1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng quan di chuyển nguồn nhân lực ở nước Việt Nam sang các nước ASEAN để phát triển khả năng

21 774 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 58,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng di chuyển nguồn nhân lực ở Việt Nam sang các nước ASEAN Chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam 1.1.2.2 Số lượng nguồn lao động chất lượng cao ở Việt Nam 1.1.2.3 Di chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam sang các nước thành viên 1.1.2.3.1 Mục đích di chuyển lao động có kỹ năng 1.1.2.3.2 Đánh giá tương quan trình độ lao động Việt Nam với một số nước thành viên

Trang 1

Mã lớp: ĐH14NL1 Số báo danh: 374

danh:1453404041377

NGUỒN NHÂN LỰC GVBM: LÊ THỊ CẨM TRANG

ĐỀ TÀI: DI CHUYỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM SANG CÁC NƯỚC

ASEAN

Tiểu luận này được hoàn thành vào ngày 19/06/2016

TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 6 NĂM 2016

Trang 2

MỤC LỤCLời mở đầu

1.1.2 Thực trạng di chuyển nguồn nhân lực ở Việt Nam sang các nước ASEAN

1.1.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam

1.1.2.2 Số lượng nguồn lao động chất lượng cao ở Việt Nam

1.1.2.3 Di chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam sang các nước thành viên

1.1.2.3.1 Mục đích di chuyển lao động có kỹ năng

1.1.2.3.2 Đánh giá tương quan trình độ lao động Việt Nam với một số nước thành viên1.2 Đánh giá

Trang 3

2.1.2 Dự báo thay đổi việc làm tại Việt Nam tầm nhìn 2025

2.1.3 Giải pháp thúc đẩy di chuyển lao động có kỹ năng của Việt Nam trong AEC 2.1.3.1 Giải pháp từ phía chính phủ

2.1.3.2 Giải pháp dành cho người lao động

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 4

Khi gia nhập vào ASEAN thì có nhiều thuận lợi cho Việt Nam trong việc hòa nhập vào cộng đồng khu vực, vào thị trường các nước Đông Nam Á tạo cơ hội hợp tác với các nước lớn và các tổ chức khu vực trên thế giới như WTO, APEC Không những thế còn giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên thế giới, mở rộng giao lưu về văn hóa với các nước trong khu vực, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút lao động cao trình độ cao của các nước khác, tiếp cận công nghệ tiên tiến trên thế giới… Năm 2015, cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập và đi vào hoạt động Cộng đồng AEC nhằm mục tiêu tạo ra một thị trường chung duy nhất và cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động qua đào tạo, từ đó nâng cao tính cạnh tranh, thúc đẩy sự thịnh vượng chung cho cả khu vực Cộng đồng AEC gồm 10 nước thành viên với hơn 620 triệu người, trong đó có

300 triệu người tham gia lực lượng lao động Ba quốc gia có số lao động chiếm tỷ trọng lớn là: In-đô-nê-xi-a (40%), Phi-li-pin (16%) và Việt Nam (15%) Theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khi tham gia vào thị trường ASEAN, số việc làm của Việt Nam đến năm 2025 có thể tăng lên 14,5% Điều này có nghĩa, Việt Nam đang

có hơn 53 triệu lao động và sẽ có thêm 14,5 triệu lao động khác tìm được việc làm vào năm 2025

Khi AEC sẽ được hiện thực hóa, hàng hóa-dịch vụ, hoạt động đầu tư, vốn và lao động có kĩ năng sẽ được tự do di chuyển giữa các nước thành viên Di chuyển tự nhiên nhân lực trong ASEAN và thỏa thuận công nhận lẫn nhau về chứng chỉ lành nghề của

Trang 5

cơ quan chính thức như: Dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ điều dưỡng, dịch vụ kiến trúc, chứng chỉ giám sát, nhân lực nghề y, nha khoa, kế toán, du lịch Theo cơ chế này, bên cạnh dòng hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư, vốn, nguồn lao động di chuyển tự do giữa các nước ASEAN là nguồn lao động có kỹ năng Đây là vấn đề được các quốc gia thành viên quan tâm do các nước đang trong thời kì dồi dào lao động Một thị trường lao động nói chung và một phân khúc thị trường lao động có trình độ cao, lao động có

kỹ năng sẽ nhanh chóng được hình thành trong AEC Việt Nam là một thành viên của ASEAN cho nên việc lao động di chuyển giữa các nước thành viên trong đó có Việt Nam là tất yếu và cũng là

cơ hội để quá trình hội nhập và cạnh tranh trên phân khúc thị trường lao động có kỹ năng Cạnh tranh trên thị trường lao động sẽ trở nên gay gắt và sự tham gia của lao động nước ngoài trên thị trường lao động Việt Nam cũng tất yếu

Xuất phát từ những thực tiễn trên nên tôi đã chọn đề tài: “Di chuyển nguồn nhân lực ở Việt Nam sang các nước ASEAN”

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu: làm rõ vấn đề di chuyển nguồn nhân lực của Việt Nam sang các nước ASEAN, phân tích và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực di chuyển để đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nước ta nhằm giúp nguồn nhân lực nước ta có thể cạnh tranh với các nước thành viên ASEAN

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao muốn di chuyển sang các nước thành viên ở Việt Nam

Phân tích chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam khi di chuyển sang các nước ASEAN

Đưa ra được số lượng nhân lực ở Việt Nam di chuyển sang các nước thành viên

Đề xuất các giải pháp trong thời gian tới

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: nguồn nhân lực chất lượng cao

Phạm vi: Không gian: Việt Nam

Trang 6

Thời gian :2014 đến nay

NỘI DUNGChương 1 Tổng quan di chuyển nguồn nhân lực ở Việt Nam sang các nước

số lượng và chất lượng ; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng sức mạnh trong cải tạo tự nhiên , cải tạo xã hội Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận nhân lực có sức khỏe đáp ứng đúng yêu cầu , được đào tạo dài hạn , có chuyên môn kỹ thuật cao , có phẩm chất đạo đức tiêu biểu , có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ , biết vận dụng sáng tạo những tri thức những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình vận động lao động sản xuất đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội một cách hiệu quả nhất

Di chuyển nguồn nhân lực là con người di chuyển nơi này sang nơi khác nhằm tận dụng lợi thế về điều kiện khí hậu, nguồn tài nguyên thiên nhiên để có được nguồn thu nhập cao hơn, có nhiều việc làm hơn

1.1.2 Thực trạng di chuyển nguồn nhân lực ở Việt Nam sang các nước ASEAN

Việt Nam đang ở thời kì “dân số vàng” với số người trong độ tuổi lao động vào khoảng 65 triệu người chiếm 70% tổng dân số Nguồn nhân lực dồi đao này là lợi thế của quốc gia, là cơ hội tốt cho phân công lao động vào các ngành trong nền kinh

tế, giảm gánh nặng phụ thuộc, tăng tiết kiệm, thúc đẩy đầu tư, kích thích sản xuất, tiêu dùng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Trang 7

Khi tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Việt Nam có những lợi thế nhất định, nhưng đồng thời có những hạn chế, những thách thức không nhỏ Lợi thế lớn nhất của Việt Nam là có lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu lao động trẻ hầu hết các lao động di chuyển trong phạm vi ASEAN là lao động trình độ kỹ năng thấp hoặc không có kỹ năng Kết quả khảo sát các chủ sử dụng lao động tại 10 quốc gia ASEAN

do ILO thực hiện cho thấy, doanh nghiệp trong khối ASEAN hiện đang rất lo ngại về tình hình thiếu hụt lực lượng lao động có tay nghề và kỹ năng trước sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015; gần 50% chủ sử dụng lao động trong khối ASEAN trong cuộc khảo sát cho biết, người lao động tốt nghiệp phổ thông không có được kỹ năng họ cần; cử nhân tốt nghiệp đại học có được những kỹ năng có ích nhưng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp (cả về số lượng và chất lượng)

1.1.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam

Biểu đồ 1.1 Cơ cấu trình độ nguồn nhân lực Việt

Bên cạnh chất lượng nguồn nhân lực thấp, cơ cấu trình độ nhân lực lao động của Việt Nam cũng đang thể hiện sự bất cập, khi tỷ lệ lao động gián tiếp (tốt nghiệp đại học trở lên) lại cao hơn nhiều so với những người lao động trực tiếp (trình độ sơ cấp, trung cấp) Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổng cục Thống kê, cơ cấu trình độ nhân lực lao động Việt Nam năm 2015: tỷ lệ tốt nghiệp đại học trở lên chiếm 41,51%; cao đẳng là 14,99%; trung cấp là 27,11% và sơ cấp 16,39%

Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp là nguyên nhân quan trọng dẫn đến năng suất lao động của Việt Nam nằm trong nhóm thấp của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và ASEAN Các chuyên gia cho rằng, năng suất lao động thấp, thiếu lao động tay nghề, trình độ ngoại ngữ và các kỹ năng mềm khác đang khiến lao động của Việt Nam yếu thế trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường lao động khi hội nhập AEC…

Trong tổng số 49,2 triệu người trong độ tuổi lao động, chỉ có 7,3 triệu người đã được đào tạo, chiếm 14,9% lực lượng lao động Trong số những người đang theo học ở

Trang 8

các trường chuyên nghiệp trên toàn quốc thì tỷ lệ người đang theo học trình độ sơ cấp

là 1,7%, trung cấp 20,5, cao đẳng 24,5% và Đại học trở lên là 53,3% Tỷ trọng lao động đã qua đào tạo ở nước ta rất thấp, cụ thể là 86,7% dân số trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật, đáng chú ý hơn là khu vực nông thôn, nơi phần lớn người lao động có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài thì tỷ lệ lao động chưa được đào tạo chiếm 92% Như vậy, đội ngũ lao động của ta trẻ và dồi dào nhưng chưa được trang bị chuyên môn, kỹ thuật Hiện cả nước có hơn 41,8 triệu lao động, chiếm 85,1% lực lượng lao động chưa được đào tạo để đạt một trình độ chuyên môn,

kỹ thuật nào đó

1.1.2.2 Số lượng nguồn lao động chất lượng cao ở Việt Nam

Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, nước ta có trên 49,2 triệu người trong độ tuổi lao động trên tổng số 85,79 triệu người (chiếm 57,3%), đứng thứ 3 ở Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin) và đứng thứ 13 trên thế giới về quy mô dân số Số người trong

độ tuổi từ 20 đến 39 khoảng 30 triệu người, chiếm 35% tổng dân số và chiếm 61% lực lượng lao động, đây là lực lượng có thể tham gia xuất khẩu lao động Sức trẻ là đặc điểm nổi trội, là tiềm năng nguồn nhân lực Việt Nam, là yếu tố rất thuận cho việc tuyển chọn lao đông đi làm việc ở nước ngoài

Báo cáo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) năm 2014 cho thấy, Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Phần lớn người sử dụng lao động cho biết, tuyển dụng lao động là công việc khó khăn vì các ứng viên không có kỹ năng phù hợp, hoặc khan hiếm lao động trong một số ngành nghề cụ thể

Về chất lượng nguồn nhân lực, tính theo thang điểm 10, Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của WB; trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm, Ấn Độ là 5,76 điểm, Ma-lai-xi-a là 5,59 điểm, Thái-lan là 4,94 điểm… Nguồn nhân lực ở nước ta đang có rất nhiều bất cập: số lượng đào tạo ở trình độ đại học trở lên trong những năm gần đây gia tăng đáng kể, nhưng chất lượng lao động của đối tượng này phần lớn chưa đạt các tiêu chí về nguồn nhân lực chất lượng cao như đã đề cập ở trên Do vậy, khi họ ra làm việc, nhiều người không đáp ứng yêu cầu

Trang 9

1.1.2.3 Di chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam sang các nước thành viên

1.1.2.3.1 Mục đích di chuyển lao động có kỹ năng

Di chuyển lao động có kỹ năng trong AEC đem lại rất nhiều lợi ích cho các quốc gia thành viên trong đó có cả Việt Nam

Di chuyển tự do lao động có kỹ năng thuận tiện cho các nước thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài trong ASEAN, bằng việc cho phép các doanh nhân và chuyên gia tới làm việc tại các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Việc có thể đưa các nhân lực chất lượng cao tới quản lý và điều hành doanh nghiệp góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp, điều đó giúp các quốc gia hấp dẫn được nhiều nguồn đầu tư cả trong và ngoài khối

Tự do di chuyển lao động có kỹ năng sẽ bù đắp sự thiếu hụt kỹ năng trong ngắn hạn ở - Brunei, Cambodia, Laos, Malaysia, Singapore, Vietnam Sự thiếu nhân lực về y tế, điều dưỡng, kiểm toán và công nghệ thông tin ở Brunei; kĩ sư, công nghệ thông tin, thống kê ở Cambodia; Y tế, nha khoa, kiểm toán và công nghệ thông tin ở Indonesia; y tế và nha khoa ở Lào; Y tế, nha khoa và công nghệ thông tin ở Malaysia; lao động kĩ thuật và khoa học gia ở Philippines; và các kĩ năng chuyên gia phổ biến ở Singapore và Việt Nam

Di chuyển lao động có kỹ năng còn thuận tiện cho quá trình công nghiệp hóa, tái cấu trúc ở Việt Nam

Hiện nay, sự phát triển của các dịch vụ sức khỏe và giáo dục vượt qua biên giới các quốc gia, việc sử dụng các chuyên gia nước ngoài trình độ cao là xu hướng tất yếu, mở rộng sự hợp tác của các ngành dịch vụ giữa các quốc gia Sự công nhận và thừa nhận chứng chỉ chuyên môn trong nước là chính sách mang yếu tố quyết định đến việc di chuyển của các chuyên gia nước ngoài vào các lĩnh vực này Trong lĩnh vực giáo dục, Malaysia và Singapore đã thực hiện chính sách thu hút học viên nước ngoài, đào tạo và giữ những người có năng lực ở lại làm việc Trong khi đó, ở lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, một số nước mở cửa hơn, chấp nhận lực lượng bác sĩ và điều dưỡng từ

Trang 10

nước ngoài để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân cũng như đưa quốc gia trở thành một trung tâm y tế chất lượng cao trên thị trường quốc tế

1.1.2.3.2 Đánh giá tương quan trình độ lao động Việt Nam với một số nước thành viên

Hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN giúp thị trường lao động trong ASEAN sôi động hơn, thúc đẩy tạo việc làm cho từng quốc gia thành viên Cũng theo

dự báo của ILO, khi tham gia AEC, số việc làm của Việt Nam sẽ tăng lên 14,5% vào năm 2025

Khi tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Việt Nam có những lợi thế nhất định, nhưng đồng thời có những hạn chế, những thách thức không nhỏ Lợi thế lớn nhất của Việt Nam là có lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu lao động trẻ Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến giữa năm 2014, quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam là 53,8 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 47,52 triệu người

Tỷ lệ lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 47,1%; khu vực công từng bước được nâng lên; tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 30% lên 40% trong vòng

10 năm trở lại đây (theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 30% Lao động qua đào tạo đã phần nào đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động Lực lượng lao động kỹ thuật của Việt Nam đã làm chủ được khoa học - công nghệ, đảm nhận được hầu hết các vị trí công việc phức tạp trong sản xuất kinh doanh mà trước đây phải thuê chuyên gia nước ngoài

Về mặt kỹ năng, hầu hết các nước ASEAN kể cả Việt Nam đều có tỷ lệ biết chữ cao trong dân số thuộc độ tuổi lao động Tuy nhiên, tỷ lệ tuyển sinh vào các chương trình giáo dục đào tạo kỹ thuật nghề vẫn chưa đủ trong khi giáo dục đại học tăng đang là một thách thức Việt Nam là nước có các chỉ số phát triển giáo dục và kỹ năng khá cao, tỉ lệ người biết chữ trên 15 tuổi là 93,4%, đứng thứ 4 trong khu vực, tỉ

lệ đào tạo đại học là 24,6% đứng thứ 5 trong khu vực Tuy vậy năng suất lao động lại chỉ đứng thứ 7/10 nước, chứng tỏ chất lượng đào tạo lao động chất lượng cao còn quá

Trang 11

kém, chưa phản ánh đúng thực tế Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Theo năng suất lao động, Lào, Campuchia, Việt Nam được xếp thuộc nhóm thấp ở châu Á – Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng Năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan.

Một số chỉ số thị trường lao động ASEAN

Quốc gia

Lực lượng lao động (nghìn người)

Tỉ lệ biết chữ trên

15 tuổi (%)

Tỉ lệ tham gia đào tạo kĩ thuật nghề trên tổng số học sinh trung học(%)

Tỉ lệ đào tạo đại học (%)

Lương trung bình hàng tháng (USD)

Năng suất lao động (Giá USD

cố định năm 2005)

Trang 12

khăn trong quá trình hội nhập Những hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lực là một trong những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, cơ cấu kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, do vậy, tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động chính thức còn thấp, đạt khoảng 30% Chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập Khoảng 45% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như chưa qua đào tạo Chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn thấp, là một trong những “điểm nghẽn” cản trở sự phát triển.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo, có chuyên môn kĩ thuật thấp, bên cạnh đó, người lao động dù đã qua đào tạo vẫn không đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng, khả năng làm việc độc lập, xử lí tình huống còn hạn chế, chưa thích ứng được với những thay đổi công nghệ

Tỉ lệ lao động chưa có chuyên môn kĩ thuật chiếm tới 54,4% năm 2012, tỷ lệ lao động trung học chuyên nghiệp trở lên chỉ chiếm 12,1% Tuy nhiên tốc độ tăng lao động có chuyên môn kĩ thuật trong giai đoạn 10 năm trở lại đây từ 2002-2012 tăng nhanh, đạt 8,1%/năm Đây là dấu hiệu tích cực cho lao động Việt Nam để đón nhận cơ hội việc làm đa dạng, phong phú khi AEC được thành lập

Nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực thấp là do công tác đào tạo hiện nay chưa phù hợp, chất lượng đào tạo còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu sử dụng nhân lực và nhu cầu của người học, chưa theo kịp sự chuyển biến của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, giữa dạy chữ với dạy người, dạy nghề

Mặt khác, hệ thống thông tin của thị trường lao động Việt Nam hiện nay còn nhiều yếu kém và hạn chế, như bị chia cắt giữa các vùng, miền; khả năng bao quát, thu thập và cung ứng thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu các đối tác trên thị trường lao động, đặc biệt là người chủ sử dụng lao động và người lao động Hệ thống chỉ tiêu về thị trường lao động tuy đã ban hành nhưng chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ, thiếu thống nhất và khó so sánh quốc tế Do vậy, chưa đánh giá được hiện trạng của cung - cầu lao động, các “nút thắt” về nhu cầu nguồn nhân lực trong nước Ngoài ra, còn thiếu mô

Ngày đăng: 06/10/2016, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w