1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi, từ thực tiễn tại Trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp Thành phố Hồ Chí Minh

103 997 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện nghiên cứu với đề tài “Dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi, từ thực tiễn tại Trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp Thành phố Hồ C

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN QUÂN

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TÂN HIỆP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHẠM TRƯỜNG GIANG

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu với đề tài “Dịch vụ công tác xã hội

cho người cao tuổi, từ thực tiễn tại Trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp Thành phố Hồ Chí Minh”, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ,

động viên nhiệt tình của Cán bộ, Nhân viên công tác xã hội tại trung tâm Trung tâm, các thầy cô và bạn bè

Để hoàn thành nghiên cứu này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn các thầy

cô trong khoa Công tác xã hội Học viện Khoa học xã Hội Các Thầy cô giảng dạy tại học Viện xã hội Châu Á.Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Phạm Trường Giang đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu này Bên cạnh đó, tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn tới Ban giám đốc, cán bộ nhân viên và kiểm huấn viên cũng như người già đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp, đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên nghiên cứu này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong sự góp ý của các thầy cô, các bạn và những người quan tâm đến nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.Phạm Trường Giang

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 12 1.1 Lý luận về người cao tuổi 12 1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi 14 1.3 Các yếu tố tác động đến dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi

24 1.4 Cơ sở pháp lý của dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi 29

NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TÂN HIỆP 33

2.1 Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu 33 2.2 Thực trạng dịch vụ CTXH đối với NCT tại Trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Tân Hiệp 40 2.3 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với Người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Tân Hiệp 52

HIỆU QUẢ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TÂN HIỆP 58

3.1 Định hướng phát triển 58 3.2.Giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vu công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung Tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với những nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần, phần lớn người cao tuổi có nhu cầu trang bị thêm những kiến thức cần thiết để tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân, nhất là những người cao tuổi cô đơn Các bệnh mà người cao tuổi thường mắc là bệnh mãn tính Có 4 nhóm bệnh thường gặp nhiều nhất ở người cao tuổi là: nhóm bệnh cơ xương khớp,nhóm bệnh đường hô hấp ,nhóm bệnh tim mạch,và nhóm bệnh về tiêu hóa.Ngoài các bệnh trên, các triệu chứng giảm trí nhớ, mất trí nhớ, loạn thần đang tăng lên.Chính vì vậy, nhu cầu về cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi nói chung hiện nay là rất lớn

Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp là nơi tiếp nhận, quản lý và nuôi dưỡng các đối tượng người lang thang sinh sống nơi công cộng, người xin ăn sinh sống nơi công cộng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, trong đó đa số người cao tuổi có thời gian ở lâu năm Khó khăn hiện nay về nguồn lực để hỗ trợ cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ Xã hội Tân Hiệp là ứng dụng việc quản lý trường hợp, quản lý ca và các dịch dịch xã hội khác…Cho nên việc nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi để có những giải pháp tạo ra những chuyển biến về chất trong công tác xã hội với NCT nhằm đáp ứng nhu cầu và sự phát tiển của đất nước trở thành nhiệm vụ cấp thiết

Phần lớn cán bộ trung tâm làm việc theo kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa cao, chưa đáp ứng so với chuyên môn nghiệp vụ của ngành CTXH

Trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao còn nặng về công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng Trình độ chuyên môn về CTXH của cán bộ nhân viên còn hạn chế Mới chỉ được đào tạo ở trường lớp, với những trường hợp cụ thể vừa thực hiện, vừa rút kinh nghiệm

Từ những thực tế trên, tôi chọn đề tài “ Dịch vụ công tác xã hội đối với

người cao tuổi từ thực tiễn của Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp” để làm luận

văn thạc sĩ Trên cơ sở nghiên cứu thực tế tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp

Trang 7

2

để có thể hiểu rỏ hơn việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho NCT tại trung tâm

và đưa ra giải pháp để trợ giúp cho người cao tuổi tại Trung tâm được toàn diện hơn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước về người cao tuổi

Theo Bùi Thế Cường trong cuốn sách “ Trong miền an sinh xã hội – những

nghiên cứu về người cao tuổi Việt Nam” xuất bản năm 2005, nghiên cứu người cao

tuổi trong nghiên cứu xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1970, các nhà y khoa là những người đầu tiên khai phá lĩnh vực nghiên cứu y học về người cao tuổi Năm 1970, thành lập chương trình Nghiên cứu Y học Tuổi già và mười năm sau trở

thành đơn vị nghiên cứu Y học Tuổi già của Bộ Y tế

Năm 1977, chương trình nghiên cứu y học người cao tuổi do Phạm Khuê chỉ đạo thực hiện cuộc khảo sát lớn đầu tiên về sức khỏe người cao tuổi trên một mẫu gồm 13.399 người từ 60 tuổi trở lên ở phía Bắc Cuộc khảo sát tập trung cung cấp một bức tranh dịch tễ học về bệnh tật và sức khỏe của người cao tuổi miền Bắc Tháng 9 năm 1984, Bệnh viện Việt Xô đã tiếp tục tìm hiểu sức khỏe và đời sống của người cao tuổi thông qua khảo sát các cụ nghỉ hưu Hà Nội Vào thời điểm giữa hai thập niên 1980 và 1990, các bác sĩ lão khoa tiến hành một cuộc khảo cứu với bảng hỏi có tham khảo chương trình nghiên cứu do Tổ chức Y tế Thế giới tiến hành

ở vùng Tây Thái Bình Dương, đánh dấu bước tiến về nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam trong lỗ lực hội nhập thế giới Các kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết người cao tuổi có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phải làm thêm nhiều việc để tăng thu nhập

Năm 1989, những nghiên cứu dân số và lao động về tuổi già bắt đầu với một báo cáo quan trọng về người cao tuổi theo yêu cầu của ESCAP được hoàn thành Đây là báo cáo dân số học đầu tiên về tuổi già Việt Nam được giới thiệu ra quốc tế Tiếp sau đó là những khảo sát của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về người cao tuổi, những khảo sát là công cụ quan trọng của quá trình làm chính sách Có thể

kể đến nghiên cứu của Trịnh Văn Lễ về người nghỉ hưu, tác giả chỉ ra chế độ bảo

Trang 8

3

hiểm xã hội đối với người nghỉ hưu hình thành rất sớm từ 1950.Đến đầu năm 1991, Viện bảo vệ sức khỏe người cao tuổi có chủ trì một hội thảo lớn về lão khoa xã hội.Các công trình giới thiệu và được xuất bản.Đây là mốc quan trọng cho nghiên cứu xã hội học người cao tuổi

Năm 1983, trong khuôn khổ một chương trình nghiên cứu quốc gia về nhà ở, một nhóm nhà xã hội học tiến hành khảo sát thực nghiệm về đời sống người nghỉ hưu nội thành Hà Nội về các vấn đề như: Trách nhiệm gia đình, Làm thêm, Giúp đỡ gia đình, con cái, Uy tín trong gia đình,… Tiếp đó là nghiên cứu thực nghiệm về người cao tuổi tại làng An Điền (Hải Hưng) giữa năm 1991 với nhiều phát hiện mới

về người cao tuổi dùng làm chỉ dẫn cho những nghiên cứu tiếp theo Giữa năm

1993, một khảo sát trong khuôn khổ dự án của ESCAP “Phát triển chính sách cấp

địa phương để người cao tuổi tham gia vào quá trình phát triển” mở ra hướng

nghiên cứu xã hội học tham gia

Trong những năm 1990, chương trình nghiên cứu người cao tuổi ở Viện xã hội học đưa ra một dự kiến khá tổng quát, muốn tìm hiểu vấn đề từ các góc độ nghiên cứu lịch sử và thực nghiệm đối với hoàn cảnh sống cũng như thể chế an sinh

xã hội của người cao tuổi Chương trình được biết đến với tên gọi “ Nghiên cứu tuổi

già và người cao tuổi” (Aging and Adults Reseach, IOS – AAR)

Đầu năm 1990, nhóm người về hưu từ khu vực nhà nước chiếm khoảng ¼ tổng số người cao tuổi.Vì vậy, để tài về hưu một lần nữa được quan tâm.Một phân tich thống kê về nhóm người về hưu được thực hiện vào năm 1992 với sự giúp đỡ của Vụ Bảo trợ Xã hội.Phân tich chủ yếu nhấn mạnh đến cơ cấu nhóm hưu trí, những phân bố không đồng đều và tuổi về hưu Sau những nghiên cứu thăm dò ở Hải Hưng và Hà Nội, năm 1993, một cuộc khảo sát đã được thực hiện tại Hải Hưng nhằm thu thập dữ liệu về đời sống người cao tuổi

Như vậy trong thập niên 1980 người cao tuổi ở Hà Nội đã được các nhà y khoa và xã hội học nghiên cứu khá nhiều Mười năm sau, AAR tiến hành hai cuộc điều tra định lượng ở Hà Nội vào các năm 1993 và 1994 nhằm tìm hiểu các vấn đề giúp đỡ gia đình người cao tuổi như: mạng lưới thân thuộc, được lắng nghe, giúp đỡ

Trang 9

giả như Nguyễn Phương Lan “Tìm hiểu đời sống văn hóa người cao tuổi” dưới góc

độ văn hóa học, Nguyễn Trung Nghĩa với khóa luận Xã hội học “ Tìm hiểu đời sống

văn hóa tinh thần của cán bộ công nhân viên hưu trí” tại Thành phố Hồ Chí Minh

Kết quả các nghiên cứu cho thấy, tham gia các hoạt động văn hóa tinh thần là nhu cầu cấp thiết đối với người cao tuổi

Trước hiện tượng già hóa dân số mới xuất hiện trong thế kỷ XX và trước những thách thức của vấn đề già hóa dân số cho việc phát triển KT-XH và an sinh xã hội, các nghiên cứu dân số NCT đã được tiến hành từ những năm 50 của thế kỷ

XX tại các quốc gia phát triển, đã chuyển sang giai đoạn “Già hóa dân số” [33] Nhiều viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội đã nghiên cứu NCT trên phương diện, đặc biệt là những đặc điểm tâm lý và sinh lý của lứa tuổi Thời gian đó chủ yếu là các tài liệu, bài viết và các công trình nghiên cứu về người NCT đều nhằm mục đích là chăm sóc NCT nói chung và chăm sóc sức khoẻ NCT nói riêng

Tại Việt Nam, vấn đề NCT cũng đã được quan tâm chú ý như thông tin về NCT trong các cuộc Tổng điều tra dân số, các nghiên cứu như:

- Nghiên cứu “Hoàn cảnh của Người cao tuổi nghèo ở Việt Nam” năm 2001: do Help Age International phối hợp với Hội Người cao tuổi Việt Nam, Bộ LĐ-TB-XH, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Viện Xã hội học và Trung tâm nghiên cứu Hỗ trợ Người cao tuổi thực hiện Nghiên cứu được tiến hành tại 1 thôn tại 5 tỉnh/thành phố: TP Hồ Chí Minh, Lào Cai, Sóc Trăng, Ninh Thuận và Phú Yên Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề: Định nghĩa về tuổi già và thái độ của xã hội đối với NCT; Các phương kế mưa sinh và đóng góp của NCT; Khó khăn và mối quan tâm chủ yếu của NCT và hệ thống hỗ trợ NCT

- Nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc trưng của NCT và đánh giá mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang áp dụng” năm 2005 của Ủy ban DS-GĐ-

Trang 10

5

TE Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề: Hệ thống hoá tình hình chung về NCT trong và ngoài nước, đánh giá thực trạng về NCT ở Việt Nam; Tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số mô hình chăm sóc sức khoẻ NCT đang áp dụng Trên cơ

sở đó đề xuất một số giải pháp về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng Nghiên cứu được tiến hành điều tra thực địa tại tại 2 huyện của tỉnh Thái Bình Mỗi huyện, thị chọn 2 xã, phường hoặc thị trấn để bổ trợ cho kết quả xử lý số liệu thứ cấp thuộc phạm vi điều tra cơ bản của Hội Người cao tuổi tiến hành

- Nghiên cứu “Khảo sát thu thập xử lý thông tin về NCT” năm 2007 do Bộ LĐ-TB-XH phối hợp Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi Việt Nam thực hiện Nghiên cứu được tiến hành tại 8 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề: Đánh giá thực trạng vị thế và đời sống NCT ở Việt Nam; Đánh giá thực trạng việc thực hiện các chương trình/chính sách về NCT Trên cơ đó đề xuất một

số giải pháp về chính sách nhằm phát huy vai trò và nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT

- Các nghiên cứu điều tra về thực trạng người cao tuổi Việt Nam (2004), người cao tuổi từ 80 tuổi (2009) do Viện nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam (Thuộc Hội Người cao tuổi Việt Nam) thực hiện Các nghiên cứu, điều tra cơ bản nhằm phân tích kết quả thực trạng NCT Việt Nam đưa ra các kiến nghị nhằm phát huy tài năng, trí tuệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Gần đây nhất là Nghiên cứu “Nghiên cứu, điều tra cơ bản thực trạng sức khỏe, bệnh tật của Người cao tuổi Việt Nam” năm 2009 do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam (Hội Người cao tuổi Việt Nam) thực hiện Nghiên cứu được tiến hành 2 huyện thị tại mỗi tỉnh: Sơn La, Quảng Nam, Đồng Nai, Cần Thơ, Đắk Nông và Ninh Bình Nghiên cứu tập trung vào vào mục tiêu tổng quan sức khỏe và bệnh tật của NCT, thực trạng sức khỏe của NCT Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách

- Luận án “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống người cao tuổi và thử nghiệm giải pháp can thiệp ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương” của Dương Huy Lương (2010) nhằm đánh giá thực trang chất lượng cuộc sống và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống NCT tại 4 xã ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũng như thử

Trang 11

Có thể thấy, rất nhiều các nghiên cứu về NCT thời gian trước và gần đây mới chỉ thu thập thông tin về NCT, các nghiên cứu tập trung vào một số đặc thù về NCT hoặc nghiên cứu NCT ở một số địa bàn đặc thù nhằm đưa ra thực trạng về NCT và khuyến nghị về chăm sóc NCT

Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện về NCT, cung cấp dịch vụ CTXH cho NCT

và nhất là chất lượng dịch vụ là một hướng đi mới, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn góp phần vào việc thực hiện Luật Người cao tuổi đã được ban hành

3 Mục đích & nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về người cao tuổi, dịch vụ CTXH đối với người cao tuổi Nghiên cứu thực trạng dịch vụ CTXH đối với người cao tuổi tại Trung Tâm BTXH Tân Hiệp

Trên cơ sở phân tích và nhận định về vấn đề, luận văn đưa ra kết luận và một

số đề xuất góp phần nâng cao dịch vụ CTXH đối với người cao tuổi tại Trung Tâm

Luận văn được nghiên cứu nhằm thực hiện một số mục đích cơ bản:

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cung cấp dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ CTXH cho NCT sống tại Trung Tâm BTXH Tân Hiệp

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng về cung cấp dịch vụ CTXH, chất lượng dịch vụ cho NCT dang được nuôi dưỡng tại các Trung Tâm BTXH.Tập trung nghiên cứu, phát hiện các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế trong việc cung cấp dịch

vụ

Đề xuất phương hướng, một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ CTXH cho NCT Việt Nam trong các năm tới

Trang 12

7

Luận văn tiếp cận việc cung cấp dịch vụ CTXH đối với NCT là đáp ứng các nhu cầu cơ bản của NCT trong cuộc sống để NCT sống vui, sống khỏe và sống có ích Nghiên cứu đánh giá thực trạng đáp ứng dịch vụ CTXH cho NCT toàn diện trên

3 nội dung chăm sóc (Sức khỏe, vật chất và tinh thần)

3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cung cấp dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ CTXH cho NCT sống tại Trung Tâm BTXH Tân Hiệp

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng về cung cấp dịch vụ CTXH, chất lượng dịch vụ cho NCT dang được nuôi dưỡng tại các Trung Tâm BTXH.Tập trung nghiên cứu, phát hiện các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế trong việc cung cấp dịch

3 nội dung chăm sóc (Sức khỏe, vật chất và tinh thần)

4 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là “dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tại Trung Tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp Thành phố Hồ Chí Minh”

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung:

Nghiên cứu chỉ tập trung vào tìm hiểu về nhu cầu của người già cô đơn tại Trung tâm bảo trợ xã hội, những khó khăn và trở ngại trong việc cung cấp dịch vụ

và vai trò can thiệp của Nhân viên công tác xã hội

Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm bốn dịch vụ công tác xã hội cụ thể như sau:

Trang 13

Đề tài tập trung nghiên cứu 20 người cao tuổi và 10 cán bộ,nhân viên

- Phạm vi không gian:

Khảo sát tại Trung Tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp

- Phạm vi thời gian:

Thời gian khảo sát, nghiên cứu từ năn 2011 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận chung là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Công tác xã hội là một ngành khoa học xã hội, có nền tảng là triết học Mác – Lênin, do đó mọi phương pháp tiếp cận vấn đề của khoa học này đều dựa trên nền tảng là phương pháp luận khoa học cơ bản nhất

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:

Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Nhiều tài liệu, báo cáo, sách, tạp

chí chuyên ngành trên tư liệu sách báo và Internet liên quan đến nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ đối với NCT và các chính sách về NCT được thu thập Các tài liệu này được tổng hợp, phân tích để làm rõ thực trạng chất lượng chăm sóc NCT trên các nội dung chăm sóc về sức khỏe, vật chất, tinh thần và phát huy vai tròNCT, đưa ra các hạn chế và phân tích nguyên nhân chính của các hạn chế.Nghiên cứu các mô hình cung cấp dịch vụ CTXH cho NCT của cả nước, đồng thời phân tích những khả năng và điều kiện cần thiết để có thể tham khảo, vận dụng thành công những kinh nghiệm, mô hình cung cấp dịch vụ cho NCT tại Trung Tâm

Trang 14

9

Phương pháp phỏng vấn sâu:

Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp Người điều tra đặt câu hỏi cho đối tượng khảo sát, sau đó ghi vào phiếu hoặc sẽ tái hiện nó vào phiếu sau khi kết thúc cuộc phỏng vấn, hoặc người phỏng vấn ghi âm lại cuộc phỏng vấn sau đó nghe lại và phân tích thông tin thu được Ở đây người phỏng vấn và đối tượng khảo sát tiếp xúc trực tiếp với nhau

Phỏng vấn sâu không nhằm đo lường tần số, tỷ lệ hay mối liên quan giữa các biến số mà chỉ giúp góp phần xác định lại và bổ sung thêm thông tin trong phần nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với

20 NCT hiện đang sống tại Trung tâm Việc chọn mẫu được tiếnhành theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Rà soát lập danh sách tất cả NCT hiện đang sống tại Trung tâm căn cứ theo sổ theo dõi NCT của Trung tâm.Đánh số thứ tự NCT trong danh sách.Lấy ngẫu nhiên một trong hai nguời đầu tiên Tiếp đó cứ cách 1 người tiếp theo trong danh sách lại chọn một người cho đến khi đủ cỡmẫu 20 người

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Với mục đích tìm hiểu thực tế để nâng cao hiệu quả trong quá trình nghiên cứu Những thông tin thực nghiệm thu được từ thực tế sẽ đóng góp thêm vào nguồn tham khảo cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận của công tác xã hội ở khía cạnh

hỗ trợ các dịch vụ xã hội cho người cao tuổi

Vận dụng sự hiểu biết về an sinh xã hội và các chính sách xã hội, đề tài đi sâu vào nghiên cứu, đánh giá về các dịch vụ công tác xã hội của Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp Đó là sự ứng dụng các kiến thức, kỹ năng công tác xã hội đã lĩnh hội được vào thực tế để làm phong phú thêm kho tàng nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội

Đồng thời dưới góc độ tiếp cận các lý thuyết công tác xã hội đặc biệt là lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu, lý thuyết vai trò, bằng nhiều biện pháp thu thập

và phân tích thông tin, đặc biệt là phương pháp điều tra nằng bảng hỏi, phiếu khảo sát trưng cầu ý kiến và phương pháp phỏng vấn sâu dành cho người cao tuổi và nhân viên công tác xã hội, nghiên cứu góp phần làm sáng tỏa các lý thuyết, kiến

Trang 15

10

thức cũng như phương pháp kỹ năng thực hành công tác xã hội được sử dụng trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, tái hòa nhập cộng đồng cho đối tượng tại Trung tâm bảo trợ Xã hội Tân Hiệp Qua đó đánh giá mức độ và khả năng ứng dụng của các lý thuyết, kiến thức, kỹ năng công tác xã hội trong xây dựng mô hình cung cấp dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam.Thông qua quá trình nghiên cứu, góp phần giúp người nghiên cứu kiểm nghiệm mức độ phù hợp của các lý thuyết, phương pháp tiếp cận và kỹ năng công tác xã hội trong hoàn cảnh cụ thể tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu sau này về lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu các quy trình hoạt động công tác xã hội của Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp nơi nuôi dưỡng đối tượng người lang thang cơ nhỡ không nơi nương tựa sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, giúp người làm công tác xã hội có cái nhìn về các hoạt động cung cấp dịch vụ cho đối tượng tại trung tâm trong công tác trợ giúp đối tượng yếu thế để giúp các đối tượng thấy rõ những tồn tại, hạn chế cơ bản trong hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội Từ đó nghiên cứu đề xuất giải pháp xây dựng mô hình công tác xã hội chuyên nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Bảo trợ xã hội

Nghiên cứu cũng giúp hệ thống hóa các chính sách, hoạt động trong công tác trợ giúp các đối tượng yếu thế.Từ đó, kiểm nghiệm sự phù hợp cũng như đánh giá

ưu và nhược điểm của các chính sách và hoạt động bảo trợ đang được áp dụng tại các trung tâm BTXH Thông qua sự kiểm nghiệm và đánh giá, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị để nâng cao hiệu quả trong công tác cung cấp dịch vụ đối với người cao tuổi tại trung tâm cũng như cộng đồng

Dưới góc độ tiếp cận của các lý thuyết, phương pháp công tác xã hội, nghiên cứu góp phần làm thay đổi nhận thức của cán bộ nhân viên đang làm công tác xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ quan quản lý, đối tượng Nghiên cứu giúp họ nhận thức đúng về hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp, ý thức được vai trò của mình trong các hoạt động đó.Đó là nhân tố quyết định đảm bảo cho hoạt động

Trang 16

về sức khỏe, vấn đề tinh thần, giao thông, y tế, vui chơi – giải trí đối với người cao tuổi cũng được quan tâm một cách toàn diện Chăm lo cho cuộc sống người cao tuổi

là một trong những nhiệm vụ quan trọng không chỉ của cá nhân, gia đình mà toàn xã hội Vì vậy, kết quả nghiên cứu sẽ là một gợi ý để nhận thức rõ hơn về người cao tuổi hiện nay trên mọi mặt đời sống: tinh thần, vật chất, sức khỏe – y tế.Thấy được tầm quan trọng của việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi mà

cụ thể hơn là NCT đang được nuôi dưỡng tại các Trung Tâm BTXH để từ đó phát huy hơn nữa việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho họ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người

cao tuổi.Khái quát về đặc điểm, vai trò và những nhu cấu cần thiết của NCT, trên cơ

sở đó cũng nói lên được lý thuyết về dịch vụ CTXH và nội dung của dịch vụ CTXH

để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của NCT

Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực

tiễn trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp

Khái quát về bộ máy, cơ cấu, chức năng hoạt động của Trung Tâm

Nêu lên những dịch vụ CTXH đã và đang thực hiện tại Trung Tâm Những khó khăn, hạn chế và các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH

Chương 3:Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp

dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp.Đưa ra các giải pháp và khuyến nghị để thực hiện

Trang 17

12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI

VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 1.1 Lý luận về người cao tuổi

-Khái niệm

Người cao tuổi: Người cao tuổi hay còn gọi là người già/người cao niên là

người thuộc một bộ phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước quy định Tại Việt Nam, Luật Người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII,

kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 cao hiệu lực ngày 1/7/2010) quy định

“Người cao tuổi là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [11] Khái niệm NCT được sử dụng thay cho người già/người cao niên vì thực tế nhiều người từ 60 tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ "người cao tuổi" bao hàm sự kính trọng, động viên hơn so với cụm từ "người già" Nhưng về khoa học thì người già hay NCT đều được dùng với ý nghĩa như nhau

- Đặc điểm về sức khỏe của người cao tuổi

Theo quy luật tự nhiên, sức khỏe về thể chất và tinh thần NCT giảm theo tuổi già Quá trình lão hóa của cơ thể diễn biến không đồng đều và không giống nhau ở mỗi người nhưng nhìn chung, NCT có sự đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần theo độ tuổi

- Về tâm lý, khi bước vào tuổi già, NCT thường gặp những thay đổi như [35]

Chuyển từ trạng thái tích cực (lao động, tiếp xúc nhiều người) sang tiêu cực (nghỉ ngơi, rảnh rỗi) Với một số NCT sẽ mắc hội chứng về hưu, nhất là với NCT là cán

bộ Khi mắc phải hội chứng này, NCT dễ buồn chán, thiếu tự tin, cảm thấy vô dụng do họ đã quá quên với nếp sống trước khi về hưu, nếp sống đảo lộn, quan

hệ xã hội thu hẹp Thêm vào đó là nguồn thu nhập hạn chế, từ đó trở nên rối loạn tâm lý

- Về sinh lý, thay đổi biểu hiện ra ngoài như: Tóc bạc, răng long, mắt mờ, chân

chậm, tính tình thay đổi, trí nhớ giảm, nhưng sự suy giảm chức năng trong cơ thể

Trang 18

13

mới là điều cơ bản

Khi tuổi già, nhiều chức năng suy giảm dần là điều kiện bệnh tật dễ phát sinh

và phát triển nên NCT có nguy cơ mắc bệnh cao hơn và khi mắc bệnh việc điều trị phục hồi cũng lâu hơn các nhóm tuổi khác Do vậy, nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ (nhân tố hàng đầu bảo đảm cho NCT có cuộc sống tốt về thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần) cho nhóm dân số cao tuổi cao hơn các nhóm tuổi khác Và việc chăm sóc sức khỏe cho NCT cũng sẽ khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với các nhóm dân số khác vì NCT có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, chi phí y tế về KCB nhiều hơn

- Đặc điểm về kinh tế và xã hội của người cao tuổi

Trong chu kỳ của cuộc sống, NCT thường trở lại giai đoạn phải lệ thuộc vào gia đình như tuổi ấu thơ phải lệ thuộc vào cha mẹ, được cha mẹ nuôi dưỡng Đó là

vì khi tới tuổi cao, khả năng làm việc của NCT giảm bớt do cơ thể lão hóa, lại nẩy sinh những bệnh liên hệ tới tuổi già, khiến NCT mất khả năng tự túc, tự tồn, thậm chí mất cả khả năng hiểu biết

Tại các nước phát triển, nhất là các nước phương tây, con cái thường độc lập với ông bà, cha mẹ Do đó, đa số NCT thường sống cô đơn trong ngôi nhà mà họ đã tạo lập từ thuở trung niên Tuy nhiên, địa vị NCT tuỳ thuộc vào khả năng tài chính của chính họ, một số ít NCT với đủ diều kiện kinh tế, họ có thể thuê mướn những nhân viên y tế để chăm sóc tại gia đình hoặc lựa chọn lối sống tập thể trong các cơ

sở chuyên chăm sóc NCT (Viện dưỡng lão) với đầy đủ tiện nghi y tế, vật chất Tại đây họ không lo bị sống cô đơn và được chăm sóc chu đáo Còn phần lớn NCT với

sự hạn hẹp về tài chính phải nhờ vả hoặc gia đình thân thích hoặc các cơ quan chính phủ, cơ sở cộng đồng, các tổ chức từ thiện Với tiềm lực kinh tế của mình, Chính phủ và cộng đồng không ngừng xây dựng, hoàn thiện các chương trình ASXH, chương trình chăm sóc y tế để chăm sóc và nâng cao chất lượng chăm sóc NCT

- Vai trò của người cao tuổi

Người cao tuổi là một lực lượng xã hội đông đảo và có vai trò quan trọng trong xã hội Việt Nam hiện nay Với kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình lao động, cống hiến; với những giá trị văn hóa truyền thống được lưu giữ, người cao

Trang 19

Xây dựng đời sống văn hoá; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở

cơ sở và cộng đồng; tham gia các phong trào khuyến học, khuyến tài, hỗ trợ giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng người có đức, có tài và các cuộc vận động khác tại cộng đồng;

- Truyền thụ kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và nghề truyền thống cho thế hệ trẻ;

- Nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ; tư vấn chuyên môn, kỹ thuật;

- Phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp;

- Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; hoà giải mâu thuẫn, tranh chấp tại cộng đồng;

- Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở; thực hành tiết kiệm chống lãng phí; phòng, chống tham nhũng, quan liêu; phòng, chống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội;

- Đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật và tham gia giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật;

1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi

1.2.1 Cơ sơ ̉ lý luận

Dịch vụ công tác xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu tất yếu của mỗi con người Đối với người già, nhu cầu này lại càng trở nên cấp thiết Họ là những người đã bước vào giai đoạn sức khoẻ suy giảm, có những thay đổi lớn về tâm sinh lý, không còn khả năng lao động nặng nhọc, cần được nghỉ ngơi và phụng dưỡng Đặc biệt, giai đoạn này người già giảm khả năng lao động, ít tham gia các hoạt động xã hội

và thu hẹp các mối quan hệ ngoài xã hội Đối với người già cô đơn, không nơi

Trang 20

15

nương tựa đang được nuôi dưỡng tại các Trung tâm bảo trợ xã hội, ngoài những đặc điểm chung này còn mang những nét đặc trưng riêng về đặc điểm cá nhân và xã hội Họ là những người không may mắn, rơi vào hoàn cảnh éo le, không còn gia đình hoặc từ bỏ gia đình vì một lí do nào đó hay bị con cháu bỏ rơi

Trong khoa học xã hội, C.Mác đã đưa ra quan niệm về mối quan hệ giữa con người và xã hội nói chung và quan hệ sản xuất nói riêng Mác viết “Tổng hợp lại những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội” Theo Mác, bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt mà “Trong tính hiện thực cố hữu, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Con người sống thành xã hội, tồn tại và phát triển như một thực thể xã hội, vì thế liên hệ xã hội là một nền tảng của cuộc sống Mọi cá nhân đều có liên hệ với người khác (bố mẹ, anh em, họ hàng, xóm giềng, bạn bè, thể chế xã hội, …) bằng cách nào đó, nằm trong một cấu trúc xã hội phức tạp bao quanh mình Liên hệ xã hội phát triển và thay đổi của cá nhân và bối cảnh sống

Như vậy, mỗi cá nhân để tồn tại và phát triển, phải tham gia vào các mối quan hệ xã hội, thực hiện những tương tác và những sự trợ giúp của các cá nhân khác trong xã hội, qua đó, vai trò và vị trí của cá nhân sẽ được thể hiện

Tuổi già trong xã hội được xem xét ở ba cấp độ với những đặc điểm chung được chia sẻ: Ở cấp độ cá nhân, tuổi già được đánh dấu bởi sự suy giảm sự sắc bén của các giác quan, sự nhanh nhạy của các dây thần kinh vận động và sự suy giảm các dây thần kinh nhận thức Đó là những yếu tố nền quan trọng trong quá trình tham gia vào xã hội của người cao tuổi cũng suy giảm, thậm chí mất đi.Ở cấp độ gia đình, tuổi già được đặc trưng bởi sự tương tác liên thế hệ, về các vai trò cũng như

sự thay đổi khả năng và trách nhiệm trong gia đình Ở cấp độ mạng lưới xã hội, những đặc trưng là sự tiêu hao liên tục những mối rang buộc xã hội, sự gia tăng những khó khăn của người cao tuổi trong việc thực hiện những hoạt động xã hội để duy trì những mối liên kết xã hội, sự suy giảm cơ hội phục hồi các quan hệ xã hội

và thiết lập các quan hệ mới Hơn nữa, tuổi già thường đi theo nó là những nhược điểm yếu đuối về thể chất.Kết quả là khó khăn cho người cao tuổi duy trì sự chủ

Trang 21

vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi nói riêng nên dựa trên quan điểm duy vật biện chứng sẽ cho ta cái nhìn toàn diện về vấn đề

1.2.2 Nhu cầu Công tác xã hội đối với Người cao tuổi

Khi nói đến việc cung cấp dịch vụ CTXH đối với người NCT, cách hiểu thường là mức độ đáp ứng các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống của NCT

Thuyết bậc thang nhu cầu của Maslow: Khi nghiên cứu các yếu tố cấu

thành nhu cầu của con người cho thấy các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau,phát triển từ thấp tới cao Theo nhà tâm lý học Abraham Maslow, về căn bản nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao

- Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ

Trang 22

17

- Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân…

Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này.Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng

Sơ đồ 1.1.Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow

Nguồn: Abraham Maslow, Abraham Maslow's hierarchy of needsMotivational Model

Cấu trúc của tháp nhu cầu có 5 tầng, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao ở tầng trên Các tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow:

-Tầng 1: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc thể chất và sinh lý như thức ăn,

nướcuống, bài tiết, thở, nơi ở, tình dục, nghỉ ngơi Những nhu cầu cơ bản này đều là

Trang 23

18

các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày

- Tầng 2: Khi các nhu cầu về căn bản nhất thuộc thể chất và sinh lý dược

đảm bảo sẽ nảy sinh ra các nhu cầu được an toàn, được có cảm giác yên tâm, được đảm bảo về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản Bảo vệ cá nhân

và gia đình khỏi các nguy hiểm trong cuộc sống Họ tìm đến các tôn giáo để thỏa mãn các nhu cầu này về mặt tinh thần Các chế độ về an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội chính là để đáp ứng các nhu cầu này

- Tầng 3: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc, muốn được

trong một nhóm cộng đồng, một tổ chức nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy Nếu nhu cầu này không được thỏa mãn sẽ nảy sinh ra các bệnh trầm cảm, thần kinh

- Tầng 4: Nhu cầu được người khác tôn trọng, kính mến thông qua các

thành quả, thành công của bản thân và nhu cầu cảm nhận quý trọng bản thân, tự trọng và sự tự tin

- Tẩng 5: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, Maslow mô tả nhu cầu này được

sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt Đây là nhu cầu lớn nhất của con người, mong muốn được hoàn thiện mình, được cống hiến, tìm kiếm năng lực, trí tuệ và khả năng của mình

Thông qua lý thuyết và tháp nhu cầu của Maslow, các hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH cho NCT, được khái quát và tổng hợp tương tự như các bậc thang trên, đó là dịch vụ về sức khỏe, vật chất, tinh thần và phát huy vai trò NCT Chất lượng dịch vụ cho NCT cũng phát triển để đáp ứng các nhu cầu từ thấp đến cao và ngày càng phát triển của NCT Khi điều kiện kinh tế còn yếu kém thì việc , đáp ứng các nhu cầu của NCT chỉ dừng lại ở cơm ăn, áo mặc, lao động kiếm sống và quan

hệ chan hòa, vui vẻ với bạn bè và cộng đồng Khi điều kiện kinh tế khá lên, đòi hỏi việc chăm sóc NCT đáp ứng các nhu cầu lớn hơn về giao tiếp, giải trí, tham quan du

Trang 24

19

lịch giúp đỡ mọi người và cộng đồng qua công tác xã hội

1.2.2 Nội dung dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi

Dịch vụ xã hội được Liên hợp quốc định nghĩa như sau: Dịch vụ xã hội là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những

nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (UN – Africa Spending Less on Basic Social

Services).Như vậy:Dịch vụ xã hội là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận

Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính

– Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh, chăm

sóc, nhà ở….mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực

– Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức

năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng

– Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các hình

thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt…

– Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội rất quan

trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao,… nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng…

Dịch vụ CTXH được xem là một lĩnh vực hoạt động nhằm giúp đỡ các cá nhân, gia đình và cộng đồng gặp khó khăn để họ có thể thực hiện tốt các chức năng xã hội CTXH triển khai các hoạt động cung cấp dịch vụ cho con người, một mặt giúp đỡ những người gặp khó khăn, nâng cao năng lực, khả năng ứng phó và giải quyết các vấn đề khó khăn của họ Mặt khác, hoạt động CTXH giúp những người khó khăn tiếp cận các nguồn lực xã hội để đáp ứng các nhu cầu cá nhân, ngăn ngừa, phòng chống các vấn đề xã hội có thể xảy ra Trong đề tài này tác giả xin trình bày

4 hoạt động chính của dịch vụ CTXH đối với NCT bao gồm:

- Dịch vụ tham vấn, tư vấn tâm lý

Trang 25

-Hướng về quá khứ

Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn: Viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật…

-Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực”

Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động

và nghề nghiệp Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu”

-Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi

Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi có thể được liệt kê như sau:

- Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn : Con cháu

thường bận rộn với cuộc sống Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏ rơi Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coi mình không là người vô dụng Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình

Trang 26

21

- Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức

khỏe vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình, hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng Nhưng cũng có một số người cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ thuộc vào con cháu Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chản nản, buồn phiền, hay tự dằn vặt mình Người cao tuổi mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lại chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế

hệ sau nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân cho rằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường

- Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con

cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt lỗi, nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu Với một bộ phận người cao tuổi bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức khỏe, khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước mơ không thực hiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng có thể xuất hiện triệu chứng của bệnh trầm cảm Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào cuộc sống riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó

- Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh – tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy

người cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết Cũng có những trường hợp các

cụ bàn việc hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu có những cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết

Với những thay đổi chung về tâm lý của người cao tuổi đã trình bày ở trên dẫn đến việc một bộ phận người cao tuổi thường thay đổi tính nết Con cháu cần chuẩn bị sẵn tâm lý để đón nhận thực tế này nhằm có những ứng xử phù hợp

Vì vậy cung cấp dịch vụ tham vấn,tư vấn tâm lý cho NCT là cần thiết Nhân viên CTXH cần phải:

- Tư vấn, tham vấn tâm lý cho những NCT đang bị khủng hoảng về tinh thần cũng như biện hộ cho họ khi họ gặp phải các vấn đề

Trang 27

22

- Thúc đẩy, phục hồi, duy trì, nâng cao năng lực và tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề của NCT thông qua hoạt động trợ giúp, phòng ngừa và phát huy nguồn lực trong xã hội Bằng các kiến thức kỹ năng chuyên môn, NVCTXH trợ giúp đối tượng giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động kết nối nguồn lực, giới thiệu dịch vụ, phát huy tiềm năng, nội lực và ngoại lực của các nhóm đối tượng để giúp họ tự giải quyết vấn đề của mình Như vậy trong hoạt động trợ giúp cụ thể, NVCTXH có thể là người tham vấn giúp NCT thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và thay đổi hành vi NVCTXH còn có thể là người tập huấn với vai trò định hướng, cung cấp cho NCT kiến thức, kỹ năng để tự phân tích, xác định vấn đề và có khả năng đưa ra quyết định đúng đắn

- Nối kết NCT với hệ thống nguồn lực, dịch vụ và những cơ hội trong xã hội NVCTXH giới thiệu cho NCT những nguồn lực mà họ không biết hoặc chưa biết, giúp họ có thêm kiến thức, kỹ năng và sự tự tin để vượt qua khó khăn đang gặp phải Ví dụ như giúp họ kết nối với chính sách, chế độ, hướng dẫn NCT làm Thiểu thủ công nghiệp từ đó giúp khắc phục những khó khăn và cải thiện cuộc sống

- Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

Chăm sóc sức khỏe cho NCT bao gồm cả chăm sóc về vật chất và tinh thần

Theo Hội đồng biên soạn Từ điển bách khoa quốc gia “Chăm sóc là hoạt động

nhằm duy trì, điều chỉnh vào lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho mỗi người dân” Như vậy, chăm sóc gồm cả chăm sóc thể chất và tinh thần

Chăm sóc sức khỏe cho NCT bao gồm tổng thể các hoạt động từ rèn luyện sức khỏe phòng chống bệnh tật cho NCT đến khám chữa bệnh và chăm sóc y tế cho NCT Việc chăm sóc sức khỏe không chỉ là tránh nhiệm của Trung Tâm mà còn là tránh nhiệm của chính NCT Đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe NCT cần đánh giá tổng thể trên 2 phương thức chăm sóc gồm: Tự chăm sóc của NCT và sự chăm sóc của nhân viên CTXH

Khi tuổi già, nhiều chức năng suy giảm dần là điều kiện bệnh tật dễ phát sinh và phát triển nên NCT có nguy cơ mắc bệnh cao hơn và khi mắc bệnh việc

Trang 28

Hai tiêu chí trên phản ánh chất lượng chăm sóc sức khỏe của chính NCT

Tỷ lệ của tiêu chí này càng cao, khả năng phòng chống bệnh tật của NCT thì sức khỏe NCT càng được nâng cao

- Phổ biến về bệnh tật thường gặp ở NCT và phương pháp giữ gìn sức khoẻ cho NCT: phản ánh qua tỷ lệ được phổ biến về bệnh tật ở NCT và hướng dẫn phương pháp giữ gìn sức khoẻ Tiêu chí này phản ánh sự chăm sóc của Trung tâm trong công tác chăm sóc sức khỏe NCT

- Tình hình sử dụng BHYT của NCT khi khám và điều trị

- Dịch vụ cung cấp thông tin, chính sách

- Công tác xã hội có vai trò cung cấp thông tin cụ thể, phù hợp với từng vấn

đề từng nhu cầu của đối tượng

- Cùng với các cá nhân, đoàn thể, cơ quan nhà nước thường xuyên thăm hỏi, động viên, hỗ trợ người NCT

- Trợ giúp NCT làm các thủ tục để dược hưởng các chính sách

- Tư vấn, tham vấn tâm lý cho những NCT đang bị khủng hoảng về tinh thần cũng như biện hộ cho họ khi họ gặp phải các vấn đề

- Theo dõi, kiểm soát các chính sách, chương trình thông qua hoạt động biện

hộ, hoạt động chính trị để tăng năng lực cho NCT và thúc đẩy công bằng, bình đẳng

về mặt kinh tế cũng như xã hội

- Cùng với các cơ quan, ban nghành có liên quan cùng nhau giải quyết những thắc mắc, khiếu nại của NCT Để từ đó bổ sung và tham mưu để đưa ra những chính sách phù hợp hơn

Trang 29

24

- Dịch vụ giúp hoà nhập cộng đồng

Đối với những NCT sống tại Trung Tâm có một số vẫn có người thân, nhưng

do bỏ nhà đi quá lâu nên không còn nhớ địa chỉ, hoặc do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên người thân không thể bảo lãnh về chung sống cùng gia đình.Để thực hiện tốt vấn đề này Nhân viên CTXH Trung Tâm sẽ tra cứu hồ sơ, liên hệ với địa phương nơi họ cư trú trước đây để tìm người thân, giúp họ tái hoà nhập cộng đồng

1.2.4 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc cung cấp dịch vụ đối với người cao tuổi

Vai trò của nhân viên CTXH trong tiến trình trợ giúp mỗi đối tượng cụ thể cũng có sự khác nhau Trong CTXH với NCT mà cụ thể là trong quy trình quản lý trường hợp với NCT, nhân viên CTXH cần thực hiện tốt các vai trò sau: biện hộ, kết nối, điều phối, người tạo điều kiện thuận lợi Để từ đó giúp cho NCT có thêm niềm tin, tham gia tích cực vào việc nhận biết và giải quyết vấn đề của chính bản thân

1.3 Các yếu tố tác động đến dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi

1.3.1 Yếu tố ảnh hưởng kinh tế xã hội

Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, sự ổn định về chính trị, cơ sở vật chất

và kĩ thuật của đất nước ngày càng hoàn thiện Nhà nước đã đầu tư nhiều cho các công trình xây dựng nhằm đảm bảo an sinh xã hội như: trường học, nhà văn hóa cộng đồng, bệnh viện… trong đó cũng có một số mô hình cơ sở vật chất kĩ thuật dành cho đối tượng NCT như:

- Bệnh viện, phòng khám dành cho NCT

+Các khoa lão khoa

+Các bệnh viện điều dưỡng, phục hồi chức năng

+Bệnh viện y học cổ truyền

Các tuyến chăm sóc ban đầu

Các cơ sở y tế chuyên chăm sóc sức khỏe cho NCT

Trang 30

25

Tại các bệnh viện, khoa hay phòng khám này, các giường bệnh, các trang thiết bị được thiết kế phù hợp với NCT, các máy móc ngày càng hiện đại đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao sức khỏe và tuổi thọ cho NCT

Tuy nhiên mạng lưới y tế chuyên khoa ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa còn thiếu và yếu Những hạn chế về cơ sở vật chất đã phần nào trở thành yếu tố cản trở việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho NCT, nhất là những người thuộc hộ nghèo, cô đơn không nơi nương tựa, không nguồn thu nhập

Nhà dưỡng lão tập trung, Trung tâm chăm sóc NCT, Trung tâm BTXH đã được xây mới, sữa chữa với quy mô và chất lượng, dịch vụ tốt hơn

Các nhà dưỡng lão ban ngày

Các câu lạc bộ NCT

Các Trung tâm sức khỏe và giải trí cho NCT

Các phương tiện giao thông đi lại: xe buýt, các công trình công cộng…

Các phương tiện hỗ trợ cho NCT: xe lắc, xe lăn, dụng cụ phục hồi chức năng… được đầu tư, cấp phát, hỗ trợ miễn phí cho đối tượng

Có thể thấy tất cả sự đầu tư về cơ sở vật chất, kĩ thuật của nhà nước dành cho đối tượng NCT đã góp phần vào việc nỗ lực giải quyết tốt vấn đề già hóa dân số

Tuy nhiên trong thực tế, cuộc sống rất đa dạng, hoàn cảnh, khó khăn của NCT cũng rất đặc thù Để hỗ trợ, đáp ứng tốt nhất, hiệu quả nhất cho NCT thì cần rất nhiều sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa về cơ sở vật chất kĩ thuật, trang thiết bị của Đảng và nhà nước cho lĩnh vực này

1.3.2 Chính sách và cơ chế về dịch vụ Công tác xã hội

Hằng năm nhà nước đã dành rất nhiều ngân sách cho lĩnh vực BTXH và trợ giúp xã hội để góp phần đảm bảo an sinh xã hội Giúp cho mọi người ai cũng có được một cuộc sống đàng hoàng, đúng nghĩa với nó

Đối với NCT, ngân sách chi cho các hoạt động của hội NCT, các chính sách trợ giúp, lễ chúc thọ, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe… hằng năm chiếm rất nhiều ngân sách

Trang 31

26

Việc kết nối với các nguồn lực, dịch vụ cung cấp chương trình trợ giúp cho đối tượng cũng đang được điều phối rất mạnh mẽ Bên cạnh đó là sự tham gia vào cuộc của một số lực lượng, cá nhân, tổ chức từ thiện trong và ngoài nước… góp phần hỗ trợ ngày càng đảm bảo và kịp thời đối với các đối tượng yếu thế

Tuy nhiên trong quá trình kết nối có những lúc còn bị gián đoạn, những phối hợp, gắn kết chưa nhịp nhàng giữa các bộ ngành, các tổ chức đoàn thể, các dịch vụ CTXH, các nhân viên CTXH… với đối tượng, dẫn đến nhiều trường hợp thực tế chưa được tiếp cận với chế độ và nguồn lực trợ giúp của chính sách, cộng đồng và xã hội

NCT có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và giữ vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tiếp tục phát huy vai trò của NCT là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội, là thể hiện bản chất tốt đẹp, đạo lý, truyền thống của dân tộc ta

Việc thực hiện chính sách đối với NCT là một chính sách quan trọng trong trong hệ thống chính sách trợ giúp xã hội vì nó thể hiện, phản ánh sự quan tâm, ý thức xã hội của Nhà nước, của cộng đồng, của thế hệ đi sau đối với thế hệ đi trước Của con cháu đối với các bật ông bà, cha mẹ

1.3.3 Trình độ chuyên môn của đội ngũ Nhân viên công tác xã hội

Nghề CTXH là một nghề còn khá mới mẻ ở Việt Nam Trước đây chủ yếu biểu hiện ở truyền thống vốn có của dân tộc: cưu mang giúp đỡ lẫn nhau Khi mỗi người dân trong cộng đồng gặp khó khăn, hoạn nạn họ thường nhận được sự chia sẽ giúp đỡ hoặc bằng vật chất,hoặc tinh thần từ người thân, người hàng xóm Ở đây mang tính chất giúp đỡ đơn thuần

Giai đoạn sau này, việc giải quyết các vấn đề xã hội không chỉ phụ thuộc phạm vi nhà nước mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng, của gia đình và của cả bản thân đối tượng Nội dung trợ giúp không chỉ là cấp phát như trợ giúp đột xuất, hay trợ giúp thường xuyên mà còn bao gồm các dịch vụ tăng năng lực giúp người dân tự giúp mình hay đề phòng những vấn đề có thể xảy ra

Trang 32

27

Nội dung CTXH hiện nay của chúng ta tập trung vào các vấn đề: chính sách đãi ngộ với liệt sĩ, thương binh, những người có công với đất nước, chăm sóc nâng

đỡ những người yếu thế trong xã hội

Trong thời điểm này cán bộ chỉ được tập trung vào trang bị những kiến thức

cơ bản về cứu trợ xã hội Sau này các cán bộ được cung cấp thêm các kiến thức chuyên sâu hơn: lý luận về BTXH, bảo hiểm xã hội, ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội, tổ chức lao động sắp xếp việc làm cho đối tượng BTXH còn khả năng lao động, chăm sóc vật chất, tinh thần, phục hồi chức năng, công tác hồ sơ lưu trữ…

Trước ảnh hưởng của hội nhập quốc tế với sự du nhập của trào lưu CTXH chuyên nghiệp và những đổi mới về chính sách kinh tế - xã hội, lý luận và thực hành trong công tác trợ giúp xã hội ở nước ta có sự thay đổi Với phương châm

“Cho cần câu chứ không cho sâu cá” đã làm chuyển đổi cơ bản hình thức trợ giúp mang tính bao cấp trước đây sang hình thức trợ giúp có tham vấn nhằm giúp đối tượng tự giải quyết vấn đề Trước yêu cầu đó với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, UNDP,CIDA và các tổ chức Save Children, CFSI, CWS… các lớp tập huấn về CTXH được triển khai nhằm trang bị kịp thời những kiến thức,

kỉ năng giúp cho cán bộ trong lĩnh vực này

Năm 2000 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập hội đồng xây dựng chương trình khung CTXH với sự tham gia của các cơ sở đào tạo như trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Hà Nội ), Đại học Lao động – Xã hội, Đại học Công đoàn, Đại học Mở (thành phố Hồ Chí Minh) và sự trợ giúp kỷ thuật của UNICEF cùng một số chuyên gia, tổ chức công tác xã hội chuyên nghiệp của thế giới

Tháng 10/2004 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê chuẩn chương trình khung ngành học CTXH trình độ đại học và cao đẳng

Tháng 3/2010: Thủ tướng phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH ở Việt Nam

Tháng 8/2010: ban hành mã ngạch CTXH cùng với chức danh tiêu chuẩn nghề CTXH

Trang 33

Tuy nhiên lĩnh vực CTXH còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên giữa lý thuyết được đào tạo trong trường lớp và việc vận dụng vào thực tế trợ giúp, hỗ trợ, quá trình QLTH… đối với các đối tượng TC cụ thể khó tránh khỏi những lúng túng, những sơ xuất, những bất cập … đòi hỏi NVXH phải luôn luôn cố gắng, nỗ lực, trau dồi kiến thức, kỷ năng, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm nhiều hơn nữa để hoàn thành tốt nhiệm vụ của bản thân

Với những thay đổi trong tâm sinh lý, trong lao động – thu nhập và cả trong những mối quan hệ, NCT bị hạn chế và mất thăng bằng trong việc thực hiện một số chức năng xã hội của mình NCT trở thành một đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương

và cần sự hỗ trợ của CTXH

Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, CTXH hướng trọng tâm nghề nghiệp đến việc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các chức năng và đạt được những giá trị phù hợp trong xã hội Các chức năng của CTXH được thực hiện thông qua việc thực hiện các vai trò của nhân viên CTXH trong tiến trình làm việc với các thân chủ Mỗi đối tượng khác nhau lại có những vấn đề cụ thể khác nhau

Vì thế vai trò của nhân viên CTXH trong tiến trình trợ giúp mỗi đối tượng cụ thể cũng có sự khác nhau Trong CTXH với NCT mà cụ thể là trong quy trình quản

lý trường hợp với NCT, nhân viên CTXH cần thực hiện tốt các vai trò sau: biện hộ, kết nối, điều phối, người tạo điều kiện thuận lợi Để từ đó giúp cho NCT có thêm niềm tin, tham gia tích cực vào việc nhận biết và giải quyết vấn đề của chính bản thân

Trang 34

29

1.4 Cơ sở pháp lý của dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi

Hiện nay xu hướng già hóa dân số đang là một thách thức không nhỏ đối với toàn nhân loại trong thế kỷ XXI.Đó là vấn đề chăm sóc sức khỏe cho một số lượng lớn người cao tuổi trong cộng đồng

Nhận thức rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cung cấp các dịch

vụ thiết yếu cho NCT, phát huy truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và Nhà nước coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của NCT trong đó có chăm sóc sức khỏe là đạo lý của dân tộc, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và các cấp chính quyền Điều nay đã được thể hiện thông qua việc ban hành nhiều văn bản chính sách của Nhà nước trong công tác chăm sóc người cao tuổi

Ngay sau khi nhận được Nghị quyết 45/106 ngày 26/8/1991 về việc lấy ngày

01 tháng 10 hàng năm là ngày Quốc tế NCT của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, ngày 01/10/1991.Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam (nay là Chủ tịch nước) đã

ra lời kêu gọi các cụ phụ lão cũng như đồng bào cả nước nhiệt liệt hưởng ứng quyết

định của Liên Hiệp Quốc.Lời kêu gọi đã khẳng định “Chăm sóc sức khỏe người cao

tuổi là một chính sách rất quan trọng và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta”

Pháp lệnh người cao tuổi số 23/2000 PL-UBTVQH ngày 28/4/2000 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội khẳng định rằng “Việc phụng dưỡng người cao tuổi là

trách nhiệm chủ yếu của gia đình có người cao tuổi, người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập được Nhà nước và xã hội trợ giúp”[32].Pháp lệnh là cơ sở pháp lý cho các hoạt động xã hội về người cao tuổi

Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội [35]và Nghị định số 13/2010/NĐ-

CP, ngày 27/02/2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP.[36] Các chính sách này quy định rõ các hình thức hỗ trợ cho NCT

cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; NCT còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa thuộc hộ gia đình nghèo và đặc biệt là người từ đủ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội Các

Trang 35

thể hiện rất rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của

xã hội ta Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc thọ, mừng thọ theo quy định, NCT được chăm sóc thông qua việc định kỳ khám, chữa bệnh tại các cơ

sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho người đủ 80 tuổi trở lên Người cao tuổi được chăm sóc đầy đủ hơn về đời sống tinh thần trong hoạt động, văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, hưởng phúc lợi từ các công trình công cộng và giao thông công cộng do Nhà nước và xã hội đầu tư

Không chỉ có Luật NCT quy định về chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, Việt Nam còn có Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật hôn nhân và gia đình,

Bộ Luật lao động, Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hình sự, Luật phòng chống bạo lực gia đình…đề có các quy định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi

Đối với thành phố Hồ Chí Minh

Công tác triển khai thực hiện Luật người cao tuổi của Thành phố đạt nhiều thuận lợi là do Thành phố đã thành lập Ban công tác người cao tuổi Thành phố và quận huyện; có sự điều hành, phối hợp giữa các Sở, ngành và các đơn vị tổ chức có liên quan trong việc tổ chức các hoạt động chăm lo cho Người cao tuổi

Công tác thông tin, tuyên truyền được các cấp, các ngành quan tâm Nhận thức về việc chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi của người dân, cũng như các cấp ủy, chính quyền và bản thân người cao tuổi từng bước được nâng lên

Bên cạnh nguồn lực của Nhà nước, thành phố đã đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia, đặc biệt là hoạt động chăm lo cho người cao tuổi

Thực hiện Luật người cao tuổi và các văn bản hướng dẫn có liên quan đến người cao tuổi, Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành các văn bản sau:

Trang 36

31

- Văn bản số 6586/UBND-VX ngày 17 tháng 12 năm 2010, văn bản số

3647/UBND-VX ngày 20 tháng 7 năm 2011 và văn bản số 5130/UBND-VX ngày

12 tháng 10 năm 2011 của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc triển khai thực hiện

Nghị định số 06/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư các Bộ ngành có liên quan

hướng dẫn thi hành Luật Người cao tuổi

- Văn bản số 9501/UBND-VX ngày 29 tháng 11 năm 2012 về xây dựng

Chương trình hành động Quốc gia về người cao tuổi thành phố Hồ Chí Minh giai

đoạn 2012 - 2020;

- Quyết định số 6328/QĐ-UBND ngày 30 tháng 11 năm 2013 về ban hành kế

hoạch thực hiện Chương trình hành động Quốc gia về người cao tuổi thành phố Hồ

Chí Minh giai đoạn 2013 - 2020;

- Kế hoạch số 5287/KH-UBND ngày 07 tháng 9 năm 2015 của Ủy ban nhân dân

Thành phố ban hành kế hoạch tổ chức “Tháng hành động vì Người cao tuổi” Năm

2015 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Ngoài ra, các Sở ngành, quận, huyện căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của

mình và căn cứ Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động Quốc gia về người cao

tuổi thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2013 – 2020 đều ban hành các văn bản

hướng dẫn thi hành Luật người cao tuổi, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện

chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi

Việc chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần và tiếp tục pháp quy vai trò của

NCT vừa là nghĩa vụ và là trách nhiệm của toàn xã hội Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, mặc dù chưa thật sự toàn diện nhưng những văn bản, chính sách trên

cũng đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với lớp người đã có

đóng góp hết sức to lớn trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của dân tộc Và

chính nội dung của những chính sách, Nghị định, Thông tư, Pháp lệnh của Nhà

nước, của công tác xã hội đã tạo nên một môi trường pháp lý hành chính bắt đầu

cho sự nghiệp chăm sóc người cao tuổi

Trang 37

32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

độ tuổi này được pháp luật của từng nước nước quy định Quy mô dân số cao tuổi ngày càng lớn và gia tăng nhanh, đặc biệt là tại các nước nghèo Nhu cầu về dịch vụ CTXH của NCT cao hơn các nhóm tuổi khác

- Dịch vụ CTXH cho NCT là đáp ứng các nhu cầu của NCT, thể hiện trên 3 nội dung đáp ứng về: vật chất, sức khỏe và tinh thần để NCT sống vui, sống khỏe, sống có ích Chăm sóc và phát huy vai trò NCT là hai hoạt động gắn bó chặt chẽ với nhau và là trách nhiệm của bản thân NCT, của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội

- Chất lượng dịch vụ CTXH cho NCT là mức độ tổng thể những kết quả mong muốn trong hoạt động nuôi dưỡng bảo trợ NCT trên các mặt sức khỏe, vật chất và tinh thần Nâng cao chất lượng dịch vụ đối với NCT là một quá trình chủ động nhằm chuyển đổi mức độ tổng thể những kết quả mong muốn trong hoạt động bảo trợ xã hội cho NCT lên một mức độ mong muốn

Trang 38

33

Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TÂN HIỆP 2.1 Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Khái quát về tình hình người cao tuổi trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước, luôn đi đầu trong việc thực hiện các chính sách xã hội, trong đó công tác chăm sóc và phát huy vai trò NCT luôn được chú trọng Bên cạnh việc thực hiện các chính sách nhà nước về trợ cấp xã hội, chăm sóc sức khỏe, các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, thành phố còn đẩy mạnh công tác xã hội hóa các hoạt động chăm sóc, phụng dưỡng NCT (đặc biệt đối với NCT độc thân, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật, NCT thuộc diện hộ nghèo, người từ đủ 80 tuổi trở lên)

về vật chất, tinh thần và sức khỏe, coi việc trợ giúp NCT là đạo lý, là trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội.Số hộ nghèo thành phố là 13.040 hộ chiếm tỷ lệ 0,71% tổng số hộ dân thành phố Trong đó hộ nghèo có NCT là 2.731

hộ chiếm tỷ lệ 20,94% tổng số hộ nghèo thành phố.Tổng số NCT thành phố năm

2013 là 469.353 người, chiếm tỷ lệ 6,06% dân số.Tổng số hội viên NCT là 403.440 người (trong đó hội viên Hội NCT dưới 60 tuổi là 13.432 người)

Từ khi Luật NCT có hiệu lực đến nay, công tác triển khai Luật NCT và các văn bản hướng dẫn triển khai Luật NCT được Đảng bộ và chính quyền thành phố quan tâm chỉ đạo; trong thời gian qua Ủy ban nhân dân Thành phố, các Sở, ngành, quận-huyện, các tổ chức và đơn vị liên quan đã ban hành theo thẩm quyền hệ thống các văn bản chỉ đạo cụ thể như: triển khai thực hiện Nghị định số 06/NĐ-CP về việc thực hiện Luật NCT; thành lập Ban công tác NCT Thành phố và ban hành Quy chế

tổ chức hoạt động của Ban công tác NCT Thành phố;

Đánh giá cao những cống hiến của NCT, các cấp ủy, chính quyền địa phương luôn quan tâm đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức mọi

Trang 39

34

tầng lớp nhân dân chăm sóc NCT; đồng thời thực hiện nhiều giải pháp để vận động xã hội, huy động mọi nguồn lực chăm sóc NCT Theo đó, thường xuyên tổ chức khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho NCT tại các cơ sở y tế; vận động các cá nhân và tổ chức xã hội, nhận phụng dưỡng, chăm sóc NCT; thường xuyên thăm hỏi, tặng quà, chúc thọ, mừng thọ, động viên tinh thần NCT; tổ chức các mô hình câu lạc bộ, hội thi thơ ca, thể dục thể thao dưỡng sinh phù hợp với NCT tại phường, xã, thị trấn, khu phố, tổ dân phố, ấp; đặc biệt quan tâm chăm sóc NCT thuộc diện neo đơn, nghèo, tàn tật sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn, NCT không có lương hưu hoặc trợ cấp xã hội

Về tổ chức Hội NCT: Thành phố có Ban đại diện Hội NCT Thành phố; cấp quận huyện đã thành lập 24 Ban đại diện hội NCT; cấp phường, xã, thị trấn: 322 phường, xã, thị trấn đã xây dựng Ban chấp hành Hội và các tổ chức chi hội, tổ hội Tổng số hội viên NCT là 403.440/469.353 NCT Thành phố, chiếm tỷ lệ 85,96%

Công tác chăm sóc NCT nghèo, cô đơn, không nơi nương tựa tại các trung tâm Bảo trợ Xã hội, trung tâm nuôi dưỡng NCT ngoài cộng đồng:

Hiện nay, Thành phố có 05 trung tâm bảo trợ xã hội công lập hiện đang nuôi dưỡng gần 800 NCT và 539 NCT được nuôi dưỡng tại 08 Trung tâm Bảo trợ xã hội ngoài công lập tại cộng đồng, đa số NCT này không còn gia đình hoặc không nhớ

rõ địa chỉ nơi sinh sống, số còn lại có gia đình nhưng đã mất liên lạc, hoặc do đời sống kinh tế khó khăn, không người chăm sóc, không ở được với con cái, hoặc con cái thiếu sự chăm sóc nên bỏ nhà đi lang thang và vào ở tại các cơ sở bảo trợ xã hội

2.1.2 Khái quát tình hình Trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Tân Hiệp

a Đặc điểm tình hình chung của Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp

Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp là cơ sở xã hội thuộc Sở Lao động Thương binh – Xã hội thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập theo Quyết định số 2666/QĐ-UB ngày 07/05/2001 của Chủ tịch Ủy Ban nhân dân thành phố về việc cho phép đổi tên Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp “ trực thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội” và được bổ sung nhiệm vụ theo Quyết định số 5708/QĐ-

Trang 40

35

UB ngày 30/12/2003 cùa Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về bổ

sung nhiệm vụ cho Trung tâm

Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp là đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp kinh phí từ ngân sách Nhà nước và mở tài khoản

tại kho bạc nhà nước theo quy định

- Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm

Trung tâm thực hiện quản lý người lang thang xin ăn không có nơi cư trú nhất định, người sinh sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Tiếp nhận, quản lý chữa trị và phục hồi sức khỏe cho người lang thang, xin

ăn, sinh sống nơi công cộng; (gọi tắt là người lang thang) trong độ tuổi lao động nhưng không đủ sức khỏe để áp dụng biện pháp quy định tại khoản 2 điều 3 Quyết định số 104/2003/QĐ-UB ngày 27/6/2003 và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 điều 3 Quyết định số 183/2006/QĐ-UBND ngày 26/12/2006 của Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh về quản lý người lang thang xin ăn, sinh sống nơi công cộng trên địa bàn thành phố

Nuôi dưỡng các đối tượng xã hội: người tàn tật, già yếu cô đơn không nơi nương tựa theo nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 2666/QĐ-UB ngày 07/5/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố về việc cho phép đổi tên Trung tâm Bảo trợ Xã hội và phát triển kinh tế mới Tân Hiệp thành “Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp” trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội

Phối hợp với các nghành chức năng tổ chức chăm sóc sức khỏe, dạy văn hóa, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất cho người lang thang trong thời gian quản lý tập trung tại Trung Tâm, tạo điều kiện cho những người này hòa nhập cộng đồng

- Quyền hạn của Trung tâm

Liên hệ với các cơ quan chức năng của Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp để thực hiện chức năng nhiệm vụ của đơn vị theo đúng quy định của pháp luật

Ngày đăng: 06/10/2016, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Chí An (2000, 2006), Công tác xã hội cá nhân, Trường Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội cá nhân
2. Lê Chí An (2012), Công tác xã hội nhập môn, Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội nhập môn
Tác giả: Lê Chí An
Năm: 2012
3. Chu Vĩnh Bình (2006), Cuộc sống người cao tuổi, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống người cao tuổi
Tác giả: Chu Vĩnh Bình
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Thực trạng về người cao tuổi và định hướng xây dựng chính sách chăm sóc người cao tuổi, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về người cao tuổi và định hướng xây dựng chính sách chăm sóc người cao tuổi
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 1999
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2004), Hệ thống văn bản về bảo trợ xã hội và xóa đói giảm nghèo, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản về bảo trợ xã hội và xóa đói giảm nghèo
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2004
6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2010
7. Bộ Tư pháp (2010), Luật người cao tuổi, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật người cao tuổi
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2010
8. Đỗ Văn Chiến (2015), Tài liệu Quản lý trường hợp, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Quản lý trường hợp
Tác giả: Đỗ Văn Chiến
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2015
9. Bùi Thị Chớm và Nguyễn Thị Vân (2005), Tập bài giảng công tác xã hội cá nhân và nhóm, Đại học Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng công tác xã hội cá nhân và nhóm
Tác giả: Bùi Thị Chớm và Nguyễn Thị Vân
Năm: 2005
10. Bùi Thế Cường (chủ biên) (1994), Người cao tuổi và an sinh xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi và an sinh xã hội
Tác giả: Bùi Thế Cường (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
13. Đại học Dân lập Thăng Long (2007), Công tác xã hội lý thuyết và thực hành Công tác xã hội trực tiếp, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội lý thuyết và thực hành Công tác xã hội trực tiếp
Tác giả: Đại học Dân lập Thăng Long
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
14. Đại học Lao động Xã hội (2010),Giáo trình Công tác xã hội nhóm, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội nhóm
Tác giả: Đại học Lao động Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2010
15. Đại học Lao động - Xã hội (2010), Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình
Tác giả: Đại học Lao động - Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2010
16. Nguyễn Văn Đồng (2007), Tâm lý học phát triển, giai đoạn thanh niên đến tuổi già, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: lý học phát triển, giai đoạn thanh niên đến tuổi già
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
17. Nguyễn Ý Đức (2005), Vấn đề người cao tuổi, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề người cao tuổi
Tác giả: Nguyễn Ý Đức
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2005
18. Trần Thị Minh Đức (2009), Giáo trình tham vấn tâm lý, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2009
19. Gina A. Yap, Joel C. Cam, Bùi Thị Xuân Mai (2012), Tài liệu tập huấn Nghề Công tác xã hội nền tảng triết lý và kiến thức, Dự án đào tạo công tác xã hội tại Việt Nam MOLISA - ULSA - CFSI - ASI - AP - UNICEF Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn Nghề "Công tác xã hội nền tảng triết lý và kiến thức
Tác giả: Gina A. Yap, Joel C. Cam, Bùi Thị Xuân Mai
Năm: 2012
21. Nguyễn Hữu Hải (2007), Giáo trình Nhập môn An sinh xã hội, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn An sinh xã hội
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2007
22. Nguyễn Văn Hồi (2014), Tài liệu nghiệp vụ Chính sách trợ giúp xã hội, Nxb Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiệp vụ Chính sách trợ giúp xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Hồi
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2014
23. Nguyễn Thế Huệ (2007), Người cao tuổi và bạo lực gia đình, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cao tuổi và bạo lực gia đình
Tác giả: Nguyễn Thế Huệ
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1.Tháp bậc thang nhu cầu của  Maslow - Dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi, từ thực tiễn tại Trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Sơ đồ 1.1. Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w