Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai 2010: Công tác xã hội được xem là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS: Bùi Thị Xuân Mai
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
HỌC VIÊN
Vũ Văn Khánh
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ
EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 9
1.1 Một số lý luận về trẻ em và trẻ em khuyết tật vận động 91.2 Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động 131.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động 251.4 Những quy định của pháp luật Quốc tế và Việt Nam liên quan tới công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật vận động nói riêng 29
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG VÀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ CA TỪ THỰC TIỄN TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH
VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HÓA 33
2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình trẻ em khuyết tật vận động tại tỉnh Thanh Hóa 332.2 Khái quát về Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa 352.3 Thực trạng công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa. 39 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa 53 2.5 Ứng dụng công tác xã hội cá nhân trong quản lý ca đối với trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa 57
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HÓA 66
3.1 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với các nhóm đối tượng yếu thế tại các Trung tâm công tác xã hội tại Việt Nam 663.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa 67
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6DANH MỤC BẢNG/BIỂU
Bảng 2.1: Tỷ lệ thực hiện các nguyên tắc đạo đức của cán bộ trung tâm (%) 50
Biểu đồ 2.1: Kết quả phẫu thuật cho trẻ em khuyết tật vận động 39
Biểu đồ 2.2: Số liệu về thực trạng trẻ khuyết tật vận động theo giới tính 40
Biểu đồ 2.3: Số liệu về trình độ học vấn 41
Biểu đồ 2.4: Số liệu về các dạng khuyết tật vận động 41
Biểu đồ 2.5: Số liệu về mức độ khuyết tật vận động 42
Biểu đồ 2.6: Số liệu về mức độ sức khỏe sau phẫu thuật 42
Biểu đồ 2.7: Số liệu tỷ lệ thành công sau phẫu thuật 43
Biểu 2.8: Mức độ hài lòng về hoạt động trợ giúp tham vấn 44
Biểu đồ 2.9 Mức độ hài lòng về hoạt động can thiệp khủng hoảng 47
Biểu đồ 2.10: Mức độ hài lòng về hoạt động quản lý ca 50
Biểu đồ 2.11: Sự ảnh hưởng của trẻ, gia đình và cộng đồng đối với các hoạt động hỗ trợ CTXH cá nhân 54
Biểu đồ 2.12: Sự ảnh hưởng của cơ chế chính sách đến các hoạt động hỗ trợ CTXH cá nhân 56
Biểu đồ 2.11: Sự ảnh hưởng của cơ sở vật chất đến hoạt động trợ giúp CTXH cá nhân đối với NKT 56
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” - Trẻ em là những chủ nhân tương lai
của đất nước Một dân tộc muốn tồn tại và phát triển không thể không quan tâm đến thế hệ trẻ - Lớp người sẽ kế tục sự nghiệp trong tương lai Chủ tịch Hồ Chí Minh
lúc sinh thời đã từng nói: “Trẻ em như búp trên cành, biết ăn biết ngủ biết học hành
là ngoan” Trẻ em là những mầm sống, những búp non tương lai đang lớn lên từng
ngày, từng giờ trong sự chăm sóc, dạy dỗ của gia đình, nhà trường và trẻ em là niềm vui, niềm hạnh phúc, niềm hy vọng của biết bao gia đình Trong bối cảnh già hóa dân số đã và đang diễn ra tại nhiều quốc gia ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lao động, trẻ em ở Việt Nam đã trở thành mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước, là nhịp cầu nối xuyên suốt giữa các thế hệ thành viên trong gia đình Tạo điều kiện cho trẻ phát triển đầy đủ cả về thể chất và tâm hồn không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn là sự chuẩn bị bền vững cho tương lai
Tuy nhiên, khi một trẻ em sinh ra đời, Bé không biết và cũng không thể chọn lựa cho mình một cơ thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn hay một cơ thể khuyết tật Vì thế bên cạnh những cháu bé bình thường và phát triển tốt, còn có một tỷ lệ không nhỏ các cháu có những khiếm khuyết về thể chất hay về tâm lý, trong đó phải nói đến số lượng TEKTVĐ Mỗi khi nói đến trẻ em khuyết tật thì mọi người thường gọi trẻ bằng các từ có tính miệt thị và gán ghép cho trẻ những từ như què, mù, điếc từ cách tiếp cận đó mà dẫn đến thái độ coi thường, xem nhẹ khả năng của trẻ Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (trong đó có trẻ
em khuyết tật), làm thế nào để tất cả trẻ em đều được hưởng quyền trẻ em Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách
hỗ trợ như: trợ cấp lương thực, miễn giảm học phí, phát thẻ Bảo hiểm y tế miễn phí, dạy nghề Ngày 25/3/2005 Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 65/2005/QĐ -
TTg về phê duyệt đề án “Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị
bỏ rơi, trẻ em bị tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em
Trang 8nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005 – 2010” [30] gọi tắt là đề án
“Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn
2005 – 2010” Việt Nam cũng là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn công ước về
Quyền trẻ em của Liên hợp quốc (năm 1990), đến năm 1991 nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và Giáo dục trẻ em Bên cạnh đó, đã có nhiều Dự án, văn bản hướng dẫn cách chăm sóc, bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Nhờ vậy mà công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có những chuyển biến nhất định bên cạnh những chính sách ưu việt của Đảng và Nhà nước, cùng với những cố gắng phi thường, nhiều TEKT đã trở thành tấm gương sáng trong học tập, lao động Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất nhiều trẻ đang sống trong mặc cảm, chán chường và gặp những trở ngại không nhỏ trong cuộc sống…
Trên thế giới, CTXH đã được rất nhiều nước công nhận là một nghề chuyên nghiệp Đội ngũ những người làm CTXH trên thế giới được đào tạo cơ bản và đã hoạt động rất hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc xây dựng xã hội đồng thuận, lành mạnh, công bằng vì hạnh phúc của con người Đây là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá nhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết các vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh hiện nay, phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế với tốc độ nhanh đã thúc đẩy phát triển đất nước; đồng thời dẫn đến những thay đổi trong mối quan hệ cá nhân, gia đình và cộng đồng Theo thống kê hiện nay, Việt Nam có khoảng 7 triệu NKT, chiếm 7,8% dân số, trong đó có 3,6 triệu người là nữ; 1,2 triệu trẻ em Trong khi đó, đội ngũ cán bộ nhân viên làm CTXH chưa được đào tạo bài bản nên làm việc theo kinh nghiệm, thiếu kỹ năng cần thiết về CTXH dẫn đến hiệu quả giải quyết các vấn đề không cao và thiếu bền vững Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi cần phải có đội ngũ cán bộ làm CTXH chuyên nghiệp để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, cá nhân với xã hội góp phần vào việc ổn định an toàn
xã hội Chính sự cấp bách và cần thiết đó, ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã
Trang 9ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án "phát triển nghề
CTXH" giai đoạn 2010-2020 (gọi tắt là Đề án 32) [28]
Thanh Hoá là một tỉnh đất rộng, có dân số gần 3,5 triệu người, trong đó số lượng NKT chiếm tỷ lệ tương đối lớn Theo số liệu báo cáo của Sở Lao động TBXH Thanh Hoá, tính đến ngày 31/12/2015 toàn tỉnh hiện có 192.960 NKT chiếm 5,55% dân số Trong đó, số người KTVĐ là 81.395 người, TEKT là 41.198 trẻ chiếm 1,17% dân số[24] Hiện nay, tại tỉnh Thanh Hóa, nghề CTXH đã và đang được triển khai sâu rộng trên địa bàn tỉnh Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hóa là đơn vị thực hiện nhiệm vụ tham mưu phát triển nghề CTXH trên địa bàn toàn tỉnh và đang trực tiếp trợ giúp đối tượng TEKTVĐ theo hướng chuyên nghiệp của nghề CTXH Do đó để tìm hiểu những nhu cầu và khó khăn của TEKTVĐ; quy trình CTXH cá nhân với TEKTVĐ để từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hoạt động CTXH đối với TEKTVĐ nhằm giúp cho đời sống của các
em ngày một tốt hơn, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Đó là lý do để tôi chọn đề tài: “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật
vận động từ thực tiễn tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ Hy vọng luận văn sẽ góp phần vào sự
phát triển toàn diện của TEKTVĐ nói riêng và trẻ em nói chung, đặc biệt là sự phát triển toàn diện của đất nước, của xã hội nhằm hướng tới đảm bảo an sinh xã hội và công bằng xã hội
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều ấn phẩm được đề cập trên các báo, luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đề cập đến vấn đề hỗ trợ cho NKT, trong đó đáng lưu ý như:
- Đỗ Thị Liên, Công tác xã hội đối với NKT từ thực tiễn thành phố Thanh
Hóa, Luận văn thạc sĩ 2014, Học viện Khoa học xã hội [12] Luận văn đã đánh giá
thực trạng hỗ trợ NKT tại thành phố Thanh Hóa và đưa những dịch vụ trợ giúp cho NKT tại đây, đồng thời tác giả cũng đã đưa ra những đề xuất những giải pháp phù hợp để thực hiện quá trình trợ giúp cho NKT
Trang 10- Đặng Thị Mỹ Phương (2012) Dạy học trẻ khiếm thính tiểu học theo tiếp cận
cá nhân để học hòa nhập[19], Luận án Tiến sĩ 2012, Viện Khoa học Giáo dục Việt
Nam Luận án đã chỉ ra những hoạt động trợ giúp cho trẻ em khiếm thính theo cách tiếp cận cá nhân để có thể hòa nhập tốt hơn trong quá trình học tập và phát triển;
- Khánh Hiền (2011), “Giáo dục hòa nhập là mục tiêu của các nước Đông
Nam Á”, Hội nghị lần thứ 2 quan chức cấp cao SEAMEO về giáo dục cơ bản, ngày
18/10/2011 [11];
- Đặng Thị Mỹ Phương (2010), Một số biện pháp tổ chức hoạt động dạy học
nhằm đảm bảo cho trẻ khiếm thính học hòa nhập thành công trong trường tiểu học
Tạp chí Khoa học [18];
- Tổng kết tình hình thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 2005
về thực hiện hỗ trợ NKT giai đoạn 2005 – 2010 do Bộ LĐTBXH xây dựng năm 2009
- Nguyễn Ngọc Toản (2009) Trợ giúp xã hội cho cá nhân và hộ gia đình
nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho NKT Tạp chí Lao động và Xã hội [31];
- Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và đề án trợ giúp NKT
giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ LĐTBXH [5];
- Nguyễn Thị Bảo (2007), Hoàn thiện pháp luật về quyền của NKT ở Việt Nam
hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh[2];
- Lê Văn Tạc (2007), Giáo dục hòa nhập cho TKT, Luận văn Tiến sĩ, Viện
Chiến lược và Chương trình giáo dục [27];
- Nguyễn Thị Hoàng Yến (2005), “Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân
lực cho Giáo dục hòa nhập ở Việt Nam”, Tạp chí Giáo dục [32];
- Vào năm 2003, Bộ LĐTBXH phối hợp với Qũy nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã tiến hành một cuộc khảo sát chọn mẫu tại Việt Nam về tình hình TEKT ở Việt Nam Cuộc nghiên cứu khảo sát cũng đã cung cấp số liệu về TEKT, tỷ
lệ phổ biến của khuyết tật tại các vùng miền, đời sống, việc làm của các TEKT… Qua những thông tin trên, cuộc khảo sát đã có cái nhìn khá cụ thể và đầy đủ về tình hình TEKT tại Việt Nam
Trang 11Những công trình nghiên cứu trên đều ít nhiều đề cập đến vấn đề hỗ trợ, giáo dục cho NKT dưới các góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn, nhưng chưa có công trình nào đề cập cụ thể đến vấn đề trợ giúp trực tiếp cho TEKTVĐ dưới góc nhìn của một nghề, một khoa học về CTXH đối với việc trợ giúp cho TEKTVĐ Hơn nữa, các công trình cũng chưa chỉ ra được vai trò, tầm quan trọng của CTXH
cá nhân trong vấn đề trợ giúp cho TEKTVĐ Một điều đặc biệt quan trọng là hiện nay cũng chưa có tài liệu nghiên cứu nào thuộc lĩnh vực CTXH cá nhân trong việc trợ giúp cho TEKTVĐ, vì vậy, đề tài mà tôi lựa chọn không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố Ngoài việc kế thừa, chọn lọc từ các thành tựu đã có, đề tài đi sâu vào việc tìm hiểu mô hình trợ giúp cho TEKTVĐ ở Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hóa dưới góc nhìn CTXH Từ đó, đề tài nhấn mạnh đến vai trò của CTXH trong việc hỗ trợ TEKTVĐ trong sinh hoạt, lao động và học tập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CTXH, CTXH cá nhân, NKT, TEKT và khuyết tật vận động, đồng thời đánh giá thực trạng CTXH cá nhân với TEKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao CTXH cá nhân đối với TEKTVĐ nói chung
và trẻ KTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hóa nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXH đối với TEKTVĐ
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng CTXH đối với TEKTVĐ từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hóa Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ xã hội đối với TEKTVĐ tại đây
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXH đối với TEKTVĐ
từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hóa nhằm hỗ trợ hòa nhập cộng đồng bền vững
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: CTXH cá nhân đối với TEKTVĐ và từ thực
tiễn của Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn: Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hóa
- Thời gian: Từ tháng 03 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các hoạt động trợ giúp trong phương pháp CTXH cá nhân: Tham vấn; quản lý ca; xử lý khủng hoảng trong quá trình trợ giúp cho TEKT tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH tỉnh Thanh Hóa
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: nghiên cứu trên cơ sở thu thập
các thông tin liên quan tới đề tài từ đó phân tích, tổng hợp xây dựng cơ sở lý luận và đánh giá thực tiên tại Trung tâm CTXH Thanh Hóa để đúc rút thành lý luận và
những đề xuất thực tiễn, chính sách luật pháp
Nghiên cứu vấn đề trong hệ thống: Hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp, hệ thống các yếu tố có liên quan: dịch vụ trợ giúp, hệ thống chính sách,
khả năng của trẻ em khuyết tật…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu: + Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH như: Nhập môn CTXH, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết CTXH, CTXH với người khuyết tật + Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề
CTXH đối với trẻ em KTVĐ như: đề tài “CTXH với TEKTVĐ’’ (Trường hợp tại
Trang 13làng Hữu Nghị Việt Nam), đề tài “Thực trạng công tác chăm sóc TEKT tại làng
Hòa Bình Thanh Xuân – Hà Nội”
+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của tỉnh như: Đánh giá 5 năm thực hiện Luật NKT và Đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Báo cáo kết quả thực hiện Luật NKT năm 2015 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Báo cáo kết quả thực hiện Đề án 32 phát triển nghề CTXH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa; Báo cáo tổng kết năm 2015 của Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH tỉnh Thanh Hóa
+ Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách hỗ trợ đối với TEKTVĐ và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ, giúp đỡ các em
- Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động phẫu thuật, hoạt động phục hồi chức năng, hoạt động tham gia sinh hoạt, hoạt động tham vấn tư vấn, hoạt động quản lý ca và các hoạt động khác cho TEKTVĐ tại trung tâm
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài sẽ sử dụng phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi trong phạm vi
98 TEKTVĐ tại Trung tâm để thu thập thông tin về thực trạng TEKT
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn 2 đối tượng chính là:
+ Phỏng vấn TEKT và gia đình của TEKT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua nghiên cứu thực tiễn CTXH đối với TEKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH tỉnh để đánh giá được thực trạng trong việc chăm sóc và trợ giúp TEKTVĐ hiện nay, đề tài đề xuất những phương hướng và giải pháp để nâng cao
Trang 14chất lượng cuộc sống, nâng cao khả năng hỗ trợ, giúp đỡ của cộng đồng đối với TEKTVĐ nói chung và NKT nói riêng nhằm giúp cho NKT hòa nhập tốt với cộng đồng, phát huy vai trò, năng lực của họ đối với cộng đồng
Có thể làm tài liệu tham khảo cho tổ chức và cá nhân nghiên cứu về công tác xã hội cá nhân với TEKTVĐ
7 Cơ cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
vận động
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận
động và ứng dụng mô hình quản lý ca từ thực tiễn tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội
cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
1.1 Một số lý luận về trẻ em và trẻ em khuyết tật vận động
1.1.1 Một số khái niệm liên quan tới đề tài nghiên cứu
- Khái niệm trẻ em: Theo công ước Quốc tế về quyền trẻ em, trong phạm vi của
Công ước này “Trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật
pháp áp dụng với trẻ em có qui định tuổi thành niên sớm hơn” [13]
Theo Pháp luật Việt Nam chưa có các qui định thống nhất về khái niệm trẻ em trong từng ngành luật cụ thể Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2005 của
Việt Nam : “trẻ em qui định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [23]
Theo Bộ luật dân sự 2005 thì trẻ em là những người dưới 15 tuổi…
Theo Pháp luật Liên bang của Hoa kỳ thì “trẻ em là người dưới 18 tuổi”
Nhìn chung mỗi nước có qui định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em, việc qui định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh
lý của trẻ em ở mỗi quốc gia Do đó có những quốc gia qui định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc muộn hơn 18 tuổi như được xác định trong công ước về quyền trẻ em Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ
em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:
- Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành
- Cần có sự chăm sóc, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt pháp lý
Ngoài ra trong các qui phạm pháp luật Việt Nam còn xuất hiện các khái niệm
“người thành niên”, “người chưa thành niên” Như vậy vấn đề đặt ra là phân biệt
giữa các khái niệm trên và khái niệm “trẻ em”
Theo pháp luật Việt Nam:
- Người thành niên: là người trên 18 tuổi
- Người chưa thành niên: là người dưới 18 tuổi
Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm về trẻ em, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi
Trang 16Do đó để phù hợp với pháp luật Việt Nam, tại Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em năm 2005 quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công
dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” Theo quy định, trẻ em có hai đặc trưng, một là
công dân Việt Nam và hai là độ tuổi được xác định là dưới 16 Như vậy, những người có quốc tịch Việt Nam dưới 16 tuổi là đối tượng điều chỉnh của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam
- Khái niệm người khuyết tật:
Theo quan điểm của Công ước Quốc tế về Quyền của người khuyết tật được
phê chuẩn ngày 30/03/2007 cho rằng người khuyết tật bao gồm những người có
khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” [13]
Như vậy, theo quan điểm này NKT ám chỉ cả yếu tố sinh học và xã hội mà ở
đó phản ảnh sự tương tác giữa các yếu tố liên quan tới cơ thể con người và yếu tố xã hội mà họ sống, tồn tại trong đó (WHO, 2012) Sự khiếm khuyết cơ thể của NKT được xem như điều kiện về sức khỏe và khuyết tật là sự phức hợp của điều kiện sức khỏe và các yếu tố môi trường mà NKT sống ở đó (quan niệm, cách nhìn nhận, sự đáp ứng của xã hội như: chính sách, dịch vụ…), yếu tố cá nhân NKT (như động lực, nghị lực lòng tự trọng ) Các yếu tố này có thể vừa là thúc đẩy hay rào cản đối với
sự thực hiện, sự tham gia của NKT trong cộng đồng xã hội Khuyết tật, tàn tật được hiểu theo những cách khác nhau ở Việt Nam
- Khuyết tật trong từ điển tiếng Việt là: tật bẩm sinh, dị tật [17]
- Tàn tật là có một cơ quan quan trọng nào đó trong cơ thể bị tật nặng, mất khả năng lao động, hay khả năng hoạt động bình thường [6, tr 856]
Theo Luật NKT Việt nam (2010), NKT là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [22]
Dạng tật được quy định trong luật [22]bao gồm:
- Khuyết tật vận động;
Trang 17- Khuyết tật nghe, nói;
- Khuyết tật nhìn;
- Khuyết tật thần kinh, tâm thần;
- Khuyết tật trí tuệ;
- Khuyết tật khác
Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này
- Khái niệm trẻ em khuyết tật:
Là trẻ em có khiếm khuyết về cấu trúc cơ thể, suy giảm các chức năng, hạn chế khả năng hoạt động, khó khăn trong sinh hoạt học tập, vui chơi và lao động Trẻ khuyết tật thường được phân thành các nhóm sau: Trẻ khiếm thính, trẻ khiếm thị, trẻ khó khăn về học, trẻ khó khăn về vận động, trẻ khó khăn về ngôn về ngôn ngữ, trẻ đa tật và trẻ có các dạng khuyết tật khác
- Khái niệm trẻ em khuyết tật vận động
Trẻ khuyết tật vận động là những trẻ do các nguyên nhân khác nhau, gây ra sự tổn thất các chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển, sinh hoạt và học tập… Trẻ khuyết tật vận động gồm có hai dạng:
- Trẻ khuyết tật vận động do chấn thương nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm què cụt, khoèo, liệt chân tay
- Trẻ em khuyết tật vận động do tổn thương trung khu vận động não bộ
Đối với dạng thứ nhất thì những trẻ này vẫn có một bộ máy sinh học bình thường làm cơ sở vật chất thực hiện hoạt động nhận thức Nói cách khác, khi trẻ có khiếm khuyết đơn thuần về vận động thì trẻ hoàn toàn có khả năng nhận thức như những trẻ bình thường khác Tuy nhiên, sự phát triển hoạt động nhận thức của trẻ
Trang 18phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tham gia các hoạt động trong môi trường xung quanh Trẻ khuyết tật vận động khó đạt được trình độ nhận thức cũng như những trải nghiệm như mọi trẻ bình thường khác Chẳng hạn, trẻ không thể có cảm giác mỏi chân nếu trẻ bại liệt đôi chân không thể đi được, không thể leo trèo được thì khó có cảm giác về độ cao và kĩ năng lấy thăng bằng của cơ thể, không có cảm giác
về sức đẩy của nước nếu không được ngâm mình trong nước…
Đối với dạng thứ hai thì sự tổn thương về não bộ gây rất nhiều cản trở cho hoạt động nhận thức của trẻ, thậm chí là trình độ nhận thức ở mức độ nặng Hoạt động nhận thức của loại trẻ này cũng có những hạn chế tương tự như trẻ chậm phát triển trí tuệ và còn bị ảnh hưởng thêm của khuyết tật vận động Song cũng cần lưu ý những trường hợp khuyết tật vận động do bại não gây nên thì hoạt động nhận thức của trẻ hầu như không bị ảnh hưởng song trẻ khó có thể biểu đạt được suy nghĩ, hành động, lời nói một cách bình thường do sự cản trở của khuyết tật vận động
1.1.2 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của trẻ em khuyết tật vận động
Trẻ em khuyết tật vận động dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng Ngoài ra TKTVĐ thường có tâm lý mặc cảm tự
ti Luôn cho rằng số phận mình không được may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình Do đó họ thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người Trong quá trình tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng và hay tự ái Nếu sống trong những gia đình khó khăn thường NKT
có cảm giác bị bỏ rơi
Mọi trẻ em sinh ra và lớn lên trong xã hội loài người đều có những nhu cầu cơ bản về cơ thể, sự an toàn (Bậc thang nhu cầu cơ bản của Maslow) và những khả năng nhất định (thuyết đa năng lực của Gardner) TKT cũng có nhu cầu cơ bản và khả năng nhất định Tuy ở những mức độ khác nhau so với trẻ em bình thường, đầu tiên có thể kể đến những nhu cầu cơ bản: Nhu cầu cơ thể ( ăn, uống, ngủ…), nhu cầu cảm giác an toàn, nhu cầu cảm giác tiếp xúc, nhu cầu về đồ vật… được thể hiện bằng tiếng khóc, tiếng bập bẹ, tiếng cười, ánh mắt, cử động của cơ thể
Mỗi trẻ là một bức tranh hết sức đa dạng, phong phú về nhân cách, chúng có khả năng, nhu cầu và sở thích riêng, có cách thể hiện riêng Được tham gia vào các
Trang 19hoạt động trong môi trường hòa nhập tại cộng đồng, xã hội, nhà trường và gia đình thì trẻ khuyết tật mới có cơ hội được bộc lộ, thể hiện một cách đầy đủ và rõ nét nhất khả năng và nhu cầu của mình Đồng thời, đó cũng chính là cách giảm thiểu được những ảnh hưởng bất lợi của khuyết tật đối với các chức năng hoạt động cơ thể khác và không làm xuất hiện “khuyết tật thứ hai” của trẻ
1.2 Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động
1.2.1 Lý luận về công tác xã hội
- Khái niệm công tác xã hội
Theo IFSW và IASSW (2011): Công tác xã hội được xem như một là nghề
nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống [14]
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010): Công tác xã hội được xem là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần
Mục đích của công tác xã hội là hướng tới: một mặt nâng cao năng lực cho các nhóm đối tượng như cá nhân, gia đình và cộng đồng khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn khiến họ suy giảm chức năng xã hội, mặt khác hướng tới cải thiện môi trường
xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng thực hiện các chức năng, vai trò của
Trang 20+ CTXH là một khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và những quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp khi thực hành loại ngành nghề này
+ Đối tượng tác động của CTXH là cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như trẻ em, phụ nữ, gia đình nghèo, người già, NKT, những người có hoàn cảnh khó khăn nên khó hòa nhập xã hội và chức năng xã hội bị suy giảm
+ Hướng trọng tâm của CTXH là tác động đến con người như một tổng thể; tác động đến con người trong môi trường của họ
+ Mục đích của CTXH là hướng tới giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí của cá nhân, gia đình, cộng đồng từ đó giúp họ hòa nhập xã hội + Vấn đề mà cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can thiệp của CTXH là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân như sự hạn chế về thể chất, sức khỏe, tinh thần, thiếu việc làm, không được đào tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm
Từ những khái niệm và phân tích trên tôi đưa ra khái niệm như sau:
CTXH là một khoa học, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế nâng cao năng lực, tăng cường các chức năng xã hội nhằm ứng phó với những vấn đề xã hội tiêu cực xảy ra từ đó hướng đến mục tiêu phát triển bền vững
- Nguyên tắc công tác xã hội
Trên cơ sở nền tảng triết lý, giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của công tác xã hội người ta đưa ra hệ thống các quy tắc ứng xử cho nhân viên xã hội trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ như sau:
- Chấp nhận đối tượng
Đối tượng phục vụ của ngành công tác xã hội là con người, đặc biệt là nhóm người yếu thế, nhóm người có hoàn cảnh và nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng Vì vậy trong các hoạt động trợ giúp, nhân viên xã hội cần có thái độ tôn trọng phẩm giá con người và chấp nhận họ, không phán xét những hành vi hay suy nghĩ của họ
Trang 21- Tạo điều kiện để đối tượng tham gia giải quyết vấn đề
Nguyên tắc để đối tượng tham gia giải quyết vấn đề là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của nhân viên xã hội Vì vậy họ cần là người tham gia chủ yếu từ khâu đánh giá vấn đề tới ra khi quyết định, lựa chọn giải pháp, thực hiện giải pháp cũng như lượng giá kết quả của giải pháp đó Người nhân viên
xã hội chỉ đóng vai trò xúc tác, vai trò định hướng trong quá trình trợ giúp đối tượng thực hiện giải pháp cho vấn đề của họ, nhân viên xã hội không làm thay, làm
hộ mà khích lệ họ có niềm tin để tự giải quyết vấn đề
- Tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng
Nguyên tắc này nêu lên để nhân viên xã hội không quyết định thay đối tượng
mà chỉ đóng vai trò là người xúc tác và giúp đỡ họ đưa ra quyết định đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh của họ Nhân viên xã hội cần tôn trọng quyết định đối tượng đưa
ra, không áp đặt ý kiến cá nhân trong việc lựa chọn giải pháp cho vấn đề thay cho đối tượng
- Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp
Con người có những nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh khác nhau, nên có những tính cách khác nhau, những mong muốn, nguyện vọng không giống nhau Việc cá biệt hoá trường hợp của đối tượng (cá nhân, gia đình hay cộng đồng) giúp nhân viên xã hội đưa ra phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể Giải pháp cho mỗi trường hợp cần được cân nhắc trên
cơ sở nhu cầu, đặc điểm, khả năng và nguồn lực mà họ có
- Đảm bảo tính bí mật các thông tin về trường hợp của đối tượng
Giữ bí mật thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản không chỉ ngành công tác xã hội sử dụng mà nhiều ngành khác cũng áp dụng như: ngành luật, tài chính, y tế…Nó thể hiện sự tôn trọng những vấn đề riêng tư của đối tượng và không được chia sẻ những thông tin của đối tượng với người khác khi chưa có sự đồng ý của đối tượng Tuy nhiên trong một số trường hợp sẽ có ngoại lệ khi cơ quan thẩm quyền như toà án, công an …người quản lý có thẩm quyền yêu cầu nhân viên xã hội
có thể cung cấp thông tin mà không cần có sự chấp thuận ý kiến của đối tượng
Trang 22- Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp
Công cụ chính trong các hoạt động công tác xã hội là mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và đối tượng Do đối tượng tác động của nhân viên xã hội là con người, nhân viên xã hội cần có phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp Mối quan hệ giữa nhân viên xã hội và đối tượng cần đảm bảo tính thân thiện, tương tác hai chiều, song khách quan và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn
1.2.2 Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân (trong tiếng Anh là Case Work hay Working with individuals) Theo Charle Zastrow (2003): CTXH cá nhân là phương pháp của CTXH thông qua mối quan hệ tương tác 1-1 giữa NVXH với cá nhân thân chủ nhằm trợ giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi (kinh tế - xã hội) của môi trường, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách thức tương tác với môi trường Theo Fardey O.W.et la (2000) cũng coi CTXH cá nhân là phương pháp trợ giúp mà
ở đó NVXH sử dụng hệ thống giá trị, kiến thức hành vi con người và các kỹ năng chuyên môn về công tác xã hội để giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội, xử lý các mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh thông qua mối quan hệ tương tác 1-1
Dưới đây là một số khái niệm CTXH cá nhân được tác giả lựa chọn
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998): CTXH cá nhân được định nghĩa rất
ngắn gọn và tập trung vào can thiệp những vấn đề nhân cách của đối tượng: CTXH
cá nhân là một biện pháp can thiệp quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một đối tượng cảm nghiệm [16]
Trang 23Tác giả Lê Chí An (2006): CTXH cá nhân là một phương pháp giúp đỡ con
người giải quyết các vấn đề khó khăn Nó mang đặc thù, khoa học và nghệ thuật
Nó giúp các cá nhân có những vấn đề riêng tư cũng như những vấn đề bên ngoài và vấn đề môi trường Đó là một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan hệ để khai thác tài nguyên cá nhân và những tài nguyên khác nhằm giải quyết các vấn đề Lắng nghe, quan sát, vấn đàm, vãng gia và đánh giá những công cụ chủ yếu của CTXH cá
nhân mà cá nhân thân chủ thay đổi thái độ, suy nghĩ và hành vi của mình [1]
Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan, Bùi Thị Xuân Mai khái quát lại khái niệm
CTXH cá nhân như sau: CTXH cá nhân là phương pháp của CTXH thông qua tiến
trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình Trong tiến trình này nhân viên CTXH cần biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai [15]
Như vậy có thể thấy công tác xã hội cá nhân có những đặc điểm như sau:
CTXH cá nhân là một phương pháp trợ giúp trong CTXH thông qua mối quan
hệ tương tác trực tiếp 1-1
Mục đích của CTXH cá nhân là giúp cho cá nhân giải quyết vấn đề của họ khi gặp khó khăn về tâm lý, kinh tế, việc làm…và thúc đẩy các nhà khoa học tích cực triển khai nghiên cứu làm cơ sở đưa ra chính sách xã hội giúp NKT được đảm bảo những quyền của họ, được sống bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, phát huy những tiềm năng và sống hòa nhập cộng đồng
Đối tượng trợ giúp của CTXH là những cá nhân trong hoàn cảnh khó khăn như: NKT, nghèo đói…
- Các yếu tố cấu thành của công tác xã hội với cá nhân
Theo Perlman: Các yếu tố cấu thành của CTXH với cá nhân bao gồm:
a Cá nhân: Người cần sự trợ giúp
b Vấn đề: Khó khăn trở ngại mà cá nhân đang gặp phải
Trang 24c Cơ quan: Tổ chức cung cấp dịch vụ, đại diện cho tổ chức là NVXH
d Tiến trình là các hoạt động đi theo tuần tự với các hoạt động nhằm nâng cao chức năng của cá nhân để họ có khả năng tự giải quyết vấn đề của họ
Trong quá trình thực hành CTXH cá nhân việc áp dụng lý thuyết ứng dụng vào mô hình rất quan trọng, trong đó phải nói đến lý thuyết hệ thống sinh thái: Lý thuyết sinh thái là một lý thuyết rất quan trọng trong nền tảng triết lý của công tác
xã hội Theo lý thuyết này mỗi cá nhân đều có một môi trường sống và hoàn cảnh sống, họ chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và họ cũng ảnh hưởng ngược lại môi trường sống quanh họ
Như vậy có thể nói, cốt lõi của lối tiếp cận này là:
+ Con người sống trong môi trường
+ Con người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
+ Con người ảnh hưởng ngược trở lại với môi trường
- Các nguyên tắc của công tác xã hội cá nhân:
Nguyên tắc của CTXH cá nhân cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc CTXH như: Chấp nhận đối tượng, tạo điều kiện cho đối tượng tham gia giải quyết vấn đề, tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng…
- Các hoạt động, hình thức trợ giúp công tác xã hội cá nhân
+ Tham vấn
+ Hỗ trợ xử lý
+ Quản lý ca
+ Cung cấp các dịch vụ liên quan
1.2.3 Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động
- Khái niệm công tác xã hội cá nhân với trẻ em khuyết tật vận động
Từ những nghiên cứu trên về TE, KT, NKT, TEKT, CTXH cá nhân, xin đưa
ra khái niệm về CTXH cá nhân với TEKTVĐ như sau:
Công tác xã hội cá nhân với TEKTVĐ là hoạt động trợ giúp mà ở đó nhân viên công tác xã hội áp dụng hệ thống giá trị đạo đức nghề CTXH, các kiến thức, kỹ năng của CTXH cá nhân vào trợ giúp TEKTVĐ giải quyết vấn đề và đáp ứng nhu cầu của TEKTVĐ đồng thời thúc đẩy chính sách trợ giúp TEKTVĐ
Trang 25- Mục đích của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động
Từ cách hiểu về CTXH với TEKTVĐ cũng như mục đích của CTXH, có thể nói mục đích của CTXH cá nhân với TEKTVĐ là nhằm hỗ trợ bản thân trẻ và gia đình TEKTVĐ; quản lý ca đối với TEKTVĐ; tham gia vào xây dựng phản biện chính sách, pháp luật đối với TKTVĐ; Biện hộ cho quyền và lợi ích của TEKTVĐ
- Các hoạt động của công tác xã hội cá nhân với trẻ khuyết tật vận động bao
gồm: tham vấn, quản lý trường hợp, hỗ trợ kỹ năng xử lý khủng hoảng, stress, biện
hộ… cho TEKTVĐ và gia đình các em
- Các nguyên tắc công tác xã hội cá nhân với trẻ em khuyết tật vận động
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của CTXH người ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho NVCTXH trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Những qui tắc ứng xử này đóng vai trò như kim chỉ nam cho hành động tương tác của NVCTXH với thân chủ trong quá trình trợ giúp Sau đây là những nguyên tắc ứng xử của NVCTXH trong quá trình tiến hành hoạt động trợ giúp với trẻ em khuyết tật vận động
+ Tôn trọng trẻ khuyết tật
Tôn trọng TKT là thái độ không phán xét, không xem thường, miệt thị hoặc quá chú tâm đến TKT Nhân viên CTXH chăm sóc TEKT đón nhận sự chia sẻ, thấu hiểu nỗi đau khổ của TEKT, quan tâm đến nhu cầu, tâm tư của các em Với TEKT
họ rất nhạy cảm với thái độ, cách cư xử của người khác Giúp TEKT tự tin, thấy rõ giá trị bản thân, biết chấp nhận bản thân để khắc phục là điều quan trọng
+ Chấp nhận sự khác biệt
Giá trị này muốn chuyển tải đến NVCTXH cần luôn tin tưởng vào sự khác biệt, duy nhất của mỗi cá nhân, hoàn cảnh sống, nhu cầu, cảm xúc, mong muốn, những ưu điểm và khuyết điểm khác biệt Những giá trị riêng này giúp cho nhân viên CTXH phải suy nghĩ và sáng tạo trong cách tiếp cận giúp đỡ từng TKT Ngay
cả khi TKT gặp những khó khăn như nhau thì cách giải quyết giúp đỡ sẽ khác nhau
do mỗi cá nhân có hoàn cảnh, tâm tư tình cảm, suy nghĩ, nhận thức và những điểm mạnh khác nhau
Trang 26+ Tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề vấn đề của trẻ khuyết tật
Trong CTXH với TEKT, nguyên tắc tin vào tính tự quyết của đối tượng là nguyên nhân tắc mà NVCTXH luôn phải nhận thức và chú trọng trong quá trình làm việc NVCTXH giúp đối tượng nhận ra những điểm mạnh của mình, phân tích tìm ra các giải pháp khác nhau để đối tượng có thể tự mình quyết định giải pháp giải quyết vấn đề của mình
+ Trung thực, chân thành với TKT
Đây là nguyên tắc không thể thiếu của người NVCTXH, việc TEKT được nhận những thông tin đầy đủ, trung thực giúp họ có thể lường hết được những khó khăn cũng như những điều bất trắc xảy ra với họ, để họ tăng cường giải pháp đề phòng Nếu họ không được nhận những thông tin trung thực, khi họ gặp khó khăn thì khó có thể thích nghi kịp, có thể xuất hiện sự bất an, thậm chí sợ hãi khi khả
năng “tự vệ” của mình hạn chế nhất định do các dạng tật gây ra
- Các hình thức can thiệp của công tác xã hội cá nhân với trẻ em khuyết tật vận động
+ Hoạt động tham vấn: Tham vấn cho TKTVĐ chính là quá trình NVCTXH
tương tác với đối tượng, trong quá trình này NVCTXH sử dụng những kỹ năng chuyên môn, kiến thức và đạo đức nghề nghiệp để khơi dậy, trợ giúp cho TKT giải
quyết được những vấn đề mà họ đang gặp phải
- Mục đích của tham vấn trong CTXH cá nhân đối với TEKTVĐ là: Giúp cho
TEKTVĐ và gia đình của họ ổn định về mặt tinh thần, giảm bớt những cảm xúc tiêu cực trong hoàn cảnh khó khăn; Giúp cho TEKT cũng như gia đình của họ đạt tới mức độ thích hợp về tư tưởng, tình cảm, thái độ, hành vi ứng xử, phù hợp với chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội Bên cạnh đó, quá trình tham vấn còn cung cấp kiến thức, kinh nghiệm, thông tin liên quan đến các lĩnh vực cần thiết cho TEKT: giáo
dục, sức khỏe, việc làm…
- Quy trình tham vấn trong công tác xã hội cá nhân với trẻ khuyết tật
+ Giai đoạn 1: Tạo lập mối quan hệ và lòng tin
+ Giai đoạn 2: Xác định vấn đề
Trang 27+ Giai đoạn 3: Lựa chọn giải pháp
+ Giai đoạn 4: Triển khai giải pháp
+ Giai đoạn 5: Kết thúc và theo dõi
- Hoạt động Quản lý ca (quản lý trường hợp)
Quản lý ca chính là một công cụ tiếp cận hỗ trợ cho TEKT tiếp cận với các dịch vụ xã hội, kết nối với các nguồn lực bên trong và bên ngoài, để đáp ứng tốt nhất cho TEKT các nhu cầu về vật chất, tinh thần, tâm lý xã hội, giúp đảm bảo an sinh và thực hiện tốt các quyền cũng như chức năng xã hội của họ Đây cũng là một quá trình có sự tham gia của TEKT và gia đình của họ vào việc xác định vấn đề, lên
kế hoạch giải quyết vấn đề và hỗ trợ thực hiện các kế hoạch đã đề ra để đạt được
mục tiêu mong muốn
- Những mục tiêu của quản lý ca đối với trẻ khuyết tật: Kết nối họ và gia
đình tới các nguồn lực của cá nhân, cộng đồng để họ có thể giải quyết được vấn đề của mình; Tăng cường khả năng tự giải quyết vấn đề và đối phó với vấn đề của TEKT và gia đình của trẻ; Thiết lập và thúc đẩy hệ thống cung cấp dịch vụ hoạt động hiệu quả, huy động nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của TEKT, tham
gia nghiên cứu, hoạch định các chính sách xã hội cho TEKT
Một số nguyên tắc cơ bản trong quản lý ca:
+ Dịch vụ toàn diện: Đảm bảo cho TKT nhận được đầy đủ các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của mình
+ Dịch vụ liên tục: Nhấn mạnh đến việc không gián đoạn trong kế hoạch đáp ứng nhu cầu cho TKT
+ Đảm bảo công bằng: Mỗi TEKT đều có các quyền như nhau khi tiếp cận các dịch vụ
+ Dịch vụ chất lượng: Nhấn mạnh sự cam kết của nhân viên quản lý ca đối với việc tôn trọng quyền của thân chủ và trách nhiệm của họ khi cung cấp dịch vụ + Trao quyền: Là việc tôn trọng sự khác biệt của mỗi TKT, dành quyền tự quyết cho TKT, xây dựng kế hoạch dựa trên tiềm năng và lợi ích của đối tượng, tạo
cơ hội tham gia và khả năng tự đáp ứng của TKT
Trang 28- Quy trình quản lý ca bao gồm 5 bước:
+ Tiếp nhận và đánh giá;
+ Xây dựng kế hoạch can thiệp;
+ Triển khai kế hoạch can thiệp;
+ Giám sát và rà soát;
+ Lượng giá và kết thúc
- Hoạt động can thiệp khủng hoảng
Can thiệp khủng hoảng của CTXH cá nhân đối với TEKT chính là tự tương tác, can thiệp hỗ trợ của NVCTXH đối với TEKT nhằm giúp họ tránh được những sang chấn tâm lý, căng thẳng, trở lại được trạng thái cân bằng, tránh được những khó khăn do trạng thái tâm lý tiêu cực mang lại
Quy trình can thiệp khủng hoảng cho trẻ em khuyết tật trong công tác xã hội cá nhân:
Tạo dựng mối quan hệ tích cực với người bị khủng hoảng; Thông qua sự lắng nghe, thấu cảm với cảm xúc của họ; Không phán xét suy nghĩ, cảm xúc hay tình trạng của họ; Bộc lộ sự gần gũi, quan tâm và luôn sẵn sàng bên họ; Nâng đỡ khuyến khích họ bộc lộ cảm xúc: Chấp nhận cảm xúc của đối tượng; Chia sẻ cảm xúc, trải nghiệm của bản thân với đối tượng để đối tượng yên tâm khi nói về bản thân;Thảo luận về sự kiện gây ra tình huống khủng hoảng: Khi đối tượng đã tin cậy NVCTXH
và đã nói về cảm xúc của mình, NVCTXH trao đổi với TEKT thêm về các vấn đề liên quan đến sự kiện gây ra khủng hoảng; Đặt câu hỏi một cách khéo léo để TEKT nói thêm về các tình tiết cũng như các cảm xúc của mình
+ Nhận biết tình huống: Thông qua thảo luận nhân viên CTXH nhận biết rõ tình huống gây ra khủng hoảng với đối tượng
+ Phân tích tình huống: Cùng đối tượng phân tích nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng
+ Khôi phục lý trí: Giúp đối tượng có quyết tâm vượt qua khủng hoảng; Bộc
lộ sự sẵn sàng giúp đỡ khi đối tượng gặp khó khăn; Hỗ trợ đối tượng lên kế hoạch vượt qua tình trạng khủng hoảng
Trang 29+ Thực hiện kế hoạch hành động: Theo dõi việc thực hiện kế hoạch của đối tượng; Khích lệ đối tượng thực hiện kế hoạch; Hỗ trợ gia đình và người thân cùng trợ giúp đối tượng thực hiện kế hoạch
+ Đánh giá tổng kết và theo dõi sau quá trình can thiệp cho đối tượng
- Các hoạt động khác của công tác xã hội cá nhân với trẻ em khuyết tật vận động
+ Hoạt động phát hiện và can thiệp sớm: Phát hiện sớm là việc sàng lọc sự
phát triển của trẻ theo độ tuổi nhằm phát hiện những yếu tố nguy cơ dẫn đến chậm phát triển hoặc bị khuyết tật từ những biện pháp hỗ trợ và can thiệp kịp thời
Can thiệp sớm là việc áp dụng bất kỳ một dịch vụ hoặc hình thức hỗ trợ nào nhằm vào trẻ, vào cha mẹ hoặc cá nhân và môi trường xung quanh để giúp trẻ phát triển tối đa tiềm năng còn lại của mỗi em và giúp trẻ hòa nhập cộng đồng
+ Mục tiêu của phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ em khuyết tật
Đối với trẻ em: Giúp ngăn ngừa yếu tố nguy cơ dẫn tới chậm phát triển hay rối
loạn chức năng, giúp trẻ thiết lập được mối quan hệ tương tác với môi trường xung quanh thông qua những tác động tích cực đối với trẻ chậm phát triển, can thiệp sớm
là một biện pháp hiệu chỉnh chức năng, giúp trẻ duy trì nhịp độ phát triển; giảm tác dụng phụ của các bệnh mãn tính và suy giảm chức năng vĩnh viễn, ngăn ngừa được khuyết tật phối hợp
Đối với cha mẹ trẻ: Giúp cha mẹ có tác động tích cực vào quá trình can thiệp
như: chăm sóc trẻ hàng ngày, duy trì tư thế đúng, bế ẵm, tập luyện qua đó không những phát triển mối quan hệ tương tác thân thiện giữa cha mẹ với trẻ mà còn phát hiện được tiềm năng, điểm mạnh của trẻ Bên cạnh đó từ phát hiện và can thiệp sớm các bậc cha mẹ dễ dàng chấp nhận khuyết tật của trẻ như một điều hiển nhiên và sẵn sàng đương đầu với các vấn đề của trẻ, có phương pháp, cách thức hỗ trợ trẻ một cách tốt nhất Phát hiện sớm và can thiệp sớm giúp cha mẹ có ý thức trong việc tiếp cận thông tin tốt hơn về chuẩn đoán nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, sự phát triển bình thường của trẻ, hệ thống các dịch vụ hiện có cũng như cách thức làm thế nào
để giúp trẻ phát triển khỏe mạnh
Trang 30Đối với gia đình: Giúp các thành viên trong gia đình có thái độ, cách nhìn
nhận và hành vi đúng mực về các vấn đề của trẻ Họ sẵn sàng tham gia vào hệ thống
hỗ trợ trẻ và quyết tâm cùng gia đình đối phó với vấn đề khó khăn mà trẻ gặp phải thông qua việc cùng thực hiện các hoạt động chung của cha mẹ, chăm sóc trẻ
Đối với NVCTXH: Tiếp nhận, đánh giá được thực trạng có nhiều dạng khuyết
tật trong cộng đồng để từ đó có phương pháp can thiệp phù hợp; giúp tăng cường các cơ hội tiếp cận dịch vụ cho trẻ; dịch vụ giáo dục, dịch vụ chăm sóc y tế, dịch vụ vui chơi giải trí…giúp cho trẻ và gia đình trẻ có thể phát hiện và can thiệp kịp thời giúp trẻ có cuộc sống tốt đẹp nhất
+ Phẫu thuật và phục hồi chức năng
TEKTVĐ là di chứng các bệnh lý cấp tính, bệnh lý di truyền bẩm sinh để lại những thiếu hụt, mất mát hay bất bình thường về cấu trúc, chức năng, giải phẫu sinh
lý, gây ra hậu quả là khiếm khuyết, giảm khả năng lao động và học tập, cản trở việc thực hiện vai trò của trẻ để tồn tại trong cộng đồng, dẫn đến phải phụ thuộc một phần hoặc hoàn toàn vào người khác để có thể tồn tại, trong khi đó những trẻ em cùng tuổi, cùng giới tính đều có thể thực hiện được
Mục đích của phẫu thuật - phục hồi cho TEKTVĐ là ngăn ngừa bệnh tật thứ phát; làm cho TEKTVĐ thực hiện được tối đa các chức năng sinh lý, tinh thần và nghề nghiệp đã bị giảm hoặc mất do khiếm khuyết và giảm khả năng gây nên; tạo cho TEKTVĐ có cuộc sống tự lập tối đa và giúp TEKTVĐ hòa nhập được với gia đình, xã hội và có hoạt động nghề nghiệp có thu nhập
- Yêu cầu trình độ chuyên môn công tác xã hội cá nhân đối với người làm việc với trẻ em khuyết tật vận động
CTXH với TEKTVĐ là một khía cạnh trong lĩnh vực CTXH nói chung Nhân viên CTXH đóng vai trò cung cấp cho TEKT và gia đình họ nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, từ hỗ trợ tâm lý đến việc phát triển các mạng lưới liên kết để có thể giúp cho TEKTVĐ tiếp cận được với các dịch vụ y tế, xã hội hoặc tiếp cận các tổ chức có khả năng trợ giúp TEKT NVCTXH là người phải hiểu được cảm xúc và phản ứng của thân chủ đối với sự khuyết tật, ảnh hưởng của khuyết tật tới cơ hội và khả năng
phát triển của họ cũng như của gia đình họ
Trang 31Sống trong môi trường xem TEKTVĐ là trẻ tàn tật nên các em ít có cơ hội học tập và phát triển, do đó đại đa số TEKTVĐ thiếu hẳn kỹ năng sống Vì vậy NVCTXH đóng vai trò nhà giáo dục giúp TEKT phát triển kỹ năng xã hội cần thiết
để trẻ có thể tự tin hơn khi tham gia vào hoạt động xã hội có ích cho cuộc sống tự lập Ngoài ra NVCTXH là người hỗ trợ và thúc đẩy môi trường giúp TKTVĐ có cơ hội hòa nhập cộng đồng thông qua việc xây dựng và lập các kế hoạch, tổ chức các hoạt động, các chương trình tập huấn, truyền thông thay đổi, nâng cao nhận thức của cộng đồng về việc hỗ trợ, giúp đỡ TEKT và gia đình của họ Đồng thời NVCTXH còn là người biện hộ đảm bảo quyền lợi của trẻ được tôn trọng và nhu cầu của trẻ được thỏa mãn cũng như mang lại những dịch vụ tốt nhất cho đối tượng
Để có thể giúp đỡ được TEKTVĐ và gia đình của trẻ, NVCTXH ngoài việc luôn phải chú trọng đến trau rồi kiến thức và kỹ năng chuyên môn thì cần liên tục cập nhật, nắm chắc các quy định về luật pháp và chính sách dành cho NKT Do mỗi ngành nghề đều có những nguyên tắc hoạt động nhất định Nguyên tắc này là kim chỉ nam định hướng cho người thực hành nghề nghiệp Đối với nhân viên CTXH khi làm việc với TEKT phải đảm bảo các nguyên tắc của CTXH và vai trò của NVCTXH khi làm việc với TEKTVĐ thì với mang lại hiệu quả và tính chuyên
nghiệp của CTXH trong làm việc với đối tượng
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động
1.3.1 Yếu tố thuộc về bản thân trẻ em khuyết tật vận động
TEKTVĐ dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng Ngoài ra TKTVĐ thường có tâm lý mặc cảm tự ti, luôn cho rằng số phận mình không được may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình Do đó họ thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người Trong quá trình tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng và hay
tự ái Nếu sống trong những gia đình khó khăn thường NKT có cảm giác bị bỏ rơi Ngoài ra, vì tình trạng do khuyết tật gây ra, TEKTVĐ biểu hiện dễ nhận thấy là có khó khăn như: ngồi, nằm, di chuyển, cầm, nắm… Do đó TEKTVĐ gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động
Trang 32Mặt khác, gia đình và cộng đồng tại địa phương luôn là những người gần gũi nhất đối với TEKTVĐ Bên cạnh những người thật sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ TEKTVĐ thì vẫn còn những người chưa thật sự quan tâm, chăm sóc, trợ giúp Sự nhận thức không đúng đắn của những người này ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động của CTXH đối với TEKTVĐ như: họ không tham gia vào các phong trào hay các hoạt động có liên quan đến TEKTVĐ …
1.3.2 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội
Phát triển nghề CTXH trong cộng đồng là một trong những giải pháp hiệu quả
để giải quyết các vấn đề xã hội, trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế ngay tại địa bàn, góp phần bảo đảm an sinh xã hội Do đó, để hướng tới chuyên nghiệp hóa nghề công tác xã hội thì việc phát huy năng lực, vai trò của đội ngũ cộng tác viên là yêu cầu hết sức cần thiết
NVCTXH là những người có kiến thức, kỹ năng, họ là cầu nối giữa đối tượng với các nguồn lực hỗ trợ của xã hội và là người biết quan tâm chia sẻ động viên thân chủ vượt qua khó khăn để vươn lên hòa nhập với cộng đồng NVCTXH còn là người giúp cho gia đình và cộng đồng hiểu rõ những nhu cầu và năng lực của TEKTVĐ từ đó tạo ra môi trường thuận lợi cho TEKTVĐ tự tin phát huy khả năng của mình Ngoài ra NVCTXH cần phải nắm rõ hệ thống các văn bản quy định chính sách hỗ trợ cho TEKT từ đó có thể chia sẻ thông tin hỗ trợ TEKT và gia đình trẻ giải quyết những khó khăn mà họ đang gặp phải
Tuy nhiên, NVCTXH của cấp xã còn hạn chế về số lượng và chất lượng, chưa được đào tạo bài bản về chuyên ngành CTXH nên chưa nắm bắt hết được tâm lý cũng như tâm tư nguyện vọng của TEKT nói chung và TEKTVĐ nói riêng, chưa thực sự có phương pháp làm việc chuyên nghiệp, hơn nữa đây lại là cán bộ làm công tác kiêm nhiệm nên chưa thực sự tập trung vào chuyên môn, hiệu quả công việc chưa cao Bên cạnh đó do năng lực, trình độ còn hạn chế nên việc NVCTXH kết hợp với các ban ngành địa phương để triển khai, tổ chức các chương trình chăm sóc trẻ em khuyết tật vận động tại địa phương còn thực hiện theo phong trào, tập trung các ngày lễ, tết và đôi khi chỉ để lấy thành tích, thiếu sự quan tâm thường
Trang 33xuyên Nhiều chương trình, hoạt động, phong trào còn mang nhiều tính hình thức, công tác tuyên truyền chế độ chính sách an sinh xã hội của Nhà nước chưa được thực hiện tốt, còn nhiều TEKT chưa được hưởng chế độ trợ cấp, việc tuyên truyền chưa thực sự mạnh mẽ và sâu rộng vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng
của TEKTVĐ
1.3.3 Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách
Thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước, các quy định Pháp luật và chính sách dành cho trẻ em ngày càng được cải thiện Việc ban hành và triển khai thực hiện các văn bản dưới Luật cũng như Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015, Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012-2020
đã và đang bảo đảm tốt hơn, các quyền và lợi ích của trẻ em Quốc hội Khóa XIII đã ban hành Luật Trẻ em năm 2016 đồng thời Chỉ thị 20-CT/TW của Bộ Chính trị nêu rõ: Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em theo hướng mở rộng chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em thuộc gia đình nghèo, vùng sâu, vùng xa,
vùng dân tộc thiểu số
Tuy nhiên, hiện nay TEKTVĐ và gia đình trẻ gặp phải rất nhiều khó khăn về mặt thể chế để có thể tiếp cận với những nguồn lực cần thiết Trước hết phải kể đến những rào cản hệ thống trong đó bao hàm hệ thống thực thi chính sách, pháp luật,
hệ thống dịch vụ công cùng cơ chế giám sát, thực thi trên thực tế Thứ nhất là mức trợ cấp xã hội cho TEKT còn thấp, số lượng TEKT được tiếp nhận vào các Trung tâm Bảo trợ xã hội còn ít; cơ sở vật chất tại các cơ sở trợ giúp NKT còn thiếu thốn, nhất là trang thiết bị y tế phục hồi chức năng phù hợp cho NKT, thiếu các dịch vụ trị liệu tâm lý Nhiều trẻ bị khuyết tật nhưng gia đình không thuộc hộ nghèo vẫn chưa được hưởng trợ cấp; TEKT, trẻ nhiễm HIV/AIDS ít được đến trường; đa số TEKT chưa được phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng Thứ hai, một bộ phận cán bộ và người dân nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề NKT và TEKTVĐ, xem công tác NKT thuộc trách nhiệm của ngành LĐTBXH và trợ giúp NKT chỉ là hoạt động
từ thiện Một số nơi công tác chỉ đạo triển khai thực hiện Luật NKT còn chậm, chưa
Trang 34kịp thời, thiếu sâu sát; vẫn còn tình trạng kỳ thị, phân biệt đối xử với NKT Bên cạnh đó các dịch vụ dành cho TEKTVĐ và gia đình của trẻ cũng chưa đầy đủ, thiếu tính linh hoạt, vẫn còn nhiều gia đình NKT chưa được tiếp cận hoặc tiếp cận chưa đầy đủ các chính sách ưu đãi của Nhà nước về y tế, giáo dục, dạy nghề, việclàm…
1.3.4 Yếu tố thuộc về cơ sở vật chất
Nhìn chung, NKT nói chung và TEKTVĐ nói riêng hiện còn gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận cơ sở vật chất Đại đa số TEKTVĐ vẫn phải sử dụng chung những đồ dùng, trang thiết bị cùng với trẻ em có điều kiện thể chất và sức khỏe bình thường Trẻ tất yếu phải gặp trở ngại một phần hoặc nhiều phần trong hoạt động di chuyển và vận động, bao gồm đi lại, cầm nắm vật dụng, cử động các cơ trên thân thể bên cạnh đó còn các hạn chế tiếp cận cơ sở vật chất như: đường đi không bằng phẳng, gồ ghề; không phải mọi xe buýt đều được trang bị thiết bị nâng xe lăn, việc chờ đợi thường là quá dài và không thực sự thoải mái Hơn nữa, vào giờ cao điểm nhiều NKT bị từ chối lên xe buýt với lý do xe quá chật, không có chỗ cho xe lăn; Nhiều nhà vệ sinh công cộng không có buồng thiết kế riêng cho người dùng xe lăn hoặc nếu có thường nằm ở vị trí cuối và khó tiếp cận; các thiết kế tại các công trình công cộng, văn phòng làm việc còn chưa thực sự thân thiện với NKT như vị trí lắp đặt công tắc đèn, cách xây nhà vệ sinh, nhà tắm, bậc thềm lên xuống…
Trong những năm qua, nhận thức của cộng đồng về NKT đã được nâng cao rõ rệt, các quy chuẩn, tiêu chuẩn về việc xây dựng các công trình, đường phố đặt ra những yêu cầu, nguyên tắc cơ bản nhằm tạo điều kiện để người tàn tật tiếp cận sử dụng Công tác thẩm định hồ sơ thiết kế (dự án đầu tư, thiết kế cơ sở), đều được Sở Giao thông – Vận tải chú trọng, yêu cầu các đơn vị, chủ đầu tư trên địa bàn thiết kế phù hợp cho NKT tiếp cận sử dụng; đồng thời áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng đối với các công trình công cộng Tỉnh Thanh Hóa đã có những biện pháp
cụ thể hỗ trợ NKT đi xe buýt, cụ thể là việc miễn phí đi xe buýt, cải tạo và lắp đặt thiết bị hỗ trợ ở một số xe buýt để phục vụ NKT
Trang 351.4 Những quy định của pháp luật Quốc tế và Việt Nam liên quan tới công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật vận động nói riêng
Vấn đề NKT, đặc biệt là TEKT ngày càng được các quốc gia trên thế giới quan tâm Liên hợp quốc cùng cộng đồng quốc tế đã có những hoạt động tích cực
và ban hành một số văn bản liên quan đến quyền của trẻ em Những văn bản này quy định trách nhiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền của NKT
Những văn bản Quốc tế liên quan đến người khuyết tật và trẻ em khuyết tật vận động bao gồm:
- Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật về tâm thần ngày 24 tháng 12 năm
1971 (The Declaration on the Rights of Mentally Retarted Persons);
- Tuyên ngôn về quyền của người tàn tật ngày 09 tháng 12 năm 1975 (The Declaration on the Rights of Disabled Persons);
- Chương trình hành động thế giới về NKT 1982 (The World programme of Action for Disabled Persons);
- Thập kỷ của Liên hợp quốc về NKT giai đoạn 1983-1992 (The United Nations Decade of Disabled persons);
- Tuyên bố thế giới về giáo dục cho mọi người và kế hoạch hành động 1990 (The World Declaration on Education for All and its Plan of Action);
- Quy tắc tiêu chuẩn của Liên hợp quốc về bình đẳng hoá cơ hội cho NKT ngày 26 tháng 12 năm 1993 (The United Nations Standard Rules on the Equalization of Opportunities for Persons with disabilities);
- Tuyên bố Salamanca và Cương lĩnh hành động về giáo dục nhu cầu đặc biệt
1994 (The Salamanca Statement and Framwork for Action on Special Needs Education);
- Công ước quốc tế về quyền trẻ em – 1989;
- Công ước Quốc tế về quyền của NKT ngày 13 tháng 12 năm 2006
Liên hợp quốc đã cụ thể hoá các văn bản này bằng những hành động cụ thể như phát động năm quốc tế về NKT (1981) Sau khi phát động thì đã có 141 quốc
Trang 36gia và vùng lãnh thổ thành lập Ủy ban quốc gia về NKT, lấy ngày 03 tháng 12 hàng năm là Ngày Quốc tế NKT
Công ước quốc tế về Quyền của NKT, ngày 23/12/2006, tại New York, Mỹ, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 61 đã thông qua Công ước quốc tế về Quyền của NKT Công ước được xây dựng dựa trên khuôn khổ Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, và có hiệu lực từ ngày 3/5/2008 Hiện nay, có khoảng 200 quốc gia tham gia
ký kết, Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia ký công ước vào tháng 10/2007 Ngày 30/7/2009, tại trụ sở của Liên Hợp Quốc ở New York, đại diện chính phủ Mỹ cũng đã ký công ước này
Công ước về Quyền của NKT (2006) là một sự thoả thuận giữa các quốc gia trên thế giới về việc bảo đảm người có khuyết tật và không có khuyết tật được đối
- Thứ nhất, nhóm các văn bản về giáo dục cho NKT;
- Thứ hai, nhóm các văn bản về y tế cho NKT;
- Thứ ba, nhóm các văn bản về lao động và dạy nghề cho NKT;
- Thứ tư, nhóm các văn bản về bảo trợ xã hội;
- Thứ năm, nhóm các văn bản quy định hoạt động thể dục, thể thao và văn hóa;
- Thứ sáu, nhóm các văn bản quy định giao thông thông minh và quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng cho NKT được tiếp cận các phương tiện giao thông và công trình công cộng;
Trang 37Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật NKT, hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2011 Đây là văn bản pháp luật cao nhất về NKT từ trước tới nay và là cơ sở pháp
lý toàn diện để thực hiện trợ giúp NKT có hiệu quả hơn
- Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991
- Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 – được sửa đổi năm 2004
- Pháp lệnh về Người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998 [20]
- Luật NKT: Được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành từ ngày 17/6/2010 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2011
- Luật Giáo dục ban hành ngày 27 tháng 6 năm 2005 [21]
Ngoài những văn bản Luật liên quan đến NKT thì còn một số văn bản dưới luật đề cập đến hoạt động chăm sóc, trợ giúp NKT như:
- Nghị định số: 136/2013/NĐ-CP ban hành ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội [10]
- Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP ban hành ngày 10 tháng 4 năm 2012 Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT [9]
- Nghị định số: 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ và Nghị định số: 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm
2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội [7],[ 8]
- Quyết định số:1019/QĐ-TTg ngày 05 tháng 8 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về phê duyệt đề án trợ giúp NKTgiai đoạn 2012 – 2020
- Thông tư số 01/2015/TT-BLĐTBXH ngày 06/01/2015 của Bộ LĐTBXH hướng dẫn về quản lý trường hợp với NKT
Ngoài ra, còn có một văn bản khác như: Quyết định số 647/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn giai đoạn 2013 – 2020 [29]; Quyết định số 01/2002/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng, ngày 17 tháng 01 năm 2002 về việc ban hành Quy chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng [6]; Quyết định số
Trang 3823/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 22 tháng 5 năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật [3]; Thông
tư số 39/2012/TT-BGTVT ngày 24 tháng 9 năm 2012 của Bộ Giao Thông Vận Tải hướng dẫn thực hiện Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hạ tầng giao thông, công cụ hỗ trợ và chính sách ưu tiên người tham gia giao thông công cộng [4]
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu lý luận về CTXH cá nhân với TEKTVĐ chúng ta có cái nhìn tổng quan chung về CTXH với NKT nói chung và TEKTVĐ nói riêng Nắm rõ được hệ thống Pháp luật Quốc tế và Pháp luật Việt Nam về quyền của NKT, giúp chúng ta xác định được vị thế của TEKT trong đời sống xã hội Từ những khái niệm
về CTXH, CTXH cá nhân, CTXH với TEKTVĐ, nguyên tắc CTXH trong làm việc với TKT, CTXH nhóm, phát triển cộng đồng, quản trị CTXH, hoạt động trợ giúp CTXH đối với TEKT… đã giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng CTXH cá nhân
là một phương pháp giúp đỡ từng con người thông qua mối quan hệ một-một, là cách thức, quá trình chuyên nghiệp mà nhân viên CTXH sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng phát huy tiềm năng tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của mình Từ những vấn đề mang tính chất lý luận về công tác xã hội cá nhân với TEKT tôi sẽ tiến hành đánh giá thực trạng CTXH cá nhân TEKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hóa
để có góc nhìn biện chứng về vấn đề CTXH đối với NKT
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG VÀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ CA
TỪ THỰC TIỄN TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤCÔNG TÁC
XÃ HỘI THANH HÓA
2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình trẻ em khuyết tật vận động tại tỉnh Thanh Hóa
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hoá là một tỉnh Bắc Trung bộ, diện tích tự nhiên rộng (trên 11.100km2) được chia làm 3 vùng: vùng ven biển, vùng đồng bằng và trung du miền núi Toàn tỉnh có 27 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 01 thành phố, 02 thị xã và 24 huyện, trong đó có 11 huyện miền núi; có 637 xã, phường, thị trấn; 6.040 thôn, bản, khối phố Dân số trên 3,4 triệu người, gồm 7 dân tộc anh em sinh sống, đó là: Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Hoa Các dân tộc ít người sống chủ yếu ở các huyện vùng núi cao và giáp biên giới
Toàn tỉnh Thanh Hoá hiện có 250.000 đối tượng xã hội, trong đó có 192.960 NKT, khoảng 18.000 người tâm thần nặng, lang thang có nguy cơ gây nguy hiểm đến cộng đồng, 380.000 người cao tuổi, 16.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, 4.000 người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý, 5.200 người bị nhiễm HIV/AIDS, 2.745 người bị bạo lực gia đình, 460 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài, 230 người gái mại dâm
có hồ sơ quản lý, 2.000 người là các đối tượng khác) Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015, toàn tỉnh có 217.191 hộ nghèo (chiếm tỷ lệ 24,86%), 120.887 hộ cận nghèo (chiếm tỷ lệ 13,84%), số người có nhu cầu về dịch vụ xã hội ước tính khoảng 300.000 người Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác lao động TBXH tại các địa phương trong tỉnh hiện có trên 1.500 người Với nguồn lực sẵn có, cùng với thực trạng về đối tượng xã hội trên địa bàn tỉnh, nghề CTXH tại Thanh Hóa càng trở nên cần thiết [25]
2.1.2 Đặc điểm tình hình người khuyết tật và trẻ em khuyết tật vận động trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Trong thời gian qua, nhiều chính sách trợ giúp của Nhà nước được các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa tổ chức triển khai có hiệu quả, đời sống của đại bộ
Trang 40phận NKT đã được nâng lên Với những cơ chế chính sách ưu đãi, đã giúp cho hàng ngàn NKT tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản Cụ thể số NKT học văn hóa tốt nghiệp THCS là 25.857 người; Số NKT đang có việc làm và thu nhập ổn định toàn tỉnh khoảng trên 26.280 người, Số NKT được các cơ sở, trường nghề dạy nghề là gần 3.000 người; Số NTK theo Nghị định 136 là 192.960 người trong đó có 92.985 đối tượng NKT hưởng trợ cấp thường xuyên tại cộng đồng 100% NKT đủ điều kiện được cấp thẻ BHYT miễn phí; khoảng trên 2.000 NKT được phẫu thuật thay thủy tinh thể; 3.000 NKT được khám mắt; 300 NTK được phẫu thuật chỉnh hình; gần 200 trẻ em bị khuyết tật vận động được phẫu thuật… Đặc biệt, hàng năm các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, cưu mang chia sẻ đối với người khuyết tật Nhờ đó, giúp người khuyết tật vơi
đi khó khăn, mặc cảm, tự lực vươn lên hòa nhập cộng đồng
Tính đến nay trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã có 3 tổ chức hội, cơ sở của NKT được thành lập, gồm Hội Bảo trợ NKT và trẻ em mồ côi, Hội nạn nhân chất độc màu
da cam, hội người mù; 01 Trung tâm Bảo trợ xã hội chăm sóc, nuôi dưỡng NKT và
01 Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Với chức năng nhiệm vụ được quy định theo điều lệ, quyết định, các tổ chức hội, Trung tâm Bảo trợ xã hội và Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH đã tổ chức nhiều hoạt động rất bổ ích cho NKT như châm cứu chữa bệnh, dạy nghề tạo việc làm; chăm sóc nuôi dưỡng; trợ cấp đời sống, hỗ trợ phương tiện dụng cụ phục hồi chức năng, hỗ trợ sinh kế …tạo điều kiện cho NKT xóa đi tự ti, mặc cảm, tự vươn lên hòa nhập cộng đồng xã hội
Tuy nhiên, tỉnh Thanh Hóa là tỉnh có số lượng NKT cần trợ giúp nhiều, địa bàn rộng lớn trong khi đó công tác tuyên truyền chưa được thường xuyên, liên tục nên nhận thức trách nhiệm của một bộ phận dân cư, của một số ban ngành chưa đầy đủ, chưa quan tâm tạo điều kiện NKT; chưa có giải pháp tối ưu trong việc tiêu thụ sản phẩm cho các cơ sở sản xuất của NKT do vậy chưa mang tính ổn định, bền vững; Một số các quy định khác trong chính sách chăm sóc, trợ giúp NKT như chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, dạy nghề tạo việc làm, trợ giúp pháp lý,
sử dụng các công trình công cộng…đang còn nhiều hạn chế; đội ngũ làm cộng tác trợ giúp NKT còn hạn chế về số lượng và chất lượng…[25]