1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỘI NHẬP QUỐC TẾ - THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

23 712 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 364,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng tạo ra những tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế như: làm cho quá trình cạnh tranh trở nên gay gắt, có thể dẫn đến nguy cơ phá sản của các doanh ng

Trang 1

HỘI NHẬP QUỐC TẾ - THÀNH TỰU, HẠN CHẾ

VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia bởi vì hội nhập quốc tế làm tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của mỗi quốc gia nhờ mở rộng thị trường hàng hoá và dịch vụ; tạo điều kiện làm tăng khả năng thu hút nguồn vốn trực tiếp và gián tiếp từ bên ngoài nhờ môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước được cải thiện; thúc đẩy nền kinh tế chuyển dịch

cơ cấu theo hướng hợp lý nhằm khai thác các tiềm năng, thế mạnh của mỗi quốc gia; đổi mới và hoàn thiện thể chế chính trị, kinh tế, luật pháp, chế độ quản lý ở mỗi quốc gia; thúc đẩy quá trình tự do hoá thương mại, đầu tư, chuyển giao công nghệ và càng thúc đẩy xu hướng toàn cầu hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế - xã hội của các nước Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng tạo ra những tác động tiêu cực đối với các nền kinh tế như: làm cho quá trình cạnh tranh trở nên gay gắt, có thể dẫn đến nguy

cơ phá sản của các doanh nghiệp, ngành kinh tế làm ăn kém hiệu quả, gây thất nghiệp, dễ dẫn đến bất ổn về chính trị và xã hội; Chính phủ các quốc gia sẽ mất đi một nguồn thu ngân sách do phải cắt giảm thuế quan; đối với các nước nghèo sẽ thiếu tài chính và các nguồn lực khác cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh; dễ tạo sự phụ thuộc

Trang 2

của nước nghèo, thiếu công nghệ, vốn vào nước giàu, ảnh hưởng đến

sự độc lập dân tộc của các quốc gia yếu thế; Các giá trị đạo đức truyền thống dễ bị xói mòn bởi văn hoá ngoại lai Với những tác động tích cực

và tiêu cực trên của hội nhập quốc tế mà gần ba mươi năm qua (từ năm

1986 đến nay) Đảng ta đã kiên định đường lối chủ động hội nhập quốc

tế để phát huy những mặt tích cực của hội nhập, hạn chế những tiêu cực nhằm đưa đất nước ta trở thành một cường quốc trong khu vực và trên thế giới

2 Quan điểm về hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước

Những quan điểm về hội nhập của Việt Nam đã được xác định trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và được Chính phủ Việt Nam cụ thể hóa trong các văn bản luật và dưới luật, có thể điểm qua những tiến triển trong quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập quốc tế như sau:

Trước 1986 quan điểm hội nhập của Đảng đã được thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng IV và V, nhưng chủ yếu là hội nhập vào cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa với tổ chức Hội đồng tương trợ kinh tế châu Âu Tuy nhiên, khối cộng đồng kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa dựa trên phân công lao động giữa các nước trong khối và việc trao đổi hàng hóa không dựa trên nguyên tắc thị trường, không chịu sức ép của

sự cạnh tranh gay gắt của quy luật thị trường Do trình độ công nghệ

và quy mô sản xuất của Việt Nam chưa cao nên mức độ và quy mô hội nhập của Việt Nam vào khối các nước XHCN chưa sâu và chưa toàn diện Việc hội nhập vào cộng đồng quốc tế còn hạn chế vì đây là thời gian chiến tranh lạnh giữa hai khối: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa nên Việt Nam khó hội nhập vào cộng đồng quốc tế Vì vậy, thực tiễn của đất nước đòi hỏi phải hội nhập quốc tế sâu rộng hơn

Tại Đại hội Đảng lần VI (1986), trên tinh thần đổi mới tư duy kinh

tế, cải cách mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Chúng ta cần tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới về hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việc

Trang 3

phân công và hợp tác trong Hội đồng tương trợ kinh tế, đồng thời tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước khác” [2, tr.78].

Trên cơ sở tinh thần đổi mới của Đại hội VI, Đại hội VII (1991) của Đảng đã tiếp tục khẳng định đường lối mở rộng quan hệ quốc tế với việc đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam Trong Đại hội này, Đảng đã đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 (1991 - 2000)” và đưa ra đường lối đối ngoại độc lập

tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá theo tinh thần: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” [2, tr.288]

Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã tiếp nối đường lối mở rộng quan hệ quốc tế của Đại hội VII khi khẳng định quan điểm: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá,

đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp bằng thương lượng” [2, tr.365-366]

Quan điểm đường lối hội nhập được nâng lên khi Đảng chủ trương phải chủ động hội nhập để có thể chủ động phát huy những thuận lợi, nắm bắt thời cơ do hội nhập mang lại và chủ động khắc phục những hạn chế, thách thức của hội nhập, trên tinh thần đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001) đã khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy cao độ nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường [2, tr.483] Bộ Chính trị khoá IX đã có Nghị quyết 07-NQ/TW triển khai tinh thần Nghị quyết Đại hội IX về

Trang 4

chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg về chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị Đồng thời vào tháng 02/2003 Chính phủ đã chủ trương các hoạt động ngoại giao phải phục vụ phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại (Nghị định 08/2003/NĐ-CP về công tác ngoại giao phục vụ kinh tế) Vào ngày 05/2/2007 Ban chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết 08/NQ/TW về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới”.

Tiếp tục thực hiện đường lối chủ động và tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế, Đại hội Đảng toàn quốc lần X (2006) đã xác định Việt Nam

là bạn và là đối tác của các nước trong khu vực và trên thế giới: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” [2, tr.650 - 651]

Cùng với quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa diễn ra trong khu vực

và trên phạm vi toàn thế giới thì quá trình hội nhập cũng ngày càng sâu sắc, toàn diện, đa dạng đối với mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, vì vậy, Đảng ta đã khẳng định phải chủ động hội nhập quốc tế chứ không chỉ hội nhập kinh tế quốc tế Đây được xem là quan điểm mới của Đảng và Nhà nước trước xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trên tinh thần đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần XI (2011) đã đề ra đường lối hội nhập quốc tế: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” Và Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành một nghị quyết riêng để thúc đẩy toàn đảng, toàn dân tiến hành chủ động hội nhập quốc tế một cách tích cực và có hiệu quả đó là Nghị quyết số 22-NQ/ TW ngày 10 tháng 4 năm 2013 về “Chủ động hội nhập quốc tế”

Trang 5

3 Kết quả quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam

3.1 Quá trình bình thường hóa, hội nhập vào các tổ chức khu vực và thế giới

Trước 1986 hội nhập quốc tế của Việt Nam chủ yếu chỉ hội nhập vào khối Cộng đồng kinh tế Châu Âu (SEV) thuộc Liên Xô và các nước

xã hội chủ nghĩa Đông Âu Tuy nhiên, ngay sau khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế bắt đầu từ Nghị Quyết Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam đã tìm mọi cách để mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, tăng cường trao đổi thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài, ký kết nhiều hiệp định song phương, đa phương liên quan đến hội nhập quốc tế, cụ thể là:

- Tháng 10/1993, Việt Nam đã thiết lập quan hệ bình thường với

IMF, WB, ADB Các nhà tài trợ quốc tế thông qua Câu lạc bộ Paris và Câu lạc bộ London đã cam kết cho Việt Nam vay ưu đãi và thảo luận việc xóa các khoản nợ cho Việt Nam

- Tháng 10/1994, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập ASEAN và tháng

7/1995 Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, chấp

nhận các nguyên tắc, quy định của tổ chức kinh tế khu vực này

- Tháng 12/1994 Việt Nam đã gửi đơn xin gia nhập WTO và tháng 01/1995 WTO chính thức nhận đơn xin gia nhập của Việt Nam để tiến hành đàm phán cụ thể

- Tháng 6/1996 Việt Nam tham gia thành lập Diễn đàn hợp tác Á

- Âu (ASEM) ASEM là một diễn đàn đối thoại không chính thức hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận, cùng nỗ lực tạo dựng một mối quan

hệ đối tác mới toàn diện giữa Á - Âu vì sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn của hai khu vực

- Tháng 11/1998 Việt Nam đã chính thức được kết nạp và trở thành

thành viên APEC APEC là diễn đàn kinh tế đầu tiên trong khu vực

Châu Á - Thái Bình Dương bao gồm 21 nền kinh tế thành viên, trải ra trên bốn lục địa, đại diện cho hơn 1/3 dân số trên thế giới (khoảng 2,5

tỷ người), trên 50% GDP và khoảng 47% thương mại thế giới APEC

Trang 6

được thành lập nhằm mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong các nền kinh tế thành viên, tăng cường tinh thần cộng đồng và các mối liên

hệ trong khu vực vì sự thịnh vượng của nhân dân toàn khu vực

- Ngày 13/7/2000 đại diện Chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký hiệp định thương mại song phương (BTA) tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai nước

- Đánh dấu quá trình mở cửa kinh tế, chủ động hội nhập sâu, rộng vào khu vực và thế giới là việc kết thúc 11 năm đàm phán song phương,

đa phương với quyết định kết nạp Việt Nam vào WTO ngày 7/11/2006

và chính thức có hiệu lực vào 07/1/2007 sau khi Quốc hội Việt Nam phê chuẩn để Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới hiện nay

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong gần ba thập niên qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc mở rộng quan hệ kinh tế song phương và đa phương; thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 181 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó, có tất cả các nước lớn như: Mỹ, EU, Nhật, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ…; có quan hệ kinh

tế - thương mại với trên 160 nước và 70 vùng lãnh thổ; bình thường hoá quan hệ với các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế; thu hút được một lượng đáng kể vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Ngoài ra, để đẩy mạnh quá trình hội nhập một cách chủ động tích cực, Việt Nam đã tham gia và ký kết các hiệp định tự do thương mại song phương (FTA) với các đối tác trong khu vực và trên thế giới trong khuôn khổ WTO như: FTA ASEAN; FTA giữa ASEAN với từng đối tác Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc, New Zealand, Trung Quốc, Nga và Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN Từ năm 2010 Việt Nam tham gia đàm phán với các đối tác trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự

do xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 12 nước trong APEC với hy vọng TPP sẽ được ký kết vào năm 2014

Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần phải tỉnh

Trang 7

táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập

để từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng được các quy định của các tổ chức quốc tế mà nước ta tham gia ký kết, tranh thủ những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh

tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường; kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh quốc phòng, thông qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước

3.2 Kết quả hoạt động của một vài lĩnh vực kinh tế đối ngoại trong quá trình hội nhập quốc tế

3.2.1 Về hoạt động thương mại quốc tế

Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã tăng lên hàng năm Nếu

như kim ngạch xuất khẩu năm 1992 chỉ có 2,58 tỷ USD thì đến năm

2011 đã tăng lên 96,905 tỷ USD (tăng 40 lần) Thời kỳ 1990-2000 tốc

độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân là 19,67%, cao gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế 7,26% Trong giai đoạn 2001-2005 tốc độ tăng trưởng xuất khẩu là 17,5% vượt mức chỉ tiêu Đại hội IX đề ra (kế hoạch là 16%/năm) Trong giai đoạn 2006-2011, tăng trưởng xuất khẩu trung bình là 21%, cao hơn nhiều so với các giai đoạn trước đó Với tốc độ phát triển nhanh của thương mại quốc tế, mức độ mở cửa nền kinh tế nước ta ngày càng tăng Đây cũng là thước đo mức độ hội nhập quốc tế của Việt Nam

Tuy nhiên, nhìn chung quy mô xuất khẩu của nước ta vẫn còn nhỏ

bé và chưa đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế Qua gần

30 năm thực hiện chính sách thương mại quốc tế chỉ có 3 năm là Việt Nam xuất siêu (năm 1992 xuất siêu 40 triệu USD; năm 2012 xuất siêu

748 triệu USD và dự kiến năm 2013 xuất siêu gần 1 tỷ USD) còn lại nước ta luôn trong tình trạng nhập siêu Tỷ lệ nhập siêu trung bình trong giai đoạn 1986-1990 là 80% so với kim ngạch xuất khẩu, tỷ lệ nhập siêu cao nhất trong giai đoạn này là năm 1987 đạt đến 187%; giai đoạn

Trang 8

1991-1995 là 33%; giai đoạn 1996-2000 là 20%; giai đoạn 2001-2005

là 17% và giai đoạn 2006-2010 là 22% Như vậy, xét theo từng giai đoạn thì tỷ lệ nhập siêu của Việt Nam có xu hướng giảm, phù hợp với

xu hướng phát triển của nền kinh tế, nhất là trong những năm gần đây

đã xuất hiện trạng thái xuất siêu, mặc dù còn nhiều tranh luận của các nhà kinh tế xung quanh trạng thái này (Xem bảng 2.1)

Hai là, cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đã có sự thay

đổi so với trước Các mặt hàng công nghiệp chế tạo, chế biến có giá trị kim ngạch xuất khẩu ngày càng gia tăng Nếu vào năm 1997 Việt Nam chủ yếu chỉ xuất khẩu sản phẩm thô (dầu thô, thuỷ, hải sản, gạo, v.v…) chưa xuất khẩu được hàng công nghiệp chế tạo, chế biến như điện tử, máy vi tính, v.v… thì vào năm 2011 Việt Nam đã xuất khẩu được trên 4,6 tỷ USD, năm 2012 tăng lên trên 7,8 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu những loại hàng hoá này Riêng mặt hàng điện thoại di động và các linh kiện điện thoại di động có mức tăng trưởng kim ngạch đáng ngạc nhiên, năm 2005 chỉ có hơn 40 triệu USD kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này, nhưng vào năm 2012 đã đạt mức 12,7 tỷ USD và năm 2013 ước đạt trên

21 tỷ USD Tuy nhiên, nhìn chung cơ cấu hàng hoá xuất khẩu thay đổi chậm, hàng xuất khẩu chủ yếu đại bộ phận là ở dạng lắp ráp, sơ chế Đồng thời khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam vẫn còn rất yếu trên thị trường thế giới và khu vực (xem bảng 2.2)

Ba là, thị trường xuất khẩu của Việt Nam ngày càng mở rộng với

trên 86 quốc gia và vùng lãnh thổ chủ yếu trên thế giới Trong đó, thị trường khu vực các nước ASEAN có tổng kim ngạch xuất khẩu năm

2012 đạt khoảng 17,3 tỷ USD, thị trường khu vực các nước EU có tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 20,3 tỷ USD và khu vực APEC năm 2011 đạt 65,1 tỷ USD [10, tr 531-532] Tuy nhiên, nhìn chung thị trường hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn manh mún, vụn vặt, có thị trường chỉ đạt vài chục triệu USD một năm như: Brunei vào năm 2012 kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 16 triệu USD; Kuwait chỉ đạt 29 triệu USD; Bulgaria chỉ đạt 37 triệu USD; Cộng hòa Síp chỉ đạt 17,7 triệu USD, v.v [10, tr 531-532]

Trang 9

Bốn là, ngày càng có nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần

kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu Trong đó, khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài có tỷ lệ xuất khẩu cao nhất Chẳng hạn trong năm 2010 kim ngạch xuất khẩu của khu vực này chiếm 54,2% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đạt trên 39,1 tỷ USD; năm 2011 khu vực này chiếm 56,9%, đạt trên 55,1 tỷ USD; năm 2012 khu vực này chiếm 63,1%, đạt trên 72,2 tỷ USD [10 tr 530] và dự kiến trong năm 2013 kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng cao nhất, chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu Tuy nhiên, trong khi kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ bé, nhưng lại có quá nhiều doanh nghiệp tham gia xuất khẩu dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước

Bảng 2.1 Tình hình xuất, nhập khẩu của Việt Nam 1992-2013

Kim ngạch XK

(triệu USD)

Tốc độ tăng trưởng XK (%)

Kim ngạch NK (triệu USD)

Tốc độ tăng trưởng NK (%)

Cán cân thương mại quốc tế (triệu USD

Trang 10

Nguồn: Tổng Cục Thống kê (2012), Niên giám thống kê Việt Nam năm 2011.

Tổng Cục Thống kê (2013), Niên giám thống kê Việt Nam năm 2012 Tổng Cục Thống kê (2014), Niên giám thống kê Việt Nam năm 2013.

Bảng 2.2 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam từ 2005-2012 Mặt hàng 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012

Dầu thô (triệu USD) 7.373,5 8.312,0 8.487,6 10.356,8 6.194,5 5.023,5 7.241,5 8.211,9 Dệt may (triệu USD) 4.772,4 5.854,8 7.732,0 9.120,5 9.065,6 11.209,8 14.043,3 15.090,2 Giầy dép (triệu USD) 3.038,8 3.595,9 3.999,5 4.769,9 4.071,3 5.123,3 6.549,3 7.261,9 Thủy sản (triệu USD) 2.732,5 3.358,0 3.763,4 4.510,1 4.255,3 5.016,9 6.112,4 6.088,5 Gạo (triệu USD) 1.408,4 1.275,9 1.490,2 2.895,9 2.666,1 3.249,5 3.656,8 3.672,8

Cà phê (triệu USD) 740,3 1.217,2 1.916,7 2.113,8 1.730,6 1.851,4 2.752,4 3.672,8 Điện tử máy tính (triệu

(triệu USD) 518,2 705,7 882,3 1.009,0 891,8 1.316,0 443,6 618,8

Ba lô, túi, cặp, ví, mũ, ô

dù (triệu USD) 470,9 502,1 627,1 773,1 824,1 985,5 1.384,8

Hạt điều (triệu USD) 503,1 503,9 645,1 915,8 849,7 1.136,9 1.473,1 1.470,3

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2009, tr.457-460;

Niên giám thống kê 2011, tr 495-496; Niên giám thống kê 2012, tr 534-535

Về tình hình hoạt động nhập khẩu, trong những năm qua khi

thực hiện chính sách nhập khẩu, Việt Nam luôn tuân thủ nguyên tắc

Trang 11

nhập khẩu để phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của sản xuất và cá nhân, nhất là phục vụ sản xuất hàng hóa xuất khẩu Do đó, kim ngạch nhập khẩu luôn tăng qua các năm để đảm bảo phục vụ cho tăng trưởng kinh tế Quy mô nền kinh tế càng lớn thì nhu cầu nhập khẩu càng gia tăng Nếu năm 1992, kim ngạch nhập khẩu chỉ có 2,5 tỷ USD thì đến năm 2012, kim ngạch nhập khẩu đã tăng lên đến 113,7 tỷ USD, tức tăng đến 45,4 lần và trong nhiều năm liền Việt Nam phải chịu tình trạng thâm hụt cán cân thương mại quốc tế

Bảng 2.3 Trị giá nhập khẩu hàng hóa theo bảng phân loại tiêu chuẩn ngoại

thương của Việt Nam từ 2005-2011 (ĐVT: triệu USD)

2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011

Hàng thô hoặc mới sơ chế 9.308,2 11.481,3 15.420,8 21.766,1 16.340,8 19.962,6 27.620,0

- Lương thực, thực phẩm 1.955,2 2.299,3 3.279,6 4.525,0 4.631,2 6.225,1 7.379,8

- Đồ uống và thuốc lá 175,8 145,0 183,3 269,4 341,6 292,9 318,5

- Nguyên liệu thô, không dùng để

ăn, trừ nhiên liệu 1.623,2 2.084,3 2.740,8 4.005,8 3.388,5 4.622,3 6.497,5

- Nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật

liệu liên quan 5.365,7 6.699,0 8.744,2 12.329,7 7.497,4 8.140,3 12.531,1

- Dầu, mỡ, chất béo, sáp động,

Hàng chế biến hoặc đã tinh chế 26.633,1 31.531,0 46.027,8 65.219,4 53.225,4 63.910,6 77.056,1

- Hóa chất và sản phẩm liên quan 5.309,9 6.317,4 8.368,7 10.297,8 10.225,4 12.491,3 15.550,4

- Hàng chế biến phân loại theo

nguyên liệu 10.172,2 12.164,0 17.062,3 20.112,8 17.777,4 22.449,6 25.594,5

- Máy móc, phương tiện vận tải và

phụ tùng 9.252,3 10.805,7 17.859,8 22.425,3 21.908,0 24.713,5 31.092,1

- Hàng chế biến khác 1.898,7 2.243,9 2.737,0 3.383,5 3.314,6 4.256,2 4.818,8 Hàng hóa không thuộc các nhóm

Nguồn: Tổng Cục Thống kê, Niên giám thống kê 2009, tr.461;

Niên giám thống kê 2011, tr 497; Niên giám thống kê 2012, tr 536 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam trong thời gian qua thể hiện trong Bảng 2.3 Qua đó ta thấy rằng hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng máy móc, thiết bị và nguyên, nhiên vật liệu

Ngày đăng: 06/10/2016, 23:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tình hình xuất, nhập khẩu của Việt Nam 1992-2013 - HỘI NHẬP QUỐC TẾ - THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Bảng 2.1. Tình hình xuất, nhập khẩu của Việt Nam 1992-2013 (Trang 9)
Bảng 2.2. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam từ 2005-2012 - HỘI NHẬP QUỐC TẾ - THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Bảng 2.2. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam từ 2005-2012 (Trang 10)
Bảng 2.3. Trị giá nhập khẩu hàng hóa theo bảng phân loại tiêu chuẩn ngoại - HỘI NHẬP QUỐC TẾ - THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Bảng 2.3. Trị giá nhập khẩu hàng hóa theo bảng phân loại tiêu chuẩn ngoại (Trang 11)
Bảng 2.4. Tình hình FDI tại Việt Nam từ 1988-2012 (ĐVT: triệu USD) 1. Chia theo năm (*)2 - HỘI NHẬP QUỐC TẾ - THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Bảng 2.4. Tình hình FDI tại Việt Nam từ 1988-2012 (ĐVT: triệu USD) 1. Chia theo năm (*)2 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w