Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ đã quy định trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm 3 việc: Phải làm tốt cô
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Lưu Văn Quảng
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
thạc sỹ chính trị học “ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở từ thực tiễn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội” là hoàn toàn
trung thực, không trùng lắp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày 30 tháng 7 năm 2016
Tác giả luận văn
Nghiêm Thị Thúy Hằng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: DÂN CHỦ CƠ SỞ VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ
QUỐC VIỆT NAM TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ 8
1.1.Dân chủ và thực hiện dân chủ cơ sở 8 1.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở 19
Chương 2: MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM, THỊ XÃ SƠN TÂY,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ
SỞ - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 31
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây
trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở 31 2.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây trong thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở 38 2.3 Những vấn đề đặt ra đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây
trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở 54
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THỊ XÃ SƠN TÂY TRONG THỰC
HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ 58
3.1 Quan điểm phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc thị xã Sơn Tây trong
thực hiện quy chế dân chủ cơ sở 58 3.2 Giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây
trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở 64 KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 HĐND Hội đồng nhân dân
3 MTTQ Mặt trận Tổ quốc
4 QCDC Quy chế dân chủ
5 UBND Ủy ban nhân dân
6 TTND Thanh tra nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn là động lực, là mục tiêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Dân chủ, hiểu theo nghĩa truyền thống, là người dân làm chủ mọi quyền lực xã hội; hay nói cách khác, dân chủ là quyền lực xã hội thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân lao động Lịch sử nhân loại đã chứng minh một thực tiễn mang tính chân lý: dân chủ là khát vọng lớn lao, là đòi hỏi bức xúc của con người,
là một nhu cầu đặc biệt quan trọng mà con người mong muốn vươn tới; đồng thời, dân chủ cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy xã hội phát triển Sự phát triển của dân chủ đánh dấu những nấc thang tiến bộ của xã hội loài người
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa quyết định của dân chủ, nên ngay
từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đó là một vấn đề hệ trọng, có ý nghĩa chiến lược sâu sắc đối với sự phát triển của đất nước
Để dân chủ đi vào thực tế của đời sống xã hội, Đảng ta đã chỉ rõ: muốn phát huy sức mạnh và sự sáng tạo vô địch của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phải tạo ra được những thể chế, chủ trương, chính sách thích hợp để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội Khi quyền làm chủ của người dân được tôn trọng và bảo đảm, sẽ tạo nên nền tảng, cơ sở vững chắc để các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả trong thực tế Muốn thực hiện được điều đó, việc dân chủ hóa mọi hoạt động của Đảng và của cả hệ thống chính trị nhằm tập hợp được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội, đóng góp trí tuệ và vật chất để xây dựng, bảo vệ đất nước
sẽ là một quan điểm hết sức đúng đắn, sáng suốt Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đã được thể hiện trong nhiều văn kiện, chỉ thị, nghị
quyết của Đảng và được thể chế thành pháp luật của Nhà nước
Trang 6Trước thực trạng yếu kém của hệ thống chính trị ở cơ sở và vấn đề mất dân chủ ở cơ sở diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nơi, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây nên tình trạng mất an ninh và trật tự xã hội ở nhiều địa phương, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW về việc xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở Đây là lần đầu tiên, Đảng ta có một văn bản riêng về vấn đề này Việc ban hành Chỉ thị quan trọng này của Đảng chính
là để tiếp tục mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý Nhà nước; thực hiện tốt phương châm "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"nhằm phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng đang xảy ra ở nhiều nơi trên đất nước ta Qua đó, nhằm xây dựng bộ máy chính quyền cơ sở ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; góp phần to lớn vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chỉ thị đã nêu rõ nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; bởi
đó là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, là nơi thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất Trên cơ sở đó, ngay trong năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (sau đó được thay bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP và nay đã được nâng lên thành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)
Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ đã quy định trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm 3 việc: Phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong hội viên, đoàn viên và nhân dân chỉ thị này và các quy chế dân chủ ở cơ sở; Làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ công dân, quyền của các tổ chức chính trị - xã hội đã được quy định trong quy chế dân chủ; Phối hợp với chính quyền trong việc thực hiện quy chế dân chủ và giám sát thực hiện các quy chế dân
chủ ở cơ sở
Trang 7Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ chính trị (khóa VIII) “Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở” còn một số hạn chế nhất định, bộc lộ những thiếu sót, yếu kém như: công tác chỉ đạo của MTTQ ở một số
xã, phường trong thị xã Sơn Tây chưa phát huy hết quyền làm chủ của nhân dân; còn bị động lúng túng trong việc đề ra các biện pháp chỉ đạo phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng địa phương; tính hình thức còn khá phổ biến trong nhiệm vụ triển khai thực hiện QCDC của các cấp ủy Đảng, chính quyền và MTTQ Việc kiện toàn, củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của Uỷ ban MTTQ ở một số địa phương chưa được tập trung đúng mức; Một số cán bộ xã, phường chưa nắm bắt được QCDC và công tác Mặt trận tham gia thực hiện QCDC; hoạt động giám sát của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội ở một số xã, phường còn kém; công tác tuyên truyền vận động nhân dân học tập nắm vững các quan điểm của Bộ Chính trị, nội dung quyền làm chủ trực tiếp trong quy chế còn hình thức; việc lồng ghép các nội dung công tác Mặt trận tham gia thực hiện QCDC với các nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” chưa chặt chẽ và đồng bộ Cụ thể là các nội dung “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” còn hình thức, thiếu cơ chế, điều kiện để nhân dân phát huy quyền kiểm tra, giám sát đối với một số hoạt động của cấp ủy, chính quyền cơ sở; hoạt động của ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng còn lúng túng, chưa phát huy được vai trò giám sát, nhất là đối với các công trình lớn do cấp trên đầu tư; việc thực hiện quy chế dân chủ trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các loại hình doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng mức, chưa coi trọng việc tổng kết các quy chế, quy định đã ban hành; công tác phối hợp giữa mặt trận, các đoàn thể trong thực hiện Quy chế dân chủ ở một số nơi đạt hiệu quả chưa cao…
Từ thực tế nêu trên, việc lựa chọn vấn đề: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở từ thực tiễn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ Chính trị học rất có ý nghĩa cả về lý luận và thực
tiễn
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ lâu, vấn đề dân chủ đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà hoạt động chính trị cũng như các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở trong nước và trên thế giới Dân chủ và thực hiện QCDC ở cơ sở, vai trò của MTTQ trong hệ thống chính trị đã được đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng, văn bản, quyết định của Chính phủ và đã có nhiều công trình nghiên cứu (ở cấp độ luận văn, luận án, bài viết trên các tạp chí, các cuốn sách…) để bàn về đề tài này ở những góc
độ, khía cạnh khác nhau và được chia nhiều nhóm vấn đề
- Nhóm thứ nhất, những công trình đã được nghiên cứu sâu về vấn đề dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã được in thành sách và các bài viết trên
các báo, tạp chí như: Đỗ Mười (1998) “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản số 20; PGS TS Dương Xuân Ngọc (chủ biên) Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (năm 2000), Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - một số vấn đề lý luận thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Trương Quang
Được (năm 2002) “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở
cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, số 12; TS Nguyễn Văn Sáu - GS Hồ Văn Thông (chủ biên 2002), Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Phan Xuân Sơn (Chủ biên, 2003), Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội TS Lương Gia Ban (Chủ biên, 2003) Dân chủ và thực hiện QCDC ở cơ sở, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội
Nhóm vần đề này các tác giả đã nghiên cứu một cách sâu sắc và làm sáng tỏ
về mặt lý luận và thực tiễn thực hiện QCDC ở cơ sở
- Nhóm thứ hai, các cuốn sách, luận văn, bài báo, bài viết trên các tạp chí về MTTQVN, Mặt trận Tổ quốc với việc thực hiện QCDC ở cơ sở
PGS.TS Nguyễn Lương Bằng (2012) “Giám sát phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Đại học Sài Gòn, số 13, T2/2013; PGS.TS Nguyễn Lương Bằng (năm 2012) Bài viết “Vai
Trang 9trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đối với ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô ở Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Trường Đại học
Vinh, tháng 4 năm 2012, Trong hai bài này tác giả đã phân tích sâu sắc ưu điểm, nhược điểm về vai trò của tổ chức Mặt trận và các đoàn thể trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất những giải pháp để phát huy vai trò của các
tổ chức trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay
Tác giả Lê Bá Lợi (2009) “Mặt trận tổ quốc Hồng Lĩnh với việc thực hiện QCDC ở cơ sở”, Tạp chí Mặt trận tổ quốc Việt Nam, số 71 Bài viết này tập trung
trình bày những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế trọng việc thực hiện QCDC của Mặt trận tổ quốc thị xã Hồng Lĩnh, đề ra những giải pháp thực hiện tốt
việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở Một số vấn đề lý luận và thực tiễn công tác Mặt trận (2009), của Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Công trình tập trung nghiên
cứu những vấn đề về cơ sở lý luận, nội dung, đặc điểm, vai trò, hoạt động… của
công tác MTTQVN Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2007), Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, quyển III (1974-2004), Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập
trung nghiên cứu về lịch sử hình thành của MTTQVN trong lịch sử
Nhóm vấn đề này các tác giả tập trung trình bày về lý luận và thực tiễn của MTTQ Việt Nam, cũng như tình hình thực hiện QCDC ở cơ sở tại các địa phương
Các công trình nghiên cứu, bài viết nói trên cung cấp những vấn đề lý luận
và thực tiễn về MTTQ Việt Nam, về dân chủ, thực hiện dân chủ ở cơ sở, cũng như tình hình thực hiện quy chế dân chủ ở địa phương Tuy nhiên việc nghiên cứu về đề tài “ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở từ thực tiễn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội" cho đến nay chưa có bài viết hay đề tài nào đề cập, phản ánh Những tài liệu nêu trên sẽ giúp tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và khảo sát thực trạng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây trong việc tham gia thực hiện quy chế dân
Trang 10chủ cơ sở, luận văn đề xuất một số giải pháp khả thi nhằm phát huy vai trò của MTTQ thị xã trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
3.1 Nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng của mặt trận trong việc tham
gia thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sỏ
3.2 Nghiên cứu về việc Ủy ban MTTQ tham gia thực hiện quy chế dân chủ
ở xã, phường - thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm thực tiễn
3.3 Nghiên cứu về chủ trương, giải pháp nhằm phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia của MTTQ thị xã Sơn Tây vào thực hiện dân chủ ở cơ sở
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội + Về thời gian: nghiên cứu sự tham gia của MTTQ thị xã Sơn Tây trong
thực hiện dân chủ cơ sở từ năm 1998 đến năm 2015
5 Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
Luận văn cũng dựa trên cơ sở các lý thuyết của chính trị học hiện đại, trong
đó có vấn đề dân chủ
5.2 Phương pháp
Ngoài những phương pháp chung như: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp định tính, định lượng trong quá trình phân tích ảnh hưởng của MTTQ đối với việc thực
hiện quy chế dân chủ cơ sở
Trang 11Một số phương pháp chuyên ngành như mô hình hóa, khảo sát tổng kết dựa vào thông số từ nghiên cứu thực tiễn cơ sở để xây dựng những luận điểm có tính lý
luận - đây là phương pháp quan trọng để thực hiện nghiên cứu đề tài này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Qua nghiên cứu, điều tra, phân tích quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở trên địa bàn thị xã Sơn Tây, luận văn khái quát một số kết quả bước đầu, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân của nó, đồng thời đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ
thể nhằm tăng cường thực hiện dân chủ phù hợp với điều kiện địa bàn
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho học viên Học viện khoa học xã hội muốn nghiên cứu sâu hơn về vai trò của Ủy ban MTTQ việc thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở Ủy ban MTTQ các xã, phường trên địa bàn thị xã có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của luận văn để thực hiện có hiệu quả hơn vai trò của mình đối với việc thực hiện QCDC ở địa phương
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Dân chủ cơ sở và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
Chương 2: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, thực trạng và những vấn đề đặt ra
Chương 3: Quan điểm và giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
Trang 12Chương 1 DÂN CHỦ CƠ SỞ VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
1.1 Dân chủ và thực hiện dân chủ cở sở
1.1.1 Khái niệm dân chủ và dân chủ cơ sở
Khái niệm "dân chủ" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "demos", nghĩa là nhân dân và "kratos" - chính quyền, quyền lực "Demokratia" có nghĩa là quyền lực của nhân dân, chính quyền của nhân dân Dân chủ là một chính quyền "của dân, do dân
và vì dân" Như vậy, dân chủ là một thể chế do dân làm chủ và dân chủ trước hết là chế độ chính trị trong đó quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, do nhân dân tự thực thi hoặc thông qua các đại biểu mà mình bầu ra Dân chủ gồm có dân chủ trực tiếp
và dân chủ đại diện Dân chủ trực tiếp là hình thức dân chủ với những thiết chế, quy chế để người dân thảo luận và biểu quyết những vấn đề chung của cộng đồng Dân chủ đại diện là hình thức dân chủ trong đó nhân dân cử ra (chủ yếu bằng bầu cử)
người thay mặt mình nắm giữ quyền lực nhà nước
Dân chủ có thể hiểu là một cách thức và những điều kiện kèm theo để mọi người dân tham gia bình đẳng vào các công việc chính trị, kinh tế, xã hội với vai trò
là người chủ xã hội Khi một người dân cầm lá phiếu đi bầu cử một cách tự nguyện
để lựa chọn một cách tự do người đại biểu của mình trong HĐND xã - có nghĩa là quyền dân chủ về chính trị được thực hiện Khi các hộ nông dân được tham gia ý kiến vào việc quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng làng xã, v.v và những ý kiến này được lắng nghe, trở thành quyết định và hành động của chính quyền có nghĩa là các hộ nông dân thực hiện một cách thực sự quyền dân chủ trong đời sống kinh tế của làng, xã Khi người dân đặt ra những yêu cầu đòi hỏi chính quyền có các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng y tế, giáo dục, vệ sinh môi trường, trật tự an
ninh xã hội - đây cũng là lúc người dân đang thực hiện quyền làm chủ của mình
Đòi hỏi của người dân được biết về các hoạt động của chính quyền, đòi hỏi về trách nhiệm của chính quyền đối với dân trong việc thực thi các thủ tục hành chính liên
Trang 13quan đến đất đai, xây dựng, hộ tịch, khai sinh, kinh doanh, sản xuất, v.v đây là
biểu hiện của quyền dân chủ của nhân dân
Dân chủ còn có thể được hiểu như một nhu cầu tất yếu, đòi hỏi đương nhiên của dân khi họ cần có một vị thế thực sự bình đẳng trong quan hệ với nhà nước Đồng thời, dân chủ còn được hiểu là trách nhiệm của chính quyền, của cán bộ, công chức cấp trung ương cũng như cấp xã, thực hiện quyền hạn của mình một cách chí
công vô tư, không hách dịch, tham nhũng, vụ lợi
Bản chất của nhà nước ta được khẳng định trong Hiến pháp, là nhà nước của dân, do dân, vì dân Tuy vậy trong thực tế, cán bộ, công chức nhà nước chưa thực sự là công bộc của dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn Nếu không thực hiện dân chủ, nhà nước sẽ trở nên độc tài, chuyên chế, và do đó dân phải học
để làm chủ; nhà nước phải bảo đảm cơ chế để lắng nghe dân Do vậy, nói tới dân chủ có nghĩa là nói đến mối quan hệ giữa dân và chính quyền mà ở đó chính quyền phải lắng nghe, phải tạo điều kiện để người dân được quyết định hoặc tham gia quyết định những vấn đề liên quan đến cuộc sống và sự phát triển của mỗi người dân, của cả cộng đồng Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng ở cấp xã,
phường, thị trấn
Trong thực tế chưa có một xã hội nào đạt được tình trạng dân chủ tuyệt đối
do nhiều lý do khách quan và chủ quan như: trình độ phát triển kinh tế - xã hội, năng lực nhận thức của dân và của chính quyền, truyền thống lịch sử, văn hóa pháp quyền, v.v Vì thế, dân chủ còn được hiểu như một mục tiêu phấn đấu của dân tộc Việt Nam đó là: thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Những mục tiêu đó đều có mối liên hệ gắn bó với nhau Dân có giàu thì nước với mạnh Có dân chủ thì mới có công bằng xã hội Có dân chủ thực sự thì dân mới giàu và quốc gia mới mạnh "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong" Đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và dân chủ là những yếu tố không thể thiếu của một nền văn minh Với mục tiêu phấn đấu như vậy, việc phát huy dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, được coi là chủ trương, biện
Trang 14pháp và là hành động tất yếu của nhân dân và chính quyền trong quá trình phát triển
của đất nước ta
Dân chủ được đảm bảo và phát huy bằng nhiều biện pháp Việc thực thi dân chủ luôn gắn liền với mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân Ở nước ta hiện nay, hệ thống chính trị dựa trên thể chế "Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"
Việc phát huy, thực hiện dân chủ được tiến hành không tách rời thiết chế này
Dân chủ mang lại những lợi ích to lớn cho xã hội Phát huy dân chủ là phát huy sức mạnh vật chất và tinh thần trong dân vì sự phát triển và giảm nghèo Khi nhân dân thực hiện quyền quyết định các công việc của làng, xã, ý thức làm chủ của dân được khẳng định rõ rệt Với ý thức làm chủ, mọi sáng kiến, nguồn lực của mỗi người dân, mỗi gia đình trong cộng đồng làng, xã được phát huy một cách tốt nhất
để vượt qua những thách thức và khó khăn nhằm đạt tới sự phồn thịnh, phát triển
của cộng đồng
Dân chủ thúc đẩy sự minh bạch, hạn chế sự lạm quyền, tham nhũng Sự minh bạch, rõ ràng trong các hoạt động kinh tế xã hội được đảm bảo khi người dân được thực hiện quyền được biết, được kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, nhất là trong lĩnh vực thu, chi tài chính Điều này có ý nghĩa rất quan trọng làm hạn chế những hành vi lạm dụng quyền hạn, tham nhũng của cán bộ, công chức
Cơ sở là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động như sản xuất, công tác, v.v của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên [23, tr 209] Như vậy, cấp cơ sở là cấp xã trong quan hệ với cấp địa phương (gồm cấp tỉnh và cấp huyện) và với cấp trung ương Chính quyền cơ sở
là chính quyền cấp xã Bởi vì, căn cứ vào việc phân bổ dân cư và lãnh thổ thành đơn
Trang 15vị hành chính thì chính quyền cấp xã và cấp tương đương là cấp chính quyền cơ sở
Vì đây là cấp chính quyền cuối cùng, gần và sát dân nhất Còn thôn, tổ dân phố và tương đương là theo đơn vị dân cư - với tư cách là những cộng đồng người nhỏ nhất sinh sống cùng nhau Ở đây, đời sống dân cư diễn ra tự quản là chính
Dân chủ ở cơ sở là dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn và thôn, làng, ấp, bản, khóm, tổ dân phố (là các hình thức cộng đồng dân cư như đã nêu) Dân chủ ở cơ sở chủ yếu là thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp (mặc dù có cả dân chủ đại diện), và các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư Dân chủ cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vì cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất
Vậy có thể hiểu một cách khái quát về tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã là quá trình tổ chức thực hiện các quy định của nhà nước về dân chủ tại các địa bàn dân cư, nơi mà người dân sinh sống, lao động, sản xuất ra của cải, vật chất Hay có thể hiểu đó là việc thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo “quyền làm chủ của người dân ở cơ sở” theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Thực hiện dân chủ ở xã, phường cũng sẽ góp phần cải cách hành chính, sửa đổi những cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính cho sát thực, phù hợp với thực tiễn Thực hiện dân chủ ở xã, phường cũng là biện pháp phát huy và mở rộng dân chủ, đưa nội dung “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đi vào cuộc sống, có hiệu quả cao hơn
Dân chủ nói chung, dân chủ ở cơ sở nói riêng là nội dung quan trọng của nền dân chủ XHCN Lênin nói: “Chủ nghĩa xã hội sẽ không có nếu không có dân chủ với hai nghĩa: Thứ nhất, giai cấp vô sản không thể hoàn thành cách mạng XHCN nếu nó không
tự chuẩn bị dân chủ cho mình thông qua cuộc đấu tranh vì dân chủ Thứ hai, chủ nghĩa
xã hội chiến thắng sẽ không giữ được thắng lợi và không dẫn đến sự tiêu vong của nhà nước nếu thiếu thực hiện dân chủ một cách trọn vẹn” [37, tr28]
Trang 16Thấm nhuần tư tưởng Lênin, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh nước ta, Đảng
ta chủ trương xây dựng thiết chế dân chủ ở cơ sở nói chung và ở xã, phường nói riêng nhằm không ngừng phát huy nền dân chủ XHCN, xây dựng nhà nước của dân,
do dân, vì dân Do vậy, thực hiện dân chủ ở xã, phường là nội dung quan trọng, thiết yếu của dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay Đây là sự tìm tòi, sáng tạo, bổ sung quý báu vào kho tàng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của Đảng ta
1.1.2 Nội dung của quy chế dân chủ cở sở
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở nay đã được nâng lên thành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Do đó, trong luận văn này tác giả dùng thuật ngữ "Quy chế dân chủ ở cơ sở" với nghĩa là một thuật ngữ chuyên môn, chứ không phải chỉ cụ thể "Quy chế dân chủ cơ sở" trước đây Nói thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở thực ra là nói tới việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở hiện nay
Nội dung của thực hiện dân chủ cơ sở được quy định trong Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn ( số 34/2007/PL-UBTVQH) của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định:
1.1.2.1 Những nội dung công khai để nhân dân biết
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã
- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền
bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân
- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế
Trang 17- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND cấp xã
- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này
- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu
- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện
- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
Những nội dung trên được công khai bằng hình thức: Niêm yết công khai tại trụ sở HĐND, UBND cấp xã; Công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã; Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân; Chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai, thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định
Về cách thức thông tin, nhân dân có quyền yêu cầu chính quyền sử dụng các phương tiện thông tin sẵn có ở xã, thôn để truyền tải những thông tin mà nhân dân được quyền biết, đó là: trực tiếp bằng văn bản đến thôn, xã; niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã hoặc ở những trung tâm dân cư; hệ thống truyền thanh xã, thôn; tại các cuộc họp tiếp xúc đại biểu HĐND xã
Về nội dung thông tin, nhân dân có quyền yêu cầu tất cả những thông tin mà dân được quyền biết Tuy nhiên không phải bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, hoặc bất kỳ loại thông tin nào cũng có thể được yêu cầu Có những loại thông tin được cung cấp định kỳ, như báo cáo công tác của HĐND, UBND xã Cũng có những loại thông tin chỉ có thể được cung cấp sau một thời hạn nhất định, như dự toán, quyết toán thu
Trang 18chi ngân sách, hoặc dự án, công trình Có loại thông tin được cung cấp thông qua các tổ chức như Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát công trình, Ban công tác, mặt trận,
1.1.2.2 Những nội dung nhân dân bàn và quyết định
- Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn,
tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật
- Nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định:
+ Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố
+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
+ Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng
Những nội dung nhân dân bàn và quyết định dù trực tiếp hay gián tiếp đều được thực hiện dưới hình thức: Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình Tuỳ theo từng hình thức thể hiện sẽ có quy định riêng
1.1.2.3 Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định
- Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã
- Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã
- Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư
- Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã
Trang 19- Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
Những nội dung này được thể hiện bằng hình thức: Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; Thông qua hòm thư góp ý
1.1.2.4 Những nội dung nhân dân giám sát
Đối với những nội dung mà nhân dân được biết, được thông tin, được bàn và quyết định, được tham gia ý kiến như trên đã trình bày thì nhân dân đều có quyền giám sát việc thực hiện Một số việc quan trọng mà nhân dân ở địa phương có quyền giám sát, kiểm tra:
- Hoạt động của đại biểu HĐND xã, cán bộ UBND xã
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Dự toán và quyết toán ngân sách xã
- Kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng và các chương trình dự án do nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư tài trợ trực tiếp cho xã
Trang 20Qua vấn đề trên chúng ta có thể thấy rằng, những nội dung trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cấp xã được sắp xếp theo cấp độ tăng dần và toàn diện Những nội dung trên là cốt lõi của vấn đề dân chủ nói chung và dân chủ ở cấp xã nói riêng
Đó là việc “Dân biết - Dân bàn - Dân làm - Dân kiểm tra” như Bác Hồ đã từng khẳng định “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm” tra là bốn yếu tố cơ bản, có quan hệ thống nhất hữu cơ, biện chứng với nhau trong hệ thống tư tưởng "Dân chủ" Muốn “Dân bàn” thì Dân phải biết; muốn “Dân làm” thì phải trên cơ sở “Dân biết”
và đã bàn bạc thấu đáo Dân không những được biết, được bàn, được làm mà còn được kiểm tra Có thể nói kiểm tra mọi vấn đề, mọi công việc của đất nước là biểu hiện cao nhất của tinh thần dân chủ Tuy nhiên, pháp luật là nhân tố quan trọng để nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình
Pháp lệnh quy định những nội dung phải công khai để dân biết, dân bàn, quyết định, dân tham gia ý kiến và giám sát Đồng thời, pháp lệnh cũng nêu rõ trách nhiệm của Chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã
Có thể nói sự ra đời của QCDC ở cấp xã (Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cấp xã) đã tạo khung pháp lý để thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và đặc biệt làm rõ hơn quyền làm chủ và cách thức tiến hành các quyền đó theo quy định của pháp luật
1.1.3 Vai trò của thực hiện dân chủ cơ sở đối với đời sống chính trị Việt Nam
Quy chế dân chủ cơ sở ra đời là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện dân chủ ở nước ta Quy chế không đơn thuần chỉ là một phản ứng chính trị của Đảng và Nhà nước trước tình hình phức tạp của những điểm nóng ở cơ sở, mà thể hiện cái nhìn hướng tới cơ sở, coi trọng cái gốc ở cơ sở nên mang tính chiến lược, căn bản, lâu dài Lần đầu tiên định hướng chính trị về dân chủ, phương châm để thực hiện dân chủ như “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã được cụ thể hóa trong một văn bản quy phạm pháp luật Vì vậy, quy chế thực hiện dân chủ ở cơ
sở có vai trò hết sức to lớn
Thứ nhất, thực hiện quy chế dân chủ đảm bảo quyền lực chính trị của nhân
Trang 21dân lao động, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân,
do dân, vì dân ngay ở cấp chính quyền cơ sở ở nước ta hiện nay
Trong một thời gian dài trước đây, nhiều địa phương đã không thực sự quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của nhân dân trong việc giải quyết các vấn đề của làng xã Do vậy khi QCDC được triển khai, người dân rất phấn khởi và nhiệt tình hưởng ứng Nơi nào làm tốt việc xây dựng và thực hiện quy chế, nơi ấy sẽ xây dựng được phong trào sinh hoạt chính trị rộng lớn, có tác dụng đến nhiều mặt đời sống xã hội Thông qua quá trình học tập, xây dựng và thực hiện quy chế, cán bộ, nhân dân thấy rõ hơn quyền cũng như trách nhiệm của mình trong việc xây dựng đời sống dân chủ ở cơ sở, ý thức làm chủ, ý thức công dân của người dân đã có sự chuyển biến khá rõ
Thứ hai, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là một giải pháp hạn chế sự tha
hóa quyền lực của nhà nước Quyền lực chính trị của nhân dân lao động được thể hiện tập trung thông qua quyền lực của Nhà nước Với hình thức dân chủ đại diện, quyền lực nhà nước sẽ được giao cho một số người đảm nhận, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành công việc chung Những quy luật chung là khi tập trung quyền lực thì dễ dẫn đến lạm quyền, lộng quyền Những người đại diện cho quyền lực của nhân dân rất dễ rơi vào sự tha hóa, độc đoán, quan liêu nếu không có một cơ chế kiểm soát quyền lực
Để hạn chế sự tha hóa quyền lực nhà nước, cần phải làm trong sạch bộ máy lãnh đạo của Đảng và chính quyền ngay ở từng cơ sở Từ khi triển khai thực hiện quy chế, người dân đã biết sử dụng quyền làm chủ của mình để đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực ấy Từ những quy định rõ ràng các việc cần thông báo cho dân biết, những việc dân được bàn, những việc dân được giám sát, kiểm tra tài chính công khai, minh bạch đã làm hạn chế rất nhiều biểu hiện tha hóa của một số cán bộ, đảng viên trong bộ máy nhà nước
Thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ làm cho nhân dân lao động từng bước thể hiện quyền làm chủ mà còn làm cho các cấp ủy đảng, chính quyền, đảng viên nhận thức rõ hơn về quyền làm chủ của nhân dân cũng như ý thức được trách nhiệm
Trang 22phục vụ nhân dân, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương phép nước Ở những nơi làm tốt việc triển khai thực hiện pháp lệnh dân chủ, ý thức xây dựng cộng đồng, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền được nâng lên
Thứ ba, thực hiện dân chủ ở cơ sở khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của nhân dân
lao động Phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân lao động trong quá trình xây dựng nhà nước và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từ quốc kế dân sinh đến những việc của đời sống cộng đồng, đời sống dân cư Thông qua các hoạt động dân chủ trực tiếp tại cơ sở, người dân có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện tập duyệt và trưởng thành trong vai trò của người làm chủ đích thực
Thứ tư, thực hiện dân chủ ở cơ sở gắn với phát triển xã hội Văn hóa là nền
tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là xây dựng chăm lo con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú trọng đầy đủ đến yếu
tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế Xây dựng và phát triển văn hóa là
sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ thể sáng tạo, đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng
Từ khi có Nghị quyết TW5 (khóa VIII) và Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, các địa phương đã kết hợp chặt chẽ cả hai nội dung: Triển khai quy chế dân chủ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư” nhằm khắc phục những vấn đề nhức nhối về tư tưởng đạo đức, lối sống và xây dựng môi trường văn hóa văn minh, lành mạnh trong từng gia đình, làng xã, vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, lối sống lành mạnh, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan
Thứ năm, thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo ra pháp lý để Mặt trận tổ quốc các
cấp và các tổ chức chính trị xã hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
Trang 23Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát các hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý chí, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh kiến nghị kịp thời với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng củng
cố chính quyền nhân dân; cùng nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân MTTQ Việt Nam, các tổ chức thành viên thông qua hoạt động phối hợp tuyên truyền vận động nhân dân chỉ đạo triển khai xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện QCDC, phát huy tốt vai trò đại diện quyền làm chủ của nhân dân, góp phần tạo ra môi trường dân chủ lành mạnh ở cơ sở, góp phần củng cố, kiện toàn tổ chức Đảng, chính quyền các cấp
Do vậy, việc xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ sở là một cách thiết thực nhất, là cơ sở cho nhân dân lao động được làm chủ một cách thực sự trên mọi phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Đó cũng là một cách làm hiệu quả nhất để nhân dân lao động được đảm bảo quyền lực chính trị của mình, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân
1.2 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
1.2.1 Vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị
MTTQ Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta hiện nay Sự quy định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát từ thể chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân Đây là vấn đề lịch sử, vấn đề truyền thống Vai trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính nhân dân, chính lịch sử thừa nhận
Ngay sau khi nhân dân giành được chính quyền, Mặt trận đã trở thành một
bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị Theo Luật MTTQ Việt Nam năm 2015:
“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của
Trang 24tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài”[20, tr7-8]
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [20, tr.7-8] Điều đó khẳng định MTTQ Việt Nam là một bộ phận không thiếu được của hệ thống chính trị nước ta
Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước càng đòi hỏi phải tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Do vậy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể thành viên càng quan trọng Nâng cao vai trò, tác dụng của Mặt trận trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội là một yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
*Vai trò, chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị
Để hiểu rõ hơn về vai trò, chức năng của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta cần phân tích kỹ các điều, khoản của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
MTTQ Việt Nam với tư cách là bộ phận của hệ thống chính trị - là một trong những chủ thể tổ chức thực hiện, phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân và tăng cường khối đoàn kết toàn dân Một trong những vấn đề bức xúc từ nhiều năm nay trong số các vấn đề cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta là: Làm thế nào có những đòn bẩy để thực sự phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân Vấn đề này có thể thấy trong vai trò của MTTQ Việt Nam Luật MTTQ Việt Nam ra đời là một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết nhiệm vụ trọng đại đó, xác định địa
vị pháp lý của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị và là một công cụ pháp lý hữu hiệu tổ chức thực hiện và phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân
MTTQ Việt Nam tập hợp nhân dân thông qua các đoàn thể và cá nhân rộng rãi trong toàn xã hội để trở thành một bộ phận của hệ thống chính trị Việc tự nhân dân đứng ra tổ chức thực hiện và phát huy dân chủ, quyền làm chủ của mình thông
Trang 25qua MTTQ Việt Nam với tư cách một bộ phận của hệ thống chính trị thể hiện ở bản chất và tính nhân dân của MTTQ Việt Nam, ở nhiệm vụ và chức năng của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị và ở quan hệ của MTTQ Viêt Nam với Nhà nước
Phạm vi thành viên tham gia của MTTQ Việt Nam hết sức rộng rãi, bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội và cá nhân tiêu biểu trong toàn xã hội, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của MTTQ Việt Nam được dựa trên cơ
sở tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động
Quan hệ của các tổ chức thành viên trong MTTQ Việt Nam dựa trên cơ sở thỏa thuận hợp tác bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau Tất cả những điều đó quy định bản chất và tính nhân dân của MTTQ Việt Nam
Về bản chất, MTTQ Việt Nam với tư cách là bộ phận của hệ thống chính trị, không phải là cơ quan Nhà nước, mà là nơi tập hợp tự nguyện của mọi tầng lớp xã hội, không có sự phân biệt về giai cấp, quá khứ, tôn giáo, thành phần xã hội Điều này quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn đặc trưng của MTTQ Việt Nam trong hệ thống chính trị Đồng thời, chính bản chất đó khẳng định MTTQ Việt Nam là bộ phận quan trọng và không thể thiếu của hệ thống chính trị, như một tổ chức để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta
Với tư cách là bộ phận của hệ thống chính trị, MTTQ Việt Nam trong khi thực hiện các nhiệm vụ của mình phải xác lập mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước và ngược lại Luật MTTQ Việt Nam xác định tính chất quan hệ gữa MTTQ Việt Nam với Nhà nước là quan hệ phối hợp và Nhà nước có trách nhiệm tạo điều kiện để MTTQ Việt Nam hoạt động có hiệu quả Như vậy, MTTQ Việt Nam là bộ phận độc lập của hệ thống chính trị, có địa vị bình đẳng với Nhà nước và quan hệ giữa MTTQ Việt Nam với Nhà nước là quan hệ phối hợp tôn trọng lẫn nhau Mặt trận không nằm trong hệ thống bộ máy Nhà nước Đây là điểm mấu chốt để MTTQ Việt Nam thực hiện chức năng của mình trong hệ thống chính trị, phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân trong điều kiện cụ thể của Việt Nam
Trang 26MTTQ tham gia phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện những nhiệm vụ có tính xã hội và nhân dân rộng lớn Những nhiệm vụ như tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thi hành chính sách, pháp luật,
tổ chức vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở, hướng dẫn nhân dân xây dựng hương ước, quy ước về nếp sống tự quản ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố và cộng đồng dân cư khác ở cơ sở Một mình Nhà nước sẽ không thể đảm đương hết được các công việc trên nếu không có sự tham gia của MTTQViệt Nam các cấp - ở đây kênh Mặt trận được đặc biệt phát huy
MTTQ tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân và thực hiện hoạt động giám sát đối với cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức Nhà nước Trong trách nhiệm và quyền tham gia vào xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, MTTQ Việt Nam tham gia công tác bầu cử, tham gia xây dựng pháp luật, tham gia hoạt động tố tụng, tuyển chọn thẩm phán, giới thiệu hội thẩm nhân dân, tham dự các phiên họp của ủy Ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các
kỳ họp của HĐND, hội nghị của UBND khi bàn đến các vấn đề liên quan Hoạt động giám sát của Mặt trận đối với cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức Nhà nước đã được quy định cụ thể trong các chương 4 và chương 5 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015
Điều 19 Luật MTTQ Việt Nam quy định trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, theo quy định của pháp luật về bầu cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khóa IX để cụ thể hóa Nghị quyết chuyên đề: về phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, công bằng dân chủ, văn minh Hội nghị đã xác định rõ những quan điểm lớn trong việc phát huy sức mạnh Đại đoàn kết toàn dân tộc Đặc biệt, Hội nghị đã nhấn mạnh những chủ trương, giải pháp chủ yếu nhằm củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ; mở rộng
và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vai trò Mặt trận và các
Trang 27đoàn thể nhân dân trọng việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới đã được hết sức chú trọng, khẳng định ý nghĩa to lớn của Mặt trận dân tộc thống nhất trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
1.2.2.1 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn tham gia tuyên truyền, phổ biến Quy chế dân chủ cơ sở ( nay là pháp lệnh dân chủ ở cơ sở)
Ủy ban MTTQ Việt Nam phối hợp với chính quyền và các tổ chức thành viên của MTTQ Việt Nam tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong nhân dân ở cơ sở những chủ trương chính sách của Đảng, quy định của Nhà nước về xây dựng và thực hiện QCDC, về quyền làm chủ của nhân dân, nhất là quyền làm chủ trực tiếp, dân chủ đại diện được quy định trong pháp lệnh dân chủ ở cơ sở Tổ chức cho nhân dân học tập quán triệt các quan điểm của Đảng trong Chỉ thị 30 để nhân dân sử dụng đúng quyền và trách nhiệm của mình đã quy định trong quy chế
Mặt trận chủ trì tổ chức học tập cho những người tiêu biểu như: nhân sĩ, trí thức, già làng, chức sắc, chức việc trong tôn giáo, người tiêu biểu trong các dân tộc
để học tập nắm vững nội dung của QCDC, qua đó các vị sẽ giúp Mặt trận tuyên truyền, giải thích trong giới mình, tổ chức mình thực hiện
MTTQ Việt Nam chủ trì tổ chức cho cán bộ chuyên trách công tác Mặt trận; cán bộ trong Ban Thường trực Mặt trận xã, phường, trưởng ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố; trưởng ban thanh tra nhân dân nghiên cứu, học tập để quán triệt Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị, Nghị định 29 và các văn bản pháp luật liên quan để tham gia thực hiện và tổ chức thực hiện từng cấp và địa bàn dân cư
Công tác tuyên truyền, phổ biến của mặt trận phải đến địa bàn dân cư, thông qua các ban công tác mặt trận ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố để từ đó phổ biến tới từng hộ gia đình Đây là thế mạnh của công tác mặt trận và tổ chức mặt trận, để truyền đạt chủ trương, chính sách pháp luật tới từng người dân, tổ chức các hoạt động phong trào nhân dân vì lợi ích của Đảng và Nhà nước Trong báo cáo phân tích kết quả số liệu điều tra xã hội học về vai trò của MTTQ Việt Nam trong thực
Trang 28hiện dân chủ ở cơ sở được tiến hành trên 1.035 phiếu tại 6 tỉnh, thành phố: Quảng Ngãi, Gia Lai, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Ninh Bình, Hà Giang, cho thấy, có 68% người cho rằng việc này đã được thực hiện tốt; 76,4% người được tham gia ý kiến vào các dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế của cấp xã, 86% số người được hỏi cho biết có được bàn quyết định trực tiếp vào chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ
sở hạ tầng, công trình phúc lợi Cũng theo báo cáo điều tra, có tới 63% người cho rằng thông tin về quy chế dân chủ đến với người dân còn chậm, trong khi đó, sự đáp ứng của các quy định pháp luật hiện hành về dân chủ ở cơ sở với nhu cầu thực hiện quyền làm chủ của người dân hiện nay mới đạt hơn 56% Theo báo cáo phân tích kết quả đánh giá điều tra xã hội học về vai trò của MTTQ Việt Nam trong thực hiện dân chủ ở cơ sở tại 6 tỉnh, thành phố cho thấy 93,9% người dân được bàn về quy ước, hương ước của thôn, tổ dân phố, 88% người có nhận thức về pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Báo cáo cũng khẳng định, việc người dân biết đến pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn chủ yếu qua tuyên truyền của cán bộ Mặt trận, đạt gần 80% Đây là số liệu đáng mừng về việc thực hiện quy chế dân chủ trong thời gian qua, đây là cơ sở khoa học để xây dựng Luật pháp và chính sách của Đảng [36]
1.2.2.2 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và các tổ chức thành viên trong thực hiện QCDC cơ sở
Uỷ ban MTTQ Việt Nam tích cực, chủ động phối hợp với HĐND, UBND và các tổ chức hành viên chỉ đạo và tổ chức để nhân dân được quyền thông tin về pháp luật, về chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hàng ngày của dân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Ví dụ như thông qua để nhân dân được biết các Nghị quyết của HĐND, UBND xã và của các cấp trên liên quan đến địa phương; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của xã, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo; dự án xây dựng đường làng, đường xã, xây dựng trường học, trạm xá, trạm bơm, trạm biến thế… Hình thức thông tin có hiệu quả của Mặt
Trang 29trận là thông qua các ban công tác Mặt trận, thông qua các tổ chức thành viên của Mặt trận, những người tiêu biểu trong các dân tộc và chức sắc tôn giáo, cán bộ đã nghỉ hưu, người cao tuổi…
MTTQ tổ chức hội nghị để dân thảo luận và quyết định những loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của dân trên địa bàn dân cư như: chủ trương huy động sức dân để xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng, các khoản đóng góp tự nguyện và lập quỹ, xây dựng hương ước, quy ước, làng văn hóa, nếp sống văn minh; tổ chức để nhân dân thảo luận, tham gia vào các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ chuyên môn… của chính quyền trước khi HĐND, UBND ra quyết định như: dự án quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn, hàng năm của
xã, phường; dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, khu dân cư; định canh, định cư; chủ trương, phương án đền bù giải phóng mặt bằng
Quá trình phối hợp của Ủy ban mặt trận tổ quốc xã và ban công tác mặt trận với chính quyền, với trưởng thôn, tổ trưởng dân phố để thực hiện QCDC được lồng ghép nội dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” nhằm xây dựng cơ chế chỉ đạo và phối hợp, thống nhất trong hệ thống chính trị cơ sở Ví dụ: xây dựng cơ chế tổ chức để nhân dân thực hiện quyền được thông tin nhằm nâng cao dân trí về pháp luật; cơ chế tổ chức để dân bàn và quyết định trực tiếp những loại quan hệ trực tiếp đến đời sống nhân dân nhằm nâng cao dân sinh; chế độ tự quản của dân ở khu dân cư Từ đó hình thành các quy chế về mối quan hệ công tác giữa tổ chức của MTTQ Việt Nam với chính quyền và các chức danh ở thôn, tổ dân phố Một việc quan trọng khác là mặt trận xã, phường và ban công tác mặt trận vận động dân thực hiện và giám sát việc thực hiện quy chế
tổ chức thu, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân cho đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng ở xã, quy chế công khai tài chính đối với ngân sách nhà nước các cấp và các quỹ có nguồn thu từ các khoản đóng góp của dân
1.2.2.3 Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã, phường, thị trấn giám sát việc thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở
Căn cứ vào nội dung quy chế hoạt động giám sát gồm 3 phương thức: Thứ nhất,
Trang 30hoạt động giám sát trực tiếp của dân đối với toàn bộ các hoạt động của chính quyền nhằm đảm bảo quyền làm chủ của dân nhất là những quyền dân chủ trực tiếp Thứ hai, hoạt động giám sát của ban thanh tra nhân dân theo quy định của Luật Thanh tra, và quy định của Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn Thứ ba, hoạt động giám sát của
Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên trong quá trình xây dựng và thực hiện QCDC
Nội dung giám sát bao gồm các lĩnh vực sau: 1) Giám sát hoạt động của HĐND, UBND; 2) Giám sát hoạt động của đại biểu HĐND, các thành viên của UBND và cán bộ xã, phường trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; 3) Giám sát việc thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở
Các hình thức giám sát là:
- Thông qua việc phối hợp với chính quyền trong quá trình tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở
- Thông qua việc tham gia các kỳ họp HĐND, UBND
- Thông qua việc tham gia các hội đồng, ban chỉ đạo ở địa phương
- Thông qua việc tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước của nhân dân
- Thông qua tiếp dân, thu thập ý kiến, kiến nghị của nhân dân
- Thông qua tổ chức, chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân
Mặt trận thực hiện quyền giám sát của mình, đồng thời chỉ đạo hoạt động giám sát của ban thanh tra nhân dân trong quá trình thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ở xã, phường, thị trấn theo các nội dung trong bản pháp lệnh dân chủ ở cơ sở và theo quy định của Luật Thanh tra
Hoạt động giám sát của mặt trận và của ban thanh tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn, với mục đích là góp phần xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, làm cho bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động ngày càng có hiệu lực và hiệu quả để quản lý tốt mọi mặt của đời sống xã hội theo pháp luật nhà nước, thể hiện được quyền lực của nhân dân
Trang 31Nội dung giám sát của mặt trận có tính bao trùm, giám sát của ban thanh tra nhân dân là giám sát trực tiếp khi thực hiện các công việc cụ thể do các ban quản lý công trình tổ chức xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi, giám sát các việc thu chi các loại quỹ do dân đóng góp, giám sát việc sử dụng và quản lý đất đai, giám sát kết quả giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng …Hoạt động giám sát của thanh tra nhân dân phải tuân theo quy định của pháp luật về thanh tra, trong đó
đã quy định quyền hạn, nhiệm vụ của thanh tra nhân dân Mặt trận xã, phường phải
tổ chức và chỉ đạo hoạt động của thanh tra nhân dân, bồi dưỡng kỹ thuật, nghiệp vụ cho các ủy viên thanh tra, theo dõi các hoạt động cụ thể của thanh tra nhân dân để phê duyệt một cách chính xác những kiến nghị của thanh tra nhân dân, hướng hoạt động của thanh tra nhân dân theo đúng quy định của pháp luật
Quá trình giám sát việc thực hiện quyền làm chủ ở cơ sở, mặt trận và các tổ chức thành viên của mặt trận phát hiện những việc làm trái pháp luật, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xử
lý Ở cơ sở thì ban thanh tra nhân dân kiến nghị với thủ trưởng cơ quan, Chủ tịch UBND xã xem xét giải quyết và xử lý Điều cốt yếu của hoạt động giám sát của mặt trận là phát hiện những lệch lạc, những vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm ngay từ đầu để góp ý kiến cụ thể với người có thẩm quyền hoặc người có trách nhiệm thi hành nhiệm vụ, với các cấp ủy Đảng để tìm cách khắc phục và ngăn chặn sự vi phạm, không để khi xảy ra sự việc mới đề nghị thanh tra xử lý Giám sát là để thực hiện tốt hơn quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân, giám sát giúp cho chính quyền, cán bộ, công chức nhà nước thi hành đúng chính sách pháp luật, phát hiện sớm những vi phạm có thể xảy ra hoặc bắt đầu xảy ra để kịp thời khắc phục Tuy nhiên
đã xảy ra vi phạm thì mặt trận, ban thanh tra nhân dân phải kiến nghị giải quyết xử
lý và thông báo công khai để nhân dân biết, đồng thời tiếp tục giám sát việc thực hiện các kiến nghị đó để bảo đảm hiệu quả giám sát
1.2.2.4 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phường, xã cùng với ban công tác mặt trận
ở thôn, tổ dân phố trực tiếp tham gia thực hiện QCDC ở cơ sở và các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở có liên quan
Trang 32Ban công tác mặt trận là những tế bào của MTTQ; là nơi trực tiếp tổ chức vận động nhân dân, các hộ gia đình và người dân; nắm tâm tư nguyện vọng, kiến nghị của các tầng lớp nhân dân trong thôn, tổ dân phố; giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật; hòa giải mâu thuẫn trong nhân dân
Ủy ban mặt trận Tổ quốc phường, xã có nhiệm vụ hướng dẫn các ban công tác mặt trận phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND, chương trình hành động của MTTQ các cấp; động viên nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức nhà nước; tổ chức hội nghị nhân dân thảo luận và quyết định các công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân cư để nâng cao dân sinh, dân trí, giữ gìn trật tự an ninh, an toàn xã hội; bàn biện pháp tham gia xây dựng chính quyền địa phương theo chương trình của phường, xã và thôn, tổ dân phố; mở rộng và nâng cao chất lượng các hình thức tự quản của dân ở địa bàn dân cư theo quy định của pháp luật về những công việc mang tính xã hội Ủy ban mặt trận Tổ quốc phường, xã khảo sát các ban công tác Mặt trận ở địa phương mình để bổ khuyết nhằm kiện toàn, củng cố ban công tác mặt trận; bồi dưỡng kiến thức công tác Mặt trận cho Trưởng Ban công tác Mặt trận đáp ứng yêu cầu thực hiện Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở cấp xã và các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở có liên quan Trên cơ sở các nhiệm vụ của Mặt trận tham gia tổ chức thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở
sơ sở, sau một thời gian triển khai thực hiện ở địa phương, Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ phường, xã cần xây dựng quy chế phối hợp công tác với HĐND, UBND để việc tổ chức thực hiện các nội dung của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ và các văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở có liên quan thành chương trình, kế hoạch hoạt động của xã, phường
Dân chủ là một quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Ở nước ta hiện nay, dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vì cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất Do vậy,
Trang 33việc Ủy Ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là một bước đột phá quan trọng trong việc hoàn thiện pháp luật thực hiện dân chủ nhằm hiện thực bản chất hóa dân chủ của Nhà nước ta Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở cấp xã là văn bản pháp luật cụ thể hoá quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, quy định những biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở, nhằm phát huy nội lực và sức sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên - những tổ chức của nhân dân - là bộ phận trong hệ thống chính trị nước ta có vai trò hết sức quan trọng và mang tính quyết định trong việc tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong hội viên, đoàn viên và nhân dân, làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng quyền, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức chính trị - xã hội đã được quy định trong Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; phối hợp với chính quyền trong việc thực hiện và giám sát thực hiện Pháp lệnh đạt hiệu quả cao
Trang 34
Kết luận chương 1
Dân chủ là một thể chế do dân làm chủ và dân chủ trước hết là chế độ chính trị trong đó quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, do nhân dân thực thi, tự bản thân thực thi hoặc thông qua các đại biểu mà mình bầu ra Dân chủ là một chính quyền của dân, do dân và vì dân Ở nước ta hiện nay, dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa vô cùng
to lớn, vì cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất
Sự ra đời của Quy chế dân chủ ở cơ sở (nay là Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở) là một bước đột phá quan trọng trong việc hiện thực hóa bản chất dân chủ của Nhà nước ta Pháp lệnh dân chủ là văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, quy định những biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân
ở cơ sở, nhằm phát huy nội lực và sức sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên - những tổ chức của bản thân nhân dân - là bộ phận trong hệ thống chính trị nước ta có vai trò hết sức quan trọng
và mang tính quyết định trong việc tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong hội viên, đoàn viên và nhân dân quy chế dân chủ ở cơ sở; làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ công dân, quyền của các tổ chức chính trị - xã hội đã được quy định trong pháp lệnh dân chủ; phối hợp với chính quyền trong việc thực hiện pháp lệnh dân chủ và giám sát thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cơ sở
Trang 35Chương 2 MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THỊ XÃ SƠN TÂY,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ
DÂN CHỦ CƠ SỞ - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây
Thị xã Sơn Tây từng là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Sơn Tây trước đây Trong quá trình hình thành và phát triển, Sơn Tây
đã trải qua nhiều lần thay đổi địa giới và tổ chức hành chính, nhiều lần chia tách và sáp nhập, thị xã tiếp tục khẳng định vai trò là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa khu vực phía tây bắc của tỉnh Hà Tây cũ, nay là thành phố Hà Nội
Hai sự kiện có tính mốc giới quan trọng, liên quan đến địa giới hành chính của thị Sơn Tây cho đến hiện nay là Nghị định 23/2008/NĐ - CP và Nghị quyết số 15/NQ-QH của Quốc hội khóa XII ngày 1/8/2008
Ngày 01/3/2008, Chính phủ ra Nghị định số: 23/2008/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập phường Trung Hưng, phường Viên Sơn và phường Trung Sơn Trầm Thành phố Sơn Tây sau điều chỉnh gồm 9 phường và 6 xã
Ngày 1/8/2008, thực hiện Nghị quyết số 15/NQ-QH của Quốc hội khóa XII, thị xã Sơn Tây cùng với toàn bộ các huyện của tỉnh Hà Tây sáp nhập vào thành phố
Hà Nội Đây là một sự kiện hết sức trọng đại đối với Đảng bộ và nhân dân thị xã Đây là lần thứ hai Sơn Tây trở thành một đơn vị hành chính của Thủ đô Hà Nội Đến nay, thị xã Sơn Tây có 15 đơn vị hành chính (gồm 9 phường, 6 xã)
- Về điều kiện tự nhiên
Thị xã Sơn Tây có tọa độ địa lý 210 vĩ Bắc, 1050 kinh Đông, thuộc vùng trung
du Bắc Bộ; phía bắc thị xã có sông Hồng là địa giới tự nhiên với tỉnh Vĩnh Phúc, phía tây giáp huyện Ba Vì, phía đông giáp huyện Phúc Thọ, phía nam giáp huyện Thạch Thất Thị xã có nhiều đường giao thông thuỷ (sông Hồng, sông Tích), bộ
Trang 36(Quốc lộ 32, Quốc lộ 21A, Tỉnh lộ 414, 413) đi qua tạo nên vị trí như “chiếc cầu nối” giữa các huyện của tỉnh Hà Tây (cũ), nay là Thủ đô Hà Nội với các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ, Việt Bắc, Tây Bắc Do vậy, Sơn Tây có vị trí rất thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế
Một trong những lợi thế quan trọng là Sơn Tây chỉ cách trung tâm Hà Nội 42
km về phía tây, được quy hoạch thuộc một trong năm chuỗi đô thị vệ tinh của Thủ
đô tạo nên thuận lợi đặc biệt trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội của thị xã, trong đó có phát triển du lịch và dịch vụ du lịch Hiện tại, đường cao tốc Láng - Hòa Lạc đã mở rộng tạo nên sự liên kết giữa Hà Nội với khu công nghệ cao Hòa Lạc, Trường Đại học Quốc gia, Làng Văn hóa Du lịch các dân tộc Việt Nam và thị xã Sơn Tây Đặc biệt việc đầu tư nâng cấp Quốc lộ 21A, đường tránh 32m cầu Vĩnh Thịnh, đường Hoàng Quốc Việt kéo dài, dự án tiếp nước, cải tạo sông Tích sẽ tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế thị xã, nhất là đối với ngành kinh tế du lịch
Sơn Tây là vùng đất bán sơn địa, trong đó ¾ diện tích là đồi gò nối liền với vùng núi Ba Vì Khu vực từ nội thị đến đê sông Hồng là vùng đồng bằng tương đối màu mỡ do thường xuyên được phù sa bồi đắp chỉ chiếm ¼ diện tích Do vậy, thị xã
có thế mạnh về phát triển nông nghiệp đồi gò, trang trại và sản xuất cây màu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, Sơn Tây có đặc điểm chung của vùng là mùa đông lạnh, ít mưa, mùa hè nóng, mưa nhiều, ít chịu ảnh hưởng của bão Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 22 độ C - 23,3 độ C, lượng mưa trung bình năm là
1500 - 1800 mm Độ ẩm tương đối, trung bình từ 80-85% Đặc điểm khí hậu này tạo thuận lợi để thị xã phát triển nền kinh tế nông nghiệp nhiệt đới và phát triển chuyên canh cây vụ đông có giá trị kinh tế cao
- Về sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội
Theo quy hoạch chung của thành phố Hà Nội, thị xã Sơn Tây nằm trong chuỗi
đô thị Miếu Môn - Xuân Mai - Hoà Lạc - Sơn Tây, được xác định là đô thị vệ tinh của Thủ đô có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của Thủ đô Hà Nội, cung cấp và đáp ứng nguồn nhân lực, dịch vụ chất lượng cao cho Thủ đô như
Trang 37vui chơi giải trí, du lịch, ẩm thực, lương thực, thực phẩm Trong những năm gần đây, thị xã đang có những bước phát triển vững chắc, tiếp tục thu hút các dự án phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng theo hướng văn minh, hiện đại mang tầm vóc của một đô thị du lịch, dịch vụ, công nghiệp phát triển bền vững
Theo thống kê, năm 2016, thị xã Sơn Tây có 15 đơn vị hành chính gồm: 145 thôn, khu phố với tổng số 30.884 hộ, 131204 khẩu và có khoảng hơn 50 nghìn học sinh, sinh viên các trường chuyên nghiệp, học viên các trường quân đội Trên địa bàn thị xã hiện có 30 đơn vị quân đội, 122 công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đang hoạt động; trong đó có 53 cơ quan, doanh nghiệp trực thuộc Trung ương, thành phố Hà Nội Thị xã có Toà Giám mục Hưng Hoá quản lý giáo phận 10 tỉnh phía Bắc Số người theo đạo Thiên chúa giáo có trên 2.000 người, số tín đồ phật tử khoảng trên 7.000 người
Sơn Tây đã có một nền kinh tế tương đối phát triển Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại: giá trị ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 48%, ngành dịch vụ, du lịch chiếm 42%, ngành nông - lâm nghiệp – thủy sản chiếm 10% Giá trị tăng thêm bình quân đầu người đạt 21 triệu đồng/người/năm Sơn Tây đã đầu tư xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất tương đối hiện đại phục vụ cho phát triển kinh tế
- xã hội như: hệ thống đường giao thông, điện, bưu chính viễn thông, nhà hàng, khách sạn, siêu thị…
Thị xã Sơn Tây không những là trung tâm kinh tế - văn hoá - xã hội của cả vùng mà còn là trung tâm đào tạo, huấn luyện quân đội của cả nước, có vị trí hết sức quan trọng về an ninh, quốc phòng, góp phần xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc phía Tây của thủ đô Hà Nội
Trên địa bàn thị xã, hệ thống giáo dục phổ thông tương đối phát triển, đồng thời
có nhiều trường đại học và cao đẳng phục vụ phát triển giáo dục và đào tạo
Thị xã Sơn Tây là một đô thị cổ của vùng đất Xứ Đoài ngàn năm văn hiến, có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, là vùng đất địa linh, nhân kiệt Nơi đây đã sinh ra nhiều vị anh hùng dân tộc, anh dũng, bất khuất chống giặc góp phần làm rạng danh cho non sông đất nước Đất và người Sơn Tây gắn liền với truyền thống
Trang 38lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Từ thế kỷ VIII, Phùng Hưng (Bố Cái đại Vương) đã dấy binh, phất cờ khởi nghĩa tại vùng đất này, chỉ huy đánh tan ách
đô hộ của nhà Đường, giải phóng thành Tống Bình, gây dựng nền độc lập, tự chủ cho dân tộc Thế kỷ thứ X, Ngô Quyền đã rèn luyện võ nghệ, chiêu mộ quân sĩ ở đây, theo Đương Đình Nghệ xây dựng chính quyền họ Khúc, lập nên chiến công Bạch Đằng hiển hách năm 938, chấm dứt 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra thời đại độc lập, tự chủ cho dân tộc (Ngô Quyền được nhà bác học Lê Quý Đôn và giới sử học Việt Nam đương đại tôn vinh là "Ông tổ phục hưng quốc gia - dân tộc Việt Nam")
Vì vậy, đây còn được gọi là “Ấp hai vua” Sơn Tây không chỉ là đất võ mà còn là
nơi sinh ra những văn tài thao lược, ngoại giao dũng cảm “Đi sứ mà chẳng làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng thiên cổ”, đó là Thám hoa Giang Văn
Minh (1582 - 1639) với câu đối bất hủ đối lại Vua Minh
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Sơn Tây (số liệu tính đến tháng 12/2015)
2.1.2.1.Ủy ban MTTQ Việt Nam thị xã Sơn Tây do Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam thị xã hiệp thương dân chủ bầu ra, là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ đại hội; bao gồm: Người đứng đầu các tổ chức thành viên cùng cấp; Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp dưới trực tiếp; một số cá nhân tiêu biểu trong các tổ chức, các giai cấp, các tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của MTTQ Việt Nam; một số cán bộ chuyên trách ở cơ quan Ủy ban MTTQ Việt Nam thị xã Tổng số Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam thị xã Sơn Tây là 61 thành viên Cơ cấu, thành phần như sau:
* Thành phần:
- Đại diện các tổ chức thành viên: 19 người
- MTTQ cấp dưới: 15 người
- Chuyên gia các ngành: 08 người
- Doanh nghiệp, thành phần kinh tế: 06 người
- Cá nhân tiêu biểu: 07 người
- Cán bộ chuyên trách MTTQ thị xã: 06 người
Trang 39* Cơ cấu:
- Nữ: 13 người ( 21,3%)
- Dân tộc ít người: 02 người ( 3.3%)
- chức sắc tôn giáo: 03 người ( 4.9%)
- Người ngoài đảng: 16 người ( 26.2%)
- Chính trị: + Cao cấp: 13 người (21,3%)
+ Trung cấp: 19 người (31.1%) + Sơ cấp: 10 người ( 16,4%)
2.1.2.2 Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thị xã do Ủy ban MTTQ Việt Nam thị xã hiệp thương dân chủ cử ra trong số Ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam thị xã Ban Thường trực có Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và 03 Ủy viên Thường trực, là cơ quan đại diện của Ủy ban MTTQ Việt Nam thị xã ( Chủ tịch Ủy ban MTTQ thị xã là Thường
vụ Thị ủy; 01 Phó Chủ tịch là Ủy viên Ban chấp hành thị ủy)
+ Đại học: 04
- Trình độ lý luận chính trị: + Cao cấp: 03
+ Trung cấp: 02 + Sơ cấp: 01
Ban Thường trực có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các hội nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;
Trang 40- Tổ chức thực hiện nghị quyết, chương trình phối hợp và thống nhất hành động hằng năm, sáu tháng của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình và các chủ trương công tác của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp trên; chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Uỷ ban nhân dân có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam;
- Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với cấp uỷ đảng, chính quyền, Ban Thường trực cấp trên trực tiếp Thay mặt Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam góp ý kiến, kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương về việc thực hiện các chính sách, pháp luật tại địa phương Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức nhà nước;
- Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp;
- Xem xét công nhận việc cử, bổ sung hoặc thay thế chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp dưới trực tiếp;
- Tổ chức, chỉ đạo, quản lý bộ máy giúp việc cơ quan Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;
- Giữ mối quan hệ phối hợp công tác với cơ quan nhà nước, các tổ chức thành viên;
- Hướng dẫn, bảo đảm điều kiện hoạt động của các tổ chức tư vấn, cộng tác viên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình;
- Ban hành quyết định, thông tri, quy chế phối hợp công tác và kiểm tra thực hiện các văn bản đó;
- Xét, quyết định khen thưởng, kỷ luật
2.1.2.3 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường: gồm có 15 Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, phường là đơn vị cấp dưới trực tiếp của Ủy ban MTTQ Việt Nam thị xã Sơn Tây (9 phường, 6 xã ) Tổng số Ủy viên ủy ban MTTQ Việt Nam