Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam Trong xã hội hiện đại, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
o0o
TIỂU LUẬN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
Nhóm sinh viên thực hiện:
Lớp tín chỉ:
Giảng viên hướng dẫn:
Nhóm 4 TRI106.6 Th.s Nguyễn Thị Thủy
Hà nội – 09/2016
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 4
Nhóm trưởng: Dương Thị Thùy Vân
135 Dương Thị Thùy Vân 1511110914
103 Lê Phương Thảo 1511110735
67 Nguyễn Thị Thùy Linh 1511110452
02 Phùng Thị Kim Anh 1511110060
17 Lê Đức Cường 1518110138
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG 6
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA, NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 6
1 Những vấn đề lý luận chung về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao 6
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao 6
1.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam 8
2 Những vấn đề lý luận chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 11
2.1 Tính tất yếu và mục đích của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 11
2.2 Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 13
II THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRƯỚC YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 14
1 Chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 14
2 Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam 17
2.1 Thực trạng tình hình nhân lực hiện nay ở Việt Nam 17
2.2 Thành tựu đạt được 18
2.3 Hạn chế trong đào tạo 19
3 Những vấn đề đặt ra về phát triển nguồn nhân lực trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa 20 III GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN VÀ KHAI THÁC HIỆU QUẢ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 21 1 Phướng hướng phát tiển và khai thác 21
1.1 Phương hướng phát triển 21
2 Giải pháp phát triển và khai thác hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao 24
2.1 Giải pháp về phương diện thể lực 24
2.2 Giải pháp liên quan đến giáo dục 24
2.3 Giải pháp liên quan đến phân bổ và nâng cao hiệu quả nguồn nhân lực 26
2.4 Giải pháp thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao 27
2.5 Giải pháp về phát triển hà hòa nguồn nhân lực 28
2.6 Về chính sách sử dụng nhân lực 29
KẾT LUẬN 30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh kinh tế quốc tế hiện tại, khi mà Việt Nam gia nhập các tổ chức kinh
tế thế giới như ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á-1995); ASEM (Diễn đàn hợp tác kinh tế Á-Âu-1996); APEC ( Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương- 1998); WTO ( Tổ chức thương mại thế giới – 2006);… Và đặc biệt gần đây nhất là TPP ( Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương – 2015) và AEC (Cộng đồng kinh tế
ASEAN-2015) thì khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp với sự phất triểnmạnh mẽ của nhiều ngành khoa học và công nghiệp hiện đại, công nghiệp hóa-hiện đạihóa (CNH-HĐH) đang được coi là xu hướng phát triển chung của các nước đang pháttriển để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Đó cũng là chủ trương củaĐảng và nhà nước Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh”
Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nhiều yếu tố quan trọng như: vốn,khoa học-công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,… song yếu nhân tố quan trọng và có tínhquyết định nhất vẫn là con người Nếu so sánh với các nguồn lực khác thì nguồn nhân lực
là yếu tố nội sinh, quyết định sự thành bại trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội củamỗi quốc gia Do vậy so với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhânlực chất lượng cao luôn chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong
sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Trong bối cảnh kinh tế hiện tại của nước ta khi gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới,nguồn nhân lực ở một số nước có thể tự do lưu thông vào một số ngành nghề ở Việt Namthì việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của đất nước và cóthể cạnh tranh với nhân lực chất lượng cao ở các nước ngoài là nhiệm vụ vô vùng quantrọng và cấp thiết Nhận thức rõ được vai trò của nguồn nhân lực đặc biệt là nhân lực chấtlượng cao, báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc đã chỉ rõ “ Giáo dục và Đào tạo
là quốc sách hàng đầu, phương hướng chung trong nhiều năm tới là phát triển nguồnnhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp – hiện đại hóa đất nước” Đó là chiến lược đúngđắn của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên để đạt được điều đó, chúng ta cần nghiên cứumột cách khoa học và chính xác thực trạng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay để tìm ragiải pháp hợp lý nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như phất huy cao nhấtđược vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH Đó cũng là lý do chúng tôichọn đề tài tiểu luận: “ Nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự nghiệp Công nghiệphóa – hiện đại hóa ở Việt Nam”
Trang 5NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA, NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
1 Những vấn đề lý luận chung về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
a Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất Theo cách hiểuthông thường, nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia hay một vùnglãnh thổ, một địa phương nhất định đang và có khả năng tham gia vào quá trình phát triểnkinh tế - xã hội Có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độchuyên môn mà con người tích lũy được có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai Một quan điểm khác lại cho rằng, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng laođộng của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị ở các mức
độ khác nhau sẵn sàng tham gia vào một công việc lao động nào đó, đó là những ngườilao động có kỹ năng đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Theo quan điểm của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiếnthức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế và tiềm năng để pháttriển kinh tế, xã hội trong một cộng đồng
Qua các ý kiến khác nhau có thể hiểu, nguồn lực con người là tổng thể các yếu tốthuộc về mặt thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội,… tạonên năng lực con người, của cộng đồng người có thể sử dụng, phát huy trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng
b Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao
Với quan điểm về nguồn nhân lực như vậy nên đã có nhiều cách hiểu khác nhau vềnguồn nhân lực chất lượng cao Theo cách hiểu mang tính chất định tính thì nguồn nhânlực chất lượng cao là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng nhữngyêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc,
có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của cộng đồng cũng như của
Trang 6toàn xã hội Nếu tiếp cận theo cách hiểu mang tính chất định lượng thì nguồn nhân lựcchất lượng cao được hiểu theo các cách khác nhau.
Một là, nguồn nhân lực chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có
bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật Trên thực tế, khái niệm “lao động qua đàotạo” rất phức tạp vì hiện nay có rất nhiều hình thức và phương pháp đào tạo khác nhau, từhọc nghề ngắn hạn đến cao đẳng, đại học đều có thể được xem là “lao động qua đào tạo”.Như vậy, nếu coi nguồn nhân lực chất lượng cao là lao động qua đào tạo sẽ dẫn đến một
sự phân hóa lớn về trình độ của nguồn nhân lực này
Hai là, một cách hiểu theo định lượng hẹp hơn là coi nguồn nhân lực chất lượng cao
là nguồn nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng, nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý vàhoạch định chính sách, nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đội ngũ giảng viên cáctrường đại học, cao đẳng… Thực tế, có một cách hiểu hẹp hơn nữa là chỉ xem nhữngngười có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ mới là nguồn nhân lực chất lượng cao
Có thể thấy, về mặt khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao chưa có sự thốngnhất Cả hai cách hiểu mang tính định tính và định lượng đều có những hạn chế nhấtđịnh Cách hiểu về mặt định tính sẽ dẫn đến khó khăn trong việc thống kê nguồn nhân lựcchất lượng cao Cách hiểu về mặt định lượng sẽ không tính đến những nghệ nhân, nhữngngười có khả năng đặc biệt làm được những công việc mà ít người làm được nhưng lạikhông qua trường lớp đào tạo nào Mặt khác, không phải bất kỳ người lao động nào đãqua đào tạo đều có khả năng đáp ứng được yêu cầu của các công việc tương ứng với trình
độ đào tạo nhưng vẫn được xem là nhân lực có chất lượng cao
Vì vậy, theo chúng tôi nên hiểu nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của
nguồn nhân lực nói chung, nhưng là một bộ phận đặc biệt, bao gồm những người có trình
độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên đang làm việc trong các lĩnh vực khác nhau củađời sống xã hội, có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự phát triển bền vững củacộng đồng nói riêng và toàn xã hội nói chung Với cách hiểu như vậy, có thể đưa ra 6 tiêuchí để đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao đó là:
Thứ nhất, khả năng thích ứng nhanh nhất với môi trường lao động và với tiến bộ
khoa học công nghệ mới, với năng lực chuyên môn và trình độ thành thạo nghiệp vụ cao
Thứ hai, có ý chí vượt khó, bền bỉ trong công việc, có năng lực kiềm chế bản thân Thứ ba, có đạo đức nghề nghiệp thể hiện qua tinh thần kỷ luật, ý thức trách nhiệm,
tinh thần dân chủ, hợp tác và ý thức về tập thể, vì cộng đồng cao
Trang 7Thứ tư, có kỹ năng làm việc nhóm, khả năng thay đổi, thích ứng nhanh, hội nhập
cao, có sáng kiến đột phá, sáng tạo trong công việc
Thứ năm, có năng lực thực tế tạo nên kết quả cao và vượt trội trong công việc, có
năng lực cạnh tranh, có đóng góp thực sự hữu ích cho xã hội…
1.2 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam
Trong xã hội hiện đại, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất đối với sự pháttriển của bất kỳ quốc gia, dân tộc nào, bởi phải có những người đủ khả năng, trình độ mớikhai thác tốt các nguồn lực khác Do đó, các quốc gia đều tập trung vào việc đào tạo, pháttriển nguồn nhân lực để tăng khả năng cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững củađất nước Bí mật về sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Mỹ, Nhật Bản, các nước phươngTây trong những năm giữa thế kỷ XX, hiện tượng những “con hổ”, “con rồng” ở khu vựcĐông Á phần lớn đều nhờ vào nguồn lực có chất lượng Và quá trình phất triển nguồnnhân lực ở những nước này đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý gia đáng để cho ViệtNam ta noi theo
Kinh nghiệm đào tạo ở một số quốc gia trên thế giới
Thứ nhất, kinh nghiệm của Mỹ
Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia có nền khoa học – côngnghệ tiên tiến nhất Năm 2012, dân số của Mỹ là 314,07 triệu người Chỉ số phát triển conngười (HDI) năm 2011 là 0,910; GDP năm 2011 là 15.094 tỷ USD; GDP bình quân đầungười năm 2011 là 48.386 USD Để có kết quả như trên, Mỹ đã trải qua hơn 200 nămphát triển với triết lý thực dụng và phương châm “nguồn nhân lực là trung tâm của mọiphát triển” Mỹ đã đưa ra chiến lược xây dựng nguồn nhân lực với hai hướng chủ lực: tậptrung cho đầu tư giáo dục – đào tạo và thu hút nhân tài
Về phát triển giáo dục – đào tạo: Mỹ được xem là quốc gia không thành công trong
giáo dục phổ thông nhưng lại là một điển hình cần được nhân rộng trong giáo dục đạihọc Hệ thống giáo dục đại học của Mỹ được xây dựng với hai đặc trưng cơ bản là tínhđại chúng và tính khai phóng Với hơn 324 triệu dân nhưng Mỹ có tới hơn 4.200 trườngđại học Theo kết quả đánh giá và xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới thì Mỹ
có tới 88/200 trường đại học hàng đầu thế giới, chiếm 44% Mỹ phát triển rộng rãi hệthống đại học cộng đồng (nơi đào tạo đại trà, giải quyết số lượng), tỷ lệ là 1/30 Tức là cứ
có một trường đại học nghiên cứu thì có 30 trường đại học cộng đồng Mức học phí cũngkhác nhau phù hợp với mọi đối tượng, học phí trường đại học cộng đồng rẻ hơn nhiều sovới đại học nghiên cứu Với hệ thống giáo dục đại học đa dạng (trường công lập, trường
Trang 8tư thục, trường cộng đồng …), nước Mỹ đã đào tạo được một nguồn nhân lực chất lượngcao đồi dào, chiếm tới 40% tổng số lực lượng lao động quốc gia
Về thu hút nhân tài: Chính phủ Mỹ không chỉ chú ý đến việc đào tạo mà còn chú
trọng việc thu hút và sử dụng nhân lực, đặc biệt là người tài từ các quốc gia khác Nhữngnhân tài kiệt xuất của nước Đức, những nhà khoa học lỗi lạc của Nga và châu Âu, nhữngchuyên gia tầm cỡ quốc tế của Ấn Độ, Trung Quốc và nhiều quốc gia đang phát triểnkhác đã “hội tụ” về Mỹ Hiện nay toàn cầu có 1,5 triệu lưu học sinh và học giả đang họctập hoặc làm công tác nghiên cứu ở nước ngoài, trong đó có 500.000 người tập trung ở
Mỹ Con số này làm cho Mỹ trở thành quốc gia của người nhập cư Trong quá trình thuhút nguồn nhân lực chất lượng cao, nước Mỹ đặc biệt chú trọng thu hút đội ngũ các nhàkhoa học sáng chế và đội ngũ chuyên gia trong các ngành công nghệ cao, tạo điều kiệntốt về lương, chỗ ở, điều kiện đi lại…để các chuyên gia làm việc và cống hiến
Như vậy, nhờ có chiến lược và chính sách đúng qua hơn 200 năm phát triển, nềngiáo dục Mỹ đã phát triển mạnh và là một trong những nền giáo dục tốt nhất thế giới Nềngiáo dục này đã tạo ra một lớp công dân có trình độ học vấn cao, tay nghề vững và kỹnăng giỏi, góp phần đưa đất nước lên vị trí siêu cường về kinh tế và khoa học – côngnghệ
Thứ hai, kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật là nền kinh tế đứng thứ ba thế giới, diện tích 378 ngàn km2 , dân số 127,8triệu người (2011), chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2011 là 0,901, GDP bình quânđầu người năm 2011 là 34.739 USD Nhật là một trong những nước có sự thành côngtrong phát triển kinh tế với tốc độ nhanh dựa trên nguồn nhân lực kỹ thuật được đào tạotốt, có đủ khả năng, trình độ tiếp thu, lĩnh hội kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhập khẩu Cóthể nói, Nhật là nước đầu tiên ở châu Á đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực Xuất phát
từ việc Nhật nghèo về tài nguyên thiên nhiên, lại luôn gặp thiên tai, phần lớn nguyênnhiên vật liệu lại nhập khẩu, nền kinh tế Nhật lại bị phá hủy trong Chiến tranh thế thớithứ hai Sau đại chiến thế giới thứ hai, Chính phủ Nhật ưu tiên tuyển chọn, đào tạo nhữngngười tài giỏi thích hợp cho công cuộc hiện đại hóa đất nước Nhật đã có nhiều chínhsách đào tạo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nhằm xóa khoảng cách về khoa học –công nghệ giữa Nhật và các nước tiên tiến khác Chính phủ Nhật đã triển khai thực hiệntriết lý phát triển: con người Nhật cộng với khoa học kỹ thuật phương Tây
Để đảm bảo nguồn nhân lực thường xuyên cho phát triển kinh tế - xã hội, Chínhphủ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành hệ thống giáo dục – đàotạo nghề trong các công ty, doanh nghiệp Cùng với việc tăng cường giáo dục – đào tạo
Trang 9(nhất là đào tạo nghề), Chính phủ có chính sách ưu đãi đối với lực lượng lao động có taynghề cao, chuyên môn giỏi, đồng thời khích lệ hoạt động sáng tạo của người lao độngluôn thích ứng với mọi điều kiện Về sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, Nhật thực hiệnchế độ lên lương và tăng thưởng theo thâm niên
Như vậy, phương thức đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của Nhật là nhằm pháthuy cao độ tính chủ động sáng tạo của người lao động; tạo điều kiện thuận lợi cho ngườilao động có khả năng thích ứng nhanh với điều kiện làm việc luôn thay đổi và nhạy béntrong việc làm chủ công nghệ và các hình thức lao động mới
Thứ ba, kinh nghiệm của Singapore
Từ khi tách khỏi Malaysia năm 1965, Singapore đã thực hiện thành công nhiều giaiđoạn phát triển kinh tế khác nhau, bao gồm giai đoạn công nghiệp hóa (1960 – 1970),giai đoạn tái cấu trúc nền kinh tế (1970 – 1980), và giai đoạn phát triển công nghệ cao đểxây dựng nền kinh tế tri thức (từ 1990 đến nay) Singapore là quốc gia có diện tích nhỏ,dân số không đông (5,1 triệu người năm 2010), tài nguyên thiên nhiên ít, nông nghiệpchiếm tỷ trọng 0%, GDP bình quân đầu người năm 2011 là 59.711 USD Để đạt đượcmục tiêu trên là kết quả của rất nhiều nỗ lực của Chính phủ Singapore Một trong nhữngchính sách được đánh giá cao nhất của Chính phủ Singapore là chiến lược phát triểnnguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao để mở rộng và phát triển khoahọc và công nghệ cho nền kinh tế, từ đó đưa nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao
Giáo dục – đào tạo, vốn được đặc biệt coi trọng ở Singapore, lại tiếp tục được nhậnthức như là chìa khóa để củng cố nhân lực, phát triển đất nước Các nhà lãnh đạoSingapore quan niệm rằng: thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua vềphát triển kinh tế Vì vậy, chính phủ Singapore đã thực hiện những bước đi trọng tâmtrong giáo dục để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Chính phủ Singapore đãdành một khoản đầu tư rất lớn để phát triển giáo dục Từ mức đầu tư khoảng 3% GDPnhững năm 1990 đã tăng dần lên 3,6%, 4% và dự kiến tăng lên tới 5% trong những thậpniên đầu thế kỷ XXI Mức chi cho giáo dục tài khóa 2007 – 2008 là 6,796 tỷ đô laSingapore (SGD), 2008 – 2009 là 8,22 tỷ SGD và 2009 – 2010 là 8,7 tỷ SGD Để pháttriển nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển kinh tế, Singapore đã xây dựng một hệthống trường cao đẳng nghề, trường đại học quy mô lớn và khuyến khích các công tytham gia đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước
Ngoài việc đầu tư mạnh cho giáo dục – đào tạo, Singapore còn được đánh giá là mộttrong những quốc gia có chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt lànguồn nhân lực tài năng bài bản nhất thế giới Quốc gia này coi việc thu hút nhân tài là
Trang 10chiến lược ưu tiên hàng đầu Chính phủ Singapore đã xây dựng chính sách sử dụng ngườinhập cư hay còn gọi là chính sách tuyển mộ nhân tài nước ngoài như đòn bẩy về nhânkhẩu để bù vào sự thiếu hụt lực lượng lao động người bản địa Nguồn nhân lực có kinhnghiệm và chất lượng tốt ở nước ngoài được tuyển dụng một cách tích cực và có hệ thống
bổ sung cho những khu vực còn hạn chế của nguồn nhân lực trong nước Những ngườinày được trợ giúp để cư trú tại Singapore Chính phủ Singapore miễn xét thị thực cho duhọc sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tập vừa phải, môitrường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo đa dạng
Như vậy, là một quốc gia đi lên từ điểm xuất phát thấp và đạt được nhiều thành tựu
ấn tượng mà cả thế giới phải thừa nhận Có thể nói Singapore đã biến việc trọng dụngnhân tài trở thành một thương hiệu quốc gia, từ đó, tạo lực kéo người đến và giữ người ởlại phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước Chiến lược phát triển nguồn nhân lực củaSingapore được coi là hình mẫu cho các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới
2 Những vấn đề lý luận chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
2.1 Tính tất yếu và mục đích của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
a Tính tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Theo nghĩa chung, khái quát nhất, công nghiệp hoá là quá trình biến một nước cónền kinh tế lạc hậu thành một nước có nền kinh tế công nghiệp phát triển
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về côngnghiệp hoá vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, Đảng ta nêu ra quan niệm
về công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trìnhchuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh
tế - xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biếnsức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sựphát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xãhội cao
Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước tahiện nay phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong quátrình phát triển Quá trình ấy không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn phảithực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng nghành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tếquốc dân theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại Quá trình ấy không chỉ tuần tự trảiqua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá mà còn sử dụng kết hợp kỹ thuật thủ
Trang 11công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu
có thể và mang tính quyết định
Tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất - kỹ thuật tươngứng Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất củalực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kỹ thuật (công nghệ) tương ứng mà lựclượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu xã hội.Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội là sự biếnđổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học - kỹ thuật; tính chất vàtrình độ của các quan hệ xã hội; đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị
Nói cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ sở vậtchất - kỹ thuật đó đã đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phương thức sảnxuất đó
Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phương thức sản xuất trước chủnghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu Đặc trưng của cơ sở vật chất -
kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá
Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa
tư bản - đòi hỏi một cơ sở vật chất - kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ kỹ thuật và
cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại
Do vậy, có thể hiểu, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền côngnghiệp lớn hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có trình độ xã hội hóa cao dựa trên trình độkhoa học và công nghệ hiện đại được hình thành một cách có kế hoạch và thống trị trongtoàn bộ nền kinh tế quốc dân
Từ chủ nghĩa tư bản hay từ trước chủ nghĩa tư bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xâydựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, một quyluật kinh tế mang tính phổ biến và được thực hiện thông qua công nghiệp hóa, hiện đạihóa
Đối với các nước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, dù đã có côngnghiệp, có cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản tiến bộ đến đâu cũng chỉ lànhững tiền đề vật chất chứ chưa phải là cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.Muốn có cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, các nước này phải thực hiện quyluật nói trên bằng cách tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất, tiếpthu vận dụng và phát triển cao hơn những thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất,
Trang 12hình thành cơ cấu kinh tế mới xã hội chủ nghĩa có trình độ cao và tổ chức, sắp xếp lại nềnđại công nghiệp tư bản chủ nghĩa một cách hợp lý, hiệu quả hơn.
Đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhưnước ta, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội phải thực hiện từ đầu, từkhông đến có, từ gốc đến ngọn thông qua công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mỗi bước tiếncủa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹthuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoànthiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
b Mục đích của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mục tiêu cơ bản là cải biến nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp có cơ sở vậtchất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với mọitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốcphòng - an ninh vững chắc, dân giau, nước manh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Đại hội X xác định mục tiêu cụ thể hiện nay là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để sơm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém pháttriển, tạo nền tảng đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa hiệnđại
2.2 Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Nguồn lao động luôn luôn là yếu tố quan trọng trong mọi hoạt động kinh tế Nguồnlực quý báu, quan trọng nhất, quyết định sự phát triển và phồn thịnh của các quốc gia,cộng đồng trên thế giới không còn là nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà là “nguồnnhân lực” với phẩm chất, tầm nhìn, kiến thức, kỹ năng cao Các nghiên cứu về phát triểnnguồn nhân lực trong những thập niên gần đây chủ yếu tập trung vào nguồn nhân lực, tứcchủ yếu tập trung vào vốn nhân lực (được hiểu là lực lượng lao động có kỹ năng) Đặcbiệt, nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) được xem là nguồn lực chính, nhân tốquyết định quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế -xã hội và quyết định việc khaithác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác Truyền thống Việt Nam cũng đã xácđịnh “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” Trong xu thế phát triển nền kinh tế thịtrường, toàn cầu hóa và mở rộng giao lưu quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là NNLCLCngày càng thể hiện vai trò quyết định Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, mộtnền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản:(1) Áp dụng công nghệ mới, (2) Phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và (3) Nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực Động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững
Trang 13chính là những con người, đặc biệt là NNLCLC - tức là những con người được đầu tưphát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trởthành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” (the human capital) Giữa nguồn lựccon người (NLCN), vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, KHCN…có mốiquan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhân lực được xem là năng lực nộisinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám
có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp
lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huyđược tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách có hiệu quả Vì vậy, con ngườivới tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sảnxuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế -
xã hội ở nước ta Lực lượng nhà khoa học và quản lý trình độ cao là nguồn tài nguyênnhân lực chủ chốt cho phát triển kinh tế tri thức Chiến lược CNH, HĐH đất nước ta cầndựa vào sự dẫn dắt, thực hiện của các nhà khoa học và quản lý trình độ cao Trong bốicảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về nhữngquốc gia có NNLCLC, môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư, môi trường chính trị - xãhội ổn định
Là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH nênphát triển nguồn nhân lực được xem là một yếu tố có tính chiến lược then chốt nhất chophát triển kinh tế - xã hội nói chung và CNH, HĐH ở nước ta nói riêng Quá trình CNH,HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp là do quy định của nhiềuyếu tố, trong đó, trước hết và chủ yếu tùy thuộc vào năng lực của con người, vào chấtlượng của NLCN Phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong
hệ thống phát triển các nguồn lực và đầu tư, chăm lo cho con người là đầu tư có tínhchiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững, bảo đảm sự phồn vinh,thịnh vượng của mọi quốc gia và là chìa khóa của sự phát triển bền vững
II THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRƯỚC YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
1 Chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Xuất phát từ nhận thức khách quan, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin: Dù ởthời đại nào, hay hình thái kinh tế - xã hội nào thì con người cũng luôn giữ vai trò quyết
Trang 14định, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, Đảng Cộng sản ViệtNam từ khi ra đời tới nay luôn chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nhất là trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được
thông qua tại Đại hội VII, khẳng định: “phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm
công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”(1).
Tại Đại hội VIII, vấn đề phát triển nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chấtlượng cao càng được Đảng ta chú trọng, coi đây là động lực chính tạo nên lực lượng sảnxuất - nhân tố quyết định tốc độ và sự phát triển bền vững của phương thức sản xuất mới
ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế Vì thế, muốn phát triển đất nước bền vữngkhông thể không chăm lo phát triển con người Đảng ta xác định: con người vừa là mụctiêu, vừa là động lực của sự phát triển Nguồn lực cơ bản, to lớn, quyết định này phải cóhàm lượng trí tuệ, phẩm chất ngày một cao mới có thể đáp ứng được sự nghiệp CNH,
HĐH Đại hội VIII nêu rõ: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn
của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH”(2).
Từ sau Đại hội VIII, thực hiện chiến lược CNH, HĐH đất nước, Trung ương Đảng
đã ban hành nhiều nghị quyết về các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến việc chăm sóc, bồidưỡng và phát huy nhân tố con người Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) vềđịnh hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ
đến năm 2000 khẳng định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh và bền vững”(3) Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục là xây dựng
những thế hệ con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH Nghịquyết xác định: phát triển nguồn nhân lực phải là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước vàtoàn xã hội được thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó giáo dục và đào tạo là thenchốt, là quốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục, đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh Chú trọngphát triển nguồn lực con người một cách toàn diện về cả trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, tháiđộ… Những quan điểm, chủ trương của Đảng đã được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chínhsách, chương trình, dự án nhằm thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhânlực
Trang 15Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ: “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn
nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ CNH, HĐH”, đồng thời
khẳng định phương hướng: “Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát
triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; triển khai thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến, hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức”(4).
Đại hội X thể hiện rõ quyết tâm phấn đấu để giáo dục và đào tạo cùng với khoahọc và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu; tập trung đổi mới toàn diện giáo dục vàđào tạo, chấn hưng giáo dục để phát triển nguồn nhân lực cao có chất lượng cao(5)… vớicác giải pháp cụ thể: quản lý quá trình phát triển dân số và nguồn nhân lực cao trong mốiquan hệ với phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới phương thức đào tạo, phát triển nguồnnhân lực; phát triển nguồn nhân lực gắn với tạo việc làm, tạo việc làm tại chỗ thông quaphát triển sản xuất, tập trung vào các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu
Đại hội XI (2011) của Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó
khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao”(6) Đại hội xác định: “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”(7) Để thực hiện chiến lược này, Đảng ta đưa ra
nhiều giải pháp: “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam; đổi mớicăn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hộihóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triểnđội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”(8); “xây dựng và thực hiện chiếnlược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam”(9) Đảng ta nêu rõ 4định hướng chiến lược về phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập: gắn phát triểnnguồn nhân lực với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội; gắn việc phát triểnnguồn nhân lực với quá trình dân chủ hóa, nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác cóhiệu quả các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại; nâng cao chất lượng sử dụng độingũ cán bộ khoa học, công nghệ; có chiến lược phát triển con người trên cơ sở một hệthống chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sựphát triển Giải quyết tốt các vấn đề này sẽ tạo được yếu tố nội sinh của nguồn nhân lực,
cơ sở bền vững cho phát triển và hội nhập Trong đó, một trong vấn đề mấu chốt đượcĐảng nêu ra là: “Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng vàtôn vinh nhân tài, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài”(10) Nghị quyết khẳng định: ViệtNam chỉ có thể đi tắt đón đầu sự phát triển trên thế giới trong thời kỳ hội nhập bằng cáchđầu tư vào yếu tố con người
Mặc dù đã được đặc biệt quan tâm và đạt nhiều thành tựu to lớn nhưng trong bốicảnh hội nhập quốc tế, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cao đặt ra cấp thiết
Trang 16Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam thấphơn so với nhiều nước, đặc biệt là thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuậtbậc cao Chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 điểm (xếp thứ 11/12 nướcchâu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia
là 5,59; Thái Lan là 4,94 Cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối.Các ngành kỹ thuật - công nghệ, nông - lâm - ngư nghiệp ít và chiếm tỷ trọng thấp, trongkhi đó các ngành khoa học xã hội như: luật, kinh tế, ngoại ngữ lại chiếm tỷ lệ khá cao.Nhiều ngành nghề, lĩnh vực có tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu nhân lực
Như vậy, việc nâng cao trình độ nguồn nhân lực – chất lượng cao là một yêu cầucấp thiết trong xây dựng và phát triển đất nước Chúng ta cần nhanh chóng đầu tư pháttriển nguồn nhân lực, tiến tới “nền kinh tế tri thức”; cập nhật, trọng dụng và phát huy tàinăng, giá trị của nguồn nhân lực cấp cao để theo kịp tốc độ chung toàn cầu
Thời kỳ hội nhập sẽ mở ra nhiều cơ hội việc làm với những yêu cầu ngày càng caođối với người lao động, nhất là: kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, ngoại ngữ, tin học vàtác phong công nghiệp… Hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực cao nước ta còn nhiều hạnchế, chưa được trang bị tốt về chuyên môn, nghiệp vụ, các kỹ năng mềm và trình độngoại ngữ nên không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng
Bên cạnh đó, thị trường lao động còn có sự chênh lệch giữa cung - cầu, giữa nhucầu của nhà tuyển dụng với người lao động, giữa những kiến thức được đào tạo trong nhàtrường với thực tiễn cuộc sống… Công tác dự báo và thông tin thị trường lao động cònnhiều hạn chế…
Để có thể phát huy được thế mạnh về nguồn nhân lực và tận dụng được thời kỳ
“dân số vàng” trong quá trình hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực, nhân lực chất lượng caocủa Việt Nam cần phải được trang bị, rèn luyện chuyên môn nghề nghiệp, nâng cao nănglực tư duy khoa học, lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, áp dụng công nghệ mớikhông ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp…
2 Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam
2.1 Thực trạng tình hình nhân lực hiện nay ở Việt Nam
Hiện tại, Việt Nam đang sở hữu một nguồn nhân lực khá dồi dào về số lượng nhưnglại rất hạn chế về mặt chất lượng Cả nước có khoảng 14.000 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học;1.432 giáo sư; 7.750 phó giáo sư; 16.000 thạc sĩ; 30.000 cán bộ hoạt động khoa học vàcông nghệ; 52.129 giảng viên đại học, cao đẳng, trong số đó 49% giảng viên đại học cótrình độ thạc sĩ trở lên Cả nước hiện có 14.000 giáo viên trung cấp chuyên nghiệp;11.200 giáo viên dạy nghề và 925.000 giáo viên hệ phổ thông Trong số 9.000 tiến sĩ