Mọi hoạt động trợ giúp về chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng cho người khuyết tật đều nhằm giúp họ có khả năng phục hồi chức năng các bộ phận trong cơ thể, tăng cường về thể lực và t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO XUÂN QUYỀN
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
TRẺ TÀN TẬT THỤY AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO XUÂN QUYỀN
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
TRẺ TÀN TẬT THỤY AN
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ Công tác xã hội với đề tài “Phục hồi chức năng đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An” là đề tài nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các kết
quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn này là trung thực không trùng lặp với các đề tài khác
TÁC GIẢ ĐỀ TÀI
Học viên
Đào Xuân Quyền
Trang 4NĂNG CHO TRẺ EM KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TRẺ TÀN TẬT THỤY AN 53
2.1 Đôi nét giới thiệu về Trung tâm 532.2 Thực trạng trẻ em khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An 562.3 Thực trạng phục hồi chức năng trẻ em khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An 58
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TRẺ TÀN TẬT THỤY AN 73
3.1 Định hướng tăng cường hoạt động phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An 733.2 Giải pháp tăng cường hoạt động phục hồi chức năng đối với TEKT từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An 74
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5NVCTXH : Nhân viên công tác xã hội
NVXH : Nhân viên xã hội
PHCN : Phục hồi chức năng
PHCNDVCĐ : Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
TEKT : Trẻ em khuyết tật
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người, xét về bản chất là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội Hoạt động của con người đã hình thành và phát triển xã hội Nói cách khác con người là sản phẩm của bản thân nó trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội và chỉ trong hoạt động ấy con người mới trở thành chính mình Con người muốn trở thành con người thực sự thì phải gia nhập xã hội loài người, để có được sức mạnh của loài người, từ đó con người sống và phát triển Như vậy,
sự hình thành và phát triển con người gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội trong mọi thời đại
Người khuyết tật nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng cũng là con người Do vậy theo quy luật, họ không thể tách rời, cách ly hoặc từ bỏ mọi hoạt động của con người Do nhiều nguyên nhân mà họ đã mất đi quyền bình đẳng về thân thể và trí lực, nhưng đồng loại, những con người bình thường không thể lãng quên hay bỏ rơi họ, bởi bản thân họ là người chịu nhiều thiệt thòi về cả thể chất lẫn tinh thần Xã hội cần phải trợ giúp, thương yêu, hỗ trợ
để họ trở thành con người có ích trong xã hội và phục vụ cho xã hội
Xã hội càng phát triển, kinh tế càng tăng trưởng đời sống văn hóa tinh thần ngày càng cao Do đó, sự đòi hỏi về tự do, bình đẳng và giải phóng cho mỗi con người ngày càng trở thành những giá trị hiện thực và cao cả Tại Hội nghị Nhân quyền thế giới ngày 25/6/1993, quyền của người khuyết tật được
khẳng định: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, và đều có quyền sống và phúc lợi, giáo dục và việc làm, sống một cách độc lập và tham gia tích cực vào mọi mặt của đời sống xã hội Bất kỳ một sự phân biệt trực tiếp hoặc đối xử phân biệt tiêu cực khác đối với người khuyết tật đều vi phạm quyền của người đó”
Trang 7Người khuyết tật không phải là người tàn phế hoàn toàn mà tùy vào các mức độ khác nhau của các dạng tật, người khuyết tật bị hạn chế một hay nhiều hoạt động so với người bình thường Bên cạnh đó do cơ thể có khả năng bù trừ các chức năng, nên có rất nhiều NKT có những khả năng, tố chất rất đặc biệt Người khuyết tật có khả năng tham gia mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Đó chính là quyền của người khuyết tật phải được bảo vệ và trợ giúp, để họ hòa nhập với cộng đồng Nó có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với bản thân người khuyết tật mà còn đối với toàn xã hội
Mọi hoạt động trợ giúp về chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng cho người khuyết tật đều nhằm giúp họ có khả năng phục hồi chức năng các
bộ phận trong cơ thể, tăng cường về thể lực và trí tuệ Lịch sử hình thành và phát triển con người đã chứng minh rằng chính nhờ hoạt động lao động, học tập mà con người đã dần dần từng bước phát triển, hoàn thiện
Người khuyết tật do chịu thiệt thòi về bệnh tật nên thường có tâm
lý bị bỏ rơi, bị lãng quên, họ rất khao khát được hoạt động, được làm việc, được học tập và tham gia các hoạt động khác như người bình thường Bản thân họrất muốn được tự lập, tự chủ về kinh tế và bình đẳng về mọi mặt Do vậy, nếu chỉ sống dựa vào sự trợ giúp của gia đình và xã hội, không có điều kiện học tập, sáng tạo, thì quyền bình đẳng của họ khó có thể thực hiện
Người khuyết tật luôn có nhu cầu, khát khao được tham gia các hoạt động văn hóa thể thao, vui chơi giả trí Nếu xã hội định hướng hỗ trợ thì họ sẽ phát huy được những khả năng, nhân tố đặc biệt của mình trong lĩnh vực này Khi xã hội, cộng đồng tạo điều kiện cho họ tham gia mọi hoạt động, chăm lo
về vật chất và tinh thần, sẽ làm nhẹ đi nỗi đau cho các gia đình có người khuyết tật, giải phóng lực lượng lao động cho xã hội, giúp cho NKT cống hiến cho xã hội Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, số lượng người khuyết tật ở nước ta chiếm tỷ lệ cao Đây là vấn đề xã hội rất bức xúc
Trang 8và cần phải giải quyết Chính vì vậy việc trợ giúp chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng cho NKT là một tất yếu trong xã hội, là đạo lý, là lương tâm, là trách nhiệm của xã hội, cộng đồng và của mỗi người; đồng thời, cũng thể hiện bản chất tốt đẹp của xã hội với mục tiêu vì hạnh phúc của con người
Trên thực tế cho thấy phần lớn NKT thường tự ti mặc cảm, có không ít người khuyết tật tự đặt rào cản cho chính bản thân mình Hầu hết NKT thiếu những kỹ năng xã hội cần thiết Họ không biết cách tiếp cận với các chính sách hỗ trợ Bên cạnh đó nhận thức của một bộ phận không nhỏ cá nhân, tổ chức trong xã hội chưa đúng đắn về NKT, còn có sự kỳ thị, phân biệt
Chúng ta thường đau đớn và trở nên dễ tổn thương khi trải qua mất mát hay tổn thất Những NKT tật sống trong môi trường được đánh giá bằng các tiêu chuẩn của những người không khuyết tật lại càng phải thường xuyên chịu đựng những mất mát: Mất đi hình ảnh bản thân, mất đi những cơ hội, vì thế mất cả hy vọng và ước mơ Do vậy, người khuyết tật không chỉ cần có những
tổ chức của mình mà còn cần nhân viên xã hội hỗ trợ họ và gia đình họ
Những điều trình bày trên là lý do mà học viên đã lựa chọn đề tài “Phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An” làm luận văn thạc sỹ ngành Công tác xã hội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phục hồi chức năng cho người khuyết tật, trẻ em khuyết tật tại Việt Nam đã có nhiều đề tài, tài liệu nghiên cứu, nhưng phần lớn mới tập trung ở vấn đề phục hồi chức năng mang tính chuyên sâu ở lĩnh vực, góc cạnh nào đó
Tài liệu “Hướng dẫn phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật tại cộng đồng” do Sở Y tế Hà Nội thực hiện năm 2007 với mục đích trang bị kiến
thức, kỹ năng cho nhân viên PHCNDVCĐ để hướng dẫn PHCN cho TKT Tài liệu này cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản và dễ hiểu nhất đến mọi đối tượng có thể áp dụng được trong PHCN đối với TKT tại cộng đồng
Trang 9Tài liệu “Công tác xã hội phục hồi chức năng cho trẻ bại não” do Trần
Văn Lý và các cộng sự thực hiện năm 2012 (tài liệu biên soạn với sự hỗ trợ của Đề án 32), đây là tài liệu phân tích khá kỹ về trẻ khuyết tật bại não, đặc biệt là việc thực hiện công tác xã hội với đối tượng này Tài liệu là chương trình đào tạo nhân viên xã hội mang tính chuyên sâu trợ giúp cho trẻ bại não
Tài liệu “Tập huấn chăm sóc người tàn tật” do TS Nguyễn Hải Hữu
và các cộng sự thực hiện năm 2007 đây là kết quả hợp tác giữa Bộ LĐTBXH
và tổ chức Caritas Cộng hòa liên bang Đức Tài liệu chủ yếu hướng dẫn về nghiệp vụ, kỹ năng chăm sóc NKT cho cán bộ, nhân viên tại các cơ sở BTXH
Tài liệu“Về chính sách trợ giúp người khuyết tật, quyền và quy trình thực thi quyền của người khuyết tật” do Hội trợ giúp người khuyết tật Việt
Nam (VNAH) hợp tác với Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam (NCCD) và các chuyên gia thực hiện năm 2015 Tài liệu đề cập chủ yếu đến quyền của người khuyết tật và việc đảm bảo các quyền của người khuyết tật, mục tiêu của tài liệu là nhằm nâng cao kiến thức cho cán bộ trợ giúp NKT, các tổ chức của NKT và bản thân NKT về chính sách, pháp luật liên quan, các quyền của NKT và quy trình thực thi các quyền đó
Giáo trình “Can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật” do Trần Thị Thiệp,
Hoàng Thị Tho và Trần Thị Minh Thành thực hiện năm 2014, giáo trình phục
vụ cho việc giảng dạy, học tập của giảng viên và sinh viên giáo dục đặc biệt Giáo trình đề cập đến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức can thiệp sớm ở lĩnh vực giáo dục cho TKT
Như vậy ta thấy các nghiên cứu trên tập trung khai thác ở những góc cạnh cụ thể như: phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; phục hồi chức năng
ở một dạng khuyết tật nào đó; trợ giúp trong việc chăm sóc cho NKT; việc thực thi quyền của NKT chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về phục hồi chức năng, hay nói cách khác là chưa có nghiên cứu nào
Trang 10mang tính tổng quát, phục hồi chức năng toàn diện, khép kín Nghiên cứu theo phương pháp của công tác xã hội sẽ hiểu rõ hơn vấn đề phục hồi chức năng mang tính toàn diện, giải quyết được các vấn đề của người khuyết tật, trẻ khuyết tật trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống
Trước thực trạng vấn đề nêu trên, luận văn sẽ tìm hiểu sâu hơn mô hình phục hồi chức năng toàn diện, khép kín tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An, từ đó góp phần nâng cao chất lượng công tác phục hồi chức năng cho người khuyết tật, trẻ khuyết tật tại Trung tâm và cộng đồng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam và thực tiễn công tác này tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An trong những năm qua, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, từng bước chuyên nghiệp hóa công tác phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm này nói riêng và ở Việt Nam nói chung
Nêu định hướng, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình phục hồi chức năng toàn diện, khép kín cho trẻ em khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
Công tác phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An trong 39 năm qua
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận của bộ môn Công tác xã hội
Lý thuyết hệ thống:
Các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có thể xem xét ở nhiều phần khác nhau, mỗi một sự kiện, hiện tượng, quá trình, các vấn đề xã hội đều có cách tiếp cận khác nhau ở tiếp cận này hay ở tiếp cận khác, về góc độ này hay góc độ khác Lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động của các tổ chức, chính sách, cộng đồng và các nhóm ảnh hưởng đến cá nhân [17, tr.123]
Người làm công tác xã hội phải hiểu rõ bản chất và những tác động của các hoạt động trên, giúp người khuyết tật giải quyết được hàng loạt các vấn đề
có liên quan đến cá nhân trong cuộc sống, trong đó có lĩnh vực PHCN
Lý thuyết hệ thống sinh thái:
Lý thuyết hệ thống sinh thái trong lĩnh vực phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật sẽ giúp người làm công tác xã hội phân tích được mối tương tác giữa trẻ và hệ thống sinh thái môi trường xã hội mà trẻ đang sống và ảnh hưởng đến hành vi của trẻ trong đời sống xã hội Lý thuyết này liên quan đến nhiều yếu tố tác động đến cá nhân trẻ và gia đình như: họ hàng, cơ quan, bạn
bè, làng xóm, đoàn thể, tôn giáo, trường học, khu vui chơi giải trí, dịch vụ y
tế, chính quyền địa phương, an sinh xã hội
Sự quan tâm của xã hội đối với trẻ khuyết tật không thể thiếu được các
cơ quan quản lý, các đoàn thể, các dịch vụ và mạng lưới an sinh xã hội Theo
lý thuyết này, tất cả hệ thống sinh thái đều ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực
Trang 12đến hành vi của trẻ Hệ thống quản lý các công việc về người khuyết tật nhiều cấp, nhiều khía cạnh, đảm bảo nhu cầu cho TKT, một dạng đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt [17, tr.129]
Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ TKT trong lĩnh vực phục hồi chức năng cần phân tích được mối tương tác giữa trẻ, gia đình trẻ và các mối quan
hệ ảnh hưởng như thế nào đối với trẻ và gia đình
Nhân viên công tác xã hội cung cấp cho TKT, gia đình những thông tin liên quan đến tâm lý xã hội và phục hồi chức năng, tham vấn giúp họ lên kế hoạch, tận dụng tối đa những nguồn lực đã có, các nguồn lực trợ giúp từ bên ngoài để trẻ được tiếp cận dịch vụ PHCN, can thiệp càng sớm càng tốt
Nhân viên công tác xã hội có trách nhiệm không chỉ thay đổi hành vi của TKT và gia đình mà còn có trách nhiệm thay đổi hành vi của các thành viên trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ được tham gia vào tất cả các dịch vụ xã hội, nhất là trong lĩnh vực phục hồi chức năng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: Các tài liệu được thu thập
nghiên cứu đó là các văn bản quy định của Nhà nước liên quan đến người khuyết tật; các báo cáo tổng kết, đánh giá việc thực hiện các chương trình, đề
án trợ giúp người khuyết tật của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các bộ, ngành liên quan
Trang 13Báo cáo tổng kết 35 năm, báo cáo tổng kết hàng năm của Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An; dựa trên kết quả nghiên cứu điều tra
thực tế trước đây của cán bộ Trung tâm (tác giả là thành viên) trong việc xây
dựng tài liệu Công tác xã hội phục hồi chức năng cho trẻ bại não (2012), đề
án xây dựng mô hình can thiệp, phục hồi chức năng trẻ tự kỷ (2013)
Phương pháp quan sát: Quan sát sự thay đổi của trẻ khuyết tật trong
quá trình phục hồi chức năng tại Trung tâm, phân tích nhận định tác động của phục hồi chức năng đối với trẻ khuyết tật
Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu, thông tin thu thập được xử lý
bằng phương pháp thống kê và phương pháp phân tích
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần làm rõ vai trò của các bộ phận trong hệ thống chính trị XHCN từ Trung ương tới địa phương trong việc thực hiện chăm sóc, phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật Do vậy, nó có thể trở thành tài liệu tham khảo trong việc hoạch định chính sách cũng như hoạt động phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phục hồi chức năng đối với trẻ em
khuyết tật
Chương 2: Thực trạng trẻ em khuyết tật và công tác phục hồi chức năng
cho trẻ em khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An
Chương 3: Định hướng, giải pháp tăng cường hoạt động phục hồi chức
năng đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
1.1 Trẻ em khuyết tật
1.1.1 Khái niệm trẻ em khuyết tật
* Khái niệm trẻ em:
Thuật ngữ “trẻ em” nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người1
tuổi” Theo Bộ luật Dân sự 2005 thì trẻ em là những người dưới 15 tuổi
Theo pháp luật liên bang của Hoa Kỳ thì “trẻ em là người dưới 18 tuổi”
Nhìn chung mỗi nước có qui định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em Việc qui định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em ở mỗi quốc gia Do đó có những quốc gia qui định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc trễ hơn 18 tuổi như được xác định trong Công ước về quyền trẻ em
Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:
1
Khái niệm “Trẻ em” đã được đề cập trong Tuyên bố Giơnevơ (1924) và Tuyên bố của LHQ về quyền trẻ
em (1959), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1968), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá 1966, Công ước LHQ về Quyền trẻ em (1990), Công ước 138 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc (1976), v.v
Trang 15Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành
Cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về
mặt pháp lý
Ngoài ra trong các qui phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện các khái niệm “người thành niên”, “người chưa thành niên” Như vậy vấn đề đặt ra là
phân biệt giữa các khái niệm trên và khái niệm “trẻ em”
Theo pháp luật Việt Nam:
Người thành niên: là người trên 18 tuổi
Người chưa thành niên: là người dưới 18 tuổi
Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm về trẻ em,
người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 đến 18 tuổi
* Khái niệm trẻ em khuyết tật:
Cho đến nay đã có khá nhiều định nghĩa đưa ra nhằm trả lời một câu hỏi thế nào là người khuyết tật (trong đó có trẻ em khuyết tật)? Theo tổ chức
y tế thế giới OMS thì người khuyết tật là người bị khiếm khuyết 1 hay nhiều
bộ phận cơ thể chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, khiến cho khả năng hoạt động, sinh hoạt, học tập, làm việc gặp nhiều khó khăn Tùy từng mức độ khác nhau các dạng tật mà người bị khuyết tật bị hạn chế một số hoạt động, chức năng so với người bình thường
Theo Công ước về quyền của người khuyết tật ngày 06 tháng 12 năm
2006 thì Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác
Theo Luật Người khuyết tật thì NKT được hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”
Trang 161.1.2 Đặc điểm của trẻ em khuyết tật
* Các dạng trẻ khuyết tật
Theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, khuyết tật được phân loại theo các dạng sau:
Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động
đầu cổ, chân, tay, thân hình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển
Khuyết tật nghe nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói
hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói
Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm
nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường
Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ,
cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường
Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư
duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc
Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cơ thể khiến
cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp được quy định tại các dạng trên
Trong PHCN, khắc phục hậu quả khuyết tật chủ yếu thực hiện ở cộng đồng Để dễ nhận biết và dễ thực hiện cũng như để tạo thuận lợi cho NKTchấp nhận tình trạng khuyết tật của mình, tăng cường khả năng hợp tác của NKT, người ta phân loại khuyết tật như sau:
Người có khó khăn về vận động
Trang 17Do bệnh, tuổi cao, tai nạn, tật bẩm sinh
Bản thân khuyết tật tạo ra tàn tật
Thái độ sai của xã hội, đối xử thiếu công bằng gây ra khuyết tật hoặc làm cho khuyết tật trầm trọng hơn Xã hội càng ít chú ý đến nhu cầu, khả năng của người khuyết tật càng tạo ra nhiều tàn tật hơn
Nền y học phát triển chậm, chăm sóc sức khỏe ban đầu chưa tốt, nhiều người bệnh mang nhiều di chứng thương tật thứ cấp do điều trị không đầy đủ, không kịp thời Y học tiên tiến cũng có thể gây nên khuyết tật nhiều vì nhiều bệnh nhân nặng được cứu sống mà trước đây không làm được [19, tr.14]
Ngành PHCN phát triển yếu kém là một nguyên nhân gây ra tàn tật Theo ước tính Tổ chức Y tế thế giới 10% dân số bị khuyết tật Riêng các nước khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 100 triệu người khuyết tật, 75% trong số họ chưa được chăm sóc, phục hồi Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 7 triệu NKT, chiếm 7,8% dân số, trong đó 28,3 % NKT là trẻ em, có 3 triệu NKT có nhu cầu phục hồi chức năng [3]
Thứ hai: Nhóm yếu tố nguy cơ
Nhóm nguy cơ thứ nhất: Do điều kiện tự nhiên
Đất nước ta ở vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm thường phải gánh chịu những hậu quả do thiên tai để lại Ước tính mỗi năm nước ta có khoảng 10
Trang 18trận bão lớn nhỏ đổ bộ vào Ngoài bão ra còn có các thiên tai cục bộ như lốc, mưa đá, lũ quét, lũ ống, hạn hán Hậu quả thiên tai, sự tàn phá của nó đã gây
ra những thiệt hại về kinh tế, làm thất thoát hàng tỉ đồng về tài sản, hoa màu
kể cả tính mạng con người; trong đó có bộ phận đã trở thành khuyết tật Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng
và phát triển của động, thực vật, nhưng cũng là môi trường thuận lợi cho sự phát triển bệnh tật, nhất là ở trẻ em
Nhóm nguy cơ thứ hai: Do hậu quả chiến tranh
Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Đế quốc Mỹ đã rải xuống hầu khắp các tỉnh Miền Nam và Miền Trung, nhất là Quảng Bình - Quảng Trị một khối lượng khá lớn chất độc hóa học hủy diệt, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho trẻ em Việt Nam hôm nay và kể cả mai sau
Theo kết quả điều tra sơ bộ của Bộ LĐTB&XH, nước ta có trên tám mươi ngàn người chịu hậu quả trực tiếp và hơn một trăm ngàn người chịu hậu quả gián tiếp của chất độc màu da cam như hiện tượng quái thai, dị dạng, dị tật và các bệnh nan y khác Một số gia đình có ba, bốn con đều bị dị tật
Hậu quả của chiến tranh vẫn và sẽ còn kéo dài cho nhiều thế hệ Đây là nỗi đau cho gia đình, là gánh nặng cho toàn xã hội; đối tượng phải gánh chịu trực tiếp là những TEKT
Nhóm nguy cơ thứ ba: Nguyên nhân về kinh tế
Sự đói nghèo được coi là nguyên nhân bao trùm dẫn tới hậu quả ở nước
ta số người khuyết tật chiếm số lượng khá đông Đói nghèo ở nước ta diễn ra trên diện rộng Đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa (mấy năm gần đây công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã mang lại nhiều hiệu quả khá thiết thực, được cộng đồng thế giới thừa nhận) Do đói nghèo nên nhiều gia đình không có điều kiện để chăm sóc chu đáo về y tế, không quan tâm tới vệ sinh an toàn thực phẩm, không đảm bảo được nhu cầu dinh dưỡng cho con cái, và cũng chưa chú ý phòng chống, chữa bệnh kịp thời cho trẻ em
Trang 19Tại các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa cơ sở hạ tầng yếu kém, nước sạch không đủ để dùng, dịch bệnh thường phát sinh, dễ gây bệnh tật dẫn đến
KT ở trẻ em, bởi trẻ em có sức đề kháng kém, dễ mẫn cảm, dễ mắc bệnh, việc cấp cứu bệnh nhân không kịp thời nên số trẻ em khuyết tật thường có tỉ lệ cao hơn những vùng khác
Nhóm nguy cơ thứ tư: Những tai nạn rủi ro và bệnh nghề nghiệp
Hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với xu thế mở cửa hội nhập, trong nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đang tạo ra đà phát triển về kinh tế, gia tăng mạnh mẽ các phương tiện giao thông, xây dựng các nhà máy, xí nghiệp Điều đó đang từng bước nâng cao mức sống của nhân dân, tạo điều kiện cho các gia đình và xã hội chăm sóc con cái được tốt hơn, nhưng mặt trái của nó là các thiết bị công cụ, nguyên liệu, vật tư, hóa chất chưa được sử dụng,bảo quản theo đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật, nên đã gây nhiễm độc thai nghén, dẫn tới không ít phụ nữ sinh con dị tật, dị dạng
Trong nền kinh tế thị trường, do chạy theo lợi nhuận, nên có nhiều phương tiện giao thông chưa đảm bảo các thông số an toàn cùng với sự kém hiểu biết về luật giao thông của một số chủ phương tiện, tình trạng dùng chất kích thích khi điều khiển phương tiện giao thông đã dẫn đến những tai nạn rủi
ro làm cho một bộ phận trẻ em trở nên khuyết tật
Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, quản lý thị trường của Nhà nước còn lỏng lẻo, một bộ phận thương nhân sử dụng những hóa chất, phẩm màu bị cấm trong thực phẩm, hay không tuân theo những quy định vệ sinh trong các mặt hàng ăn uống đã gây ra những hậu quả đáng tiếc cho người tiêu dùng, đó là một trong những nguyên nhân gây ra khuyết tật
Nhóm nguy cơ thứ năm: Khuyết tật do ô nhiễm môi trường
Trang 20Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề toàn cầu hiện nay Ô nhiễm môi trường đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam Nguồn nước, không khí ở nước
ta ngày càng ô nhiễm, điều đó cũng làm gia tăng bệnh tật
Ý thức bảo vệ môi trường của nhiều người Việt Nam còn chưa cao, làm cho các ổ dịnh bệnh phát triển và lan rộng, dẫn tới những hậu quả khuyết tật ở trẻ em Mặt khác sự thiếu chất dinh dưỡng, thiếu các cơ sở dịch vụ chăm sóc thai nghén, thiếu kiến thức phòng ngừa bệnh tật cho thai nhi trong quá trình lao động của nhiều bà mẹ Sự chăm sóc trẻ sơ sinh của một số gia đình chưa tốt, cũng như việc chạy chữa không kịp thời làm cho số lượng trẻ em khuyết tật gia tăng
Khái quát trong sơ đồ sau:
1.1.3 Các nhu cầu của trẻ em khuyết tật
Trẻ khuyết tật cũng có nhu cầu giống như trẻ bình thường và người bình thường như: ăn, mặc, ở, chăm sóc, bảo vệ, xã hội, tự thể hiện mình…
Nguyên nhân khuyết tật Bệnh và các vấn đề về môi trường xã hội
Trang 21Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người
(Abraham Maslow, 1908- 1970)
Nhu cầu cơ bản (basic needs):
Nhu cầu này cũng được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản như: ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái, đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người [17, tr 53] Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc một người hành động khi nhu cầu cơ bản chưa đạt được Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏe mạnh, đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấy, các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu Đối với TKT, do gặp nhiều khó khăn trong việc tự đáp ứng các nhu cầu
cơ bản Để thỏa mãn được các nhu cầu này, trẻ cần sự hỗ trợ của người khác
Nhu cầu về an toàn (safety needs):
Khi con người được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, nghĩa là các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp
Trang 22theo? Khi đó các nhu cầu về an toàn sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu an toàn được thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần [17, tr 53]
Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ… Trẻ khuyết tật thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha mẹ, mong muốn được vỗ về
Ở trẻ khuyết tật, việc đi lại, di chuyển, cử động khó khăn; tinh thần thường cảm thấy bất an Việc tự bảo vệ của trẻ lại càng khó khăn, trẻ thường nhút nhát, tự ti, thường ngại tiếp xúc với người khác, đôi khi sợ sệt
Để tiếp xúc với TKT, người làm công tác PHCN và công tác xã hội phải thật sự gần gũi, cảm thông với trẻ, tạo cho trẻ cảm giác yên tâm như đang được tiếp xúc với người thân trong gia đình, giúp trẻ yên tâm luyện tập, học tập, vượt qua khó khăn về bệnh tật, hòa nhập cuộc sống cộng đồng
Nhu cầu về xã hội (social needs):
Nhu cầu này là một dấu vết của bản chất sống theo bầy đàn của loài người từ buổi bình minh của nhân loại Mặc dù Maslow xếp nhu cầu này sau
2 nhu cầu phía trên, nhưng ông nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần, thần kinh Chúng ta cũng biết rõ rằng: sự cô đơn có thể dễ dàng giết chết con người Nhiều em ở độ tuổi mới lớn đã lựa chọn con đường từ bỏ thế giới này với lý do: “Những người xung quanh, không có ai hiểu con!” [17, tr 54]
Để đáp ứng nhu cầu thứ 3 này, nhiều cơ sở Bảo trợ xã hội đã tổ chức cho trẻ các buổi cắm trại ngoài trời, tham quan các khu danh lam thắng cảnh, cùng chơi chung các trò chơi tập thể, áp dụng các phương pháp hoạt động theo nhóm,các tổ chức Đoàn, Đội được giao trách nhiệm tập hợp các em, định hướng các em vào những hoạt động bổ ích Kết quả cho thấy: các hoạt động trên đem lại kết quả tốt cho tinh thần và hiệu suất học tập, PHCN
Trang 23Kinh nghiệm cho thấy: phần lớn trẻ (cả trẻ bình thường và trẻ khuyết tật) sống trong các gia đình hay bất hòa, bố mẹ mâu thuẫn, lục đục, thiếu quan tâm, thiếu tình thương của gia đình thường có kết quả học tập không cao như các em học sinh khác, tình trạng sức khỏe và tinh thần của trẻ không tốt
Nhu cầu được tôn trọng (esteem needs):
Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, tôn trọng chính bản thân, danh tiếng, sự tự tin vào khả năng của bản thân Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn [17, tr 54]
Một số TKT thường bị hạn chế những thế mạnh của bản thân Vì vậy, nếu chúng ta chỉ nhìn vào những hạn chế đó mà có những hành động, lời nói mang tính chỉ trích, chê bai sẽ làm cho tâm lý của trẻ bị suy sụp, trẻ sẽ càng tự
ti, sống khép mình, ngại giao tiếp với người khác
Để khắc phục tình trạng đó, mọi người tiếp xúc với trẻ đều phải có sự tác động tích cực, đưa ra lời khen hoặc tán thưởng khi trẻ đạt được bất cứ thành quả gì, dù là lớn hay nhỏ Điều đó sẽ làm cho trẻ cảm thấy mình được tôn trọng, hình thành lòng tự trọng cho trẻ, làm thay đổi cách nghĩ và hành động của trẻ, giúp trẻ hợp tác hơn, tích cực trong học tập và PHCN
Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs):
Maslow mô tả nhu cầu này là: “nhu cầu của một cá nhân mong muốn
được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm”” Nói một
cách đơn giản, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội Nhu cầu này cũng chính là mục tiêu cao nhất mà giáo dục hiện đại nhắm đến Trong báo cáo của Unesco Learning: the Treasure Within, vấn đề học tập
đó được mô tả qua 4 trụ cột của giáo dục (The Four Pillars of Education):
Trang 241 Học để biết (Learning to know)
1.2 Nhu cầu về phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật
1.2.1 Khái niệm phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng là một thuật ngữ trong y khoa, là một trong 3 lĩnh
vực của y học gồm phòng bệnh - chữa bệnh - phục hồi chức năng
Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra một khái niệm đầy đủ về PHCN như sau: Phục hồi chức năng bao gồm các biện pháp y học, kinh tế, xã hội, giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi nhằm làm giảm tác động của giảm khả năng và tàn tật, đảm bảo cho người tàn tật hội nhập xã hội, có những cơ hội
bình đẳng và tham gia đầy đủ các hoạt động của xã hội [19, tr.17]
Phục hồi chức năng là trả lại các chức năng bị giảm hoặc bị mất cho người khuyết tật hoặc là giúp họ xử trí tốt hơn với tình trạng khuyết tật của mình khi ở nhà hoặc ở cộng đồng Phục hồi chức năng không chỉ huấn luyện NKT thích nghi với môi trường sống mà còn tác động vào môi trường và xã
hội tạo nên khối thống nhất cho quá trình hội nhập của NKT
TKT có những nhu cầu đặc thù để có thể tham gia vào các loại hình hoạt động khác nhau Chẳng hạn trong học tập: trẻ khó khăn về nhìn cần phương tiện trợ thị lực hoặc cần được tiếp nhận thông tin qua các giác quan khác
Trang 25nhau, đặc biệt là xúc giác và thính giác Chữ Braille và các sơ đồ, mô hình nổi giúp trẻ khiếm thị lĩnh hội tri thức; trẻ khó khăn về nghe cần các phương tiện trợ thính và môi trường nghe - nói thuận lợi, hoặc các hình thức giao tiếp qua kênh thị giác thay thế ngôn ngữ nói thuần túy; trẻ khó khăn về vận động cần một môi trường không vật cản để có thể di chuyển một cách dễ dàng; cần được củng cố kiến thức, kỹ năng, hành vi nhiều hơn mức thông thường;trẻ khó khăn về nói cần được giúp sửa lỗi phát âm hoặc hướng dẫn các hình thức
biểu đạt thay thế… Vì vậy nhu cầu về PHCN đối với TKT là rất quan trọng:
TKT cần được chăm sóc nuôi dưỡng đặc biệt để tồn tại và phát triển Cần được an toàn về tư tưởng và thể chất
Cần được khám chữa bệnh, phục hồi chức năng
Cần được yêu thương, hoà nhập cộng đồng
Cần được học hòa nhập, được vui chơi với trẻ cùng lứa tuổi
Cần được tôn trọng, đánh giá, được khuyến khích và động viên
Cần được giúp đỡ để phát triển và hoàn thiện dần
Trẻ khuyết tật thường có năng lực bù trừ và tính sáng tạo
1.3 Quan điểm, mục đích, hình thức, phương pháp, quy trình, kỹ năng phục hồi chức năng đối với trẻ khuyết tật
1.3.1 Quan điểm phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật
Phục hồi chức năng sớm, toàn diện và hiệu quả
Đánh giá cao vai trò của TKT, gia đình và cộng đồng
Phục hồi chức năng tối đa các khả năng bị giảm hoặc bị mất để giảm hậu quả của khuyết tật đối với cá nhân, gia đình và xã hội [19, tr19]
PHCN dự phòng là nguyên tắc chiến lược trong phát triển ngành PHCN
1.3.2 Mục đích phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật
Trước đây nhiều thầy thuốc chỉ chú trọng đến phòng, chữa bệnh mà không chú trọng đến tình trạng bệnh sau khi chữa bệnh, ngày nay người ta
Trang 26thường nói đến một ngành góp phần cải thiện tình trạng sức khỏe sau khi chữa bệnh đó là PHCN PHCN là một ngành được xây dựng trên cơ sở y học hiện đại và cổ điển, trải qua một thời gian nghiên cứu, ứng dụng và phát triển
PHCN đã chứng minh, góp phần to lớn trong y học
PHCN nhằm phục hồi khả năng hoạt động của một cơ quan, một bộ phận có thể người bị suy giảm, rối loạn, bị mất đi, có nguy cơ làm cho người
trở thành một người tàn tật, tàn phế
PHCN còn hoàn trả lại một cách tối đa các chức năng đã bị giảm hoặc
bị mất cho người bệnh, tăng cường khả năng còn lại của họ để giảm hậu quả
hoạt xã hội (chuyển từ biện pháp đơn thuần y học sang biện pháp xã hội)
Tạo điều kiện vui chơi, học tập, cơ hội việc làm cho NKT, lôi kéo bản
thân NKT, gia đình và cộng đồng tham gia vào quá trình phục hồi
Làm cho NKT thích ứng tối đa với hoàn cảnh của họ, làm cho xã hội ý thức được trách nhiệm của mình để NKT có cuộc sống độc lập ở gia đình và
cộng đồng [17, tr.60-61]
Nói ngắn hơn, PHCN là một phương pháp sáng tạo cả về khoa học lẫn nghệ thuật, giúp người bệnh tiến triển và tận dụng tối đa có thể được những khả năng còn lại về thể chất, tinh thần, kinh tế, xã hội để tự giúp mình trở thành người có ích, gia nhập trở lại cộng đồng, nghĩa là biến những NKT trở
thành những người “Tàn” mà không “Phế”
Trang 27PHCN có tính nhân văn và trách nhiệm xã hội cao, giúp TKT bớt mặc cảm, hòa nhập cộng đồng, vì thế nó có mục đích rất quan trọng, đó là nhằm:
Phát hiện sớm tình trạng khuyết tật của trẻ càng sớm càng tốt ngay sau khi sinh hoặc khi trẻ 2 - 3 - 4 - 5 tuổi (trước khi đi học phổ thông) khi thấy trẻ có biểu hiện phát triển không bình thường, cần cho trẻ đi khám
bác sĩ để sớm phát hiện và giúp trẻ kịp thời
Can thiệp sớm giúp TKT và gia đình sớm vượt qua những khó khăn
ban đầu bằng các hướng dẫn về y tế và giáo dục
Can thiệp sớm giúp trẻ phát triển mọi kỹ năng và hoạt động trong cuộc
sống gia đình và xã hội - để trẻ có một tương lai tốt đẹp hơn
Can thiệp sớm nhằm hạn chế tác hại của khuyết tật, tạo điều kiện kích thích sự phát triển tối đa cho TKT, chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào
hoạt động học tập và phát triển
Can thiệp sớm được thực hiện tại: Trung tâm Can thiệp sớm, trường
Mầm non, Bệnh viện Nhi và gia đình
Những người tham gia thực hiện can thiệp sớm giúp trẻ có kết quả đó là: Bác sĩ Nhi khoa, bác sĩ chuyên ngành, nhà xã hội học, nhà tâm lý
học, nhân viên xã hội, giáo viên mầm non và cha mẹ
Hãy tin tưởng vào khả năng của trẻ khuyết tật:
1 Mỗi trẻ em đều có thể học được, kể cả trẻ khuyết tật, trong lúc học
có khó khăn và chậm hơn trẻ bình thường
2 Những năm đầu cuộc đời, trẻ cần được học tập và bắt chước trong
môi trường bạn cùng lứa tuổi
3 Trẻ khuyết tật được học càng nhiều càng tốt các kỹ năng sống mà
mọi trẻ em đều học để trở thành người
4 Bố mẹ là người thầy quan trọng nhất của trẻ khuyết tật Giáo viên
Mầm non là người hướng dẫn, hỗ trợ tốt nhất cho trẻ và gia đình
Trang 285 Mỗi trẻ khuyết tật, mỗi gia đình có nhu cầu và điều kiện khác nhau
nên mỗi trẻ có một chương trình can thiệp khác nhau phù hợp với trẻ
1.3.3 Hình thức phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật
Hiện nay trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam đang tồn tại 3 hình thức phục hồi chức năng đối với người khuyết tật:
Thứ nhất: Phục hồi chức năng nội viện, hoặc tại các Trung tâm phục hồi chức năng
Người khuyết tật tới các bệnh viện, cơ sở y tế, trung tâm phục hồi chức năng và được các nhân viên y tế, kỹ thuật viên, giáo viên can thiệp PHCN về thể chất hoặc tinh thần [17, tr.58]
Với hình thức này, NKT được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ, các liệu pháp y học và vật lý trị liệu để PHCN về thể chất Trong một số cơ sở có mô hình phục hồi chức năng khép kín, người khuyết tật còn được PHCN và phát triển trí tuệ như: học văn hóa, kỹ năng sống, học nghề Do đó hình thức PHCN nội viện có thể đem lại hiệu quả và chất lượng điều trị rất cao
Tuy nhiên với sự hạn chế về nguồn nhân lực cán bộ PHCN trong khi nhu cầu PHCN của NKT là rất lớn nên hình thức này chỉ đáp ứng được một
số rất ít nhu cầu của NKT Mặt khác chi phí cho PHCN hình thức này khá lớn (tính cả chi phí trực tiếp lẫn gián tiếp)
Thứ hai: Phục hồi chức năng ngoại viện
Cán bộ PHCN tổ chức khám và hướng dẫn PHCN cho một nhóm những NKT theo địa bàn sinh sống một cách định kỳ hoặc đến tận nhà điều trị cho NKT [17, tr.59]
Với hình thức này, số NKT được tiếp cận với dịch vụ PHCN cũng đã được nhiều hơn Song thực tế cho thấy hình thức này cũng chưa thực sự hợp
lý bởi số lượng cán bộ PHCN cần phải rất nhiều mới có thể đáp ứng nhu cầu Mặt khác, NKT không được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ, liệu pháp PHCN; điều trị không liên tục
Trang 29Hơn nữa, đối với tình hình thực tế của nước ta, nhiều NKT sống ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế xã hội, giao thông đi lại khó khăn Do đó, NKT được tiếp cận các dịch vụ tư vấn, khám và điều trị PHCN còn rất hạn chế Vì thế hình thức PHCN ngoại viện chưa đáp ứng được nhu cầu của NKT
Thứ ba: Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Do nhu cầu PHCN của NKT ngày càng tăng và đa dạng, chỉ với các hình thức PHCN nội viện và ngoại viện không thể đáp ứng hết các nhu cầu của NKT, vì vậy sự ra đời của PHCN dựa vào cộng đồng như là một tất yếu của quá trình phát triển
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là hình thức PHCN được triển
khai với sự phối hợp của chính bản thân NKT, gia đình họ và cộng đồng thông qua những dịch vụ y tế, giáo dục, hướng nghiệp và xã hội thích hợp PHCNDVCĐ là chiến lược nằm trong sự phát triển cộng đồng về PHCN, bình đẳng mọi cơ hội và hoà nhập xã hội cho tất cả những NKT [17, tr.59]
Các bước triển khai chương trình PHCN dựa vào cộng đồng
Bước 1: Thành lập ban chỉ đạo, xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm
vụ, chuẩn bị nhân lực
Bước 2: Tập huấn cho cộng tác viên, gia đình
Bước 3: Điều tra, đánh giá, quản lý người khuyết tật
Bước 4: Lập phương án trợ giúp, can thiệp phục hồi chức năng
Bước 5: Tổng kết, báo cáo, mở rộng chương trình, địa bàn hoạt động
Mục tiêu của PHCN dựa vào cộng đồng
Làm thay đổi nhận thức xã hội, để xã hội chấp nhận NKT là thành viên bình đẳng trong xã hội Trách nhiệm của cộng đồng là biến PHCN thành một nhiệm vụ, một bộ phận của quá trình phát triển xã hội
Lôi kéo sự tham gia của NKT và gia đình của họ vào quá trình PHCN Lôi kéo sự hợp tác đa ngành và sự giúp đỡ của tuyến trên
Trang 30Nhằm giúp NKT có thể tham gia bình đẳng và đầy đủ vào đời sống xã hội, cần có sự hợp tác của nhiều ngành như: chính quyền, cơ quan y tế, giáo dục, thương binh xã hội, tài chính… Tất cả các cơ quan này cần phối hợp với nhau dưới sự chỉ đạo thống nhất của chính quyền cùng cấp Sự phối hợp chặt chẽ của các ngành sẽ tạo cho NKT nhiều cơ hội hoà nhập xã hội hơn
Việc này đòi hỏi nhân viên công tác xã hội phải kết hợp nhiều nguồn lực sẵn có với các nguồn lực hỗ trợ khác để tăng cường sự phối hợp giữa các ban, ngành để làm tốt công tác PHCN dựa vào cộng đồng
Thực tế hiện nay, việc triển khai hình thức PHCN dựa vào cộng đồng còn chưa đồng bộ, việc đầu tư nguồn lực còn ít, dẫn đến hiệu quả chưa cao
1.3.4 Phương pháp phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật
Có nhiều phương pháp PHCN cho trẻ khuyết tật, mỗi dạng tật, tùy thuộc vào mức độ khuyết tật đều có những phương pháp, kỹ thuật can thiệp
cụ thể, thích hợp Nhìn chung, phương pháp PHCN cho TKT bao gồm:
Vận động trị liệu: Là phương pháp trị liệu dùng sự vận động để giúp
cho người bệnh mau chóng phục hồi khi bệnh tật ngăn trở họ tiếp tục làm việc, vui chơi và sinh hoạt độc lập vì chức năng bị mất hay giảm
Vật l trị liệu: Phương pháp này nhằm giúp trẻ hoạt hóa một số cơ quan
vận động không được hoạt động hoặc hoạt động kém ở TKT Vật lý trị liệu còn giúp loại bỏ những hành vi định hình đặc trưng của TKT
Trang 31Hoạt động trị liệu: Là sử dụng các hoạt động tự chăm sóc, công việc và
trò chơi trong điều trị nhằm gia tăng sự độc lập chức năng, tăng cường sự phát triển và ngăn ngừa tàn tật Hoạt động trị liệu có thể bao gồm sự thích ứng với công việc hay môi trường để đạt được sự độc lập tối đa và nâng cao chất lượng cuộc sống
Ngôn ngữ trị liệu: Là quá trình trao đổi thông tin, nhu cầu tình cảm
giữa ít nhất hai đối tượng, nhờ các hình thức khác nhau của ngôn ngữ
Ngôn ngữ trị liệu gồm: Ngôn ngữ lời nói; ngôn ngữ không lời (nét mặt, ánh mắt ), dấu và hình vẽ
Tâm l trị liệu: Giúp cho các phụ huynh của trẻ và TKT có tâm lý thoải
mái, chấp nhận tình trạng bệnh tật, giúp họ lựa chọn các dịch vụ và phương pháp trị liệu thích hợp
Giáo dục đặc biệt: (chủ yếu là TKT) Được học ở các trường/lớp với sự
giáo dục đặc biệt của những giáo viên chuyên nghiệp: trường/lớp cho người
mù với chữ nổi, cho người điếc câm với thủ ngữ…Giáo dục đặc biệt giúp trẻ hiểu và có kỹ năng hòa nhập xã hội, tăng cường khả năng giao tiếp, giúp nhận thức sự vật và hiện tượng xung quanh, hiểu biết và quan tâm đến những ứng
xử tình cảm của người khác, tăng cao khả năng hội nhập
Dạy nghề và hướng nghiệp: Dạy lại cho người bệnh các kỹ năng thực
hiện nghề cũ hoặc học một nghề mới thích ứng với tình trạng thương tật, sức khỏe và khả năng của họ
Thuốc, chân, tay giả
Dụng cụ chỉnh hình: Nẹp chỉnh hình các loại (nẹp hông, nẹp đùi, nẹp gối,
nẹp cổ chân), máng chỉnh hình, giày chỉnh hình
Dụng cụ trợ giúp: Xe lăn, khung tập đi, các loại đồ dùng có tay cầm đặc
biệt, ghế ngồi đặc biệt
Hoạt động vui chơi: Giúp trẻ phát triển thể chất, tinh thần, phát triển khả
năng, năng lực bản thân
Trang 321.3.5 Quy trình phục hồi chức năng đối với trẻ khuyết tật
Tiếp nhận, thu thập thông tin, khám sàng lọc, phân tích đánh giá tình trạng, mức độ KT, thông tin về môi trường sống, nhu cầu PHCN
Xây dựng kế hoạch trị liệu, phục hồi chức năng phù hợp
Tiến hành can thiệp, phục hồi chức năng
Giám sát quá trình PHCN
Đánh giá kết quả PHCN
Điều chỉnh kế hoạch PHCN tiếp theo (nếu có)
Tổng kết kết quả phục hồi chức năng [23]
1.3.6 Kỹ năng phục hồi chức năng đối với trẻ khuyết tật
Mỗi dạng tật có những kỹ năng PHCN riêng, về cơ bản kỹ năng PHCN đối với trẻ khuyết tật cần tuân thủ các quy định về chuyên môn PHCN hiệu quả là phải kết hợp được các yếu tố kỹ thuật và tác động tâm lý xã hội đến trẻ, giúp trẻ cộng tác hiệu quả để đạt được kết quả tốt nhất trong PHCN
Trong phục hồi chức năng cho TKT có những kỹ năng cơn bản sau:
Thứ nhất: Kỹ năng phát hiện đánh giá khuyết tật, đòi hỏi người thực
hiện ngoài việc có trình độ chuyên môn, cần phải có kỹ năng giao tiếp, quan sát, khai thác thông tin, thông cảm, thấu hiểu
Thứ hai: Kỹ năng Chăm sóc, nuôi dưỡng, TKT tùy vào các dạng tật và
mức độ đều có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp; nhân viên chăm sóc cần hiểu và nắm rõ các quy trình thực hiện, đảm bảo cho TKT được chăm sóc chu đáo, đúng phương pháp, giúp trẻ phát triển tốt cả thể chất và tinh thần
Thứ ba: Kỹ năng giúp TKT sống độc lập, đây là kỹ năng quan trọng
giúp TKT phát huy khả năng của bản thân, có thể sống độc lập, tự chủ bằng chính năng lực của mình, như vậy TKT có thể thấy rằng cuộc sống có ý nghĩa, tự tin trong mọi hoạt động hàng ngày
Trang 33Thứ tư: Kỹ năng xử lý khủng hoảng, TKT thường có tâm lý dễ bị tổn
thương bởi các tác động bên ngoài đến bản thân, trẻ dễ tức giận, hay ức chế thần kinh, có hành động khó kiểm soát Kỹ năng xử lý khủng hoảng, giúp trẻ bình tĩnh, tự tin trước các vấn đề liên quan, giải quyết các tình huống thực tế bằng chính khả năng của bản thân, ổn định, cân bằng tâm, sinh, lý
Thứ năm: Kỹ năng thúc đẩy sự tham gia của trẻ khuyết tật, mọi TKT
đều có những khả năng, tố chất riêng, đều có nhu cầu tham gia mọi hoạt động, tuy nhiên do tật bệnh đã làm TKT tự ty, sống thu mình, ngại giao tiếp
Kỹ năng này giúp trẻ chấp nhận tình trạng KT của mình, tự mình xóa bỏ rào cản do chính bản thân mắc phải, sống tự tin, có ý trí, nghị lực, tích cực tham gia các hoạt động, thể hiện khả năng, tố chất của bản thân, điều quan trọng là giúp trẻ trở có được cuộc sống ổn định bằng chính khả năng của mình
1.4 Thể chế về phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật
1.4.1 Quan điểm, chính sách về phục hồi chức năng cho TKT
* Quan điểm quốc tế
Liên hợp quốc, trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người
và trong các công ước quốc tế về quyền con người, đã tuyên bố và thống nhất rằng mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và sự tự do được ghi trong các công ước mà không có bất kỳ sự phân biệt nào;
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá, Công ước quốc
tế về xoá bỏ phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức, Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước quốc tế chống lại sự tra tấn, sự đối xử, áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc bị nhục hình, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, Công ước quốc tế về bảo hộ quyền của người người
lao động nhập cư và gia đình họ, thừa nhận rằng: Khuyết tật là một khái
niệm mới và rằng khuyết tật là kết quả của sự tương tác giữa những người có
Trang 34khiếm khuyết và những rào cản về thái độ và môi trường mà ở đó hạn chế sự tham gia một cách đầy đủ, và có hiệu quả vào các hoạt động trên cơ sở bình đẳng với các thành viên khác trong xã hội, tầm quan trọng của các nguyên tắc
và chính sách được đề cập trong Chương trình Hành động Thế giới về Người khuyết tật và Quy tắc chuẩn về Bình đẳng hoá Cơ hội cho Người khuyết tật trong việc tác động quá trình thúc đẩy, xây dựng và đánh giá các chính sách,
kế hoạch, chương trình và hành động ở cấp quốc gia, cấp khu vực và cấp quốc
tế nhằm bình đẳng hoá hơn nữa cơ hội cho người khuyết tật Đặc biệt quan trọng của việc lồng ghép vấn đề khuyết tật như là một phần không thể tách rời của các chiến lược phát triển bền vững
Sự phân biệt đối xử đối với bất kỳ một người nào căn cứ trên sự khuyết tật của họ đều là sự xâm hại đến nhân phẩm và giá trị vốn có của con người
Sự cần thiết phải thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền của tất cả người khuyết tật, kể cả những người cần có sự hỗ trợ chuyên sâu hơn
* Quan điểm, chính sách của Việt Nam
Vấn đề chăm sóc, PHCN người khuyết tật nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng đã được Đảng quan tâm và Nhà nước thể chế hóa về mặt pháp lý, ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời Từ đó đến nay, các văn bản pháp quy về NKT, TEKT ngày càng được hoàn thiện cụ thể hóa phong phú về nội dung Điều đó bắt nguồn từ truyền thống nhân đạo của dân tộc, nó luôn phát huy mạnh mẽ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước nhằm thể hiện rõ bản chất của Nhà nước, của chế độ xã hội ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Chăm sóc, phục hồi chức năng đối với trẻ khuyết tật là một trong những nội dung luôn luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu lên trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng khẳng định “chăm sóc trẻ mồ côi, người tàn tật, người già cô đơn” [9,
Trang 35tr.95], trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII khẳng định
“Thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ em lang thang cơ nhỡ, người già cô đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật tiến tới xây dựng luật bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi” [10, tr.116] Đại hội IX Đảng ta khẳng định “Chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hòa
về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức trẻ em mồ côi, bị khuyết tật, sống trông hoàn cảnh khó khăn có cơ hội học tập và vui chơi” [11, tr.107-108] Tại văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, phần cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nêu “Chăm lo đời sống những người già cả, leo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi” [12, tr.11]
Luật người khuyết tật quy định quyền được phục hồi chức năng của người khuyết tật là:
Người khuyết tật được tạo điều kiện, hỗ trợ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Người khuyết tật khi có nhu cầu phục hồi chức năng được các cơ sở y
tế tiếp nhận và giới thiệu đi phục hồi chức năng tại các cơ sở phục hồi chức năng công lập theo quy định sẽ được bảo hiểm y tế thanh toán chi phi như đi khám bệnh, chữa bệnh
Người khuyết tật đuợc nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội được hưởng quyền lợi về chăm sóc y tế, trang bị dụng cụ, phương tiện hỗ trợ phục hồi chức năng tùy thuộc vào dạng tật, mức độ khuyết tật
1.4.2 Pháp luật về phục hồi chức năng cho người khuyết tật
Trên cơ sở những quan điểm của Đảng, Nhà nước đã từng bước xây dựng những văn bản pháp luật cụ thể hóa thành những chính sách xã hội nhằm ngày càng chăm sóc, PHCN tốt hơn cho NKT, tìm mọi biện pháp từ chữa bệnh tới dạy nghề để tạo điều kiện đưa họ hòa nhập cộng đồng
Trang 36Nhà nước với vai trò là người lãnh đạo, quản lý điều hành đất nước nên trong từng thời kỳ, tùy vào hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước mà đưa
ra những chính sách kinh tế - xã hội phù hợp, ngày một quan tâm tốt hơn đến NKT Từ Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 đến Hiến pháp năm
2013 là những bước tiến trong việc xây dựng những đạo luật gốc của Nhà nước nhằm cụ thể hóa quan điểm của Đảng, tạo cơ sở pháp lý xây dựng hệ thống luật pháp nhà nước ta về việc chăm sóc bảo vệ người khuyết tật Hiến
pháp của nước ta khẳng định: Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật được học văn hóa và học nghề phù hợp
Nhà nước ta trong những năm qua đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như nghị định, nghị quyết, chỉ thị, thông tư để thể chế hóa đường lối của Đảng tạo cơ chế chính sách và cơ sở pháp lý để thực hiện các quyền của người khuyết tật cũng như khẳng định trách nhiệm của gia đình, người thân, các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ chăm sóc, PHCN cho người khuyết tật
Cụ thể một số văn bản liên quan như sau:
Ngày 09 tháng 01 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị
số 01/2006/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện các chính sách trợ giúp người tàn tật Tiếp theo đó, ngày 24/10/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 239/2006/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án trợ giúp người tàn tật giai đoạn 2006 - 2010
Ngày 30 tháng 7 năm 1998, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh về Người tàn tật Pháp lệnh gồm có 35 điều, 8 chương Với quan điểm chỉ đạo, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội Người tàn tật được Nhà nước và xã hội trợ
Trang 37giúp chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật Pháp lệnh đã quy định nội dung, nguyên tắc, tổ chức thực hiện, phân công trách nhiệm các cơ quan, tổ chức và chính quyền các cấp đảm bảo người khuyết tật thực hiện các quyền
và trách nhiệm của người khuyết tật và sống hoà nhập cộng đồng xã hội; gia đình người khuyết tật thực hiện các trách nhiệm bảo vệ, nuôi dưỡng chăm sóc giúp đỡ người khuyết tật của gia đình; Nhà nước và xã hội thực hiện các chương trình, đề án, chính sách đối với người khuyết tật trên các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và nuôi dưỡng, học văn hóa, học nghề và việc làm, hoạt động văn hóa, thể dục thể thao và sử dụng công trình công cộng… đối với người khuyết tật Sự ra đời của Pháp lệnh về người tàn tật đã góp phần vào cải thiện đời sống của người khuyết tật, đồng thời có nhiều thay đổi tích cực về mặt kinh tế, xã hội Pháp lệnh cũng là cơ sở pháp lý, nguyên tắc để Chính phủ, các Bộ, ngành đưa các vấn đề liên quan đến người khuyết tật vào các Luật chuyên ngành trình Quốc hội thông qua, đồng thời xây dựng và ban hành các chính sách, chương trình, dự án, đề án trợ giúp NKT hoà nhập cộng đồng,
tổ chức huy động nguồn lực quốc tế, trong nước trợ giúp người khuyết tật có hiệu quả
Tính từ khi Pháp lệnh người tàn tật ra đời đến hết năm 2008 (nay đã có Luật về người khuyết tật năm 2010), Quốc hội, Uỷ ban thường Vụ quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và cơ quan Trung ương đã ban hành trên 10 Luật chuyên ngành trong đó có chương, điều quy định về các nội dung liên quan trực tiếp đến quyền lợi của NKT, trách nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội đối với NKT Đặc biệt như Bộ luật lao động năm 1994 có quy định riêng
1 chương về lao động là người tàn tật; Luật dạy nghề năm 2007 có 01 chương
5 điều quy định chi tiết về dạy nghề cho người tàn tật, khuyết tật, Luật giáo dục năm 2005 không có chương riêng đối với học sinh, giáo viên là người
Trang 38khuyết tật, nhưng có tới 8 điều quy định liên quan giáo dục đối với học sinh bị tàn tật, khuyết tật; Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em có 5 điều quy định liên quan đến các giải pháp, chính sách dành riêng đối với trẻ em khuyết tật, tàn tật; Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 có 3 điều; Luật thể dục thể thao năm 2006 có 01 điều quy định về thể dục thể thao cho người khuyết tật; Luật công nghệ thông tin năm 2006 có 3 điều quy định đối với người khuyết tật; các luật Hôn nhân và gia đình, Giao thông đường bộ, Hàng không dân dụng, Đường sắt, Xây dựng, Thanh niên, Bảo hiểm xã hội, Bộ Luật Dân sự, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh Thư viện, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh Dân số đều có các quy định liên quan trực tiếp đến quyền, chính sách và các biện pháp đảm bảo để người khuyết tật thực hiện các quyền và hoà nhập cuộc sống xã hội như những người bình thường khác
Thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản luật, pháp lệnh chuyên ngành có những quy định đến lĩnh vực tàn tật từ năm 1998 đến cuối năm 2008, Chính phủ và các, Bộ ngành cơ quan Trung ương đã ban hành trên
200 văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn tổ chức thực hiện các quy định của các văn bản Luật và Pháp lệnh Trong đó có các Nghị định; Quyết định, Chỉ thị của Chính phủ; Thông tư của các Bộ và liên Bộ
Nhìn chung, trong 10 năm kể từ khi Pháp lệnh người tàn tật ra đời, hệ thống văn bản pháp quy về trợ giúp người tàn tật do các cơ quan từ trung ương đến địa phương ban hành tương đối đầy đủ Đã thể chế hoá hầu như các quan hệ chính trị, tư pháp, kinh tế, văn hoá - xã hội có liên quan đến người khuyết tật vào hệ thống pháp luật Điều này đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi để NKT hoà nhập cộng đồng và các cơ quan, tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách, chế độ giải pháp trợ giúp NKT
Trang 39Đặc biệt ngày 17/6/2010 Luật Người khuyết tật đã được Quốc hội khóa XII ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011 là thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, các tổ chức xã hội, đoàn thể, mọi tầng lớp nhân dân đối với người khuyết tật
Việc ban hành luật Người khuyết tật khẳng định rõ về mặt pháp lý, vai trò trách nhiệm của Nhà nước, xã hội, cộng đồng và gia đình đối với trẻ em khuyết tật Đồng thời cũng thể hiện rõ được bản chất của Nhà nước, thể hiện tính nhân văn cao cả, thể hiện truyền thống tương thân tương ái của dân tộc
Luật Người khuyết tật ra đời là một bước tiến quan trọng trong việc thể chế hoá đầy đủ và toàn diện các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước về NKT nhằm tạo môi trường pháp lý, điều kiện, cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với NKT theo hướng xây dựng các chính sách trên cơ
sở tiếp cận và bảo đảm quyền của NKT; quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội
Cụ thể, luật Người khuyết tật đã quy định rõ các quyền của NKT (trong
đó có trẻ em) được Nhà nước trợ giúp như sau:
Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội;
Sống độc lập, hòa nhập cộng đồng;
Được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; Được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật;
Các quyền khác theo quy định của pháp luật
Sau khi Luật Người khuyết tật ra đời Nhà nước đã ban hành nhiều chính liên quan đến trợ giúp, phục hồi chức năng cho người khuyết tật, trẻ em khuyết tật Cụ thể: Tính đến tháng 5 năm 2015, Chính phủ và các cơ quan có
Trang 40thẩm quyền ở Trung ương đã ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết và tổ chức thi hành Luật, bao gồm: 01 Nghị quyết, 05 Nghị định, 06 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 08 Thông tư liên tịch, 08 thông tư của các Bộ, ngành (phụ lục số 1); rà soát bổ sung lồng ghép với 48 văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; đồng thời Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành 10 đề án, kế hoạch để thực hiện chi chính sách, chương trình trợ giúp NKT [3] Như vậy về cơ bản Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành tương đối đầy đủ các văn bản để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều khoản quy định trong Luật, điều chỉnh toàn diện và cụ thể các vấn đề như: xác nhận khuyết tật, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, dạy nghề, tạo việc làm, giao thông, thông tin, truyền thông, bảo trợ xã hội, quy hoạch mạng lưới các cơ sở chăm sóc người khuyết tật tạo lên một hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ, thống nhất và toàn diện về lĩnh vực người khuyết tật, tạo điều kiện thuận lợi để các chính sách trong Luật Người khuyết tật vận hành trong cuộc sống
Có thể thấy, chính sách khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng để NKT sống độc lập và hòa nhập cộng đồng được quy định khá đầy đủ, cụ thể trong các văn bản pháp luật Nhưng qua thực tế hiện nay nhiều NKT vẫn chưa được tiếp cận dịch vụ hỗ trợ tại nhà, khu vực sinh sống và cộng đồng Tại các địa phương, việc triển khai công tác này hiện đang rất thiếu về cả kinh phí
và nhân lực Bên cạnh đó, hệ thống mạng lưới phục hồi chức năng mỏng, mô hình tổ chức các cơ sở phục hồi chức năng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển
Các dịch vụ chăm sóc y tế, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, miền núi còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc phòng ngừa, phát hiện, can thiệp sớm và phục hồi chức năng cho NKT Do đó rất cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, bảo đảm tính đồng bộ trong việc ban hành các văn