BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI --- NGÔ THỊ HẢI YẾN PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG BẢO ĐẢM AN NINH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGÔ THỊ HẢI YẾN
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ, AN SINH XÃ HỘI
TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGÔ THỊ HẢI YẾN
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ, AN SINH XÃ HỘI
Trang 3CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên tác giả luận văn : Ngô Thị Hải Yến
Đề tài luận văn: Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công
tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh
xã hội tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số SV: CB130319
Tác giả, Người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn xác nhận tác giả đã sửa chữa, bổ sung luận văn theo biên bản họp Hội đồng ngày 8/4/2016 với các nội dung sau:
- Mục 5 Chương I chuyển về Phần mở đầu
- Giải pháp 1 chuyển về phần Kiến nghị
- Đánh số lại các tiểu mục, bảng biểu theo chương; chỉnh sửa lỗi kỹ thuật
Ngày tháng 4 năm 2016 Giáo viên hướng dẫn Tác giả luận văn
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4i
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ kỹ thuật, chuyên ngành Quản trị kinh doanh với đề tài
“Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với
nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước”
được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Nghiến - Viện Kinh tế và quản lý - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức khoa học, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn
Các số liệu tổng hợp, phân tích trong Luận văn là hoàn toàn trung thực, các luận điểm và phương hướng, giải pháp đưa ra xuất phát từ kinh nghiệm và thực tiễn khoa học Tôi xin cam đoan các kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực
và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hải Yến
Trang 5ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô Khoa Sau Đại Học, Viện Kinh tế
và Quản lý - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã truyền dạy những kiến thức quý báu trong chương trình cao học; đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Nghiến đã tận tình hướng dẫn tôi từ việc xây dựng đề cương đến triển khai thu thập số liệu, nghiên cứu, hoàn thiện Luận văn này
Cũng qua đây tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Tổng cục, các Vụ, các phòng, cùng các đồng nghiệp tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và có những trao đổi, đóng góp ý kiến, chia sẻ thông tin, tư liệu để tôi
có thể hoàn thành những nội dung nghiên cứu của đề tài
Dù rất cố gắng, nhưng chắc chắn Luận văn còn những thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy, cô và bạn đồng nghiệp
Tác giả luận văn
Ngô Thị Hải Yến
Trang 6iii
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ KẾ HOẠCH DỰ TRỮ QUỐC GIA 7
1.Tầm quan trọng của dự trữ quốc gia đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường 7
1.1 Khái niệm về dự trữ quốc gia 7
1.2 Tính tất yếu của dự trữ quốc gia 9
1.3 Chức năng dự trữ quốc gia trong nền kinh tế thị trường 13
1.4 Đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia 17
2 Mục tiêu của dự trữ quốc gia đối với phát triển kinh tế xã hội 19
2.1 Mục tiêu tổng quát 19
2.2 Mục tiêu cụ thể 19
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức dự trữ quốc gia 20
3.1 Các nhân tố thuộc về môi trường chính trị - xã hội 20
3.2 Các nhân tố thuộc về tiềm lực kinh tế 21
3.3 Các nhân tố về điều kiện, đặc điểm chung của nền kinh tế quốc dân 21
3.4 Các nhân tố thuộc về môi trường tự nhiên 23
3.5 Các nhân tố thuộc về cơ sở vật chất và công nghệ bảo quản 23
3.6 Yếu tố con người 24
4 Nội dung quản lý hoạt động dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội 24
4.1 Dự báo xu hướng phát triển của nền kinh tế, sự biến động của tình hình chính trị và xã hội ảnh hưởng đến hoạt động DTQG 24
4.2 Xây dựng chiến lược phát triển dự trữ quốc gia 26
4.3 Lập kế hoạch dự trữ hàng năm 27
4.4 Tổ chức thực hiện kế hoạch dự trữ đề ra 27
4.5 Tổ chức đánh giá và điều chỉnh chiến lược và kế hoạch cho phù hợp với tình hình cụ thể 28
TỔNG KẾT CHƯƠNG I 29
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ, AN SINH XÃ HỘI TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC 30
1 Tổng quan về Tổng cục DTNN 30
1.1 Giới thiệu về Tổng cục DTNN 30
1.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Tổng Cục DTNN 32
1.3 Cơ cấu tổ chức của Tổng cục DTNN 34
1.3.1 Cơ quan Tổng cục Dự trữ Nhà nước 34
Trang 7iv
1.3.2 Các Cục Dự trữ Nhà nước khu vực: 37
1.3.3 Các Chi cục Dự trữ Nhà nước trực thuộc Cục Dự trữ Nhà nước khu vực:37 2 Công tác dự trữ quốc gia đối với lương thực, muối ăn 37
2.1 Thực trạng nghiên cứu, dự báo vấn đề lương thực, muối ăn của nền kinh tế 37 2.2 Phân tích thực trạng hoạt động dự trữ đối với mặt hàng lương thực, muối ăn39 2.2.1 Thực trạng nhập – xuất lương thực, muối ăn 39
2.2.1.1 Về mặt hàng lương thực DTQG 39
2.2.1.2 Về mặt hàng muối ăn 48
2.2.2 Đánh giá công tác nhập, xuất lương thực, muối ăn 50
2.2.3 Phí nhập xuất, vốn mua bán lương thực, muối ăn dự trữ quốc gia 51
2.2.4 Thực trạng về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương thức bảo quản lương thực, muối ăn dự trữ quốc gia 52
2.2.4.1 Tình hình hệ thống kho dự trữ lương thực, muối ăn 53
2.2.4.2 Thực trạng phương thức bảo quản 56
2.2.5 Trực trạng tình hình quản lý chất lượng việc thực hiện dự trữ lương thực, muối ăn 62
2.2.5.1 Các hình thức quản lý chất lượng 62
2.2.5.2 Thực trạng về hoạt động quản lý chất lượng 63
2.2.6 Thực trạng nguồn lực cán bộ tại các Chi cục Dự trữ Nhà nước trực tiếp bảo quản lương thực và muối ăn 64
2.3 Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân 66
2.3.1 Kết quả đạt được 66
2.3.2 Hạn chế và những nguyên nhân 67
2.3.2.1 Cơ chế mua, bán hàng dự trữ còn nhiều bất cập 67
2.3.2.2 Quản lý bảo quản hàng DTQG lạc hậu, chậm được đổi mới 68
2.3.2.3 Quy mô tích lượng kho dự trữ nhỏ, lạc hậu, phân tán 68
2.3.2.4 Công nghệ bảo quản chưa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ngành dự trữ69 2.3.2.5 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên 69
TỔNG KẾT CHƯƠNG II 70
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC DỰ TRỮ QUỐC GIA ĐỐI VỚI NHÓM HÀNG BẢO ĐẢM AN NINH KINH TẾ, AN SINH XÃ HỘI TẠI TỔNG CỤC DỰ TRỮ NHÀ NƯỚC 71
1 Định hướng của Tổng cục Dự trữ Nhà nước về phát triển ngành dự trữ 71
1.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng đổi mới hoạt động dự trữ quốc gia 71
1.1.1 Quan điểm về dự trữ quốc gia 71
1.1.2 Mục tiêu 71
1.1.3 Định hướng đổi mới hoạt động dự trữ 72
Trang 8v
1.2 Các nhân tố tác động đến hoạt động dự trữ quốc gia 73
1.2.1 Tác động của yếu tố tự nhiên 73
1.2.2 Tác động của yếu tố xã hội 74
2 Bài học kinh nghiệm 75
3 Những giải pháp hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội 77
3.1 Giải pháp hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với lương thực và muối ăn ở Tổng cục Dự trữ Nhà nước 77
3.1.1 Đổi mới phương pháp, cơ chế nhập - xuất lương thực, muối ăn 77
3.1.2 Đổi mới cơ chế giá mua, bán lương thực, muối ăn 78
3.1.3 Đổi mới việc quy hoạch, bố trí mạng lưới kho dự trữ lương thực 80
3.1.4 Hoàn thiện phương thức quản lý bảo quản lương thực, muối ăn 81
3.1.5 Nâng cao công tác tổ chức, quản lý cán bộ tại các Chi cục Dự trữ nhà nước trực tiếp bảo quản lương thực, muối ăn 83
3.1.6 Các giải pháp đồng bộ khác 84
3.2 Những kiến nghị 85
TỔNG KẾT CHƯƠNG III 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 9vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 01: Tình hình thực hiện kế hoạch nhập lương thựctừ năm 2011 đến năm 2014 39 Bảng 02: Tình hình xuất gạo cứu trợ, viện trợ từ năm 2010 đến năm 2014 42 Bảng 03: Tình hình xuất bán lương thực dự trữ quốc giatừ năm 2010 đến năm 2014 44 Bảng số 04: Bảng tổng hợp giá bán, giá mua và giá trị trường đối với thóc, gạo từ năm 2011 đến năm 2014 47 Bảng số 05: Tình hình thực hiện kế hoạch nhập muối ăntừ năm 2011 đến năm 2014 48 Bảng số 06: Giá mua muối năm trong năm 2012 và năm 2014 49 Bảng số 07: Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn lương thựctừ năm 2011 đến năm 2014 50 Bảng 08: Phân bố kho dự trữ chứa lương thực, muối ăn theo vùng 54 Bảng 09: Thực trạng kho chứa lương thực, muối ănở một số Cục DTNN khu vực 55 Bảng 10: Định mức hao hụt thóc đóng bao bảo quản trong điều kiện áp suất thấp 57 Bảng số 11: Định mức hao hụt đối với thóc đóng bao trong điều kiện áp suất thấp 57 Bảng số 12: Định mức hao hụt đối với gạo 60 Bảng 13: Bảng số liệu thống kê nhân sự của toàn ngành dự trữ 64
Trang 111
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Dự trữ quốc gia hình thành do yêu cầu thực hiện chức năng của nhà nước
để quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Khi nhà nước ra đời thì quỹ DTQG cũng dần hình thành và phát triển Tuy nhiên, quy mô và hình thức, dự trữ của mỗi quốc gia không giống nhau, vì nó được hình thành xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu đảm bảo ổn định chính trị, quốc phòng , an ninh, tuỳ thuộc vào tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia Chính Lê Nin đã coi sản xuất và
dự trữ lương thực là vận mệnh của toàn bộ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga, Người đã khẳng định “Chỉ khi nào có được một số lượng dự trữ lương thực đầy đủ thì khi đó Nhà nước Công nhân mới đứng vững về mặt kinh tế”
Đề cập về vấn đề dự trữ quốc gia, Các Mác khẳng định: “Mọi hình thái sản xuất, mọi chế độ xã hội, nếu muốn bảo đảm sự an toàn và ổn định đều phải có tiềm lực dự trữ nhất định Khi sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường phát triển nhà nước nào có tiềm lực dự trữ mạnh và hợp lý sẽ trở nên vững mạnh trước mọi biến cố”
Trong tác phẩm nổi tiếng “chống Duy rinh” Ph.Ăngghen cũng nhấn mạnh:
“Quỹ dự trữ đủ và mạnh sẽ tồn tại trong tất cả mọi quá trình phát triển của xã hội”
Nhận thức rõ tầm quan trọng của DTQG, “Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến hoạt động dự trữ quốc gia, coi đó là một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế và đời sống xã hội, nhất là khi
có thiên tai, địch họa” (thư của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười gửi cán bộ, công chức, viên chức ngành dự trữ quốc gia nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập)
Luật Dự trữ quốc gia và Quyết định số 2091/QĐ-TTg ngày 28/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2020 đã khẳng định: Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lược của Nhà nước để phòng ngừa
và khắc phục có hiệu quả các tổn thất, bất trắc xảy ra đối với đời sống xã hội, an ninh, quốc phòng và hoạt động sản xuất, kinh doanh; Hoạt động dự trữ quốc gia có vị trí và vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững, bảo đảm ổn định chính trị, kinh tế -
xã hội của đất nước Nhà nước hình thành, sử dụng dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai,
Trang 122
hỏa hoạn, dịch bệnh, tham gia bình ổn thị trường khi có tình huống đột biến xẩy
ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội; hoạt động dự trữ quốc gia luôn được phát triển và đổi mới, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và tiến trình hội nhập quốc tế
Trong thời gian qua, với sự ưu tiên, quan tâm của Nhà nước, tiềm lực dự trữ quốc gia đã được tăng cường Theo đó, nguồn lực dự trữ các mặt hàng lương thực, thiết bị tìm kiếm cứu nạn nên các địa phương đều được hỗ trợ kịp thời để giải quyết khó khăn trong đời sống của người dân, giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và của, cũng như sớm khắc phục hậu quả thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội Ngoài ra, nguồn
dự trữ quốc gia về thuốc bảo vệ thực vật, thuốc, vaccine cho gia súc, các loại hạt giống cũng được xuất cấp kịp thời, giúp địa phương ngăn ngừa sớm, dập dịch hiệu quả, bảo đảm ổn định sản xuất Nguồn lực dự trữ quốc gia của lĩnh vực quốc phòng, công an được tăng cường giúp nâng cao khả năng bảo vệ, góp phần hỗ trợ trong bảo đảm an ninh kinh tế và những sự kiện chính trị - xã hội lớn của đất nước Việc sử dụng dự trữ quốc gia để viện trợ lương thực cho các nước chịu ảnh hưởng nặng nề
do thiên tai đã giúp thắt chặt tình đoàn kết với các quốc gia trên thế giới, nâng cao
vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
Để dự trữ quốc gia được đóng góp một phần sức lực góp phần đổi mới, phát triển nền kinh tế đất nước, đảm bảo được vai trò, nhiệm vụ vốn có của dự trữ quốc
gia trong việc đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội, tác giả chọn đề tài: “Phân
tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước” để nghiên cứu và phát triển thành luận văn tốt nghiệp của mình
2 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Cơ sở khoa học: những lý luận cơ bản của quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia, hoạt động dự trữ quốc gia
- Tính thực tiễn: hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội
3 Mục đích của đề tài (các kết quả cần đạt đƣợc):
Nghiên cứu và đánh giá để đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện
Trang 133
công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước
4 Đối tượng nghiên cứu:
Nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội dự trữ quốc gia bao gồm nhiều mặt hàng, cụ thể: lương thực (thóc, gạo); sản phẩm xăng dầu (xăng, dầu Diesel, mazút, nhiên liệu máy bay dân dụng và chiến đấu) và dầu thô; muối trắng (muối ăn); giống cây trồng; vật liệu nổ công nghiệp Các mặt hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội nêu trên được phân bố, bảo quản tại các Bộ là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tài chính
Trong các mặt hàng thuộc nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội nêu trên thì mặt hàng lương thực và muối ăn do Tổng cục DTNN (thuộc Bộ Tài chính) trực tiếp quản lý Do đó, Luận văn nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động
dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội, nhưng
đi sâu nghiên cứu và phân tích các mặt hàng lương thực và muối ăn được Tổng cục DTNN trực tiếp quản lý
5 Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn nghiên cứu những vấn đề cơ bản về dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội ở tầm vĩ mô cũng như một số hoạt động dự trữ nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội ở tầm vi mô chịu ảnh hưởng trực tiếp của các cơ chế chính sách
- Luận văn nghiên cứu nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục DTNN, tập trung nghiên cứu dự trữ đối với nhóm hàng an ninh kinh tế, an sinh xã hội về mặt số lượng trong mối quan hệ với dự trữ bằng tiền mặt (giá trị)
- Luận văn nghiên cứu hoạt động dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội trong vòng 10 năm trở lại đây (từ năm 2005 đến năm 2014)
6 Phương pháp nghiên cứu và đánh giá công tác dự trữ quốc gia
Để đi sâu, làm rõ mục đích nghiên cứu, phân tích trực trạng và những nhân tố ảnh hưởng đến nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội (cụ thể là các mặt hàng lương thực và muối ăn) tại Tổng cục DTNN, cần phải có rất nhiều phương
Trang 144
pháp nghiên cứu và sự kết hợp hài hòa giữa các phương pháp nghiên cứu đó để từ
đó đưa ra được những đánh giá, kết luận và những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia nói chung và công tác dự trữ quốc gia đối với lương thực, muối
ăn nói riêng tại Tổng cục DTNN Để làm được điều đó, bài luận văn sẽ bám sát sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp thu thập số liệu
Hình thức thu thập: Hình thức tổ chức thu thập các dữ liệu là báo cáo thống
kê định kỳ
- Báo cáo thống kê định kỳ: Là hình thức tổ chức thu thập dữ liệu ban đầu một cách thường xuyên, định kỳ theo hình thức, nội dung, phương pháp và chế độ báo cáo đã quy định
- Phương pháp gián tiếp: Theo phương pháp này, tác giả thu thập số liệu theo các nội dung cần nghiên cứu thông qua một phương tiện trung gian như điện thoại, thư tín, hoặc các sổ sách đã ghi chép ở thời gian trước hoặc của các đơn vị có liên quan.Ưu điểm của phương pháp này là rút ngắn thời gian thu thập số liệu, nhưng có nhược điểm là mức độ phản ánh của các thông tin chưa đồng đều, một vài số liệu còn cần phải trực tiếp trao đổi thêm
6.2 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy
Trang 155
Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác được nhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.Vậy muốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải phân chia
nó theo cấp bậc
Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến
Khi phân chia đối tượng nghiên cứu cần phải:
+ Xác định tiêu thức để phân chia
+ Chọn điểm xuất phát để nghiên cứu
+ Xuất phát từ mục đích nghiên cứu để tìm thuộc tính riêng và chung
Bước tiếp theo của phân tích là tổng hợp Tổng hợp là quá trình ngược với quá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái khái quát
Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu
Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu, và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính quy luật của bản thân sự vật Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy,
có ý nghĩa rất quan trọng Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về khả năng liên kết các kết quả cụ thể (có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trìu tượng
Với phương pháp này tác giả căn cứ vào số liệu thu thập được trong giai đoạn từ 2013-2015, tiến hành phân tích đánh giá công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh kế, an sinh xã hội
6.3.Phương pháp so sánh
Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán, tiến hành so sánh các chỉ tiêu có mối quan hệ tương quan như kết quả thực hiện so với kế hoạch…và các chỉ tiêu tương ứng Phương pháp so sánh giúp phát hiện sự khác biệt, những bất cập trong
Trang 166
hoạt động dự trữ quốc gia,từ đó thấy được những ưu, khuyết điểm, khó khăn, thuận lợi làm cơ sở đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục DTNN
6.4.Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê, mô tả số tuyệt đối, tương đối để xác định sự biến động của các hiện tượng kinh tế xã hội trong một thời gian và không gian nhất định Các phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích được sử dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục DTNN nhằm phản ánh chân thực và chính xác đối tượng nghiên cứu Các phương pháp này cũng giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các số liệu được chính xác, phân tích tài liệu được khoa học, phù hợp, khách quan, phản ánh được đúng nội dung cần phân tích
6.5 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Là phương pháp thu thập thông tin hoàn toàn gián tiếp, không tiếp xúc với đối tượng khảo sát, tác giả có sử dụng một số nguồn tài liệu để nghiên cứu: Sách, báo, thông tư, nghị định, …
Ngoài ra, luận văn có kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu đã công bố liên quan đến chủ để nghiên cứu
7 Nội dung và kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của chuyên đề được chia thành 3 chương như sau:
Chương I: Lý luận chung về vai trò của dự trữ quốc gia và kế hoạch dự trữ quốc gia
Chương II: Thực trạng công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội
Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện công tác dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng đảm bảo an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước
Trang 177
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ KẾ
HOẠCH DỰ TRỮ QUỐC GIA 1.Tầm quan trọng của dự trữ quốc gia đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường
1.1 Khái niệm về dự trữ quốc gia
Trong nền kinh tế quốc dân, xét theo quá trình tái sản xuất xã hội có thể chia
dự trữ thành hai hình thái:
- Dự trữ sản xuất: Bộ phận dự trữ hình thành trong lĩnh vực sản xuất, là tất cả những tư liệu sản xuất đã nằm trong tay người sản xuất, đang nằm trong quá trình sản xuất, chuẩn bị bước vào tiêu dùng cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp,bao gồm nguyên, nhiên, vật liệu và thiết bị máy móc Muốn cho quá trình sản xuất khỏi gián đoạn, không kể là dự trữ đó được đổi mới hàng ngày, hoặc đổi mới sau những
kì hạn nhất định, thì tại nơi sản xuất luôn luôn phải có dự trữ nguyên, nhiên, vật liệu… Đặc điểm của loại dự trữ này là nó nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuât không bị gián đoạn, thường nằm ở các hộ sản xuất, hộ tiêu dùng và mang tính thụ động Cho nên, lượng dự trữ bao nhiêu cho hợp lý đòi hỏi phải tính toán Dự trữ sản xuất được chia làm 4 bộ phận: dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm, dự trữ chuẩn
+ Dự trữ thời vụ: muốn cho quá trình sản xuất khỏi bị gián đoạn thì cần phải
có một dự trữ nhất định về những nguyên liệu và bán thành phẩm, đặc biệt là những sản phẩm do nông nghiệp cung cấp, trong suốt cả khoảng thời gian mà sản phẩm mới chưa thay thế được sản phẩm cũ
- Dự trữ lưu thông: là dự trữ những sản phẩm hàng hoá đang nằm trong quá trình
Trang 188
chuyển từ nới sản xuất đến nơi tiêu dùng, đó là những sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất đã sản xuất hoàn chỉnh (hoặc của doanh nghiệp nhập khẩu) đã hoàn thành thủ tục nhập kho sẵn sàng đưa ra thị trường để bán hoặc hàng hoá đang trên đường vận động
từ nơi sản xuất hoặc đầu mối nhập khẩu đến nơi tiêu dùng cho sản xuất
Dự trữ quốc gia (dự trữ nhà nước) là dự trữ của một đất nước - một quốc gia mà bất cứ một quốc gia nào cũng phải có Tuy nhiên, dự trữ quốc gia là gì? Cũng có những khái niệm khác nhau:
- Theo từ điển bách khoa Việt Nam:“Dự trữ quốc gia, dự trữ của một nước
do nhà nước nắm giữ và quản lý, bao gồm dự trữ các loại vật tư - hàng hóa quan trọng nhất; nhằm mục đích khắc phục những tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn trong một thời gian nhất định Dự trữ quốc gia là nguồn tích lũy của quốc gia, sức mạnh của đất nước”
- Theo Luật Dự trữ quốc gia:Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lược của nhà nước nhằm chủ động đáp ứng những nhu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, đảm bảo quốc phòng, an ninh, tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đốt xuất bức thiết khác của nhà nước
Dự trữ quốc gia là quá trình Nhà nước tổ chức tích luỹ một bộ phận của cải vật chất xã hội vào quỹ dự phòng chiến lược để sử dụng vào việc phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai; đáp ứng nhu cầu của quốc phòng và giữ vững an ninh chính trị khi xảy ra biến động; góp phần ổn định chính trị, kinh tế và đời sống dân cư cũng
như các nhiệm vụ khác của Nhà nước
Qua thực tiễn hơn năm mươi năm xây dựng và phát triển, DTQG đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, đã trở thành
bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong thành phần kinh tế Nhà nước, là một trong những công cụ quản lý có tác dụng tốt ở tầm vĩ mô để Đảng và Nhà nước có thực lực giải quyết những tình huống bất lợi khi xảy ra thiên tai địch họa và điều tiết thị trường khi có những biến động không tốt
Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ theo cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, hơn
Trang 199
lúc nào hết chúng ta cần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh kinh
tế tài chính vĩ mô DTQG bằng tiền và hàng hóa đủ mạnh và hợp lý sẽ là mặt quan trọng của an ninh kinh tế - tài chính quốc gia
Như vậy, DTQG là yêu cầu khách quan, cần thiết trong mọi thời kỳ cách mạng của nước ta DTQG hình thành, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan cùng với quá trình vận động của mỗi quốc gia, như sự cần thiết cho quá trình vận động của một cơ thể sống
1.2 Tính tất yếu của dự trữ quốc gia
Dự trữ các tư liệu vật chất tồn tại tất yếu của mọi hình thái kinh tế - xã hội
Dự trữ hàng hóa là điều kiện của lưu thông hàng hóa, DTQG chỉ xuất hiện từ khi có nhà nước; điều đó được cụ thể hóa như sau:
Thứ nhất, DTQG hình thành do yêu cầu thực hiện chức năng của nhà nước
để quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân Khi nhà nước ra đời thì quỹ DTQG cũng dần hình thành và phát triển Tuy nhiên, quy mô và hình thức, dự trữ của mỗi quốc gia không giống nhau, vì nó được hình thành xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu đảm bảo ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, tùy thuộc vào tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia Lê Nin đã coi sản xuất và dự trữ lương thực là vận mệnh của toàn bộ cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Nga, Người
đã khẳng định "Chỉ khi nào có được một số lượng dự trữ lương thực đầy đủ thì khi
đó Nhà nước Công nhân mới đứng vững về mặt kinh tế"
Thứ hai, DTQG hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu mà các loại dự trữ
khác trong nền kinh tế không đáp ứng được, trong những trường hợp đột biến do thiên tai, lũ lụt, hạn hán, đại dịch và tình huống chiến tranh xảy ra , những đột biến này xảy ra trên phạm vi rộng, thiệt hại lớn… thực tế không thể có loại hình dự trữ nào có thể đáp ứng nổi mà chỉ có DTQG
Lịch sử đã chứng minh quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội,
ở mọi thời kỳ, mọi chế độ xã hội, con người luôn phải đối mặt với những tình huống bất trắc do thiên nhiên tạo ra, rất nhiều những cơn cuồng phong lũ lụt… tàn phá một cách ghê gớm mà con người phải hứng chịu Sau những hậu quả đó thì kéo theo các dịch bệnh, dẫn đến thiệt hại rất lớn cho nền kinh tế - xã hội
Trang 2010
Nước ta nằm trên bán đảo Đông Dương thuộc Đông Nam Á, với khí hậu nhiệt đới gió mùa, thiên tai, lũ lụt thường xuyên xảy ra trên diện rộng khắp cả ba miền Bắc - Trung - Nam và luôn là nguy cơ tiềm ẩn gây mất ổn định về sản xuất và đời sống Theo thống kê, trung bình mỗi năm nước ta phải hứng chịu từ 8 đến 13 cơn bão, trong đó có 4 đến 6 cơn bão gây thiệt hại lớn về người và của
Theo các chuyên gia quốc tế nghiên cứu về sự thay đổi của khí hậu toàn cầu, Việt Nam là nước thứ 5 chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Đặc biệt, vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam sẽ là nơi bị ảnh hưởng lớn nhất do nước biển dâng cao Biến đổi khí hậu đã và đang tác động tiêu cực đến hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, từ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đến thủy điện, sản xuất dầu khí và vận tải biển Những yếu tố bất lợi, những diễn biến bất thường của khí hậu những năm gần đây và dự báo cho cả thờigian tới thường xuyên có thiên tai, đặc biệt là bão, lũ lụt đe dọa trên cả ba miền
Như vậy, đòi hỏi của sự hình thành DTQG là vấn đề có ý nghĩa chiến lược rất lớn đối với nước ta để ứng phó, khắc phục hậu quả của thiên tai gây ra Nó không đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề đáp ứng mục tiêu ổn định tình hình chính trị - xã hội, quốc phòng - an ninh
Thứ ba, thế giới vẫn còn nguy cơ tiềm ẩn bùng nổ chiến tranh cục bộ, xung
đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp lật đổ khủng bố với tính chất phức tạp ngày càng tăng Chiến tranh luôn là hiểm họa kinh hoàng đối với
xã hội loài người
Lịch sử Việt Nam từ khi các vua Hùng dựng nước, hầu hết qua các thời kỳ nước ta đều bị giặc ngoại xâm Các triều đại phong kiến phương Bắc xâm chiếm hàng ngàn năm, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nước ta hàng trăm năm Đến ngày 30/4/1975, bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử nhân dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước Công cuộc xây dựng đất nước ta vẫn bị các thế lực thù địch, phản động gây rối Như vậy, xét cả một quá trình từ khi dựng nước và giữ nước đến nay, nước ta liên tục phải đấu tranh dựng nước và giữ nước chống giặc ngoại xâm
Ngày nay, nguy cơ đe dọa quân sự vẫn diễn ra tiềm ẩn, những xung đột khu
Trang 2111
vực vẫn liên tục xảy ra có chiều hướng phức tạp lâu dài Tình hình ngày càng chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc khó lường Điều đó đặt ra về mặt chiến lược ngoài những điều kiện cần thiết khác đảm bảo cho quốc phòng thì việc tăng cường DTQG là một yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo an ninh quốc phòng và bảo vệ vững chắc tổ quốc trong mọi tình huống
Thứ tư, trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về
kết quả, sản xuất kinh doanh của mình Khi doanh nghiệp là người tự quyết định trong sản xuất kinh doanh, tự do cạnh tranh thì không thể ép buộc họ gánh vác trách nhiệm dự trữ cho toàn xã hội, cho những biến cố xảy ra bất ngờ, thậm chí trong những tình huống xảy ra như thế họ còn đầu cơ, trục lợi để kinh doanh thu lợi nhuận cao
Vì vậy, chỉ có nhà nước với trách nhiệm quản lý toàn xã hội phải hình thành DTQG Bất luận ở chế độ chính trị - xã hội nào, ở đâu, mọi nhà nước đều phải có DTQG Một loại dự trữ nhằm đáp ứng những nhu cầu đột biến mà không có một loại dự trữ nào có thể đáp ứng được, dự trữ này do nhà nước quyết định, đó là DTQG
Thứ năm, DTQG cần thiết như một công cụ hữu hiệu để Chính phủ điều
hành vĩ mô nền kinh tế, xử lý những diễn biến bất lợi của thị trường, nhất là trong điều kiện hội nhập, toàn cầu kinh tế hiện nay, chứa đựng cả cơ hội lẫn thách thức đan xen Vì vậy, DTQG là công cụ để khắc phục có hiệu quả những khuyết tật của
cơ chế thị trường, nhằm phát triển nền KTTT định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước hiện nay
Thứ sáu, DTQG hình thành do yêu cầu ổn định chính trị - xã hội, an ninh -
quốc phòng, nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cũng như nhiệm vụ quốc tế của Đảng và Nhà nước Hiệu lực thực hiện các chính sách xã hội,
ổn định sản xuất và đời sống dân cư trong mọi tình huống phụ thuộc vào tiềm lực DTQG trong từng thời kỳ Quan hệ quốc tế giữa các nước với nhau luôn có quỹ trợ giúp lẫn nhau khi gặp khó khăn, điều đó cũng đòi hỏi phải có lực lượng DTQG, nhiều năm qua DTQG đã được Chính phủ giao cho thực hiện đưa hàng DTQG đến ủng hộ các nước trên thế giới trong những lúc khó khăn, như: Liên bang Nga, Mông
Cổ, Triều Tiên, Cu Ba, Lào, Campuchia, …
Trang 2212
Thứ bảy, nguồn gốc hình thành và quy mô DTQG: Các loại quỹ dự trữ như
dự trữ của các doanh nghiệp sản xuất gọi là quỹ dự trữ sản xuất, dự trữ của các doanh nghiệp thương mại gọi là quỹ dự trữ hàng hóa, quỹ dự trữ tiêu dùng cá nhân của các tổ chức, các đơn vị kinh tế - xã hội… đều được hình thành từ vốn của các chủ thể kinh tế riêng biệt và việc quản lý điều hành, sử dụng các quỹ đó đều do bản thân các chủ thể kinh tế độc lập quyết định Do dự trữ là vốn "nằm yên", không sinh lời trực tiếp, thậm chí còn bị hao mòn hữu hình hay vô hình nên các đơn vị, ngành kinh tế chỉ đưa vào dự trữ với số lượng tối thiểu thật cần thiết nhằm đảm bảo lợi ích riêng cho đơn vị mình, xí nghiệp mình Quy mô của các loại dự trữ này thường không lớn và chỉ đáp ứng cho hoạt động của doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân
Trái lại, quỹ DTQG được hình thành từ nguồn Ngân sách Nhà nước (NSNN) với mục đích đảm bảo lợi ích an toàn cho cả quốc gia, đảm bảo an sinh xã hội; quỹ DTQG còn thể hiện sức mạnh của Nhà nước, tiềm lực của quốc gia Vì vậy, quỹ DTQG phải được tích lũy ngày càng tăng lên theo kế hoạch và phát triển của đất nước Tuy nhiên, quy mô của quỹ DTQG vừa phải đáp ứng yêu cầu bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đồng thời phải phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước trong từng thời kỳ
Qua thực tiễn hơn năm mươi năm xây dựng và phát triển, DTQG đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, đã trở thành
bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong thành phần kinh tế Nhà nước, là một trong những công cụ quản lý có tác dụng tốt ở tầm vĩ mô để Đảng và Nhà nước có thực lực giải quyết những tình huống bất lợi khi xảy ra thiên tai địch họa và điều tiết thị trường khi có những biến động không tốt
Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ theo cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước, hơn lúc nào hết chúng ta cần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh kinh
tế tài chính vĩ mô DTQG bằng tiền và hàng hóa đủ mạnh và hợp lý sẽ là mặt quan trọng của an ninh kinh tế - tài chính quốc gia
Như vậy, DTQG là yêu cầu khách quan, cần thiết trong mọi thời kỳ cách mạng của nước ta DTQG hình thành, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan
Trang 2313
cùng với quá trình vận động của mỗi quốc gia, như sự cần thiết cho quá trình vận động của một cơ thể sống
1.3 Chức năng dự trữ quốc gia trong nền kinh tế thị trường
KTTT là nền kinh tế hàng hóa phát triển Khi tất cả các quan hệ kinh tế giữa người ta với nhau được tiền tệ hóa, các yếu tố của sản xuất như đất đai và tài nguyên, vốn, sức lao động, các sản phẩm và dịch vụ, chất xám và tiền tệ là hàng hóa, còn giá cả được hình thành bởi sự tác động của cung cầu trên thị trường, thì dự trữ hàng hóa được coi như loại vốn luân chuyển, là "những hàng hóa" hiện được giữ lại để sản xuất hay tiêu thụ sau này Adam Smith (người Anh) - Nhà kinh tế học nổi tiếng - trong cuốn sách "Của cải và sự giàu có của các quốc gia" xuất bản năm
1776, trong đó nổi bật là lý thuyết "bàn tay vô hình", cho rằng trong nền KTTT, từng thành viên trong xã hội hoạt động theo đuổi mục đích đều hướng tới lợi ích riêng Hoạt động của mỗi thành viên đó do sự dẫn dắt của thị trường Hoạt động của toàn xã hội bao gồm hoạt động của các thành viên, do đó toàn xã hội hướng tới lợi ích chung dưới sự dẫn dắt của thị trường, của một "bàn tay vô hình"để đạt tới lợi ích chung của xã hội Nền KTTT có những đặc trưng cơ bản sau: (i) Các sản phẩm mang tính hàng hóa và luôn đặt trước sự "lựa chọn" của thị trường; (ii)Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao, các chủ thể tự bồi đắp những chi phí sản xuất và có trách nhiệm về hoạt động của mình; (iii) Người mua và người bán luôn tìm tới nhau, giá cả là kết quả của thỏa thuận giữa người mua và người bán, của quan hệ cung, cầu trên thị trường; (iv) Khả năng thích ứng cao trước những biến đổi của thị trường; (v) Cạnh tranh được coi là môi trường, là động lực của KTTT là "bộ máy" điều chỉnh trật tự thị trường Nó là yếu tố quan trọng kích thích tính tích cực trong kinh doanh
Thị trường là một phần bắt buộc của quá trình sản xuất hàng hóa Sự ra đời của thị trường gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa Thị trường theo một ý nghĩa nào đó, là một địa điểm, là nơi diễn ra sự trao đổi, mua bán hàng hóa Nhưng thị trường không phải đơn thuần là lĩnh vực trao đổi, di chuyển hàng hóa từ người sản xuất sang người tiêu dùng Mà thị trường là một quá trình, ở đó người bán và người mua thứ hàng hóa nào đó tác động qua lại lẫn nhau để xác định
Trang 2414
giá cả và số lượng
Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có nhiều ưu thế như tính năng động, hiệu quả, chất lượng, sản phẩm đa dạng, phong phú, song lại không thể tránh khỏi những khuyết tật Đó là: khủng hoảng, lạm phát, thất nghiệp, đình đốn, suy thoái kinh tế, bất công bằng xã hội, chạy theo lợi nhuận tối đa, bỏ qua hàng hóa dịch
vụ công cộng, tác hại môi sinh… Những tiêu cực đó cản trở sự phát triển của nền kinh tế, nhất là đối với nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng XHCN ở nước ta
Đứng trước hậu quả mà KTTT gây ra có nhiều quan điểm khác nhau, trái ngược nhau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, để ngăn chặn những hậu quả tiêu cực của thị trường, cần xóa bỏ cơ sở sinh ra nó, tức là xóa bỏ kinh tế hàng hóa, tổ chức sản xuất trao đổi tiêu dùng một cách tập trung Quan điểm này không được các nhà kinh tế học đồng tình vì đi ngược lại các quy luật tự nhiên vốn có
- Quan điểm thứ hai, thừa nhận những hạn chế, khuyết tật của KTTT Vấn đề là
ở chỗ phải tìm ra các biện pháp điều tiết, khắc phục những tiêu cực và phát huy ưu thế của KTTT Đi theo hướng này, các nhà kinh tế đánh giá cao vai trò của nhà nước đối với nền kinh tế Theo Keynes để khắc phục, hạn chế tiêu cực của thị trường thì Nhà nước phải can thiệp vào thị trường thông qua công cụ kinh tế Có thể nói, lý thuyết Keynes về vai trò kinh tế của Nhà nước như là "Bàn tay hữu hình" tác động vào thị trường Vai trò điều tiết của Nhà nước trong nền KTTT khác về bản chất với sự chỉ huy tập trung quan liêu trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Trong nền KTTT, Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý, kinh tế, xã hội, tâm lý… để thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh và phát triển theo định hướng của Nhà nước Đó là mục tiêu trong chính sách kinh tế vĩ mô mà Chính phủ các nước có nền KTTT đang theo đuổi
Ở từng giai đoạn, từng mô hình KTTT, vai trò Nhà nước có sự khác nhau Tuy nhiên có hai hình thức mà mọi Nhà nước phải đảm nhiệm: định ra các thể chế pháp lý kinh tế và xã hội, tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được tự do kinh doanh và cạnh tranh phát
Trang 2515
triển; sử dụng các nguồn lực tập trung của Nhà nước vào các mục tiêu công cộng như việc xây dựng kết cấu hạ tầng, công trình phúc lợi, dự phòng ngân sách cho những biến cố, xây dựng một số doanh nghiệp quan trọng theo từng thời kỳ Những chức năng này đòi hỏi Nhà nước phải có trong tay những nguồn lực nhất định, trong
đó có một thực lực dự trữ nhất định với tư cách chủ thể quản lý kinh tế vĩ mô
Đối với một nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN như ở nước ta thì vai trò của Nhà nước càng trở lên quan trọng Trong quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung sang cơ chế thị trường ở nước ta, vai trò của Nhà nước không giảm đi mà lại tăng lên với những đổi mới căn bản khác trước về phương thức tác động vào nền kinh tế Nếu như trong cơ chế quan liêu bao cấp, sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước được tập trung ở cấp cao nhất bởi những quyết định mang tính chất hành chính "chặt chẽ, chi tiết", thì khi chuyển sang cơ chế thị trường, Nhà nước đóng vai trò quản lý vĩ mô, điều tiết nền kinh tế chủ yếu bằng các chính sách, luật pháp kinh tế và các công cụ kinh tế… còn hoạt động tác nghiệp quản lý sản xuất - kinh doanh cụ thể thuộc quyền tự chủ của các đơn vị cơ sở Như vậy, vai trò của Nhà nước trong việc can thiệp vào nền kinh tế ngày một tăng là một xu hướng có tính phổ biến Một nền KTTT định hướng XHCN không chỉ thuần túy nhằm vào mục tiêu kinh tế, mà còn nhằm đạt tới mục tiêu xã hội công bằng, văn minh DTQG
có vai trò đặc biệt như một thực lực kinh tế, một sức mạnh kinh tế để Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý và mục tiêu kinh tế, xã hội đặt ra
Ở các nước có nền KTTT phát triển, dự trữ hàng hóa thường được xem xét dưới 3 hình thức chủ yếu: dự trữ sản xuất, dự trữ tiêu thụ và DTQG dưới hình thức hiện vật và ngoại tệ Hiện nay, đối với các nước phát triển, dự trữ ngoại tệ được coi
là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng Dự trữ ngoại tệ ở Đài Loan đạt mức cao nhất thế giới hiện nay là 90 tỉ đô la Mỹ, ở Bruney là 25 tỉ đô la, ở Thái Lan là 20 tỉ đô la, ở Trung Quốc là 43 tỉ đô la, ở Philippin trên 2 tỉ đô la Ở Mỹ có thời kỳ DTQG về xăng dầu lên tới 600 triệu tấn
Trong điều kiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chúng ta thường quan niệm chức năng của DTQG là nhằm bảo đảm các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân trong những trường hợp đặc biệt: thiên tai, mất mùa và có chiến tranh v.v… DTQG
Trang 2616
được sử dụng vào các mục đích khắc phục nhanh chóng những hậu quả của chúng Ngày nay, trong điều kiện nền KTTT, DTQG còn thực hiện nhiều chức năng quan trọng khác: chức năng điều tiết thị trường với tư cách là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước; mở rộng và chủ động trong các quan hệ quốc tế làm cho nền kinh tế trong nước từng bước hòa nhập nền kinh tế thế giới Như vậy, DTQG trong giai đoạn hiện nay thực hiện các chức năng cơ bản:
Thứ nhất, là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong nền KTTT Theo
chức năng này, DTQG can thiệp để bình ổn tình hình kinh tế - xã hội, tình hình thị trường, góp phần bảo hộ quyền lợi người sản xuất cũng như người tiêu dùng Cơ chế thị trường vận động theo các quy luật vốn có của nó nên sự can thiệp của Nhà nước là đòi hỏi tất yếu để khắc phục những khiếm khuyết của nền KTTT Kinh nghiệm của BULOG (Bandan Urusan Logistik - Ủy ban giải quyết hậu cần) Inđônêxia trong việc ổn định giá cả nông sản trong phạm vi quốc gia (đặc biệt là giá gạo) bằng các hoạt động thu mua, dự trữ và cung ứng gạo và các nông phẩm, góp phần ổn định thị trường, quan tâm thỏa đáng đến lợi ích của nông dân cũng như của người tiêu dùng
Thứ hai, bảo đảm các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân khi có thiên tai, mất
mùa Thực tế hiện nay còn tồn tại quan niệm thiếu chính xác về chức năng này của DTQG là "dự trữ phòng ngừa thiên tai" Nếu nhận thức chức năng dự trữ là phòng ngừa thiên tai, mất mùa thì sẽ dẫn đến hậu quả sai lầm trong phương hướng sử dụng lực lượng DTNN Ở đây nên thấy được vai trò to lớn của DTQG trong trường hợp đất nước, các địa phương bị thiên tai xảy ra và mất mùa Những lúc này Nhà nước can thiệp kịp thời, góp phần giải quyết nhanh chóng hậu quả thiên tai thông qua việc sử dụng lực lượng DTQG của mình Đối với điều kiện nước ta, mỗi năm, qua thống kê, từ Biển Đông có 10 - 15 cơn bão, trong đó có khoảng 6 - 7 cơn đã đổ bộ trực tiếp vào nước ta, gây ra mưa to, lũ lụt, phá hoại mùa màng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sồng nhân dân các địa phương thì sự can thiệp đúng lúc và đủ mức của Nhà nước thông qua DTQG chắc chắn sẽ góp phần quan trọng ổn định tình hình kinh tế - xã hội
Thứ ba, bảo đảm nhu cầu của nền kinh tế quốc dân trong trường hợp có chiến
tranh Chức năng này của DTQG có tầm quan trọng đặc biệt trong tình hình quốc tế
Trang 2717
hiện nay Trước đây, DTQG đã thực hiện tốt chức năng của mình góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN; đáp ứng tốt các nhu cầu của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Trong thời gian đế quốc Mỹ đánh phá ác liệt trở lại miền Bắc, năm 1972, dự trữ Chính phủ đã huy động một số lượng rất lớn thiết bị, máy móc, trong đó có 283 xe ôtô các loại, 160
tổ máy phát điện 217 động cơ ôtô, 80 xitéc, 42 công trình v.v… Khi xây dựng vùng giải phóng mở rộng, chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã sử dụng một lực lượng DTQG rất lớn, xuất kho hàng trăm nghìn tấn gạo, hàng trăm xe các loại, xuất dốc gần như toàn lực nguồn dự trữ quốc gia để chi việc chiến trường với khẩu hiệu "Tất
cả để chiến thắng" Hiện nay, tình hình thế giới đang diễn ra phức tạp thì việc hình thành một lực lượng DTQG đủ mạnh, cả bằng hiện vật và bằng ngoại tệ là một yêu cầu khẩn cấp tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Thứ tư, mở rộng và chủ động trong các quan hệ quốc tế Trong điều kiện nền
kinh tế mở với hai xu hướng cơ bản của thế giới là: tự do hóa kinh tế và dân chủ hóa (phi tập trung hóa) kinh tế với nhiều sắc thái và nhiều trình độ khác nhau nhằm phát huy động lực của cơ chế thị trường; có sự can thiệp chủ quan của Nhà nước vào sự phát triển khách quan của nền kinh tế, DTQG có vai trò quan trọng trong quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới Đối với mỗi quốc gia, lực lượng dự trữ hùng mạnh, đặc biệt là dự trữ ngoại tệ cho phép mở rộng và chủ động trong các quan hệ quốc tế, bao gồm cả việc viện trợ khẩn cấp cho các nước khi cần thiết Ở nước ta, trong các năm gần đây công tác viện trợ từ nguồn dự trữ quốc gia cho các nước đã được sử dụng thường xuyên, do đó nếu không có khối lượng và cơ cấu mặt hàng dự trữ đầy
đủ thì khó ứng phó kịp thời tình hình quốc tế hiện nay
1.4 Đặc trƣng cơ bản của dự trữ quốc gia
a Dự trữ quốc gia là một dạng dự trữ đặc biệt (phòng ngừa rủi ro) ở tầm vĩ
mô, được tích lũy dần từng bước theo kế hoạch Nhà nước, việc nhập, xuất, sử dụng phải theo đúng kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhằm phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh, đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh, tham gia bình
Trang 2818
ổn thị trường, những bất trắc không thể lường trước, những khủng hoảng có thể xảy
ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Việc bổ sung DTQG được quy định trong kế hoạch cân đối chủ yếu của nền kinh tế quốc dân do Quốc hội quyết định DTQG được tích lũy dần thành quỹ DTQG, quỹ DTQG là khoản tích lũy từ NSNN, do Nhà nước thống nhất quản lý và sử dụng DTQG được dự trữ bằng hàng và bằng tiền; DTQG bằng tiền là khoản dự trữ trong quỹ DTQG được bố trí trong dự toán NSNN hàng năm Cơ cấu từng loại vật tư hàng hóa dự trữ, tỷ lệ dự trữ tiền, hiện vật và dự trữ ngoại tệ phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội, vào điều kiện kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế của từng thời kỳ
b Hàng hóa đưa vào DTQG phải là những mặt hàng chiến lược; thiết yếu, quan trọng đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; đảm bảo quốc phòng, an ninh, tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của Nhà nước
c Sự điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, có sự phân công quản lý hàng DTQG cho các Bộ, ngành theo quy định của Chính phủ; DTQG được thực hiện theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước, quyết định sự hình thành tổng mức dự trữ, cơ cấu tỷ lệ dự trữ giá trị và những vật tư hàng hóa phù hợp với yêu cầu của đất nước, của nền kinh tế theo từng thời kỳ và quyết định sử dụng thuộc thẩm quyền của Nhà nước, do Quốc hội, Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định
d Nguồn vốn hình thành DTQG: DTQG được hình thành từ nguồn vốn NSNN và được bổ sung hàng năm
đ Dự trữ quốc gia rất cần thiết để khắc phục những hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, nhưng nó lại mang tính hao phí vật chất (mất tiền)
e Việc tính toán chuẩn xác đại lượng (danh mục, số lượng, quy mô) DTQG
Trang 2919
mật về số lượng, mặt hàng
2 Mục tiêu của dự trữ quốc gia đối với phát triển kinh tế xã hội
Điều 3 Luật Dự trữ quốc gia quy định:Nhà nước hình thành, sử dụng dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh
Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 2091/QĐ-TTg ngày 28/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2020 nêu
rõ về các mục tiêu của DTQG, cụ thể như sau:
2.1 Mục tiêu tổng quát
Sẵn sàng đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; phục vụ động viên công nghiệp; đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và thực hiện các nhiệm vụ cấp bách khác
-Hệ thống thông tin thông suốt trong hoạt động dự trữ quốc gia, bảo đảm tin học hóa 100% quy trình quản lý nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản
- Phát triển nguồn nhân lực dự trữ quốc gia bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý theo hướng tập trung thống nhất một cơ quan
Trang 3020
quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia
Như vậy, dự trữ quốc gia là một dạng dự trữ đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân, dự trữ những mặt hàng chiến lược quan trọng, thiết yếu đối với sản xuất và đời sống là loại dự trữ thuộc sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước nắm giữ, quản lý và sử dụng
3 Các nhân tố ảnh hưởng đến mức dự trữ quốc gia
Sự hình thành, duy trì quy mô dự trữ quốc gia cũng như quản lý hoạt động
dự trữ mặt hàng lương thực, muối ăn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, cụ thể:
3.1 Các nhân tố thuộc về môi trường chính trị - xã hội
Dự trữ quốc gia là dự trữ của một nước Vì vậy, hoạt động dự trữ quốc gia nói chung và dự trữ quốc gia đối với lương thực, muối ăn nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường chính trị - xã hội của chính bản thân nước đó Chẳng hạn, nếu nền chính trị không ổn định, xung đột chính trị, vũ trang, sắc tộc, tôn giáo thường xuyên xảy ra, khi đó để đảm bảo an ninh quốc gia, đảm bảo đời sống vật chất của người dân trong điều kiện chính trị biến động thì lương thực, muối ăn dự trữ quốc gia phải tăng lên Ngược lại nếu chính trị ổn định, lương thực, muối ăn không nhất thiết phải dự trữ nhiều, khi đó sẽ gây lãng phí một khoản ngân sách dành cho dự trữ
Mặt khác, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế, điều hành đất nước cũng ảnh hưởng đến việc hình thành tỷ lệ, quy mô dự trữ quốc gia về lương thực Cơ chế quản lý kinh tế sẽ ảnh hưởng tới phương thức mua, bán, giá cả lương thực mối ăn khi nhập hoặc xuất
Lương thực, muối ăn là những như yếu phẩm chủ yếu của con người, do vậy yếu tố xã hội ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động dự trữ quốc gia về lương thực, muối
ăn Quy mô dân số, tỷ lệ gia tăng dân số, xu hướng vận động của dân số ảnh hưởng tới khối lượng, quy mô dự trữ lương thực, muối ăn Thông thường dân số càng lớn thì quy mô lương thực, muối ăn dự trữ càng lớn Có như vậy lương thực, muối ăn mới đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu thiết yếu cho đời sống dân cư khi có tình huống xấu xảy ra
Trang 3121
3.2 Các nhân tố thuộc về tiềm lực kinh tế
Nguồn vốn dành cho dự trữ quốc gia 100% từ ngân sách nhà nước Lương thực, muối ăn là một trong những mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng dự trữ quốc gia Do vậy vốn cho lương thực, muối ăn cũng hoàn toàn do ngân sách nhà nước cấp Hàng năm, nhà nước trích một tỷ lệ GDP cho ngân sách Nếu nền kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng cao thì khi đó tỷ lệ GDP dành cho dự trữ quốc gia nói chung và dự trữ quốc gia cho lương thực, muối ăn nói riêng càng lớn Ngược lại nếu nền kinh tế tăng trưởng thấp, tiềm lực kinh tế yếu sẽ dẫn tới tỷ lệ GDP cho dự trữ quốc gia thấp Khi nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững, khi đó khủng hoảng kinh tế ít xảy ra hơn thì quy mô lương thực dự trữ quốc gia vừa phải, nếu nền kinh
tế phát triển thiếu ổn định đòi hỏi dự trữ quốc gia về lương thực, muối ăn phải cao
Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông vận tải sẽ ảnh hưởng đến việc xây dựng và bố trí hệ thống kho tàng cũng như việc tập trung hóa cao lương thực, muối ăn dự trữ quốc gia
3.3 Các nhân tố về điều kiện, đặc điểm chung của nền kinh tế quốc dân
* Nhu cầu tiêu dùng đột xuất của nền kinh tế quốc dân Nhân tố ảnh hưởng trước hết đến hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung và DTQG nói riêng là nhu cầu tiêu dùng đột xuất Nhu cầu này ảnh hưởng đến DTQG theo quy mô, tính chu kỳ của nhu cầu
- Quy mô nhu cầu ảnh hưởng đến dự trữ tuyệt đối Quy mô nhu cầu càng lớn,
dự trữ tuyệt đối càng lớn và ngược lại
- Tính đều đặn, thường xuyên của nhu cầu ảnh hưởng đến dự trữ tuyệt đối Với nhu cầu thường xuyên đều đặn thì chỉ cần dự trữ nhỏ, với nhu cầu thưa thớt, thất thường thì dự trữ lớn
- Tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và yêu cầu sử dụng của nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến quy mô dự trữ
Những nhu cầu có tính chất thời vụ hay chu kỳ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến thiết lập dự trữ theo mùa vụ hoặc phải tăng tất cả các dạng dự trữ trong giai đoạn mùa
vụ đó lên một cách thích hợp so với nhu cầu dự trữ ở mức bình thường
* Ảnh hưởng của cung hàng hóa đến DTQG Tương tự như nhu cầu, cung
Trang 32Số lần cung hàng hóa trong khoảng thời gian ảnh hưởng đến dự trữ
- Số lần cung hàng hóa càng lớn dự trữ nhỏ và ngược lại Tuy nhiên do thời gian như vậy sẽ làm tăng chi phí vận chuyển, nhập hàng và ảnh hưởng đến ngân sách của Nhà nước
* Giá cả vật tư -hàng hóa cũng ảnh hưởng đến đại lượng dự trữ Trong nền KTTT, giá cả vật tư - hàng hóa ở trong nước và thị trường quốc tế ảnh hưởng đến đại lượng DTQG trong những trường hợp sau:
- Đối với một thời kỳ nhất định các yếu tố khác không thay đổi Nếu giá cả tăng sẽ làm giảm dự trữ Vì với một lượng ngân sách nhất định, DTQG chỉ dự trữ được một lượng vật tư - hàng hóa tương ứng với giá cả đó Khi tăng giá lên muốn giữ nguyên mức dự trữ đó sẽ phải tăng nguồn ngân sách cho dự trữ
Do sản xuất theo mùa vụ hoặc một lý do nào đó, cung hàng hóa lớn hơn cầu, nghĩa là thị trường thừa thãi dồi dào Giá cả hàng hóa tất yếu sẽ hạ xuống, để thúc đẩy sản xuất và bảo trợ cho người sản xuất, DTQG phải mua vào với số lượng lớn
để cân đối cung - cầu và ngược lại
* Ngoài các nhân tố trên, có nhiều nhóm nhân tố ảnh hưởng đồng thời tới DTQG, song quy lại có những nhân tố cơ bản chủ yếu sau:
- Khối lượng nhu cầu đột xuất của nền kinh tế quốc dân (như bão lụt ảnh hưởng đến bao nhiêu vùng, phạm vi đến đâu, quy mô ra sao…), trường hợp đột biến của thị trường phá vỡ quan hệ cung - cầu…
- Khối lượng cung vật tư hàng hóa
- Nhân tố giá cả
- Các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian dự trữ
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí dự trữ
- Đặc biệt nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến DTQG là cơ chế chính sách về quản
lý hàng DTQG Nó trực tiếp tác động đến cung hàng hóa, cầu hàng hóa, giá cả và
Trang 3323
các yếu tố chi phí Từ đó lựa chọn các phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố, đến đại lượng dự trữ, làm cơ sở lý luận cho phép áp dụng mô hình toán kinh tế để xác định dự trữ tối ưu nhất
3.4 Các nhân tố thuộc về môi trường tự nhiên
Khi hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới gió mùa, do vậy thời tiết và khí hậu nước ta vô cùng đa dạng và phức tạp Chính sự đa dạng và phức tạp này đã làm nảy sinh những tai họa về thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, hạn hán Ngày nay những tai họa xảy ra với tần suất ngày càng dầy, cường độ lớn, quy mô rộng và ngày càng phức tạp và khó dự báo hơn Sự biến động phức tạp của môi trường tự nhiên sẽ ảnh hưởng tới quy mô dự trữ lương thực, muối ăn Chẳng hạn, nếu dự báo năm tới sẽ có nhiều cơn bão quét qua, hạn hán kéo dài thì lương thực, muối ăn phải đủ mạnh để kịp thời ứng phó nhằm khắc phục tốt thiệt hại do thiên tai gây ra
Không những vậy, môi trường tự nhiên còn là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến công tác bảo quản lương thực, muối ăn dự trữ quốc gia Nếu thời tiết không thuận lợi (mưa nhiều, độ ẩm cao ) sẽ tạo môi trường thuận lợi cho sâu mọt phát triển và phá loại lương thực dự trữ quốc gia Điều đó làm ảnh hưởng tới số lượng, chất lượng cũng như thời gian bảo quản lương thực, muối ăn tại các kho dự trữ
3.5 Các nhân tố thuộc về cơ sở vật chất và công nghệ bảo quản
Nói tới cơ sở vật chất ở đây là nói tới hệ thống kho tàng dự trữ lương thực, muối ăn Quy mô kho, chất lượng kho, sự phân bổ của mạng lưới kho sẽ ảnh hưởng tới khối lượng, chất lượng hàng dự trữ Nếu không đủ kho, tích lượng kho nhỏ, chất lượng kho không đảm bảo thì không thể đáp ứng được khối lượng lương thực, muối
ăn dự trữ Chất lượng kho sẽ ảnh hưởng tới chất lượng bảo quản lương thực, muối
ăn Nếu chất lượng kho tốt sẽ giảm đáng kể lượng lương thực bị hao hụt, mất mát,
hư hỏng Sự phân bổ mạng lưới kho sẽ ảnh hưởng đến hoạt động nhập - xuất hàng; mạng lưới kho hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành hoạt động nhập - xuất lương thực, muối ăn
Công nghệ sẽ ảnh hưởng tới quy trình bảo quản lương thực Nếu áp dụng công nghệ bảo quản tiên tiến sẽ làm cho thời gian bảo quản lương thực, muối ăn
Trang 3424
được kéo dài, chất lượng bảo quản tăng lên sẽ giảm hao hụt, mất mát, giảm chi phí
và tăng năng suất lao động Ngược lại công nghệ lạc hậu, lỗi thời sẽ làm giảm thời gian bảo quản, giảm chất lượng bảo quản đồng thời làm gia tăng chi phí bảo quản
3.6 Yếu tố con người
Con người là chủ thể tiến hành hoạt động dự trữ quốc gia, do vậy con người đóng vai trò quyết định tới hiệu quả hoạt động dự trữ quốc gia
Thật vậy, nếu người làm công tác dự trữ quốc gia nhận thức đúng đắn về vai trò, chức năng của dự trữ quốc gia, họ là những người có trình độ, ý thức trách nhiệm, khi đó sẽ giúp cho việc tổ chức các nghiệp vụ hoạt động dự trữ quốc gia hiệu quả hơn, chẳng hạn nếu người làm công tác nghiên cứu và dự báo nhu cầu lương thực, muối ăn có trình độ, kinh nghiệm thì mức lương thực, muối ăn hàng năm sẽ được dự báo một khoa học và chính xác hơn
Như vậy, mọi thành công hay thất bại đều do con người và tổ chức quyết định Nếu có một tổ chức phù hợp, công tác tổ chức được quan tâm đúng mức, triển khai thực hiện một cách khoa khọc, kiểm tra chặt chẽ thì hiệu quả hoạt động dự trữ quốc gia nói chung và hoạt động dự trữ lương thực nói riêng sẽ mang lại hiệu quả cao
4 Nội dung quản lý hoạt động dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội
Hoạt động dự trữ quốc gia là hoạt động tất yếu khách quan của mọi nền sản xuất xã hội, dự trữ quốc gia hoạt động nhằm mục đích phòng, ngừa, khắc phục hậu quả do thiên tai, bão lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, an toàn nền kinh tế xã hội Xuất phát từ mục đích đó nội dung của hoạt động dự trữ quốc gia bao gồm:
4.1 Dự báo xu hướng phát triển của nền kinh tế, sự biến động của tình hình chính trị và xã hội ảnh hưởng đến hoạt động DTQG
Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lược của một nước nhằm khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt….mà thiên tai, bão lụt luôn xảy ra ngẫu nhiên, bất ngờ và không lường trước được Do đó để có đủ lực lượng dự trữ quốc gia nhằm ứng phó kịp thời với mọi tình huống xấu xảy ra thì yêu cầu phải có công tác dự báo là hết sức cần thiết
Trang 3525
Dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học, mang tính chất xác suất về mức độ, nội dung, các mối quan hệ, trạng thái, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu hoặc về cách thức và thời hạn đạt được các mục tiêu nhất định đã đề ra trong tương lai Dự báo là tiền đề khoa học đảm bảo tính khả thi của kế hoạch và giúp cho quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch đạt hiệu quả cao nhất Dự báo có vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định quản lý
Trong nền kinh tế thị trường, công tác dự báo là vô cùng quan trọng bởi lẽ nó cung cấp các thông tin cần thiết nhằm phát hiện và bố trí sử dụng các nguồn lực trong tương lai một cách có căn cứ thực tế
Dự báo kinh tế: Phát hiện xu thế phát triển của các hiện tượng kinh tế quan trọng nhất trong quá khứ và hiện tại, đánh giá khả năng tác động của những tính quy luật đã tìm được trong tương lai, tiên đoán những tình huống và những vấn đề then chốt có xác suất lớn của sự phát triển kinh tế sắp tới cũng như trong tương lai
xa hơn; nghiên cứu các xu hướng tăng trưởng kinh tế và tạo cơ sở xây dựng các kế hoạch trong tương lai
Dự báo tiến bộ khoa học kỹ thuật: Xác định các phương án phát triển khoa học công nghệ trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích xu thế của nó trong thời kỳ trước dự báo và những yêu cầu của xã hội, định hướng mục tiêu dự kiến trong tương lai Dự báo khoa học công nghệ cho phép phát hiện ý nghĩa xã hội, định hướng mục tiêu dự kiến trong tương lai Dự báo khoa học công nghệ cho phép phát hiện ý nghĩa xã hội của các nghiên cứu khoa học, đánh giá khả năng tiềm tàng của việc sáng tạo kỹ thuật mới, xác định trình độ công nghệ trong tương lai
Dự báo xã hội: Đánh giá cơ cấu xã hội của xã hội trong tương lai, xác định nhu cầu và mức sống dân cư, sự thay đổi lối sống, những điều kiện sinh hoạt và sử dụng thời gian nhàn rỗi, phát triển y tế, văn hoá, xã hội và dự báo những hậu quả xã hội dưới ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, xây dựng văn hoá, phát triển y tế, giáo dục
Dự báo về diễn biến của thời tiết và tần suất xảy ra thiên tai (bão, lụt, hạn
Trang 364.2 Xây dựng chiến lƣợc phát triển dự trữ quốc gia
Hoạt động dự trữ quốc gia chỉ có thể đem lại hiệu quả thật sự khi ngành dự trữ quốc gia có một chiến lược dự trữ quốc gia đúng đắn
Chiến lược dự trữ quốc gia là định hướng hoạt động dự trữ quốc gia cho một thời kì dài, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và tổng thể các biện pháp để hoạt động dự trữ quốc gia đạt được các mục tiêu đề ra đó là phòng, ngừa, khắc phục các biến cố do thiên tai, khủng hoảng kinh tế, chính trị
xã hội gây ra một cách chủ động và có hiệu quả nhất Chiến lược dự trữ quốc gia đóng vai trò như là ngọn đèn hải đăng trên biển, nó được coi là một định hướng, là cơ sở cho xây dựng chính sách, kế hoạch dự trữ quốc gia ngắn hạn, trung hạn
Ở Tổng cục DTNN, từ năm 2007 trở về trước việc xây dựng chiến lược dự trữ quốc gia là hoàn toàn không có Chiến lược dự trữ quốc gia bắt đầu được xây dựng và được phê duyệt từ đầu năm 2007 trở lại đây; tuy nhiên chiến lược mặc dù được phê duyệt nhưng việc triển khai vẫn còn chậm, chưa được quan tâm đúng mức Nội dung của chiến lược dự trữ quốc gia bao gồm:
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động dự trữ quốc gia trong quá khứ, hiện tại và dự báo về tương lai
- Quán triệt quan điểm, đường lối, chính sách của Đẳng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội trong thời kì mới, trên cơ sở đó cụ thể hóa vào hoạt động dự trữ quốc gia
- Xác định các mục tiêu tổng quát và các mục tiêu chủ yếu của thời kì chiến lược, các mục tiêu này phải được cụ thể hóa trong từng giai đoạn và phải được thực hiện trong các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Trang 3727
- Xác định quy mô, tỷ lệ dự trữ, cơ cấu hàng hóa dự trữ quốc gia, danh mục các mặt hàng dự trữ quốc gia
- Các giải pháp để đạt được các mục tiêu chiến lược đã đề ra
- Các điều kiện để thực hiện chiến lược cũng như khả năng thực hiện chiến lược dự trữ quốc gia
4.3 Lập kế hoạch dự trữ hàng năm
Kế hoạch dự trữ quốc gia là cụ thể hóa của chiến lược dự trữ quốc gia Kế hoạch dự trữ quốc gia được xây dựng năm năm, hàng năm và được tổng hợp chung vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách hàng năm của nhà nước
Hàng năm, căn cứ vào mục tiêu và yêu cầu dự trữ quốc gia, căn cứ vào những dự báo về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trước và ngoài nước cũng như khả năng của nguồn Ngân sách nhà nước, Vụ Kế hoạch của Tổng cục DTNN tổng hợp xây dựng các kế hoạch dự trữ hàng năm Các kế hoạch đó gồm: kế hoạch nhập xuất, kế hoạch luân phiên đổi hàng, kế hoạch mua tăng, giảm hàng, xác định mức tồn kho đầu kì và cuối kì, kế hoạch đầu tư và xây dựng cơ bản, kế hoạch đổi mới công nghệ và kỹ thuật bảo quản…các kế hoạch này sau khi được lập ra phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
4.4 Tổ chức thực hiện kế hoạch dự trữ đề ra
Các kế hoạch dự trữ của Tổng cục DTNNsau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và thông qua được đưa trở lại Tổng cục Tổng cục DTNNlà nơi tiến hành triển khai các kế hoạch này
Tổ chức thực hiện kế hoạch là các bước công việc cần phải làm để biến các
kế hoạch đã đề ra thành công việc cụ thể cần phải hoàn thành Vì vậy đây được coi
là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình dự trữ
Cụ thể của việc tổ chức thực hiện các kế hoạch hàng năm đó là các Vụ chuyên môn quyết định phương thức mua bán, thời gian nhập xuất, luân phiên đổi hàng …để duy trì lực lượng hàng hóa dự trữ đủ mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng
Quy trình thực hiện kế hoạch gồm các bước sau:
- Tổ chức nhập – xuất hàng DTQG;
Trang 3828
- Chuẩn bị cơ sở vật chật kỹ thuật và phương thức bảo quản hàng DTQG;
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện dự trữ hàng;
- Công tác cán bộ bảo quản hàng DTQG
Để hàng hóa dự trữ quốc gia đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng thì bên cạnh việc nhập xuất hàng hóa, Tổng cục còn phải tiến hành thực hiện công tác bảo quản hàng hóa dự trữ quốc gia theo đúng quy trình, quy phạm bảo quản, áp dụng công nghệ mới vào bảo quản Đồng thời tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ, bảo quản hàng hóa dự trữ quốc gia, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện kế hoạch theo từng năm Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước về quản lý hành chính, ngân sách, chế độ báo cáo tài chính…
4.5 Tổ chức đánh giá và điều chỉnh chiến lƣợc và kế hoạch cho phù hợp với tình hình cụ thể
Chiến lược và kế hoạch dự trữ quốc gia được lập ra cho thời kì tương lai, mà tương lai thì luôn biến động Vì vậy, để đảm bảo hoạt động dự trữ quốc gia có hiệu quả thì trong quá trình thực hiện đòi hỏi phải thường xuyên đánh giá và điều chỉnh chiến lược và kế hoạch theo từng tình huống cụ thể
Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lược để phòng, chống và khắc phục hậu quả do thiên tai, bão lụt, ổn định nền kinh tế, đảm bảo quốc phòng an ninh Để làm được điều đó Tổng cục DTNNphải dự báo những tình huống xấu có thể xảy ra trong tương lai để xây dựng chiến lược và kế hoạch dự trữ hợp lý Tuy nhiên thiên tai, bão lụt, sự bất ổn của nền kinh tế luôn xảy ra ngẫu nhiên, bất ngờ Nó có thể xảy
ra ít hoặc nhiều hơn dự báo Vì vậy nó đòi hỏi Tổng cục DTNNphải điều chỉnh lực lượng dự trữ một cách phù hợp để kịp thời khắc phục những tình huống đó
Trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, để phát triển nền kinh tế thị trường, ổn định mọi mặt đời sống người dân thì việc thường xuyên đánh giá và điều chỉnh chiến lược và kế hoạch dự trữ quốc gia đóng một vai trò vô cùng quan trọng,
nó góp phần hoàn thiện chiến lược dự trữ quốc gia
Trang 3929
TỔNG KẾT CHƯƠNG I
Để làm cơ sở lý luận cho những chương sau, chương I tác giả đã đưa ra các khái niệm cơ bản về DTQG, các mục tiêu của DTQG đối với việc phát triern kinh tế
xã hội, các nhân tố ảnh hưởng tới mức dự trữ quốc gia cũng như các nội dung quản
lý hoạt động dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội
Với những cơ sở lý luận rõ ràng, quanh quanh vấn đề hoạt động dự trữ quốc gia đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội, nó là tiền đề để luận văn đưa ra những phân tích, giải pháp hoàn thiện công tác DTQG đối với nhóm hàng bảo đảm an ninh kinh tế, an sinh xã hội tại Tổng cục DTNN
Trang 4050 tỷ đồng, đồng thời tạm giao cho Ủy ban kế hoạch Quốc gia theo dõi, đôn đốc việc tổ chức và bảo quản vật tư dự trữ ở bốn Bộ (Thương nghiệp, Công nghiệp, Quốc phòng, Y tế) Với Quyết định này, Nhà nước đã đề ra những nguyên tắc cơ bản hình thành lực lượng dự trữ Quốc gia Xét nhu cầu thống nhất quản lý lực lượng dự trữ vật tư Nhà nước, ngày 07/08/1956, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 997/TTg thành lập Cục Quản lý Dự trữ vật tư của Nhà nước, thuộc Chính phủ Đối với cán bộ công chức trong toàn ngành dự trữ, ngày 07/08/1956 được coi là mốc son lịch sử gắn liền với việc thành lập Cục Dự trữ, tổ chức quản lý nhà nước chuyên ngành về dự trữ, lần đầu tiên có ở Việt nam; đồng thời ngày nay, ngày 7 tháng 8 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống vẻ vang của Ngành Dự trữ quốc gia
Trong 59 năm tồn tại và hoạt động, dưới dự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và hiện nay dưới sự điều hành trực tiếp của Bộ Tài chính; hoạt động dự trữ quốc gia luôn có vai trò quan trọng đối với việc phát triển bền vững, bảo đảm ổn định chính trị - kinh tế - xã hội Dự trữ quốc gia là nguồn dự trữ chiến lược của Nhà nước nhằm chủ động đáp ứng những yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; bảo đảm quốc phòng an ninh Ngoài ra dự trữ quốc gia còn có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và