Trong các tuyến du lịch kể trên, Sa Pa nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn là một trong những điểm du lịch nổi tiếng nhất ở phía Bắc, bởi nơi đây không chỉ có đỉnh Phan Xi Păng được mệnh danh là
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG VĂN CHĂM
ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TỘC NGƯỜI HMÔNG, DAO TỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
TUYẾN HÀ NỘI – SA PA
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số: 60.22.01.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM MINH PHÚC
HÀ NỘI, 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
DƯƠNG VĂN CHĂM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn với đề tài: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA TỘC NGƯỜI HMÔNG, DAO TỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TUYẾN HÀ NỘI – SA PA là kết quả nghiên cứu của tác giả trong thời gian học cao học Việt Nam học khoá 2014 – 2016 tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả được TS Phạm Minh Phúc trực tiếp hướng dẫn Sự tận tình chỉ bảo của TS Phạm Minh Phúc cùng với sự định hướng chuyên môn và phương pháp nghiên cứu đã giúp tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới TS Trần Hữu Sơn và các nhà nghiên cứu chuyên ngành, các chuyên gia, các nhà quản lý, các công ty
du lịch; UBND huyện Sa Pa; UBND xã Lao Chải; UBND xã Tả Phìn và các cộng sự đã giúp đỡ tác giả hoàn thành đề tài này
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo đã giảng dạy cho lớp cao học Việt Nam học khóa 2014 – 2016 và ban chủ nhiệm khoa Việt Nam học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 19 tháng 7 năm 2016
Dương Văn Chăm
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và vài nét về tộc người
1.2 Tộc người Hmông, Dao từ góc nhìn nhân học du lịch 11
Chương 2: Thực trạng khai thác văn hóa tộc người Hmông,
Dao trong hoạt động du lịch tuyến Hà Nội – Sa Pa 35 2.1 Khai thác văn hóa tộc người Hmông, Dao trong các chương
trình du lịch tuyến Hà Nội – Sa Pa của các công ty du lịch 35 2.2 Khai thác các giá trị văn hóa tộc người Hmông, Dao trong
2.3 Trải nghiệm của khách du lịch về văn hóa tộc người Hmông,
Chương 3: Bàn luận về hoạt động du lịch gắn với văn hóa tộc
3.1 Những tác động của du lịch đến phát triển kinh tế - xã hội 51 3.2 Hoạt động du lịch gắn với văn hóa tộc người từ góc độ nhà
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Nguồn gốc của du lịch được xem là xuất phát từ cơ cấu công nghiệp phương Tây thế kỉ XIX [16, tr.7], sau đó lan rộng ra các châu lục khác và phát triển mạnh mẽ tại châu Á, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước thuộc châu lục này [31, tr.10]
Do có nhiều lợi thế về nguồn lực tự nhiên, văn hóa và con người, Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển du lịch Trong thời gian qua, Việt Nam đã có sự tăng trưởng nhanh chóng cả về số lượng khách du lịch lẫn
sự đa dạng của các loại hình dịch vụ Riêng trong tháng 12 năm 2015 lượng khách quốc tế vào Việt Nam khoảng 760.798 lượt, tăng 2,6% so với tháng 11
và 15% so với cùng kì năm 2014 [32]
Liên quan đến nguồn lực văn hóa và con người, Việt Nam là một quốc gia
đa văn hóa, đa tộc người, với người Kinh đa số và 53 tộc người thiểu số có bản sắc văn hóa riêng tạo nên nền văn hóa Việt Nam đa dạng trong thống nhất Đây chính là nguồn tài nguyên du lịch, nguồn lực đầu vào, góp phần tạo nên các sản phẩm du lịch như du lịch văn hóa tộc người, du lịch cộng đồng… Có thể kể đến các chương trình du lịch tiêu biểu ở phía Bắc như: Hà Nội - Sa Pa; Hà Nội - Hà Giang; Hà Nội - Mù Cang Chải (Yên Bái) - Bắc Hà (Lào Cai)v.v
Trong các tuyến du lịch kể trên, Sa Pa nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn là một trong những điểm du lịch nổi tiếng nhất ở phía Bắc, bởi nơi đây không chỉ
có đỉnh Phan Xi Păng được mệnh danh là nóc nhà Đông Dương, với những cánh rừng nguyên sinh, nơi có khí hậu trong lành mang nhiều sắc thái ôn đới, cảnh quan thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa tươi đẹp, và nhiều sắc thái văn hóa đa dạng của các tộc người thiểu số Hmông, Dao, Tày, Giáy… rất hấp dẫn du khách
Trang 62
Trong các tộc người ở Sa Pa, người Hmông và người Dao là hai tộc người có dân số đông, đã sớm tham gia vào các hoạt động du lịch Bản thân tôi đang là hướng dẫn viên du lịch, ít nhiều có những trải nghiệm trong môi
trường du lịch văn hóa dân tộc, do vậy tôi đã chọn đề tài: “Ảnh hưởng của văn
hóa tộc người Hmông, Dao tới hoạt động du lịch tuyến Hà Nội - Sa Pa” để
làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về nhân học du lịch và du lịch tộc người ở Sa Pa cho đến
nay đã có khá nhiều tác giả nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Các công trình “Du lịch Sa Pa - Hiện trạng và giải pháp” của Phạm Quỳnh Phương (1997); “Văn hóa dân gian với vấn đề phát triển du lịch ở Lào Cai” của Trần Thùy Dương (1997) và “Nhân học du lịch - Lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu ở Việt Nam” của Trần Thùy Dương (2015), “Du lịch với dân tộc thiểu số ở Sa Pa” của Lâm Mai Lan và Phạm Thị Mộng Hoa (2000)…, đã nêu lên ảnh hưởng của du lịch đối với kinh tế, môi trường, xã hội của cộng đồng dân tộc thiểu số Còn trong “Ảnh hưởng của du lịch tới hệ thống xã hội của người Hmông ở Sa Pa”, tác giả Trần Hữu Sơn (2004) đã xem xét ảnh hưởng của du lịch lên một số thiết chế xã hội của người Hmông Những nghiên cứu trên đều đề cập tới tác động của du lịch trên địa bàn nghiên cứu, đặc biệt những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến cộng đồng dân tộc thiểu số Tác giả Trịnh Lê Anh (2006) trong “Du lịch Trekking ở Việt Nam - Loại hình và phương thức tổ chức” đã nghiên cứu dưới góc độ loại hình và phương thức tổ chức du lịch Tác giả Nguyễn Trường Giang (2015) trong “Ruộng bậc thang ở Việt Nam - Bảo tồn và phát triển bền vững” đã đề cập đến hình thức canh tác ruộng bậc thang của hai nhóm tộc người Hmông, Dao ở Sa Pa và những nghi thức liên quan đến ruộng bậc thang ở địa bàn nghiên cứu Công trình này tiếp cận văn hóa tộc người Hmông, Dao dưới góc độ Nhân học du lịch
Trang 73
Qua phần điểm luận những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy các công trình có hướng tiếp cận chuyên ngành về văn hóa tộc người và tác động của văn hóa tộc người tới hoạt động du lịch Luận văn này chúng tôi tiếp tục bổ sung và đánh giá những tác động mới của hoạt động du lịch tới văn hóa truyền thống của đồng bào Hmông, Dao Đồng thời nghiên cứu giữa khách du lịch và cộng đồng địa phương nơi diễn ra hoạt động du lịch
Du lịch ở Sa Pa phát triển khởi sắc trở lại bắt đầu từ những năm 1990 của thế kỉ trước, hơn 20 năm hoạt động và phát triển, du lịch đã mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng, cư dân sinh sống ở Sa Pa và những địa phương được khai thác vào hoạt động du lịch trong đó phải kể đến những tuyến du lịch từ thị trấn Sa Pa là: Sa Pa - Tả Phìn, Sa Pa - Cát Cát, Sa Pa - Lao Chải -
Tả Van Giả thuyết nghiên cứu ở đây là: Du lịch đã làm thay đổi bộ mặt kinh
tế - xã hội và mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng ở Sa Pa, cộng đồng tộc người thiểu số ở Sa Pa và nhóm cộng đồng Hmông, Dao cũng chịu tác dộng
từ hoạt động du lịch này
Câu hỏi nghiên cứu được chúng tôi đặt ra ở đây là: hoạt động du lịch tuyến
Hà Nội - Sa Pa có những tác động nào từ văn hóa truyền thống của cộng đồng tộc người Hmông, Dao? Và cộng đồng Hmông, Dao ứng xử với hoạt động du lịch ra sao khi hoạt động này ngày càng phát triển ở Sa Pa?
Liên quan đến câu hỏi này, từ cách tiếp cận vấn đề trong bối cảnh hoạt động du lịch tại Sa Pa, chúng tôi hướng đến tìm hiểu những câu hỏi nhỏ về các tác động trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý và nhận thức tới cộng đồng Hmông, Dao Chẳng hạn như trước kia, khi chưa có du lịch thì đời sống của đồng bào thế nào, sau khi có du lịch thì họ sống ra sao? Đơn cử như việc trước đây người dân sản xuất nông nghiệp để ăn là chính, tự cấp tự túc Khi có du lịch thì người ta sản xuất phục vụ du lịch như thế nào? Tập quán sản xuất của họ sẽ thay đổi ra sao? Họ phải làm cách nào và tích hợp những gì
Trang 84
để làm được điều đó? Họ nghĩ thế nào về việc thay đổi đó? Tốt hơn hay xấu hơn trước đây? Họ có hài lòng không hay nhận thức về du lịch mà họ phải làm những thứ như thế? Họ được lợi gì và họ nhận thức lợi ích đó như thế nào? Đối với công ty lữ hành họ nhận thức văn hóa truyền thống ra sao trong hoạt động tổ chức chương trình du lịch của công ty lữ hành và quy hoạch phát triển du lịch của chính quyền địa phương? Hoạt động du lịch làm văn hóa truyền thống biến đổi trên những bình diện nào? Theo hướng nào và tại sao? Đánh giá như thế nào về truyền thống văn hóa? Ai chịu trách nhiệm cho những biến đổi đó? Cuối cùng họ thấy những biến đổi đó có ý nghĩa gì đối với họ?
Trái lại, cộng đồng Hmông, Dao nhận thức và hành động như thế nào đối với những thay đổi mà du lịch mang đến? Họ ứng xử với nó như thế nào?
Họ kì vọng điều gì và kết quả ra sao? Tương lai họ nghĩ sẽ như thế nào và họ quan tâm điều gì nhất từ hoạt động du lịch này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng tới các mục đích sau: làm rõ một số đặc điểm văn hóa truyền thống của tộc người Hmông, Dao ở Sa Pa, sự tham gia của các yếu tố văn hóa truyền thống của hai tộc người này vào các hoạt động du lịch và tác động của hoạt động du lịch đến văn hóa tộc người Bên cạnh đó, làm rõ cách thức khai thác của các nhà tổ chức du lịch, các chuyên gia tư vấn hoạt động
du lịch trong việc phát triển du lịch gắn với văn hóa truyền thống tộc người ở
Sa Pa, từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được đề cập ở luận văn này là cộng đồng tộc người Hmông, Dao ở Sa Pa, các công ty du lịch khai thác tuyến du lịch Hà Nội - Sa Pa và khách du lịch đến Sa Pa
Trang 95
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm văn hóa truyền thống và tác động của văn hóa truyền thống của đồng bào Hmông, Dao ở hai địa bàn thôn Lý, xã Lao Chải và thôn Sả Xéng, xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đến hoạt động du lịch tuyến Hà Nội - Sa Pa Đây là hai địa bàn sinh sống của cộng đồng người Hmông đen và cộng đồng người Dao đỏ, cũng là các điểm du lịch đã được khai thác sớm ở Sa Pa
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết đã được đưa ra, chúng tôi chọn phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học với các nghiên cứu trường hợp để giải quyết các vấn đề đặt ra của luận văn Để thu thập thông tin chúng tôi kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng, định tính và phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp (thao tác) cùng với các cuộc quan sát tham dự vào hoạt động của người dân tại thị trấn Sa Pa và hai địa bàn nghiên cứu chính là thôn Lý, xã Lao Chải và thôn Sả Xéng, xã Tả Phìn Trong các hoạt động nghiên cứu trên, điền dã dân tộc học, quan sát tham dự là phương pháp nghiên cứu đặc trưng của ngành Dân tộc học/Nhân học, có tầm quan trọng hàng đầu trong việc khảo sát thu thập dữ liệu cho luận văn này
Để chọn điểm nghiên cứu cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành các cuộc khảo sát địa bàn Đợt khảo sát thứ nhất từ ngày 29 đến ngày 30 tháng 8 năm
2015, chúng tôi khảo sát thôn Cát Cát, một trong những điểm du lịch rất sôi động ở tuyến bản và là địa bàn sinh sống của cộng đồng người Hmông đen
Cự ly từ thị trấn xuống Cát Cát khoảng 2,5 km, du khách có thể đi bộ tham quan trong thời gian là hai giờ đồng hồ, nhưng việc lưu trú của du khách hầu như không diễn ra Vì thế chúng tôi không chọn Cát Cát là điểm nghiên cứu của đề tài Đợt khảo sát thứ hai bắt đầu từ ngày 24 đến 26 tháng 10 năm 2015, chúng tôi khảo sát thôn Lý, xã Lao Chải cách thị trấn Sa Pa khoảng 6 km, bởi Lao Chải là địa bàn nằm trên tuyến du lịch Sa Pa - Lao Chải - Tả Van khá
Trang 106
phát triển của huyện Sa Pa Đây cũng là địa bàn sinh sống của người Hmông đen, xa thị trấn, du khách có lưu trú tại bản qua đêm Điểm này đã đáp ứng được yêu cầu đối với nhóm cộng đồng thứ nhất của luận văn Nhóm thứ hai chúng tôi muốn nghiên cứu là cộng đồng người Dao đỏ Ban đầu, xã Tả Van
là điểm mà chúng tôi quan tâm, vì Tả Van cách thị trấn Sa Pa 10 km và cũng nằm trong tuyến du lịch Sa Pa - Lao Chải - Tả Van Tả Van cũng là nơi có cộng đồng người Dao đỏ sinh sống Nhưng qua cuộc khảo sát của chúng tôi thì ở Tả Van hoạt động du lịch khá phát triển nhưng chủ yếu là do đồng bào người Giáy đảm nhận Cũng trong thời gian này chúng tôi khảo sát tuyến du lịch Sa Pa - Tả Phìn Tả Phìn là địa bàn sinh sống của nhiều nhóm dân tộc, trong đó người Hmông và người Dao chiếm đa số, là địa bàn du lịch rất phát triển, cách thị trấn Sa Pa 12 km về phía Lào Cai Tại đây, hoạt động du lịch diễn ra gắn với đa số người Dao đỏ Hoạt động du lịch chủ yếu diễn ra tại thôn Sả Xéng, một thôn nằm ở vị trí trung tâm của xã và cũng là địa bàn thứ hai chúng tôi chọn điểm nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn cung cấp một miêu tả dân tộc học chi tiết có tính phân tích về các tác động từ hoạt động du lịch tới văn hóa truyền thống qua các khía cạnh như kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý và nhận thức… của cộng đồng tộc người Hmông, Dao và tâm thế ứng xử của cộng đồng tộc người Hmông, Dao trước những tác động của hoạt động du lịch mang lại
Luận văn còn có ý nghĩa làm cơ sở tham khảo cho các nhà quản lý và quy hoạch du lịch của Sa Pa trong chiến lược bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng tộc người thiểu số mà ở đây là hai nhóm cộng đồng tộc người Hmông, Dao; đồng thời cũng là tài liệu hữu ích cho các công
ty du lịch tham khảo trong chiến lược xây dựng sản phẩm du lịch của mình
mà không làm ảnh hưởng xấu tới văn hóa tộc người ở Sa Pa
Trang 117
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, luận văn gồm có ba chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 Một số vấn đề lí luận và vài nét về hai tộc người Hmông,
Dao trong hoạt động du lịch tại Sa Pa Chương này bàn luận về một số khái
niệm liên quan có tính cơ sở cho việc nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi phân tích những tác động của du lịch trên các bình diện văn hóa truyền thống như văn hóa mưu sinh, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần
Chương 2 Thực trạng khai thác văn hóa tộc người Hmông, Dao trong
hoạt động du lịch tuyến Hà Nội - Sa Pa Chương này phân tích một số
phương thức khai thác các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng Hmông, Dao trong chu trình tạo sản phẩm du lịch, thực trạng khai thác văn hóa hai tộc người này trong khai thác du lịch cùng những trải nghiệm của du khách Mục tiêu của chương này là từng bước tìm hiểu văn hóa truyền thống của hai tộc người tại điểm nghiên cứu biến đổi do những nguyên nhân nào, từ
đó xác định được tác động của văn hóa truyền thống tới hoạt động du lịch tuyến Hà Nội - Sa Pa
Chương 3 Bàn luận về hoạt động du lịch gắn với văn hóa tộc người
Hmông, Dao ở Sa Pa trên hai địa bàn nghiên cứu Chương này phân tích
những ý kiến của các chuyên gia, các nhà tổ chức du lịch để tìm hiểu ứng xử của các nhà tổ chức và chuyên gia tư vấn về du lịch với văn hóa truyền thống Mặt khác, chúng tôi tìm hiểu thế ứng xử của hai cộng đồng cư dân tại điểm nghiên cứu về những thay đổi do hoạt động du lịch
Trang 128
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ VÀI NÉT VỀ TỘC NGƯỜI HMÔNG,
DAO TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI SA PA
1.1 Các khái niệm
Với mục đích tập trung nghiên cứu hoạt động du lịch có những tác động nào tới văn hóa truyền thống của cộng đồng Hmông, Dao và cộng đồng tộc người Hmông, Dao ứng xử với hoạt động du lịch ra sao khi hoạt động này ngày càng phát triển ở Sa Pa; chúng tôi đề cập đến những khái niệm liên quan đến nội dung luận văn làm cơ sở phân tích của luận văn
- Văn hóa tộc người:
Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh, nhà dân tộc học, văn hóa học thì: văn
hóa tộc người là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người kia Trong văn hóa tộc người, các yếu tố đầu tiên được nhận diện là ngôn ngữ, trang phục, các tín ngưỡng và nghi lễ, vốn văn học dân gian, tri thức dân gian về tự nhiên xã hội, về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm lý dân tộc…[38]
Theo định nghĩa này thì văn hóa tộc người được hiểu bao gồm các giá trị văn hóa vật chất, giá trị văn hóa tinh thần
- Du lịch:
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [22, tr.9]
Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu chuyến đi của khách du lịch thông qua chương trình du lịch Hà Nội - Sa Pa
- Kinh doanh du lịch:
Là kinh doanh dịch vụ, bao gồm các ngành, nghề sau đây [22, tr37]:
Trang 139
1 Kinh doanh lữ hành;
2 Kinh doanh lưu trú du lịch;
3 Kinh doanh vận chuyển khách du lịch;
4 Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch;
5 Kinh doanh dịch vụ du lịch khác
Ở trong luận văn này, chúng tôi khai thác khía cạnh kinh doanh lữ hành
để làm cơ sở nghiên cứu của luận văn
có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác phục vụ các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng [13, tr.45].Doanh nghiệp lữ hành có hai hình thức kinh doanh: Doanh nghiệp kinh doanh
lữ hành nội địa (doanh nghiệp này không được phép kinh doanh lữ hành quốc
tế được qui định tại điểm 2, khoản 3, điều 43, Luật Du lịch 2005) Và doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế (doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế được phép kinh doanh lữ hành nội địa, được quy định tại khoản 3, điều 43, Luật Du lịch, 2005) [22,tr.40]
- Hoạt động kinh doanh lữ hành:
Hoạt động kinh doanh lữ hành được hiểu theo nghĩa rộng: Hoạt động kinh doanh lữ hành được hiểu là doanh nghiệp đầu tư để thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả các công việc trong quá trình tạo ra và chuyển giao sản
Trang 1410
phẩm từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng du lịch với mục đích hưởng hoa hồng hoặc lợi nhuận Kinh doanh lữ hành có thể hiểu là kinh doanh một hoặc nhiều hơn một hay tất cả các dịch vụ và hàng hóa thỏa mãn hầu hết các nhu cầu thiết yếu, đặc trưng và các nhu cầu khác của khách du lịch
Theo nghĩa hẹp của lữ hành: kinh doanh lữ hành là hoạt động tổ chức các chương trình du lịch nhằm mục đích sinh lợi [13,tr.30]
- Nhân học du lịch:
Trên thế giới cho đến năm 1970, một số nhà nhân học đã có quan tâm tới hoạt động du lịch Du lịch gắn liền với nhiều vấn đề lý thuyết và thực tiễn trong ngành nhân học Về mặt nhận thức, các chủ đề chính mà các nhà nhân học đã thực hiện trong nghiên cứu du lịch được chia làm hai hướng nghiên cứu: một hướng tìm hiểu về nguồn gốc của du lịch và một hướng tiếp cận những tác động của du lịch (khách du lịch và cộng đồng địa phương)
Nhu cầu đi du lịch của con người là một nhu cầu thiết yếu Con người biết tổ chức các chuyến đi với những hình thức khác nhau, đến với những nơi
có cảnh đẹp cùng với các địa danh di tích lịch sử văn hóa khác với nơi mình sinh sống Du lịch được coi là một hiện tượng văn hóa - xã hội và kinh tế Du lịch lúc đầu là một chuyến đi công tác của các nhà lãnh đạo đến làm việc, sau
đó nó phát triển gắn liền với các cuộc hành hương đến thánh địa Mecca của các tín đồ Hồi giáo… dần dần nảy sinh nhu cầu nghiên cứu hành vi của khách
du lịch thông qua những chuyến đi của họ
Theo tác giả Theron Nunez, 1963 khi ông nghiên cứu “du lịch, truyền thống và tiếp biến văn hóa tại một ngôi làng ở Mexico” ông nghiên cứu mối tiếp xúc nông thôn, thành thị và tiếp biến văn hóa và ông cho rằng các du khách thành thị có thể được cho là đại diện cho một nền văn hóa “cho đi” trong khi cộng đồng địa phương lại có thể coi là nền văn hóa “tiếp nhận” [17, tr.1]
Trang 1511
Từ những phân tích trên, trong khuôn khổ luận văn này nhân học du
lịch là nghiên cứu về con người trong hoạt động du lịch, đối tượng nghiên cứu của nhân học du lịch là khách du lịch (đại diện cho nền văn hóa mới) và cộng đồng địa phương (văn hóa truyền thống ) nơi diễn ra hoạt động du lịch
1.2 Tộc người Hmông, Dao từ góc nhìn nhân học du lịch
1.2.1 Tổng quan về Sa Pa và địa bàn nghiên cứu
Sa Pa là một huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai 38 km về phía Tây Nam, cách Hà Nội gần 300 km về phía Tây Bắc Từ
Hà Nội lên Sa Pa, nếu đi đường bộ, du khách có thể đi ôtô theo tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai mất khoảng 4 giờ đồng hồ, sau đó tiếp tục đi thêm khoảng một giờ đồng hồ nữa là tới thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa Nếu đi bằng đường sắt, du khách đi từ ga Trần Quý Cáp (Hà Nội) tới ga Lào Cai khoảng
10 giờ đồng hồ, sau đó đi xe ôtô thêm khoảng một giờ đồng hồ thì tới Sa Pa Tổng dân số của huyện Sa Pa là 52.899 người (năm 2009) Huyện Sa
Pa có 7 tộc người sinh sống, trong đó người Hmông 51.65%, Dao 23.04%, Kinh 17.91%, Tày 4.74%, Giáy 1.36%, Xá Phó (Phù Lá) 1.06%, Hoa và các tộc người khác 0,23%[ 6]; người Kinh chủ yếu sống ở thị trấn và làm dịch vụ kinh doanh du lịch và thương mại Các nhóm tộc người thiểu số như Hmông, Dao chủ yếu làm nghề nông nghiệp và sống ở những xã nghèo của huyện Sa
Pa, kể từ khi có hoạt động du lịch ở Sa Pa thì một số nhóm người tham gia hoạt động bán hàng và làm các dịch khác phục vụ khách du lịch tại thị trấn và các tuyến du lịch
Sa Pa có đỉnh Phan Xi Păng cao 3.143 m Thị trấn Sa Pa nằm ở độ cao trung bình từ 1500 đến 1800 m so với mực nước biển, nên khí hậu ít nhiều lại mang sắc thái của xứ ôn đới, với nhiệt độ trung bình từ 150 C đến 180 C Từ tháng 5 đến tháng 8 mưa nhiều
Trang 1612
Đơn vị hành chính của huyện Sa Pa có 17 xã, một thị trấn, đa phần các
xã hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính, một số xã phát triển về du lịch như: San Sả Hồ, Thanh Kim, Thanh Phú, Lao Chải, Tả Van, Tả Phìn Hiện nay huyện Sa Pa đang triển khai kế hoạch xây dựng và nâng cấp tuyến du lịch liên xã để thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương
Xã Tả Phìn là một xã thuộc khu vực III miền núi của huyện Sa Pa, cách trung tâm thị trấn huyện 12 km Xã có 6 thôn, tổng diện tích đất tự nhiên là 2178
ha, với 601 hộ gia đình và 3043 nhân khẩu, trong đó nam giới 1507 khẩu (chiếm 49,52%), nữ 1536 khẩu (chiếm 50,48%) Số người Hmông có 332 hộ (55,2%); Dao có 219 hộ (35,44%); Giáy 01 hộ (0,17%); Tày 02 hộ (0,33%); Kinh 47 hộ (7,82%)[36] Trong 06 thôn thì có 03 thôn của người Dao (Thôn Sả Xéng, Tả Chải và Lủ Khấu), thôn Sả Xéng là thôn trung tâm của xã và cũng là nơi diễn ra hoạt động du lịch chính của xã Tả Phìn
Xã Lao Chải là xã nằm ở phía Đông Nam và cách huyện lỵ Sa Pa khoảng 7km, với số dân đa số là người Hmông, phân bố ở các thôn Lý, thôn Hàng, thôn San 1, San 2, thôn Lồ Tên gọi của các thôn ở đây gắn với tên của dòng họ có vai trò trong việc lập thôn Toàn xã có 631 hộ và 3919 nhân khẩu Thôn Lý có 175 hộ (người Hmông có 158 hộ chiếm 90,3%; người Kinh 17 hộ chiếm 9,7%), thôn Lý dòng họ chiếm số đông là họ Lý, ngoài ra còn có một
số người dòng họ khác Nguồn thu nhập chủ yếu của thôn là làm nông nghiệp
và tham gia hoạt động du lịch.[34]
Trang 1713
Hình 1.1 Các điểm thăm quan du lịch ở Sa Pa [nguồnhttp://laocai.gov.vn/sites/sapa/bandohuyen/Trang/634046080866084190.aspx, truy cập ngày: 01/03/2016]
Trang 18lỗ chui vào đó đẻ, nó vừa là ổ, vừa là thức ăn cho lợn, nơi trồng cây lương thực, gốc có củ, thân có bắp, ngọn trổ lúa” [37,tr.401]
Người Hmông ở tỉnh Lào Cai cũng có 4 nhóm: Hmông hoa (Hmông
lềnh) là ngành có số dân đông nhất, chiếm tới 70% số người Hmông ở Lào
Cai, cư trú ở 8 huyện nhưng tập trung ở Bắc Hà, Mường Khương, Sa Pa, Bảo
Thắng và Bảo Yên; Hmông đen (Hmông đu) cư trú tại Bát Xát, Sa Pa; Hmông xanh (Hmông súa) cư trú tập trung ở xã Nậm Xé, huyện Văn Bàn và Hmông trắng (Hmông đơ) cư trú ở huyện Bắc Hà, Bát Xát, Văn Bàn, Sa Pa [27, tr.9-10].
Người Hmông di cư đến Lào Cai cách ngày nay hơn hai trăm năm Đợt di cư đầu tiên vào Lào Cai gồm 80 gia đình [27, tr.10] Thủ lĩnh dẫn đầu đoàn di cư người Hmông đến Lào Cai là ông Hoàng Sín Dần, một tộc trưởng có uy tín và giỏi võ nghệ Họ sinh sống ở Bắc Hà được ba đời thì có ba gia đình lại tiếp tục di cư sang Sa Pa Đoàn di cư do ông Lý Thàng Pua dẫn đầu Người Hmông dù đến cư trú ở Lào Cai sớm hay muộn đều coi Lào Cai là quê hương, Việt Nam là tổ quốc mình
Người Hmông ở huyện Sa Pa phần lớn là Hmông Đen (Hmông đu),
ngoài ra còn có nhóm Hmông hoa và người Hmông xanh Người Hmông Đen
di cư từ vùng Quý Châu, Trung Quốc sang Sa Pa (Việt Nam) Nhóm Hmông
ở thôn Lý, xã Lao Chải là Hmông đen
Trang 1915
1.2.2.2 Một số đặc điểm văn hóa mưu sinh
Trước đây, đồng bào trồng đậu răng ngựa, củ đao, khoai lang, khoai sọ, rau cải, rau muống… chủ yếu cung cấp cho sinh hoạt hàng ngày, nếu có nhiều thì mang trao đổi với những người trong bản Hiện nay, đồng bào trồng rau cải mèo, bắp cải, cải trắng một phần phục vụ cho sinh hoạt, phần khác cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn ở thị trấn Sa Pa Ngoài ra, đồng bào còn trồng đào, mận để ăn và bán tại địa phương, và cũng để cho khách du lịch mua về làm quà khi đến Sa Pa Thu hoạch xong, đồng bào chủ yếu mang ra thị trấn Sa Pa bán vào thứ 6, thứ 7 và chủ nhật vì thời điểm này khách du lịch đến Sa Pa đông nhất trong tuần Còn nếu gia đình nào trồng số lượng lớn thì mang bán cho những hộ kinh doanh ở thị trấn
Trước đây đồng bào trồng 3 loại ngô: ngô nếp (po cừ lảu), ngô trắng (po cừ đây), ngô vàng (po cừ đằng) Theo kinh nghiệm của đồng bào thì ngô
trắng để lâu hay bị sâu, ngô đỏ để lâu thì không bị sâu và ngô trắng mềm hơn Trước đây đồng bào trồng toàn ngô trắng, còn bây giờ trồng hai loại như nhau Ngô nếp trồng để cho con người ăn, nhất là bán cho khách du lịch, không dùng cho chăn nuôi, ngoài ra còn làm bánh ăn vì có vị dẻo, thơm Đồng bào toàn ăn ngô trắng, cách chế biến là xay ngô thành bột để làm mèn mén ăn Ngô nếp cũng ăn nhưng không ăn nhiều, chỉ ăn một vài bữa, không
ăn liên tục được Trước đây, một số gia đình hết gạo trước tết từ một đến hai tháng thì bắt đầu ăn ngô thay thế, hoặc dùng ngô độn với cơm để ăn Đồng bào ở đây trồng ngô sớm để thu hoạch sớm, để có cái ăn vào ngày làm mùa Đến tháng chín mới thu hoạch lúa và có lúa ăn
Hiện nay, với sự trợ giúp của khoa học kĩ thuật và sự quan tâm của chính quyền địa phương nên đồng bào không phải ăn ngô nữa, mà ngô bây giờ chỉ để chăn nuôi Cho nên những người trẻ bây giờ không biết làm mèn mén Đồng bào ít ăn ngô dần từ khoảng năm 1995, 1996 đến nay Thời kì đó
Trang 2016
bắt đầu có giống lúa mới cho năng suất cao hơn nên có đủ gạo ăn Bây giờ trồng giống ngô mới, những gia đình nghèo thì nhà nước cho, còn những gia đình khác tự mua Ngô không chỉ để bổ sung cho khẩu vị ăn khi hết gạo, mà còn dùng để nấu rượu, một loại rượu đặc trưng của người Hmông Rượu vừa được để dùng trong cuộc sống hàng ngày và bán cho khách du lịch khi du lịch ngày càng phát triển
“Gia đình tôi trước đây trồng ngô chủ yếu để ăn khi hết gạo, sau khi có giống thóc mới
từ nhà nước, thì gia đình từ thiếu ăn sang đủ ăn và không phải ăn ngô nữa Ngô được
dùng trong chăn nuôi lợn, gà Rượu ngô thì gia đình tôi cũng làm từ lâu và cũng chỉ để
dùng hàng ngày và sử dụng trong các nghi lễ của năm Từ khi có khách du lịch đến Sa
Pa, người kinh doanh trên thị trấn xuống có tìm mua rượu trong thôn, và lúc đó gia đình
tôi cũng bán cho họ Nhưng do số lượng rượu làm ra thì ít, mà nhu cầu họ mua thì
nhiều, nên họ có đặt gia đình tôi và vài gia đình khác trong thôn làm rượu ngô cung cấp
cho họ số lượng nhiều và thường xuyên”
(Ông L.A.P(1957) và bà T.T.V,(1958), thôn Lý, xã Lao Chải)
Đồng bào Hmông ở đây chủ yếu canh tác trên ruộng bậc thang với cây trồng chính là lúa nước Trong những năm qua, do công tác thủy lợi được tăng cường, ruộng bậc thang đã dần dần được khai phá thêm nhiều Ruộng thường được cầy ải, bừa kĩ, cấy trồng, bón phân và được làm cỏ hai đến ba lần Việc chọn giống, mặc dù chỉ theo thói quen nhưng đồng bào thường chọn được giống tốt, thích hợp với điều kiện thiên nhiên của địa phương Loại hình ruộng bậc thang ở đây cũng là một nhân tố thu hút khách du lịch đến tham quan, trải nghiệm Vào mùa lúa chín khoảng tháng tám, tháng chín âm lịch, khách du lịch đi từ thị trấn Sa Pa theo tuyến Lao Chải - Tả Van được ngắm những ruộng lúa chín và chụp hình làm lưu niệm Cũng vào thời kì này, lượng khách đến Lao Chải rất đông, đặc biệt là khách nước ngoài
“Vào thời kì lúa chín, thì dòng khách đến và đi qua xã tăng một cách đột biến, tuy hình
thức này không mang lợi nhuận gì trực tiếp cho cộng đồng, nhưng đây lại là cầu nối cho
việc quảng bá hoạt động du lịch của Lao Chải”
(Theo Ông Hoàng Ngọc Kiến, Chủ tịch UBND xã Lao Chải)
Trang 2117
Đa số đồng bào trong thôn nuôi lợn, gà, vịt; một số gia đình nuôi trâu,
bò, dê Các vật nuôi này một phần được phục vụ cho các nghi lễ vòng đời, ngoài ra nó còn là nguồn cung cấp thực phẩm cho các nhà hàng ở thị trấn Sa
Pa Trường hợp nhà ông L.S.C thôn Lý;
“Trước đây nhà tôi chăn nuôi cũng không nhiều, từ khi gia đình có mở dịch vụ homestay
thì có khách du lịch đến ở, rồi họ hỏi có bán lợn cho họ để họ thịt ăn tại nhà Có công ty
du lịch mà nơi con gái tôi làm hướng dẫn viên trên thị trấn, cũng hay gửi khách về nhà tôi
để ngủ, họ cũng có đặt mua lợn, gà và có ý muốn gia đình tôi cung cấp cho họ lượng thực
phẩm hàng ngày cho khách du lịch, từ đó nhà tôi có nuôi nhiều lợn, gà và ngan, vịt hơn”.
(ông L.S.C, 42 tuổi, thôn Lý, xã Lao Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai)
Trong thôn có nhiều người đàn ông đi rừng lấy cây thuốc và phong lan
về để bán cho khách du lịch tại thị trấn, nhất là vào những ngày cuối tuần khi lượng khách đến đông Đây cũng là một nguồn thu nhập khá tốt cho những gia đình có người đi tìm cây lan và cây thuốc trong rừng
Trước đây, hoạt động săn bắt thú thường diễn ra vào mùa đông, lúc đó trời không mưa Trước đây người dân săn bắt được chồn, gấu, khỉ, hươu nai Đồng bào thường đi vào mùa đông, mùa hè mưa nhiều nên không đi được, đồng bào thường đi ba, bốn người vì sợ con hổ Lên đến rừng thì chia ra mỗi người đi một hướng nên một số người mất tích Những người đi săn có làm lán trên núi, nấu ăn đốt lửa sưởi Họ đi đến đâu thì làm lán ở đó Đi một ngày thì tới nơi và làm lán Ngày hôm sau mới đi tìm thuốc Một năm đi hai lần ngoài ra một số người thì đi ba lần Mỗi lần đi khoảng bốn, năm ngày thì về Khi đi thì họ mang gạo, mang nồi để nấu Trong đoàn ai biết đường đi, chỗ để kiếm thuốc thì đi đầu, dẫn đường Còn bây giờ nhà nước cấm lấy gỗ, cấm săn thú Bây giờ thì đồng bào chỉ lấy măng, và cây thuốc “lá”
Ngày xưa đồng bào thường đi chợ ở thị trấn Sa Pa để mua muối, dầu thắp sáng, mua vải may quần áo Bây giờ đồng bào đi chợ Sa Pa mua vải, áo, giầy, chăn màn, bàn ghế… còn mua xe máy và ti vi thì xuống Lào Cai mua Những thực phẩm hàng ngày như muối, thịt, kẹo xà phòng, nước mắm thì
Trang 2218
mua tại thôn, các cửa hàng gần nhà Những thực phẩm như gà, vịt, thịt chó, thịt trâu, thịt bò… một phần thì gia đình nuôi, còn những thứ mà gia đình không có thì lên Sa Pa mua, vì những thứ này chỉ Sa Pa mới có
Trong cùng thôn, cùng xểnh (họ), hàng xóm mua thóc gạo, gà, vịt của nhau hoặc theo hình thức trao đổi Nếu trong thôn không có thì họ đi sang thôn khác Tuy nhiên, đồng bào thích mua trong thôn hơn, vì ở gần hơn Trước đây đồng bào thường lên rừng lấy gỗ, măng đi bán, sau đó đi đào vàng bán, đến khi bị cấm thì có khách du lịch đến thôn và một số người đi bán hàng cho khách du lịch để có tiền
1.2.2.3 Một số đặc điểm văn hóa vật chất
Đồng bào Hmông có nhiều nghề truyền thống như dệt vải, làm giấy bản, rèn đúc nông cụ, đa phần các nghề này chỉ diễn ra khi lúc nông nhàn Nghề dệt vải là một nghề có từ lâu đời của người Hmông Trước đây họ dệt vải để dùng, để trao đổi trong thôn bản, và những cộng động tộc người khác Ngày nay, không những sản xuất ra hàng để dùng, trao đổi trong thôn,
xã mà còn phục vụ khách du lịch khi đi đến Lao Chải Thời kì đầu hàng thổ cẩm dệt thành sản phẩm đều được bán hết vì nhu cầu của khách du lịch mong muốn có được tấm thổ cẩm về để dùng Dần dần du khách đến ngày càng đông, sản phẩm không kịp làm ra, một số người dân đi mua hàng thổ cẩm từ các gia đình ở sâu trong rừng và từ các thôn bản khác, thậm chí cả xã khác về bán cho khách du lịch Từ đó trong thôn cộng đồng chuyên tâm vào dệt thổ cẩm sau những công việc nương rẫy
Cho đến ngày nay, thì hàng thổ cẩm của đồng bào không còn sản xuất nhiều nữa, một phần là thời gian làm thành một cái áo tốn nhiều công sức và thời gian, phần nữa là sản phẩm làm ra bán giá cao, khách du lịch thường không mua được với giá đó Lúc đầu, một số người đi mua đồ thổ cẩm cũ của đồng bào mang bán cho khách, nhưng lượng hàng cũ mà còn dùng được cũng
Trang 2319
không có nhiều Một số gia đình có con làm nghề hướng dẫn viên giao lưu với khách du lịch nhiều, tiếp cận với các hộ buôn bán ngoài thị trấn và đã tìm được mối hàng thổ cẩm mua với giá rất rẻ mà bán cho khách du lịch giá hợp
lý, cho nên một số hộ bán hàng thổ cẩm trong thôn đã mua hàng thổ cẩm từ những người bán buôn ở ngoài thị trấn về để bán cho khách du lịch Từ đó, các hộ trong thôn dần dần không dệt thổ cẩm bán cho khách nữa, mà mua hàng thổ cẩm từ những người bán buôn về để bán Hàng mua buôn về thì giá
rẻ và mẫu mã đa dạng và bắt mắt hơn, bán được nhiều hơn mà công sức, thời gian bỏ ra không nhiều Còn hàng thổ cẩm mà họ dệt thì chủ yếu để dùng trong gia đình Từ một vài gia đình dần dần đến nhiều gia đình trong thôn không ai dệt thổ cẩm để bán cho khách du lịch nữa, trừ những trường hợp đặc biệt khi khách có nhu cầu đặt mua thì lúc đó mới làm cho khách đặt
Các nghề truyền thống khác như nghề làm giấy, nghề rèn thì chủ yếu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của cộng đồng Nhưng ngày nay, nghề làm giấy hầu như không còn nhiều người làm, vì giấy bây giờ sẵn có và các sản phẩm giấy để thực hiện các nghi lễ trong năm đồng bào mua ở thị trấn, ở thị trấn đều có sẵn những mặt hàng và đa dạng mẫu mã bắt mắt hơn, nên đồng bào không làm giấy như trước đây nữa
Trang phục của đồng bào cũng như trang phục của những nhóm Hmông ở thôn bản khác Trang phục của cộng đồng gồm có quần đối với nam
và váy đối với nữ trang phục của nam giới đơn giản hơn gồm có một chiếc
mũ và một chiếc áo được khâu bằng tấm vải thổ cẩm màu đen Hầu như không có trang trí hoa văn gì ở áo trong của nam, còn áo khoác ngoài thì có thêu vài đường hoa văn với màu sắc giản dị, quần nam giới kiểu dáng giống quần tây, ống quần rộng và dài màu đen bằng thổ cẩm Ngày nay, chỉ những người đàn ông lớn tuổi còn mặc trang phục truyền thống, còn phần lớn thanh niên đều đã thay đổi và mặc trang phục phổ biến kiểu Âu, ngoài ra đàn ông
Trang 24đó là những trang sức rẻ tiền mua ở chợ Sa Pa
Trang phục của nam nữ người Hmông đều được khách du lịch ưa chuộng, khách du lịch nam thường thích mua chiếc mũ của nam giới và chiếc
áo mặc trong của đàn ông người Hmông, vì chất liệu bằng vải sợi nhuộm và chiếc mũ được thêu nhiều màu sắc rất bắt mắt, còn đối với khách du lịch là nữ thì họ thích những chiếc khăn và những chiếc áo của phụ nữ người Hmông
Ở đây, một số gia đình Hmông có nuôi cá tầm và cá hồi, đây là hai loại
cá nổi tiếng ở Sa Pa mà trước đây đồng bào nuôi ít, chỉ đủ cung cấp cho những người trong thôn, xã Cá có nhiều cách chế biến khác nhau, nhưng nổi bật nhất là món “gỏi cá hồi” là cách chế biến được nhiều người lựa chọn Do lượng nhu cầu ở các nhà hàng ngoài thị trấn nhiều nên cộng đồng ở đây có nhiều hộ tham gia nuôi cá Từ đó cũng làm cho thu nhập gia đình ngày càng cao, kinh tế ổn định và có tiền tích lũy cũng như đầu tư cho con cái học hành Với đặc điểm khí hậu của vùng mát quanh năm thuận lợi cho trồng nhiều loại cây ăn quả và rau các loại Cây trồng vừa đảm bảo cho đủ cái ăn hàng ngày, vừa là nguồn cung cấp rau, quả cho thị trấn, nhất là các nhà hàng phục vụ ăn uống cho khách du lịch
Món xôi ngũ sắc là món ăn truyền thống của cộng đồng Ngoài ra, xôi còn dùng để cúng tổ tiên và các vị thần linh Xôi ngũ sắc được chế biến từ các
Trang 25sau khi được tạo màu có thể đồ riêng, cũng có thể trộn lẫn với nhau rồi trộn với gạo nếp trắng để đồ thành một loại xôi nhiều màu hấp dẫn
Đối với các dân tộc thiểu số nói chung và người Hmông ở thôn Lý nói riêng, rượu là một loại thức uống không thể thiếu Rượu được chưng cất từ ngô, là một loại rượu đặc trưng của đồng bào Rượu được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, khách đến nhà quí nhau thể hiện qua chén rượu, trong các nghi lễ truyền thống (đám cưới, lễ tết…) thiếu rượu là điều tối kị đối với đồng bào Ngày nay, rượu không chỉ được sử dụng trong cộng đồng thôn, xã, mà nó
là thức uống không thể thiếu đối với khách du lịch khi tới Sa Pa (đặc biệt là khách Việt Nam) Khi tới Sa Pa, du khách luôn mong muốn tìm được một ít rượu ngô mang về uống (nhất là nam giới) Đó là lý do rượu ngô luôn là một món quà thân thiết đối với khách du lịch khi tới Sa Pa
Ở mỗi một ngôi nhà truyền thống của người Hmông đều có ma nhà Ma nhà che chở những người trong ngôi nhà đó Tuy nhiên, ma nhà chỉ che chở những người đã nhập vào ma nhà thông qua nghi lễ Do đó, mặc dù người lạ sống chung dưới cùng một ngôi nhà hơn 10 năm, người lạ đó không được ma nhà che chở Và con gái đã đi lấy chồng không được ma nhà che chở nữa bởi
vì cô gái đó đã đi lấy chồng nhập vào ma của bên nhà chồng Sau khi đi lấy chồng, ma nhà ở bên chồng che chở cô gái đó Ở trường hợp mà con trai con gái đi học ở xa và ở riêng lâu, con trai con gái đó vẫn được ma nhà che chở khi về nhà vì họ vẫn thuộc về ma nhà đó Sau khi con nuôi nhập vào ma nhà, con nuôi đó cũng được ma nhà che chở giống như thành viên khác Như vậy,
Trang 26nênhs) hay cùng dòng họ (iz tsêr nênhs) của bố mẹ đẻ nữa, mặc dù vẫn giữ là
người thân, nếu chồng đánh đập phải quan tâm Người Hmông có câu “đầu
dây thì anh cầm, nhưng mà cuối dây tôi vẫn cầm - hấu lua cào tuố cang lùa
cú chỉnh tuố." Ý chỉ người con gái dù có đi lấy chồng, thuộc về nhà chồng
nhưng bố mẹ và anh em trai vẫn quan tâm
Theo ông L.S.C, trong nhà truyền thống người Hmông, có một cái giỏ treo trên mái nhà (liên quan đến lễ công bố chủ nhà mới của người Hmông), trong đó để những thứ liên quan đến tổ tiên của người chủ gia đình Khi người chủ gia đình chết, thì trước khi đưa đi chôn, gia đình sẽ đốt cái giỏ đó ngay trước cửa nhà Khi một gia đình có chủ nhà mới, họ sẽ mổ một con lợn, sau
đó mời anh em, họ hàng, làng xóm tới dùng cơm để thông báo với mọi người
là gia đình này đã có chủ nhà mới Sau đó chủ nhà sẽ đào một cái hố trong nhà, ngay cạnh cửa chính gần cột chính của nhà và cho tất cả xương, lông của con lợn vừa mổ vào trong chum sành và chôn xuống cái hố vừa đào ở trong nhà Sau đó chủ nhà mới lại cho những thứ liên quan đến tổ tiên và của chủ nhà đã qua đời vào một cái giỏ mới và treo lên nóc nhà Đến thế hệ sau, người Hmông lại lặp lại phong tục này
Theo ông L.S.P thì trong thôn Lý lúc đầu là có sáu nhà của ba họ Mỗi nhà đông người khoảng 20 đến 30 người cùng ở, trong đó họ Lý có khoảng bốn nhà Lúc đó ông Phử khoảng năm, sáu tuổi Ông L.S.P năm nay 79 tuổi (sinh năm 1936) cho biết mọi người đều ăn chung, bố mẹ sống thì bố mẹ làm chủ, nếu chết thì giao lại cho con cả Nấu ăn chung một bếp Lúc con trai lấy
vợ thì làm nhà nối thêm vào nhà cũ, nối ở bên phải hoặc bên trái tùy vào địa
Trang 27ăn đặt bên trái hoặc bên phải nhà còn bếp sưởi luôn luôn phải đặt bên phải nhà, trước cửa buồng của chủ hộ gia đình, bếp sưởi dùng để tiếp khách, khách đến thì ngồi xung quanh bếp sưởi để nói chuyện Bên cạnh bếp sưởi luôn có một giường nhỏ cho khách ngủ lại qua đêm Khi tách nhà nếu bố mẹ chết thì các con mới có bàn thờ riêng Nếu bố mẹ còn sống thì chỉ bố mẹ thờ cúng tổ tiên Nếu có lễ cúng như cúng giải hạn thì tự làm ở nhà riêng và không cần bàn thờ Nếu làm cơm mới thì cứ nấu và ăn không cần thắp hương Nếu bố
mẹ làm cơm mới thì các con có thể đến ăn hoặc không đến ăn và không cần thắp hương, chỉ cần ông bố cúng là được Nếu mẹ mất trước bố thì các con không phải làm lễ cúng vì bố còn Nếu bố mất trước mẹ thì con trai có vợ và
đã tách nhà đều làm bàn thờ riêng và cúng riêng Nếu có vợ nhưng vẫn ở chung một nhà thì chỉ con cả làm Công cuộc tách hộ diễn ra nhiều nhất là sau khi giải phóng hoàn toàn miền Bắc Khi lập bàn thờ mới không có lễ cúng gì Nếu bố mất thì người con trai ở với bố giữ nguyên bàn thờ cũ
1.2.3.4 Một số đặc điểm văn hóa tinh thần
Trong hôn nhân đồng bào có tục “kéo tay” của đôi nam nữ khi đến tuổi trưởng thành Và nó đã trở thành tục lệ truyền thống của các chàng trai, cô gái Hmông Đây cũng là một yếu tố thu hút khách du lịch đến Sa Pa, nhất là vào những ngày cuối tuần Vì cuối tuần là thời điểm diễn ra nhiều nét đẹp văn hóa của người Hmông
“Khi lấy chồng: Bị kéo bốn lần, hai lần bị kéo về nhà chàng trai Nếu có đông người ở
nhà cô gái không thích thì người nhà giúp đỡ bằng cách giữ lại, không cho kéo Hai lần
Trang 2824
bị kéo về nhà chàng trai ở ba ngày Ba ngày đó có người trông không cho bỏ trốn Cô
gái đó đi làm bình thường nhưng không cho đi xa sợ bỏ trốn Sau ba ngày không đồng ý
thì cô gái nói là không thích Người con trai đó và anh trai, chị gái của chàng trai dẫn cô
gái về nhà bố mẹ đẻ Bố mẹ nói nếu thích thì lấy, không thích thì thôi Có người bố mẹ
thích, nhưng cô gái không thích bố mẹ mắng, bắt cô gái đó lấy nhưng cô gái ấy không
thích, không lấy Khi về nhà bố mẹ đẻ của cô gái đó chàng trai mang theo hai con gà và
500,000 đồng để nhận lỗi với bố mẹ cô gái vì đã kéo con gái họ về nhà Đến nhà cô gái
đó ăn một bữa, hai người uống với nhau hai chén rượu để làm bạn, không lấy nhau thì
làm bạn 500,000 đồng là tiền phạt đã kéo con gái họ đi Nếu cô gái ưng ý nhà trai mang
30 cái bánh, tám quả trứng vịt, rượu đến nhà gái, hỏi cưới Sau một, hai tháng thì cưới”
(Anh L.A.D và chị V.T.S , thôn Lý, xã Lao Chải)
Những năm gần đây, tục lệ này đã chịu sự tác động chi phối của khách
du lịch Từ việc một vị khách người nước ngoài, khi xem những cặp trai gái Hmông biểu lộ tình cảm với nhau tại thị trấn qua điệu múa ô và thổi khèn, vị khách đó cho tiền những đôi trai gái ấy bằng một tình cảm quý mến Nhưng
vô hình chung đã làm thay đổi tục lệ truyền thống đó Từ tư duy của người phương Tây lấy đồng tiền là thước đo giá trị sản phẩm mà họ được xem, vô hình đã tác động lên một nền văn hóa thành một hình thức biểu diễn để kiếm tiền Ngày nay, khi đến Sa Pa khách du lịch cảm thấy ngỡ ngàng trước những hành vi của các bạn trẻ người Hmông, khi một số đôi nam nữ (là học sinh lớp
7, lớp 8) đến thị trấn biểu diễn nét đẹp văn hóa dân tộc mình thì có hai đến ba
em cầm mũ đi xung quanh xin tiền khách du lịch, nếu khách du lịch không cho, thì ngay lập tức các cặp đôi đó không nhảy múa nữa và lại di chuyển sang đoàn khách du lịch khác
“Mình rất háo hức khi đến Sa Pa vào thứ 6 để được tham dự cùng các bạn thanh niên
người dân tộc để xem chợ tình Buổi tối mình tranh thủ ăn cơm sớm để cho kịp giờ xem
các bạn ấy biểu diễn Lúc đầu mình thấy các bạn biểu diễn rất hay và đặc sắc, trong lúc
các bạn thanh niên lớn tuổi biểu diễn thì có hai đến ba em trai nhỏ tuổi cầm mũ đi xung
quanh xin tiền Mình cũng quý các bạn ấy và mình cũng muốn gửi tặng các bạn ấy một
chút quà gọi là cảm ơn các bạn ấy Nhưng khoảng 10 đến 15 phút sau mình thấy các đôi
nam nữ đang nhảy múa lại không nhẩy múa nữa Mình hỏi những người xung quanh là
điệu nhảy múa chỉ ngắn như vậy à? Có một bạn (một thanh niên khoảng gần 30 tuổi làm
Trang 2925
việc tại Sa Pa) nói với mình là mọi người không cho tiền thì họ không múa nữa Mình
cảm thấy không hài lòng về các bạn thanh niên người dân tộc này”
(Anh L.V.H, 32 tuổi, du khách đến từ Đồng Nai)
Trên báo Dân trí điện tử có bài viết “Dấu nặng buồn ở chợ tình Sa Pa” của tác giả Trần Hưng đăng ngày 26 tháng 11 năm 2007 [21] Mở đầu bài viết tác giả có nói “…khách phương xa được hứng trọn thứ tình cảm chân thành,
và cả những dối lừa dễ nhận biết ” tác giả phân tích những thay đổi của chợ tình và có dẫn chứng một câu nói “ đến chợ tình lần này, tôi chỉ chứng kiến
tổ hợp văn nghệ của huyện biểu diễn ” mà tác giả không tìm hiểu diễn biến của quy luật ở Sa Pa vào những ngày tối thứ bẩy hàng tuần Cứ 2 tuần của 1tháng thì đội văn nghệ bản Cát Cát ra biểu diễn văn nghệ tại sân trung tâm trước cửa nhà thờ vào tối thứ bẩy cách tuần trong tháng Đội văn nghệ chỉ biểu diễn trong khung giờ từ 20h00 đến 22h00 Sau đó du khách có thể đi tham dự các cuộc nhảy múa của các nhóm thanh niên trai gái bản Cũng đúng như trong bài viết tác giả đề cập đến một thông lệ mà giờ đây diễn ra ở hầu hết những bạn trẻ người Hmông khi tham gia nhảy múa và thổi khèn ở đây đó
là “ không có khách, không có tiền, trai thôi thổi khèn, gái thôi múa ô…” và trong bài viết tác giả cũng dẫn lời nhiều du khách “…chợ tình bị thương mại hóa lâu rồi” Ở đây, chúng tôi cũng cùng quan điểm với bài mà tác giả Trần Hưng đề cập đến vào năm 2007 về sự thương mại hóa trong chợ tình Sa Pa, nhưng để tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề “sự ra đi của chợ tình Sa Pa”, chúng tôi sẽ tìm hiểu và phân tích rõ ở chương sau
1.2.3 Một số đặc điểm lịch sử và văn hóa tộc người Dao
1.2.3.1.Lịch sử tộc người
Người Dao là tộc người có nhiều tên gọi khác nhau, như: Động (tên gọi của một đơn vị cư trú trước đây của người Dao), Man (tên này có hàm ý miệt thị dân tộc vì nó được dùng để chỉ các tộc người mà phong kiến Hán cho
là “mọi rợ” sinh sống ngoài địa bàn cư trú của Hán tộc Tất cả những tên gọi
Trang 30Người Dao cho đến nay còn có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc tộc người Trong đồng bào Dao còn lưu truyền rộng rãi câu chuyện Bàn Hồ giải thích về nguồn gốc của tộc người Truyện Bàn Hồ không chỉ là câu chuyện truyền khẩu mà nó còn được ghi chép trong cuốn “Bảng văn” và trong các sách cúng của người Dao [11, tr.18-19] Trong câu chuyện Bàn Hồ thì nói đến nhóm Dao ở Việt Nam gọi là nhóm Dao tiểu bản Man Quá trình di cư của họ vào Việt Nam là cả một quá trình dài và có thể là bắt đầu từ thế kỉ XIII cho đến những năm 40 của thế kỉ XX Người Dao đỏ hiện nay ở Lào Cai là từ Vân Nam đến vào cuối thế kỉ XVIII Địa điểm cư trú đầu tiên của họ là làng Tòng Sành, xã Chu Quang Hồ thuộc huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai [11, tr.23- 24]
Người Dao đỏ còn có tên là Dao cóc ngáng, Dao sừng, Dao dụ lạy (Quế Lâm) Dao đại bản, muốn phân biệt được nhóm Dao đỏ với các nhóm Dao khác thì ta căn cứ vào trang phục phụ nữ của họ, có đặc điểm nổi bật là dùng nhiều màu đỏ, nhiều tua và núm bông đỏ (nhiều hơn bất kì một nhóm Dao nào khác), cô dâu phải đội một cái mũ rất to, khung mũ làm bằng gỗ có cắm hai nan tre hay nứa bẻ thành hai góc nhọn nhô ra phía trước mặt Ngoài khung này được phủ bằng vải đỏ và nhiều chiếc khăn thêu, nên người Trung Quốc gọi là Dao Đại bản, người Tày gọi là Cóc Ngáng (sừng ngang) và người Kinh cũng dựa vào đó mà gọi là Dao sừng [11, tr.31- 32]
Trang 3127
1.2.3.2 Một số đặc điểm văn hóa mưu sinh
Cùng đặc điểm địa hình với cộng đồng người Hmông ở thôn Lý, xã Lao Chải, người Dao đỏ ở thôn Sả Xéng, xã Tả Phìn cũng canh tác ruộng bậc thang, nhưng địa hình ở đây thấp hơn địa hình bên thôn Lý, cho nên cảnh đẹp ruộng bậc thang không đặc sắc như bên thôn Lý Ở đây, đồng bào cũng canh tác các cây ăn quả như mận, đào… và rau củ quả đặc trưng khí hậu của vùng Đồng bào trong thôn còn canh tác nhiều vườn cây Atiso - một loại cây có giá trị kinh tế cao Ngoài ra, thôn Sả Xéng còn là nơi trồng nhiều các loại cây lan
có giá trị kinh tế cao, cung cấp cho thị trường vào các dịp tết đến Từ khi hoạt động du lịch phát triển ở xã cũng như ở Sa Pa, lượng lan tiêu thụ nhiều hơn so với trước đây Hàng năm đồng bào trong thôn đều mang lan tới thị trấn Sa Pa bán cho người dân và khách du lịch Lan của đồng bào có nhiều loại, và thời gian chăm sóc dài khoảng từ ba đến bốn năm mới bán được lan, giá trị một cành hoa lan dao động từ 400 đến 500 nghìn đồng Mỗi chậu hoa lan có khoảng bảy đến 10 cành hoa lan, mỗi chậu lan có giá từ 2,8 triệu đến 5 triệu đồng Chi phí cho một chậu lan không cao, nhưng thời gian từ khi trồng đến khi bán được thì lâu Giá trị kinh tế từ cây lan mang lại hiệu quả kinh tế cao,
góp phần quan trọng vào cuộc sống hàng ngày của đồng bào trong thôn
Một số gia đình trong thôn làm dịch vụ tắm lá thuốc, đây là một nét đặc
trưng văn hóa của người Dao đỏ Thuốc lá tắm thường có từ 15 đến 20 loại cây
Trong thôn có một gia đình đã khai thác giá trị từ các loại cây lá thuốc dùng để tắm và chiết xuất tinh dầu có nhiều công dụng hơn, không chỉ dùng để tắm, mà còn để sản xuất những tinh dầu dùng xoa bóp chân tay và tạo mùi thơm cho cơ thể Gia đình ông L.P.H đã thành lập doanh nghiệp chuyên khai thác giá trị các loại cây này Công ty hoạt động ngay trong địa bàn của thôn, vừa là nơi cho khách du lịch đến tắm, vừa là nơi chiết xuất tinh dầu và giới thiệu sản phẩm cho khách du lịch Ngoài ra, công ty của ông còn cung các tinh dầu và thuốc tắm
Trang 3228
cho địa bàn huyện Sa Pa và các thành phố lớn trong cả nước Đây vừa là cơ sở giữ gìn công thức làm thuốc tắm, vừa là nơi tạo công việc làm cho thanh niên trong thôn, mang lại thu nhập ổn định cho thanh niên trong thôn
Nghề thủ công truyền thống của đồng bào là nghề thổ cẩm Cũng như người Hmông thôn Lý, xã Lao Chải, họ cũng làm nghề thổ cẩm, nhưng chủ yếu là làm công đoạn thêu, hầu như không có người làm nghề dệt trong thôn Người Dao đỏ ở đây thêu nhanh hơn người Hmông ở thôn Lý, xã Lao Chải, một phần vì người Dao ở đây thêu mặt trái, và họ chỉ chuyên tâm vào thêu Nhiều người trong thôn còn giữ nghề thêu thổ cẩm với các hoa văn truyền thống của đồng bào Trong thôn hình thành câu lạc bộ thổ cẩm từ năm 1997, nhưng được một thời gian thì ngừng hoạt động, vì hàng không xuất được, đầu năm 2016 có một công ty ở Hà Nội về khôi phục lại hoạt động của câu lạc bộ Công ty chịu trách nhiệm cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho các thành viên Thành viên tham gia câu lạc bộ được hưởng tiền theo sản phẩm làm ra, thường là 30.000đ một ngày công Theo một số thành viên câu lạc bộ cho biết, sợi chỉ thêu của công ty mang về không phải là hàng tơ tằm mà là sợi thêu làm từ chất liệu công nghiệp Chúng tôi đã tìm hiểu và thấy rằng trong thôn có nhiều chị em gái thích đi bán hàng rong theo khách du lịch khi
họ đến thôn hơn là làm trong câu lạc bộ Khi có xe khách du lịch đến thôn, các chị em gái chạy đến chỗ khách và chào đón nhiệt tình, đến mức du khách
có thể không kịp ngắm nhìn xung quanh đã phải trả lời với những tình cảm tiếp đón của các chị em gái đến bán hàng Trong thôn cũng có chợ được ủy ban nhân dân xã đầu tư xây dựng để đồng bào bán hàng thổ cẩm và các mặt hàng đặc trưng, để không phải đi bán theo khách nữa, nhưng đồng bào vào chợ bán không nhiều
Trang 3329
1.2.3.3 Một số đặc điểm văn hóa vật chất
Trang phục của người Dao đỏ có sự khác biệt khá nhiều giữa nam và
nữ Đối với đàn ông Dao đỏ có hai loại áo là áo ngắn và áo dài Áo ngắn được mặc hàng ngày Áo dài thường dùng trong các dịp quan trọng như tế lễ, cưới xin và đi chơi xa Áo ngắn là loại áo cổ truyền của dân tộc, cổ thấp, xẻ trước ngực, thân bên trái của xẻ áo có đính thêm một cái nẹp từ cổ áo xuống gần gấu áo Nẹp được thêu rất công phu, gia đình nào khá giả thì có đính thêm nhiều mảnh bạc vào cái nẹp và khuy áo làm bằng bạc Cổ ống tay thêu bằng chỉ màu vàng hoặc màu xanh nõn chuối, phía sau lưng áo ở phần giữa hai bả vai cũng thêu hình vuông, hình này đồng bào cho biết đó là “cái ấn của Bàn Vương” Trước đây nam giới có đội mũ, nhưng hiện nay thì nam giới không đội mũ truyền thống của đồng bào mình, mà thay vào đó bằng nhiều kiểu mũ khác nhau, mua ở chợ Hiện nay, nam giới mặc quần giống người Kinh trong các sinh hoạt thường nhật
Đối với nữ giới thì khá đa dạng và cầu kì hơn nam giới Phụ nữ Dao
đỏ để tóc dài và có hai kiểu đội khăn trên đầu Kiểu thứ nhất là một cái khăn màu đỏ, mỏng và nhỏ làm bằng nỉ viền trắng buộc lên đầu theo hình bầu dục
và ôm gọn thân tóc, tóc được thả xuống lưng, kiểu khăn này dùng cho thường ngày Kiểu thứ hai là một loại khăn to màu đỏ, viền trắng có dính thêm các hạt lục lặc và các đồng xu cả hai đường, tóc lúc này được quấn lên đầu và nằm trong khăn Đuôi khăn tạo thành một lớp che kín gáy và rủ xuống lưng ngang vai, những quả lục lặc và đồng bạc đều được hướng về phía sau, tạo nên một nét đẹp của người phụ nữ Dao đỏ
Cô dâu trong ngày cưới (hoặc phụ nữ tham gia nghi lễ cúng Bàn Vương) thì đội một cái mũ to và nặng Khung mũ làm bằng gỗ có cắm bốn nan tre (hoặc nứa) bẻ thành hai góc nhọn nhô về phía trước mặt, ngoài khung này được phủ bằng vải đỏ và nhiều cái khăn thêu và do trọng lượng của mũ
Trang 3430
này khá nặng ! nên chỉ đến khi nào cô dâu về gần tới nhà chồng mới đội mũ
và làm lễ gia tiên xong thì bỏ mũ ra Trong nghi lễ cũng vậy, khi nào vào chính thì các cô gái mới đội mũ này lên và chỉ đội trong lúc diễn ra nghi thức
tế lễ, sau đó không đội nữa
Áo phụ nữ kiểu dáng giống áo ngắn của nam giới, nhưng khác là áo
nữ dài hơn áo nam (dài tới đầu gối) phía trước phần trên giống áo nam, phần dưới phía trước được tạo thành hai thân áo rộng bảy đến 10 cm và dài từ cạp quần tới đầu gối chân Phía sau áo thì phần trên giống áo nam giới, phần dưới
là một phần vải liền mảnh từ cạp quần xuống lưng đầu gối và được thêu sợi màu vàng nghệ và viền màu hồng theo kiểu hình chữ nhật Khi mặc áo, nữ giới vắt chéo hai thân dưới phía trước lên nhau và buộc về phía đằng sau Sau
đó buộc dây lưng ra ngoài để che phần quấn phía trước đồng thời buộc dây lưng ra phía đằng sau Dây lưng được thêu bằng những sợi nhiều màu sắc dịu nhẹ, đồng thời gắn những miếng bạc (hoặc nhôm) hình đồng xu và những quả lục lặc (chuông loại như viên bi) đeo xung quanh cạp quần tạo sự kín đáo và
vẻ đẹp sang trọng của nữ giới
Quần nữ giới phần nền là màu đen phía trước của quần có thêu các họa tiết hoa văn màu vàng nghệ, màu đen, màu trắng làm cho trang phục nữ giới phối màu hài hòa với chiếc áo, tạo điểm nhấn cho chiếc quần
Trước đây nữ giới đi chân đất, nhưng nay nữ giới đã đi dép xốp tổ ong
và đi giầy vải Trang sức gồm có vòng cổ, tay và tai làm bằng bạc hoặc bằng những chất liệu đơn giản được mua ở thị trấn
Những đường nét hoa văn trên trang phục của các chàng trai, cô gái người Dao đỏ đã tạo nên một sản phẩm đặc trưng của đồng bào, nó không chỉ
là nét đẹp văn hóa truyền thống mà nó còn là sản phẩm để bán cho khách du lịch khi có nhu cầu muốn sở hữu những sản phẩm đó Theo chúng tôi tìm hiểu, thì có khá nhiều khách du lịch chọn mua sản phẩm trang phục thổ cẩm
Trang 3531
của đồng bào, nếu khách du lịch muốn mua thì thường phải đặt hàng trước thì mới có sản phẩm mới (nếu người bán không có sẵn hàng) còn cần mua ngay thì đều là trang phục đã được mặc và còn giá trị sử dụng, giá tiền sẽ rẻ hơn so với sản phẩm mới làm ra
Người Dao đỏ ở Sa Pa thường sống tập trung trong thôn có quy mô trung bình 50 đến 60 hộ gia đình Thành phần dân cư trong các thôn thuần nhất, hiếm khi có sự xen cư của các dân tộc khác Đây chính là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc duy trì tập quán tộc người với một cơ chế
tự quản chặt chẽ
Trong làng, thường bố cục theo lối mật tập với nhiều ngõ xóm Hướng của các ngôi nhà bao giờ cũng trùng với hướng bản, tựa lưng vào triền dốc và nhìn ra thung lũng, sông suối Các gia đình thường có khuôn viên tương đối rộng rãi để đảm bảo điều kiện làm vườn và chăn nuôi
Đồng bào ở nhà nền đất Nhà của họ thường có ba hoặc năm gian hai chái với một cửa chính ở giữa và cửa phụ mở ở hồi nhà Mỗi ngôi nhà là một phức hợp khép kín với nhiều chức năng: ngủ nghỉ, sinh hoạt, thờ cúng, bếp núc Liên quan đến ngôi nhà của người Dao cũng có nhiều điều kiêng kị, du khách nên biết để tránh những hành vi đáng tiếc có thể xảy ra
1.2.3.4.Một số đặc điểm văn hóa tinh thần
Đồng bào có tục lệ thờ cúng Bàn Vương, đây là một tục lệ điển hình của cộng đồng người Dao đỏ Việc thờ cúng Bàn Vương là việc làm quan trọng vì nó liên quan đến vận mệnh của con người, dòng họ và cộng đồng người Dao đỏ ở đây
Bàn Vương được cộng đồng coi là thủy tổ của đồng bào nên cũng được thờ cùng với ban thờ tổ tiên của dòng họ Lễ cúng Bàn Vương được diễn ra theo chu kì ba năm, năm năm, chín năm thậm chí một đời người cúng một lần Lễ cúng được diễn ra liên tục trong ba năm, gồm các bước: năm thứ nhất
Trang 36và cúng hai ngày hai đêm
Tết nhảy đòi hỏi dòng họ phải chuẩn bị nhiều công đoạn như: nấu rượu, nuôi lợn, đồ ăn thức uống…như làm lễ cúng Bàn Vương Khi sắp làm lễ, những thanh niên phải luyện tập những điệu múa, chuẩn bị những dao gươm bằng gỗ để làm nghi thức nhảy
Khi tổ chức tết nhảy xong, mọi người thu dọn đồ lễ rồi cả họ tổ chức ăn uống chúc mừng rồi sau đó ai về nhà đó Sau tết nhảy vài hôm là đồng bào Dao đỏ ở Tả Phìn bắt đầu đón năm mới, tổ chức năm mới đến hết rằm tháng giêng theo lịch âm
Tục cấp sắc là một nghi thức truyền thống không thể thiếu cho những người con trai Dao đỏ Đây là nghi lễ diễn ra ở hầu hết người đàn ông Dao đỏ bắt đầu từ 13 tuổi trở lên Nếu lúc sống chưa kịp làm hoặc chưa có điều kiện
để làm thì lúc chết con cháu có trách nhiệm làm lễ cấp sắc cho người đã mất, bởi có làm như vậy thì con cháu mới được làm lễ cấp sắc
Tục cấp sắc này có một số ý nghĩa sau: [11, tr.279]
Thứ nhất, người nào được cấp sắc thì mới có thể làm nghề cúng bái mà người Dao đỏ rất quan tâm Muốn vậy không những phải biết cúng bái, biết làm các phép thuật mà điều quan trọng hơn là phải được thánh thần “công nhận” và được cấp “âm binh”
Trang 3733
Thứ hai, người nào được cấp sắc sau này chết, hồn mới được về đoàn tụ với tổ tiên Cấp sắc còn có ý nghĩa là làm lễ “khai sinh” hay lễ nhận lấy tên của thánh thần ban cho, cho nên những bản giấy cấp sắc còn có ý nghĩa như là một giấy “thông hành” để sau khi chết có thể về ngay với tổ tiên mà không phải qua các kiếp bị đầy đọa ở âm phủ Người nào được cấp sắc mới được công nhận là con cháu của Bàn Vương và mới được Bàn Vương phù hộ
Thứ ba, người nào được cấp sắc thì lúc còn sống trên dương thế mới được quyền thờ cúng tổ tiên, sau khi chết hồn mới được trở thành tổ tiên và được con cháu thờ cúng Người được cấp sắc mới được xã hội coi là người lớn, người chưa được cấp sắc dù có tuổi già thì vẫn bị coi là trẻ con Khi chết không được
về với tổ tiên, không được thống lĩnh âm binh của gia đình, do đó chúng sẽ làm loạn, làm nguy hại đến vận mệnh của con cháu trong gia đình và dòng họ
Thứ tư, đồng bào tin sâu sắc là có được cấp sắc thì làm ăn mới được may mắn, sinh hoạt mọi mặt mới được thuận lợi, dòng họ mới phát triển Trong tục cấp sắc có nhiều bậc cao thấp khác nhau [11, tr.280]: Quá Tăng là bậc đầu tiên của thang cấp sắc, tất cả đàn ông người Dao đều phải qua bước này Trong lễ này, người ta chỉ được cấp 3 đèn và 36 binh mã Thất tinh
là lễ cấp bẩy đèn và 72 binh mã Cửu tinh là bậc được thăng chín đèn, còn số binh mã vẫn như bậc Thất tinh Thập nhị tinh còn gọi là bậc “tẩu slai” là bậc cao nhất, được cấp 12 đèn và 120 binh mã
Muốn cấp thêm đèn và tăng thêm âm binh là phải làm một nghi lễ, muốn chuyển lên bậc cao hơn phải có thời gian học tập các sách cúng, học thêm các phép thuật, mỗi lần lên một bậc là trình độ hiểu biết về cúng bái được cao hơn uy tín làm thầy cúng càng lớn và có khả năng đảm nhiệm các nghi lễ lớn của cộng đồng
Trong các cấp bậc trên chỉ có cấp Quá tăng là cúng được cho nhiều người (những người đến tuổi cấp sắc, những người già chưa được cấp sắc,
Trang 3834
những người qua đời mà trước đây chưa có điều kiện làm lễ cấp sắc) Còn các cấp bậc khác thì chỉ làm cho một người, trong một lần tổ chức nghi lễ cấp sắc người ta có thể cùng làm cho các cấp bậc trên cùng một thời gian
Các truyền thống văn hóa trong tín ngưỡng và tập tục này đã có sức thu hút khách du lịch trong những năm gần đây Nhất là tục cấp sắc của đồng bào đã được một số công ty mời một số gia đình và thầy cúng dàn dựng để cho khách
du lịch cảm nhận và tìm hiểu văn hóa Điều này giúp cho cộng đồng quảng bá được truyền thống văn hóa của mình cho đông đảo khách du lịch biết đến
Tiểu kết chương 1
Xác định Chương 1 là tiền đề, cơ sở cho việc thực hiện các chương tiếp theo Trong chương này, ngoài việc tổng quan tình hình nghiên cứu để biết được các tác giả đi trước đã nghiên cứu những gì, đạt kết quả ra sao, điểm nào chưa nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa toàn diện để luận văn hướng tới, chúng tôi đã thao tác hóa các khái niệm có liên liên quan đến đề tài luận văn như các khái niệm: văn hóa tộc người, du lịch, lữ hành, nhân học du lịch Bên cạnh đó, dựa vào tài liệu điền dã dân tộc học và các tài liệu đã công bố, chúng tôi đã nêu những đặc điểm cơ bản về địa bàn nghiên cứu, về lịch sử tộc người, các khía cạnh văn hóa mưu sinh, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của tộc người Hmông, Dao, qua đó phác họa bức tranh khái quát về văn hóa của hai tộc người này với tư cách là một loại tài nguyên du lịch, và trong đó
đã làm rõ những đặc điểm, những thành tố và diễn biến văn hóa liên quan đến các hoạt động du lịch
Trang 3935
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC VĂN HÓA TỘC NGƯỜI HMÔNG, DAO
TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TUYẾN HÀ NỘI - SA PA
2.1 Khai thác văn hóa tộc người Hmông, Dao trong các chương trình du lịch tuyến Hà Nội - Sa Pa của các công ty du lịch
Việt Nam có nhiều công ty du lịch khai thác các giá trị văn hóa tộc người trong sản phẩm du lịch để xúc tiến chào bán sản phẩm tới khách du lịch Tuy nhiên, sản phẩm được khai thác trường trùng lặp nhau về chương trình Thường thì một số công ty du lịch quy mô lớn đưa ra một sản phẩm du lịch chào bán, thì các công ty nhỏ khác sao chép y nguyên sản phẩm đó, dẫn đến việc các tuyến điểm thăm quan có khách đến, và những nơi khác thì lại không được khai thác
Chúng tôi xin dẫn chứng một số công ty đã xây dựng thương hiệu của mình trong ngành du lịch được nhiều năm qua, như: Công ty du lịch Hà Nội – Hanoi Tourist được thành lập năm 1963, là một doanh nghiệp nhà nước và phát triển thị trường chủ yếu ở Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên du lịch Sài Gòn được thành lập năm 1975, là một công ty có thế mạnh về các lĩnh vực khách sạn, du lịch, khu du lịch sinh thái Đây là hai trong những công ty đi đầu trong cả nước về chuỗi dịch vụ du lịch Trong chiến lược xây dựng sản phẩm du lịch, các công ty này đã ý thức được việc đưa văn hóa truyền thống dân tộc vào chuỗi sản phẩm du lịch của mình Bên cạnh đó, các công ty khai thác rất tốt các chương trình du lịch truyền thống Đông Bắc, Tây Bắc, là những tuyến có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Trong tuyến hành trình Hà Nội - Sa Pa, các công ty tuy có điểm khác biệt trong thiết kế và tổ chức chương trình du lịch, nhưng đều có những điểm chung Điểm khác biệt chỉ là về chất lượng các cơ sở cung cấp dịch vụ cho chương trình du lịch Chương trình du lịch tuyến Hà Nội - Sa Pa
Trang 4016h00 Khách nhận phòng khách sạn Sau đó khách nghỉ ngơi
18h30 Khách ăn tối tại nhà hàng Sau bữa tối, khách dạo chơi
Ngày 2 Sa Pa - Cát Cát - Hàm Rồng Ăn sáng, trưa, tối
08h00 Sau bữa sáng tại khách sạn, hướng dẫn viên đưa khách đi tham
17h30 Khách ăn tối tại nhà hàng, với những món ăn đặc trưng của Sa
Pa Sau bữa tối khách tham dự và giao lưu với những chàng trai,
cô gái người Hmông tại sân trung tâm trước cửa nhà thờ Sa Pa
Ngày 3 Sa Pa - Lao Chải - Tả Van - Sa Pa Ăn sáng, trưa, tối
07h30 Khách ăn sáng tại khách sạn, sau đó xe và hướng dẫn viên của
công ty và hướng dẫn viên người Hmông cùng du khách tới Lao Chải, Tả Van Hướng dẫn viên sẽ đưa khách tham quan ngôi nhà của người Hmông và tìm hiểu những tập tục qua kiến trúc bên