Xin chân thành cảm ơn tất cả các đối tượng trong trung tâm đã chia sẻ, giúp đỡ tôi và đặc biệt là chân thành cảm ơn nhóm đối tượng người cao tuổi đã nhiệt tình hợp tác với tôi trong quá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ THỊ HIẾU
QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI BÌNH ĐỊNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số : 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM HỮU NGHỊ
Hà Nội - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành đến: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Cục Bảo trợ xã hội, Học viện Khoa học Xã hội, Tổ chức UNICEF, Học viện Xã hội Châu Á, cơ sở học viện tại thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Lao động Xã hội cơ sở 2 tại thành phố Hồ Chí Minh Các thầy, cô giáo: cô Bùi Thị Xuân Mai, cô Hà Thị Thư…các thầy, cô giáo của trường Đại học Asi (Philippin) Đặc biệt là thầy giáo: PGS TS Phạm Hữu Nghị đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn trong thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh Bình Định, Ban lãnh đạo Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định, các đồng nghiệp trong đơn vị đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được tham gia lớp học thạc
sĩ nghành Công tác xã hội và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, số liệu liên quan và các hình ảnh cần thiết về thân chủ
Xin chân thành cảm ơn tất cả các đối tượng trong trung tâm đã chia sẻ, giúp
đỡ tôi và đặc biệt là chân thành cảm ơn nhóm đối tượng người cao tuổi đã nhiệt tình hợp tác với tôi trong quá trình thực hiện luận văn của mình
Chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè, gia đình, hai người mẹ, chồng
và hai đứa con thân yêu của tôi đã luôn động viên, khích lệ tinh thần, chia sẻ, gánh vác công việc gia đình để tôi an tâm học tập và phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được phân công đến ngày hôm nay
Chân thành cảm ơn ban cán sự và tập thể lớp thạc sĩ Công tác xã hội khóa 1, chương trình liên kết với Philippin đã luôn đồng hành, đoàn kết, chia sẻ cùng nhau những kỉ niệm vui, buồn, những khó khăn vất vả trong suốt quá trình hai năm học
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn của mình mặc dù bản thân rất cố gắng nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và học viện để bài luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội “Quản lý trường hợp đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định, tỉnh Bình Định” là hoàn toàn trung thực và không trùng
lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Hà Thị Hiếu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 6
1.1 Các khái niệm 6
1.2 Các vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với người cao tuổi 8
1.3 Các yếu tố chi phối quá trình quản lý trường hợp đối với người cao tuổi 18
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI BÌNH ĐỊNH 29
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Bình Định và tình hình Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người cao tuổi 29
2.2 Thực trạng người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định 38
2.3 Thực trạng quản lý trường hợp đối với người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định 43
2.4 Đánh giá quản lý trường hợp đối với người cao tuổi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định 60
Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI BÌNH ĐỊNH 66
3.1 Giải pháp đối với Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định 66
3.2 Giải pháp đối với nhân viên Công tác xã hội 68
3.3 Giải pháp đối với người cao tuổi tại Trung tâm 70
3.4 Giải pháp đối với người cao tuổi tại cộng đồng 71
KẾT LUẬN 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng đối tượng xã hội 32
Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn của cán bộ nhân viên 33
Bảng 2.3: Giới tính của đối tượng NCT 39
Bảng 2.4: Độ tuổi của đối tượng NCT 39
Bảng 2.5: Trình độ văn hóa của đối tượng NCT 40
Bảng 2.6: Tình trạng sức khỏe của đối tượng NCT 42
Bảng 2.7: Tình trạng mắc các loại bệnh của đối tượng NCT tại trung tâm 42
Bảng 2.8: Mức độ hài lòng về cuộc sống của đối tượng NCT 60
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Kính trên, nhường dưới”, “Kính lão, đắc thọ” là một trong những truyền thống lâu đời, nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Trong xã hội ta, NCT luôn giữ một vị trí rất quan trọng Với gia đình, NCT luôn là tấm gương về phẩm chất đạo đức và nhân cách để con cháu noi theo Trong xã hội NCT với kinh nghiệm sống của mình sẽ giúp cho thế hệ trẻ hiểu rõ, giữ vững và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Hiện nay, với xu hướng già hóa dân số trên thế giới Theo Ủy ban dân số Liên Hiệp Quốc tổng số người già từ 60 tuổi trở lên sẽ tăng nhanh từ 214 triệu người vào năm 1950 lên 400 triệu người vào năm 1982, khoảng 600 triệu người vào năm 2001 và khoảng 1,2 tỉ người vào năm 2025 Số người 80 tuổi trở lên sẽ tăng từ 13 triệu người năm 1950 lên 50 triệu người vào 1995 và sẽ tăng lên 137 triệu người vào năm 2025 Tỉ lệ NCT trên thế giới sẽ tăng liên tục từ 8% dân số năm 1950 lên 10% vào năm 2000 và gần 20% vào năm 2050
NCT Việt Nam cũng không ngừng tăng lên theo dự báo dến năm 2020 Việt Nam sẽ có trên 10 triệu NCT chiếm tỉ lệ 16% dân số trên cả nước Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, sự xuống cấp của đạo đức xã hội Nhóm NCT đang phải đối mặt với nhiều thử thách và khó khăn NCT ai cũng mong có được một mái ấm gia đình, ai cũng mong muốn có con, có cháu chăm sóc, phụng dưỡng lúc tuổi già Nhưng không phải ai cũng có được những may mắn ấy Do hoàn cảnh đặc biệt nhiều cụ sau nhiều năm vất vả ở tuổi thanh xuân, lúc xế chiều lại không còn ai thân thích để nương tựa Các cụ phải sống trong sự cưu mang, trợ giúp của Đảng và Nhà nước trong một mái ấm gia đình thứ hai tại trung tâm BTXH
Và để bù đắp làm nguôi ngoai phần nào những bất hạnh ấy thì các trung tâm BTXH trên khắp cả nước đã ra đời Trong đó, Trung tâm BTXH tỉnh Bình Định là một trong những đơn vị điển hình thực hiện tốt vai trò đó Trung tâm thực hiện nhiệm vụ: tiếp nhận, quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng ĐTXH gồm: NCT cô đơn
Trang 8không nơi nương tựa, người khuyết tật và trẻ mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Là một nhân viên CTXH có thời gian gắn bó với trung tâm hơn hai mươi năm tôi mong muốn được đóng góp thật nhiều tâm huyết của mình vào việc đưa chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước đến với cuộc sống của đối tượng BTXH nói chung và đối tượng NCT cô đơn không nơi nương tựa nói riêng Đảm bảo chất lượng cuộc sống của họ ngày càng tốt hơn, giúp họ an tâm gắn bó những ngày còn lại của cuộc đời với trung tâm Góp phần vào việc phát triển nghề CTXH, đảm bảo
an sinh xã hội, xây dựng đất nước ngày giàu mạnh
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Quản lý trường hợp đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định, tỉnh Bình Định” để làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Thực tế việc quản lý, chăm sóc, các chính sách trợ giúp đối với đối tượng NCT đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm BTXH tỉnh Bình Định
Thực hiện chính sách xã hội đối với NCT trong nhiều thập niên qua, Đảng
và Nhà nước luôn quan tâm, có nhiều chủ trương chính sách và tăng cường công tác quản lý chỉ đạo tổ chức thực hiện nhằm từng bước nâng cao chất lượng đời sống NCT Các nghành các cấp, luôn xem đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên trong việc xây dựng triển khai các chiến lược trung hạn, dài hạn và các giải pháp có tính lâu dài cũng như trước mắt
Từ trước đến nay có rất nhiều nghiên cứu, đề tài viết về nhóm đối tượng này nhưng chỉ tiếp cận ở khía cạnh ảnh hưởng và tác động của chính sách an sinh xã hội tại địa phương ảnh hưởng đến đời sống của gia đình NCT; tìm hiểu về vấn đề chăm sóc sức khỏe, về thực trạng đời sống NCT, hay đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chính sách trợ giúp đối với NCT dưới góc nhìn của người làm chính sách và đối tượng là NCT nói chung chứ không có đề tài nào đi sâu vào việc nghiên cứu sâu sắc
về thực trạng QLTH đối với NCT nói chung và NCT cô đơn không nơi nương tựa nói riêng, bên cạnh đó cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu để có thể đưa ra các giải
Trang 9pháp nâng hiệu quả QLTH đối với NCT… vì thế với đề tài này tác giả không chỉ muốn tìm hiểu thực trạng về QLTH đối với NCT tại trung tâm mà còn muốn góp phần tìm ra một số giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả tiến trình QLTH đối với NCT
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài có mục đích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của QLTH đối
với NCT (thông qua nghiên cứu thực tiễn của Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định,
tỉnh Bình Định) Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn QLTH đối với NCT nói chung và NCT đang sống tại trung tâm nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về QLTH đối với NCT
- Tìm hiểu thực trạng thực hiện quy trình QLTH đối với NCT tại Trung tâm BTXH tỉnh Bình Định
- Tìm hiểu tác động của QLTH đối với NCT tại trung tâm
- Tìm hiểu những khó khăn mà NCT gặp phải khi sống tại trung tâm
- Đưa ra những giải pháp để việc thực hiện quy trình QLTH đối với NCT tại trung tâm được tốt hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là QLTH đối với NCT
Trang 105 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu phải dựa trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và nghiên cứu chính sách xã hội tác động tới đời sống NCT neo đơn phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với các chính sách xã hội đối với các giai cấp, các tầng lớp các nhóm xã hội khác nhau
NCT là đối tượng cần được xã hội quan tâm nên khi đi vào nghiên cứu chính sách xã hội về các đối tượng này chúng ta phải xác định trước hết vì nhân tố phát triển con người, đảm bảo các nhu cầu chính đáng của đối tượng, từ đó góp phần vào
phát triển xã hội
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích thông tin tư liệu
Tiến hành thu thập và phân tích các thông tin tư liệu từ các nguồn như: văn bản pháp luật, thông tư, nghị định, sách, báo, tài liệu trong báo cáo tổng kết cuối năm 2015 của Trung tâm BTXH Bình Định, báo cáo của Sở LĐTBXH tỉnh Bình Định
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu các đối tượng: NCT, Ban Giám đốc, cán
bộ phụ trách và nhân viên CTXH đang công tác tại Ttrung tâm BTXH Bình Định
5.2.3 Phương pháp quan sát
Sử dụng phương pháp quan sát kèm với phương pháp phỏng vấn với mục đích tìm hiểu và đảm bảo tính khách quan và độ chính xác của những thông tin thu được
5.2.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp để tìm hiểu sâu sắc hơn về đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu đặc trưng của nhóm đối tượng NCT và những nét riêng của nhóm NCT neo đơn không nơi nương tựa từ đó dễ dàng đưa ra hướng trợ giúp phù hợp đối với đối tượng
Trang 116 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về quy trình QLTH đối với NCT đang được nuôi dưỡng tại các trung tâm BTXH nói riêng và lý luận về chính sách an sinh xã hội, BTXH nói chung
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề NCT hiện nay
Giải quyết thực trạng việc áp dụng quy trình QLTH đối với NCT nói chung
và NCT neo đơn đang được nuôi dưỡng tại các cơ sở BTXH nói riêng
Kiến nghị về những bất cập của cơ chế chính sách đối với NCT
Xã hội hóa ngành CTXH, thực hiện tốt chính sách BTXH và an sinh xã hội
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý trường hợp đối với người cao tuổi; Chương 2: Thực trạng quản lý trường hợp đối với người cao tuổi từ thực
tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định;
Chương 3: Giải pháp bảo đảm thực hiện quản lý trường hợp đối với người
cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI 1.1 Các khái niệm
1.1.1 Người cao tuổi
Già là một giai đoạn trong cuộc đời của mỗi con người Để đi đến cách hiểu thống nhất về khái niệm, trước tiên cần có sự thống nhất về cách gọi lớp người nhiều tuổi trong xã hội Trong tiếng Việt và trong đời sống thực tế, để gọi lớp NCT, người Việt Nam sử dụng nhiều tên gọi khác nhau như “lão”, “cụ” [25, tr 9]
Từ trước đến nay không ít người coi sự già nua như một thời kỳ suy thoái: cơ thể yếu dần, mất khả năng thích nghi…Cách nhìn nhận này rất phiến diện, vì khái niệm “tuổi già” là một khái niệm động, mang tính phát triển, tính xã hội và tính lịch
sử [10, tr 92]
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới và một số tổ chức quốc tế, cũng như ở Việt nam đã dùng danh từ “Người cao tuổi” thay cho “Người già” Cụm từ “Người cao tuổi” bao hàm sự kính trọng, sự động viên hơn so với cụm từ “Người già” Tuy nhiên, về mặt khoa học thì thuật ngữ “Người già” hay “Người cao tuổi” đều được dùng với ý nghĩa tương tự như nhau
Theo qui ước của Liên Hiệp Quốc “những người từ 60 tuổi trở lên không phân biệt giới tính là người già” và chia làm hai nhóm tuổi:
Tuổi từ 60-74 là NCT
Tuổi từ 75 trở lên là người già
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phân chia các lứa tuổi người già như sau:
Từ 60-74 tuổi: NCT
Từ 75-90 tuổi: người già
Ngoài 90 tuổi: người già sống lâu
Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau về mốc tuổi để công nhận là NCT, song xét trên các góc độ: tâm lý, sinh lý, luật pháp, truyền thống dân tộc, tuổi
Trang 13thọ trung bình của một quốc gia…có thể đi đến thống nhất khái niệm “người cao tuổi là người 60 tuổi trở lên đối với nam và 55 tuổi đối trở lên với nữ” [25, tr.10]
Theo luật NCT được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 6, quốc hội khóa XII thì: “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [22, tr.18]
Theo quan điểm của CTXH: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, CTXH nhìn nhận về NCT như sau: NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động, thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của cộng đồng [13, tr.82]
1.1.2 Quản lý trường hợp
QLTH là một trong các phương pháp can thiệp của CTXH được NVXH thực hiện để trợ giúp cá nhân và gia đình khi họ gặp những khó khăn không thể tự vượt qua được [7, tr.7]
QLTH là quá trình điều phối các dịch vụ, trong đó NVXH làm việc với TC
để xác định dịch vụ cần thiết, tìm kiếm và kết nối các nguồn lực, tổ chức thực hiện
và theo dõi sự chuyển giao các dịch vụ đó tới TC một cách hiệu quả [7, tr.9]
QLTH của TC: bao gồm việc điều phối mọi hoạt động giúp đỡ, nhân danh lợi ích của một TC hay một nhóm TC [1, tr 78]
QLTH là một quá trình tổ chức dịch vụ giúp đỡ TC giải quyết vấn đề khó khăn của họ một cách hiệu quả Trong quá trình này, NVXH làm nhiệm vụ kết nối
và điều phối các dịch vụ tâm lý xã hội để chăm sóc, giúp đỡ TC có thể tiếp cận các dịch vụ và sử dụng chúng để vượt qua những khó khăn về thể chất tâm thần, tâm lý
và giúp họ phục hồi, phòng chống các vấn đề khó khăn có thể xảy ra [25, tr 87]
QLTH là một quá trình đánh giá tổng thể tình hình của TC để xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề, đáp ứng nhu cầu của TC được xác định sau khi có đánh giá Trong quá trình này, điểm mạnh và mối quan tâm của TC thường được sử dụng như yếu tố quan trọng định hướng cho tiến trình giúp đỡ [23, tr 25]
Trang 14QLTH là một dịch vụ phục vụ con người mới nảy sinh được thiết kế để cung cấp các dịch vụ cho cá nhân và gia đình họ khi có những vấn đề phức tạp gặp phải cùng lúc (nghèo đói, khuyết tật, dính líu tệ nạn xã hội…) [1, tr 111]
QLTH (tiếng Anh là Case Management) còn được gọi là quản lý ca Ở một
số nước, QLTH được sử dụng trong các lĩnh vực cung cấp dịch vụ an sinh cho con người (QLTH trong y tế nhằm chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân; QLTH với người nghiện ma túy, người nhiễm HIV, v.v.) và cả trong lĩnh vực luật pháp (luật sư tư vấn luật cho các TC…) [7, tr 9]
QLTH là một phương pháp CTXH hiệu quả và đang được sử dụng để can thiệp trợ giúp các nhóm TC đặc thù như: nhóm người khuyết tật, NCT, trẻ em có nguy cơ vi phạm pháp luật và người nhiễm HIV/AIDS [18, tr 5]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về QLTH Về cơ bản có thể hiểu QLTH như sau: QLTH là một quá trình trợ giúp của CTXH, bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu TC (cá nhân, gia đình), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch
vụ nhằm giúp TC tiếp cận với các nguồn lực để giải quyết vấn đề của TC một cách hiệu quả
1.1.3 Quản lý trường hợp với người cao tuổi
QLTH với NCT là một quá trình tổ chức dịch vụ giúp đỡ TC (là cá nhân và gia đình NCT) giải quyết khó khăn của họ một cách hiệu quả Trong quá trình này, NVXH làm nhiệm vụ kết nối và điều phối các dịch vụ tâm lý xã hội để chăm sóc, giúp đỡ TC có thể tiếp cận các dịch vụ và sử dụng chúng để vượt qua những khó khăn về thể chất, tâm lý, sức khỏe, các bệnh tật tuổi già và giúp họ phục hồi, phòng chống các vấn đề khó khăn có thể xảy ra
1.2 Các vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với người cao tuổi
1.2.1 Nhu cầu của quản lý trường hợp đối với người cao tuổi
Già hóa dân số tạo ra những thách thức về mặt xã hội, kinh tế và văn hóa cho các cá nhân, gia đình, xã hội và cộng đồng trên toàn cầu
Theo điều tra dân số, năm 2011, tỷ lệ NCT, trên 60 tuổi của Việt Nam đã hơn 8,6 triệu người, chiếm gần 10% dân số, tỷ lệ NCT trên 65 tuổi chiếm 7% dân số
Trang 15Theo dự báo đến năm 2025 sẽ có 18.8% dân số là người già, đến năm 2050 sẽ có khoảng gần 30% dân số Việt Nam trên 60 tuổi
Trước tình hình già hóa dân số, với truyền thống tôn kính NCT của dân tộc Việt Nam từ trước đến nay Đảng và nhà nước luôn luôn quan tâm đối với NCT, đảm bảo cho NCT có một cuộc sống ổn định Chính sách về NCT là bộ phận của chính sách an sinh xã hội của Đảng và nhà nước
Việt Nam là nước phát triển ở trình độ thấp, dân số phần đông là nông dân Hậu quả khá nặng nề của chiến tranh vẫn chưa thể giải quyết dứt điểm Là đất nước thường xuyên phải chịu hậu quả của thiên tai, bão lụt, hạn hán với tần suất xuất hiện trong một năm ngày càng lớn và diễn biến phức tạp, khó lường Do ảnh hưởng của
ô nhiễm và sự tàn phá môi trường, biến đổi khí hậu…Đã tác động rất lớn đến đời sống của người dân mà nhất là đến các đối tượng BTXH, những con người yếu thế trong xã hội [21, tr 9]
Cũng như người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người khuyết tật…NCT là một trong những đối tượng quan trọng cần trợ giúp của CTXH nói chung và quá trình QLTH nói riêng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay [13, tr 83] NCT cần đến những hỗ trợ liên quan đến những vấn đề sau:
- Vấn đề sức khỏe: giảm sút sức khỏe, bệnh tật, ốm đau, khám chữa bệnh
- Vấn đề sức khỏe tâm thần: tình cảm, giao tiếp, quan hệ gia đình và xã hội
- Vấn đề đời sống vật chất: đói nghèo, không bảo hiểm, không nơi nương tựa
- Vấn đề tham gia giao thông
- Vấn đề việc làm, tự đảm bảo cuộc sống hoặc trợ giúp con cháu
- Vấn đề góa bụa, cô đơn, buồn chán
Mặc khác hoàn cảnh của từng con người trong xã hội luôn khác nhau Ở NCT cũng vậy, có nhiều người sau thời gian cống hiến cho xã hội khi về già họ được hưởng các chế độ ưu đãi của nhà nước Con cái thành đạt họ có một cuộc sống hạnh phúc vui vẻ, an nhàn bên con cháu Nhưng cũng có rất nhiều người khi tuổi già lại phải sống trong cảnh cô đơn, hiu quạnh không người thân thích, không đủ
Trang 16khả năng tự lo cho bản thân Có những người có con cháu, nhưng do mặt trái của nền kinh tế thị trường, tệ nạn xã hội, sự băng hoại, biến thái nhân cách, đạo đức con cháu đã vô tình, không quan tâm, không làm tròn trách nhiệm, bỏ mặc ông bà, cha mẹ Kèm theo đó là cơ chế chính sách, sự thiếu quan tâm sâu xác của các cấp chính quyền địa phương, của các tổ chức, hội, đoàn thể, của cộng đồng
Như vậy về mặt số lượng sẽ có hàng triệu NCT cần đến sự hỗ trợ, trợ giúp của xã hội Trong khi đó về lĩnh vực và nhu cầu trợ giúp lại rất đa dạng và hình như lĩnh vực nào cũng rất quan trọng
Ngày nay, rất cần các NVXH làm việc ở các viện dưỡng lão, các trung tâm nuôi dưỡng NCT neo đơn cũng như NVXH chăm sóc NCT tại cộng đồng Tại những nơi này, NVXH sẽ đánh giá nhu cầu vật chất và tinh thần của NCT để có kế hoạch giúp đỡ họ [1, tr 94]
Rõ ràng cần phải có một đội ngũ cán bộ CTXH đông đảo, được đào tạo bài bản và đặc biệt đội ngũ này cần được đào tạo cả về y tế, tâm sinh lý của NCT thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ chuyên môn dành cho NCT Từ
đó có thể giúp:
- Tìm kiếm, kết nối và điều phối các hoạt động hỗ trợ NCT
- Tìm kiếm các chương trình, chính sách, dự án hỗ trợ NCT
- Tổ chức, liên hệ với tổ chức, cơ quan quản lý chính sách, chương trình, dự
án để kết nối với NCT có nhu cầu phù hợp
- Hỗ trợ NCT làm các thủ tục cần thiết để nhận được sự hỗ trợ.[25, tr 88] Nếu nhân viên CTXH làm tốt nhiệm vụ của mình, đưa NCT đến với quy trình QLTH và thực hiện tốt, kết thúc hiệu quả quy trình thì đời sống, nhu cầu của NCT sẽ được đảm bảo Giúp NCT có được một cuộc sống lúc tuổi già đầy ý nghĩa Giúp khắc phục được vấn đề hiện nay vẫn còn một bộ phận NCT còn gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, khó tiếp cận với các nguồn lực, dịch vụ, chính sách
Vậy có thể thấy CTXH nói chung và QLTH đối với NCT nói riêng đang trở thành một nhu cầu cấp thiết hiện nay
1.2.2 Nguyên tắc của quản lý trường hợp đối với người cao tuổi
Trang 17Chấp nhận thân chủ
Thân chủ trong QLTH với NCT là những người lớn tuổi có hoàn cảnh và nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng Ở họ vẫn có nhân phẩm, có giá trị riêng và có quyền được tôn trọng bình đẳng Chính vì vậy trong các hoạt động trợ giúp, NVQLTH cần
có thái độ tôn trọng phẩm giá con người và chấp nhận họ Việc chấp nhận những hành vi, quan điểm hay giá trị của TC không có nghĩa là đồng tình với những hành
vi, suy nghĩ của họ Sự tôn trọng hay chấp nhận ở đây ám chỉ sự ghi nhận sự tồn tại
và không phán xét những hành vi hay suy nghĩ của họ
NVQLTH cần tôn trọng những cảm xúc, suy nghĩ của TC Khi được chúng
ta giúp đỡ, TC có thể phê phán, đỗ lỗi, quy gán và có những nhận định không hợp
lý NVQLTH hãy xem đó là những điều bình thường bởi TC đang bức xúc, họ đang khủng hoảng với tình trạng của chính bản thân họ Thực hiện nguyên tắc này giúp cho NVQLTH tạo được lòng tin từ TC, qua đó thúc đẩy sự hợp tác và chia sẽ của
họ, đó là nền tảng cho việc thiết lập mối quan hệ nghề nghiệp
Tính cá thể hóa
Nguyên tắc này tin rằng mỗi người có những tính cách khác nhau và những mong muốn, nguyện vọng cũng không giống nhau Mỗi gia đình cũng có những đặc điểm riêng với nếp sống, truyền thống gia đình
Việc đảm bảo tính khác biệt trong trợ giúp TC thể hiện ở việc tìm hiểu và phát hiện những nét đặc thù của trường hợp đó, linh hoạt trong giải quyết vấn đề, không áp dụng cách giải quyết giống nhau cho các trường hợp Giải pháp cho mỗi trường hợp cần được cân nhắc trên cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực
mà họ có
Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
NVQLTH không quyết định thay TC, không áp đặt mà chỉ đóng vai trò là người xúc tác và giúp đỡ họ đưa ra quyết định đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh của
họ Nếu TC không tự quyết định được như trường hợp trẻ còn quá nhỏ, người có rối loạn tâm thần NVQLTH cần lấy ý kiến từ người bảo hộ của họ Thực hiện nguyên
Trang 18tắc này cũng là cách mà NVQLTH giúp cho TC trở nên tự tin, nâng cao khả năng đưa ra quyết định đúng đắn trong cuộc sống
Dịch vụ toàn diện
Nguyên tắc dịch vụ toàn diện đảm bảo rằng TC sẽ nhận được đầy đủ các dịch
vụ để đáp ứng nhu cầu của mình Mỗi TC trong QLTH thường gặp nhiều vấn đề
Để giải quyết triệt để các khó khăn, hỗ trợ TC phục hồi và phát triển toàn diện, họ cần được đáp ứng nhiều nhu cầu Ví dụ, khi quản lý một NCT, các dịch vụ cần cung cấp cho NCT thường là: khám điều trị bệnh tật, chăm sóc sinh hoạt hằng ngày, hỗ trợ phương tiện đi lại hoặc người chăm sóc, hỗ trợ tâm lý…
Ngoài ra, các dịch vụ hỗ trợ gia đình để tạo ra môi trường an toàn cho NCT cũng được quan tâm Bỏ qua việc đáp ứng một nhu cầu bất kì trong kế hoạch trợ giúp này sẽ có thể tác động tới kết quả trợ giúp của các dịch vụ khác Chẳng hạn, nếu dịch vụ hỗ trợ tâm lý không được quan tâm, tâm lý khủng hoảng sẽ vẫn ảnh hưởng tới sức khỏe thể chất, thậm chí có thể dẫn đến các hành vi khiến gây tổn hại bản thân của TC
Dịch vụ chất lượng
Nguyên tắc này nhấn mạnh tới sự cam kết của NVQLTH đối với việc tôn trọng quyền của TC và trách nhiệm của họ khi cung cấp dịch vụ Để làm tốt nguyên tắc này, NVQLTH phải tuân thủ tốt các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, tăng cường trau dồi chuyên môn và phát triển năng lực tự nhận thức của bản thân để có khả năng kết nối, điều hành, giám sát và trực tiếp cung cấp các dịch vụ thực sự chất
Trang 19Ngoài ra, NVQLTH cần trang bị cho TC các kỹ năng điều phối dịch vụ và các kỹ năng phát triển khác trong CTXH như: khuyến khích TC tham gia giải quyết
vấn đề, xây dựng mối quan hệ nghề nghiệp giữa NVXH và TC [1, tr 65]
1.2.3 Nội dung quản lý trường hợp đối với người cao tuổi
Thu thập thông tin và đánh giá nhu cầu của đối tượng
Trước khi thu thập thông tin và đánh giá nhu cầu của đối tượng NVQLTH cần phải thiết lập mối quan hệ với NCT, gặp trực tiếp NCT để tìm hiểu và hỗ trợ, thiết lập mối quan hệ ban đầu Thu thập thông tin toàn diện về NCT:
- Thông tin về bản thân NCT
- Thông tin về gia đình NCT
- Thông tin về nguồn lực cộng đồng
Các thông tin có liên quan về các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng, sự cam kết hỗ trợ cho TC
Nguồn lực về vật chất và con người có liên quan đến kế hoạch hỗ trợ NCT giải quyết vấn đề
Các chương trình, chính sách hay mô hình đặc biệt dành cho nhóm đối tượng NCT
- Phương pháp thu thập thông tin: phỏng vấn, quan sát, trò chuyện tâm sự… Qua việc thu thập thông tin của NCT nhân viên QLTH sẽ đánh giá được nhu cầu của NCT trên các lĩnh vực sau: hoàn cảnh sinh kế, chăm sóc sức khỏe và y tế Giáo dục, học nghề, việc làm Mối quan hệ gia đình và xã hội Các kỹ năng sống Khả năng tham gia và hòa nhập cộng đồng Tâm lý, tình cảm và các nhu cầu khác…
Với trường hợp NCT già lẫn, khuyết tật… không có khả năng cung cấp thông tin thì NVQLTH có trách nhiệm phối hợp với các cá nhân, gia đình, tổ chức liên quan để xác định nhu cầu của đối tượng để tổng hợp và đánh giá
Xây dựng kế hoạch trợ giúp đối tượng
Từ những thông tin đã thu thập được của đối tượng NVQLTH cần xác định vấn đề ưu tiên của TC để dựa vào đó có thể xây dựng kế hoạch trợ giúp: tình trạng sức khỏe yếu, đang ốm đau, hoặc đã bị bệnh lâu ngày, không thể tự chăm sóc sức
Trang 20khỏe của bản thân, không có người chăm sóc, không đảm bảo về kinh tế, thu nhập, thiếu thốn tình cảm, thiếu các mối quan hệ, tâm lý bị tổn thương, san chấn tâm lý tuổi già, mất trí nhớ, lẫn, rối nhiễu tâm trí tuổi già…
Dựa vào các vấn đề đã được xác định và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên NVQLTH tiếp tục xác định nhu cầu ưu tiên của TC để từ đó dễ dàng đưa ra giải pháp can thiệp phù hợp Thường với NCT những nhu cầu ưu tiên liên quan tới các lĩnh vực cơ bản sau: được hỗ trợ người chăm sóc (gia đình, người thân, các trung tâm nuôi dưỡng tập trung); được chăm sóc y tế trước mắt và lâu dài; trang cấp các thiết bị hỗ trợ phục vụ sinh hoạt hằng ngày: xe lăn, nạn, chân tay giả; được tập vật
lý trị liệu, phục hồi chức năng; được đảm bảo chế độ dinh dưỡng; được hỗ trợ tâm lý; được cung cấp thông tin, trang bị kiến thức về cách tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân; được hỗ trợ về pháp lý; được quan tâm theo dõi để duy trì những thay đổi tích cực; được hỗ trợ tham gia các hoạt động sinh hoạt thể dục dưỡng sinh, văn nghệ, kết bạn già, sinh hoạt câu lạc bộ NCT…
Mỗi NCT thường gặp nhiều khó khăn một lúc, ví dụ: sức khỏe yếu, không có con cháu trông nom… Với những khó khăn gặp phải sẽ tương đương với những nhu cầu cần được đáp ứng của họ Vì vậy việc chỉ ra các nhu cầu ưu tiên của TC một cách đầy đủ và cụ thể là hết sức cần thiết để xây dựng các mục tiêu, kế hoạch trợ giúp phù hợp và kịp thời Ví dụ: với một trường hợp NCT cô đơn không nơi nương tựa được chính quyền địa phương đưa đến sống tại trung tâm BTXH thì vấn đề ưu tiên là tiếp nhận, bố trí chỗ ở ban đầu, ổn định tâm lý tình cảm, bố trí người chăm sóc, trợ giúp Sau đó qua khám sàng lọc sức khỏe sẽ tiến đến chữa bệnh, điều trị bệnh kịp thời (nếu có), chăm sóc sức khỏe…
Xây dựng các hoạt động can thiệp: từ những thông tin thu thập được và đánh giá vấn đề cũng như các mục tiêu đã được xác định ở trên, NVQLTH cùng với TC
và người có trách nhiệm hoặc liên quan sẽ tham gia thảo luận và đưa ra những công việc cụ thể để đạt được mục tiêu đề ra
Trong kế hoạch QLTH, NVQLTH luôn cần lưu ý tới việc tổ chức huy động nguồn lực từ các thành viên gia đình, họ hàng, bà con hàng xóm, các tổ chức xã hội
Trang 21trong và ngoài cộng đồng, đặc biệt là các chương trình dự án hiện đang triển khai tại địa bàn để có thể cung cấp dịch vụ cho TC một cách tốt nhất
Tổ chức thực hiện: khi tổ chức thực hiện các hoạt động nói trên, NVQLTH
có thể trả lời những câu hỏi sau: Ai sẽ là người thực hiện hoạt động này? Cần có những nguồn lực nào, nguồn lực nào đang có và cần huy động thêm để thực hiện hoạt động này? Hoạt động này cần thực hiện trong bao lâu? Ví dụ: kế hoạch hỗ trợ trong trường hợp đối tượng NCT B với các hoạt động, người thực hiện, ngân sách
và khung thời gian: mục tiêu là xác định được bệnh và điều trị khỏi bệnh; hoạt động
là khám bệnh, liên hệ với bệnh viện để chữa trị bệnh; người thực hiện: cán bộ y tế của trung tâm; ngân sách: nguồn lực từ trung tâm, các chương trình chính sách dành cho NCT hiện có; thời gian: tùy theo mức độ bệnh tật và thời gian nằm viện của đối tượng B
Lên khung kế hoạch để thực hiện hoạt động trợ giúp TC hoặc gia đình TC
Thực hiện kế hoạch trợ giúp đối tượng
Đây là giai đoạn đưa kế hoạch đã được xây dựng thành hành động và đây cũng là giai đoạn cần nhiều thời gian nhất trong toàn bộ tiến trình QLTH Một số hoạt động triển khai thực hiện kế hoạch trợ giúp NVQLTH nhận trách nhiệm chính trong việc triển khai và giám sát mọi hoạt động của kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch
Cụ thể: kết nối, vận động nguồn lực; cung cấp dịch vụ; làm việc với các thành viên trong gia đình; làm việc với cộng đồng, làm việc với các ban, ngành, các tổ chức có liên quan…Nhằm tìm kiếm nguồn hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần và tình cảm của TC Phản hồi và nghe phản hồi về việc cung cấp dịch vụ cho TC
Trong quá trình thực hiện NVQLTH cần có thái độ quan tâm, sẵn lòng giúp
đỡ, tôn trọng, nhiệt tình, chấp nhận, chân thành và bảo mật thông tin Bên cạnh đó NVQLTH cần sử dụng một số kỹ năng: lắng nghe, tóm lược, thấu cảm, huy động nguồn lực, vãng gia với TC để có thể tạo mối quan hệ tốt nhất và hỗ trợ phù hợp nhu cầu thực tế của TC
Qua quá trình kết nối, vận động nguồn lực, hỗ trợ NCT tiếp cận, thụ hưởng các chính sách và chương trình trợ giúp xã hội NVQLTH có trách nhiệm theo dõi,
Trang 22ghi chép tiến độ và báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch trợ giúp NCT theo định kỳ
Rà soát, đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung kế hoạch trợ giúp phù hợp với nhu cầu của NCT Ghi chép tiến độ và tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch trợ giúp
Theo dõi, rà soát việc thực hiện kế hoạch trợ giúp đối tượng
Theo dõi chỉ ra tính hiệu quả và sự phù hợp của mục đích được xây dựng, tập trung vào thời gian thực hiện và phương pháp được sử dụng để đạt được mục tiêu
Rà soát: đảm bảo kết quả thu được phù hợp với nhu cầu của NCT và thu hút
sự tham gia của cả cộng đồng trong quá trình trợ giúp NCT NVQLTH cần hợp tác với NCT để xem thử các mục tiêu đã đạt được hay chưa, nhu cầu đã được đáp ứng phù hợp chưa so với kế hoạch ban đầu, đánh giá lại và xây dựng kế hoạch tương lai
Đánh giá và kết thúc quản lý trường hợp với đối tượng
Đây là phần quan trọng để chỉ ra mức độ thay đổi của TC sau khi được tiếp nhận các dịch vụ can thiệp Sau đó đưa ra kết luận cuối cùng là kết thúc trường hợp hay tiếp tục kế hoạch trợ giúp Một số đánh giá thường gặp: đánh giá sự thay đổi của TC Đánh giá sự thay đổi từ môi trường gia đình và cộng đồng Đánh giá về sự phát triển chuyên môn của NVQLTH
Nói tóm lại, NVQLTH đánh giá quá trình thực hiện trợ giúp NCT: kết quả thực hiện kế hoạch trợ giúp Mức độ đáp ứng nhu cầu của NCT Khả năng sống tốt,
tự chăm sóc sức khỏe và hòa nhập cộng đồng của NCT Mức độ phù hợp của các dịch vụ được cung cấp cho NCT Khả năng kết nối dịch vụ và các nguồn lực trợ giúp và các nội dung khác có liên quan
Căn cứ vào kết quả đánh giá quá trình thực hiện kế hoạch trợ giúp NCT mà NVQLTH đề xuất kết thúc trường hợp với NCT và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH quyết định khi TC đã đạt được mục tiêu, TC có thể sống tốt, tiếp cận được với các chính sách, chế độ, các dịch vụ trợ giúp dành cho NCT… Với những trường hợp các nhu cầu của NCT chưa được đáp ứng, các yếu tố nguy hại với NCT vẫn còn… thì trường hợp không kết thúc mà phải được đánh giá lại, phải thực lại tiến trình trợ giúp
Trang 23Khi đã kết thúc trường hợp với NVQLTH làm việc có trách nhiệm sẽ thường xuyên liên lạc với TC để xem thử TC có cần hỗ trợ thêm gì không, họ đã và đang sử dụng các dịch vụ, chính sách, nguồn hỗ trợ như thế nào? Và có thể cùng TC vạch ra
kế hoạch cho tương lai [7, tr 56]
NVQLTH thực hiện đầy đủ và có hiệu quả 5 bước của tiến trình QLTH thì kết quả mang lại: nối kết TC đến với các nguồn lực của những cá nhân và cộng đồng để họ có thể giải quyết vấn đề của mình Tăng cường khả năng tự giải quyết
và đối phó vấn đề của TC Thiết lập và thúc đẩy hệ thống cung cấp dịch vụ hoạt động hiệu quả, huy động nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của TC, góp phần cho sự phát triển và hình thành chính sách xã hội
1.2.4 Kỹ năng quản lý trường hợp đối với người cao tuổi
Trong quá trình thực hiện QLTH, NVQLTH cần có nhiều kỹ năng khác nhau, đặc biệt là các kỹ năng của CTXH, song có một số kỹ năng đặc thù trong QLTH mà họ cần phải biết, đó là một số kỹ năng:
Kỹ năng làm việc hiệu quả: đây là nhóm kỹ năng giao tiếp, thiết lập mối quan hệ và đặc biệt là các kỹ năng thúc đẩy năng lực xây dựng và phát triển khả năng tự giúp đỡ của chính bản thân TC
Kỹ năng làm việc với đa lĩnh vực: đây là nhóm các kỹ năng như: thương thuyết, vận động nguồn lực, biện hộ
Kỹ năng xác định nhu cầu của TC: đây là kỹ năng quan trọng có tính quyết định cho sự thành công của một hồ sơ QLTH Khi xác định được nhu cầu của TC một cách chính xác, bàn kế hoạch, theo đó sẽ phù hợp và hiệu quả khi đưa vào can thiệp
Kỹ năng ghi chép và lưu giữ hồ sơ một cách khoa học: đây là một kỹ năng được cho là yêu cầu bắt buộc của phương pháp QLTH Việc ghi chép và lưu trữ hồ
sơ đảm bảo sự rõ ràng, cụ thể và an toàn bộc lộ được tính chuyên nghiệp của một người quản lý
Kỹ năng huy động tài nguyên cộng đồng: kỹ năng này hỗ trợ tăng cường các
cơ hội lựa chọn để giải quyết vấn đề cho TC Kỹ năng dành quyền chủ động trong
Trang 24lập kế hoạch các dịch vụ Phát hiện và triển khai một cách sáng tạo các nguồn lực trong cộng đồng để đáp ứng nhu cầu cho thân chủ [17, tr 22]
QLTH với NCT ngoài các kỹ năng đã nêu trên cần có thêm các kỹ năng: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lượng giá các dịch vụ và chính sách dành cho NCT, kỹ năng
sử lý khủng hoảng và các sang chấn đối với NCT, kỹ năng thu thập thông tin: thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau, gợi mở, tiếp cận, kỹ năng quan sát, lắng nghe tích cực, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng phản hồi, kỹ năng biện hộ.[13, tr.54]
1.3 Các yếu tố chi phối quá trình quản lý trường hợp đối với người cao tuổi
1.3.1 Yếu tố thuộc về chính sách
NCT có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và giữ vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tiếp tục phát huy vai trò của NCT là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội, là thể hiện bản chất tốt đẹp, đạo lý, truyền thống của dân tộc ta.[22, tr 5]
Việc thực hiện chính sách đối với NCT là một việc quan trọng trong hệ thống chính sách trợ giúp xã hội vì nó thể hiện, phản ánh sự quan tâm, ý thức xã hội của Nhà nước, của cộng đồng, của thế hệ đi sau đối với thế hệ đi trước Của con cháu đối với các bậc ông bà, cha mẹ
Dân tộc Việt Nam có truyền thống “trọng lão”, điều đó không chỉ biểu hiện trong tư duy, tình cảm, phản ánh qua thơ ca, phương ngôn, tục ngữ, mà còn được ghi nhận trong cả luật nước và lệ làng
Như vậy, kính trọng, yêu quý NCT là một đặc điểm lớn trong đời sống tinh thần của người Việt Nam xưa Đó là một di sản nhân văn quý giá mà ngày nay chúng ta cần khai thác, kế thừa.” [25, tr 11]
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về NCT:
Một nét đặc trưng nổi trội, cao quý và hiếm có trong nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh là lòng yêu quý, thương yêu vô bờ bến với con người, tạo điều kiện và khuyến khích để mỗi người phát huy hết “khả năng của mình” Trong đó Bác đặc
Trang 25biệt dành lòng ưu ái cho hai đối tượng đáng được yêu thương của xã hội là người già và trẻ thơ Không chỉ kính trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhìn nhận và đánh giá cao vị trí xã hội của NCT
Trên cơ sở một nhận thức và quan điểm ở tầm văn hóa, Hồ Chí Minh yêu cầu các cấp chính quyền phải hết sức chú ý đến NCT, đáp ứng những yêu cầu và tạo cho họ những điều kiện để cống hiến tốt Với cương vị là Chủ tịch nước, Bác đề nghị các địa phương phải lập danh sách các cụ từ 80 tuổi trở lên, gửi trực tiếp cho Chính phủ Hàng năm vào dịp 1/10, Bác thường có thư, quà gửi các cụ phụ lão trong cả nước.[25, tr 14]
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về NCT:
Bắt nguồn từ nền văn hóa phương đông nói chung, nền văn hóa Việt Nam nói riêng, NCT ở Việt Nam luôn được gia đình, xã hội tôn vinh, kính trọng Chính những điều này đã giữ gìn đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta đối với NCT Đến cách mạng tháng tám, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
kế thừa và phát huy truyền thống trọng lão của ông cha Đảng và Nhà nước Việt Nam có quan điểm nhất quán về việc chăm sóc NCT và coi đây là một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước
Như vậy quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với NCT trước hết xuất phát từ vị trí, vai trò của người cao tuổi hiện nay, sự đóng góp của họ trước đây cho đất nước, đồng thời cũng là kế thừa truyền thống “kính lão, trọng thọ” tốt đẹp vốn có từ hàng nghìn năm qua của dân tộc ta [25, tr 16]
Thực hiện tốt chính sách đối với NCT sẽ góp phần đảm bảo an sinh xã hội, tạo ra một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
1.3.2 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội
Nghề CTXH là một nghề còn khá mới mẻ ở Việt Nam Trước đây chủ yếu biểu hiện ở truyền thống vốn có của dân tộc: cưu mang giúp đỡ lẫn nhau với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, hoặc “bầu ơi thương lấy bí cùng” Ở đây mang tính chất giúp đỡ đơn thuần.[13, tr.37]
Trang 26Giai đoạn sau này, việc giải quyết các vấn đề xã hội không chỉ phụ thuộc phạm vi nhà nước mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng, của gia đình và của cả bản thân đối tượng [13, tr 39]
Nội dung CTXH hiện nay của chúng ta tập trung vào các vấn đề: chính sách đãi ngộ với liệt sĩ, thương binh, những người có công với đất nước, chăm sóc nâng
đỡ những người yếu thế trong xã hội Với phương châm “Cho cần câu chứ không cho sâu cá” đã làm chuyển đổi cơ bản hình thức trợ giúp mang tính bao cấp trước đây sang hình thức trợ giúp có tham vấn nhằm giúp đối tượng tự giải quyết vấn đề Trước yêu cầu đó, với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, UNDP, CIDA và các tổ chức Save Children, CFSI, CWS… các lớp tập huấn về CTXH được triển khai nhằm trang bị kịp thời những kiến thức, kỹ năng giúp cho cán bộ trong lĩnh vực này
Năm 2000 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập hội đồng xây dựng chương trình khung CTXH với sự tham gia của các cơ sở đào tạo như trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Hà Nội), Đại học Lao động – Xã hội, Đại học Công đoàn, Đại học Mở (thành phố Hồ Chí Minh) và sự trợ giúp kỷ thuật của UNICEF cùng một số chuyên gia, tổ chức CTXH chuyên nghiệp của thế giới
Trang 27Tuy nhiên, lĩnh vực CTXH còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên giữa lý thuyết được đào tạo trong trường lớp và việc vận dụng vào thực tế trợ giúp, hỗ trợ, quá trình QLTH…đối với các đối tượng TC cụ thể khó tránh khỏi những lúng túng, những sơ xuất, những bất cập… đòi hỏi NVXH phải luôn luôn cố gắng, nỗ lực, trau dồi kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm nhiều hơn nữa để hoàn thành tốt nhiệm vụ của bản thân
Với những thay đổi trong tâm sinh lý, trong lao động, thu nhập và cả trong những mối quan hệ, NCT bị hạn chế và mất thăng bằng trong việc thực hiện một số chức năng xã hội của mình NCT trở thành một đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương
và cần sự hỗ trợ của CTXH
Vì thế vai trò của NVXH trong tiến trình trợ giúp mỗi đối tượng cụ thể cũng
có sự khác nhau Trong CTXH với NCT mà cụ thể là trong quy trình QLTH với NCT, NVXH cần thực hiện tốt các vai trò sau: biện hộ, kết nối, điều phối, người tạo điều kiện thuận lợi… Để từ đó giúp cho NCT có thêm niềm tin, tham gia tích cực vào việc nhận biết và giải quyết vấn đề của chính bản thân
1.3.3 Yếu tố thuộc về nhóm đối tượng người cao tuổi
Ngày nay, trước sự gia tăng dân số NCT đã nảy sinh nhiều ý kiến Có người cho rằng sự gia tăng dân số NCT sẽ trở thành mối lo ngại cho xã hội Người khác lại cho rằng đó là biếu hiện đáng mừng cho xã hội Thực tế, lịch sử đã chứng minh NCT vẫn có những đóng góp trong phạm vi tuổi tác của họ.[25, tr 13]
NCT Việt Nam hôm nay trong suốt cuộc đời họ đã phải trải qua những kinh nghiệm lịch sử và xã hội khốc liệt Họ được sinh ra trong xã hội bị thực dân Pháp
đô hộ, nhiều người trong số họ không kiếm được việc làm, một số bị bắt lính, phải gánh những khoản sưu thuế cho chiến tranh Một số khác suốt tuổi thanh niên, trung niên đã tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi kháng chiến chống Mỹ Bước vào tuổi già họ gặp phải những cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra trong suốt thập niên 80 thế kỷ XX, đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống mọi mặt của NCT [25,
tr 18]
Trang 28Tuy nhiên NCT ngày nay không chỉ đông về số lượng mà về chất lượng họ cũng được đào luyện về nghề nghiệp, họ là chuyên gia trong các lĩnh vực kinh tế -
xã hội, hơn thế nữa họ lại là những người có kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn Không chỉ có vậy, mà trên lĩnh vực lao động việc làm, người dân quý trọng lão nông tri điền, lão nghệ nhân với bàn tay vàng, đội ngũ công nhân lành nghề, lâu đời Xét về cơ cấu độ tuổi của dân số nước ta, chính NCT là người tích lũy nhiều nhất,
có bề dày về kinh nghiệm lao động sản xuất, ứng phó với thiên nhiên, … Ở góc nhìn này, lại càng thấy quý tri thức, kinh nghiệm lao động, kinh nghiệm sống của NCT
Tuy nhiên NCT ở Việt Nam hôm nay không chỉ có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội mà trong thực tế, NCT còn có vai trò quan trọng trong đời sống gia đình Vốn là thế hệ từng trải, suy nghĩ của các cụ thường chín chắn, thống nhất giữa lời nói và việc làm, các cụ là gương sáng về đức tính cần cù, chăm chỉ, cẩn thận, trung thực, giàu lòng vị tha… có ảnh hưởng tích cực đến con cháu ngay từ tuổi ấu thơ qua việc răn dạy con cháu trong sinh hoạt hàng ngày Bằng người thực việc thực, sống động của một thế hệ đã vào sinh ra tử qua hai cuộc kháng chiến, như ngọn lửa hồng đã trực tiếp hun đúc tinh thần anh dũng, quả cảm cho con cháu, soi rọi vào tâm hồn thế hệ trẻ khí phách anh hùng dân tộc Giáo dục thế hệ trẻ noi gương và tiếp bước cha ông xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Là thế hệ sinh ra và trưởng thành trong nền giáo dục truyền thống, chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa và triết lý phương Đông cho nên các cụ đề cao tu thân, tích thiện, tề gia, tam cương ngũ thường… Do đó giai đoạn tuổi già hầu hết các cụ càng coi trọng lối sống “cha mẹ hiền lành để đức cho con cháu”
Trong gia đình, NCT còn có vị trí như cái phanh hãm, cái bánh lái con tàu trên con đường gập ghềnh, khúc khuỷu để ngăn chặn con cháu không chệch đường Đặc biệt NCT có vai trò hết sức to lớn trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước Trong gia đình, NCT chính là khâu nối giữa quá khứ và hiện tại, là nhịp cầu cho con cháu bước vào tương lai, [25, tr 21]
Trang 29Tuy nhiên cũng có một số NCT bị lẫn tuổi già, rối nhiễu tâm trí, tính tình thay đổi Một số NCT cuộc sống nghèo khổ, trình độ học vấn bị hạn chế, khả năng giao tiếp, tự chăm sóc bản thân, khả năng nhận thức vấn đề và khắc phục vấn đề của bản thân, khả năng hợp tác, tham gia còn rất nhiều hạn chế Ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện QLTH của NVXH
1.3.4 Yếu tố thuộc về ngân sách, khả năng kết nối nguồn lực
Hằng năm nhà nước đã dành rất nhiều ngân sách cho lĩnh vực BTXH và trợ giúp xã hội để góp phần đảm bảo an sinh xã hội Giúp cho mọi người ai cũng có được một cuộc sống đàng hoàng, đúng với nghĩa của nó, nhất là những đối tượng yếu thế [20, tr 51]
Đối với NCT, ngân sách chi cho các hoạt động của hội NCT, các chính sách trợ giúp, lễ chúc thọ, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe… hằng năm chiếm rất nhiều ngân sách
Việc kết nối với các nguồn lực, dịch vụ cung cấp chương trình trợ giúp cho đối tượng cũng đang được điều phối rất mạnh mẽ Bên cạnh đó là sự tham gia vào cuộc của một số lực lượng, cá nhân, tổ chức từ thiện trong và ngoài nước… góp phần hỗ trợ ngày càng đảm bảo và kịp thời đối với các đối tượng yếu thế
Tuy nhiên trong quá trình kết nối có những lúc còn bị gián đoạn, những phối hợp, gắn kết chưa nhịp nhàng giữa các bộ ngành, các tổ chức đoàn thể, các dịch vụ CTXH, các NVXH… với đối tượng, dẫn đến nhiều trường hợp thực tế chưa được tiếp cận với chế độ và nguồn lực trợ giúp của chính sách, cộng đồng và xã hội
1.3.5 Yếu tố thuộc về cơ sở vật chất
Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, sự ổn định về chính trị, cơ sở vật chất của đất nước ngày càng hoàn thiện Nhà nước đã đầu tư nhiều cho các công trình xây dựng nhằm đảm bảo an sinh xã hội như: trường học, nhà văn hóa cộng đồng, bệnh viện… trong đó cũng có một số mô hình cơ sở vật chất kĩ thuật dành cho đối tượng NCT như:
Bệnh viện, phòng khám dành cho NCT
+ Các khoa lão khoa
Trang 30+ Các bệnh viện điều dưỡng, phục hồi chức năng
+ Bệnh viện y học cổ truyền
+ Các tuyến chăm sóc ban đầu
+ Các cơ sở y tế chuyên chăm sóc sức khỏe cho NCT [25, tr 50]
Tại các bệnh viện, khoa hay phòng khám, các giường bệnh, các trang thiết
bị được thiết kế phù hợp với NCT, các máy móc ngày càng hiện đại đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao sức khỏe và tuổi thọ cho NCT
Tuy nhiên mạng lưới y tế chuyên khoa ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa còn thiếu và yếu Những hạn chế về cơ sở vật chất đã phần nào trở thành yếu tố cản trở việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho NCT, nhất là những người thuộc hộ nghèo, cô đơn không nơi nương tựa, không nguồn thu nhập
- Nhà dưỡng lão tập trung, trung tâm chăm sóc NCT, trung tâm BTXH đã được xây mới, sữa chữa với quy mô và chất lượng, dịch vụ tốt hơn
Các nhà dưỡng lão ban ngày
Các câu lạc bộ NCT
Các trung tâm sức khỏe và giải trí cho NCT
Các phương tiện giao thông đi lại: xe buýt, các công trình công cộng…
- Các phương tiện hỗ trợ cho NCT: xe lắc, xe lăn, dụng cụ phục hồi chức năng… được đầu tư, cấp phát, hỗ trợ miễn phí cho đối tượng
Có thể thấy tất cả sự đầu tư về cơ sở vật chất, kĩ thuật của nhà nước dành cho đối tượng NCT đã góp phần vào việc nỗ lực giải quyết tốt vấn đề già hóa dân số
Tuy nhiên trong thực tế, cuộc sống rất đa dạng, hoàn cảnh, khó khăn của NCT cũng rất đặc thù Để hỗ trợ, đáp ứng tốt nhất, hiệu quả nhất cho NCT thì cần rất nhiều sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa về cơ sở vật chất kĩ thuật, trang thiết bị của Đảng và nhà nước cho lĩnh vực này
1.4 Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với người cao tuổi
1.4.1 Luật pháp và chính sách xã hội đối với người cao tuổi
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến NCT Ở Việt Nam đã có nhiều văn bản luật và dưới luật quan trọng quy định và hướng dẫn chăm sóc, hỗ trợ NCT:
Trang 31- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Điều 64
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 tại khoản 2 Điều 36
- Luật Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân đã dành một chương riêng: “ Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe NCT”
- Luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2002 tại Điều 124
- Bộ luật Dân sự tại Điều 37
- Bộ luật Hình sự năm 1999 tại Điều 151
- Luật NCT Việt Nam ban hành ngày 23/11/2009
- Chỉ thị 59/CT-TW về chăm sóc NCT
- Chỉ thị 117/CP, 1996 của Thủ tướng Chính phủ về chăm sóc NCT và hỗ trợ hoạt động cho hội NCT Việt Nam
- Pháp lệnh NCT công bố ngày 12/5/2000
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 141, năm 2004 về viẹc thành lập
Ủy ban Quốc gia về NCT Việt Nam
- Quyết định số 47, năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng quỹ chăm sóc NCT
- Quyết định số 167/TTg, ngày 8/4/1994 về việc bổ sung, sửa đổi một số chế
độ trợ cấp đối với ĐTXH
- Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 9/3/2000 về chính sách cứu trợ xã hội
- Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20/10/2003 hướng dẫn thi hành một
số điều của Pháp lệnh NCT
- Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có thông tư số 16 ngày 9/12/2002, thông tư số26 ngày 6/11/2003, thông tư số 36 ngày 26/12/2005 hướng dẫn thi hành các chính sách trợ giúp và chế đó dành cho NCT
- Chính phủ có Nghị định 168 ngày 20/9/2004, Nghị định 67 năm 2007 và mới nhất là Nghị định 136 ngày 21/10/2013 về quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng BTXH
Trang 32Có thể nói rằng hệ thống văn bản pháp luật về NCT ở Việt Nam tương đối đầy đủ, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác chăm sóc NCT
1.4.2 Cơ sở pháp lý về quản lý trường hợp đối với người cao tuổi
Nghề CTXH là một nghề hướng đến việc trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng xã hội “yếu thế” giúp họ phát triển khả năng của bản thân, gia đình cùng với cộng đồng và sự trợ giúp của nhà nước, để họ tự vươn lên hòa nhập đời sống cộng đồng Trên thế giới, đặc biệt
là các nước phát triển họ công nhận CTXH là một nghề chuyên nghiệp Ngày 25/3/2010, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020.(gọi tắt là Quyết định 32)
Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Ngay sau khi Đề án được ban hành, các Bộ, Ngành chức năng đã ban hành các văn bản quy định về tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH, chức danh, mã số các ngạch viên chức CTXH, Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg ; Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH công lập…Như vậy Quyết định
32 đã tạo ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp Đồng thời cũng tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp bộ đảng, chính quyền và xã hội về nghề CTXH
Trang 33Trong quá trình đưa CTXH nói chung và quy trình QLTH nói riêng vào việc trợ giúp, nâng cao chất lượng sống cho nhóm đối tượng yếu thế của
xã hội thì Thông tư số 01/2015/TT-BLĐTBXH đã ra đời để nhằm hướng dẫn
về QLTH với đối tượng cần sự trợ giúp xã hội Trên cơ sở và hướng dẫn của thông tư NVXH đã vận dụng vào với từng trường hợp thân chủ của mình giúp họ có được cuộc sống ngày càng ổn định hơn góp phần đảm bảo an sinh, công bằng xã hội
Đề tài đã xác định được các khái niệm trọng tâm:
Khái niệm NCT: theo quan điểm của CTXH với đặc thù là một nghề trợ giúp
xã hội, CTXH nhìn nhận về NCT như sau: NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động, thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống
Do đó, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của cộng đồng
Khái niệm QLTH: là một quá trình trợ giúp của CTXH, bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu TC (cá nhân, gia đình), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp TC tiếp cận với các nguồn lực để giải quyết vấn đề của TC một cách hiệu quả
Khái niệm QLTH với NCT: là một quá trình tổ chức dịch vụ giúp đỡ TC (là
cá nhân và gia đình NCT) giải quyết khó khăn của họ một cách hiệu quả Trong quá trình này, NVXH làm nhiệm vụ kết nối và điều phối các dịch vụ tâm lý xã hội để chăm sóc, giúp đỡ TC có thể tiếp cận các dịch vụ và sử dụng chúng để vượt qua
Trang 34những khó khăn về thể chất, tâm lý, sức khỏe, các bệnh tật tuổi già và giúp họ phục hồi, phòng chống các vấn đề khó khăn có thể xảy ra
Đề tài đã xác định được các hoạt động trọng tâm trong quy trình QLTH với NCT Gồm 5 bước:
- Thu thập thông tin và nhu cầu của NCT
- Xây dựng kế hoạch trợ giúp NCT
- Thực hiện kế hoạch trợ giúp NCT
- Theo dõi, rà soát việc thực hiện kế hoạch trợ giúp NCT
- Đánh giá và kết thúc QLTH với NCT [7, tr 74]
Cơ sở lý luận liên quan đến QLTH đối với NCT
Các yếu tố chi phối đến QLTH đối với NCT:
Yếu tố thuộc về chính sách
Yếu tố thuộc về nhân viên CTXH
Yếu tố thuộc về nhóm đối tượng NCT
Yếu tố thuộc về ngân sách, khả năng kết nối nguồn lực
Yếu tố thuộc về cơ sở vật chất
Cơ sở pháp lý về QLTH đối với NCT
Tiếp theo, chúng ta hãy cùng đến với những vấn đề cụ thể trong quá trình thực hiện QLTH với NCT từ thực tiễn trung tâm BTXH Bình Định ở phần chương
2 để làm sáng tỏ hơn nội dung của đề tài
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI BÌNH ĐỊNH 2.1 Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Bình Định và tình hình Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối với người cao tuổi
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Bình Định
Vị trí địa lý
Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam Lãnh thổ của tỉnh trải dài
110 km theo hướng Bắc - Nam, diện tích tự nhiên: 6.025 km², diện tích vùng lãnh hải: 36.000 km²
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, điểm cực Bắc có tọa độ:14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông
Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực Nam có tọa độ:13°39'10 Bắc, 108°54'00 Đông
Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, điểm cực Tây có tọa độ:14°27' Bắc, 108°27' Đông
Phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã
Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Qui Nhơn, có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông
Địa hình
Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, với độ
chênh lệch khá lớn (khoảng 1.000m) Các dạng địa hình phổ biến là: Vùng núi, đồi
và cao nguyên: chiếm 70% diện tích toàn tỉnh với độ cao trung bình 500 - 1.000m,
đỉnh cao nhất là 1.202m ở xã An Toàn (huyện An Lão)
Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp
Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy
núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía
Trang 36tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha, có độ cao dưới 100m,
độ dốc tương đối lớn từ 10° – 15°
Vùng đồng bằng: Diện tích khoảng 1.000 km², được tạo thành do các yếu tố
địa hình và khí hậu, thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi
Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy
dọc ven biển với hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian
Bình Định còn có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ, trong đó đảo Nhơn Châu là đảo lớn nhất (364 ha) cách TP Quy Nhơn 24 km, có trên 2.000 dân Ngoài các vùng địa hình đặc trưng nói trên, Bình Định có khá nhiều sông
Khí hậu
Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa
Cấu tạo địa chất, địa hình, khí hậu làm cho Bình Định tuy không có đồng bằng rộng lớn nhưng có đồng ruộng phì nhiêu, đa dạng về sản phẩm nông, lâm, ngư… nhiều tài nguyên khoáng sản và tiềm năng thuỷ điện
Tổ chức hành chính
Bình Định có thành phố loại I trực thuộc tỉnh (thành phố Quy Nhơn), một thị
xã (An Nhơn), 3 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh và Vĩnh Thạnh), 2 huyện trung du (Hoài Ân,Tây Sơn), 4 huyện đồng bằng (Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Tuy Phước) Toàn tỉnh có 159 xã, phường và thị trấn Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Quy Nhơn
Dân số
Dân số tỉnh đang có xu hướng giảm cơ học, theo kết quả điều tra chính thức ngày 01/4/2009, dân số tỉnh Bình Định có 1.485.943 người, trong đó thành thị chiếm 25%, nông thôn chiếm 75%, mật độ 247 người/km² Ngoài dân tộc Kinh, còn
có gần 40.000 các dân tộc khác cùng chung sống, nhưng chủ yếu là 3 dân tộc Chăm,
Ba Na và Hrê sinh sống ở các huyện miền núi và trung du
Kinh tế - xã hội
Với đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, dân số và kinh tế xã hội nêu trên ngoài những mặt thuận lợi, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn: Bình
Trang 37Định là một trong nhiều địa phương chịu nhiều hậu quả nặng nề của chiến tranh Là
nơi thường xảy ra bão, lũ lụt, thiên tai, hạn hán…Khoảng cách giữa đồng bằng và
miền núi còn khá xa Bình Định có 4 huyện miền núi và một số xã ven biển, kinh tế
ở một số địa phương này phát triển thấp, số hộ nghèo và cận nghèo còn chiếm tỉ lệ
cao, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo, các dịch vụ, nguồn lực hỗ trợ
cho người dân mà nhất là đối với đối tượng có nhu cầu và thuộc diện được hưởng
trợ cấp xã hội có những nơi chưa đến được với người dân, họ chưa tiếp cận được
trong đó có nhóm NCT
2.1.2 Khái quát tình hình Trung tâm Bảo trợ xã hội Bình Định Giới thiệu và lịch sử hình thành của cơ sở:
Tên cơ sở : Trung tâm BTXH Bình Định
Địa chỉ: 78 Ngô Đức Đệ, phường Bình Định, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
Cơ quan chủ quản: Sở LĐTBXH tỉnh Bình Định
Lịch sử hình thành Trung tâm BTXH Bình Định:
Trung tâm BTXH tỉnh Bình Định là một đơn vị sự nghiệp công lập trực
thuộc Sở LĐTBXH Bình Định, được UBND tỉnh Bình Định ra quyết định thành lập
số: 933/QĐ-UB, ngày 09 tháng 6 năm 1992 trên cơ sở tiếp quản, cải tạo, nâng cấp
khu điều dưỡng thương binh nặng tỉnh Nghĩa Bình Trước ngày giải phóng nơi đây
là Cô nhi viện Kim Châu của thiên chúa giáo Sau 2 năm sửa chữa, cải tạo, xây
dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ Đến tháng 10/1994, trung tâm
chính thức đi vào hoạt động, đầu tiên tiếp nhận 40 đối tượng xã hội từ trại xã hội
Phù Mỹ chuyển đến Từ đó đến nay trung tâm tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng
thường xuyên từ 110 đến 120 đối tượng xã hội gồm: NCT cô đơn không nơi nương
tựa, người khuyết tật và trẻ mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không nơi
nương tựa Từ năm 2003 đến nay trung tâm còn tiếp nhận thêm đối tượng lang
thang xin ăn được thu gom theo đề án của tỉnh (số người thu gom cũng được phân
theo 3 diện nêu trên)
Chức năng và nhiệm vụ:
Trung tâm BTXH Bình Định được thành lập nhằm đáp ứng nhu về trợ giúp,
quản lý và nuôi dưỡng với những đối tượng có hoàn cảnh đặt biệt khó khăn, yếu thế
Trang 38trong xã hội như: những trẻ em mồ côi, lang thang, trẻ khuyết tật, NCT không nơi nương tựa Đồng thời, trung tâm trợ giúp cho những đối tượng vượt lên chính mình trong xã hội, tăng năng lực và giúp cho đối tượng thích ứng với môi trường xã hội khi đã trưởng thành hòa nhập cộng đồng
Đối tượng sử dụng dịch vụ tại Trung tâm:
Trung tâm thường xuyên tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng những đối tượng
xã hội bao gồm:
+ NCT cô đơn không nơi nương tựa
+ Người khuyết tật, trẻ em khuyết tật bị bỏ rơi
+ Trẻ em mồ côi (01 trường hợp trẻ em bị nhiễm HIV)
Số lượng giao động từ 100 đến 110 đối tượng Hiện nay số lượng đối tượng đang chăm sóc cụ thể như sau:
Bảng 2.1: Số lượng đối tượng xã hội
Tổ chức nhân sự của Trung tâm
Trung tâm BTXH là đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện quyền tự chủ về tổ chức, bộ máy, biên chế tài chính, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng
- Phòng Nghiệp vụ gồm: cấp dưỡng, quản lý hồ sơ Gồm 05 người
- Phòng Giáo dưỡng gồm: gồm 09 người
Trang 39- Phòng Y tế gồm : y tế, hộ lý và vật lý trị liệu Gồm 10 người
Về trình độ chuyên môn:
Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn của cán bộ nhân viên
Kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn
Công tác tiếp nhận, quản lý giáo dục
Từ ngày chính thức đi vào hoạt động đến nay, Trung tâm đã tiếp nhận 402 đối tượng từ địa phương đưa đến
Với những đối tượng mới vào trung tâm kịp thời ổn định về tâm lý, tạo được
sự cân bằng, giảm mặc cảm, tự ty giúp họ nhận thấy được sự an toàn, được đùm bọc trong tình yêu thương, các cháu được học tập, giáo dục để phát triển trí tuệ, hình thành nhân cách Với NCT xem trung tâm như mái ấm cuối cùng để gắn bó đến cuối cuộc đời Từ đó thể hiện nhân cách “ông bà mẫu mực”, mẫu mực trong chấp hành nội quy, quy định, trong đời sống sinh hoạt thường nhật cho các cháu noi theo
Thường xuyên giáo dục pháp luật, nội quy, quy định của cơ quan, xây dựng tinh thần tự quản, ý chí vươn lên của đối tượng Kịp thời chấn chỉnh những việc làm không đúng, suy nghĩ sai lệch, xích mích, cãi vã trong sinh hoạt hàng ngày
Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
- Về chế độ ăn :
Đối tượng ở trung tâm được bố trí ăn ngày ba bữa đúng giờ giấc Từ tháng 7/2008 trở về trước mức sinh hoạt phí thực hiện theo quy định của Nhà nước từng giai đoạn với mức tiền cụ thể Tuy nhiên còn rất thấp so với giá cả thị trường Để
Trang 40khắc phục tình trạng trên, cơ quan và công đoàn vận động cán bộ nhân viên, huy động đối tượng còn khỏe và các cháu tích cực tăng gia sản xuất: trồng rau xanh, chăn nuôi gia súc gia cầm…góp phần cải thiện chất lượng bữa ăn cho đối tượng
Từ tháng 8/2008, UBND tỉnh quy định định lượng lương thực phẩm chủ yếu tối thiểu/người/tháng Mức trợ cấp (sinh hoạt phí) bằng định lượng, luôn luôn được đảm bảo dinh dưỡng không thấp hơn mức tối thiểu
Từ tháng 7/2015 thực hiện Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng BTXH và Quyết định 2357/QĐ-UBND ngày 02/7/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định trung tâm đã tổ chức thực hiện cho đối tượng ăn theo chế độ Chất lượng bữa ăn được cải tiến, sức khỏe của đối tượng được nâng lên
Bên cạnh đó, trung tâm còn bổ sung dinh dưỡng cho đối tượng bằng cách cho ăn tươi vào các dịp lễ, kỷ niệm hay khi thời tiết khắc nghiệt và bánh kẹo, mỳ gói của từ thiện cho Cố gắng đảm bảo cho cuộc sống của đối tượng ngày càng ổn định hơn so với mặt bằng chung của xã hội
- Về trang phục: thực hiện cấp phát quần áo, vật dụng sinh hoạt đúng theo
quy định của nhà nước Ngoài ra qua việc tổ chức dạy nghề may dân dụng cho các cháu vào dịp nghỉ hè, sản phẩm may được cấp thêm cho đối tượng
Việc bố trí nơi ở và trang bị dụng cụ sinh hoạt, học tập
Trên cơ sở được trang bị các công trình nhà ở, công trình phụ trợ, trung tâm
bố trí nơi ở phù hợp theo từng diện đối tượng tiện ích cho sinh hoạt, học tập
Tuy điều kiện công trình nhà ở cho đối tượng chưa đồng nhất, nhiều cấu trúc, diện tích khác nhau (do tận dụng công trình cũ) nhưng với sự sắp xếp khoa học Nhìn chung việc ăn, ở và trang bị đồ dùng sinh hoạt cho đối tượng tại trung tâm rất
ổn định, tiện nghi phù hợp
Công tác chăm sóc y tế, trợ giúp sinh hoạt cho đối tượng
Về sức khỏe đối tượng: do tình trạng thiếu thốn khi còn ở ngoài cộng đồng nên đa số đối tượng khi vào trung tâm đều có sức khỏe yếu, chậm hồi phục Nhiều