MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi DANH MỤC BẢNG vii DANH MỤC HÌNH viii MỞ ĐẦU 1 1. Đặt vấn đề 1 2. Mục tiêu nghiên cứu 1 3. Nội dung nghiên cứu 2 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 3 1.1. Tổng quan chung về chất thải y tế 3 1.1.1. Định nghĩa chất thải rắn y tế 3 1.1.2. Phân loại chất thải y tế 4 1.1.3. Nguồn phát sinh 8 1.1.4. Thành phần, tính chất chất thải y tế 10 1.1.5. Quá trình thu gom phân loại 11 1.2. Các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 12 1.2.1. Tái chế chất thải bệnh viện 12 1.2.2. Công nghệ đốt 12 1.2.3. Công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường 13 1.2.4. Phương pháp trơ hóa (cố định và đóng rắn) 14 1.2.5. Phương pháp chôn lấp an toàn 14 1.3. Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và cộng đồng 14 1.3.1. Ảnh hưởng đến môi trường 15 1.3.2. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng 16 1.4. Hiện trạng và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 18 1.5. Cơ sở pháp lý liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn y tế nguy hại 20 1.6. Tổng quan khu vực nghiên cứu 22 1.6.2. Tình hình kinh tế xã hội 23 CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP 26 NGHIÊN CỨU 26 2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26 2.2. Phương pháp nghiên cứu 26 2.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp 26 2.2.2. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 27 2.2.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu 28 CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29 3.1. Đặc điểm các cơ sở y tế nghiên cứu 29 3.1.1. Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái 29 3.1.2. Bệnh viện Hữu nghị 103 Yên Bái 31 3.1.3. Bệnh viện Tâm thần tỉnh Yên Bái 32 3.2. Hiện trạng chất thải rắn của các cơ sở y tế nghiên cứu 33 3.2.1. Nguồn phát sinh 33 3.2.2. Thành phần khối lượng của chất thải y tế 37 3.3. Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn 43 3.3.1. Quá trình thu gom, phân loại và vận chuyển 45 3.3.2. Quá trình lưu trữ 49 3.3.3. Quá trình xử lý 53 3.4.1. Ưu, nhược điểm trong công tác quản lý 59 3.5. Đánh giá nhận thức và hiểu biết về chất thải rắn y tế 60 3.5.1. Nhận thức của tổ vệ sinh môi trường và cán bộ y bác sĩ bệnh viện 61 3.5.2. Nhận thức của người nhà bệnh nhân 62 3.6. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT 63 3.6.1. Phân loại, thu gom rác thải và biện pháp quản lý 63 3.6.2. Vận chuyển chất thải. 64 3.6.3. Lưu giữ chất thải trong bệnh viện. 65 3.6.4. Xử lý rác thải 66 3.6.5. Các giải pháp về nguồn nhân lực 66 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67 1. Kết luận 67 2. Kiến nghị 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đồ án tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu và học hỏi của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Mai Thảo, không sao chép ở bất cứ tài liệu nào Các số liệu được sử dụng trong đồ án để thực hiện cho việc đánh giá, nhận xét, đề xuất là số liệu thực tế Ngoài ra, tôi có sử dụng một số nhận xét, nhận định của các tác giả từ các nguồn khác nhau và được ghi trong phần tài liệu tham khảo
Nếu như phát hiện có bất cứ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng cũng như kết quả đồ án của mình
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Linh Trang
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Qua 4 năm được học tập và rèn luyện tại trường Đại học Tài Nguyên và Môi Trường cũng như trong quá trình làm đồ án tốt nghiệp, em đã được tạo nhiều điều kiện và sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo công tác tại các khoa, phòng, ban trong trường
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến Tiến sĩ Phạm Mai Thảo – Bộ môn Quản lý Môi Trường Khoa Môi trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội người đã quan tâm, dìu dắt và tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm đồ án
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các thầy cô trong khoa Môi trường cùng toàn thể thầy co trường Đại Học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp em hoàn thành đồ án tốt nghiệp này
Đồng thời xin cảm ơn cán bộ công nhân viên bệnh viện đã cung cấp số liệu
và có những ý kiến đóng góp giúp em hoàn thành đồ án này
Xin gửi lời cảm ơn đến các bạn sinh viên khoa Môi Trường đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ, động viên và khuyến khích tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện
Việc thực hiện đồ án tốt nghiệp là bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, do thời gian và chưa có nhiều kinh nghiệm nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được các thầy cô giáo và các bạn góp ý để bài đồ án của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!!!
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Linh Trang
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTYT: Chất thải y tế
CTRYT: Chất thải rắn y tế
CTNH: Chất thải nguy hại
BTNMT: Bộ tài nguyên môi trường
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ngày nay vấn đề môi trường rất được các quốc gia, cộng đồng trên toàn cầu quan tâm đến Bởi lẽ ô nhiễm và suy thoái cùng với sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ ở hiện tại mà còn cả các thế hệ tương lai Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng chỉ có bảo vệ môi trường mới có thể giúp xã hội loài người phát triển bền vững Một trong những công tác quan trọng đó là giải quyết vấn đề ô nhiễm Trong đó quản lý chất thải rắn là một vấn đề cần phải quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là chất thải nguy hại và chất thải rắn y tế theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ là một trong những loại chất thải rắn nguy hại
Nước ta có một mạng lưới y tế với các bệnh viện được phân bố rộng khắp, các chất thải y tế dưới dạng rắn, lỏng hoặc khí có chứa các chất hữu cơ, mầm bệnh, gây ô nhiễm cho môi trường bệnh viện và xung quanh bệnh viện gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người dân và ngay cả chính cán bộ y tế
Thành phố Yên Bái là trung tâm văn hóa, giáo dục, y tế lớn của tỉnh Yên Bái
Là nơi tập trung đông dân cư và các bệnh viên công tư, đáp ứng cơ bản tốt yêu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân trên địa bàn thành phố và dân cư các địa phương khác trong và ngoài tỉnh bên cạnh dó việc phát sinh chất thải cũng như công tác quản lý tại các bệnh viện và các trạm y tế trên thành phố còn nhiều hạn chế Do vậy, vấn đề chất thải rắn y tế đang trở nên bức xúc tại các bệnh viện và đe dọa đến sức khỏe của mỗi người dân thành phố Vì vậy ta cần quy hoạch một cách
tổng thể hệ thống quản lý chất thải rắn y tế Nên e đã chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái và đề xuất biện pháp quản lý phù hợp”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Đánh giá hiện trạng, phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất thải y tế của một số bệnh viện thành phố Yên Bái
Trang 8Mục tiêu cụ thể:
Đánh giá hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y
tế của một số bệnh viện tại thành phố Yên Bái
Đánh giá hiểu biết của cán bộ nhân viên bệnh nhân về tình hình quản lý chất thải y tế
Đề xuất những giải pháp quản lý chất thải rắn y tế để đảm bảo an toàn và vệ sinh môi trường
3 Nội dung nghiên cứu
Hiện trạng về phát sinh, thành phần, khối lượng chất thải y tế của bệnh viện nghiên cứu
Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện và các trung tâm y tế của thành phố Yên Bái
Hiện trạng vận chuyển, thu gom, xử lý chất thải rắn y tế tại thành phố Yên Bái
Hiểu biết của cán bộ nhân viên bệnh viện và người nhà bệnh nhân về rác thải
y tế
Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản quản lý chất thải rắn tại thành phố Yên Bái
Trang 9CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
1.1 Tổng quan chung về chất thải y tế
1.1.1 Định nghĩa chất thải rắn y tế
“Chất thải rắn là chất thải ở dạng rắn hoặc sệt (gọi là bùn thải) được thải ra
từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”
Chất thải nguy hại là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm,
dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác (Luật Bảo
Vệ Môi Trường 2014)
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu… CTYT nguy hại là chất thải có các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan, bơm, kim tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất, chất phóng xạ… thường ở dạng rắn, lỏng, khí CTYT được xếp là chất thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy định riêng; gây hại sức khoẻ, an toàn môi trường hay gây cảm giác thiếu thẩm mỹ
CTR bao gồm CTR thông thường và CTR nguy hại (theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP)
Theo Quyết định số 43/2007QĐ-BYT:
CTRYT là vật chất ở thể rắn được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm CTRYT thông thường và CTRYT nguy hại
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người và động vật, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn; dược phẩm; hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong y
tế Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người - Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện
Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế
Trang 10Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế.
Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở
xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế
Cơ sở y tế bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
1.1.2.1 Phân loại theo tổ chức y tế thế giới (WHO)
Chất thải thông thường: đó là các chất thải không độc hại, về bản chất tương
tự như rác thải sinh hoạt
Chất thải là bệnh phẩm: mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác động vật thí nghiệm, máu dịch thể
Chất thải chứa phóng xạ: chất thải từ quá trình chiếu chụp X quang, phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u
Chất thải hóa học: có tác dụng độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm độc gen không độc
Chất thải nhiễm khuẩn: gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh như vi sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm khuẩn
Các vật sắc nhọn: kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ có thể gây thương tích cho người và vật
Dược liệu: dư thừa, quá hạn sử dụng
1.1.2.2 Phân loại theo Việt Nam
Trang 11Căn cứ vào các đặc điểm lý học, sinh học, hóa học và tính chất nguy hại Chất thải trong các cơ sở y tế được phân loại thành các nhóm sau: (Nguồn: Thực hành quản lý chất thải rắn y tế - NXB Y học 2000)
a Chất thải lâm sàng
Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ
gây bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm…bao gồm các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc, bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu…
Hình 1.1: Hình ảnh chất thải nhiễm khuẩn Nhóm B: là các vật sắc nhọn: bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thủy tinh
vỡ và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, dù chúng có được sử dụng hay không sử dụng
Trang 12
Hình 1.2: Hình ảnh chất thải là vật sắc nhọn
Hình 1.3: Hình ảnh chất thải dược phẩm Nhóm C: chất thải nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm: găng
tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu…
Nhóm D: chất thải dược phẩm, dược phẩm quá hạn, bị nhiễm khuẩn, dược
phẩm bị đổ, không còn nhu cầu sử dụng và thuốc gây độc tế bào
Nhóm E: là các mô cơ quan người – động vật, cơ quan người bệnh, động
vật, mô cơ thể (nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai…
Trang 13b Chất thải phóng xạ (rắn, lỏng và khí)
Bảng 1.1: Các hạt nhân phóng xạ sử dụng trong các cơ sở y tế Hạt nhân
nguyên tử Các hạt phóng xạ Thời gian bán phân rã Ứng dụng
51Cr Tia gamma 27,8 ngày Chuẩn đoán và in vitro
59Fe Hạt beta 45,5 ngày Chuẩn đoán và in vitro
Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ…
Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất phóng xạ…
Trang 14c Chất thải hóa học
Bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như Formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng…
Formaldehit: Đây là hoá chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó được
sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn Nó được sử dụng trong các khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác…
Các chất quang hoá: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoa Xquang
Các dung môi: Các dung môi dùng trong cơ sở y tế gồm các hợp chất của halogen như metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi như halothane; Các hợp chất không chứa halogen như xylene, axeton, etyl axetat…
Các chất hoá học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như: phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…
d Các bình chứa khí nén có áp suất
Gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, CO2, bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần… Đa số các bình chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng cách
e Chất thải sinh hoạt
Nhóm chất thải này có đặc điểm chung như chất thải sinh hoạt thông thường
từ hộ gia đình gồm giấy loại, vài loại, vật liệu đóng gói thức ăn còn thừa, thực phẩm thải bỏ và chất thải ngoại cảnh như lá, hoa quả rụng…
1.1.3 Nguồn phát sinh
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu
Trang 15Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác
Chất thải rắn thông thường chủ yếu tạo ra từ nhà bếp, nhà ăn, khu hành chính, từ giường bệnh và từ phía người nhà đến phục vụ bệnh nhân
Các chất thải có nhiều vi trùng, có độ lây nhiễm cao như cơ quan nội tạng, bông gạc lẫn máu mủ từ phòng phẫu thuật
Các chất thải rắn có phóng xạ, hóa chất có nguồn gốc từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm,khoa dược
Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược
Tất cả các hoạt động này đều phát sinh chất thải và các mầm bệnh gây ô nhiễm môi trường
Nguồn phát sinh CTR từ hoạt động y tế được thể hiện ở bảng 1.2:
Bảng 1.2: Nguồn phát sinh CTR từ hoạt động của ngành y tế
ST
1 Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, khu vực hành chính, các loại bao gói
2 Chất thải chứa các vi trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ, gạc bông băng lẫn máu
mủ của bệnh nhân
3 Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh
nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ rửa
4 Chất thải đặc biệt
Các loại chất thải độc hại hơn các loại chất thải trên các chất phóng xạ, hóa chất dược từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược…
(Nguồn: Báo cáo môi trường Quốc gia năm 2011)
Trang 161.1.4 Thành phần, tính chất chất thải y tế
Hầu hết các CTR y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù
so với các loại CTR khác Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng
kể
Xét về các thành phần, tính chất, CTR y tế được xác định dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTR y tế, chưa kể 52% CTR y tế là các chất hữu cơ Trong thành phần CTR y tế có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10% Vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2011)
Trong CTRYT, các thành phần nguy hại chiếm khoảng 10-25%, bao gồm:
Mô bệnh phẩm và cơ quan người từ các phòng mổ và tiểu phẫu, các bệnh phẩm nuôi cấy, mô hoặc xác động vật từ phòng thí nghiệm thải ra, các chất thải nhiễm trùng từ phòng cách ly và các khoa truyền nhiễm, các bông băng thấm dịch hoặc máu, kim tiêm, ống tiêm, lọ thuốc, dược phẩm hư hỏng
Bảng 1.3: Thành phần vật lý trong chất thải y tế
1 Đồ bông vải sợi Bông, băng, gạc, khăn lau, …
2 Đồ giấy Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh,
…
3 Đồ thủy tinh Chai lọ, ống tiêm, ống nghiệm, …
4 Đồ nhựa Hộp đựng, dây truyền máu, …
5 Đồ kim loại kim tiêm, dao mổ, hộp đựng,
Chất thải thông thường Giấy và các loại giấy thấm 60%
Trang 17Plastic 20%
Kim loại thủy tinh và các hợp chất vô cơ 7%
Chất thải nhiễm khuẩn
(Nguồn: USEPA, )
1.1.5 Quá trình thu gom phân loại
Theo Quy chế quản lý chất thải y tế được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành tại
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 (sau đây gọi tắt là Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT), Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng
4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy
hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT) Thùng làm bằng nhựa có
tỷ trọng cao, có nắp đậy, thành dầy và cứng Dung tích thùng tùy vào khối lượng chất thải phát sinh (từ 10 lít đến 160 lít) Những thùng thu gom có dung tích từ 50 lít trở lên có bánh xe đẩy Thùng màu vàng để thu gom các túi, hộp chất thải màu vàng Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen Thùng màu xanh để thu gom các túi chất thải màu xanh.Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu trắng
Màu sắc túi đựng chất thải:
- Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm: Vật sắc nhọn gồm kim tiêm, các loại lưỡi dao
mổ, lưỡi dao lam, mảnh thủy tinh, vỏ ống thuốc đựng túi riêng Dây chuyền dịch, dây chuyền máu, bơm tiêm (chất liệu nhựa) cho vào túi riêng Bông, băng, gạc, găng tay, các chất liệu khác có dính máu, dịch tiết cơ thể đựng trong túi riêng Rau thai, bào thai, mô, cơ quan bộ phận cơ thể để riêng trong 2 lần túi
- Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại: Các chất nguy hại (không sắc nhọn) như hóa chất của khoa xét nghiệm, hóa chất dùng để ngâm dụng cụ, bệnh phẩm
- Màu trắng đựng chất thải tái chế: Chất liệu nhựa như vỉ thuốc, chai chuyền dịch bằng nhựa, chai đựng nước cất để trong túi riêng Chất liệu thủy tinh như chai đựng dịch, lọ đựng thuốc để trong túi riêng Chất liệu giấy như hộp đựng găng tay,
Trang 18hộp đựng bơm kim tiêm, hộp đựng thuốc, bìa cattong, giấy từ các khu hành chính cho vào túi riêng.
Túi màu vàng và màu đen làm bằng nhựa PE hoặc PP Túi có thành dầy tối thiểu 0,1mm, kích thước túi phù hợp với lượng chất thải phát sinh, thể tích tối đa của túi là 0,1 m3 Bên ngoài túi có đường kẻ ngang ở mức 3/4 túi và có dòng chữ
“KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”
1.2 Các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế
1.2.1 Tái chế chất thải bệnh viện
Các vật liệu thuộc chất thải thông thường không dính, chứa các thành phần nguy hại (lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất phóng xạ, thuốc gây độc tế bào) được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế, bao gồm:
- Nhựa: Chai nhựa đựng các dung dịch không có chất hóa học nguy hại (dung dịch NaCl 0,9%, glucose, natri bicacbonate, ) và các vật liệu nhựa khác không dính các thành phần nguy hại
- Thủy tinh: Chai, lọ thủy tinh đựng các dung dịch không chứa các thành phần nguy hại
- Giấy: Giấy, báo, bìa, thùng các – tông, vỏ hộp thuốc và các vật liệu giấy
- Kim loại: các vật liệu kim loại không dính các thành phần nguy hại (Bộ y tế, 2008)
1.2.2 Công nghệ đốt
Phương pháp đốt là phương pháp oxy hóa ở nhiệt độ cao với sự có mặt của oxy trong không khí, trong đó chất thải sẽ được chuyển hóa thành khí và các chất trơ không cháy Kết quả là tiêu diệt hoàn toàn vi sinh vật, giảm được 95% thể tích
và khối lượng chất thải, làm thay đổi hoàn toàn trạng thái vật lý của chất thải Lò đốt thiết kế chuyên dùng cho xử lý chất thải bệnh viện được vận hành trong khoảng nhiệt độ từ 700 đến 12000C Phương pháp đốt áp dụng chủ yếu cho chất thải lây nhiễm, chất thải gây độc tế bào, không áp dụng cho các hóa chất có hoạt tính phản ứng, bình chứa khí có áp suất, các chất nhựa có chứa halogen như PVC vì phát thải dioxin (Đặng Kim Chi và cs, 2011) Phương pháp đốt có ưu điểm là với nhiệt độ cao thì CTRYT nguy hại được xử lý triệt để, loại trừ được các mầm bệnh trong các chất thải lây nhiễm, giảm tối đa thể tích chôn sâu sau khi xử lý Tuy nhiên đốt ở
Trang 19nhiệt độ không đủ theo quy định có thể phát sinh khí thải gây ô nhiễm không khí; chi phí đầu tư xây dựng và quản lý vận hành cao (Bộ Xây dựng, 2012).
1.2.3 Công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường
Hiện nay, có hai loại công nghệ thân thiện với môi trường chủ yếu được lựa chọn thay thế các lò đốt CTRYT là công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm và công nghệ có sử dụng lò vi sóng
Công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ẩm: bản chất là tạo ra môi trường hơi nước nóng với áp suất cao để khử khuẩn CTRYT Công nghệ này thường phải sử dụng thêm hóa chất để đảm bảo hiệu quả khử tiệt khuẩn ổn định, do đó làm tăng chi phí vận hành của hệ thống
Công nghệ sử dụng vi sóng: bao gồm sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện áp suất bình thường và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa trong điều kiện nhiệt độ áp suất cao
Loại sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện bình thường là tạo điều kiện khử tiệt khuẩn ở nhiệt độ khoảng 100 độ C với áp suất không khí thông thường Do vậy, hệ thống vận hành đơn giản hơn nhưng tốn thời gian xử lý cho mỗi mẻ đồng thời hiệu quả chỉ đạt 99,9% (Đặng Kim Chi, 2011)
Loại công nghệ sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa: có tác dụng phá hủy cấu trúc tế bào và tiêu diệt tất cả các loại mầm bệnh Nhờ đó sau khi xử lý, chất thải lây nhiễm trở thành chất thải thông thường mà không tạo ra khói bụi, không xả
ra nước thải cũng như không sử dụng hóa chất để tiệt trùng nên hoàn toàn thân thiện với môi trường (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011)
1.2.4 Phương pháp trơ hóa (cố định và đóng rắn)
Bản chất của quá trình xử lý là chất thải nguy hại được trộn với phụ gia hoặc
bê tông để đóng rắn chất thải nhằm không cho các thành phần ô nhiễm lan truyền ra ngoài Các chất phụ gia vô cơ thường dùng là: vôi, xi măng porand, bentonic, pizzolan, thạch cao, silicat Các chất phụ gia hữu cơ: epoxy, polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ure formaldehit
Trang 20Theo Quy chế quản lý CTRYT ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ – BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế, tỷ lệ các chất pha trộn Sau khi tạo thành một khối đồng chất dưới dạng cục thì đem đi chôn.
1.2.5 Phương pháp chôn lấp an toàn
Chỉ áp dụng tạm thời đối với các cơ sở y tế các tỉnh, miền núi và trung du có
cơ sở xử lý CTRYT nguy hại đạt tiêu chuẩn tại địa phương Hố chôn lấp phải đáp ứng các yêu cầu: có hàng rào vây quanh, cách xa giếng nước, xa nhà tối thiểu 100m, đáy hồ cách mức nước bề mặt tối thiểu 1,5m, miệng hố nhô cao và che tạm thời để tránh nước mưa, mỗi lần chôn chất thải phải đổ trên mặt hố lớp đất dày từ 10 – 25cm và lớp đất trên cùng dày 0,5m Không chôn chất thải lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường Chất thải lây nhiễm phải được khử khuẩn trước khi chôn lấp (Bộ
Y tế, 2008)
1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường và cộng đồng
Rác thải y tế là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và tác động xấu lên sức khỏe con người Khi nhu cầu khám chữa bệnh của con người càng tăng thì rác thải y tế cũng không ngừng gia tăng và ước tính cứ 4kg rác thải y tế lại
có 1kg đã bị nhiễm vi khuẩn nguy hiểm Do đó, rác thải y tế có thể trực tiếp ảnh hưởng tức khắc lên sức khỏe con người và gây ra bệnh dịch (theo Phạm Văn Kiên, 2007)
Con người
Chất thải hóa học nguy hại
Chất thảilây nhiễm
Môi trường
Trang 21Hình 1.4: Sơ đồ tác động của CTRYT đến môi trường và con người
1.3.1 Ảnh hưởng đến môi trường
Ảnh hưởng tới môi trường không khí: Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác động xấu tới môi trường không khí Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi hóa chất vào không khí Đến khâu xử lý (chôn lấp, đốt) chúng phát ra các khí độc như NX, NOx, Dioxin, Furan, … từ lò đốt và khí CH4, NH3, H2S, … từ bãi chôn lấp Các khí này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường
và sức khỏa cộng đồng xung quanh
- Ảnh hưởng tới môi trường nước: Nước thải bệnh viện và nước mưa chảy tràn từ chất thải y tế chứa nhiềm mầm bệnh có khả năng lây nhiễm cao như Coliform, … Nguy cơ lây nhiễm virut như virut đường tiêu hóa nhiễm các kí sinh trùng, nấm, … Một số cơ sở y tế hay bệnh viện chưa có kinh phí xử lý nước thải đã xả thải trực tiếp
ra môi trường gây ảnh hưởng lớn Phần lớn bãi chôn lấp ở nước ta chưa đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh, nước rác hầu hết vẫn chưa xử lý gây nguy cơ ô nhiễm nước mặt và nước ngầm
- Ảnh hưởng đến môi trường đất: Khi chất thải bệnh viện không được phân loại và thu gom đúng cách, các bãi chôn lấp không đúng kỹ thuật thì nước rác sẽ ngấm vào đất làm thay đổi tính chất và thành phần của đất Điều này làm biến đổi tính chất đất, gây ô nhiễm môi trường đất
1.3.2 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng
Tại các cơ sở y tế, đặc biệt là bệnh viện đã thải ra hàng trăm tấn chất thải y tế mỗi ngày với khoảng gần 12% loại chất thải độc hại nguy hiểm Nếu các chất thải y
tế không được quản lý và xử lý tốt thì các thành phần nguy hại trong chất thải như
vi sinh vật gây bệnh, chất gây độc, gây bệnh ung thư sẽ tạo nên những nguy cơ
Chất thảithông thường
Trang 22làm ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng người dân và môi trường sống Thực tế hiện tại nước ta ước tính chỉ có khoảng 50% bệnh viện đã phân loại, thu gom và xử
lý chất thải y tế theo đúng quy định Vì vậy các phương tiện thông tin đại chúng đã
đề cập rất nhiều đến thực trạng quản lý và xử lý chất thải y tế không an toàn trong thời gian vừa qua Để thực hiện được mục tiêu quản lý và xử lý chất thải y tế bảo đảm yêu cầu, đặc biệt là chất thải nguy hại một cách có hiệu quả, cần có sự nỗ lực của chính quyền, ngành y tế, các ban ngành có liên quan với chi phí được đầu tư một cách phù hợp
Đối tượng chịu ảnh hưởng:
- Y bác sĩ, cán bộ, nhâm viên vệ sinh trong bệnh viện
- Người bệnh điều trị
- Nhân viên thu gom, vận chuyển, tiêu hủy chất thải y tế
- Cộng đồng dân cư
Ngoài ra còn các mối nguy cơ từ rác thải y tế quy mô nhỏ, rải rác như cơ sở
tư nhân, xi lanh thuốc do tiêm chích ma túy
Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn: Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV,
Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm: CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong BV Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến BV, nhưng khi đến và làm việc trong BV sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở
Trang 23Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm: Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,… Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:
- Thủy ngân là một chất độc hại trong CTYT Thủy ngân có mặt trong một số thiết bị
y tế, nhất là các thiết bị chẩn đoán như: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân,
và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử dụng bị vỡ
- Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong BV, chúng thường có tính ăn mòn
và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn
- Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệ thống thoát nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận
- Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa dược phẩm Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại kháng sinh, các thuốc khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận
Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào: Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da
Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ: Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Trong BV, các chất phóng
xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền
Trang 241.4 Hiện trạng và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Theo thống kê của Cục Quản lý môi trường y tế Bộ Y tế cho thấy:
- Năm 2011, cả nước có 1047 bệnh viện, 1200 cơ sở y tế, trung bình mỗi ngày thải ra
350 tấn chất thải rắn y tế trong đó 40,5 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại
- Năm 2012 cả nước có 13.640 cơ sở y tế các loại Mỗi ngày các cơ sở này thải ra môi trường 450 tấn chất thải rắn trong đó có khoảng 42 tấn chất thải rắn y tế nguy hại
Chất thải rắn y tế ngày càng gia tăng trong đó có thành phần nguy hại cũng tăng lên, nguyên nhân do:
- Số lượng cơ sở y tế và số giường bệnh tăng
- Thực hành y học hiện đại với nhiều phương pháp chuẩn đoán và điều trị mới, tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần
- Dân số tăng, người dân được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế
Trang 25Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
BV Huyện
2 Bệnh viện chuyên khoa Trung Ương 0,23 – 0,29 0,28 – 0,35
4 Bệnh viện chuyên khoa tỉnh 0,17 – 0,29 0,21 – 0,35
(Nguồn: Bộ Y Tế, 2010)
Theo thống kê của Bộ y tế, có 95,6% số bệnh viện thực hiện phân loại chất
thải rắn y tế, trong đó có 91,1% bệnh viện sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn
Những năm qua, công tác quản lý chất thải bệnh viện còn một số bất cập Một số bệnh viện việc phân loại chất thải rắn y tế chưa đúng quy định như phân loại nhầm chất thải rắn sinh hoạt đưa vào chất thải rắn y tế nguy hại gây tốn kém cho
Trang 26việc xử lý Mặc dù, các bệnh viện này đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ,
nhưng việc kiểm tra chưa thường xuyên Một số bệnh viện chưa có phương tiện thu
gom và phân loại rác thích hợp để giảm thiểu chi phí, nhân viên thu gom rác chưa
có kiến thức cơ bản để phân loại rác, chưa nhận thức đúng nguy cơ của chất thải bệnh viện Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu, chưa đồng
bộ và chưa đạt tiêu chuẩn 63,6% bệnh viện sử dụng túi nhựa PE hoặc PP đựng rác
nhưng chỉ có 29% sử dụng túi có thành dáy đúng quy chế Phương tiện vận chuyển
chất thải thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Vận chuyển chất thải y tế nguy hại
và chất thải thông thường từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm Khoảng 90% chất thải rắn y tế được thu gom hàng ngày, 53,4% bệnh viện có mái che tại nơi lưu trữ chất thải rắn
Ngoài ra, việc xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại cũng gặp nhiều khó khăn, trừ một số thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh có xí nghiệp xử lý vận hành tốt, tổ chức thu gom và tiêu hủy chất thải rắn y tế cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn Còn tại các tỉnh, thành phố khác chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý
và tiêu hủy với những mức độ khác nhau
1.5. Cơ sở pháp lý liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn y tế nguy hại
Thông tư số: 43/2007/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế
Thông tư số: 36/2015/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại
Nghị Định số: 38/2015/NĐ-CP về quản lý chât thải và phế liệu của Bộ Tài Nguyên & Môi Trường
Nghị định số: 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Nghị định số: 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ quy định về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn (CTR)
Tại quyết định số: 43/2007/QĐ-BYT của Bộ y tế ban hành ngày 30/11/2007Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường
Trang 27Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ
về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại
Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về việc quản lý chất thải nguy hại
Quyết định số 1384/QĐ-UBND ngày 17/10/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc đổi tên Bệnh viện khu vực Sơn Tây
Công văn số 7164/BYT-KCB ngày 20/10/2008 của Bộ Y tế về việc tăng cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải bệnh viện
Chương trình số 07 – CTr/TU ngày 16/03/2009 của Ban Thường vụ Thị ủy Sơn Tây thực hiện Chỉ thị số 29 – CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị Quyết số 41- NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "bảo
vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước"
Trang 281.6. Tổng quan khu vực nghiên cứu
Phía Bắc, và phía Tây, phía Nam giáp huyện Trấn Yên và tỉnh Phú Thọ
Phía Đông, Đông Bắc giáp huyện Yên Bình Thành phố Yên Bái có diện tích
tự nhiên là 10.674.19 ha bao gồm 17 đơn vị hành chính với 7 phường, 10 xã; dân số thành phố năm 2010 có 94.716 người Là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng của cả tỉnh Có vị trí và mối quan hệ với hành lang kinh tế xuyên Á (Vân Nam - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng) thông qua hệ thống giao thông đường bộ cao tốc Nội Bài - Lào cai; đường sắt, đường thủy cấp quốc gia Là đầu mối giao thông quan trọng giữa các huyện, thị trong tỉnh và các tỉnh trong khu vực
1.6.1.2. Địa hình, địa mạo
Thành phố Yên Bái có độ cao trung bình từ 75-100m so với mực nước biển; được chia làm 3 dạng địa hình chủ yếu:
- Địa hình bậc thềm phù sa Sông Hồng bằng phẳng, có độ cao từ 31-35m so với mực nước biển
- Địa hình vùng đồi bát úp đỉnh bằng, sườn dốc
- Địa hình vùng thung lũng xen giữa đất đồi là các dải đất bằng và ruộng lúa nước Với địa hình thành phố đất đồi rừng chiếm diện tích chủ yếu, do vậy thích
Trang 29hợp với trồng rừng sản xuất kết hợp bảo vệ môi trường, song lại rất khó khăn cho việc sử dụng đất cho xây dựng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố do phải chi phí rất lớn cho san tạo mặt bằng, vì vậy các khu dân cư, các cơ sở hạ tầng kinh tế -
xã hội, kỹ thuật của thành phố chủ yếu được bố trí tập trung dọc theo các tuyến đường, được quy hoạch, thiết kế tương đối phù hợp với địa hình tự nhiên, đây cũng
là nét đặc trưng riêng của thành phố Yên Bái
1.6.1.3 Khí hậu
Thành phố Yên Bái nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, cùng với điều kiện địa lý tự nhiên, thành phố Yên Bái mang tính chất tiểu vùng khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Qua số liệu quan trắc nhiều năm của Nha khí tượng Thuỷ văn Yên Bái, các yếu tố khí hậu như sau:
- Nhiệt độ trung bình trong năm: 22,980C, nhiệt độ cao tương đối là 39,40C nhiệt độ thấp nhất là 4,30C Do điều kiện khí hậu trái đất có xu thế ngày càng nóng lên, bởi vậy một vài năm gần đây nhiệt độ trung bình trong năm là 23,70C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 10,50C nhiệt độ cao nhất trong năm 39,80C
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình cả năm đạt 2339,5mm, năm có lượng mưa cao nhất 3256mm, năm thấp nhất 1284mm Mưa tập trung vào các tháng 5, 6,
7, 8, 9 chiếm tới 80-85% lượng mưa cả năm
- Độ ẩm không khí bình quân cả năm từ 85-87%, độ ẩm cao nhất trong năm
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch hợp lý theo hướng: Giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp, tỷ trọng Công nghiệp - Xây dựng, dịch vụ hiện chiếm 96,51% trong cơ cấu
Trang 30kinh tế trong đó Công nghiệp và xây dựng chiếm 47,94%; Dịch vụ chiếm 48,57%, NLN và Thuỷ sản chiếm 3,49%
Đánh giá khái quát thực trạng phát triển các ngành kinh tế trong thời
kỳ 2005 - 2010
Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Liên tục đạt mức tăng trưởng cao; khai thác được tiềm năng lợi thế về vị trí địa lý, lao động, từng bước khẳng định là một khâu đột phá để phát triển kinh tế đô thị; một số ngành có sự phát triển cả về quy mô và giá trị sản lượng hàng hóa có sự cạnh tranh và phát triển thị trường Năm
2010 giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 881,587 tỷ đồng (Giá CĐ1994), tốc độ tăng bình quân 18%/năm
Kinh tế dịch vụ: Hàng năm có mức tăng trưởng khá cao, bình quân trong 5 năm đạt 17,12% Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn năm 2010 đạt 3,872 tỷ đồng (Giá CĐ1994) Tổng kim ngạch xuất khẩu năm
2010 đạt 14,62 tỷ đồng Thu ngân sách trên địa bàn năm 2010 đạt 138 tỷ đồng đạt mức tăng bình quân năm là 24,55%, bằng 47,82% chỉ tiêu quy hoạch
Sản xuất Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản: Đã được chú trọng đầu tư, phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch khá rõ nét Nhiều mô hình chăn nuôi, trồng trọt phát triển theo hình thức trang trại cho thu nhập cao Giá trị sản xuất Nông - Lâm nghiệp năm
2010 theo giá hiện hành đạt 147,2 tỷ đồng, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác đạt 50 triệu đồng
Hoạt động tài chính, ngân hang: Đạt được nhiều kết quả tạo điều kiện phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh, nuôi dưỡng và tạo nguồn thu ổn định Tổng doanh số cho vây năm 2010 đạt 3027,99 tỷ đồng tăng 1,2 lần so với năm 2005 Thu ngân sách trong những năm qua có nhiều cố gắng và đạt kết quả khá tích cực, năm
2010 thu đạt 138 tỷ đồng, tăng bình quân 24,55%/năm, trong đó thu ngoài quốc doanh chiếm 43,5% tổng thu cân đối
1.6.2.2 Dân số, thu nhập
Trang 31Tổng dân số trung bình thành phố đến năm 2010 là 94.716 người trong đó:Khu vực thành thị 66.945 người chiếm 70,7%;
Khu vực nông thôn 27.771 người chiếm 29,3%;
Nam giới 47.121 người chiếm 49,7%, nữ giới 47.595 người chiếm 50,3%.Năm 2010 là 0,803%, mật độ dân số là 887 người/km2
Toàn thành phố có 22 dân tộc trong đó:
Dân tộc kinh chiếm khoảng 96% dân số, dân tộc khác chiếm 4% dân số.Thu nhập bình quân đầu người: Năm 2010 đạt 25,33 triệu đồng;
Tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm bình quân giảm 1%
Đánh giá chung
Với những kết quả đạt được trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế cho thấy trình độ dân trí cao, đời sống nhân dân ổn định và không ngừng phát triển, đây cũng
là điều kiện thuận lợi cho công tác thu gom và quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Những năm vừa qua, nền kinh tế cũng có những bước chuyển biến mạnh mẽ, kéo theo đó là quá trình đô thị hóa và gia tăng dân số nhanh chóng Hệ quả là lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị xã ngày càng tăng nhanh, trong những năm tới hệ thống hạ tầng kĩ thuật và nhân lực thu gom, vận chuyển, xử lý sẽ không thể đáp ứng được Đây cũng là một thách thức lớn cho công tác quản lý chất thải rắn tại địa phương
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 32Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn y tế trên địa bàn thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
Đối tượng khảo sát: Cán bộ, công viên chức của bệnh viện; Bệnh nhân; Cán
bộ môi trường của bệnh viện; Cán bộ quản lý môi trường của thành phố Yên Bái.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
2.2.1.1 Phương pháp khảo sát ngoài thực địa
Phương pháp này rất quan trọng là phương pháp khảo sát, đánh giá, kiểm định ngoài hiện trường
Tiến hành khảo sát xung quanh bệnh viện, các phòng khoa, hành lang, các khu vực ngoại cảnh, khảo sát nhà chứa rác, kho bảo ôn, khu vực lò đốt, …Quan sát cảm quan về không khí xung quanh
2.2.1.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Việc điều tra thực địa rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, tận mắt quan sát hiện trạng chất thải rắn y tế đang tồn tại trên địa bàn Từ đó đưa ra những nhận xét chính xác về công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Thành phố Yên Bái Công tác này thực hiên thông qua các cuộc điều tra thăm dò bằng cách phát phiếu điều tra cho 4 đối tượng cho 3 bệnh viện
Trang 33Bảng 2.1: Bảng đối tượng và phiếu điều tra
STT Bệnh viện
Tổ vệ sinh môi trường bệnh viện
Người nhà bệnh nhân
Cán bộ môi trường địa phương
Cán bộ nhân viên
y tế bệnh viện
(Nguồn: Điều tra 2016)
2.2.2. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Đề tài thu thập các tài liệu thứ cấp từ những nguồn đáng tin cậy như: Báo cáo quan trắc giám sát chất lượng môi trường Bệnh viện, báo cáo hoạt động khám chữa bệnh năm 2015, báo cáo công tác quản lý chất thải rắn của bệnh viện năm
2015 Các tài liệu về hiện trạng phát sinh, tình hình quản lý chất thải rắn y tế trong phạm vi thành phố, các quy định về quản lý chất thải rắn y tế được thu thập từ báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, tạp chí môi trường, đề tài nghiên cứu khoa học sách báo, khóa luận tốt nghiệp và văn bản pháp luật liên quan nhằm đánh giá thực trạng phát sinh và tình hình quản lý chất thải rắn y tế
Đề tài tiến hành thu thập số lượng bệnh nhân, số giường bệnh, số khoa khám chữa bệnh, số lượng y bác sỹ điều trị qua các phòng ban: phòng hành chính, phòng kế hoạch tổng hợp, phòng tổ chức cán bộ
Trang 342.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
Phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu bằng cách phân tích chúng thành từng mặt, từng bộ phận để hiểu vấn đề một cách đầy đủ và toàn diện, từ đó chọn lọc những thông tin quan trọng cho đề tài nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp là phương pháp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin, từ cái lý thuyết đã thu được để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc hơn về vấn đề nghiên cứu
Phân tích tài liệu đảm bảo cho tổng hợp nhanh và chọn lọc đúng thông tin cần thiết, tổng hợp giúp cho phân tích sâu sắc hơn
Trang 35CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm các cơ sở y tế nghiên cứu
3.1.1 Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái
Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái là bệnh viện hạng II, thuộc Sở Y Tế tỉnh Yên Bái được thành lập từ năm 1998 Địa chỉ số 721, đường Yên Ninh, phường Minh Tân, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái Trong những năm qua BV đã tập trung nguồn vốn đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ Hiện nay, bệnh viện là tuyến chuyên môn cao nhất của tỉnh Yên Bái, có nhiệm vụ khám và tiếp nhận điều trị các trường hợp bệnh nhân trong thành phố và từ các bệnh viện tuyến huyện trong tỉnh chuyển đến
Trang 36Hình 3.1: Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Yên Bái
Ban giám đốc
Khối cận lâm sàngKhối lâm sàng
Phòng chức năng
Trang 37Hình 3.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái
Bệnh viện có Ban giám đốc và 29 đơn vị khoa, phòng và quy mô 500 giường bệnh Tổng số cán bộ công chức: 495 (biên chế: 439, hợp đồng: 56) Trong đó có 99
sĩ (thạc sĩ: 8, CKII: 7, CKI: 38, bác sĩ đa khoa: 38); 251 điều dưỡng, y sĩ, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên; 29 cán bộ dược và cán bộ khác
Hàng năm, bệnh viện tổ chức khám 90.000- 100.000 lượt người bệnh, điều trị nội trú 28.000- 30.000 lượt người bệnh, phẫu thuật 5.000 ca, xét nghiệm 500.000
ca, chụp X-quang 50.000- 60.000 ca, siêu âm 15.000 ca, điện tim 3.500 ca, nội soi 2.000 ca
3.1.2 Bệnh viện Hữu nghị 103 Yên Bái
Bệnh viện Đa khoa Hữu nghị 103 Yên Bái được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 15 tháng 3 năm 2006 tại tổ 44 phường Nguyễn Phúc thành phố Yên Bái Tiền thân là phòng khám chất lượng cao Hữu Nghị 103, Bệnh viện Hữu Nghị
- Khoa dược
- Khoa hóa sinh
- Khoa vi sinh - kiểm soát nhiễm khuẩn
- Khoa truyền nhiễm
- Khoa phẫu thuật - gây
- Khoa ung bướu
- Khoa huyết học truyền máu
Trang 38103 được xây trên diên tích đất 7080 m2, Bệnh viện có đầy đủ các khoa phòng với quy mô 110 giường bệnh và 120 cán bộ nhân viên Trong đó có 22 bác sỹ, 3 dược
sỹ, 87 y sỹ, y tá, trong đó có 1 phó giáo sư, 1 tiến sỹ, 4 bác sỹ chuyên khoa II, 5 bác
sỹ chuyên khoa II và 11 bác sỹ chuyên khoa và đa khoa Hướng phát triển chuyên môn của Bệnh viên là chẩn đoán ung thư, phẫu thuật, điều trị các bệnh ngoại khoa như: Bướu cổ, trĩ, thoát vị đĩa đệm, u vú, u nang buồng trứng, u xơ, mổ ruột thừa, lấy sỏi bang quang…
Các khoa trong bệnh viện gồm: Khoa khám bệnh, khoa cận lâm sàng, khoa ngoại - sản, khoa răng – hàm - mặt, khoa nội, khoa mắt, khoa dược
Hình 3.3: Bệnh viện Hữu Nghị 103 Yên Bái
3.1.3 Bệnh viện Tâm thần tỉnh Yên Bái
Bệnh viện Tâm thần tỉnh Yên Bái được thành lập tháng 11 năm 1998 tại Đường Đá Bia - Phường Minh Tân, Thành phố Yên Bái, Yên Bái với quy mô hiện nay là 60 giường bệnh, với 56 cán bộ y bác sỹ và 8 khoa phòng chuyên môn
Trang 39Với chức năng, nhiệm vụ được giao là: Tổ chức khám, chữa bệnh chuyên khoa về tâm thần và giám định sức khoẻ pháp y; đào tạo cán bộ; tham gia nghiên cứu khoa học, thực hiện chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật chuyên khoa, hợp tác quốc tế và phòng bệnh tâm thần trong cộng đồng
Trong những năm qua qua được sự quan tâm đầu tư của Bộ Y tế và của tỉnh, toàn bộ hệ thống cơ cở vật chất của bệnh viện đã được đầu tư xây dựng kiên cố khang trang Các trang thiết bị phục vụ cho việc khám, chẩn đoán và điều trị như: máy điện não đồ, máy đo lưu huyết não, máy xét nghiệm và các thiết bị thiết yếu ở các khoa, phòng điều trị, đều được đầu tư đồng bộ, hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc gia Những điều kiện đó đã và đang góp phần tích cực giúp cho các y bác sỹ của bệnh viện nâng cao chất lượng khám và chữa bệnh cho bệnh nhân
Hình 3.4: Bệnh viện Tâm thần Tỉnh Yên Bái
3.2 Hiện trạng chất thải rắn của các cơ sở y tế nghiên cứu
3.2.1. Nguồn phát sinh
Trang 40Theo quá trình điều tra thực tế ở các cơ sở y tế ta thấy toàn bộ lượng CTRYT của bệnh viện trên địa bàn thành phố phát sinh hàng năm từ các hoạt động chăm sóc khám chữa bệnh cho bệnh nhân, người nhà bệnh, bệnh nhân nhân và các khu hành chính.Rác thải từ hoạt động chuyên môn CTRYT được thải ra từ các phòng bệnh, phòng làm việc, hành lang, phòng thí nghiệm, xét nghiệm, phòng mổ, phòng cấp cứu kể cả nhà xác hay từ cành, lá cây trong khuôn viên BV
Để quản lý chất thải bệnh viện hiệu quả cần biết rõ nguồn gốc phát sinh chất thải, cần biết rõ lượng và loại chất thải phát sinh từ mỗi nguồn Từ đó ta có thể phân
bố chi phí, đưa ra phương pháp thu gom phân loại ngay từ nguồn một cách hợp lý, tạo điều kiện cho việc nâng cao hiệu quả và giảm chi phí sử lý chất thải bệnh viện
Đường thải chung
Hình 3.5: Nguồn phát sinh chất thải bệnh viện