được tổ chức GGN Global Network of National Geoparks dựa trên giá trị nổi bật về cảnh quan, có sinh địa tầng, địa chất, công nhận là thành viên mạng lưới “Công viên địa chất Toàn cầu” nă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HOÀNG THỊ THU HƯƠNG
TÌM HIỂU TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HOÀNG THỊ THU HƯƠNG
TÌM HIỂU TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Địa lí kinh tế - xã hội
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Đỗ Thúy Mùi
SƠN LA, NĂM 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đề tài hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Đỗ Thúy Mùi Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành sâu sắc tới TS Đỗ Thúy Mùi đã tận tình hướng dẫn để giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc, Phòng Đào tạo Đại học, Trung tâm Thông tin thư viện, cùng các thầy, cô trong khoa Sử - Địa đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu Cuối cùng em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến cô giáo chủ nhiệm cùng các bạn sinh viên lớp K52 Đại học Sư phạm Địa Lý đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em
Đề tài hoàn thành không tránh khỏi thiếu sót, rất mong được sự chỉ bảo, đóng góp từ các thầy cô và các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Nhiệm vụ 3
2.3 Giới hạn phạm vi 3
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3.1 Trên thế giới 3
3.2 Ở Việt Nam 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Phương pháp thu thập tài liệu 5
4.2 Phương pháp thực địa 5
4.3 Phương pháp biểu đồ 6
4.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 6
5 Những đóng góp của đề tài 6
6 Cấu trúc đề tài 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Du lịch và định nghĩa về du lịch 7
1.1.2 Chức năng của du lịch 9
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam 12
1.2.2 Thực tiễn phát triển du lịch vùng Trung du và miền núi phía Bắc 14
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG 17
2.1 Vị trí địa lí 17
2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 17
Trang 52.2.1 Địa hình, địa chất 17
2.2.2 Khí hậu 18
2.2.3 Đặc điểm thuỷ văn và nguồn nước 20
2.2.4 Sinh vật 21
2.2.5 Các cảnh quan du lịch tự nhiên 22
2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 24
2.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 33
2.4.1 Giao thông vận tải 33
2.4.2 Bưu chính viễn thông 33
2.4.3 Điện và khả năng cung cấp 34
CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ GIANG TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 35
3.1 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Hà Giang 35
3.1.1 Khách du lịch 35
3.1.2 Doanh thu du lịch và điều kiện cơ sở vật chất phục vụ du lịch 36
3.1.3 Mùa tham quan du lịch và thời gian lưu trú của khách du lịch 37
3.1.4 Lao động 38
3.1.5 Một số điểm, cụm và tuyến du lịch 39
3.1.6 Những hạn chế phát triển du lịch Hà Giang 43
3.2 Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Hà Giang 44
3.2.1 Cơ sở xây dựng giải pháp 44
3.2.2 Các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Hà Giang 48
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6Việt Nam đến năm 2030
Trang 7Hiện nay, du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao Theo Tổng cục Du lịch Việt Nam, số lượng khách du lịch tăng nhanh Năm
2000 đạt 13,3 triệu lượt khách trong đó đạt 2,1 triệu lượt khách quốc tế tới Việt Nam, năm 2014 đạt 7,8 triệu lượt khách quốc tế tăng 4% so với năm
2013 Doanh thu du lịch tăng nhanh Năm 2000, doanh thu mới đạt hơn 17 nghìn tỷ đồng gấp 21,2 lần năm 1991, đến năm 2014 đạt 230 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2013
Cùng với cả nước, Hà Giang đã và đang có những chiến lược khai thác tiềm năng để phát triển du lịch Hà Giang được nhìn nhận là một địa phương có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, đặc biệt là phát triển du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng Hà Giang giữ vai trò quan trò quan trọng trong phát triển du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ và cả nước Tỉnh có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, đa dạng, rất thuận lợi để phát triển du lịch Hà Giang được thiên nhiên ưu đãi với cảnh quan hùng vĩ, độc đáo của những dãy núi cao đá tai mèo ở phía Bắc và những cánh rừng bạt ngàn ở phía Nam mà không phải ở đâu cũng có Các di tích danh thắng nổi tiếng như Cổng Trời Sà Phìn, núi Đôi Quản Bạ (huyện Quản Bạ); đỉnh đèo Mã Pì Lèng và sông Nho Quế (huyện Mèo Vạc); ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, Cột cờ Lũng
Cú - điểm cực Bắc của Tổ quốc (huyện Đồng Văn) là nguồn tài nguyên du lịch
tự nhiên có giá trị Hà Giang còn có bản sắc văn hoá của cộng đồng 22 dân tộc anh em, được bảo lưu khá tốt Đặc biệt, Hà Giang có Cao nguyên đá Đồng Văn
Trang 8được tổ chức GGN (Global Network of National Geoparks) dựa trên giá trị nổi bật
về cảnh quan, có sinh địa tầng, địa chất, công nhận là thành viên mạng lưới “Công viên địa chất Toàn cầu” năm 2010, được Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 định hướng phát triển thành Khu du lịch Quốc gia đang trở thành điểm đến hấp dẫn của khách du lịch
và trở thành tài nguyên du lịch có giá trị đặc biệt
Trong những năm qua, nhất là từ năm 2006 đến nay, du lịch Hà Giang đã
có bước phát triển khá nhanh, đang dần trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân, mở rộng các mối quan hệ, hợp tác của tỉnh, làm thay đổi hình ảnh Hà Giang trong nhận thức của bạn bè trong nước và quốc tế Hạ tầng du lịch của tỉnh được đầu tư lớn, các khu du lịch được hình thành và phát triển Lượng khách du lịch đến Hà Giang năm 2005 đạt trên 32 nghìn lượt, năm
2011 lượng khách du lịch đạt khoảng 330.000 lượt người, tăng 9,5% so với năm
2010 Riêng năm 2014, ngành Du lịch đón 650 nghìn lượt du khách, doanh thu
du lịch, dịch vụ du lịch năm 2014 đạt gần 600 tỷ đồng tăng 20% so với năm
2013 và tăng 9,1% so với kế hoạch năm 2014 Tuy nhiên, những kết quả đã đạt
được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của tỉnh Hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch còn thấp, chất lượng chưa cao
Để khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch của tỉnh Hà Giang, việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát triển là việc làm quan trọng và cần thiết Xuất phát từ lí do đó em lựa chọn
và nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch tỉnh
Hà Giang” làm Khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Vận dụng có chọn lọc cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trên thế giới và Việt Nam vào địa bàn tỉnh Hà Giang nhằm đánh giá tiềm năng phát triển du lịch, bước đầu tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch của
Trang 9tỉnh Hà Giang, trên cơ sở đó đề xuất các ý kiến khuyến nghị cho phát triển
du lịch tỉnh Hà Giang
2.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan có chọn lọc những vấn đề lý luận và thực tiễn của du lịch và
tài nguyên du lịch
- Phân tích tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Hà Giang
- Bước đầu phân tích kết quả hoạt động du lịch tỉnh Hà Giang
- Đề xuất một số giải pháp có tính khuyến khích nhằm phát triển du lịch
- Về thời gian: đề tài chủ yếu nghiên cứu giai đoạn 2000 - 2014, giải pháp phát triển đến năm 2030 Tuy nhiên, trong quá trình thu thập tài liệu tác giả gặp một số vấn đề khó khăn trong quá trình nghiên cứu, vì vậy khóa luận có sử dụng
Những công trình nghiên cứu đầu tiên về du lịch có tầm quan trọng trên thế giới có thể kể đến là những nghiên cứu đầu tiên về các loại hình du lịch, những nhân tố ảnh hưởng chính đến hoạt động du lịch Những nghiên cứu đầu tiên của các nhà địa lí du lịch được tiến hành ở Đức từ năm 1930 và được Poser
Trang 10(1939), Christal (1955) phát hiện về loại hình du lịch, khảo sát về vai trò lãnh thổ, những nhân tố ảnh hưởng đến du lịch
Ở Liên Xô có nhiều công trình nghiên cứu, như công trình của Pirozhihic (1985) đã phân tích hệ thống lãnh thổ du lịch, các vùng du lịch như là đối tượng cho quy hoạch và quản lí V.X.Perobrazaxnki, I.U Vedennhim (1971) đưa ra khái niệm về hệ thống nghỉ ngơi theo lãnh thổ Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu về các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ cho giải trí (Mukhina, 1973), nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các địa điểm du lịch (Kadaxkia, 1972), (Sepfer, 1973) Các nhà địa lí cảnh quan học của trường Đại học Tổng hợp Matxcova như E.D Ximirnova, V.B Nhefedova,… Ở Ba Lan có Kostoroviski (1970), Vacsdanxka (1973) đã tiến hành đánh giá và lập bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Ngoài ra các nhà địa lí Mỹ như Boohart (1971), nhà địa lí Anh H.Robison (1976), các nhà địa lí Canada như Hennayơ (1972) cũng tiến hành việc đánh giá sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích giải trí,
du lịch
Trong những năm gần đây, những lợi ích của du lịch trở nên rõ ràng hơn cũng như tác động của nó đối với hàng loạt vấn đề nảy sinh mang tính toàn cầu thì việc nghiên cứu du lịch gắn với sự phát triển vùng lại càng trở nên cần thiết
Ở Pháp, Jean - Lozoto (1990) đã nghiên cứu và phân tích các tụ điểm du lịch Các nhà địa lý Anh, Mỹ gắn công việc nghiên cứu lãnh thổ du lịch với những dự
án du lịch trên một miền hay một vùng cụ thể Nhìn chung, nhiều nhà địa lý đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lý du lịch là các hệ thống lãnh thổ hoặc tổng hợp lãnh thổ du lịch, tức là xác định các hệ thống địa bàn phát triển du lịch trên lãnh thổ và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển
du lịch
3.2 Ở Việt Nam
Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ
đó đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch Phần lớn tập trung vào các vấn đề về tổ chức không gian du lịch, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu du lịch với một số tác giả tiêu biểu như: về phương diện địa lí du lịch có
Trang 11một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ,
Vũ Tuấn Cảnh,… Các công trình nghiên cứu đáng chú ý như: Cơ sở khoa học và
thực tiễn để xây dựng hệ thống du lịch biển ở Việt Nam (đề tài nghiên cứu cấp
nhà nước, chủ nhiệm Vũ Tuấn Cảnh, 1993 – 1995); một số công trình dưới dạng
sách như: Tổ chức lãnh thổ du lịch (Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, 2000), Địa lí
du lịch (Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Phạm Xuân Hậu, Nguyễn
Kim Hồng, 1997), Du lịch sinh thái (Phạm Trung Lương chủ biên, 2001), Du
lịch bền vững (Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, 2001), Tuyến điểm du lịch Việt Nam (Bùi Thị Hải Yến, 2005)…
Hà Giang là một tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, đã và đang chú trọng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Trong những năm vừa qua, nhiều nghiên cứu về du lịch Hà Giang đã được tiến hành như: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, những dự án nghiên cứu và phát triển du lịch Hà Giang qua từng giai đoạn 2000 - 2005, 2005 - 2010, 2010 – 2015 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Đây là phương pháp quan trọng và xuyên suốt quá trình nghiên cứu đề tài Những thông tin từ các nguồn tài liệu sẽ giúp chúng ta hiểu biết về những thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực này Trên cơ sở những tài liệu phong phú đó, việc tổng hợp sẽ giúp ta có một hệ thống tài liệu toàn diện, khái quát về vấn đề nghiên cứu
4.2 Phương pháp thực địa
Địa lí nói chung và địa lí du lịch nói riêng luôn gắn bó mật thiết với tự nhiên và xã hội Việc điều tra thực tiễn ở các điểm du lịch giúp ta có những số liệu, những nhận xét thực tế, tránh được sự đánh giá chủ quan, mơ hồ, làm tăng tính thực tế, tạo khả năng vận dụng nhanh chóng các kết quả đã nghiên cứu
Trang 12Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát một số điểm du lịch của tỉnh Những kết quả trong quá trình khảo sát là những cơ sở cần thiết để đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn
4.3 Phương pháp biểu đồ
Đây là phương pháp cho phép thu thập thông tin về số lượng, chất lượng,
sự phân bố, thực trạng khai thác Tài nguyên du lịch của tỉnh Hà Giang Phương pháp này còn thể hiện sự phân bố về số lượng, chất lượng, khả năng tôn tạo và khai thác tài nguyên du lịch của tỉnh Hà Giang
4.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Ngoài các thông tin, tư liệu thu thập được trong sách, báo, Internet thì việc lấy ý kiến chuyên gia và các cán bộ thuộc lĩnh vực nghiên cứu cũng rất quan trọng, góp phần củng cố được những thông tin thiếu sót Từ đó, giúp em có nhận định chính xác về vấn đề mình đang nghiên cứu
Tác giả đã gặp gỡ một số cán bộ sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch của tỉnh Hà Giang tiếp xúc một số cán bộ quản lý các điểm du lịch và một số bà con nhân dân địa phương ở các điểm du lịch để tìm hiểu về việc quản lý, khai thác các điểm du lịch Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về du lịch;
Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Hà Giang;
Chương 3: Hiện trạng và định hướng phát triển du lịch tỉnh Hà Giang
Trang 13Quan niệm về du lịch luôn là một vấn đề được tranh luận trong suốt một thời gian dài Giáo sư Hunziken và giáo sư Krapf (Thụy Sĩ) đã đưa ra khái niệm:
“Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại
và lưu trú của những người ngoài địa phương, những người không có mục đích định cư và không liên quan đến bất cứ hoạt động kiếm tiền nào”
Tổ chức du lịch thế giới cũng định nghĩa: “Du lịch bao gồm tất cả những
người du hành tạm trú trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm và trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư, nhưng loại trừ các du hành có mục đích chính là làm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường khác hẳn nơi định cư” Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ: Du lịch là ngành
kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung kinh tế sâu sắc có tính liên ngành liên vùng và xã hội hóa cao Quan niệm này được thể chế thành luật Luật du lịch được quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kì
họp thứ 7 Quốc hội khóa 11: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến việc di
chuyển của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong thời gian nhất định” Du
lịch ngày càng phát triển và ngày càng đa dạng về hình thức, trên thế giới những
Trang 14năm gần đây xuất hiện nhiều loại hình du lịch: du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa, du lịch xanh…
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch của người dân địa phương, họ tham gia làm du lịch cùng với một tổ chức kinh tế nào đó (có thể cả tổ chức kinh tế nước ngoài) nhằm khai thác những lợi thế (cả tự nhiên và kinh tế - xã hội) để tăng thu nhập và giải quyết việc làm, cải thiện đời sống ở địa phương, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và gìn giữ bản sắc văn hóa của địa phương
Du lịch cộng đồng là hoạt động có sự tham gia tích cực của người dân địa phương từ các khâu quản lý hoạt động ra quy định bảo vệ Du lịch cộng đồng được chú trọng ở những vùng nông thôn thường là những vùng nghèo và xa xôi cách trở Hoạt động du lịch phải thu hút cả cộng đồng địa phương và đem lại lợi ích cho họ Người dân địa phương phát triển du lịch trong khu vực của họ được làm việc với các đơn vị làm du lịch khác họ có cơ hội tạo ra việc làm cải thiện đời sống
Hội thảo phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam cũng có quan điểm thống
nhất: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản
địa, có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
Du lịch văn hóa đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức hiểu biết các đối tượng văn hóa xã hội lịch sử kiến trúc, chế độ xã hội cuộc sống, phong tục tập quán ở những miền đất lạ Loại hình này liên quan chủ yếu đến tài nguyên du lịch nhân văn Mục đích của du lịch văn hóa là nâng cao hiểu biết cho cá nhân, thỏa mãn nhu cầu hiểu biết về văn hóa, lịch sử, kiến trúc, kinh tế, chế độ xã hội cuộc sống
và phong tục tập quán của đất nước đến du lịch
Như vậy, du lịch là một ngành kinh tế dựa trên các tài nguyên du lịch phục
vụ nhu cầu vui chơi, giải trí, tham quan và nghỉ dưỡng của con người
Trang 151.1.2 Chức năng của du lịch
1.1.2.1 Chức năng xã hội
Du lịch giải quyết việc làm cho nhiều lao động, cải thiện đời sống nhân dân Du lịch có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn, phục hồi sức khỏe của con người Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, tăng cường sức sống và khả năng lao động của con người
Du lịch có khả năng góp phần tái tạo sức lao động của con người thông qua nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe thể chất và tinh thần Hàng năm, đa số tổ chức
và doanh nghiệp đều thực hiện những kỳ nghỉ ngắn ngày và dài ngày nhằm phục hồi sức khỏe, gắn kết thành viên Ngoài ra, nhờ có sự phát triển của du lịch, nhiều di sản văn hóa, lịch sử của các dân tộc được quảng bá, nhiều người biết đến hơn Điều này đã tạo ra một nguồn thu có thể được dùng cho mục đích tôn tạo các di sản đó, đồng thời nâng cao ý thức của cư dân sở tại về việc bảo tồn các di sản
1.1.2.2 Chức năng kinh tế
Du lịch không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ” mà còn là ngành “xuất khẩu vô hình” mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, góp phần tăng thu nhập quốc dân, đa dạng hóa và thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển
Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý Đó là sự tăng dần tỉ trọng ở khu vực dịch vụ trong cơ cấu nền kinh tế, trong đó có du lịch Có thể khẳng định rằng du lịch là một lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn so với các ngành kinh tế khác
1.1.2.3 Chức năng sinh thái
Du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ và khôi phục môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người Du lịch tạo cho con người có điều kiện hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của tự nhiên đối với đời sống con người, là bằng chứng thực tiễn phong phú góp phần tích cực vào việc giáo dục môi trường Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt, xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch,
Trang 16nhưng mặt khác phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động xâm hại của dòng khách du lịch cũng như của việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục
vụ du lịch Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau
1.1.2.4 Chức năng chính trị
Du lịch là phương tiện hữu hiệu để giáo dục về truyền thống dân tộc, về lòng yêu quê hương đất nước Du lịch cũng là nhân tố mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc, thúc đẩy giao lưu quốc tế, củng cố hòa bình giữa các quốc gia Du lịch quốc tế khiến cho những con người ở những vùng khác nhau trên thế giới hiểu biết lẫn nhau, xích lại gần nhau và tạo tình hữu nghị giữa các dân tộc
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch
* Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn du khách đã đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững Theo Buchvakop - nhà địa lí học người Bungari: “Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên và cảnh quan nhân văn có thể được sử dụng cho dịch vụ du lịch và thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi hay tham quan của khách du lịch” Xét dưới góc độ cơ cấu tài nguyên du lịch, có thể phân thành hai bộ phận:
* Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa
mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể phục vụ cho mục đích du lịch Trong tài nguyên du lịch tự nhiên thì các di sản thiên nhiên thế giới, công viên địa chất có ý nghĩa quan trọng trong phát triển du lịch
- Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác, nó
là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du lịch nhân tạo có những đặc điểm khác biệt nhiều
so với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên
Trong tài nguyên du lịch nhân văn thì các di sản văn hóa vật chất và phi vật thể được UNESCO công nhận, bảo tồn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát
Trang 17trong việc phát triển du lịch Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên
rõ rệt Tài nguyên du lịch là một trong những nhân tố cơ bản, điều kiện kiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương
Tài nguyên du lịch tạo nên các điểm, cụm, tuyến du lịch Nếu không có tài nguyên du lịch sẽ không có các điểm du lịch Số lượng tài nguyên, chất lượng tài nguyên du lịch ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia
Vì vậy, số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ các tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đến sự phát triển du lịch, sức hấp dẫn của địa phương phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên du lịch của địa phương đó
* Các nhân tố kinh tế - xã hội và chính trị
Dân cư và lao động là nguồn lực quan trọng của nền sản xuất xã hội
Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Số dân càng đông thì số người tham gia vào các hoạt động du lịch càng nhiều Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố
và mật độ dân có có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch Ngoài ra, cần nghiên cứu cơ cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch
Điều kiện sống của người dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch
Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống của con người đạt tới một trình độ nhất định Mức sống của con người tăng lên góp phần cho du lịch phát triển rộng rãi
Thời gian rỗi là nhân tố rất thuận lợi để phát triển du lịch dài ngày Nó thực
sự trở thành một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động du lịch Thời gian rỗi là thời gian cần thiết để con người nâng cao học vấn, phát triển trí tuệ, hoàn thành các chức năng xã hội, tiếp xúc với bạn bè và vui chơi giải trí
Chính trị ổn định là điều kiện quan trọng để thúc đẩy hay kìm hãm sự phát
triển du lịch trong nước và quốc tế Du lịch chỉ tồn tại trong điều kiện hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc Hòa bình là đòn bẩy thúc đẩy du lịch phát triển Điều
Trang 18kiện đảm bảo về y tế trước các dịch bệnh cũng ảnh hưởng lớn đến tâm lí và nhu cầu của khách du lịch, bên cạnh đó, các tai biến thiên nhiên (động đất, sóng thần…) gây mất an toàn cũng là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút khách
du lịch của các quốc gia, vùng lãnh thổ
Cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế những tiến
bộ tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ trong thế kỷ XX và sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa là những yếu tố trực tiếp làm nảy
sinh nhu cầu và hoạt động du lịch
Đô thị hóa Trong quá trình đô thị hóa, bên cạnh những đóng góp tích cực,
còn rất nhiều mặt trái làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người như tiếng ồn, lao động căng thẳng… từ những mặt trái đó, nghỉ ngơi, giải trí trở thành một trong những nhu cầu không thể thay thế được của người dân thành phố Nhu cầu này
đã làm xuất hiện một loạt các loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch ngắn ngày đã
trở nên phổ biến
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam
Nước ta nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi đang diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động nói chung và du lịch nói riêng Vì thế nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Nhiều di sản được UNESCO công nhận là di sản thế giới như Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh Địa Mỹ Sơn… ngoài ra còn rất nhiều cảnh đẹp hấp dẫn du khách đến du lịch Ngành du lịch nước ta chỉ thực sự chuyển biến mạnh mẽ và trở thành một ngành kinh tế khi đất nước tiến hành đổi mới, đặc biệt từ những năm 90 của thế kỷ XX Đảng và Nhà
nước đã khẳng định “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng góp phần
nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” và coi “ Phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu từng bước đưa nước ta thành trung tâm du lịch, thương mại - dịch vụ có tầm
cỡ trong khu vực” (Chỉ thị số 46 - CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam)
Trang 19Doanh thu và số lượng khách du lịch số lượng khách du lịch ngày càng tăng
Doanh thu du lịch tăng nhanh Năm 2000, doanh thu mới đạt hơn 17 nghìn
tỷ đồng gấp 21,2 lần năm 1991, đến năm 2010 đã đạt khoảng 96 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 5 lần so với năm 2009, năm 2014 đạt 230 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2013
Các sản phẩm du lịch cũng đa dạng hơn Ngoài các sản phẩm du lịch truyền
thống ngành du lịch đã phát triển các loại hình du lịch mới như du lịch thể thao,
du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng…
Về đầu tư du lịch: để khai thác tiềm năng du lịch, vấn đề đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật là vấn đề cấp thiết Trong những năm qua ngành du lịch đã được đầu tư đáng kể Số cơ sở lưu trú nhanh Năm 2010, ngành du lịch Việt Nam có khoảng 11.000 cơ sở lưu trú với hơn 200 nghìn buồng Năm 2014 có trên 15.998 cơ sở lưu trú với 331.538 buồng lưu trú Chất lượng phòng từng bước được nâng cao
Cơ sở kinh doanh ăn uống phát triển nhanh về số lượng và quy mô Chất lượng phục vụ không ngừng được nâng cao Một số khu nghỉ dưỡng, sân golf, công viên chuyên đề và cơ sở giải trí được đưa vào hoạt động, đáp ứng nhu cầu của du khách và nhân dân
Mạng lưới giao thông vận tải đã được đầu tư đáng kể tạo điều kiện thuận lợi cho du khách Các phương tiện vận tải ngày càng được hiện đại hóa góp phần nâng cao năng lực vận chuyển khách
Lực lượng lao động trong ngành du lịch tăng khá nhanh về số lượng và chất lượng Năm 2000 có khoảng 20.000 lao động trực tiếp và 450.000 lao động gián tiếp Hiện nay, số lao động trực tiếp trên 570.000 trong tổng số 1.8 triệu lao động
du lịch Tỷ lệ lao động du lịch đã qua đào tạo chuyên nghiệp và đào tạo tại chỗ
Trang 20ngày càng cao và đang trong quá trình chuẩn bị tích cực để hội nhập toàn diện với
du lịch khu vực và toàn thế giới Hơn 40% tổng số lao động được đào tạo hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch
Toàn ngành đã chú trọng xây dựng phát triển nhiều loại hình du lịch, các tuyến du lịch mới cả đường bộ, đường sông, đường biển, nối các điểm du lịch, khu
du lịch ở miền núi, cao nguyên, đồng bằng, vùng ven biển và hải đảo Hình thành các loại hình du lịch mới, đặc thù… chú trọng khai thác giá trị nhân văn giàu bản sắc dân tộc, tổ chức các cuộc thi để nâng cao chất lượng sản phẩm
1.2.2 Thực tiễn phát triển du lịch vùng Trung du và miền núi phía Bắc
Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ là nơi hội tụ đầy đủ nhiều tiềm năng
du lịch đặc sắc, mang đậm các đặc trưng cơ bản về đất nước và con người Việt Nam Nhiều điểm du lịch nổi tiếng như Đền Hùng, Điện Biên, Sa Pa, Ba Bể, Bản Giốc, cao nguyên đá Đồng Văn… đã và đang là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ có những nét riêng biệt không có ở các vùng lãnh thổ khác trên đất nước ta
Vùng này bao gồm nhiều dãy núi trùng điệp, hùng vĩ như dãy núi Hoàng Liên Sơn được mệnh danh là "mái nhà của Đông Dương", với đỉnh cao nhất là Phanxipang 3.143m và hàng chục đỉnh núi khác có độ cao trên dưới 3.000m Những dãy núi nơi đây có đặc điểm bị chia cắt rất mạnh và có tính phân bậc, vì thế tạo nên nhiều cảnh quan đẹp và di tích tự nhiên bao gồm các thác nước, những thung lũng mở rộng và vực thẳm Ngoài Sa Pa là thị trấn du lịch nổi tiếng nằm ở độ cao 1.500m thuộc tỉnh Lào Cai, các địa danh khác như cao nguyên Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Đồng Văn, Quản Bạ (Hà Giang), Bắc Hà (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La) được ví như bức tranh tuyệt tác vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng, có đầy đủ mọi điều kiện tự nhiên thuận lợi để xây dựng các khu du lịch miền núi
Mặt khác, nơi đây còn có thêm những hệ thống hang động của địa hình cácxtơ thuộc vùng núi đá vôi Các nhà khoa học đã phát hiện hơn 20 hang có giá trị khảo cổ thời kỳ đồ đá, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Lạng Sơn, Lai Châu và
Trang 21Hòa Bình Ngoài giá trị thiên nhiên, các hang động này còn có các sự tích hoặc gắn với các sự kiện lịch sử như Hang Pắc Bó (Cao Bằng)
Du lịch sinh thái tập trung chủ yếu ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên vốn rất phong phú gồm 49 khu bảo tồn tự nhiên, 5 vườn quốc gia và 20 khu rừng văn hóa - lịch sử - môi trường, với những danh lam thắng cảnh hồ Ba Bể, hồ Núi Cốc, hồ Thác Bà, lòng hồ sông Đà, Thác Bản Giốc, Thác Bạc đặc biệt, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ rất có ý nghĩa về lịch sử cội nguồn Nhiều di tích gắn
bó với truyền thuyết và lịch sử dân tộc như Đền Mẫu Âu Cơ, Đền Hùng (Phú Thọ);
di tích lịch sử gắn với từng giai đoạn cách mạng như Hang Pắc Bó (Cao Bằng), Cây đa Tân Trào và An toàn khu ở Tuyên Quang, di tích lịch sử Điện Biên Phủ đang tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc trên vùng đất này phát triển mạnh về
du lịch để xóa nghèo vươn lên làm giàu bền vững
Doanh thu và số lượng khách du lịch ngày càng tăng nhanh: năm 2014, lượng khách du lịch đến thăm quan 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng (Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Giang, Lào Cai) đạt 14.394.100 lượt (trong đó có 988.043 lượt khách quốc tế và 13.406.057 lượt khách nội địa),
Trang 22tăng 18,2% so với năm 2013; tổng thu từ khách du lịch đạt 7.825 tỷ đồng, tăng 22,5% so với năm 2013
Hiện nay, các doanh nghiệp đã đặc biệt quan tâm những vấn đề thiết thực
để có thể thu hút du khách trong nước và quốc tế như: vấn đề giao thông đi lại; cung ứng sản phẩm chất lượng cao để du khách ngày càng yêu mến và quay lại Tây Bắc; phát triển du lịch theo hướng bền vững hài hòa với môi trường và đảm bảo phục vụ khách nhu cầu cao cấp; xây dựng lộ trình quảng cáo nhất định, tận dụng mạng xã hội trong công tác tuyên truyền quảng bá…
Trang 23CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH HÀ GIANG
2.1 Vị trí địa lí
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực Bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng Diện tích tự nhiên khoảng 7,9 triệu km2 Hà Giang có hệ tọa độ địa lí tại điểm cực bắc Lũng Cú từ 23o13' và điểm cực tây tại Xín Mần có kinh độ 104o24'05” và mỏm cực đông tại Mèo Vạc có kinh độ l05o30'04” Phía bắc và tây có đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (dài 277,1km); phía đông giáp với tỉnh Cao Bằng; phía nam giáp với tỉnh Tuyên Quang; phía tây và tây nam giáp với tỉnh Lào Cai và Yên Bái
Tỉnh Hà Giang nằm ở địa đầu của Tổ quốc, có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ an ninh quốc phòng và đối ngoại; là đầu mối giao thông, quan hệ kinh tế quan trọng đối với Trung Quốc và các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai Có tiềm năng lợi thế về nông, lâm nghiệp, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu; là vùng có mối quan hệ mật thiết với thủ đô Hà Nội, với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ thông qua hệ thống hành lang kinh tế quan trọng; có mối quan hệ mật thiết về kinh tế với các tỉnh phía Nam và Đông Nam Trung Quốc thông qua các cửa khẩu hoặc đường mòn (lối mở) Trên địa bàn tỉnh có 4 tuyến quốc lộ đi qua, đây là những tuyến giao thông huyết mạch của tỉnh như quốc lộ
2, quốc lộ 4C, quốc lộ 34, quốc lộ 279 cùng với hệ thống sông ngòi dày đặc như: sông Lô, sông Gâm, sông Miện… tạo thành mạng lưới giao thông đường thủy,
bộ rất thuận tiện cho giao lưu phát triển kinh tế trong và ngoài tỉnh
Với những lợi thế về vị trí địa lý như vậy, Hà Giang có điều kiện phát triển các ngành kinh tế nhất là thương mại, du lịch Vấn đề đặt ra là phải khai thác có hiệu quả những lợi thế nói trên, biến những tiềm năng thành hiện thực
2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.2.1 Địa hình, địa chất
Nằm tựa vào dãy núi Hoàng Liên Sơn với dải Tây Côn Lĩnh và cao nguyên Đồng Văn tạo cho Hà Giang dáng địa hình cao dần về phía Tây Bắc,
Trang 24thấp dần về phía Đông Nam Độ cao trung bình của tỉnh từ 800 - 1200m so với mặt nước biển, chỗ thấp nhất là thung lũng sông Lô (cao 80 - 100m) và nơi cao nhất là đỉnh Tây Côn Lĩnh (cao 2.419m) Nhìn chung diện tích Hà Giang không rộng, nhưng do ảnh hưởng của yếu tố địa hình nên mật độ tập trung các ngọn núi cao khá dày đặc với khoảng 10 ngọn núi có độ cao từ 500 - 1.000m;
24 ngọn núi cao từ 1.000 - 1.500m; 10 ngọn núi cao từ 1.500 - 2.000m; 5 ngọn núi cao từ 2.000m trở lên Hà Giang là một tỉnh thuộc Trung du miền núi Bắc bộ, địa hình khá phức tạp, có thể chia 3 vùng:
- Vùng cao phía bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông suối bị chia cắt nhiều, gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trưng cho địa hình cátxtơ, ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng Ngày 03/10/2010 cao nguyên đá Đồng văn đã gia nhập mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu với tên gọi: Công viên địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn
- Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần của cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ 1.000m đến trên 2.000m Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp
- Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc Mê, thị xã Hà Giang, qua Vị Xuyên đến Bắc Quang Khu vực này có những dải rừng già xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối
Do địa hình phức tạp nên giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, khả năng khai thác đất đai phát triển nông nghiệp và khai thác nguồn nước cho sản xuất, sinh hoạt có nhiều hạn chế, đồng thời cũng tạo thành các tiểu vùng khí hậu khác nhau
2.2.2 Khí hậu
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang
về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn
Trang 25Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,6oC - 23,9oC, biên độ nhiệt trong năm trên
10oC và trong ngày cũng từ 6 – 7oC Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến
40oC (tháng 6, 7); Ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,20C (tháng l)
Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú, toàn tỉnh đạt bình quân lượng mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000mm, là một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn Năm 2001, lượng mưa đo được ở trạm
Hà Giang là 2.253,6mm, Bắc Quang là 4.244mm, Hoàng Su Phì là 1.337,9mm Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400mm, trong khi
đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5mm, ở Bắc Mê là 1,4mm… độ ẩm
bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng không lớn Thời điểm cao nhất (tháng 6,7,8) vào khoảng 87 - 88%, thời điểm thấp nhất (tháng l,2,3) cũng vào khoảng 81%: đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ rệt Hà Giang là tỉnh có nhiều mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là 181 giờ, tháng ít chỉ có 74 giờ) Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng Thung lũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt quá 50% Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - l,5m/s Đây cũng là nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối
Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống
Cao nguyên đá Đồng Văn có độ cao trung bình từ 700 - 1000m, trong đó
có nhiều đỉnh cao trên 2000m; khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình năm 20oC – 23oC, một số nơi xuống đến 0oC Lượng mưa trung bình năm 1400mm nhưng do địa hình cácxtơ nên nước mưa nhanh chóng thẩm thẩu xuống các hang động ngầm, độ ẩm trung bình 80 % Khí hậu của vùng khá khắc nhiệt, thời tiết có nhiều biến động bất thường, những tháng mùa đông thường có sương
Trang 26muối và mưa phùn, thậm chí có tuyết và băng giá Mùa mưa thường có mưa đá, gió lốc, lũ quét gây sạt lở đất ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân trong vùng Nhìn chung, khí hậu mang sắc thái ôn đới và cận nhiệt đới, thích hợp với các loại cây trồng có nguồn gốc ôn đới, có ưu thế trồng cây dược liệu, cây ăn quả, sản xuất hạt rau giống, nuôi ong mật, chăn nuôi bò, dê…
2.2.3 Đặc điểm thuỷ văn và nguồn nước
Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng Ở đây có mật độ sông, suối tương đối dày Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều, có độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông Những sông lớn chảy qua Hà Giang như sông Chảy, sông Gâm và sông Nho Quế đều chảy theo hình chữ “S” ngược
Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưa Lung (Trung Quốc), qua biên giới Việt - Trung gần Thanh Thủy Sông chảy qua thành phố Hà Giang đến Làng Hung Từ Làng Hung đến Ngô Khê thì đổi hướng chảy theo đông bắc bắc - tây tây nam Đây là nguồn cung cấp nước sông chính cho vùng trung tâm tỉnh
Sông Gâm bắt nguồn từ vùng Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc), chảy qua mỏm cực bắc gần Lũng Cú đến Mèo Vạc, chừng 30km thì chuyển theo hướng đông bắc - tây nam, rồi theo hướng bắc nam đến gần thị xã Tuyên Quang mới nhập vào sông Lô Đây là nguồn cung cấp nước chính cho phần đông của tỉnh
Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh 2419m và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liêu Ti 2042m, rồi chảy tiếp một đoạn chừng 50km gần tới Mường Khương (Lao Cai) Tại đây, sông ngoặt theo vòng cung chữ “V” chảy theo hướng đông nam một đoạn dài 75km qua Bảo Yên, rồi Lục Yên về Đoan Hùng Mật độ các dòng nhánh ở đây cao (1,1km/km2), hệ số tập trung nước đạt (2,0km/km2) Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa phận tỉnh nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của Hà Giang
Trang 27Ngoài ra trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấp nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư
2.2.4 Sinh vật
Hà Giang một địa danh du lịch với những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, những nét sinh hoạt truyền thống lâu đời đặc sắc của đồng bào các dân tộc mà nhiều khách du lịch còn chưa biết đến
Hà Giang có diện tích rừng tương đối lớn, trong đó diện tích rừng tự nhiên
là 345.860 ha Một trong những thế mạnh khác của Hà Giang chính là tài nguyên du lịch sinh thái Trước hết phải kể đến thảm thực vật phong phú và đa dạng cùng nhiều chủng loại quý hiếm có 1400 các cây dược phẩm quý, các loại cây dẻ, re, sến, lim, sồi, gụ… các loại động vật hoang dã như: hổ, báo, hoẵng, gấu ngựa, gấu chó, sơn dương, lợn rừng, khỉ cùng các loại chim quý, bò sát… Đây chính là nguồn lợi đáng kể đóng góp vào kinh tế địa phương đồng thời cũng
là tiềm năng để xây dựng những khu bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học Hà Giang còn nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, môi trường sinh thái trong lành và chứa đựng nhiều tiềm ẩn kỳ thú Các rừng đá trập trùng, nhấp nhô ẩn hiện trong mây bạc, nhiều đỉnh núi cao trên 2.000m như Pu Ta Kha, Tây Côn Lĩnh; nhiều hang động đầy bí ẩn như Tùng Bá, Lùng Má, (huyện Vị Xuyên), Tùng Vài (Quản Bạ) Đây là một địa hình cátxtơ tiêu biểu với bạt ngàn những dãy núi đá tai mèo nhấp nhô ở các huyện phía Bắc, hay những dãy núi đất hùng vĩ với những thửa ruộng bậc thang nối tiếp nhau ở những huyện miền Tây
và cùng cả một hệ thống những thác nước, hang động đẹp không chỉ có giá trị về cảnh quan mà còn chứa đựng những dấu ấn di tích lịch sử, khảo cổ học Bên cạnh đó Hà Giang nổi tiếng được biết đến với những cổng trời cao vời vợi mà đến đó ta có cảm giác như đang cưỡi mây cưỡi gió và thấy mình thật nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ nơi đây Tất cả đang chờ đợi du khách khám phá khi đến với Hà Giang
Trang 282.2.5 Các cảnh quan du lịch tự nhiên
* Cao nguyên đá Đồng Văn
Có diện tích gần 2.350km², nằm trải rộng trên địa bàn 4 huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang gồm Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn Cao nguyên Đồng Văn có tới 80% diện lộ đá vôi với 11 hệ tầng địa chất, trong đó Chang Pung là hệ tầng cổ nhất có niên đại 545 triệu năm Ở đây còn có 17 nhóm hóa thạch giúp các nhà khoa học hoàn chỉnh bức tranh lịch sử phát triển địa chất vùng cao nguyên đá Đồng Văn nói riêng và khu vực đông bắc Việt Nam - nam Trung Quốc nói chung Do có sự đa dạng địa chất cao cùng với sự thay đổi của khí hậu nên quá trình tiến hóa cácxtơ ở Cao nguyên đá Đồng Văn diễn ra liên tục, tạo ra các “vườn đá”, “rừng đá” vô cùng phong phú như: vườn đá Khâu Vai, vườn đá Lũng Pù thuộc huyện Mèo Vạc… và hệ thống hang động kỳ vĩ như: hang Rồng ở Sảng Tủng (Đồng Văn), hang Khố Mỷ ở Tùng Vài (Quản Bạ), động Én ở Vần Chải (Đồng Văn)…
Cao nguyên đá Đồng Văn còn được các nhà khoa học đánh giá là vùng có
hệ địa - sinh thái núi đá độc đáo và đa dạng Quần xã rừng nguyên sinh ở đây còn tương đối nguyên vẹn, có nhiều gỗ, lâm sản và các loài thuốc quý Đây cũng
là môi trường sống của các loài động vật hoang dã, tạo nên nét đẹp tự nhiên, sinh động của vùng cao nguyên
Bên cạnh những giá trị về địa chất, địa mạo, cảnh quan, cao nguyên đá Đồng Văn còn chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc Ngày 3/10/2010, tại Lesvos (Hy Lạp), Cao nguyên đá Đồng Văn đã được Hội đồng tư vấn mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu công nhận là thành viên chính thức của mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu GGN (Global Network of National Geoparks) dựa trên giá trị nổi bật về cảnh quan, có sinh địa tầng, địa chất, địa mạo, văn hóa của các dân tộc trên cao nguyên đá Như vậy, Cao nguyên đá Đồng Văn đã trở thành công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam
* Núi Đôi - Cổng trời Quản Bạ
Quản Bạ là huyện cửa ngõ nằm về phía Tây Nam của Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Cách thành phố Hà Giang
Trang 2946km về phía Bắc Ra khỏi thành phố Hà Giang đường lên Quản Bạ hiểm trở với hai bên đều núi cao vút Vượt qua con đèo khúc khuỷu tới đỉnh đèo cao 1.500m so với mực nước biển là cổng trời Quản Bạ Đứng giữa cổng trời, du khách có dịp dừng chân chiêm ngưỡng Núi Đôi Quản Bạ, với “đôi gò” do thiên nhiên tạo với dáng vẻ cân đối Đây là một cảnh quan cácxtơ độc đáo của thị trấn Tam Sơn, huyện Quản Bạ
và của cả khu vực cao nguyên đá Đồng Văn, Mèo Vạc Cũng bắt đầu từ đây là cánh đồng Quản Bạ thấp, phẳng, vì thế càng tạo không gian thoáng đãng cho “đôi gò” nhô cao, bay bổng Theo đánh giá của các nhà khoa học địa chất thì Núi Đôi được cấu tạo bằng đá Đôlômít Do quá trình phong hóa đá lăn đồng đều theo sườn núi làm lùi dần sườn và hạ thấp dần đỉnh núi Cuối cùng tạo nên hình nón như hiện nay Đá Đôlômít
bị phong hóa (do quá trình tự vỡ) thành các hạt sạn và cát rất dễ dàng di chuyển theo sườn xuống dưới chân do trọng lực và nước chảy tràn trong mùa mưa Đặc biệt, còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hình nón của Núi Đôi nói riêng và của các ngọn núi có hình chóp nón nói chung là có sự đan xen của các đứt gãy, hướng khác nhau làm đá bị phá hủy dễ dàng hơn Núi Đôi thuộc kỷ Đệ Tứ - có niên đại cách ngày nay khoảng 1,6 triệu đến 2 triệu năm trở lại đây Ngoài Núi Đôi ra còn có một mực cao hơn gồm các đồi dạng nón được hình thành theo con đường tương tự nhưng ở giai đoạn cổ hơn, thể hiện rõ nhất là ba ngọn núi đang tồn tại ở khu vực thị trấn Tam Sơn hiện nay Danh thắng Núi Đôi Quản Bạ xếp hạng quốc gia ngày 16/11/2009
* Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì
Danh thắng ruộng bậc thang thuộc huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích cấp quốc gia Di tích ruộng bậc thang Hoàng Su Phì nằm trên địa bàn 6 xã Đây là những xã có danh lam thắng cảnh ruộng bậc thang tiêu biểu, được đánh giá vào loại đẹp nhất Việt Nam với lịch sử hàng trăm năm, do đồng bào các dân tộc La Chí, Dao, Nùng tạo nên bằng chính bàn tay lao động cần cù và sáng tạo của mình Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì không chỉ mang những giá trị về mặt vật chất mà còn mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hoá và giá trị thẩm mỹ cao Những thửa ruộng bậc thang nơi đây không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là minh chứng rõ ràng nhất về lịch sử cư trú từ bao đời nay của
Trang 30đồng bào các dân tộc trên vùng đất Hoàng Su Phì Với việc được công nhận là di tích cấp quốc gia, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì sẽ trở thành một trong những điểm thu hút du khách trong và ngoài nước tới chiêm ngưỡng những công trình độc đáo và mang đậm nét văn hóa của bà con vùng cao Hà Giang
2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn
- Dân cư, dân tộc
Tại thời điểm 04/01/2009, dân số của tỉnh Hà Giang là 724.353 người, chiếm 0,84% dân số cả nước Dự báo đến năm 2020 khoảng 845.000 người (trong đó ở đô thị khoảng 250.000 người, ở nông thôn khoảng 595.000 người) Hà Giang là mảnh đất hội tụ của đa dạng nền văn hoá
Bảng 2.1: Phân bố dân cư theo huyện ở Hà Giang năm 2009
STT Huyện, thị Diện tích
(km 2 )
Dân số (Người)
Mật độ dân số (Người/km 2 )
Trang 31Năm 2009, mật độ dân số trung bình của tỉnh là 91 người/km2 và có sự chênh lệch khá lớn giữa các huyện Cao nhất là thành phố Hà Giang 308 người/km2
và thấp nhất là huyện Bắc Mê 48 người/km2 Điều này phản ánh mức độ phát triển kinh tế giữa các khu vực cũng như sự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh
Về dân tộc có 22 tộc người cư trú và mỗi dân tộc mang đến cho Hà Giang
một nét văn hoá độc đáo riêng Đông nhất là dân tộc Mông chiếm khoảng 27,3%
số dân của tỉnh, tiếp đến là dân tộc Tày (25,7%), Kinh (17,8%), Dao (13,3%) và các dân tộc khác
Cùng với nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc ở
Hà Giang đều có một nền văn hoá mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc Bản sắc văn hoá dân tộc Hà Giang được thể hiện qua các giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hoá mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc
* Các di tích lịch sử Văn hóa
- Cột cờ Lũng Cú (Đồng Văn)
Lũng cú mảnh đất địa đầu của Tổ quốc, thuộc huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang, cách thị xã Hà Giang khoảng 200km Đây là điểm du lịch mang ý nghĩa lịch sử và thiêng liêng đối với khách du lịch nội địa Đỉnh Lũng Cú được ví như
“Vầng trán kiêu hãnh của Tổ Quốc” Đánh dấu điểm cực Bắc của đất nước, đứng trên đỉnh Lũng Cú có thể nhìn bao quát cảnh quan xung quanh thể hiện cảnh quan rất đẹp và hùng vĩ
Cột cờ cao 29.5m, có hình dáng cột cờ Hà Nội: Chân, bệ có 6 mặt phù điêu mang nét hoa văn của trống đồng Đông Sơn Cán cờ cao 9m, lá cờ Tổ quốc
có chiều dài 9m, chiều rộng 6m, diện tích 54m2 tung bay trên đỉnh núi rồng lộng gió tượng trưng cho 54 dân tộc anh em trên khắp mọi miền Tổ quốc đã chính thức tung bay trên đỉnh cột cờ Lũng Cú Đây là biểu tượng sức mạnh, lòng tự tôn, tự hào, tinh thần kiêu hãnh, ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước
Trang 32Đường lên đỉnh núi cột cờ được xây lại gồm 283 bậc theo lối cũ, đồng thời xây mới thêm 283 bậc đi xuống Thân cột cờ có hệ thống thanh bộ lên đỉnh Ngày 25/9/2010, sau 7 tháng thi công cột cờ Lũng Cú mới hoàn thành Đây chính là công trình chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ 15, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và Đại hội Toàn quốc lần thứ XI Việc đầu tư xây dựng cột cờ quốc gia Lũng Cú có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị, ngoại giao, khẳng định về mặt chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đồng thời tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước
Lũng Cú nằm trên đỉnh của Cao nguyên đá Đồng Văn Đứng ở chân cột
cờ phóng tầm mắt bao quát ra vùng biên giới của Tổ quốc Việt Nam Xa xa là bản Lô Lô và con sông Nho Quế uốn lượn, phân chia ranh giới Việt Trung
- Phố cổ Đồng Văn
Thị trấn Đồng Văn nằm trên cao nguyên đá ở độ cao trung bình từ 1000m
- 1600m so với mực nước biển, cách thành phố Hà Giang 160km Ở đây có một khu phố và chợ cổ có lối kiền trúc hàng trăm năm tuổi mà vẻ đẹp cổ kính, thâm trầm của nó đã làm du khách như trút hết mọi mệt mỏi sau khi vượt những chặng đường dài để đến với Đồng Văn
Phố cổ nằm ở trung tâm thị trấn Đồng Văn nhỏ bé (xưa thuộc tổng Đông Quan, châu Nguyên Bình, phủ Tường Vân, tỉnh Tuyên Quang) Khi mới hình thành đầu thế kỷ XX, khu phố này chỉ gồm vài gia đình người Mông, Tày, Hoa sinh sống Khi vào đây chiếm đóng, người Pháp có những quy hoạch và để lại những điểm nhấn quan trọng về quy hoạch và kiến trúc, đặc biệt là chợ Đồng Văn xây bằng đá trong những năm 1920, gần như còn nguyên vẹn đến ngày nay Chợ phiên Đồng Văn họp vào các ngày chủ nhật hàng tuần Vì vậy mà cứ các tối thứ 7 trước phiên chợ từng đôi trai, gái người Dao, Mông… lại đưa nhau về đây dạo chơi, thổi kèn, uống rượu và múa hát
Từ năm 2006, huyện Đông Văn đã tổ chức “Đêm phố cổ” vào các ngày 14,
15, 16 âm lịch hàng tháng Trong “Đêm phố cổ” các hộ dân trong khu phố cổ đồng loạt treo đèn đỏ, đồng thời tổ chức một số hoạt động mang đậm bản sắc khác