1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu tìm hiểu về văn miếu mao điền huyện cẩm giàng tỉnh hải dương

67 785 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời cảm ơn Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Bước đầu tìm hiểu về văn miếu Mao Điền huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương” được hoàn thành tại khoa Sử - Địa, trường Đại học Tây Bắc, dưới sự ch

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

VŨ THỊ HÒA

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ VĂN MIẾU MAO ĐIỀN HUYỆN CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

VŨ THỊ HÒA

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ VĂN MIẾU MAO ĐIỀN HUYỆN CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: Cô giáo Bùi Thị Nguyệt Quỳnh

Sơn La, năm 2015

Trang 3

Lời cảm ơn

Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Bước đầu tìm hiểu về văn miếu Mao Điền

huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương” được hoàn thành tại khoa Sử - Địa, trường Đại

học Tây Bắc, dưới sự chỉ bảo tận tình của cô giáo Bùi Thị Nguyệt Quỳnh

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn chân thành đến cô giáo Bùi Thị Nguyệt Quỳnh - giảng viên môn Lịch sử Việt Nam, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa, thư viện trường Đại học Tây Bắc đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

Em xin gửi lời cảm sâu sắc tới các bác, các cô chú ở Ủy ban nhân dân xã Cẩm Điền - Cẩm Giàng, thư viện huyện Cẩm Giàng, thư viện tỉnh Hải Dương, ban quản lí khu

di tích văn miếu Mao Điền đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tài liệu và cung cấp nhiều thông tin quan trọng để hoàn thành đề tài này

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2015

Người thực hiện

Vũ Thị Hòa

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Cấu trúc của đề tài 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN VĂN MIẾU Ở VIỆT NAM 5

1.1 Nho giáo - cơ sở cho sự hình thành Văn Miếu 5

1.1.1 Sự hình thành của Nho giáo 5

1.1.2 Nội dung và sự phát triển của Nho giáo 6

1.1.3 Đặc điểm của Nho giáo ở Việt Nam 8

1.2 Văn miếu - dạng kiến trúc tôn thờ Nho giáo cơ bản ở Việt Nam 10

1.2.1 Lịch sử hình thành 10

1.2.2 Chức năng của văn miếu 11

1.2.3 Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc trang trí cơ bản của văn miếu tại Việt Nam 11

1.2.4 Khái quát một số văn miếu ở nước ta 12

1.2.4.1 Văn miếu - Quốc Tử Giám - Hà Nội 12

1.2.4.2 Văn miếu Xích Đằng - Hưng Yên 14

1.2.4.3 Văn miếu Bắc Ninh 15

1.2.4.4 Văn miếu Trấn Biên - Đồng Nai 16

1.2.4.5 Văn miếu Huế 17

CHƯƠNG 2: VĂN MIẾU MAO ĐIỀN - HẢI DƯƠNG 20

2.1 Giới thiệu khái quát về xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương 20

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và dân cư 20

2.1.1.1 Vị trí địa lý 20

2.1.1.2 Khí hậu 21

2.1.1.3 Sông ngòi 22

2.1.1.4 Dân cư 22

2.1.2 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương 22

Trang 5

2.1.2.1 Đời sống kinh tế 22

2.1.2.2 Đời sống văn hóa xã hội 23

2.2 Văn miếu Mao Điền 24

2.2.1 Lịch sử hình thành lị sở Mao Điền, Cẩm Điền, Hải Dương 24

2.2.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của văn miếu Mao Điền 27

2.2.3 Việc thờ tự các danh nho ở văn miếu Mao Điền 31

2.2.4 Hệ thống di vật và kiến trúc điêu khắc của văn miếu Mao Điền 34

2.2.4.1 Di vật trong văn miếu 34

2.2.4.2 Kiến trúc 37

2.2.5 Mối tương quan văn miếu Mao Điền với một số văn miếu khác ở nước ta 42

2.2.6 Truyền thống và thành tựu Nho học trên đất Hải Dương 43

CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG VĂN MIẾU MAO ĐIỀN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN 47

3.1 Hiện trạng của văn miếu Mao Điền 47

3.1.1 Giá trị của văn miếu Mao Điền 47

3.1.2 Hiện trạng văn miếu Mao Điền 47

3.2 Một số giải pháp bảo vệ bảo tồn văn miếu Mao Điền 51

3.2.1 Vai trò của văn miếu trong đời sống văn hóa cộng đồng địa phương 51

3.2.2 Đẩy mạnh quảng bá du lịch văn miếu Mao Điền 52

3.2.3 Phát huy tác dụng giáo dục của văn miếu Mao Điền đói với sự nghiệp giáo dục đào tạo của tỉnh Hải Dương trong giai đoạn mới 53

KẾT LUẬN CHUNG 54 Tài liệu tham khảo

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn Vì thế các bậc Đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài kén chọn kẻ sĩ vun trồng nguyên

khí quốc gia làm công việc cần kíp”

(Trích Văn bia Tiến sĩ năm 1442)

Từ xưa đến nay, giáo dục luôn là lĩnh vực được Nhà nước quan tâm hàng đầu Giáo dục đã trở thành vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Giáo dục không chỉ góp phần hoàn thiện con người mà còn tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Đặc biệt, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hồ Chí Minh đã từng dạy “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa Con người xã hội chủ nghĩa không phải tự dưng mà có được mà phải trải qua quá trình học tập và rèn luyện Việc học tập ở đây là tiếp thu những tri thức khoa học tiến bộ của thời đại, đồng thời biết kế thừa và phát huy những di sản văn hóa dân tộc, nhân loại để hội nhập

với xu thế phát triển chung của thế giới”

Việt Nam là một quốc gia văn hiến có lịch sử phát triển mấy nghìn năm rực rỡ, một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần làm nên nền văn hiến Việt Nam chính là Nho giáo, Nho học và chính những di tích Nho học là một phần bộ mặt của nền văn hiến đó Văn miếu có vai trò vị trí đặc biệt quan trọng trong giáo dục phong kiến, nó là biểu tượng của Nho giáo, hàng loạt văn miếu được xây dựng trong thời kì này tiêu biểu như văn miếu Quốc Tử Giám, văn miếu Xích Đằng, văn miếu Trấn Biên… Trong đó không thể không nhắc tới văn miếu Mao Điền - một trong bốn văn miếu lớn nhất cả nước

Văn miếu Mao Điền thuộc trấn Đông - một trong tứ trấn kinh thành Thăng Long Nằm cách thành phố Hải Dương 16km về phía Tây, văn miếu Mao Điền thuộc huyện Cẩm Giàng là di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của mảnh đất xứ Đông Nơi này thờ Khổng Tử và tôn vinh các bậc danh nho tiêu biểu cho truyền thống văn hiến xứ Đông Đây thực sự là tài sản vô cùng quý giá không chỉ của Hải Dương mà còn của cả nước ta còn lưu giữ cho đến ngày nay

Trang 7

Là người con của mảnh đất Hải Dương, tôi muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của tỉnh nhà, điều này đã thôi

thúc tôi chọn đề tài “Bước đầu tìm hiểu về văn miếu Mao Điền huyện Cẩm Giàng

tỉnh Hải Dương”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Bên cạnh việc nghiên cứu Nho giáo, thì nghiên cứu về các di tích Nho học cũng từng bước được đẩy mạnh và nâng cao Tuy nhiên, việc nghiên cứu các di tích Nho học với tư cách là các thiết chế dưới thời phong kiến chưa được nghiên cứu đầy đủ bởi nhiều lí do gắn với lịch sử Những tư liệu sớm nhất mang tính lịch đại về hệ thống di

tích Nho học phải kể đến: “Đại Việt sử kí toàn thư” của Ngô Sỹ Liên viết dưới triều

Lê Sơ năm Hồng Đức thứ 10, đến “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” và

“Đại Nam nhất thống chí” dưới triều Nguyễn… Trong các bộ sử này, nội dung về các

di tích Nho học được ghi chép dưới dạng biên niên Nó cung cấp những thông tin bước đầu về các sự kiện có liên quan đến các di tích Nho học ở các địa phương Mặc dù vậy, đây là những chứng cớ lịch sử về mặt văn tự, nó góp phần hỗ trợ định hướng cho việc nghiên cứu, tìm hiểu các di tích Nho học dưới dạng vật thể

Bên cạnh những bộ sử cổ, các di tích Nho học còn được ghi chép lưu giữ thông tin bằng một loại sử liệu đặc biệt đó là các trang sử bằng đá bằng đồng như văn bia, khánh đá, chuông đồng Mặc dù bị phá hủy khá nhiều qua thời gian nhưng đây vẫn là nguồn cứ liệu phong phú và xác thực nhất

Những công trình khảo cứu về các di tích Nho học xuất hiện khá muộn và không nhiều dưới chế độ mới bởi vì cả dân tộc đang phải tập trung nhân tài, vật lực cho cuộc chiến tranh vệ quốc, sự thay đổi sang ý thức hệ tư tưởng Mác xít cũng tác động không nhỏ tới đối tượng nghiên cứu là Nho giáo và Nho học cũng như các di tích

Nho học Một số công trình tiêu biểu như: “Văn miếu - Quốc Tử Giám, một biểu tượng

của nền văn hóa Việt Nam” của Đặng Đức Siêu và Nguyễn Quang Lộc xuất bản năm

1993, tác phẩm này nói khá chi tiết về văn miếu Quốc Tử Giám từ kiến trúc đến lịch

sử phát triển, đặc biệt đi sâu nghiên cứu văn miếu Quốc Tử Giám như một biểu tượng văn hóa của Việt Nam

Đề tài khoa học “Cơ sở và giải pháp nghiên cứu quản lý di tích Nho học Việt

Nam” do Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học văn miếu Quốc Tử Giám tiến hành

năm 1998 Trong đề tài này, nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu ở nhiều nơi trong

Trang 8

cả nước đã phần nào phác dựng lại hệ thống di tích Nho học ở các địa phương, trong

đó có văn miếu Mao Điền tại Hải Dương

Cuốn sách “Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam” do Phó giáo sư - Tiến sĩ Trịnh

Khắc Mạnh biên dịch và chú thích vào năm 2006 đã cung cấp hệ thống hoàn chỉnh các văn bia trong các văn miếu ở Bắc bộ, trong đó có các văn bia ở văn miếu Mao Điền

Đặc biệt là cuốn sách “Hệ thống di tích Nho học Việt Nam và các văn miếu tiêu

biểu ở Bắc Bộ” của Tiến sĩ Dương Văn Sáu xuất bản năm 2014 nói rất chi tiết về quá

trình xây dựng cũng như tồn tại và nghệ thuật kiến trúc của các văn miếu ở Bắc Bộ, đặc biệt là văn miếu Mao Điền

Về đề tài truyền liên quan đến văn miếu Mao Điền ỏ Hải Dương có Luận văn

thạc sĩ khoa học của Thạc sĩ Dương Văn Sáu “Văn miếu Mao Điền giá trị lịch sử và

văn hóa”

Nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về văn miếu Mao Điền Trong số đó có

bài “Văn miếu Mao Điền - biểu tượng tinh thần hiếu học xứ Đông” trên trang báo điện

tử Www.hovuvovietnam.com; bài Di tích văn miếu Mao Điền trong tác phẩm “Di tích

danh Hà Nội và các vùng phụ cận” do Tiến sĩ Lưu Minh Trị chủ biên

Những nguồn tài liệu đã đề cập ở trên là cứ liệu quan trọng trong quá trình tôi hoàn thành đề tài của mình Từ những tài liệu phong phú đa đạng đó, tôi tập trung

nghiên cứu về đề tài “Bước đầu tìm hiểu về văn miếu Mao Điền huyện Cẩm Giàng

tỉnh Hải Dương”

3 Đối tƣợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Văn miếu Mao Điền

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu một số vấn đề cơ bản liên quan đến văn miếu ở Việt Nam

- Tìm hiểu văn miếu Mao Điền

- Hiện trạng của văn miếu Mao Điền và một số đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển

Phạm vi nghiên cứu:

- Thời gian: từ thế kỷ XV đến năm 2002

- Không gian: văn miếu Mao Điền thuộc huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử Phương pháp hệ thống và phương pháp logic được sử dụng để khái quát các sự kiện lịch sử một cách trình tự hợp lí về cả thời gian và nội dung

Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích so sánh, đối chứng, kết hợp điền dã thu thập tài liệu

5 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phụ lục và phần kết luận đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản liên quan đến văn miếu ở Việt Nam

Chương 2: Văn miếu Mao Điền

Chương 3: Hiện trạng của văn miếu Mao Điền và một số đề xuất giải pháp bảo

tồn và phát triển

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN

VĂN MIẾU Ở VIỆT NAM

1.1 Nho giáo - cơ sở cho sự hình thành Văn Miếu

1.1.1 Sự hình thành của Nho giáo

Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Nho giáo - học thuyết do Khổng Tử đề xuất nhằm

duy trì trật tự xã hội phong kiến”[21: 1253] Nho giáo là một hình thái ý thức xã hội, một hệ tư tưởng lớn đóng vai trò quản lí, điều tiết xã hội ở nhiều quốc gia Á đông Học thuyết này đóng vai trò quản lí, điều tiết xã hội chứ không dừng lại ở trào lưu tư tưởng Không những thế, trong xã hội phong kiến, đó là đường lối chính sách và đã biến thành biện pháp để giới cầm quyền quản lí và điều hành xã hội Nó tồn tại trong xã hội phong kiến như là trật tự xã hội đồng thời trở thành những quan niệm mang tính chuẩn mực trong mọi mối quan hệ, ứng xử, hành xử, giao thoa giữa cá nhân và cộng đồng

Nho giáo - ý thức hệ chính trị xã hội được hình thành từ rất sớm ở Trung Hoa dưới thời Tây Chu (1112 - 771 TCN) với sự đóng góp của Chu Công Đán Tuy nhiên, những giá trị tư tưởng lớn của Nho giáo chỉ thực sự hình thành trên những khuôn mẫu

cơ bản hơn 200 năm sau đó với vai trò của Khổng Tử (551 - 479 TCN), ông đã phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và tích cực truyền bá vì vậy ông thường được xem là người sáng lập Nho giáo

Sách kinh điển của Nho giáo gồm 2 bộ: Tứ thư và Ngũ kinh

Ngũ kinh là bộ thứ nhất, phần lớn có từ trước, Khổng Tử đã ra công san định, hiệu đính và giải thích Ngũ kinh bao gồm 5 cuốn đó là:

“Kinh thi: Là tập thơ ca dân gian, trong đó chủ đề tình yêu nam nữ khá nhiều Khổng Tử dùng nó để giáo dục một tình cảm lành mạnh và cách thức diễn đạt khúc triết rõ ràng” [11: 256]

“Kinh thư: Ghi lại các truyền thuyết và biến cố của các đời vua cổ - anh minh như Nghiêu, Thuấn, tàn bạo như Kiệt, Trụ Khổng Tử gia công san định lại những mong đem họ ra làm gương cho đời sau” [11: 257]

“Kinh lễ: Ghi chép những lễ nghi thời trước, Khổng Tử hiệu đính lại những mong nó làm phương tiện duy trì và ổn định trật tự xã hội” [11: 257]

Trang 11

“Kinh dịch: Khởi nguồn vốn ghi chép về âm dương, bát quát ở dạng kí hiệu với

sự đóng góp của Chu Văn Vương và Chu Công Đán Từ bộ “Chu dịch” đó, Khổng Tử

đã giảng giải sâu rộng thêm và trình bày thứ tự rõ ràng cho dễ hiểu hơn” [11: 257]

“Kinh xuân thu: Nguyên là kí sử nước Lỗ - quê hương Khổng Tử Được ông dụng công chọn lọc sự kiện, kèm theo nhứng lời bình, thậm chí sáng tác lời thoại để giáo dục vua chúa” [11: 257]

Đúng ra bộ sách còn một cuốn thứ sâu là Kinh nhạc, nhưng về sau bị thất lạc chỉ còn lại một ít làm thành một thiên ghép chung vào Kinh lễ gọi là Nhạc kí Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp những lời dạy của ông soạn ra cuốn Luận ngữ, học trò xuất sắc của Khổng Tử là Tăng Sâm hay còn gọi là Tăng Tử, dựa vào thầy mà soạn sách “Đại học” dạy phép làm người quân tử Một học trò của Tăng Tử là Khổng Cấp (thường gọi là Tử Tư) là cháu nội của Khổng Tử viết ra “Trung dung” nhằm phát triển tư tưởng của ông nội mình về cách sống dung hòa không thiên lệch

Đến đời chiến quốc có Mạnh Tử, ông biên soạn thành sách Mạnh Tử Các tác phẩm “Đại học”, “Trung dung”, “Mạnh Tử”, “Luận ngữ”, về sau hợp thành Tứ thư Tứ thư và Ngũ kinh trở thành bộ sách gối đầu giường của Nho gia Nếu Khổng Tử mở đầu giai đoạn hình thành Nho giáo thì Mạnh Tử khép lại giai đoạn quan trọng - giai đoạn hình thành Nho giáo Đó là Nho giáo nguyên thủy, nho giáo Tiên - Tần hay còn gọi là

tư tưởng Khổng - Mạnh

1.1.2 Nội dung và sự phát triển của Nho giáo

Để quản lí một xã hội tốt đòi hỏi người lãnh đạo phải tốt, đó là người quân tử

Để trở thành người quân tử, trước hết phải tu thân Nó bao gồm ba tiêu chí sau:

Một là: Đạt “đạo”, đây là con đường, là những mối quan hệ mà con người phải biết cách ứng sử trong cuộc sống Có 3 đạo: Vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, ba đạo đức đó gọi là Tam cương

Hai là: Đạt “đức”, người quân tử nếu có ba điều nhân - trí - dũng thì đạt về đức,

về sau Mạnh Tử bỏ “dũng” mà thay bằng “lễ, nghĩa” thành bốn đức: Nhân, lễ, nghĩa, trí Đến đời Hán thêm “tín” thành năm đức gọi là Ngũ thường

Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo và đức”, người quân tử phải biết thi - thư - lễ - nhạc, Khổng Tử nói rằng con người “hưng khởi trong lòng là nhớ học Thi, lập thân được là nhờ biết Lễ, thành công được là nhờ biết Nhạc” (Luận ngữ) Ông đòi hỏi người cai trị không thể là dân võ biền mà phải có một vốn văn hóa toàn diện

Trang 12

Bên cạnh tu thân, người quân tử phải hành động, phải “tề gia trị quốc bình thiên hạ” Kim chỉ nam cho mọi hành động trong công việc cai trị đó là hai phương châm:

Thứ nhất: Nhân trị, nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, coi người như bản thân mình

Thứ hai: Chính danh, chính danh tức là sự vật phản ứng với tên gọi, mỗi người phải làm đúng chức danh, chức phận của mình Chính danh trong cai trị là phải làm sao để “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (Luận ngữ), nếu danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận tất việc chẳng thành (Luận ngữ)

Xét về ngọn nguồn, có thể thấy Nho giáo chính là sự tổng hợp của hai truyền thống văn hóa đó là văn hóa du mục phương Bắc và văn hóa nông nghiệp phương Nam Tinh hoa văn hóa du mục phương Bắc nổi bật nên các điểm: Tham vọng, bình thiên hạ, coi nhẹ quốc gia Khổng Tử đã từng rời nước Lỗ sang các quốc gia khác để tìm minh chủ Tinh hoa đó là truyền thống trọng sức mạnh được thể hiện trong chữ

“dũng” và nó cũng là gốc của tham vọng Thuyết “chính danh” có nghĩa là phải có tôn

ti trật tự rõ ràng, một xã hội trật tự ngăn nắp

Tinh hoa trong truyền thống nông nghiệp phương Nam đó là đề cao chữ “nhân”

và nguyên lí “nhân trị”, việc coi trọng nhân dân có nguồn gốc từ tinh thần dân chủ Bên cạnh đó, Nho giáo nguyên thủy rất coi trọng văn hóa đặc biệt là văn hóa tinh thần (thư, thi, lễ nhạc…) Tất cả các vấn đề trên đều được thể hiện trong Trung dung và Luận ngữ

Nho giáo mà Khổng Tử sáng lập vừa có điểm tích cực vừa có điểm hạn chế Các bậc đế vương vốn quen cầm quyền theo lối nhân trị, đi ngược lại với xu thế chung Rồi việc nhà Tần cho đốt sách chôn Nho vì việc cai trị quá chuyên chế của mình nên nhà Tần đã sụp đổ Lần đầu tiên Nho giáo lên địa vị quốc giáo là theo lời khuyên của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế, tư tưởng Nho giáo được truyền bá khắp các nước phương Đông và Khổng Tử được tôn làm bậc thánh

Đến thời nhà Hán, Nho giáo được đề cao một cách hình thức, còn trên thực tế

họ vẫn cai trị theo lối pháp gia, nhưng ngay cả hình thức ấy nhà Hán vẫn không giữ được mà đã thay đổi, làm cho Nho giáo bớt mâu thuẫn đi biến nó thành công cụ cai trị thực tiễn và hữu hiệu phục vụ cho vương triều mà quan trọng hơn là bớt “chất nông nghiệp phương Nam” trong Nho giáo, hạn chế nhắc đến “nhân trị” thay vào đó họ nhắc nhiều đến lễ nghi, đặc biệt đề cao trời Tiếp theo đó họ loại bỏ hạt nhân dân chủ

Trang 13

thay cho Ngũ luân với quan hệ hai chiều bình đẳng là Tam cương với quan hệ một chiều duy nhất (trung - hiếu - tiết - nghĩa), chỉ còn mối quan hệ đòi hỏi trách nhiệm của kẻ dưới với bề trên

Từ thời Hán về sau vai trò của văn hóa bị thu hẹp, nó chỉ giới hạn trong khuôn khổ những gì có lợi cho vương quyền Như vậy, Nho giáo theo quan niệm của Khổng - Mạnh không còn nữa mà thay vào đó là một hình thức Nho giáo khác để phục vụ cho cai trị trong phạm vi quốc gia, bên cạnh cái nhân để lấy lòng dân thì phải tăng liều lượng tính pháp luật của văn minh du mục Nhiệm vụ này Hán nho đã thực hiện một cách xuất sắc, nên Nho giáo mới được nhà Hán và các triều đại về sau ra sức đề cao

1.1.3 Đặc điểm của Nho giáo ở Việt Nam

“Khi Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ, năm 192 (trước công nguyên) - Nho giáo

ở Trung Quốc được suy tôn làm quốc giáo, các thế lực phong kiến phương Bắc luôn kiên trì đeo đuổi ý định đồng hóa nhân dân Việt Nam, cũng như cố đồng hóa nhiều dân tộc khác nhằm mục đích truyền bá văn hóa, truyền bá Nho giáo Trái lại, nhân dân Việt Nam, ngoài phương pháp đấu tranh vũ trang giành lại tự chủ, còn phải tiến hành một loạt phương pháp khác nhằm bảo tồn giống nòi, phong tục tập quán và những di sản quý giá của mình, đồng thời sẵn sàng tiếp thu ảnh hưởng văn hóa nước ngoài cao hơn văn hóa vốn có của dân tộc ta, biến cái của người thành cái của mình” [4: 59]

Có khá nhiều yếu tố Nho giáo vào Việt Nam đã bị truyền thống văn hoá dân tộc đồng hoá, đưa vào đó những nét đặc thù của mình, làm cho yếu tố Nho giáo bị biến đổi cho phù hợp, cụ thể:

Yếu tố đáng chú ý nhất của Nho giáo bị biến đổi là xu hướng ưa ổn định Xã hội quốc gia cổ đại vùng Trung Hoa với cái gốc du mục luôn đầy biến động Bởi vậy, mục đích của Nho giáo là tạo ra một xã hội ổn định Ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ yên ngai vàng, còn với bên ngoài thì luôn chủ trương bành trướng, xâm lăng (phát triển trong đối ngoại) Đối với văn hoá Việt Nam nông nghiệp, ước mong về một cuộc sống ổn định, không xáo trộn là một truyền thống lâu đời Nhu cầu duy trì sự ổn định không chỉ có ở dân mà ở cả triều đình, không chỉ trong đối nội mà cả trong đối ngoại Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng phải thực hiện đều mang tính tự vệ, với Trung Hoa cũng thế và với người Chiêm Thành cũng thế Để duy trì sự ổn định, làng xã Việt Nam tạo nên sự phân biệt dân chính cư - dân ngụ cư, cộng đồng hoá lĩnh vực hôn nhân, sử dụng hữu hiệu bộ máy dư luận - tất

Trang 14

nhằm sự lệ thuộc cá nhân vào cộng đồng Tương tự, muốn duy trì sự ổn định quốc gia, cần tạo ra sự phụ thuộc bộ máy quan lại vào triều đình, Nho giáo đã dùng 2 biện pháp:

- Biện pháp kinh tế là nhẹ lương nặng bổng, quan lại không phải sống bằng lương mà bằng bổng lộc

- Biện pháp tinh thần là trọng đức khinh tài

Yếu tố quan trọng thứ hai là trọng tình người Vì trọng tình vốn là truyền thống văn hoá lâu đời của Việt Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, dù là Nho giáo đã đựơc cải biến nhiều lần, người Việt Nam đã tâm đắc với chữ Nhân hơn cả Nhân - đó

là lòng thương người Việc trọng tình người trong Nho giáo Việt Nam được bổ sung bằng truyền thống dân chủ của văn hoá nông nghiệp mà Nho giáo nguyên thuỷ có tiếp thu Nhờ đó mà khi các yếu tố mang tính du mục của Nho giáo Trung Hoa thâm nhập vào Việt Nam đã được làm mềm đi, không đến mức quá hà khắc (chẳng hạn như trong lĩnh vực pháp luật, truyền thống coi trọng vai trò của người phụ nữ đã làm cho luật Hồng Đức, luật Gia Long trở nên mềm dẻo hơn) Dù Nho giáo sau này có giữ địa vị độc tôn và trở thành công cụ thống trị xã hội nhưng cũng không dám loại trừ Phật giáo

và huỷ bỏ cái gốc văn hoá Việt Nam là đạo Mẫu

Yếu tố thứ ba là xu hướng trọng văn Trọng văn là truyền thống của văn hoá nông nghiệp Chính vì chịu ảnh hưởng của văn hoá nông nghiệp phương Nam nên Nho giáo nguyên thuỷ rất coi trọng văn, trọng văn hoá, trọng kẻ sĩ, trong khi đó thì “võ”,

“dũng” lại ít được nhắc đến Chữ, người Việt so sánh với vàng: Một kho vàng không

bằng một nan chữ, việc học chữ người Việt so sánh với việc nhà nông: Chẳng cấy lấy đâu có chữ, chẳng học lấy đâu biết chữ Tuy luôn phải đối mặt với chiến tranh liên

miên, nhưng người Việt Nam ít quan tâm đến các kỳ thi võ mà chỉ ham học chữ, thi văn Người cầm quyền nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ cai trị, còn người bình dân nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ văn hoá, một con đường làm nên sự nghiệp

“Chẳng tham ruộng cả ao tiền

Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ

Anh về lo học chữ Nhu

Chín trăng em đợi, mười thu em chờ” [14: 150]

Thứ tư: Tư tưởng trung quân ở Nho giáo Trung Hoa đóng vai trò quan trọng, còn tư tưởng yêu nước thì không được đề cập đến Trong khi đó, thì ở Việt Nam tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc lại là một truyền thống rất mạnh

Trang 15

Thứ năm: Tâm lý khinh rẻ nghề buôn Tư tưởng xem nhẹ nghề buôn ở Nho giáo

là sản phẩm của quan điểm coi trọng “đạo” và “đạo đức” Người quân tử lo không đạt đạo chứ không lo nghèo Không phải ngẫu nhiên mà Trung Hoa đã sản sinh ra một tầng lớp thương nhân giỏi buôn bán tới mức cả thế giới đều biết tiếng Trong khi đó, tâm lý khinh rẻ nghề buôn ở Việt Nam là sản phẩm của truyền thống văn hoá nông nghiệp, của tính cộng đồng và tính tự trị Nó đã bám rễ vào suy nghĩ và tình cảm mỗi người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt Nam không phát triển được, nó còn

khái quát hoá thành quan điểm: Dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt và đường lối trọng

nông ức thương

Tóm lại, sở dĩ Nho giáo Trung Hoa đã được người Việt Nam dỡ ra, cải biến cho phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống văn hoá của mình, rồi cấu trúc lại một cách tài tình như thế là vì giữa Nho giáo Trung Hoa và văn hoá Việt Nam có những nét tương đồng Đó không phải là những cái gì khác mà là tinh hoa của văn hoá nông nghiệp phương Nam mà Nho giáo nguyên thuỷ đã tiếp thu, nên khi vào Việt Nam, Nho giáo luôn phảng phất cái vừa lạ vừa quen rất đặc biệt Như vậy, với tất cả những đặc điểm trên, Nho giáo Việt Nam là một thứ Nho giáo mang bản sắc riêng khá độc đáo

1.2 Văn miếu - dạng kiến trúc tôn thờ Nho giáo cơ bản ở Việt Nam

1.2.1 Lịch sử hình thành

Văn miếu là từ mượn chữ Hán, tại Trung Quốc văn miếu được gọi là Khổng miếu, tên cũ là Phu Tử miếu và thường để chỉ Phu tử miếu Nam Kinh, còn Khổng miếu thường để chỉ Khổng miếu Khúc phụ là đền thờ Khổng tử tại các nước Á Đông

Tên gọi Khổng miếu được người dân châu Âu dịch ra các thứ tiếng của họ là: Literaturetemple (Anh) có nghĩa là “đền thờ văn học” Với cách hiểu như vậy, văn miếu đã mất đi ý nghĩa nguyên thủy của nó, mà chỉ còn là biểu tượng của văn học

Theo từ điển Từ nguyên của Trung Quốc: “Văn miếu là miếu Khổng Tử, năm

27 niên hiệu Khai Nguyên thời Đường (739) phong Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, goị miếu Khổng Tử là Văn tuyên Vương miếu, từ thời Nguyên, Minh về sau phổ biến gọi là văn miếu Ở Trung Hoa về cơ bản Khổng miếu luôn được các triều đại phong kiến trân trọng và tôn vinh Đời Đường Thái Tông phong Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, thời Tống phong Khổng Tử hai chữ “Chí Thánh”, đến nhà Mông - Nguyên lại thêm cho ông hai chữ “Đại thành”, như vậy Khổng Tử đã trở thành bậc “Đại thành Chí thánh Văn Tuyên Vương” Trong văn miếu Quốc Tử Giám hiện còn bài trí trang trọng

Trang 16

tượng của Khổng Tử và tấm bài vị: “Đại thành Chí thánh Tiên sư Khổng Tử - Thần vị”

là một biểu hiện cho sự đề cao trân trọng và tôn vinh thánh Khổng

Ngoài Khổng miếu ở Khúc Phụ ra, nhiều địa phương miền Nam Trung Quốc cũng xây dựng văn miếu với một kiểu kiến trúc tương đối giống nhau: Xây dựng theo hướng Bắc Nam, các công trình trong văn miếu bao gồm: Văn miếu môn - đại trung môn - văn khuê các - đại thành môn - điện đại thành - điện khải thánh - đông vu - tây vu… Các văn miếu ở Việt Nam đều được xây dựng theo mô hình của văn miếu phía Nam Trung Hoa với quy mô lớn nhỏ khác nhau

1.2.2 Chức năng của văn miếu

Văn miếu lập ra lúc đầu để thờ Khổng Tử - vị thánh của đạo Nho, nhằm đề cao đạo Nho, đề cao mối quan hệ trong xã hội mà tiêu biểu đó là mối quan hệ: Vua - tôi, cha - con, vợ - chồng Nhưng sau đó mở rộng ra để thờ các vị có công với đạo Nho, các vị thầy có công trong việc dạy chữ, dạy nghề cho nhân dân và được nhân dân tôn sùng và yêu quý Đây chính là chức năng thờ tự

Ngày xưa các vị hoàng tử, con cung tần mỹ nữ, dòng dõi của nhà vua và một số quan lại quý tộc trong triều mới được học ở văn miếu, sau đó văn miếu cũng là nơi tổ chức các cuộc thi hương, thi hội, thi đình để tìm kiếm nhân tài cho đất nước Văn miếu

có bia tiến sĩ, lưu danh những người đỗ đạt cao để các đời sau con cháu Việt Nam được biết đến Đây là chức năng đào tạo

Ngày nay, mỗi lần thi cử quan trọng thì người dân Việt Nam thường đến văn miếu để cầu khấn, mong đỗ đạt cao, nó thể hiện tâm linh con người Việt Nam luôn hướng về cội nguồn dân tộc

1.2.3 Đặc điểm kiến trúc, điêu khắc trang trí cơ bản của văn miếu tại Việt Nam

Thông thường kiến trúc của các văn miếu ở Việt Nam thường giống nhau, bao gồm: Văn miếu môn, tòa đông vu, tòa tây vu, tiền tế và hậu cung Văn miếu Quốc Tử Giám được xây dựng mô phỏng văn miếu thờ Khổng Tử tại Trung Quốc (Khổng miếu) nhưng đơn giản hơn, nằm trên trục dũng đạo, đăng đối Văn miếu Mao Điền tại Hải Dương lại được xây dựng theo kiểu kiến trúc “chữ Nhị”, văn miếu Bắc Ninh kết cấu theo “chữ Công” còn văn miếu Xích Đằng tại Hưng Yên kết cấu theo “chữ Tam” Các công trình đều được tạo dựng nên bởi chất liệu bằng gỗ, lợp ngói mũi hài hoặc ngói bình thường, kiến trúc tòa Tiền tế thường theo kiểu chống diêm các cột vươn cao đỡ mái, hệ thống kèo được thiết kế theo kiểu kẻ truyền trụ bang, trên mái thường chạm

Trang 17

lưỡng long chầu nguyệt hay lưỡng long chầu nhật, khuôn viên của công trình thường kết hợp đăng đối, cây cối, hồ nước tạo khung cảnh nên thơ lãng mạn, đậm chất văn chương

Nghệ thuật trang trí có chạm hoa lá, nét chạm nông, sâu nhưng đều rất sắc xảo, chuẩn mực, trên các câu đối đều chạm hoa trang trí tạo dáng uyển chuyển, mềm mại cho kiến trúc

Với kiểu kiến trúc và trang trí như vậy, tạo nên sự khác biệt của văn miếu so với các công trình kiến trúc khác như đình, đền, chùa, và mang lại dấu ấn riêng trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam

1.2.4 Khái quát một số văn miếu ở nước ta

1.2.4.1 Văn miếu - Quốc Tử Giám - Hà Nội

Văn Miếu được xây dựng từ năm (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông: "Mùa thu tháng 8 làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa tế lễ Hoàng thái tử đến đó học tập." [16: 234] Như vậy Văn miếu ngoài chức năng thờ các bậc Tiên thánh, Tiên sư của đạo Nho, còn mang chức năng của một trường học Hoàng gia mà học trò đầu tiên là Thái

tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông với Nguyên phi Ỷ Lan, lúc đó mới 5 tuổi, đến năm 1072 tức là năm 8 tuổi lên ngôi trở thành vua Lý Nhân Tông Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám ở bên cạnh văn miếu có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử, người học đầu tiên là hoàng tử Lý Càn Đức) "Bính Thìn, năm Anh Vũ Chiêu Thắng thứ 1 tháng 4 lập nhà Quốc Tử Giám, tuyển trong các văn thần lấy những người có văn học, bổ sung vào đó" [7: 278] Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại văn miếu và chỉ thờ Khổng Tử

Năm Nguyên Phong thứ 3 (1253), vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện cho mở rộng và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc Chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ "Quý Sửu năm thứ ba (1253) Tháng 6 lập Quốc Học Viện tô tượng Khổng

Tử, Chu công và Á Thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ Tháng 9 xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước đến Quốc học viện giảng học Tứ thư, Ngũ kinh" [17: 369] Lấy Phạm Ứng Thần giữ chức Thượng thư kiêm chức Đề điệu Quốc Tử viện để trông nom công việc học tập tại Quốc Tử Giám Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử

Trang 18

làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng

tử Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở văn miếu bên cạnh Khổng Tử

Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 trở đi Mỗi khoa, một tấm bia đặt trên lưng rùa

Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử Giám lập tại Huế Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là văn miếu - Hà Nội Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành cho xây thêm Khuê Văn Các bên cạnh giếng vuông Như vậy, vào đầu thời Nguyễn, văn miếu Thăng Long đã một lần được sửa sang chỉ còn là văn miếu của trấn Bắc Thành, sau đổi thành văn miếu Hà Nội Còn Quốc Tử Giám thì đổi thành học đường của phủ Hoài Đức và sau đó tại khu vực này xây đền Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử

Đầu năm 1947, thực dân Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá Ngày nay toàn bộ khu Thái Học được xây dựng với diện tích 1530m² trên tổng diện tích 6150m² gồm các công trình kiến trúc chính là tiền đường, hậu đường, tả vu, hữu vu, nhà chuông, nhà trống được mô phỏng theo kiến trúc truyền thống trên nền đất xưa của Quốc Tử Giám Quy mô và bố cục văn miếu Quốc

Tử Giám hiện nay lớn nhất cả nước, được bảo tồn tương đối nguyên vẹn Ngoài tiền án

là hồ văn, nghi môn, bia bạch mã, thì công trình được chia thành 5 lớp không gian, mỗi lớp được giới hạn bởi lớp tường gạch và có các cửa thông nhau là một cửa chính giữa và hai cửa hai bên với các kiến trúc chủ thể là cổng văn miếu, cổng đại trung, khuê văn các, cổng đại thành, khu điện thờ, cổng thái học và khu thái học

Hiện nay văn miếu Quốc Tử Giám còn 82 văn bia, đây là những đồ vật quý, những pho sử có giá trị về nhiều mặt Tại văn miếu còn có các ban thờ các bậc thánh hiền, các đồ thờ, chuông khánh có giá trị lịch sử cao

Trong các khoa thi, những người đỗ đạt được khắc tên lên bia tiến sĩ Vườn bia

có 82 bia nằm thành hai dãy cân đối hai bên Thiền Quang tỉnh, với lối kiến trúc thấp, giản dị nhưng lại hài hòa với tổng thể Việc chạm khắc chữ Hán trên bia là một công trình nghệ thuật đặc sắc Trán bia cong thường có hình hai rồng chầu mặt nguyệt, rồng được cách điệu rất tinh tế trở thành những đám mây uyển chuyển, sinh động Diềm bia được trang trí hoa văn hình hoa lá cách điệu kết hợp với chữ triện Đế bia hình rùa tạo hình vững chãi, bền chắc mang ý nghĩa trường thọ, vĩnh cửu Hình tượng con rùa biểu

Trang 19

thị cho sự trường tồn vĩnh cửu Rùa, theo từ điển biểu tượng thế giới, là thuộc nam tính

và nữ tính: Thuộc loài người và vũ trụ, ý nghĩa biểu trưng của nó trải rộng ra khắp các miền của trí tưởng tượng Mai rùa phía trên như bầu trời, giống như biểu tượng của mái vòm, phía dưới phẳng như mặt đất Xưa kia, Nữ Oa đã cắt bốn chân rùa để thiết lập bốn cực của thế giới Còn trong các mộ phần của hoàng đế, mỗi cây cột đều được đựng trên một mai rùa Liệt tử thì coi các đảo tiên chỉ có thể đứng vững khi chúng được cõng trên mai rù Dù là biểu thị cho những quyền năng ma thuật trong bói toán (Hà đồ, Lạc thư), hay những lập luận của các chức năng cõng vũ trụ, sinh ra tinh đẩu, tinh tòa hay đức sinh của một tổ phụ thông thái và cát tường…thì rùa vẫn là một người

bạn, là sự trở lại trạng thái khởi nguyên, một tư thế cơ bản của trí tuệ Đến với Việt

Nam, đến với kiến trúc ở văn miếu - rùa lại mang theo tinh thần “trường thọ”, 82 rùa đội bia, trên 82 tấm bia có ghi những người đỗ đầu, đậu Tiến sĩ trong các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1780, trên bia có những bài văn ca ngợi công đức các vua anh minh chăm lo việc giáo dục nhân tài, như minh chứng lịch sử của đạo học người Việt

ta từ trước, gìn giữ trường tồn và nhắc nhở cháu con đời đời tạc ghi ơn trọng của thiên

đế, trọng ơn vua và những người hiền tài, để học học nữa, học mãi làm rạng danh liệt

tổ liệt tông

Ngày 28/4/1962 văn miếu Quốc Tử Giám được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc qia

1.2.4.2 Văn miếu Xích Đằng - Hƣng Yên

Văn miếu Xích Đằng có tên như vậy vì được xây dựng trên đất làng Xích Đằng, xưa kia gọi là văn miếu của trấn Sơn Nam (căn cứ vào khánh, chuông còn lại ở văn miếu) Năm 1831, khi tỉnh Hưng Yên được thành lập thì văn miếu Xích Đằng thuộc hàng tỉnh Văn miếu Xích Đằng được bắt đầu xây dựng từ thế kỷ XVII và được trùng

tu, tôn tạo lớn vào năm Minh Mạng thứ XX (Kỉ Hợi - 1839) trên nền của chùa làng Xích Đằng, xã Nhân Dục, tổng An Tảo, huyện Kim Động xưa, nay là phường Lam Sơn, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Dấu tích còn lại đến ngày nay là 2 tháp đá: Phương Trượng tháp và Tịnh Mãn tháp

Hiện tại văn miếu đang thờ Khổng Tử, người được suy tôn là "Vạn thế sư biểu",

và các chư hiền của Nho gia Cùng thờ với Khổng Tử là Chu Văn An, người thầy giáo, người hiệu trưởng đầu tiên của trường Quốc Tử Giám

Trang 20

Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, văn miếu Xích Đằng là cơ sở hoạt động bí mật của Trung ương, xứ ủy Bắc kỳ, tỉnh ủy Hưng Yên Năm 1992, văn miếu Xích Đằng được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử

Văn miếu Xích Đằng có kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam, bao gồm: Tiền tế, trung từ và hậu cung, kiến trúc giống nhau, được làm theo kiểu vì kèo trụ trốn Hệ thống mái được kết cấu theo kiểu “trùng thiềm địa ốc” Mặt tiền văn miếu quay hướng Nam, cổng nghi môn được xây dựng đồ sộ bề thế mang dáng dấp của văn miếu Quốc

Tử Giám Phía trong cổng có sân rộng, ở giữa sân là đường thập đạo, hai bên sân có lầu chuông và lầu khánh cùng hai dãy nhà tả vu và hữu vu Hai dãy này được dùng để trưng bày các hình ảnh và hiện vật liên quan đến giáo dục tỉnh Hưng Yên

Khu nội tự gồm: Tiền tế, trung từ và hậu cung, kiến trúc giống nhau được làm kiểu vì kèo trụ trốn Toàn bộ khu nội tự văn miếu tỏa sang bởi hệ thống đại tự, câu đối cửa võng và hệ thống kèo cột đều được sơn thếp phủ hoàn kim

Hiện vật còn lại trong văn miếu hiện nay là 9 tấm bia đá, trong đó 8 bia được lập năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), một tấm bia được lập năm Bảo Đại thứ 18 (1943) ghi danh các khoa bảng Hưng Yên, ngoài ra còn có hai tháp đá là: Phương trượng tháp

và Tịnh mãn tháp

1.2.4.3 Văn miếu Bắc Ninh

Bắc Ninh - Kinh Bắc là nơi có truyền thống văn hiến khoa bảng nổi tiếng ở nước ta, với số liê ̣u thống kê có hơn 600 vị đỗ đại khoa , mấy nghìn vi ̣ cử nhân , tú tài Xuyên suốt bề dày li ̣ch sử về nền cử nghiê ̣p Hán ho ̣c ở Viê ̣t Nam , Bắc Ninh có quyền tự hào là mô ̣t đi ̣a phương sản sinh , nuôi dưỡng số lượng sĩ tử ưu tú nhiều nhất cho đất

nước "Một giỏ ông đồ , một bồ ông cống , một đống ông nghè, một bè Tiến sỹ , một bi ̣

trạng nguyên, một thuyền bảng nhỡn " Như vâ ̣y, cùng với Hà Nội , Hải Dương, Huế,

Bắc Ninh là đi ̣a phương thứ tư xây dựng văn m iếu thờ Khổng Tử và các bâ ̣c hiền triết của quê hương, nhiều vi ̣ đỗ đa ̣t với quy mô lớn

Theo các tà i liê ̣u li ̣ch sử , trước đây văn m iếu ở đi ̣a phâ ̣n núi Thi ̣ Cầu thuộc tổng Đỗ Xá, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc vào thời Lê Sơ Tớ i năm Quý Tỵ , đời vua Thành Thái thứ 5 (1893) vị quan tỉnh đã di chuyển văn m iếu về xây dựng ta ̣i núi Phúc Đức thuô ̣c huyê ̣n Võ Giàng (nay là khu 10, phường Đa ̣i Phúc thành phố Bắc Ninh)

Trang 21

Văn miếu Bắc Ninh xưa bao gồm nhiều công trình , song do những biến thiên của lịch sử hiện chỉ còn một cụm di tích gồm : Nhà tiền tế (5 gian), nhà hâ ̣u đường (5 gian), hai bên hồi hậu đường là bi đình (3 gian), hai bên hồi tiền đường, hội đồng trị sự và tạo soạn, nhà tả vu, hữu vu, chính diện có tấm bình phong “Bắc Ninh tỉnh trùng tu văn miếu ký” khắc dựng năm 1928 Toàn bộ công trình được xây dựng bằng gỗ lim

Văn miếu Bắc Ninh có 14 tấm bia đá Trong số 14 tấm bia đá này có 1 tấm ghi công đức, 2 tấm bia trùng tu có ghi la ̣i quá trình xây dựng văn m iếu và 11 tấm bia ghi danh, quê quán những vi ̣ đỗ đa ̣i khoa Những tấm bia này là di sản Hán Nôm đă ̣c biê ̣t quý giá phản ánh trung thực về vùng quê có bề dày truyền thống khoa cử

Ngoài giá trị lịch sử , văn miếu Bắc Ninh còn là mô ̣t di tích li ̣ch sử văn hoá , điêu khắc nghê ̣ thuâ ̣t có giá tri ̣ Qua nghiên cứu tìm hiểu kết cấu kiế n trúc các công trình cũng như các mảng , bức, đắp, vẽ, đă ̣c biê ̣t là viê ̣c ta ̣o tác 14 tấm bia đá , nhất là tấm bia bình phong ở sân nhà t iền đường có kích thước 3,2m x 2,8m x 0,40m đã thấy

rõ đôi bàn tay tài hoa của người th ợ xưa bằng những đường nét tinh tế , uyển chuyển trên các diềm , trán bia với các đề tài : Rồng chầu mặt trời , phượng hoàng bay ngâ ̣m cuốn thư, hoa văn khắc va ̣ch hình kỷ hà chính vì vậy trong số các di tích lịch sử văn hoá phản ánh về lịch sử khoa bảng của đất Kinh Bắ c, có thể khẳng định rằng văn m iếu Bắc Ninh là di tích li ̣ch sử văn hoá có giá tri ̣ đô ̣c đáo và tiêu biểu nhất của tỉnh Bắc Ninh nói chung và thành phố Bắc Ninh nói riêng Ngày 28/01/1988 văn miếu Bắc Ninh được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng

di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia

1.2.4.4 Văn miếu Trấn Biên - Đồng Nai

Văn miếu Trấn Biên được xây dựng trong bối cảnh vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai đã khá ổn định về chính trị, phát triển kinh tế - xã hội như một sự xác lập về vị thế địa văn hóa - chính trị của vùng đất Gắn liền với văn miếu Trấn Biên là một nền giáo dục phát triển khá sớm ở Biên Hòa - Đồng Nai lúc bấy giờ

Do thời gian và những biến cố lịch sử, văn miếu Trấn Biên bị tàn phá không còn lại dấu vết (theo “Biên Hòa sử lược” của nhà nghiên cứu Lương Văn Lựu, năm

1861 khi tiến chiếm Biên Hòa, quân Pháp đã đốt phá văn miếu Trấn Biên), người đời nay chỉ hình dung văn miếu Trấn Biên xưa qua sử sách Song với những gì được mô tả

và người đời lúc bấy giờ xưng tụng, người Biên Hòa - Đồng Nai hôm nay rất đỗi tự hào về văn miếu của mình

Trang 22

Kỷ niệm 300 năm Biên Hòa - Đồng Nai, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo xây dựng lại văn miếu Trấn Biên trên nền văn miếu xưa thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, cách trung tâm thành phố khoảng 3km, gần Trung tâm Văn hóa

Du lịch Bửu Long Lễ khởi công diễn ra vào ngày 9 - 12 - 1998 và khánh thành công trình giai đoạn 1 vào ngày mùng 3 Tết Nhâm Ngọ 2002 (nhằm ngày 14 - 2 - 2002) Trong dịp kỷ niệm 290 năm văn miếu Trấn Biên, các công trình giai đoạn 2 tiếp tục được xây dựng và mở rộng thêm diện tích

Công trình được xây dựng trên địa thế đẹp, cao ráo, mô phỏng theo văn miếu Quốc Tử Giám Nổi bật giữa vùng không gian thoáng đãng, nhiều cây xanh, là những vòm mái cong, lợp ngói lưu ly màu xanh ngọc (gốm tráng men) Từ văn miếu môn lần lượt là nhà bia, khuê văn các, hồ thiên quang tỉnh, cổng đại thành, nhà thờ Đức Khổng Tử

Văn miếu Trấn Biên thờ Khổng Tử, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các danh nhân văn hóa Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn… danh nhân đất Nam Bộ như Võ Trường Toản, Đặng Đức Thuật, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quan Định, Bùi Hữu Nghĩa…đặc biệt có trưng bày 18kg đất và 18 lít nước mang về từ đền Hùng, biểu trưng cho 18 đời vua Hùng, cội nguồn của dân tộc Việt

Với chức năng là nơi bảo tồn, gìn giữ và tôn vinh các giá trị văn hóa - giáo dục cùa vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, Trung tâm văn miếu Trấn Biên ngày càng thể hiện vai trò là trung tâm văn hóa, giáo dục của tỉnh Đồng Nai nói riêng và vùng đất phía Nam nói chung thông qua rất nhiều hoạt động, sự kiện được tổ chức hàng năm Không chỉ chứa đựng những giá trị về văn hóa, lịch sử, văn miếu Trấn Biên còn là một công trình đặc sắc về nghệ thuật, kiến trúc

1.2.4.5 Văn miếu Huế

Văn miếu Huế được lập ra để tôn vinh các thánh hiền của đạo Nho, đồng thời là nơi đào tạo nhân tài của đất nước Năm 1808, Gia Long cùng triều đình quyết định chọn một ngọn đồi thấp phía trên chùa Thiên Mụ, sát tả ngạn sông Hương thuộc địa phận thôn An Bình làng An Ninh phía Tây kinh thành Huế để xây văn miếu Bấy giờ trường Quốc Tử Giám cũng được lập ra ở đây và hoạt động mãi cho đến năm 1908 mới dời về thành nội

Trang 23

Khi các chúa Nguyễn mở mang khai phá phương Nam, văn miếu được thiết lập

ở Phú Xuân, tại làng Triều Sơn và được xem là văn miếu riêng của đàng Trong Đến năm Canh Dần (1770) dưới triều Định Vương Nguyễn Phúc Khoát, văn miếu được xây dựng tại xã Long Hồ Thời nhà Nguyễn, văn miếu được xây dựng dưới thời vua Gia Long, ngôi miếu cũ được giữ lại làm Khải thánh từ (miếu thờ cha mẹ Khổng Tử) Việc xây dựng văn miếu được tiến hành từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 18 tháng 9 năm

1808, vua Gia Long ra lệnh làm các đồ tự khí mới để thờ thay thế các đồ cũ và tượng thánh hiền được thay bằng bài vị Suốt thời Gia Long trị vì, triều đình nhà Nguyễn chỉ

mở các khoa thi hương nên không có tấm bia tiến sĩ nào được dựng ở văn miếu Đến thời Minh Mạng mới mở các khoa thi hội, nên bia tiến sĩ mới bắt đầu được dựng Các bia “Tiến sĩ đề danh bí” được lần lượt dựng nên ở sân văn miếu từ năm 1831 đến năm

1919 - năm có khoa thi hội cuối cùng dưới thời vua Khải Định

Văn miếu đã nhiều lần được tu sửa, xây dựng thêm các công trình phụ, vào các năm 1818 (thời Gia Long), 1820, 1822, 1830, 1840 (thời Minh Mạng), 1895, 1903 (thời Thành Thái) Đến năm 1947 khi quân đội Pháp tái chiếm Huế và đồn chú tại đây

đã gây thiệt hại cho di tích Lúc đó các bài vị thờ ở Văn Thánh được đưa về bảo quản tại chùa Thiên Mụ

Văn miếu Huế là công trình có quy mô lớn tầm quốc gia chỉ đứng sau văn miếu Quốc Tử Giám Khi còn nguyên vẹn, nơi đây có gần 20 công trình lớn như: Văn miếu (điện thờ), đông vu, tây vu, thần trù, thần khố, hữu văn đường… Từ đại thành môn nhìn vào phía trong, ngay chính giữa có ngôi đại điện thờ Khổng Tử gọi là đại thành điện Đây là kiến trúc trọng yếu của văn miếu, toàn bộ được dựng trên một nền cao, dài chừng 32m, rộng 25m Cấu trúc của ngôi đại điện theo lối trùng thiềm điệp ốc truyền thống của Huế Ở hai bên trước điện đại thành, dựng hai ngôi nhà đối diện nhau

là đông vu và tây vu đều bảy gian

Trước sân miếu, có hai nhà bia, bên phải có tấm bia khắc bài văn bia "Thánh Tổ Nhân Hoàng đế dụ: Cung giám bất đắc liệt tấn thân" (vua Minh Mạng dụ về việc Thái giám không được liệt vào hạng quan lại), bia ở nhà bia bên trái khắc bài văn bia "Hiến

Tổ Chương Hoàng đế dụ: Ngoại thích bất đắc thân chính" (vua Thiệu Trị dụ về việc bà con bên ngoại của vua không được tham gia chính quyền)

Phía ngoài cổng đại thành, bên trái có hữu văn đường, bên phải xây dụy lễ đường Đây là những ngôi nhà kiểu một gian hai chái dùng để vua quan nghỉ chân sửa

Trang 24

soạn lễ phục trước khi vào tế ở miếu Phía trước là hai dãy gồm 32 tấm bia, khắc tên

293 vị Tiến sĩ triều Nguyễn, bắt đầu từ khoa thi đầu tiên năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đến khoa thi cuối cùng vào năm Khải Định thứ 4 (1919)

Hơn nửa thế kỉ nay, chiến tranh và thiên nhiên đã tàn phá văn miếu chỉ còn lại

34 tấm bia đá là những di tích có giá trị nhất về nghệ thuật, văn hóa và lịch sử, hệ thống tượng thờ tại đây là những di vật vô cùng quý giá

Văn miếu là một biểu tượng độc đáo của nền giáo dục nước ta trong giai đoạn vương quyền phong kiến thống trị Việc lập văn miếu và dựng bia Tiến sĩ nhằm tôn trọng việc học, đề cao nhân tài của đất nước và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Để từ đó mọi tầng lớp nhân dân thấy rằng, ai cũng có thể tiến thân bằng con đường học vấn, một nền học vấn không phân biệt giai cấp và đề cao đức hạnh Nho học đã trở thành đạo chung cho nước nhà Nho giáo tuy không còn là quốc đạo nhưng những tư tưởng

về đạo đức và lối sống của nhà Nho, kết hợp với bản sắc văn hóa truyền thống đã kết tinh thành nền tảng vững chắc trong đời sống tinh thần của người Việt Nam ngày nay

Trang 25

CHƯƠNG 2: VĂN MIẾU MAO ĐIỀN - HẢI DƯƠNG 2.1 Giới thiệu khái quát về xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và dân cư

Tiếp giáp

Phía Bắc giáp Bắc Giang, Bắc Ninh

Phía Tây giáp Hưng Yên

Phía Nam giáp Thái Bình

Phía Đông giáp Hải Phòng

Phía Đông Bắc giáp Quảng Ninh

Hải Dương là địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc, tỉnh có các tuyến đường đặc biệt quan trọng như: Quốc lộ 5, đường sắt nối thủ đô Hà Nội với thành phố Hải Phòng, đường 138 nối với ngõ Đông Bắc tổ quốc và các đường 10, đường 17, đường 39 tạo ra mạng lưới giao thông khá hoàn chỉnh, liên kết Hải Dương với các tỉnh đồng bằng duyên hải Bắc bộ

Miền đất Hải Dương đã bao lần thay đổi tên gọi, nhưng đều gắn với tên xứ Đông Xứ Đông ngày xưa là một trong “tứ trấn” của quốc gia Đại Việt, mảnh đất xứ Đông, vùng “địa linh nhân kiệt”, nơi hội tụ giao thoa văn hóa, kết tinh giá trị rồi tỏa sáng muôn nơi Mảnh đất vừa cổ kính, vừa trẻ trung này hình thành nên do địa tầng cổ

và phù sa của các dòng sông lớn ở Bắc Bộ: Hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình Bằng sự cần cù chịu khó của bao thế hệ, người dân nơi đây đã tạo cho mảnh đất này một nội lực dồi dào để vận động, phát triển trong quá khứ và vươn tới tương lai

Trang 26

Hệ thống sông bồi đắp nên đồng bằng màu mỡ để Hải Dương trở thành vựa lúa của đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi mà bao năm tháng kháng chiến bao giờ cũng: Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người, một vùng tự do, một hậu phương lớn của cả nước

Nằm cách Hải Dương 16km về phía Tây, Cẩm Giàng là một huyện có 17 xã, 2 thị trấn bao gồm: Thị trấn Lai Cách và thị trấn Cẩm Giàng Tổng diện tích của huyện

là 108,95 km2 và dân số 121.935 người Vị trí tiếp giáp:

Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh

Phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên

Phía Đông giáp huyện Nam Sách và thành phố Hải Dương

Phía Nam giáp huyện Bình Giang

Là một xã của Cẩm Giàng, Cẩm Điền nằm trên quốc lộ 5 - có vị trí giao thông thuận lợi phát triển kinh tế, nằm ở trung tâm của huyện:

Phía Nam giáp quốc lộ 5

Phía Bắc giáp thị trấn Cẩm Giàng

Phía Đông giáp Cẩm Phúc

Với vị trí thuận lợi, Hải Dương không chỉ phát triển kinh tế mà còn giao lưu văn hóa với các vùng lân cận Bởi vậy hiện nay Cẩm Điền - Cẩm Giàng - Hải Dương

đã và đang được các nhà đầu tư quan tâm hơn nữa để vùng đất này ngày càng phát triển và trở thành một điểm mạnh của tỉnh Hải Dương Là một tỉnh đồng bằng, địa hình bằng phẳng, nhờ bàn tay lao động của con người mà nơi đây dần hồi sinh mang dáng dấp của vùng đất đang trên đà phát triển Diện tích nơi đây chủ yếu là đồng bằng, không có núi đồi, đất thấp, bằng phẳng thuận lợi cho nông nghiệp phát triển, nhưng giữa bãi đất bằng phẳng đó có một khu đất cao nổi lên, nơi đây chính là điểm tọa lạc của khu văn miếu

2.1.1.2 Khí hậu

Chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa của miền Bắc, nằm trong vùng tiểu khí hậu Hải Dương Cẩm Điền cũng chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa đông và mùa hè, mùa đông từ tháng 10, 11, 12, mùa hè từ tháng 4, 5, 6 Giữa hai mùa này có mùa xuân và mùa thu chuyển tiếp Mùa đông thường có những biến động xảy ra, có thời gian nhiệt độ xuống quá thấp ảnh hưởng đến đời sống cũng như sinh hoạt nhân dân trong vùng Mùa hạ thường có những biến động về lượng mưa, có lúc thiếu nước

Trang 27

trầm trọng nhân dân không có nước dùng Mùa đông lúc lạnh nhất nhiệt độ xuống dưới

10 độ, mùa hè có khi lên tới 39, 40 độ Nơi đây chịu ảnh hưởng ít của cơn áp thấp nhiệt đới, không tạo thành bão mà chỉ là những cơn giông Khí hậu này đã tạo điều kiện để phát triển nền nông nghiệp ổn định mang lại hiệu quả kinh tế cho nhân dân trong vùng

2.1.1.3 Sông ngòi

Được bồi đắp bởi hệ thống sông Thái Bình và sông Hồng nên đất đai màu mỡ tốt tươi, vô cùng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Các sông trong huyện cũng là nơi cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho cây trồng và cung cấp nước ngọt phục vụ đời sống nhân dân

Nơi đây cũng chịu ảnh hưởng của hai cửa sông: Sông Hồng và sông Thái Bình nhưng vào mùa lũ nước thoát rất nhanh, không gây lũ lụt kéo dài đồng nghĩa với nó thì lúa và hoa màu của nhân dân được bảo vệ an toàn

2.1.1.4 Dân cư

Đây là mảnh đất đã sản sinh ra bao con người tài giỏi Dân cư ở đây tập trung đông đúc Nơi đây tụ tập dân từ nhiều vùng khác nhau đến sinh sống và lập nghiệp nhưng chủ yếu họ đều là con người của mảnh đất Hải Dương Vì thế họ yêu thương đùm bọc lẫn nhau, không có sự kì thị dân tộc cũng như miền quê khác nhau Nằm trên trục đường quốc lộ chính (quốc lộ 5) nên cư dân tụ họp nơi đây rất đông, buôn bán sầm uất, phát triển Cẩm Điền tập trung hơn 10.000 dân tiêu biểu là các dòng họ: Nguyễn, Vũ, Phạm… với nhiều bậc tiến sĩ, cử nhân đỗ qua các kì thi của đất nước Ngày nay phát huy tinh thần của cha ông để lại, mảnh đất này đã cống hiến cho đất nước bao người tài giỏi

Cư dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, chăn nuôi kết hợp trồng trọt, ngoài ra còn một số người buôn bán nhỏ, và một lượng nhân công làm việc tại các khu công nghiệp

2.1.2 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương

Trang 28

Cẩm Điền Các cây trồng chủ yếu của vùng là lúa, hành tây, dưa chuột, cà rốt, ớt… Sản xuất nông nghiệp ở vùng có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung vào chuyển đổi giống cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao nhằm tăng thu nhập trên cùng một diện tích đất canh tác, các dịch vụ trong nông nghiệp như giống, thủy lợi, phân bón, thuốc trừ sâu được chú trọng

Chăn nuôi: Nền kinh tế nông nghiệp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi vùng cũng khá phát triển Hầu hết cư dân nơi đây đều chăn nuôi gia cầm, gia súc vừa và nhỏ, bên cạnh đó thì nuôi trồng thủy sản cũng khá phát triển

Buôn bán: Do điều kiện tự nhiên nên buôn bán tại nơi đây khá phát triển, tạo điều kiện phát triển kinh tế cho vùng

Các nghề phụ khác: Nông nghiệp là ngành chiếm tỉ trọng hơn cả, so với các ngành nghề khác thì nông nghiệp vẫn chiếm 70%, dịch vụ chiếm khoảng 10%, công nghiệp và tiều thủ công nghiệp chiếm 20% Vì vậy nơi đây tập trung một số khu công nghiệp như: Khu công nghiệp Đại An, khu công nghiệp Phúc Điền, khu công nghiệp Tân Trường, một số nhà máy lớn như: Công ty giày Cẩm Bình, nhà máy lắp giáp ô tô Ford, công ty may Venture, công ty chế biến rau quả thực phẩm Vạn Đức Phúc, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân và nâng cao thu hập cho địa phương Một số ngành nghề truyền thống của địa phương được nhân dân giữ gìn và phát huy như: Chạm khác gỗ mỹ nghệ Đông Giao, rượu Phú Lộc, nón Cẩm Điền… Nó không chỉ góp phần nâng cao mức sống cho người dân mà hơn cả là nét truyền thống của mảnh đất Cẩm Điền

2.1.2.2 Đời sống văn hóa xã hội

Hòa cùng với sự phát triển chung của đất nước, sự phát triển kinh tế, đời sống văn hóa xã hội của cư dân nơi đây - miền quê Cẩm Điền ngày càng được cải thiện về

số lượng và chất lượng, nó được thể hiện qua tất cả các mặt:

Giáo dục: Được sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương thì chất lượng dạy học ở đây được nâng lên một cách rõ rệt, toàn xã có một trường mầm non, một trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, một trường phổ thông - trường điểm của huyện, nơi đào tạo bao nhân tài giúp ích cho đất nước Không chỉ có chính quyền địa phương quan tâm đầu tư đến giáo dục mà cả gia đình cũng quan tâm đến việc học hành của con em mình, từ đó tạo nên mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường, xã hội ngày

Trang 29

càng chặt chẽ Cả xã không còn tình trạng mù chữ, trẻ em ai cũng được học hành quan tâm, xã đã phổ cập bậc trung học phổ thông

Văn hóa - thông tin: Toàn xã cũng như các thôn có hệ thống loa truyền thanh, tuyên truyền thông tin tới nhân dân trong vùng Các công tác thông tin tuyên truyền về

cơ bản phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị văn hóa xã hội của địa phương, truyền

bá chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương để nhân dân biết và thực hiện Phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng ở các thôn trong xã được quan tâm và đầu tư, nhân dân thì hăng hái tham gia góp phần cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân, hạn chế các tệ nạn xã hội xảy ra trong thôn xóm

Các hoạt động lễ hội, tôn giáo đi vào nề nếp ổn định, nhân dân tôn sùng thuần phong mỹ tục chứ không xa đà vào hoạt đọng mê tín dị đoan Lễ hội lớn tại đây là lễ hội văn miếu Mao Điền được tổ chức vào ngày 18/2 và 20/8 âm lịch hàng năm, hội rước thần hoàng làng tại các thôn trong xã đều được tổ chức một năm một lần

2.2 Văn miếu Mao Điền

2.2.1 Lịch sử hình thành lị sở Mao Điền, Cẩm Điền, Hải Dương

Lị sở chính là trụ sở của Hải Dương xưa kia, việc hình thành lị sở Mao Điền có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành văn miếu Mao Điền

“Lị sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu lịch sử - chính trị - kinh tế và văn hóa xã hội của địa phương qua các thời kì lịch sử Khảo cứu lị sở là việc khó khăn ở Việt Nam, một đất nước luôn biến động do thiên tai thời tiết khí hậu

và qua cả lửa đạn chiến tranh Các triều đại phong kiến Việt Nam đã nhiều lần thay đổi, di chuyển định đặt quân doanh lị sở cho phù hợp với mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế của mình Mặt khác do trình độ chưa cao của xã hội, dấu ấn các lị sở của chính quyền phong kiến các cấp hầu như không còn nhiều cho đến ngày nay Khi thời cuộc thay đổi chúng lại bị tàn phá bởi chiến tranh, bởi các mục đích khác nhau của con người Dấu cũ thành xưa thay đổi, việc khảo cứu khuôn mặt chỉ mang tính tương đối

mà thôi Việc khảo cứu lị sở của trấn Hải Dương có liên quan đến việc xây dựng, định đặt văn miếu của bản trấn qua các giai đoạn lịch sử khá khó khăn” [7: 12]

Theo giáo sư Đào Duy Anh trong cuốn sách: “Đất nước Việt Nam qua các đời”, khi nghiên cứu xã hội thời Lê có viết: “Lê Hoàn sau khi lên ngôi phân phong cho các con ra các trấn các địa phương Năm 989, Lê Hoàn phong thái tử Thau làm Kình Thiên

Trang 30

Đại Vương ở kinh đô Hoa Lư, cho con thứ hai là Ngân làm Đông Thành Vương có lẽ

ở vùng đất phía đông kinh thành, con thứ ba là Việt làm Nam Phong Vương có lẽ ở vùng đất phía nam kinh thành Năm 991 phong cho con thứ tư là Đinh làm Ngự Man Vương đóng ở Phong Châu, con thứ sáu là Cân làm Ngự Bắc Vương đóng ở trại Phù Lan nay là xã Phù Vệ huyện Đường Hào tỉnh Hải Dương Năm 992, phong cho con thứ năm là Đĩnh làm Khai Minh Vương đóng ở Đằng Châu (tức huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên) sau này là vua Lê Long Đĩnh - Lê Ngọa Triều Năm 993 phong cho con thứ bảy là Tung làm Định Thiên Vương đóng ở thành Tử Dinh trên sông Ngũ huyện (Đông Anh - Yên Phong - Bắc Ninh), con thứ tám là Tương làm Phó Vương đóng ở sông Đỗ Động (tức sông Nhuệ), con thứ chín là Kinh làm Trung Quốc Vương đóng ở Càn Đà (nay là Tiên Lữ - Hưng Yên) Năm 994 cho con thứ 10 là Mang làm Nam Quốc Vương ở Thanh Hóa, năm 995 phong cho con thứ 11 là Đề làm Hành Quân Vương đóng ở châu Cổ Lãm (Từ Sơn, Bắc Ninh) Cho con nuôi làm Phù Đới Vương (nay là xã Phù Đới - Vĩnh Bảo - Hải Phòng)” [18: 114, 115] Vậy theo như cuốn sách trên thì trên địa bàn Hải Dương lúc bấy giờ có ít nhất hai lị sở của Ngự Bắc Vương và Phù Đới Vương

Trong cuốn “Đại Việt địa dư toàn biên” của Phương đình Nguyễn Văn Siêu ghi:

“Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) gọi là tỉnh Hải Dương, đặt chức Hải Yên Tổng đốc cai trị hai tỉnh Hải Dương và Quảng Yên.” Bản triều năm Gia Long 1804 rời đến Hàm Giàng Nửa sau thế kỉ VXIII, ở làng Đan Loan, huyện Đường An, phủ Bình Giang có khảo cứu khá chi tiết về mảnh đất Hải Dương trong tác phẩm “Vũ trung tùy bút” đã viết rằng: “Xứ Hải Dương ta đất cát nhiều, nơi sỏi đá ít có lợi sông nước chuôn chằm,

so với các trấn khác thực kém nhiều Nhưng được cái địa thế bằng phẳng mà mạch sơ, nước chua mà hơi lạt, nguyên không phải là cõi lam chướng Từ thời Tần - Hán trở xuống, xứ Hải Dương ta đã cùng với đất Long Biên, quận Phong Châu đều được nhiễm cái phong hóa Hoa hạ Đời Tiền Lê có đặt ra Hải Dương đô đốc Binh sứ ty, lấy Chí Linh làm trụ sở Nhà Minh lập tòa Đô ty đóng ở Chí Linh trên địa phận một tòa thành cổ - thành Phao Sơn Thành được đắp dưới thuộc Minh, triều vua Vĩnh Lạc, lấy nơi cổ thành mà chống nhau với quân nhà Lê không hạ được Mãi đến khi tòa Tam ty ở thành Đông quan giảng hòa xong lại được toàn quân đem về Trung Hoa, đời vua Lê Trung Hưng cũng lấy nơi đó làm trấn ty lị sở” [9: 10]

Trang 31

Khởi nghĩa nông dân thế kỉ XVIII, vùng đất xứ Đông là trung tâm của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, đặc biệt là khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ Trong cuốn “Việt sử thông giám cương mục” có ghi: “Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ và Nguyễn Diên dấy quân lâu ngày, thanh thế trở nên lừng lẫy, họ thúc giục dân chúng đứng lên khởi nghĩa ở các phủ Từ - Thuận - Hồng - Sách Nguyễn Cừ chiếm Đỗ Lâm thuộc Gia Phúc, Nguyễn Tuyển chiếm cứ Phao Sơn thuộc Chí Linh, đóng lũy liên tiếp nhau, mỗi người đều có hàng vạn quân Nhiều lần các tướng (Lê - Trịnh) đánh phá càn quét nhưng không thắng được

Do áp lực của các cuộc khởi nghĩa nông dân, quân triều đình Lê - Trịnh nhiều phen đại bại, phải rời về trụ sở trấn lị Mao Điền Phạm Đình Hổ có viết: Nguyễn Tuyển có đem quân lừa bắt quan trấn tướng rồi chiếm lấy trấn thành làm phản Triều đình sai hai đại tướng là Bính Quận Công Vũ Tất Luận và Trịnh Đình Công Hoàng Công Kỳ đem theo bảy cơ binh, bảy con voi mà vẫn trú ở vùng Yên Nhân - Yên Phú, không dám tiến quân lên đành bỏ mặc quê hương Mi Thự (Đường An - Hải Dương), bị giặc đốt phá tàn hại mà không dám đuổi đánh Sau đó lại phải rời trấn lị đến làng Mao Điền thuộc huyện Cẩm Giàng Tháng 7 năm Nhâm Tuất (1802) có quan Ngô Hầu người Thanh Chương là Hiệp trấn ở đó, ta (Phạm Đình Hổ) mới từ kinh đô về yết kiến Ta có

đi xem chung quanh trấn thì thấy đất liền đồng bằng gần một con sông nhỏ, trông lên phía Bắc Giang thì địa thế cao dần không khác gì trên thềm trông xuống sâu, phía Cẩm Giàng thì hẹp, không phải là nơi buồm tàu tụ họp Ôi định đô đặt trấn mà chỉ lấy cho gần nơi thanh viện, tiện việc chạy trạm, không để ý đến việc thủ sau này thì sao có thể khống chế sơn hải, hộ vệ cho chốn bang kỳ được, ta nhân cảm hứng có thơ rằng:

Phiên âm

Hồng Lộ thượng du Hải Dương trấn

Y y cố thú điển hàn điêu

Đế kỳ vệ rực chiêm y cận Hải quốc quan hà khống ngự điêu Lao lạc thanh hàm Mao bố nguyệt Hồi hoàn lục trướng Cẩm Giang kiều

Sa bình dã thoát nhân ngâm diều

Di thuốc tàn qua tích vị tiêu

Trang 32

Dịch nghĩa:

Trấn sở Hải Dương trên Hồng Lộ Đồn canh văng vẳng tiến chuông pha Kinh vua vệ dực đường gần dặm Mặt bể quan hà dặm thẳng xa Bóng nguyệt xóm Mao trong vắt đứng Nhịp cầu sông Cẩm thẳm mù qua Cánh đồng man mác khi nhà ngóng

Nọ cuộc can qua đấu cửa nhà” [9: 11]

Trấn lị Hải Dương lúc này đóng ở gần bến sông thuộc xã Mao Điền và xã Vân Dậu (tục gọi là Dinh Dậu) sau mới chuyển về Hàm Giang (thành phố Hải Dương ngày nay) Việc định trấn tại Mao Điền tạo ra một khu phố tương đối sầm uất gọi là phố Mao, nó trở thành điểm cư trú, trung chuyển của các khách buôn người ngoại quốc từ ngoài vào buôn bán tại kinh đô Thăng Long Để dễ kiểm soát đi lại, buôn bán của tầng lớp thương nhân ngoại quốc này, ngày 9/11 năm Đinh Dậu triều vua Vĩnh Thịnh thứ

13 (1717) phủ liêu vâng mệnh truyền rằng: “Phàm các khách buôn người nước ngoài

hễ ai cho đương thủy đến thì cho phép cư trú ở Vạn Triều (tức Vạn Lai Triều phố Hiến), ai do đường bộ đến thì cho phép cư trú ở dinh Điêu Diêu Còn những ai từ trước

cư trú đã lâu ở các phố xá như phố Mao Điền thuộc Hải Dương, phố Bắc Cạn thuộc Thái Nguyên, phố Kỳ Lừa thuộc Lạng Sơn, phố Vạn Ninh thuộc An Quảng và phố Mục Mac thuộc Cao Bằng đều cho phép được cư trú như cũ

Sự tồn tại của phố Mao còn kéo dài đến giữa những năm thế kỉ XX, nơi diễn ra các hoạt động kinh doanh buôn bán khá sầm uất, nó chỉ mờ nhạt khi các đô thị khác ở cạnh phát triển như: Quán Gỏi, thị trấn Sặt, Lai Cách, Hải Dương

Lị sở Mao Điền được hình thành qua các thời kì lịch sử, điều đó chứng tỏ nơi đây có địa thế đẹp và hội tụ các yếu tố phong thủy hài hòa, từ đó tạo nên nét văn hóa,

bản sắc riêng của miền đất Mao Điền ngàn năm văn hiến

2.2.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của văn miếu Mao Điền

Là một tỉnh có truyền thống hiếu học trọng người hiền tài, Hải Dương sớm có một hệ thống di tích thờ tự Nho học tôn vinh những người đỗ đạt khoa bảng, đứng đầu

hệ thống di tích thờ tự đó phải kể đến văn miếu Mao Điền Tại miền Bắc Việt Nam

Trang 33

văn miếu Mao Điền có quy mô và lịch sử lâu đời đứng thứ 2, chỉ sau văn miếu Quốc

Tử Giám

Văn miếu Mao Điền hiện nay nằm ở phía Đông Bắc của làng Mao (hay còn gọi

là làng Mậu Tài) thuộc xã Cẩm Điền huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, văn miếu nằm ở phía bắc quốc lộ 5 chừng 200m, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km về phía Đông, cách thành phố Hải Dương 16km về phía Tây

Việc đặt đô, định trấn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các mặt chính trị quân sự giáo dục, văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo của quốc gia hay một vùng đất nào đó Chính

vì vậy mà lị sở Hải Dương đặt ở Mao Điền trong khoảng thời gian thế kỉ XVIII thì nơi đây cũng xuất hiện công trình thờ tự Nho giáo với quy mô cấp xứ đó là văn miếu Mao Điền - văn miếu trấn Hải Dương

Ở Việt Nam, hệ thống thờ tự Nho giáo thì chỉ có văn miếu Quốc Tử Giám có lịch sử xây dựng sớm nhất Qua quá trình khảo cứu, nghiên cứu thư tịch tài liệu và thực tế cho thấy: Kể từ năm 1070 đến khi có lệnh của Thượng thư Hoàng Phúc vào tháng 9 năm Giáp Ngọ (1414) bắt các phủ châu huyện lập văn miếu và đền thờ xã tắc…trên địa bàn cả nước hầu như không có văn miếu nào được xây dựng Nếu có một văn miếu nào được xây dựng ngoài văn miếu Quốc Tử Giám thì niên đại sớm nhất của

nó cũng chắc chắn không vượt qua trước năm 1414 Văn miếu Mao Điền - văn miếu Hải Dương cũng không nằm ngoài mốc thời gian đó

Việc truyền bá Nho học được thể hiện trước hết và tập trung nhất ở việc lập trường học và lập trường ti tuyển chọn nhân tài Việc tôn vinh Nho giáo thể hiện ở việc lập văn miếu

Qua khảo sát bước đầu hệ thống di tích thờ tự Nho học ở Việt Nam ta nhận thấy rằng: Mặc dù có lệnh của nhà Minh vào năm 1414 bắt các địa phương lập văn miếu ở các phủ châu huyện nhưng có lẽ lệnh này chưa được thực hiện triệt để bởi các lí do sau:

Nhà Minh phải lo đối phó với các cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc của nhân dân ta, không đủ sức thực thi các chính sách, chính lệnh của chúng ban ra

Nho giáo, Nho học đương thời phát triển chưa đủ mạnh trên tất cả các địa phương của chúng ta, vai trò uy tín của Nho giáo và giới học sĩ chưa thật có sức nặng đối với xã hội dẫn đến việc chậm đề cao Nho giáo - Nho học - Nho sĩ Đằng sau vòng hào quang rực rỡ của Phật giáo thời Lí - Trần, người dân Việt vẫn còn “nặng lòng”

Ngày đăng: 06/10/2016, 17:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1997), “Đất nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử”, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đất nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử”
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hóa
Năm: 1997
2. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương (1997), “Những sự kiện Đảng bộ tỉnh Hải Dương (1928-1954) - tập 1”, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những sự kiện Đảng bộ tỉnh Hải Dương (1928-1954) - tập 1”
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hải Dương
Năm: 1997
3. Bảo tàng Hải Dương (2001), “Lí lịch di tích Hải Dương” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lí lịch di tích Hải Dương
Tác giả: Bảo tàng Hải Dương
Năm: 2001
4. Trần Văn Giàu (1996), “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng 8 - tập 1”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng tháng 8 - tập 1”
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1996
5. Tăng Bá Hoành (chủ biên), Nguyễn Duy Thiêm, Nguyễn Thị Quế, Hà Trí (1999), “Tiến sĩ Nho học Hải Dương 1075 - 1919”, Hội đồng chỉ đạo biên soạn địa chí tỉnh Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiến sĩ Nho học Hải Dương 1075 - 1919”
Tác giả: Tăng Bá Hoành (chủ biên), Nguyễn Duy Thiêm, Nguyễn Thị Quế, Hà Trí
Năm: 1999
6. “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (1957), Nhà xuất bản Văn Sử Địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”
Tác giả: “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Sử Địa
Năm: 1957
8. Hoàng Văn Lâu (2012), “Đại Nam nhất thống chí”, Nhà xuất bản Lao Động - Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đại Nam nhất thống chí”
Tác giả: Hoàng Văn Lâu
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao Động - Trung tâm ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2012
9. Dương Văn Sáu (2000), “Luận văn thạc sĩ khoa học: Văn miếu Mao Điền - Hải Dương giá trị lịch sử và văn hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luận văn thạc sĩ khoa học: Văn miếu Mao Điền - Hải Dương giá trị lịch sử và văn hóa
Tác giả: Dương Văn Sáu
Năm: 2000
10. Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hải Dương (2001), “Tiến sĩ Nho học trấn Hải Dương”, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiến sĩ Nho học trấn Hải Dương”
Tác giả: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hải Dương
Năm: 2001
11. Trần Ngọc Thêm (1999), “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cơ sở văn hóa Việt Nam”
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1999
13. Lưu Minh Trị (2000), “Di tích danh thắng Hà Nội và các vùng phụ cận”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Di tích danh thắng Hà Nội và các vùng phụ cận”
Tác giả: Lưu Minh Trị
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
14. Xuân Tùng (2008), “Tục ngữ ca dao Việt Nam”, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tục ngữ ca dao Việt Nam”
Tác giả: Xuân Tùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 2008
15. Nguyễn Minh Tuệ (1997), “Địa lý du lịch”, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Địa lý du lịch”
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
17. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1993), “Đại Việt sử kí toàn thư - tập 1”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đại Việt sử kí toàn thư - tập 1”
Tác giả: Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1993
18. Bùi Hải Yến (2006), “Tuyến điểm du lịch Việt Nam”, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tuyến điểm du lịch Việt Nam”
Tác giả: Bùi Hải Yến
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2006
21. Nguyễn Như Ý (1998), “Đại từ điển tiếng Việt”, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đại từ điển tiếng Việt”
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Năm: 1998
19. Tư liệu điền dã tại văn miếu Mao Điền: Ông Nguyễn Đinh Hải - Trưởng Ban quản lí di tích văn miếu Mao Điền Khác
20. Trang điện tử: Www.hovuvovietnam.com Www.gos.gov.vn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w