964 15
1.2 Chủ trương của Đảng 16
1.3 Quá trình thực hiện 22
Tiểu kết chương 1 38
CHƯƠNG II: CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975 40
2.1 Những diễn biến và yêu cầu mới đối với công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng trong những năm 1965 - 1975 40
2.1.1 Tình hình thế giới 40
2.1.2 Tình hình trong nước 41
2.1.3 Những yêu cầu mới đối với công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng 44
Trang 62.2 Chủ trương của Đảng 46
2.3 Quá trình thực hiện 55
Tiểu kết chương 2 68
CHƯƠNG III: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 70
3.1 Công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng thời kỳ chống Mỹ, cứu nước có nhiều ưu điểm 70
3.2 Hạn chế 75
3.3 Nguyên nhân 77
3.3.1 Nguyên nhân của ưu điểm 77
3.3.2.Nguyên nhân của hạn chế 79
3.4 Một số kinh nghiệm 81
3.4.1 Trong nhận thức và hành động Đảng phải luôn coi trọng công tác tuyên truyền đối ngoại 82
3.4.2 Chủ trương phải đúng, sát hợp và chỉ đạo phải cụ thể, linh hoạt 84
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tình hình cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử lãnh đạo cách mạng của Đảng, công tác tuyên truyền làmột trong những mặt công tác được Đảng chú trọng hàng đầu Công tác tuyêntruyền luôn đi trước so với các mặt công tác khác và giữ vai trò quyết địnhtrong việc điều chỉnh nhận thức, hình thành niềm tin cho các đối tượng trong
xã hội về những vấn đề thuộc về tư tưởng, chính trị
Trải qua hơn 80 năm lãnh đạo cách mạng, công tác tuyên truyền củaĐảng đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi chung của cách mạng Đặcbiệt, trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, công tác tuyên truyềncủa Đảng nói chung, công tác tuyên truyền đối ngoại nói riêng đã để lạinhững dấu ấn đậm nét trong lịch sử về những thành tích cũng như những bàihọc kinh nghiệm trên lĩnh vực này
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta phải trải quanhững thử thách khắc nghiệt nhất Để vượt qua được, Đảng ta đã xác địnhphải kháng chiến lâu dài trên mọi lĩnh vực Thắng lợi của cuộc chiến tranhmười nghìn ngày đó không chỉ là thắng lợi trên mặt trận quân sự khi ta và Mỹđụng đầu trực tiếp trên chiến trường mà còn là thắng lợi trên nhiều mặt trậnkhác như kinh tế, chính trị và đặc biệt là đối ngoại Tuy nhiên, điều kiện đểcho hoạt động đối ngoại của ta có hiệu quả lúc bấy giờ không hề thuận lợi,thậm chí vô cùng khó khăn bởi nhiều yếu tố, trong đó khó khăn lớn nhất là sựbưng bít, phong tỏa thông tin của phía kẻ thù khiến bạn bè và các lực lượngtiến bộ trên thế giới không hiểu hết những gì đang diễn ra, những gì là bảnchất đích thực của cuộc chiến tranh ở Việt Nam để rồi họ có sự ủng hộ, giúp
đỡ chí tình cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Tronghoàn cảnh đó, công tác tuyên truyền đối ngoại trở thành một trong những yếu
Trang 9tố quan trọng góp phần thúc đẩy các hoạt động đối ngoại của Đảng và ngoạigiao của Nhà nước trở nên có hiệu quả Thực tế này đã tạo nên một thời kỳthành công rực rỡ của công tác tuyên truyền nói chung và công tác tuyêntruyền đối ngoại của Đảng nói riêng, đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cógiá trị về công tác tuyên truyền của Đảng.
Hiện nay, tuy không còn có chiến tranh, song những yêu cầu bức thiếtcủa thời kỳ hội nhập sâu với thế giới đòi hỏi chúng ta phải hiểu biết nhiều hơnnữa với thế giới bên ngoài, đồng thời cũng rất cần thế giới bên ngoài hiểu rõhơn về một Việt Nam đổi mới và phát triển Việc tiếp tục các hoạt động tuyêntruyền đối ngoại để đáp ứng những yêu cầu đó vẫn đang là một trong nhữngchủ trương lớn của Đảng ta hiện nay Trong vấn đề này, dù điều kiện đã cónhiều thay đổi so với thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, song những kinh nghiệm
về công tác tuyên truyền đối ngoại của thời kỳ khó khăn đầy cam go thử thách
đó vẫn là những kinh nghiệm có giá trị đối với hiện tại
Do vậy, việc nghiên cứu công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảngtrong thời kỳ công tác này gặp những khó khăn thử thách lớn nhất đồng thờicũng gặt hái được những thành tựu lớn nhất này, một mặt sẽ góp phần tìm racâu trả lời hữu ích cho công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng trong giaiđoạn hiện nay là một việc làm có ý nghĩa và cần thiết Mặt khác, dưới góc độkhoa học, đây là vấn đề cũng chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống,chuyên sâu và toàn diện, do đó việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm sáng rõhơn bức tranh toàn cảnh về lịch sử công tác tuyên truyền, công tác tư tưởngcủa Đảng thời kỳ chống Mỹ, bổ sung những dữ liệu lịch sử cho công tácnghiên cứu về Lịch sử Đảng nói chung và lịch sử công tác tuyên truyền củaĐảng nói riêng
Trang 10Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Công tác tuyên truyền đối ngoạicủa Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)” làmluận văn thạc sỹ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản ViệtNam.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu về công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảngtrong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - một thời kỳ khá dài vớimuôn vàn sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc và của Đảng, do vậy liên quanđến đề tài này trước hết là những công trình nghiên cứu về lịch sử cuộc khángchiến chống Mỹ, cứu nước của các tác giả trong và ngoài nước sau đây:
Thứ nhất, nhóm công trình do các tác giả nước ngoài nghiên cứu vềlịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam – Hoa Kỳ bao gồm một số tác phẩm tiêu
biểu sau: Pierre Assilin: Nền hòa bình mong manh – Washinhton, Hà Nội và tiến trình của hiệp định Paris (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006); Gabrien Conoco: Giải phẫu cuộc chiến tranh, tập 1 (NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1991); Maicơn Maclia: Việt Nam - Cuộc chiến mười nghìn ngày (NXB Sự thật, Hà Nội, 1990); Pitơ A Piulơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Nichson (NXB Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986); G Herring: Cuộc chiến dài ngày nhất của nước Mỹ: Hoa Kỳ và Việt Nam 1950 - 1975; Robert S Mc Namara: Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995); Ilya V Gaiduk: Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam (NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
2004)…
Trong các tác phẩm nêu trên có một điểm chung đó là các tác giả đều làngười nước ngoài, nhìn cuộc chiến tranh Việt Nam và Mỹ dưới góc độ nghiêncứu cá nhân, góc nhìn và quan điểm cá nhân, có thể là người trực tiếp tham
Trang 11chiến viết hồi ký, cũng có thể là người nghiên cứu sau khi chiến tranh kết thúcvới những tư liệu cá nhân Trong các tác phẩm này, họ đều không bàn trựctiếp đến công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, song, ở từngtrang viết, từng cách đánh giá của họ về vấn đề vì sao Việt Nam thắng Mỹ, vìsao Mỹ thua Việt Nam, v.v cũng cho chúng ta tìm thấy được phần nào hoạtđộng tuyên truyền của Đảng hoặc ít nhất là những đánh giá của họ về hiệuquả công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng, xem nó như một trong nhữngnguyên nhân đưa đến kết quả của cuộc kháng chiến.
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến cũngnhư lịch sử của hoạt động ngoại giao Việt Nam, giai đoạn từ năm 1954 - 1975
của các tác giả trong nước: Nguyễn Văn Huỳnh: Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris (NXB Chính trị Quốc gia, 2014); Ngoại giao Việt Nam, góc nhìn và suy ngẫm (NXB Chính trị Quốc gia, 2011); Mai Văn Bộ: Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật (NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1985); Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ; Tiếp xúc bí mật Việt Nam – Hoa Kỳ trước Hội nghị Paris (Viện quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1990); Nguyễn Duy Trinh: Mặt trận ngoại giao trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước 1965 -1975 (NXB Sự Thật, Hà Nội, 1996); Nguyễn Thành Lê: Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam 1968 - 1973 (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998); Lưu Văn Lợi: Lịch sử 50 năm ngoại giao Việt Nam (Học viện quan hệ quốc tế, Hà Nội, 1995); Nguyễn Phúc Lâm: Ngoại giao trong cuộc đụng đầu lịch sử (NXB
Công an nhândân, Hà Nội, 2005) Những công trình này đã khái quát và tổngkết cuộc kháng chiến chống Mỹ và đặc biệt là những thắng lợi trên mặt trậnngoại giao của ta Thông qua đó, công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảngđược đề cập đến thông qua việc thểhiện bối cảnh lịch sử, những chủ trương,đường lối của Đảng trên các mặt trận, đặc biệt là đối ngoại Bên cạnh đó, một
số công trình của Nhà nước nghiên cứu về quan điểm, đường lối của Đảng
Trang 12trên lĩnh vực tư tưởng, công tác tư tưởng: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương:
Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng, văn hóa (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000); 70 năm công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng, truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2000)… Các công trình này đã đề cập sâu hơn đến công tác tuyên truyền,trong đó có tuyên truyền đối ngoại của Đảng trong từng thời kỳ Đây cũngchính là những nghiên cứu liên quan mật thiết đến đề tài
Thứ ba, nhóm các bài viết đăng trên các báo, tạp chí như: bài của tác
giả Phan Doãn Nam: Ngoại giao Việt Nam 60 năm đấu tranh và trưởng thanh (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, 2005); Vũ Dương Huân: Nghiên cứu lịch sử ngoại giao Việt Nam và việc rút ra những bài học kinh nghiệm về ngoại giao (Tạp chí Học tập, 6/1969); Nguyễn Khắc Huỳnh: Ngoại giao trong đàm phán
ở Paris (Tạp chí Quan hệ Quốc tế, 1/1993); Nguyễn Trọng Phúc: Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao sau Hiệp định Giơnevơ (Tạp chí nghiên cứu lý luận, 2/1995); Phùng Thị Hiển: Chuyển hướng tư tưởng của Đảng ở Miền Bắc những năm 1965 - 1975 (Tạp chí Tuyên giáo, 7/2009); Những thành công nổi bật của công tác tư tưởng trong kháng chiến chống Mỹ (Tạpchí Lịch sử Đảng, 8/2004); Trần Minh Trường: Đồng chí Lê Duẩn với việc lãnh đạo xây dựng đường lối đối ngoại của Đảng thời kỳ chống Mỹ, cứu nước (Tạp chí Lịch sử Đảng, 10/2006) Những bài viết trên đã đề cập đến
từng khía cạnh về đối ngoại của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong
đó chứa đựng những nội dung liên quan đến tuyên truyền đối ngoại của Đảng
Thứ tư, nhóm các công trình luận văn, luận án của các tác giả liên quan
tới đề tài như: Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Văn Bạo: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1965 đến tháng 1/1973 (2007,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); Luận án Tiến sĩ của tác giả
Trang 13Phùng Thị Hiển: Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền, cổ động chính trị ở Miền Bắc (1960 – 1975) (2009, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); Trần Tăng Khởi: Quá trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc (1954 - 1975) (2001, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); Nguyễn Xuân Tú: Đảng chỉ đạo dành thắng lợi từng bước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thời kỳ
1965 - 1975 (2001, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn)…
Như vậy, đã có không ít các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tàicông tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng thời kỳ chống Mỹ, cứu nước đượccông bố Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về côngtác tuyên truyền đối ngoại của Đảng trong thời kỳ này Những công trìnhkhoa học trên là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị, gợi mở nhiều vấn đề đểtác giả tiếp thu, kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu “Công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng trong cuộckháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)” nhằm mục đích làm rõ quátrình Đảng lãnh đạo công tác tuyên truyền đối ngoại trong những năm chống
Mỹ, cứu nước với những chủ trương, đường lối của Đảng, quá trình chỉ đạothực hiện và kết quả thực hiện công tác tuyên truyền đối ngoại; từ đó rút ranhững nhận xét, đánh giá khách quan về thành công, hạn chế, nguyên nhân vàbài học kinh nghiệm của Đảng trong việc lãnh đạo công tác tuyên truyền đốingoại thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo củaĐảng đối với công tác này trong thời hiện tại và bổ sung cứ liệu lịch sử vềcông tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng trong chuyên ngành Lịch sử ĐảngCộng sản Việt Nam
Trang 143.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Làm rõ bối cảnh lịch sử và những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyêntruyền đối ngoại của Đảng trong từng giai đoạn cụ thể của cuộc kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
- Hệ thống hóa và phân tích những chủ trương của Đảng về công táctuyên truyền đối ngoại trong các giai đoạn 1954 - 1965 và 1965 - 1975
- Khái quát quá trình chỉ đạo thực hiện và kết quả thực hiện công táctuyên truyền đối ngoại của Đảng trong 2 giai đoạn nêu trên
- Rút ra nhận xét về những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài họckinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo công tác tuyên truyền đối ngoại trong thời
kỳ chống Mỹ, cứu nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động lãnh đạo của Đảng đối vớicông tác tuyên truyền đối ngoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước(1954 - 1975)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu, khảo sát toàn bộ thời gian diễn
ra cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bắt đầu từ sau tháng 7 năm 1954đến tháng 4 năm 1975
- Phạm vi về không gian: Do đặc thù của công tác này là nhắm đến cácđối tượng tuyên truyền là người nước ngoài, ra bên ngoài nước nên các hoạtđộng tuyên truyền của Đảng cũng được tiếp cận ở cả hai hướng: tuyên truyền
Trang 15đối ngoại diễn ra ngay trên địa bàn trong nước và tuyên truyền đối ngoại diễn
ra bên ngoài nước
- Tuyên truyền đối ngoại ở đây được đặt trong sự đối lập với tuyêntruyền đối nội Nếu đối nội được hiểu là đối với những người trong cuộc baogồm những người trực tiếp trên cả hai phía Việt Nam và Mỹ, thì đối ngoạiđược hiểu là những người ngoài cuộc chiến, có thể ở trong hay ở ngoài lãnhthổ Việt Nam Theo đó, đề tài này về phạm vi nội dung chỉ nghiên cứu hoạtđộng lãnh đạo chỉ đạo của Đảng đối với công tác này trên các mặt như nộidung tuyên truyền, hình thức, phương tiện tuyên truyền, bộ máy tuyên truyền
ra bên ngoài như thế nào…
- Phạm vi không gian nghiên cứu cũng chỉ giới hạn các hoạt động lãnhđạo chỉ đạo của Đảng đối với công tác này diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam.Tuy nhiên để có căn cứ đánh giá kết quả công tác tuyên truyền đối ngoại, đềtài cũng nghiên cứu các tài liệu viết về công tác này diễn ra bên ngoài lãnhthổ Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống những nguyên lý, học thuyết khoahọc và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vàĐường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam về các vấn đề chiến tranhcách mạng, tuyên truyền, cổ động cách mạng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử,phương pháp logic và sự kết hợp của hai phương pháp đó Bên cạnh đó, luận
Trang 16văn còn sử dụng một số phương pháp khác như so sánh, phân tích, tổnghợp….
6 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác tuyêntruyền đối ngoại trong những năm chống Mỹ, cứu nước
- Trình bày có hệ thống quá trình chỉ đạo thực hiện công tác tuyên truyềnđối ngoại của Đảng trong những năm chống Mỹ, cứu nước
- Phân tích, đánh giá có cơ sở khoa học về những thành tựu, hạn chế,nguyên nhân của công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng thời kỳ này
- Rút ra một số kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo
- Có thể sử dụng Luận văn làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu,giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục.Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng từ năm 1954 đếnnăm 1964
Chương 2: Công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng từ năm 1965 đếnnăm 1975
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Trang 17CHƯƠNG I: CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1964
Công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng là các hoạt động của Đảngnhằm truyền bá, phổ biến rộng rãi ra bên ngoài nước Việt Nam những thôngtin có mục đích về tình hình trong nước trên cơ quan điểm, chủ trương, đườnglối, chính sách của Đảng thông qua hoạt động của các cơ quan tuyên truyềnvới những nội dung và hình thức đa dạng
Mỗi một thời kỳ, một giai đoạn lịch sử, công tác tuyền truyền đối ngoạicủa Đảng lại có những nội dung, hình thức, đối tượng và phương tiện tuyêntruyền khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu của đất nước.Trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, công tác tuyên truyền đối ngoại củaĐảng trở thành một nhiệm vụ quan trọng, một yêu cầu bức thiết đối với cuộckháng chiến Chính sự bức thiết đó, công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảngthời kỳ này đã được đẩy lên tầm chiến lược, góp phần quan trọng đưa cuộckháng chiến đến thắng lợi cuối cùng
1.1 Hoàn cảnh lịch sử và những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng trong những năm 1954 - 1964
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử
1.1.1.1 Tình hình thế giới
Sau năm 1954, thế giới có những chuyển biến quan trọng tác động đếnViệt Nam Trước hết, đó là sự lớn mạnh của Liên Xô và các nước trong hệthống xã hội chủ nghĩa về kinh tế và quốc phòng Năm 1955, Liên Xô đãhoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ năm xây dựng CNXH Năm 1957, Liên
Xô đã sản xuất được tên lửa vượt đại dương và phóng thành công vệ tinhnhân tạo đầu tiên của loài người, mở ra thời kỳ mới của công cuộc chinh phục
vũ trụ Các nước XHCN Đông Âu đã tiến hành công cuộc hợp tác hóa nông
Trang 18nghiệp và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội quy mô lớn Tháng 5/1955, Tổchức hiệp ước Vacsava được thành lập, khẳng định sức mạnh quân sự của cácnước xã hội chủ nghĩa.
Ba dòng tác cách mạng thế giới đang ở thế tiến công Phong trào giảiphóng dân tộc đang phát triển rộng khắp châu Á, Phi và Mỹ - La tinh, làm sụp
đổ căn bản chủ nghĩa thực dân cũ và bước đầu đẩy chủ nghĩa thực dân mớivào khủng hoảng Tháng 4/1945, Hội nghị đoàn kết Á - Phi gồm 29 nước họp
ở Bangdung (Indonexia) ra bản tuyên bố 10 nguyên tắc hòa bình, trung lập làmột đóng góp quan trọng vào phong trào chống chủ nghĩa thực dân, củng cốnền độc lập của các nước Á – Phi và bảo vệ hòa bình thế giới
Tháng 5/1955, Liên minh Vasxava giữa các nước XHCN được thành lập
Sự lớn mạnh của Liên Xô, Trung Quốc, của hệ thống XHCN và sự trưởngthành của phong trào dân tộc trên thế giới đã tạo nên sức mạnh mới về thế vàlực cho cách mạng Việt Nam
Thời kỳ này, phong trào đấu tranh hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trênthế giới lên mạnh Thông tin bùng nổ, lương tri loài người thức tỉnh Các tầnglớp nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội, tôn giáo các nước đều ủng hộ sựnghiệp chính nghĩa của các dân tộc Đó là những thuận lợi cho ta trên bìnhdiện quốc tế
Tuy nhiên, trong thời kỳ này phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,giữa các nước xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện những bất đồng về quan điểmchính trị, gây nên sự chia rẽ giữa các lực lượng cách mạng quốc tế Đặc biệt
là mâu thuẫn ngày càng sâu sắc giữa Trung Quốc và Liên Xô Bên cạnh đó,
xu thế chung của các nước trên thế giới lúc này là giải quyết các vấn đề tranhchấp bằng thương lượng hòa bình Tâm lý chung của nhân dân thế giới là sợchiến tranh, sợ một cuộc chiến tranh thế giới có thể xảy ra Tình hình đó là trở
Trang 19ngại lớn cho việc tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới,cho việc tập hợp đoàn kết lực lượng cách mạng trong quá trình tiến hành cáchmạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa thực dân kiểu mới hình thành, điển hình là Mỹ
Mỹ âm mưu xâm chiếm thuộc địa cũ của các nước Từ năm 1953 đến năm
1960, trải qua các đời tổng thống Mỹ, các chiến lược toàn cầu hòng “đẩy lùichủ nghĩa cộng sản”, tập trung đánh phá phong trào giải phóng dân tộc, đồngthời đẩy mạnh các hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chia rẽ các nướcXHCN Tất cả thể hiện âm mưu làm bá chủ thế giới của đế quốc sừng sỏ vànhiều tham vọng này
Trong bối cảnh đó, Mỹ quyết định mở rộng chiến lược bao vây và ngănchặn chủ nghĩa Cộng sản từ Châu Âu sang Châu Á, thực hiện bành trướng thếlực của Mỹ, chống lại phe XHCN, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc vàphong trào công nhân ở các nước TBCN Chính sách cơ bản trong chiến lượctoàn cầu phản cách mạng của Mỹ trong giai đoạn này là thực hiện chủ nghĩathực dân mới
Đối với phong trào giải phóng dân tộc, Mỹ đưa ra học thuyết Đô mi
-nô, cho rằng thắng lợi của cách mạng Đông Dương sẽ có tác động dây chuyềnđưa đến thắng lợi của cách mạng các nước Đông Nam Á Vì vậy, sau thất bạicủa thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dươngđược ký kết, Ngoại trưởng Mỹ Đalét đã tuyên bố: “Điều quan trọng nhất,không phải là khóc than cho quá khứ mà phải nắm lấy cơ hội tương lai nhằmngăn cản không để mất miền Bắc Việt Nam, để cuối cùng dẫn đến chỗ chủnghĩa Cộng sản có ưu thế trên toàn cõi Đông Nam Á và Tây Nam Thái BìnhDương” [55,41]
Trang 201.1.1.2 Tình hình trong nước
Ngày 7/7/1954, đế quốc Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướngkiêm tổng trưởng nội vụ và quốc phòng của chính quyền Bảo Đại ở MiềnNam Và ngay sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết, Tổng thống MỹAixenhao tuyên bố: Hoa Kỳ không bị các điều khoản của Giơnevơ ràng buộc.Ngày 8/9/1954, Mỹ lôi kéo Pháp, Anh, Úc, Niudilân, Philippin, Thái Lan vàPakixtan lập ra khối Liên minh quân sự Đông Nam Á (SEATO) và ngangnhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này Tháng 9/1954,chính phủ Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm Ngày19/12/1954, Pháp ký hiệp ước trao quyền hành chính chính trị cho Ngô ĐìnhDiệm ở miền Nam Việt Nam
Thông qua hệ thống cố vấn và viện trợ, Mỹ đã dung dưỡng chính quyềntay sai Ngô Đình Diệm, ra sức phá hoại thực hiện hiệp định Giơnevơ, đàn ápkhủng bố ác liệt phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân miền Nam
Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt phong trào yêu nước và cáchmạng của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, biếnmiền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ làm bàn đạptấn công Miền Bắc, lập phòng tuyến ngăn không cho chủ nghĩa Cộng sản trànxuống Đông Nam Á, bao vây uy hiếp, đi đến tiêu diệt các nước XHCN
Để áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, thông qua hệ thống cốvấn và viện trợ, đế quốc Mỹ đã biến ngụy quân và ngụy quyền thành tay saiđắc lực cho chúng Trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1960, ta từ đấutranh giữ gìn lực lượng chuyển sang tiến công làm thất bại hình thức thực dânmới điển hình của đế quốc Mỹ Thắng lợi của cao trào Đồng Khởi (1960) đãgiáng một đòn nặng nề vào chế độ Mỹ - Diệm, làm phá vỡ từng mảng lớnchính quyền địch ở nông thôn Tạo bước đà lớn để ta đánh thắng chiến lược
Trang 21“chiến tranh đặc biệt” đế quốc Mỹ trong những năm từ năm 1961 đến giữanăm 1965
Ở miền Bắc, sau khi quân Pháp rút đi, đất nước bị tàn phá nặng nề, nềnkinh tế lạc hậu, chủ yếu sản xuất cá thể nhỏ lẻ Đời sống nhân dân khổ cực,nạn đói đe dọa nhiều vùng dân cư… Trong hoàn cảnh đó, Đảng đã lãnh đạohoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhândân và tiến hành khôi phục kinh tế Tính đến tháng 7/1956, cải cách ruộng đất
về cơ bản đã hoàn thành Mặc dù còn có một số điểm hạn chế nhưng côngcuộc cải cách ruộng đất đã giải phóng năng lực sản xuất trong nông nghiệp,tạo động lực trực tiếp phát triển sản xuất, góp phần quan trọng vào việc khôiphục và phát triển kinh tế sau chiến tranh, tiến hành cải tạo XHCN và thựchiện thành công kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)
Dân tộc Việt Nam đứng trước thách thức nghiêm trọng Cuộc kháng chiếnchống Pháp kết thúc thắng lợi nhưng sự nghiệp thống nhất nước nhà còn chưathực hiện được Đất nước bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trịkhác nhau: Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ lênCNXH nhưng kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đất nước bị chiến tranh tàn phá, đờisống nhân dân bị thiếu thốn Ở miền Nam, đế quốc Mỹ từng thay chân thựcdân Pháp áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, chia cắt lâu dài đất nước ta Vì vậynhân dân Việt Nam vừa phải hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh
tế, đưa miền Bắc tiến dần lên CNXH, vừa phải đẩy mạnh cuộc cách mạng dântộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam, nhằm chống Mỹ xâm lược và tay sai, giảiphóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân trong cả nước, thống nhất đất nước, tạo điều kiện đưa cả nướclên CNXH
Trang 221.1.2 Những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền đối ngoại từ năm
1954 đến năm 1964
Từ những diễn biến thế giới và trong nước giai đoạn này đã đặt ra nhiềuvấn đề đối với công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước nóichung và đối với công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng nói riêng
Trước hết đó là vấn đề tuyên truyền đối ngoại nhằm lôi kéo thế giới ủng
hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ta đòi phía chính quyền Sài Gòn thực hiệnnghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, thống nhất đất nước bằng con đường hiệpthương tổng tuyển cử
Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào cho thế giới mà trước hết là nhân dânyêu chuộng hòa bình, công lý và tiến bộ, là bạn bè năm châu biết đến nhu cầuchính đáng và cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam, biết đến những âmmưu và hành động nhằm can thiệp nội bộ và từng bước tiến lên làm bá chủthế giới, tiêu diệt chủ nghĩa xã hội của đế quốc Mỹ và các thế lực thân Mỹ Vấn đề quan trọng hàng đầu trong công tác tuyên truyền đối ngoại củaĐảng thời kỳ này là phải chỉ rõ được cho thế giới biết đầy đủ và chính xácnhững thuận lợi và khó khăn của đất nước ta để các nước bạn bè trên thế giớiủng hộ và giúp đỡ chúng ta vượt qua khó khăn lúc này
Công tác tuyên truyền đối ngoại thời kỳ này cần phải vạch rõ âm mưu của
đế quốc Mỹ đối với Việt Nam và thế giới trước bạn bè thế giới Đồng thời, tốcáo bộ mặt thật của kẻ xâm lược là đế quốc Mỹ trong chiến tranh ở Việt Nam,làm cho thế giới thấy hành động xâm lược của Mỹ là hành động phi nghĩa,cần lên án mạnh mẽ, làm cho làn sóng phản đối chiến tranh do Mỹ gây ra ởViệt Nam dâng cao ngay cả ở trong lòng nước Mỹ
Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền đối ngoại cũng cần phải cho bạn bèthế giới thấy rằng Việt Nam đứng lên đấu tranh chống Mỹ là hành động chính
Trang 23nghĩa, bảo vệ nền độc lập của dân tộc Trong chủ trường tuyên truyền, Đảngcần phải nói rõ những khó khăn của đất nước khi chống lại một đế quốc sừng
sỏ, lớn mạnh bậc nhất thế giới để nhân dân thế giới, đặc biệt là nhân dân yêuchuộng hòa bình có lòng tin tưởng, ủng hộ và giúp đỡ cả về vật chất và tinhthần cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
Công tác tuyên truyền đối ngoại thời kỳ này ngoài việc nêu rõ chủ trươngchống Mỹ còn cho nhân dân thế giới thấy được tài năng của Đảng ta khi lãnhđạo cùng lúc hai nhiệm vụ cách mạng là chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam vàtiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc
Công tác tuyên truyền đối ngoại của thời kỳ này còn thể hiện niền tin củanhân dân với Đảng, với cách mạng Mặc dù có nhiều khó khăn, gian khổtrong một cuộc chiến không cân sức, nhưng nhân dân ta luôn tin tưởng vàomột chiến thắng trước đế quốc Mỹ và hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh
1.2 Chủ trương của Đảng
Căn cứ vào tình hình trong nước và quốc tế cùng những vấn đề đặt ra chocông tác tuyên truyền đối ngoại sau năm 1954, Đảng ta cũng đã có những chủtrương nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ tuyên truyền đối ngoại giai đoạnnày
Sau năm 1954, chủ trương trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta làtriệt để thi hành các điều khoản chính trị và quân sự của Hiệp định Giơnevơ
và thay mặt Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố rõ quan điểm đối ngoạicủa ta: “Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt mối quan hệ thânthiện, hợp tác với bất kỳ một nước nào trên nguyên tắc tôn trọng sự hoànchỉnh về chủ quyền và toàn vẹn về lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫnnhau, bình đẳng, cùng có lợi và chung sống hòa bình” [54;5]
Trang 24Cuộc đấu tranh để đưa Hiệp định Giơnevơ vào thực tế diễn biến ĐôngDương diễn ra trên hai trận tuyến Một là trận tuyến đấu tranh chính trị pháp
lý tại chỗ của nhân dân miền Nam nhằm thực hiện đình chiến, củng cố hòabình, thực hiện tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh… duy trì lực lượng cáchmạng ở miền Nam, tạo cơ sở đấu tranh chính trị và bạo lực vũ trang khi cần.Hai là trận tuyến đối ngoại, vận động quốc tế nhằm giương cao ngọn cờ hòabình, độc lập thống nhất để tập hợp lực lượng, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế,tạo sức ép để buộc đối phương phải kiềm chế hành động phá hoại Hiệp địnhGiơnevơ và thực thi đầy đủ các điều khoản quân sự, chính trị của Hiệp định.Như vậy, ngay sau khi Miền Bắc được giải phóng, xây dựng CNXH,Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm chính trị vềngoại giao rõ ràng, đó là chúng ta sẵn sàng giao lưu, đặt mối quan hệ thânthiện với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng về chủ quyền lãnh thổ Bên cạnh
đó, chúng ta cũng nghiêm chỉnh thi hành các điều ước đã ký kết ở Hội nghịGiơnevơ
Từ ngày 15 đến ngày 18/7/1954, tại Việt Bắc, Hội nghị lần thứ 6 BanChấp hành Trung ương Đảng (khóa II) họp dưới sự chủ trì của Chủ tịch HồChí Minh, đã xem xét đánh giá tình hình mới và khẳng định kẻ thù chính vànguy hiểm nhất của nhân dân ta là đế quốc Mỹ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻthù chính của nhân dân thế giới, nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếpcủa nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta là đều nhằm chống đếquốc Mỹ Bất kỳ người nào, nước nào không thân Mỹ đều có thể làm mặt trậnthống nhất dù tạm thời với ta” [52;589]
Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9/1954 vạch rõ phương châm chính sáchngoại giao, trong đó có tuyên truyền đối ngoại của ta đó là: “Củng cố khôngngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chủ
Trang 25nhân dân, thực hiện việc phối hợp chặt chẽ với các nước anh em trong hoạtđộng quốc tế và đấu tranh ngoại giao Giao hảo với bất cứ nước nào cùng tatôn trọng nguyên tắc chung sống hòa bình” [15;304] và “ Xúc tiến công táctuyên truyền quốc tế, nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thếgiới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta Làm cho nhân dân tanhận rõ lập trường quốc tế của ta là đứng hẳn về phe dân chủ nhân dân và xãhội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo” [15;305]
Tháng 1/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Nhà nước ta ratuyên bố bày tỏ quan điểm Việt Nam sẵn sàng đặt quan hệ hữu nghị với Lào,ủng hộ chính sách hòa bình tập trung của Lào, lên án âm mưu phá hoại hiệpđịnh Giơnevơ và Hiệp định Viên Chăn về Lào Đối với Campuchia, Việt Nam
bỏ qua những việc làm sai trái của quân đội và chính phủ Hoàng giaCampuchia, kiên trì đường lối đối ngoại mềm dẻo, đoàn kết
Ngày 16/2/1955, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 07 CT/TW về đẩy mạnh đấutranh phá âm mưu mới của địch trong việc dụ dỗ và cưỡng ép giáo dân di cưvào Nam Trước những diễn biến phức tạp khi kẻ địch hòng lôi kéo đông đảogiáo dân vào Nam, Trung ương đã quyết định “Đẩy mạnh mọi mặt, phá âmmưu của địch trong việc dụ dỗ và cưỡng ép giáo dân di cư, chủ động tiếncông địch, tranh thủ cảm tình của quần chúng, tranh thủ dư luận trong nước
và thế giới… Làm cho nhân dân trong nước và nhân dân thế giới thấy rõ là tathực hiện đúng tự do tín ngưỡng, luôn luôn nêu cao lá cờ hòa bình, thi hànhnghiêm chỉnh hiệp định đình chiến; kẻ phá hoại hiệp định là đế quốc Mỹ vàtay sai của chúng” [16;66] Bộ Chính trị yêu cầu phải “mở một chiến dịchtuyên truyền vận động tranh thủ nhân dân, tranh thủ dư luận trong nước và dưluận quốc tế Vạch cho nhân dân trong nước và nhân dân thế giới thấy rã tâmcủa địch, đập tan mọi luận điệu lừa bịp… Giải thích cho nhân dân trong nước
Trang 26và làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ ta vẫn thi hành đúng hiệp định Giơnevơ,
từ trước đến nay vẫn giúp đỡ đồng bào muốn di cư…” [16;67]
Nghị Quyết Hội nghị Trung ương 7 (3/1955) của Đảng cũng xác địnhrằng: “Củng cố không ngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, TrungQuốc và các nước dân chủ nhân dân; thực hiện phối hợp chặt chẽ với cácnước anh em trong hoạt động quốc tế và đấu tranh ngoại giao” [16;216]
Trên cơ sở thực tiễn cách mạng Việt Nam, tháng 8/1956, Ủy viên Bộ
Chính trị đồng chí Lê Duẩn soạn thảo Đường lối cách mạng miền Nam chỉ rõ
sự cần thiết phải tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân và của nhân dân tiến bộ thếgiới, vì đương đầu với một thế lực mạnh nhất thời đại, cuộc đấu tranh củanhân dân Việt Nam là một bộ phận của phong trào nhân dân tiến bộ thế giới,nhất định có được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới, “do đó mà ta cóđược thêm sức mạnh, địch sẽ bị cô lập và yếu thế, ta có thêm điều kiện thuậnlợi để thắng địch, để hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn dân tộc ta”[17;785]
Từ cuối những năm 1960, đế quốc Mỹ thay đổi chiến lược một cách bịđộng, chúng chuyển sang “chiến tranh đặc biệt” để đối phó với cách mạngMiền Nam, chiến lại những địa bàn và vùng dân cư đã mất Trước nhữngchiến lược mới của Mỹ, chủ trương đối ngoại của Đảng vẫn tiếp tục nêu caothiện chí hòa bình và lên án trước dư luận quốc tế về hành động leo thang mởrộng chiến tranh của đế quốc Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng(9/1960) đã khẳng định nhiệm vụ và phương hướng của ngành đối ngoại:
“Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chúng ta là một nước xã hội chủ nghĩa có
vị trí quan trọng ở Đông Dương và Đông Nam Á Chúng ta có nhiệm vụ gópphần tích cực vào công cuộc đấu tranh chung cho chủ nghĩa xã hội, độc lậpdân tộc và hòa bình thế giới… kiên quyết cùng các nước anh em và nhân dân
Trang 27yêu chuộng hòa bình thế giới tiếp tục chung sức đấu tranh bảo vê và củng cốhòa bình: chống lại chính sách xâm lược và chính sách gây chiến của đế quốc
Mỹ, thực hiện chung sống hòa bình giữa các nước có chế độc chính trị và xãhội khác nhau…” [21;939]
Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III một lần nữa nhấnmạnh lại nhiệm vụ của đối ngoại thời kỳ này là: “Ra sức góp phần tăng cườngphe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, tăng cường đoàn kết nhất trí vàcủng cố tình hữu nghị với các nước anh em khác trên nguyên tắc của chủnghĩa quốc tế vô sản” [20;938]
Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại phục vụ sự nghiệp xâydựng CNXH và chống Mỹ cứu nước, tiến lên đáp ứng đầy đủ yêu cầu to lớncủa nhiệm vụ trong nước và quốc tế, ngày 10/5/1962, Bộ Chính trị ra chỉ thị
số 45-CT/TW về công tác tuyên truyền đối ngoại, trong đó nêu rõ mục đích,nội dung, đối tượng, phương châm và biện pháp tuyên truyền đối ngoại Đây
là chỉ thị đầu tiên của Đảng vể hoạt động tuyên truyền đối ngoại, đánh dấu sựphát triển và kết quả bước đầu của việc giới thiệu đất nước ra thế giới nhằmtranh tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân các nước đối với côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chống lại xâm lược từ bên ngoài và thựchiện nhiệm vụ quốc tế của nhân dân ta Bản chỉ thị làm rõ những vấn đề cầnthiết của công tác tuyên truyền đối ngoại như mục đích, yêu cầu, nội dung,đối tượng, phương châm…
Bộ Chính trị đã chỉ đạo nội dung tuyên truyền đối ngoại trong thời giannày cần tập trung vào mấy vấn đề trọng tâm, đó là giới thiệu công cuộc xâydựng CNXH ở Miền Bắc về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa; nêu cao cuộcđấu tranh thống nhất nước nhà của nhân dân ta và phong trào đấu tranh giảiphóng của đồng bào miền Nam, nói rõ lập trường và chính sách đối ngoại của
Trang 28Đảng và Chính phủ Việt Nam là hòa bình và thống nhất nước nhà; vạch rõ âmmưu chuẩn bị chiến tranh của bọn đế quốc phản động, đứng đầu là đế quốc
Mỹ để không ngừng mở rộng mặt trận đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hòabình thế giới, kiên quyết đấu tranh giữ hòa bình, tăng cường đoàn kết vớinhân dân Miên, Lào, nhân dân Đông Nam Á, ủng hộ phong trào dân tộc củanhân dân Á, Phi và Châu Mỹ - La tinh, đặc biệt là không ngừng củng cố, tăngcường và giữ vửng sự đoàn kết giữa anh em các nước trong phe XHCN Biết
ơn sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN khác, ra sức họchỏi kinh nghiệm xây dựng XHCN của các nước anh em Kết hợp giáo dụctinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản, chống chủ nghĩa xô - vanh,chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi Ngoài ra còn có nội dung giới thiệu kinh nghiệmcách mạng của nước ta; giới thiệu lịch sử đấu tranh, nền văn hóa lâu đời, đấtnước giàu đẹp, truyền thống nồng nàn yêu nước và cần cù lao động của nhândân ra bạn bè thế giới
Các nội dung tuyên truyền đối ngoại đó đều quan trọng và liên quan chặtchẽ với nhau nhưng nội dung tuyên truyền về xây dựng CNXH ở miền Bắc vàđấu tranh thống nhất nước nhà được Bộ Chính trị nhấn mạnh là phải chiếm tỷ
lệ nhiều hơn
Đối tượng của công tác tuyên truyền đối ngoại thời gian này được tậptrung vào các nước XHCN và thông qua các nước này mở rộng tuyên truyềnsang các khu vực khác Tiếp đến là các nước Đông Nam Á, các nước trướcđây là thuộc địa của Pháp ở Châu Phi, Cu Ba và các nước Mỹ - La tinh
Đối với từng loại đối tượng, chính sách tuyên truyền của Đảng cũng có sựphân biệt rạch ròi Ở các nước XHCN, Đảng chủ trương tăng cường sự đoànkết nhất trí trong phe và trong phong trào cộng sản quốc tế trên cơ sở Chủnghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản Đối với các dân tộc chủ
Trang 29nghĩa, nói chung cần tranh thủ, tùy theo sự diễn biến của tình hình quốc tế và
sự phát triển của phong trào cách mạng mà có sự phê phán đúng mức để hạnchế bớt mặt tiêu cực và phát huy mặt tích cực của họ
Đối với hai nước láng giềng Lào và Campuchia, đặc biệt tỏ rõ tình hữunghị giữa các dân tộc cùng chung cảnh ngộ lâu đời trước đây, biểu lộ sự ủng
hộ đầy nhiệt tình của nhân dân ta với nhân dân các nước đó trong cuộc đấutranh giành và củng cố độc lập dân tộc, chống lại sự can thiệp của đế quốc vàtay sau, đồng thời ra sức tranh thủ chính phủ các nước đó theo đúng hoặc giữvững chính sách hòa bình trung lập
Đối với các nước như Thái Lan, Malaysia,… công tác tuyên truyền đốingoại của ta chủ yếu là tố cáo chính sách xâm lược và hiếu chiến của cácnước đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, phân tích tính chất phản động trongthái độ và chính sách làm tổn hại đến lợi ích dân tộc của các nước đó và làmtổn hại đến hòa bình dân tộc
Đối với các nước đế quốc chủ nghĩa, kịp thời tỏ rõ sự đồng tình và ủng hộnhiệt liệt của nhân dân ta với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân vànhân dân lao động các nước đó, đồng thời tập trung mũi nhọn đấu tranh vào
đế quốc Mỹ Tuy nhiên tùy từng lúc, từng việc mà đả kích một cách thíchđáng những âm mưu và hành động phản động của các nước đế quốc chủnghĩa khác
1.3 Quá trình thực hiện
Ngày 27/7/1954, thực hiện Chỉ thị số 83 - CT/TW của Ban Bí thư về mởmột đợt tuyên truyền về hiệp định Giơnevơ – về tình hình và nhiệm vụ mới.Ban Tuyên huấn các cấp đã giúp cấp ủy phổ biến nội dung Nghị quyết Trungương và nội dung Hiệp định Giơnevơ cho cán bộ, đảng viên và nhândân.Trung ương, các tỉnh, thành phố cử về các địa phương cơ sở lực lượng
Trang 30đảng viên, cán bộ các ngành, các giới, các đội vũ trang chuyên nghiệp, tuyêntruyền xung phong…tiến hành công tác tuyên truyền, giải thích trong nhândân vùng tự do và các khu du kích, ở các địa điểm tập kết cán bộ và bộ độimiền Nam để chuyển ra Bắc, các cuộc mít tinh lớn, liên hoan mừng thắng lợi,triển lãm, chiếu phim, biểu diễn nghệ thuật… được tổ chức rầm rộ, tạo khôngkhí phấn khởi, náo nức trong nhân dân.
Để giúp Trung ương tăng cường công tác lãnh đạo công tác tư tưởngtrong tình hình mới, ngày 2/11/1954 Ban Bí thư ra nghị quyết số 51-NQ/TW
về việc kiện toàn nhân sự ban lãnh đạo Ban tuyên huấn Trung ương
Ở miền Bắc, thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 và Nghị quyết Bộ Chínhtrị về khôi phục kinh tế, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ và tiến hànhcải tạo XHCN ở miền Bắc, chúng ta đã tiếp quản vùng giải phóng củng cốvùng tự do, hoàn thành cải cách ruộng đất, tăng cường xây dựng quân đội,khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh
Thực hiện chỉ thị ngày 16/4/1955 của Ban Bí thư về việc tiếp tục phá âmmưu gây phỉ của đế quốc, Ban Tuyên huấn các địa phương đã giúp cấp ủy tổchức, phối hợp với các đoàn thể quần chúng và lực lượng vũ trang trang tiếnhành công tác tuyên truyền, phát động đồng bào các dân tộc thiểu số tham giatiễu phỉ, kết hợp với vận động đồng bào đẩy mạnh sản xuất, tiến hành củng cố
sơ sở, củng cố biên phòng
Mối quan hệ với các nước XHCN cũng gặp không mấy thuận lợi khi cácnước lớn đặt lợi ích nước mình lên trên hết, đặc biệt Liên Xô và Trung Quốcngày càng có những bất đồng gay gắt Cả Trung Quốc và Liên Xô đều mongmuốn giữ nguyên hiện trạng hai miền Việt Nam để tránh đụng chạm với Mỹ.Trước tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhândân nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực gánh sinh, mặt khác ra sức hoạt
Trang 31động nhằm góp phần ngăn ngừa sự chia rẽ, cố gắng duy trì tình đoàn kết giữacác nước XHCN, tranh thủ sự ủng hộ của cả Liên Xô và Trung Quốc đối vớicông cuộc xây dựng và chiến đấu của nhân dân ta Từ ngày 22/6 đến ngày22/7/1955, Chính phủ ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đẫn đầu đã có chuyếnthăm chính thức đến ba nước Trung Quốc, Mông Cổ và Liên Xô Chuyến đinày được đánh giá cao trên nhiều phương diện, tăng cường mối quan hệ tốtđẹp của ta với các nước XHCN anh em “một là để củng cố thêm tình đoàn kếthữu nghị giữa nhân dân ta và nhân dân Liên Xô và Trung Quốc, hai là pháttriển mối quan hệ kinh tế với các nước bạn” [54;51] Chúng ta đẽ giữ vữnglập trường, kiên trì trao đổi thuyết phục, cuối cùng, bằng thực tế, cả hai nướcđều đồng tình với bước đi và biện pháp của Việt Nam Kết quả là Việt Namvượt qua mọi sức ép, đoàn kết được với cả Liên Xô và Trung Quốc, làm thấtbại âm mưu của Mỹ chia rẽ Việt Nam với đồng minh Nhờ đó, cho dù mâuthuẫn, hai nước lớn Liên Xô - Trung Quốc vẫn tiếp tục hỗ trợ, giúp đỡ hiệuquả cho cuộc kháng chiến của ta.
Ngày 30/8/1957, Ban tuyên huấn Trung ra thông tri số 94 về tuyên truyềnphát huy kết quả của cuộc đi thăm hữu nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tạimột số nước XHCN Thông tri nêu rõ mục đích của đợt tuyên truyền nhằmthắt chặt tình hữu nghị giữa nhân dân ta và nhân dân các nước anh em trongphe XHCN, tạo điều kiện để hiểu biết lẫn nhau, làm cho các nước anh emhiểu rõ thêm nước ta Những cuộc trao đổi ý kiến giữa đoàn đại biểu củaĐảng và Chính phủ ta với đại biểu Đảng và Chỉnh phủ các nước anh em gópphần củng cố hơn nữa tình đoàn kết giữa các nước trong phe XHCN Mở rộngđồng tình ủng hộ của nhân dân các nước anh em đối với sự nghiệp cách mạngcủa nhân dân ta
Ta chủ trương củng cố, tăng cường quan hệ với các nước XHCN tronghoàn cảnh phức tạp và tế nhị Thời gian này, mâu thuẫn giữa các nước
Trang 32XHCN, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc, giữa Liên Xô và các nước Đông
Âu diễn ra theo chiều hướng xấu, làm ảnh hưởng xấu đến phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế Trước tình hình đó, ta chủ trương không công khaitranh luận hay phê phán bên này, ủng hộ bên kia, trái lại tìm cách giải quyếtnhững bất đồng
Mùa thu năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Liên Xô và Trung Quốc
để góp phần thu hẹp bất đồng giữa hai nước Nhân dịp này, Người cũng thôngbáo tình hình Đông Dương và tranh thủ sự ủng hộ đồng tình của Liên Xô vàTrung Quốc đối với sự chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng ởmiền Nam theo Nghị quyết Trung ương 15
Đối với hai nước Đông Dương là Lào và Campuchia, công tác tuyêntruyền đối ngoại thúc đẩy đoàn kết giữa nhân dân ta với nhân dân hai nước;đoàn kết và ủng hộ phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình,độc lập, dân chủ và tiến bộ Với Lào, ta kiên trì ủng hộ chính sách hòa bìnhtrung lập, hòa hợp dân tộc của Chính phủ Lào do thủ tướng Phuma đứng đầu.Tháng 8/1958, ta nồng nhiệt đón Thủ tướng Lào sang thăm Việt Nam, khẳngđịnh mối quan hệ Lào - Việt trong thời kỳ Đông Dương đi vào chống Mỹ VớiCampuchia cũng vậy, ta cũng thể hiện quan điểm và hành động nhất quán ủng
hộ nền hòa bình trung lập và nền độc lập của Vương quốc Campuchia
Tháng 11/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại Hội nghị Đại biểucác Đảng Cộng sản và Công nhân họp ở Matxcơva: “Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhấn mạnh và làm rõ thêm một số vấn đề khả năng ngăn ngừa chiến tranhthế giới, về cuộc đấu tranh nhằm thực hiện chung sống hòa bình giữa cácnước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, về vấn đề giải phóng dân tộc.Người có đóng góp quan trọng vào vấn đề nên chăng nêu trong phong tràocộng sản quốc tế bằng việc nhấn mạnh nhiều đến vấn đề tăng cường đoàn kết,
Trang 33mà không nên làm cho người ta hiểu lầm rằng có đảng này đảng khác hoạtđộng bè phái Người phân tích và kết luận, một vấn đề quốc tế cực kỳ quantrọng hiện nay là giữ vững và tăng cường sự đoàn kết nhất trí giữa các nước
xã hội chủ nghĩa và đảng cộng sản và đảng công nhân các nước đó Sự đoànkết nhất trí ấy là hạt nhân của sự đoàn kết nhất trí của toàn bộ phong trào cộngsản quốc tế Người cảm ơn Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản TrungQuốc, các nước anh em và các đảng anh em đã ủng hộ và giúp đỡ sự nghiệpcách mạng của nhân dân ta” [21;1046]
Ngày 20/12/1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Namđược thành lập Nhiệm vụ tuyên truyền đối ngoại của Mặt trận là tranh thủrộng rãi các lực lượng dân chủ, hòa bình, tiến bộ trên thế giới, ủng hộ cuộcđấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam Việt Nam Hoạt động đốingoại của miền Nam thời kỳ đầu của cuộc đấu tranh chống Mỹ - Ngụy dựavào ba nhân tố chủ yếu là pháp lý của Hiệp định Giơnevơ, đường lối hòabình, trung lập của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam phù hợp với xu thếquốc tế và thắng lợi trên chiến trường của nhân dân miền Nam Ngoại giaomiền Bắc phối hợp chặt chẽ với ngoại giao của mặt trận, tích cực vận độngquốc tế công nhận Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, đề caothế hợp pháp của mặt trận, vận động quốc tế công nhân về mặt nhà nước đốivới Mặt trận
Mặt trận cử nhiều đoàn đại biểu đi thăm các nước anh em, bạn bè, dựnhiều hội nghị quốc tế, đưa tiếng nói thắng lợi của đồng bào chiến sỹ miềnNam đến với bạn bè và cơ quan thông tấn báo chí quốc tế Tháng 1/1960, dựHội nghị Liên hiệp công đoàn thế giới ở Mátxcơva Tháng 7/1961, dự hộinghị luật gia Á – Phi ở Chilê Năm 1962, đoàn cao cấp của Mặt trận chínhthức thăm miền Bắc và các nước Liên Xô, Tiệp Khắc, Hungari, Cuba, TrungQuốc, Inđônêxia, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Ăngiêri đã gây
Trang 34tiếng vang lớn, thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế Đầu năm 1963, Mặt trận
cử đoàn đại biểu do Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu tham dự Hội nghị hòabình thế giới tổ chức tại Maxcơva; Đoàn dự Đại hội Thanh niên thế giới ởVasava do bà Nguyễn Thị Bình dẫn đầu Ngày 10/6/1963, Hội đồng hòa bình
thế giới quyết định lấy ngày 20/7 hàng năm làm “Ngày Việt Nam”
Ở nhiều nước trên thế giới, các tổ chức đấu tranh cho hòa bình, dân chủ
thế giới đã thành lập các ủy ban “Đoàn kết Việt Nam” với sự tham gia rộng rãi
của các nhân sĩ và chính khách nổi tiếng Trong năm 1963 và đầu năm 1964,Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã cử nhiều đoàn đi dự Hội nghị Quốc
tế như Đại hội lần thứ III Tổ chức đoàn kết Á – Phi tại Tandania, Hội kinh tế
Á – Phi ở Côlômbô (Xrylanca); Hội nghị Tổ chức Nhà báo Á – Phi… Năm
1963, lần đầu tiên Mặt trận cử một đoàn đại biểu cao cấp sang thăm chínhthức nước cộng hòa Inđônêxia, một nước lớn ở Châu Á có vai trò quan trọngtrong phong trào đoàn kết Á – Phi Đoàn đã được Tổng thống Sukarmo đóntiếp chân tình Chuyến đi đã gây tiếng vang lớn và nâng cao uy tín của Mặttrận Đến tháng 12/1963, kỷ niệm 3 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải
phóng đã có 321 tổ chức ở 42 nước tổ chức “Ngày đoàn kết” với Mặt trận dân
tộc giải phóng miền Nam Việt Nam Đến năm 1965, đã có 20 nước công nhậntrên thực tế, Cuba thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ Mặt trận mở lầnlượt cơ quan đại diện bên cạnh ủy ban đoàn kết Á - Phi ở Cairo Ai Cập, Praha(Tiệp Khắc), Trung Quốc, Cộng hòa dân chủ Đức, thành lập phòng thông tin
ở một số nước Tây Bắc Âu như Thụy Điển, Nauy, Pháp…nhiều nước đã cungcấp nhà ở, trụ sở làm việc, kinh phí… cho cơ quan đại diện của Mặt trận hoạtđộng
Tháng 2/1962, Nghị quyết của Khu ủy V về công tác binh vận đã đề ramục địch, yêu cầu và nội dung của công tác tuyên truyền: “Đối với công táctuyên tuyền tấn công chính trị và hàng ngũ quân địch, Nghị quyết đề ra mục
Trang 35đích, yêu cầu và nội dung tuyên truyền, nhằm làm cho binh sĩ địch hiểu rõ kẻthù của họ là đế quốc Mỹ, tập đoàn tay sai Ngô Đình Diệm đang dùng họ tànsát đồng bào để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của chúng; làm cho họ hiểu chínhsách của cách mạng; tin vào sức mạnh của phong trào quần chúng, thấy rõtính chất chính quyền và con người tất thắng của cách mạng; phát huy tinhthần dân tộc; khêu gợi ý thức giai cấp; chỉ rõ nhiệm vụ cấp bách của họ cầnphải cùng toàn dân đứng lên đánh đổ Mỹ - Diệm” [22;740].
Từ sau ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc, công tác tuyên truyền đốingoại của Đảng đã có những phát triển và thu được một số kết quả tốt trongviệc giới thiệu hình ảnh con người và đất nước Việt Nam ra nước ngoài, tranhthủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới đối với công cuộc xâydựng CNXH và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà của nhân dân ta, gópphần tăng cường đoàn kết nhất trí giữa các nước trong hệ thống XHCN và củaphong trào cộng sản quốc tế, nâng cao vị trí quốc tế của nước ta trong sựnghiệp đấu tranh chung cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, giải phóng miền Nam vàthực hiện hòa bình thống nhất nước nhà ngày càng cần được ủng hộ nhiệt tình
và rộng rãi của nhân dân thế giới Nghĩa vụ quốc tế của ta càng nặng nề hơntrong khi bản thân công tác tuyên truyền đối ngoại của Đảng cũng còn nhữnghạn chế
Để công tác tuyên truyền đối ngoại thu được kết quả tốt, Bộ Chính trịphân công Ban Công tác đối ngoại và Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợpvới nhau giúp Trung ương Đảng chỉ đạo các ngành, các cơ quan là công táctuyên truyền đối ngoại Khi đã có chủ trương của Trung ương Đảng, Bantuyên giáo Trung ương là cơ quan chịu trách nhiệm chính giúp Trung ươngĐảng chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đôn đốc và tổng kết mọi mặt của hoạt độngtuyên truyền đối ngoại
Trang 36Bộ Chính trị cũng chỉ đạo thống nhất việc quản lý các tuyên truyềnphẩm, tặng phẩm, lưu niệm phẩm đưa ra nước ngoài như sách báo, đĩa hát,phim ảnh, bưu thiếp, huy hiệu, nhãn hiệu ngoại thương, đồ mỹ nghệ,… vào
ủy ban liên lạc văn hóa nước ngoài Cải tiến việc xuất bản ngoại văn theohướng tăng cường công tác biên tập và phiên dịch, bảo đảm nội dung chínhxác, nhất là chính trị
Cải tiến hai tờ báo “Việt Nam tiến bước” và “Hình ảnh Việt Nam” cả về
nội dung và hình thức Cải tiến bản tin đối ngoại cho phù hợp với từng loạiđối tượng Đài Tiếng nói Việt Nam tăng cường việc trao đổi phát nhanh vớiđài các nước, đồng thời tăng thêm những buổi phát thanh bằng các thứ tiếngcác nước khu vực Đông Nam Á Tăng cường công tác nghiên cứu về nướcngoài trên các mặt chính trị, kinh rế, xã hội, sự hiểu biết và nhận thức của họ
về nước ta
Đồng thời, Đảng rất chú trọng huy động lực lượng rộng rãi của nhândân, của các ngành, các giới (văn hóa, nghệ thuật, ngoại thương, bưu điện, cácđoàn thể quần chúng, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các cán bộ đi ra nướcngoài, Việt kiều, lưu học sinh và thực tập sinh…) tham gia vào công tác tuyêntruyền đối ngoại, làm cho họ có ý thức thường xuyên, tự giác làm công tácnày cho Đảng Phối hợp với mọi lực lượng trong nước và ngoài nước, sử dụngmọi hình thức để làm công tác tuyên truyền đối ngoại
Có thể nói, công tác tuyên truyền đối ngoại của ta lúc này là một côngtác còn mới mẻ nhưng cũng có nhiều sự thuận lợi từ sức mạnh và uy tín ngàycàng to lớn trên thế giới của phe XHCN, phong trào giải phóng dân tộc pháttriển mạnh mẽ, quan hệ giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng mởrộng, uy tín quốc tế và sự chỉ đạo cụ thể của Đảng trên đây, công tác tuyêntruyền đối ngoại của ta đã có những thành công nhất định, tạo được sự chú ý,
Trang 37sự đồng tình ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của bạn bè thế giới đối với cuộckháng chiến chống Mỹ và xây dựng CNXH ở miền Bắc của nhân dân ta.Tuyên truyền đối ngoại là một nội dung cơ bản trong công tác tuyêntruyền của Đảng Đó là một bộ phận của cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởngcủa nước ta trên phạm vi thế giới, phục vụ chính sách đối ngoại của Đảng vàNhà nước, góp phần tạo ra những điều kiện quốc tế thuận lợi cho cách mạngtrong nước tiến lên, đồng thời góp phần thực hiện những nhiệm vụ quốc tếcủa Đảng và nhân dân ta.
Tháng 12/1963, Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảngkhóa III đã họp Trong hội nghị này, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhắcnhở về một số nguyên tắc trong công tác ngoại giao của Đảng và Nhà nước:không nhượng bộ về nguyên tắc nhưng phải xuất phát từ đoàn kết mà đấutranh để tăng cường đoàn kết Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý Hội nghị về vấn đềmâu thuẫn Xô - Trung, chúng ta chỉ có thể và phải coi đó là “vấn đề nội bộcủa hai Đảng”, chỉ nên trao đổi, góp ý trong các cuộc gặp gỡ trực tiếp để tránhhiểu nhầm đáng tiếc Hội nghị chỉ ra rằng: “Sự đoàn kết của phe XNCH củaphong trào cộng sản quốc tế là một nhân tố vô cùng quan trọng đảm bảothắng lợi cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân toànthế giới… Những năm gần đây, do sự xuất hiện của chủ nghĩa xét lại, phongtrào cộng sản quốc tế đã xảy ra bất đồng ý kiến giữa các đảng cộng sản vàcông nhân trên một loại vấn đề thuộc về nguyên tắc của chủ nghĩa Mác –Lênin, về cuộc chiến và sách lược đấu tranh cách mạng Chủ nghĩa xét lạiđang phát triển và đặt phong trào cộng sản quốc tế trước nguy cơ chia rẽ sâusắc Sự bất đồng về tư tưởng và quan điểm giữa một số đảng dẫn đến quan hệkhông tốt giữa một số nước xã hội chủ nghĩa anh em” [24;756]
Trang 38Bước sang năm 1963, Ban Thường vụ Trung ương cục ra chỉ thị số 43 –
TW về công tác tuyên truyền năm 1963 Chỉ thị xác định nhiệm vụ đẩy mạnhxây dựng lực lượng tuyên truyền, bao gồm: mọi đảng viên và đoàn thanhniên, các tổ chức quần chúng, lực lượng vũ trang và bán vũ trang; lực lượngchuyên trách công tác tuyên truyền của các cấp, đặc biệt chú ý xây dựng lựclượng tuyên truyền ở xã, ấp nơi trực tiếp chiến đấu hàng ngày với địch
Sau khi Giônxơn lên thay Kennedy làm tổng thống và tiếp tục thi hànhchính sách xâm lược Việt Nam điên cuồng và trắng trợn hơn, Nghị quyết Hộinghị lần thứ 9 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II tháng 12/1963 đãlàm cho quân và dân ta thấy rõ bản chất và sự nguy hiểm của kế hoạch mới doGiônxơn vạch ra Trên tinh thần chủ trương đối ngoại đã được vạch ra từ Đạihội Toàn quốc lần thứ III (9/1960), Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương 9 (12/1963) khẳng định: “Chúng ta chủ trương tăng cường quan
hệ giữa nước ta với các nước dân tộc chủ nghĩa trong cuộc đấu tranh chungchống bọn đế quốc thực dân, vì độc lập và hòa bình thế giới phát triển quan
hệ kinh tế và văn hóa với các nước đó trên cơ sở nguyên tắc chung sống hòabình Ủng hộ và giúp đỡ nhân dân các nước đó trong cuộc đấu tranh nhằmtriệt để hoàn thành những nhiệm vụ cách mạng dân chủ” [24;764] Đối vớiphong trào đấu tranh vì dân chủ và CNXH của giai cấp công nhân và nhândân các nước tư bản Đảng chủ trương: “ Nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa
và các dân tộc bị áp bức cần đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và nhândân lao động các nước tư bản chủ nghĩa, thực hiện sự đoàn kết và ủng hộ lẫnnhau giữa nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, các dân tộc bị áp bức và giaicấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa để đấu tranhchống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc” [24;763]
Ngày 24/1/1964, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị số 73 –CT/
TW về tăng cường lãnh đạo công tác tuyên giáo với các dân tộc thiểu số ở
Trang 39miền núi Trong đó chỉ thị nêu rõ “Chú ý việc giáo dục và cải tạo tư tưởngcho những người thuộc tầng lớp trên, đồng thời thường xuyên giáo dục nhữngngười trước đây đã tham gia ngụy quân, ngụy quyền, những người đã lầmđường theo phỉ, những gia đình có con em bị cưỡng ép đi vào Nam, v.v ”[2;178].
Trước những hoạt động mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, Đảng vàđứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua Hội nghị chính trị đặc biệt(3/1964) biểu thị quyết tâm cách mạng của toàn thể dân tộc trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, thốngnhất đất nước
Như vậy, thông qua những chủ trương của Đảng trong việc thực hiệnnhiệm vụ tuyên truyền đối ngoại thời kỳ này chúng ta có thể có những nhậnđịnh rằng: Mặc dù đất nước mới được giải phóng một nửa từ vĩ tuyến 17 trở
ra Bắc, số lượng các quốc gia đặt quan hệ ngoại giao với nước ta chưa nhiều(chủ yếu vẫn là các nước XHCN anh em) nhưng bằng những chủ trương đúngđắn và cụ thể của Đảng, công tác tuyên truyền đối ngoại đi vào thực tiễn đãphát huy những hiệu quả
Tháng 2/1964, Đồng chí Lê Duẩn đã dẫn đầu đoàn ngoại giao sang thămLiên Xô và trao đổi trực tiếp với đồng chí Khơrúpxốp về quan điểm của Đảng
ta Tháng 8/1964 Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng viết thư cho Bí thư Đảng Cộngsản Liên Xô khẳng định sự gắn bó thủy chung của nhân dân Việt Nam với sựnghiệp cách mạng của nhân dân Liên Xô: “ Trước đây cũng như sau này, tìnhhữu nghị và lòng biết ơn của chúng tôi với Đảng Cộng sản và nhân dân Liên
Xô sẽ không thay đổi” [56;210]
Bên cạnh đó, báo chí và xuất bản thời kỳ này cũng tích cực đóng góp vaitrò quan trọng trong công tác tuyên truyền ra quốc tế Nội dung tuyên truyền
Trang 40chủ yếu vẫn là miêu tả lại công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc và cuộcđấu tranh hào hùng ở miền Nam, kêu gọi quốc tế đứng về phía công lý, ủng
hộ cả về vật chất và tinh thần cho cuộc chiến chính nghĩa của nhân dân ta
Để tăng cường hơn nữa nội dung tuyên truyền trên các báo, ngày
27/2/1962, Ban Bí thư ra Nghị quyết 48 Về phương hướng công tác báo chí
năm 1962, trong đó Ban Bí nhấn mạnh nhiệm vụ chính trị, trong đó có tuyêntruyền đối ngoại của các báo Nghị quyết nhấn mạnh tất cả các báo phải nắmvững đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng và Chính phủ, coi trọnghơn nữa việc giới thiệu các thành tựu và kinh nghiệm xây dựng CNXH Nổibật nhất là các báo: Nhân dân, Tạp chí Học tập, Đài phát thanh tiếng nói ViệtNam
Đài tiếng nói Việt Nam sau năm 1954, số lượng giờ phát và kênh pháttăng mạnh, góp phần đắc lực cho công tác tuyên truyền các quan điểm, tưtưởng của Đảng Đài Trung ương đã phát 13 đến 15 giờ mỗi ngày trên 5 hệthống, phục vụ người nghe trong và ngoài nước Bộ phận phát thanh tiếngnước ngoài được phát triển thành Ban Biên tập Đối ngoại Đài phát 12 thứtiếng nước ngoài, trong đó có các tiếng như Anh, Pháp, Khơme, QuảngĐông Trong những chương trình ấy có chương trình phát thanh Mỹ vậnbằng tiếng Anh phát chủ yếu vào hàng ngũ binh sỹ Mỹ tại Sài Gòn và cả bên
Mỹ (nhờ đài phát sóng Habana của Cuba) đã phát đi những thông điệp của tađến tận giường ngủ của lính Mỹ Phát thanh viên Trịnh Thị Ngọ với giọngđọc mượt như nhung khiến bọn lính Mỹ phải khiếp sợ, những cái tên chúnggán cho chị như “Hana Hà Nội” hay “phù thủy Hana” đã nói lên điều đó Báo Nhân dân là một tờ báo lớn của Đảng, ra hàng ngày và có ý nghĩaquan trọng trong công tác tuyên truyền đối ngoại Bên cạnh đưa thông tin