Trong khi, đất nước đang áp dụng cơ chế thị trường cho nền kinh tế, với xu thế mở cửa và hội nhập thì vấn đề cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và trong lĩnh vực xây dựng nói riêng n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
LƯƠNG HẢI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG
TRÚNG THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LICOGI 13
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH KHOA: KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THÀNH TRÌ
HÀ NỘI - 2012
Trang 2Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐH BKHN
Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS Nguyễn Thành Trì, người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cũng như đã cho những ý kiến quý báu để giúp tôi hoàn thành Luận văn Cao học này
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới tất cả các Thầy Cô khoa Kinh tế & Quản lý trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, những người đã trang bị cho tôi những kiến thức có giá trị trong suốt khóa học Tôi cũng xin cám ơn tới ban lãnh đạo Công ty CP Licogi 13, nơi đã tạo điều kiện cho tôi có điều kiện tốt để nghiên cứu, khảo sát và vận dụng tốt các kiến thức đã học trong quá trình thực hiện Luận án Cao học
Nhân đây, tôi cũng xin cảm ơn tới tất cả mọi người trong gia đình, cũng như các bạn bè đã là nguồn động viên tôi trong suốt khóa học và quá trình thực hiện Luận án Cao học này
Hà Nội, ngày 02 tháng 09 năm 2012
Trang 3Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐH BKHN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là của riêng tôi và được nghiên cứu một cách độc lập;
Mọi số liệu trong luận văn này đều được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng./
Trang 4Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐH BKHN
Trang 5Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐH BKHN
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty
cổ phần Licogi 13 giai đoạn 2009 - 2012 38
Bảng 2.2 So sánh năng lực tài chính của Công ty Licogi 13 năm
2011 với một số một số đối thủ cạnh tranh 40
Bảng 2.3 Nguồn vốn của Công ty cổ phần Licogi 13 giai đoạn 2008
Bảng 2.6 Năng lực thiết bị của công ty Licogi13 49
Bảng 2.7 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ của Công ty cổ
phần Licogi 13 giai đoạn 2008 – 2011 51
Bảng 2.8 So sánh tổng giá trị trang thiết bị máy móc của công ty
Bảng 2.9 Công nhân kỹ thuật của Công ty licogi 13 đến năm 2012 53
Bảng 2.10 Cán bộ chuyên môn kỹ thuật của Công ty CP Licogi 13
Bảng 2.11 Bảng so sánh các đối thủ cạnh tranh trực tiếp 58
Bảng 2.12 Bảng xác định mức độ ảnh hưởng của các cơ hội, nguy
Trang 6Luận văn CH QTKD Viện Ktế & Qlý, ĐH BKHN
Bảng 2.13 Ma trận SWOT của Công ty CP Licogi 13 69
Bảng 3.1 Nhu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng GT
Bảng 3.2 Các chỉ tiêu chủ yếu trong kế hoạch đến 2015 của công ty
Bảng 3.3 Nhu cầu SXKD đến 2015 của Công ty cổ phần Licogi 13 77
Bảng 3.4 Nguồn huy động vốn sản xuất kinh doanh dự kiến
Bảng 3.6 Danh mục thiết bị thi công Công ty cần đầu tư năm 2013 93
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 4
1.1 Cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của DN 4
1.1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh 4
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh 9
1.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh 11
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp xây dựng 12
1.2.1 Khái niệm và phân loại năng lực cạnh tranh trong xây dựng CTGT 12
1.2.2 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản xuất xây dựng CTGT ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của DN 14
1.2.3 Đặc điểm tổ chức quản lý công ty CP ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN 16
1.2.4 Các chỉ tiêu chính đánh giá năng lực cạnh tranh của DN xây dựng công trình giao thông 19
1.3 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN xây dựng công trình giao thông 25
1.3.1 Các nhân tố chính bên trong bao gồm: 26
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài bao gồm: 29
1.4 Công cụ xác định năng lực cạnh tranh của doang nghiệp 33
1.5 Kết luận chương 1 và nhiệm vụ chương 2: 34
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LICOGI 13 36
2.1 Giới thiệu tổng quát về Công ty Licogi 13 36
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Licogi 13 36
2.1.2 Đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty CP Licogi 13 những năm gần đây 38
2.2 Những nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Công ty CP Licogi 13 trong lĩnh vực xây dựng CTGT 40
Trang 82.2.1 Những nhân tố bên trong 40
2.2.2 Những nhân tố bên ngoài 56
2.3 Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của Công ty CP Licogi 13 trong lĩnh vực xây dựng GTVT 61
2.3.1 Đánh giá về mặt mạnh và mặt yếu của Công ty CP Licogi 13 61
2.3.2 Đánh giá những cơ hội và nguy cơ của Công ty Licogi 13 66
2.4 Kết luận chương 2 70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TRÚNG THẦU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN LICOGI 13 71
3.1 Mục tiêu phát triển của công ty CP Licogi 13 đến 2015 71
3.1.1 Môi trường kinh doanh ngành 71
3.1.2 Định hướng và mục tiêu của Công ty CP Licogi 13 đến 2015 74
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao khả năng trúng thầu xây dựng của Công ty CP Licogi 13 đến 2015 76
3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao năng lực tài chính của công ty Licogi 13 76
3.2.2 Giải pháp 2: Nâng cao năng lực máy móc TB và công nghệ của Công ty cổ phần Licogi 13 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính bức thiết và lý do lựa chọn đề tài
Cạnh tranh là một yếu tố tất yếu trong nền kinh tế thị trường, nó góp phần
thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển có hiệu quả Trong lĩnh vực xây dựng thì vấn
đề cạnh tranh tồn tại dưới hình thức đấu thầu Đây là hình thức canh tranh đặc thù
của doanh nghiệp trong ngành xây dựng
Đất nước ta đang đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá trên mọi lĩnh vực
trong đó vấn đề xây dựng đang là mỗi quan tâm hàng đầu của chính phủ, vì đây là
cơ sở, nền tảng cho quá trình phát triển đất nước và công nghiệp hóa đất nước
Trong khi, đất nước đang áp dụng cơ chế thị trường cho nền kinh tế, với xu
thế mở cửa và hội nhập thì vấn đề cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và trong
lĩnh vực xây dựng nói riêng ngày càng trở nên gay gắt, và là vấn đề sống còn của
các doanh nghiệp
Đứng trước tình hình đó, khi chúng ta đã có hình thức đầu thầu làm phương
thức giao nhận các dự án giữa chủ đầu tư và nhà thầu thì các doanh nghiệp xây
dựng phải nâng cao năng lực của mình và đưa các biện pháp riêng nhằm nâng cao
khả năng thắng thầu, nhất là khi quy chế đấu thầu ra đời (1999) để thay thế các văn
bản trước đây Đây là vấn đề quan trọng nhất đối với doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực xây dựng VN
Trong hơn năm năm công tác tại công ty cổ phần Licogi13, tôi nhận thấy vấn
đề đấu thầu là mỗi quan tâm lớn nhất, là điểm khởi đầu cho mọi công việc trong
công ty Vì vậy, qua tình hình đấu thầu xây dựng của Công ty trong những năm qua,
tôi đã chọn đề tài:
“Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng trúng thầu xây dựng của
Công ty CP Licogi 13”
Chúng tôi tin rằng những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giúp
công ty nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng góp vào sự phát triển của công ty trong
giai đoạn hiện nay
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu nhất định luận văn này nhằm giải quyết một số
vấn đề cơ bản sau:
Hệ thống hóa các kiến thực lý thuyết cơ bản của năng lực cạnh tranh của DN
Phân tích và đánh giá môi trường nội bộ của công ty cổ phần Licogi13, xác
định các điểm yếu, những cơ hội, cũng như những thách thức đối với quá trình phát
triển
Xây dựng mục tiêu phát triển đến năm 2015
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng trúng thầu, năng lực cạnh
tranh của công ty và các khuyến nghị có liên quan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung đánh giá và nghiên cứu năng lực
cạnh tranh của các DN xây dựng công trình giao thông nói chung và Công ty CP
Licogi13 nói riêng
- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích khả năng cạnh tranh của Công ty Licogi13 về
các sản phẩm xây dựng công trình giao thông, thủy lợi và thủy điện …Từ đó đưa ra
giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dựa trên số liệu công ty từ năm 2009 - 2012
4 Phương pháp khoa học được áp dụng trong khi nghiên cứu đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học kinh tế
là phương pháp kết hợp giữa lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp Ngoài ra luận
văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh định lượng nhằm tạo một
phương pháp tiếp cận phù hợp với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu của luận văn
5 Những đóng góp mới của luận văn
Về lý luận:
Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh trong kinh tế thị trường
và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trên cơ sở đó chỉ ra cách thức vận dụng
các lý luận về cạnh tranh để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp
Trang 11Về thực tiễn:
- Khái quát một số bài học kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp từ đó chỉ ra những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chiến lược nâng
cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
- Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn cho thấy một bức tranh toàn cảnh về
năng lực cạnh tranh của Công ty CP Licogi13 hiện tại, những điểm mạnh, điểm yếu,
thách thức, nguy cơ và nguyên nhân của thực trạng đó từ đó
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực trúng thầu cho
Công ty Licogi13 trong giai đoạn tới gồm các giải pháp sau:
+ Giải pháp 1: Nâng cao năng lực tài chính của công ty cổ phần Licogi 13
+ Giải pháp 2: Năng cao năng lực máy móc, thiết bị và công nghệ Của
công ty cổ phần Licogi 13
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
bao gồm 3 chương với nội dung chính như sau
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty Licogi13
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao khả năng trúng thầu của công
ty Licogi13
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG
CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của DN
Kinh tế thị trường được xem là nền kinh tế năng động nhất, mang lại nhiều thành
tựu đóng góp cho sự phát triển của văn minh nhân loại Kinh tế thị trường vận động
dưới sự tác động tổng hợp của các quy luật kinh tế khách quan, trong đó phải kể đến
quy luật cạnh tranh
Cạnh tranh đã, đang và sẽ là vấn đề được quan tâm nghiên cứu cả trên lý
luận và trong thực tiễn nhằm vận dụng ngày càng hiệu quả quy luật này phục vụ cho
sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp nói giêng, mỗi Quốc gia nói chung
Hiện nay, sự cạnh tranh trên thị trường của các thành phần kinh tế ngày càng gay
gắt, khốc liệt vì vậy, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam
là một nội dung cần được quan tâm
1.1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh [ Tác giả tự tổng hợp]
* Cạnh tranh : Là một thuật ngữ đã được sử dụng từ khá lâu song trong những
năm gần đây được nhắc đến nhiều hơn, nhất là ở Việt Nam Khái niệm cạnh tranh
mới chỉ xuất hiện sau khi Đảng và Nhà Nước ta thực hiện chính sách đổi mới nền
kinh tế, chuyển đổi nền kinh tế từ chế độ bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN Vì vậy các khái niệm về cạnh tranh còn được nhận thức dưới nhiều
góc độ và lý luận khác nhau
- Có thể hiểu đơn giản cạnh tranh là sự ganh đua giữa hai hoặc một nhóm người
mà sự nâng cao vị thế của một người sẽ làm giảm vị thế của những người còn lại
- Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể được hiểu là “sự ganh đua giữa các
doanh nghiệp trong việc giành một yếu tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao
vị thế của mình trên thị trường” Người ta có thể hình dung điều kiện để xuất hiện
cạnh tranh trong nền kinh tế là: tồn tại một thị trường với tối thiểu hai thành viên là
bên cung hoặc bên cầu và mức độ đạt mục tiêu của thành viên này sẽ ảnh hưởng
Trang 13cho doanh nghiệp này và thiệt hại cho doanh nghiệp khác, song xét dưới góc độ lợi
ích toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác động tích cực Nó thúc đẩy các doanh nghiệp
không ngừng nỗ lực giảm chi phí cá biệt, tiến tới giảm chi phí xã hội để sản xuất ra
các sản phẩm, dịch vụ có giá rẻ hơn, chất lượng tốt hơn Nó giúp cho người tiêu
dùng có nhiều cơ hội lựa chọn và được quyền đặt ra các điều kiện ngày càng cao về
sản phẩm, dịch vụ và thái độ phục vụ của doanh nghiệp[4]
- Trong nền kinh tế mở hiện nay, khi xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng
phổ biến thì cạnh tranh là phương thức để đứng vững và phát triển của doanh
nghiệp Nhưng “cạnh tranh là gì” thì vẫn đang là một khái niệm chưa thống nhất,
các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm cạnh tranh dưới nhiều góc độ khác nhau
-Ủy ban Cạnh tranh Công nghiệp của Tổng thống Mỹ đưa ra khái niệm cạnh
tranh đối với một quốc gia như sau: “Cạnh tranh đối với một quốc gia thể hiện trình
độ sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng
thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó trong những
điều kiện thị trường tự do và công bằng xã hội”[1]
Trong định nghĩa này người ta đề cao vai trò của các điều kiện cạnh tranh là “tự
do và công bằng xã hội”
- Như vậy, xét trên góc độ vĩ mô các khái niệm về cạnh tranh đều cho thấy mục
tiêu chung của hoạt động cạnh tranh là thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường trong
nước và quốc tế, tạo việc làm và thu nhập cao cho nền kinh tế
- Khi nghiên cứu về cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác cũng đã đưa ra khái niệm
về cạnh tranh: “Cạnh tranh tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà
tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng
hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch”[2] Như vậy cạnh tranh là hoạt động của các
doanh nghiệp trong nền sản xuất hàng hóa với mục đích ganh đua, giành giật những
điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận cao
- Kế thừa những tính hợp lý và khoa học của các quan niệm về cạnh tranh trước
đây, luận văn cho rằng để đưa ra một khái niệm đầy đủ cần chỉ ra được chủ thể cạnh
tranh, tính chất, phương thức và mục đích của quá trình cạnh tranh Theo đó chúng
Trang 14ta có thể quan niệm “ cạnh tranh là một quá trình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh
tế (quốc gia, ngành hay doanh nghiệp) ganh đua với nhau để chiếm lĩnh thị trường,
giành lấy khách hàng cùng các điều kiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có lợi nhất
nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận”
* Cạnh tranh: Là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu
nhiều chi phối của quan hệ sản xuất giữ vị trí thống trị trong xã hội, nó có quan hệ
hữu cơ với các quy luật kinh tế khác như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ,
quy luật cung cầu…, đây là một đặc trưng gắn với bản chất của cạnh tranh Quy luật
cạnh tranh chỉ ra cách thức làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó nó
làm giảm giá cả thị trường, nó tạo ra sức ép làm gia tăng hiệu quả sử dụng các yếu
tố sản xuất, nó chỉ ra ai là người sản xuất kinh doanh thành công nhất[4]
1.1.1.2 Phân loại cạnh tranh[4,23]
* Căn cứ tính chất cạnh tranh trên thị trường có các loại sau:
- Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều
người bán và người mua, mỗi người bán chỉ cung ứng một lượng hàng rất nhỏ trong
tổng cung của thị trường Họ luôn luôn bán hết số hàng mà họ muốn bán với giá thị
trường Bất cứ doanh nghiệp nào gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cũng không
gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường Để tối đa hóa lợi nhuận họ chỉ còn có thể tìm
mọi cách để giảm chi phí sản xuất Trong thị trường này mọi thông tin đều đầy đủ
và không có hiện tượng cung cầu giả tạo Khi chi phí biên của doanh nghiệp giảm
xuống bằng với giá thị trường doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa
- Cạnh tranh không hoàn hảo: Là hình thức cạnh tranh mà mỗi doanh nghiệp đều
có sức mạnh thị trường (dù nhiều hay ít), họ có quyền quyết định giá bán của mình,
qua đó tác động đến giá cả thị trường
Nguyên nhân sự hình thành thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là do quá
trình phấn đấu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, cạnh tranh thúc đẩy quá trình
tích tụ và tập trung tư bản diễn ra không đều ở các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác
nhau Mặc dù vậy, cạnh tranh độc quyền lại có tác động tích cực thúc đẩy sản xuất,
nó làm lợi cho xã hội nhiều hơn là gây thiệt hại
Trang 15- Cạnh tranh độc quyền (cạnh tranh có tính độc quyền): Là thị trường có nhiều
người bán và nhiều người mua, sản phẩm của các doanh nghiệp có thể thay thế cho
nhau ở một mức độ nào đó Bằng các biện pháp như thay đổi mẫu mã, chất lượng,
kiểu dáng, quảng cáo thương hiệu, uy tín…các doanh nghiệp cố gắng khác biệt hóa
sản phẩm của mình để cạnh tranh và thu hút khách hàng Trong thị trường này, bên
cạnh các biện pháp khác biệt hóa sản phẩm, chiến lược giá cả và chính sách đối với
khách hàng là các vấn đề mỗi doanh nghiệp luôn quan tâm để đảm bảo khả năng
cạnh tranh
+ Độc quyền tập đoàn : Là trường hợp trên thị trường chỉ có một số hãng lớn
bán các sản phẩm đồng nhất hoặc không đồng nhất Họ kiểm soát gần như toàn bộ
lượng cung trên thị trường nên có sức mạnh thị trường khá lớn Các hãng trong tập
đoàn có tính phụ thuộc lẫn nhau nên quyết định giá và sản lượng của mỗi hãng đều
ảnh hưởng trực tiếp đến hãng khác trong tập đoàn và giá thị trường Vì vậy họ
thường cấu kết với nhau để thu lợi nhuận siêu ngạch
+ Độc quyền hoàn toàn : Là hình thái thị trường đối lập với cạnh tranh hoàn
hảo Chỉ có một người bán (hoặc mua) duy nhất trên thị trường, hàng hóa là độc
nhất và không có hàng thay thế gần gũi nên họ có sức mạnh thị trường rất lớn
Doanh nghiệp độc quyền luôn quyết định giá và sản lượng sao cho thu được lợi
nhuận siêu ngạch Nguyên nhân của độc quyền là do họ đạt được lợi thế kinh tế nhờ
quy mô (độc quyền tự nhiên), hoặc do cấu kết, thôn tính, kiểm soát được đầu vào…
Độc quyền luôn có những tác động xấu đến kinh tế xã hội như sản lượng bán thấp
(không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cho xã hội), giá quá cao và gây mất công
bằng xã hội ở một số nước có luật chống độc quyền nhằm đảm bảo các lợi ích kinh
tế xã hội
* Căn cứ chủ thể tham gia thị trường: Đây là sự cạnh tranh trong khâu lưu
thông hàng hóa nhằm tối đa hóa lợi ích cho những chủ thể tham gia
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua với đặc trưng nổi bật là người mua
luôn muốn mua rẻ và người bán luôn muốn bán đắt Hai lực lượng này hình thành
hai phía cung cầu trên thị trường.Kết quả sự cạnh tranh trên là hình thành giá cân
bằng của thị trường, đó là giá mà cả hai phía đều chấp nhận
Trang 16- Cạnh tranh giữa những người mua là sự cạnh tranh do ảnh hưởng của quy luật
cung cầu Khi lượng cung một hàng hóa quá thấp so với lượng cầu làm cho người
mua phải cạnh tranh nhau để mua được hàng hóa mà mình cần dẫn tới giá cả tăng
vọt Kết quả là người bán thu được lợi nhuận cao còn người mua phải mất thêm một
số tiền Sự cạnh tranh này làm cho người bán được lợi và người mua bị thiệt
- Cạnh tranh giữa những người bán là sự cạnh tranh nhằm tăng sản lượng bán
Do sản xuất ngày càng phát triển, thị trường mở cửa, lượng cung tăng nhanh trong
khi lượng cầu tăng chậm dẫn tới người bán (các doanh nghiệp) phải cạnh tranh khốc
liệt để giành thị trường và khách hàng Kết quả là giá cả không ngừng giảm xuống
và người mua được lợi Doanh nghiệp nào thắng trong cuộc cạnh tranh này mới có
thể tồn tại và phát triển
* Căn cứ cấp độ cạnh tranh: Đây là sự cạnh tranh diễn ra trong lĩnh vực sản
xuất
- Cạnh tranh giữa các sản phẩm là sự cạnh tranh về mẫu mã, kiểu dáng, chất
lượng, giá cả, phương thức bán hàng … Sản phẩm nào phù hợp nhất với yêu cầu
của khách hàng thì sản phẩm đó sẽ đảm bảo được khả năng tiêu thụ, kéo dài chu kỳ
sống của sản phẩm và tạo cơ hội thu thêm lợi nhuận cho DN
- Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành (cạnh tranh nội bộ ngành) là sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa nhằm thu lợi
nhuận siêu ngạch
Trong nền kinh tế thị trường, theo quy luật, doanh nghiệp nào có hao phí lao
động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thu lợi nhuận siêu ngạch
Các doanh nghiệp sẽ áp dụng các biện pháp như cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản
xuất, tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất nâng cao sức cạnh tranh cho
sản phẩm Doanh nghiệp nào có nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao sẽ cạnh tranh
thắng lợi trong ngành
Như vậy cạnh tranh nội bộ ngành làm giảm chi phí sản xuất và giá cả hàng
hóa, là động lực thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và tiến bộ kỹ thuật Không
có cạnh tranh nội bộ ngành thì ngành đó không thể phát triển và kinh tế sẽ bị trì trệ
Trang 17- Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất ở
các ngành khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi nhất Giữa các ngành kinh tế, do
điều kiện tự nhiên, kỹ thuật và một số nhân tố khách quan khác (như tâm lý, thị
hiếu, kỳ vọng, mức độ quan trọng,…) nên cùng với một lượng vốn, đầu tư vào
ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn ngành khác Nhà sản xuất ở
những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng di chuyển nguồn lực sang
những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao Ngược lại, những ngành có nhiều doanh
nghiệp rút lui sẽ có lượng cung nhỏ hơn lượng cầu Như vậy cạnh tranh giữa các
ngành dẫn tới sự cân bằng cung cầu sản phẩm trong mỗi ngành và bình quân hóa tỷ
suất lợi nhuận, đảm bảo sự bình đẳng cho việc đầu tư vốn giữa các ngành
- Cạnh tranh giữa các quốc gia: Là các hoạt động nhằm duy trì và cải thiện vị trí
của nền kinh tế quốc gia trên thị trường thế giới một cách lâu dài dể thu được lợi ích
ngày càng cao cho nền kinh tế quốc gia đó Tuy nhiên chủ thể trực tiếp tham gia
cạnh tranh là các doanh nghiệp Nên nếu quốc gia nào có nhiều doanh nghiệp có
năng lực cạnh tranh cao thì quốc gia đó cũng có năng lực cạnh tranh tốt hơn
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh [4]
Từ thế kỷ 18, Adam Smith, nhà kinh tế học cổ điển vĩ đại của Anh đã chỉ ra vai
trò quan trọng của cạnh tranh tự do trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc”
(1776) Ông cho rằng sức ép cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công
việc của mình một cách chính xác và do đó nó tạo ra sự cố gắng lớn nhất Kết quả
của sự cố gắng đó là lòng hăng say lao động, sự phân phối các yếu tố sản xuất một
cách hợp lý và tăng của cải cho xã hội Cho tới nay, cạnh tranh được coi là phương
thức hoạt động để tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, không có cạnh tranh
thì không thể có sự tăng trưởng kinh tế Vai trò của cạnh tranh được thể hiện ở hai
mặt tích cực và hạn chế sau:
*Mặt tích cực:
- Đối với nền kinh tế: Cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy quá trình
lưu thông các yếu tố sản xuất Thông qua cạnh tranh, các nguồn tài nguyên được
Trang 18phân phối hợp lý hơn dẫn đến sự điều chỉnh kết cấu ngành, cơ cấu lao động được
thực hiện mau chóng và tối ưu
Cạnh tranh là đòn bẩy mạnh mẽ nhất đẩy nhanh quá trình luân chuyển vốn,
luân chuyển các yếu tố sản xuất, phân phối lại tài nguyên, tập trung sản xuất, tích
luỹ TB
Đồng thời cạnh tranh còn là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận giữa các
ngành và trong nền kinh tế do chịu ảnh hưởng của quy luật bình quân hoá lợi
nhuận
- Đối với chủ thể kinh doanh: Do động lực tối đa hoá lợi nhuận và áp lực phá
sản nếu dừng lại, cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải không ngừng tăng
cường thực lực của mình bằng các biện pháp đầu tư mở rộng sản xuất, thường
xuyên sáng tạo cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng chất
lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất Qua đó cạnh tranh nâng cao trình độ mọi
mặt của người lao động, nhất là đội ngũ quản trị kinh doanh, đồng thời sàng lọc
và đào thải những chủ thể kinh tế không thích nghi được với sự khắc nghiệt của thị
trường
- Đối với người tiêu dùng: Cạnh tranh cho thấy những hàng hoá nào phù hợp
nhất với yêu cầu và khả năng thanh toán của người tiêu dùng bởi cạnh tranh làm
cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, lượng hàng hoá trên thị trường ngày càng
tăng, chất lượng tốt, hàng hoá đa dạng, phong phú
Như vậy, cùng với tác động của các quy luật kinh tế khách quan khác, cạnh
tranh đã giúp các doanh nghiệp trả lời các câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai
và sản xuất như thế nào một cách thoả đáng nhất Vận dụng quy luật cạnh tranh,
Nhà Nước và doanh nghiệp có điều kiện hoạch định các chiến lược phát triển một
cách khoa học mà vẫn đảm bảo tính thực tiễn, chủ động hơn trong đối phó với biến
động thị trường
*Về hạn chế:
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, cạnh tranh cũng có một số hạn chế Do
chạy theo lợi nhuận nên cạnh tranh có tác dụng không hoàn hảo, vừa là động lực
Trang 19tăng trưởng kinh tế vừa bao hàm sức mạnh tàn phá mù quáng Sự đào thải không
khoan nhượng những doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả của cạnh tranh
mặc dù phù hợp quy luật kinh tế khách quan nhưng lại gây ra những hậu quả kinh tế
xã hội như thất nghiệp gia tăng, mất ổn định xã hội
Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà các chủ thể sử dụng mọi biện pháp trong đó
có cả những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành chiến thắng trên thương
trường như gian lận, quảng cáo lừa gạt khách hàng, tình trạng cá lớn nuốt cá bé,
lũng đoạn thị trường Cuối cùng cạnh tranh có xu hướng dẫn đến độc quyền làm cho
nền kinh tế phát triển theo chiều hướng không tốt
Tuy nhiên do cạnh tranh đã, đang và sẽ luôn là phương thức hoạt động của kinh
tế thị trường nên chúng ta cần nhận thức được các vai trò tích cực và hạn chế của
cạnh tranh để vận dụng quy luật này sao cho hiệu quả nhất
1.1.3 Khái niệm năng lực cạnh tranh [23]
- Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” dù được sử dụng rất rộng rãi nhưng vẫn chưa
có một khái niệm rõ ràng cũng như chưa được lượng hóa một cách chính xác Do
đó, cách thức đo lường năng lực cạnh tranh cả ở cấp quốc gia lẫn cấp ngành /
Doanh nghiệp vẫn chưa được xác định nghiêm ngặt và phổ biến
- Theo lý thuyết thương mại truyền thống thì năng lực cạnh tranh của ngành/
doanh nghiệp được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất
Hiệu quả của các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên
mức chi phí thấp Chi phí sản xuất thấp không chỉ là điều kiện cơ bản của lợi thế
cạnh tranh mà còn đóng góp tích cực cho nền kinh tế
- Còn theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren [26] thì
năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị
trường trong và ngoài nước Các chỉ số đánh giá là năng suất lao động, tổng năng
suất các yếu tố sản xuất, công nghệ, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng
và tính khác biệt của sản phẩm
- Lý thuyết tổ chức công nghiệp xem xét năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp/ngành dựa trên khả năng sản xuất ra sản phẩm ở một mức giá ngang bằng
Trang 20hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không có trợ cấp, đảm bảo cho ngành/ DN đứng
vững trước các đối thủ khác hay sản phẩm thay thế [27]
- Còn theo quan điểm quản trị chiến lược của M Porter thì cho rằng chiến lược
cạnh tranh liên quan tới việc xác định vị trí của doanh nghiệp để phát huy các năng
lực độc đáo của mình trước các lực lượng cạnh tranh: đối thủ tiềm năng, đối thủ
hiện tại, sản phẩm thay thế, nhà cung cấp và khách hàng [25]
- Từ các quan điểm trên, năng lực cạnh tranh có thể được đúc kết là khả năng
chống chọi và tác động đến các lực lượng cạnh tranh bằng các biện pháp như sáng
tạo ra sản phẩm độc đáo, giá rẻ nhằm xác lập vị thế trên thị trường và đạt lợi
nhuận cao
1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp xây dựng
1.2.1 Khái niệm và phân loại năng lực cạnh tranh trong xây dựng CTGT
1.2.1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh trong xây dựng CTGT [ Tác giả tự tổng hợp]
Hiện nay mặc dù có rất nhiều tài liệu, sách báo cũng như các văn bản pháp
quy về quản lý đầu tư xây dựng đã thừa nhận sự cạnh tranh trong xây dựng nhưng
lại chưa có một khái niệm cụ thể về cạnh tranh xây dựng nói riêng Tuy nhiên có thể
hiểu cạnh tranh trong xây dựng như sau:
+) Hiểu theo nghĩa hẹp: Cạnh tranh trong xây dựng của các doanh nghiệp
xây dựng là quá trình các doanh nghiệp xây dựng đưa ra các giải pháp về kỹ thuật,
tài chính, tiến độ thi công và bỏ giá thầu thỏa mãn một cách tối ưu nhất với yêu cầu
của CĐT nhằm đảm bảo thắng thầu xây dựng công trình
Quan niệm này cho thấy sự cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng trong
xây dựng chính là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp nhằm mục đích chiến thắng
trong các cuộc đấu thầu Sự ganh đua này bằng các biện pháp khác nhau nhằm thỏa
mãn yêu cầu của chủ đầu tư về kỹ thuật, tiến độ, biện pháp thi công, tài chính, chất
lượng công trình cũng như các yêu cầu khác và giá bỏ thầu hợp lý nhất để chiến
thắng các nhà thầu khác trong đấu thầu Tuy nhiên khái niệm này chỉ bó hẹp cạnh
tranh trong một công trình nhất định mà chưa chỉ ra được sự cạnh tranh giữa các
Trang 21trình khác nhau và đối thủ cạnh tranh ở mỗi cuộc đấu thầu có thể khác nhau Việc
xác định nhiều chiến lược cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn Do
vậy ta có thể hiểu cạnh tranh theo một nghĩa rộng hơn
+) Hiểu theo nghĩa rộng:Cạnh tranh trong xây dựng là sự đấu tranh gay gắt
và quyết liệt giữa các doanh nghiệp xây dựng kể từ khi bắt đầu tìm kiếm thông tin,
đưa ra các giải pháp tham gia đấu thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng cho tới khi
hoàn thành công trình bàn giao theo yêu cầu của chủ đầu tư Như vậy cạnh tranh
trong xây dựng là một quá trình diễn ra liên tục không ngừng mục đích của cạnh
tranh và kết quả của cạnh tranh là thắng thầu, được chọn thi công công trình Các
doanh nghiệp luôn tìm kiếm thông tin về các chủ đầu tư, về các nhà thầu khác, về
tình hình tài chính, giá cả, về tình hình phát triển khoa học công nghệ để đưa ra các
chiến lược cạnh tranh
Khi nói đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là nói đến nội lực ( bên
trong) và người ta nghĩ ngay đến các năng lực về tài chính, kỹ thuật công nghệ,
marketing, tổ chức quản lý và đội ngũ lao động của doanh nghiệp Có nội lực là
điều kiện cần, còn điều kiện đủ là doanh nghiệp phải biết sử dụng, phát huy tất cả
các nội lực đó để phục vụ cho các cuộc cạnh tranh khác nhau tạo ra lợi thế hơn hẳn
so với các doanh nghiệp khác Như vậy, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là
toàn bộ năng lực và việc sử dụng các năng lực để tạo ra lợi thế của doanh nghiệp so
với đối thủ cạnh tranh khác nhằm thỏa mãn đến mức tối đa các đòi hỏi của thị
trường
Trong xây dựng khả năng cạnh tranh không chỉ là lợi thế về sản phẩm (chất
lượng, giá cả) mà còn có các lợi thế về nguồn lực để đảm bảo sản xuất ra sản phẩm
đó (tài chính, công nghệ, nhân lực) Để tồn tại và phát triển bền vững phải không
ngừng nâng cao nội lực của doanh nghiệp nhằm tạo ra ưu thế về mọi mặt như chất
lượng công trình, tiến độ, biện pháp thi công, giá cả… so với đối thủ Trước yêu cầu
ngày càng cao và đa dạng của khách hàng, nếu doanh nghiệp không vươn lên đáp
ứng được thì sự thất bại trong cạnh tranh là điều khó tránh khỏi Cạnh tranh trong
đấu thầu là việc các doanh nghiệp sử dụng toàn bộ năng lực có thể và cần phải huy
Trang 22động của mình để giành lấy phần thắng, phần hơn cho doanh nghiệp trước các đối
thủ cùng dự thầu
1.2.1.2 Phân loại cạnh tranh trong xây dựng CTGT [11]
Khác với các ngành thông thường khác, các doanh nghiệp xây dựng trực tiếp
gặp gỡ và cạnh tranh với nhau khi cùng tham gia đấu thầu xây lắp một công trình
Sự cạnh tranh này là do chủ đầu tư tổ chức, và cũng chính chủ đầu tư sẽ quyết định
ai thắng, ai bại trong cuộc cạnh tranh đó Vì vậy, tham gia đấu thầu là một hình thức
cạnh tranh đặc thù của các doanh nghiệp xây dựng trong điều kiện hiện nay Có ba
loại canh tranh chủ yếu:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Người mua (chủ đầu tư – bên
mời thầu) với người bán (doanh nghiệp xây dựng – nhà thầu) với những mục tiêu
khác nhau, tạo ra sự sôi động của thị trường xây dựng Mục tiêu của chủ đầu tư là
các công trình có chất lượng cao, thời gian xây dựng ngắn và chi phí xây dựng (giá
cả) hợp lý Còn mục tiêu của doanh nghiệp xây dựng nhận thầu là đảm bảo hoạt
động sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất và càng ít rủi ro càng tốt
- Cạnh tranh giữa người mua với nhau: sự cạnh tranh này chỉ xảy ra khi có
nhiều chủ đầu tư có công trình cần xây dựng nhưng chỉ có một doanh nghiệp xây
dựng hoặc một ít tổ chức xây dựng tham gia tranh thầu có khả năng công nghệ độc
quyền để xây dựng các công trình ấy Trường hợp này ít xảy ra trong nền kinh tế thị
trường nhất là trong đấu thầu
- Cạnh tranh giữa người bán với nhau (cạnh tranh giữa các đơn vị xây dựng
với nhau) đây là cuộc cạnh tranh khốc liệt và gay go nhất của cạnh tranh trong nền
kinh tế thị trường
1.2.2 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản xuất xây dựng CTGT ảnh hưởng tới
năng lực cạnh tranh của DN
Sản xuất xây dựng chỉ được tiến hành khi có đơn đặt hàng của người
mua sản phẩm (chủ đầu tư công trình): Doanh nghiệp xây dựng giao thông không
thể sản xuất nếu chưa có người đặt hàng Sau khi sản phẩm hoàn thành thì không
cần thiết phải tìm thị trường để bán sản phẩm Sản phẩm xây dựng được bán trước
Trang 23khi sản xuất và thường theo giá định trước nên đơn vị xây dựng không thể nhận
được tiền lãi lớn hơn dự kiến do sự tác động của các yếu tố cung cầu mà giá bán có
thể tăng lên Song người sản xuất kinh doanh luôn lấy lợi nhuận làm mục tiêu của
mình, tức là sản xuất phải có lãi, lãi để tồn tại và phát triển Vì vậy, doanh nghiệp
xây dựng giao thông muốn có lãi chỉ còn cách duy nhất là sản xuất sản phẩm xây
dựng với chất lượng tốt, giá thành hạ, trên cơ sở hợp lý hoá quá trình sản xuất, tiết
kiệm chi phí sản xuất
Quá trình sản xuất luôn di động, hệ số biến động lớn: Do sản phẩm gắn
liền với nơi tiêu thụ, nên địa điểm sản xuất không ổn định, thậm trí trải dài theo
tuyến dẫn đến việc phải di chuyển lực lượng lao động và các phương tiện vật chất từ
công trình này đến công trình khác và nhiều khi trong cùng một công trình sự di
chuyển cũng diễn ra liên tục Các phương án tổ chức thi công công trình ở các địa
điểm khác nhau luôn phải thay đổi theo điều kiện cụ thể của nơi xây dựng và theo
giai đoạn xây dựng Đặc điểm này làm khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất, việc
bố trí của công trình tạm phục vụ thi công, việc phối hợp các phương tiện xe-máy,
thiết bị nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Đặc điểm này đòi hỏi phải luôn chú ý tăng
cường tính cơ động trong doanh nghiệp về mặt trang bị tài sản cố định, lựa chọn
loại hình tổ chức quản lý và chỉ đạo thực hiện kế hoạch tác nghiệp, lựa chọn địa
điểm kho trung chuyển hợp lý khi thi công nhiều công trình
Thời gian xây dựng công trình kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản
xuất trong khối lượng thi công dở dang, làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp Để hạn chế, công tác tổ chức quản lý sản xuất của doanh nghiệp phải
chặt chẽ, hợp lý, phải luôn tìm cách lựa chọn trình tự thi công hợp lý cho từng công
trình và phối hợp thi công nhiều công trình để đảm bảo có khối lượng công tác gối
đầu hợp lý Tổ chức thi công dứt điểm từng hạng mục công trình để công trình sớm
nghiệm thu thanh toán với chủ đầu tư, giảm ứ đọng vốn
Sản xuất tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng điều kiện thiên nhiên đến
các hoạt động của công nhân và quá trình thực hiện công tác xây lắp Đặc điểm này
làm cho các doanh nghiệp xây dựng giao thông không thể lường hết được các khó khăn
phát sinh ra bởi điều kiện khí hậu thời tiết, môi trường tự nhiên Từ đó đưa đến hiệu
Trang 24quả lao động giảm xuống, một số giai đoạn của quá trình sản xuất bị gián đoạn, ảnh
hưởng đến tiến độ thi công công trình và giá thành công tác xây lắp Vì vậy, đòi hỏi các
doanh nghiệp xây dựng giao thông phải tìm biện pháp thi công hợp lý, phối hợp các
công việc thi công trong nhà và ngoài trời nhằm khắc phục những ảnh hưởng của thời
tiết khí hậu; kịp thời điều chỉnh tiến độ thi công bằng các phương pháp kỹ thuật hiện
đại, cải thiện điều kiện làm việc ngoài trời cho người lao động, hạn chế tới mức thấp
nhất những lãng phí về lao động, nguyên vật liệu do thời tiết gây ra
Kỹ thuật thi công phức tạp, trang bị kỹ thuật tốn kém: Vấn đề trang bị kỹ
thuật của sản xuất xây dựng giao thông nhiều khi đòi hỏi những máy móc kỹ thuật
phức tạp, hiện đại, đắt tiền Trong những trường hợp như vậy doanh nghiệp có thể lựa
chọn một trong hai phương án sau: một là doanh nghiệp bỏ ra một số vốn lớn để đầu tư
mua sắm máy móc thiết bị thi công, hai là đi thuê của đơn vị khác về sử dụng Doanh
nghiệp cần phải có sự tính toán cụ thể và so sánh lựa chọn phương án để đảm bảo máy
móc thiết bị phục vụ sản xuất kịp thời, đầy đủ Mặt khác phải đảm bảo hiệu quả sản
xuất kinh doanh
Công tác tổ chức quá trình sản xuất rất phức tạp : Quá trình thi công xây
dựng thường có nhiều đơn vị cùng tham gia thực hiện theo một trình tự nhất định về
thời gian và không gian trên một mặt bằng thi công chật hẹp Điều này đòi hỏi các
doanh nghiệp xây dựng phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất nhằm
bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình và giảm thiểu lãng phí, thất thoát
1.2.3 Đặc điểm tổ chức quản lý công ty CP ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của DN
Công ty cổ phần là một doanh nghiệp Trong đó, các thành viên cùng góp
vốn, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi
phần vốn góp của mình
Những đặc điểm cơ bản của công ty cổ phần:
- Về tài sản (vốn) trong các công ty cổ phần được hình thành từ những
nguồn mang đặc điểm riêng biệt, bao gồm:
Trang 25+ Vốn điều lệ: vốn điều lệ trong các công ty cổ phần được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phiếu Cổ đông dùng tiền hoặc tài sản của mình để góp
vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phiếu Vốn góp cổ phần không phải là một
khoản nợ của công ty Công ty được toàn quyền sử dụng vốn góp này Vốn góp cổ
phần của các cổ đông là căn cứ để công ty chia lợi nhuận cho mỗi cổ đông
Để đảm bảo cho sự hoạt động của công ty, các cổ đông của công ty cổ phần
có trách nhiệm góp vốn vào công ty nhưng không được quyền rút vốn khỏi công ty
trong thời gian công ty đang hoạt động Tuy nhiên các cổ đông có quyền bán lại cổ
phiếu của mình cho người khác Mọi hoạt động chuyển nhượng cổ phần này diễn ra
tư cách là các giao dịch không ảnh hưởng đến vốn điều lệ và giao dịch của công ty
+ Vốn tự có: đây là phần vốn mà công ty tự tạo ra trong quá trình sản xuất
kinh doanh dưới hình thức lợi nhuận không chia hết cho các cổ đông mà giữ lại
trong công ty
+ Vốn vay: là số vốn của các đơn vị khác mà công ty được quyền sử dụng
trong một thời gian nhất định Sau đó, trả lại cho chủ nợ Công ty không có quyền
sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng, phải trả cho quyền sử dụng đó một khoản gọi là
lợi tức
- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp Trong trường hợp công ty không đủ
tài sản để thanh toán các khoản nợ cho khách hàng thì cổ đông không chịu trách
nhiệm về các khoản nợ này
- Cơ cấu lãnh đạo của công ty cổ phần theo nhiều cấp gồm đại hội đồng cổ
đông, hội đồng quản trị, ban giám đốc và ban kiểm soát:
Những lợi thế và hạn chế của công ty cổ phần:
Cũng như hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần là một trong
những hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh được ưa chuộng trên thế giới So với
các hình thức công ty hợp doanh, công ty tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn
thì hình thức công ty cổ phần có nhiều lợi thế hơn Những lợi thế cơ bản của hình
thức công ty cổ phần được thể hiện ở những điểm sau đây:
Trang 26- Giống như các thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn, các
cổ đông của công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào
công ty ưu điểm này làm cho hình thức công ty cổ phần rất hấp dẫn các nhà đầu tư
Bởi vì, việc đầu tư vào các công ty trách nhiệm hữu hạn như vậy sẽ ít rủi ro hơn là
đầu tư vào công ty trách nhiệm vô hạn
- Công ty cổ phần dễ huy động vốn trong công chúng bằng cách phát hành
cổ phiếu ra thị trường Đây là một hình thức huy động vốn mà các công try trách
nhiệm hữu hạn và công ty hợp doanh không được pháp luật nhà nước cho phép
Nhờ ưu điểm này, các công ty cổ phần ít bị hạn chế về vốn kinh doanh Do vậy,
công ty có thể thực hiện được các dự án kinh doanh đòi hỏi nhiều vốn đầu tư
- Cổ phiếu trong các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty lớn có tỷ suất
lợi nhuận cao có thể dễ dàng chuyển nhượng quyền sở hữu qua việc mua bán cổ
phiếu trên thị trường mà không cần thay đổi tổ chức công ty Cổ phiếu của các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thường có thể dễ dàng được chuyển đổi
thành tiền Sự dễ dàng chuyển đổi chủ sở hữu của các cổ phần này, cho phép các
công ty cổ phần tồn tại và phát triển lâu dài
- Một đặc điểm nổi bật của công ty cổ phần là sự tách biệt giữa chủ sở hữu
với những người điều hành công ty Do vậy, họ thường phải lựa chọn những người
có đủ năng lực và kinh nghiệm chuyên môn thay mình quản lý sản xuất kinh doanh
của công ty
Tuy nhiên, hình thức tổ chức công ty cổ phần cũng có những hạn chế nhất định,
biểu hiện ở một số mặt như sau:
- Chi phí cho việc thành lập và điều hành công ty thường tốn kém hơn so
với các loại hình tổ chức khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
doanh
- Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính trong các công ty cổ phần
thường bị hạn chế Điều đó là do hàng kỳ, hàng năm các công ty phải công khai và báo
cáo với các cổ đông (theo điều lệ công ty và nghị quyết của đại hội cổ đông) về tình
hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của công ty
Trang 27- Phần lớn các cổ đông thường không có kiến thức về kinh doanh và
không hiểu biết lẫn nhau (thường một năm mới đại hội một lần) Số lượng cổ đông
lớn cũng dễ dẫn đến sự phân hoá kiểm soát và tranh chấp quyền lợi giữa các nhóm
cổ đông
1.2.4 Các chỉ tiêu chính đánh giá năng lực cạnh tranh của DN xây dựng công
trình giao thông
1.2.4.1 Chỉ tiêu tỷ lệ thắng thầu trong dự thầu: [ Tác giả tự tổng hợp]
Ddt
Dtt T
Trong đó: T1: Là tỷ lệ trúng thầu theo số lần tham gia đấu thầu
Dtt: Là số dự án (số gói thầu) thắng thầu
Ddt: Là số dự án (số gói thầu) dự thầu
Gdt
Gtt T
Trong đó: T2: Là tỷ lệ trúng thầu theo giá trị (gói thầu)
Gtt: Là giá trị của dự án (gói thầu) trúng thầu
Gdt: Là giá trị của dự án (gói thầu) dự thầu
Các chỉ tiêu này được tính cho từng năm và để đánh giá phải xác định ít nhất là
trong 3 năm gần nhất Chỉ tiêu này thể hiện khái quát nhất tình hình dự thầu và kết
quả dự thầu của doanh nghiệp Qua đó, có thể đánh giá được hiệu quả, chất lượng
của việc dự thầu trong năm, quy mô và giá trị hợp đồng của các công trình trúng
thầu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ công tác đấu thầu của DN càng có hiệu quả và
ngược lại
1.2.4.2 Các chỉ tiêu tài chính đánh giá tổng quát hiệu quả SXKD của DN [ Tác
giả tự tổng hợp]
Khi phân tích đánh giá hiệu quả SXKD của doanh nghiệp nói chung hay của
một công ty cổ phần, để phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
của DN Người ta thường dùng các chỉ tiêu tổng quát sau: Hệ số tổng lợi nhuận ; Hệ
Trang 28số lợi nhuận hoạt động ; Hệ số lợi nhuận ròng ; Hệ số thu nhập trên tổng tài sản
ROA (Return on total Assets ratio) và Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần ROE
(Return on Equity ratio)
Các công thức tính các hệ số trên như sau:[25]
Hệ số tổng lợi nhuận:
Hệ số này cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào (vật tư, lao
động, máy thiết bị) trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp
Doanh thu – Giá vốn hàng bán
Hệ số tổng lợi nhuận =
Doanh thu
Nếu hệ số này thấp khi so sánh giữa các kỳ kinh doanh của doanh nghiệp hoặc
khi so sánh với các công ty khác trong cùng ngành thì công ty cần có giải pháp tốt
hơn trong việc kiểm soát các chi phí đầu vào
Hệ số lợi nhuận hoạt động :
Hệ số này cho biết việc sử dụng hợp lý các yếu tố sản xuất trong quá trình sản
xuất kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp
EBIT
Doanh thu
EBIT(Earning Before Interest and Taxes) là thu nhập trước lãi và thuế
Hệ số này là thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một công
ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Hệ số này cho biết
một đồng vốn bỏ ra có thể thu về bao nhiêu thu nhập trước thuế Hệ số lợi nhuận
hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay có nghĩa là doanh thu
tăng nhanh hơn chi phí hoạt động
Hệ số lợi nhuận ròng :
Hệ số này phản ánh khoản thu nhập ròng (thu nhập sau thuế) của một công ty so
với doanh thu của nó
Trang 29Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu
Trên thực tế mức lợi nhuận ròng giữa các ngành là khác nhau, còn trong bản
thân một ngành thì công ty nào quản lý và sử dụng các yếu tố đầu vào tốt hơn thì sẽ
có hệ số lợi nhuận ròng cao hơn
Hệ số thu nhập trên tổng tài sản ROA:
Hệ số này phản ánh mức thu nhập ròng của một công ty so với tài sản của nó
ROA được tính theo một trong hai các sau:
Lợi nhuận trước thuế
Tài sản của công ty thì được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu Cả hai
nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty Hiệu quả của
việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiệu qua ROA Chỉ tiêu ROA càng
cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn
Trong hai cách tính trên, ta thấy cách tính ROA theo EBIT - ROA(E) sẽ phản
ánh tốt hơn khi đánh giá về sức sinh lợi của tổng tài sản của công ty, bởi vì EBIT là
toàn bộ kết quả mà doanh nghiệp sử dụng toàn bộ tài sản của mình để tạo ra, không
phân biệt đối tượng được hưởng kết quả này là ai: chủ doanh nghiệp, ngân hàng cho
vay hay Nhà nước (thông qua thuế) Khi ROA(E) lớn hơn lãi suất đi vay của doanh
nghiệp, doanh nghiệp càng vay nhiều thì chủ sở hữu doanh nghiệp càng có lợi
Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần ROE:
Hệ số này phản ánh chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên vốn cổ CSH bình quân
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
Trang 30Chỉ tiêu này là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra tích luỹ
được bao nhiêu đồng lời Chỉ tiêu ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng
hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hoà
giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá
trình huy động vốn, mở rộng quy mô
Chú ý khi sử dụng các chỉ tiêu ROA và ROE là không thể phủ nhận tính
hữu ích của việc sử dụng các chỉ tiêu này để đánh giá tình hình sử dụng vốn của
doanh nghiệp, tuy nhiên các chỉ tiêu này cũng có hạn chế nhất định
- Đối với chỉ tiêu ROA, như ta đã biết, tổng tài sản bình quân được tính
toán dựa trên chỉ tiêu tổng tài sản trên bản cân đối kế toán của doanh nghiệp, số liệu
này được cấu thành từ khá nhiều bộ phận, trong đó có những bộ phận sẽ thay đổi
một cách nhanh chóng trong một vài ngày, nghĩa là vào ngày chốt sổ kế toán để tiến
hành lập báo cáo tài chính (chẳng hạn là 31/12/N) và ngay sau đó, tức là vào tháng
1/N+1, tổng tài sản của DN là khác nhau
- Đối với chỉ tiêu ROE, thì với các công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay
có sự biến động rất lớn do tăng vốn thông qua cổ phần hoá, phát hành thêm cổ phần
tăng vốn điều lệ nhằm giảm vốn vay ngân hàng hay để tiến hành đầu tư mở rộng…
Khi tốc độ tăng vốn chủ sở hữu tăng cao hơn tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế thì có
nghĩa là ROE sẽ sút giảm so với trước khi tăng vốn
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Doanh thu Hiệu suất sử dụng
tài sản cố định
=
TSCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng giá trị trung bình tài sản cố định sử dụng trong
kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ việc sử
dụng tài sản cố định càng hiệu quả
Hiệu suất sử dụng vốn cố định:
Doanh thu Hiệu suất sử dụng
Trang 31Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định bình quân trong kỳ được sử dụng
vào kinh doanh sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Hiệu suất sử dụng vốn cố
định càng cao khi chỉ tiêu này càng lớn
Hàm lượng vốn cố định:
VCĐ sử dụng bình quân trong kỳ Hàm lượng
vốn cố định
=
Doanh thu
Thực chất chỉ tiêu này là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng
vốn cố định nói trên, nó cho biết lượng vốn cố định cần thiết phải sử dụng để tạo ra
một đồng doanh thu, nên chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt
Hiệu quả sử dụng vốn cố định (hệ số sinh lời vốn cố định):
Lợi nhuận sau thuế Hiệu quả sử dụng
vốn cố định
=
VCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
Lợi nhuận ở đây là lợi nhuận được tạo ra từ sự tham gia trực tiếp của tài sản
cố định mà chủ yếu là thiêt bị, không tính các khoản lãi do các hoạt động sản xuất
khác như hoạt động tài chính, góp vốn liên doanh v.v đem lại
Chỉ tiêu này phản ánh số lợi nhuận được tạo ra khi bỏ một đồng vốn cố định
vào sản xuất kinh doanh Chỉ tiêu này càng cao càng tốt
1.2.4.3 Thương hiệu và thị phần của doanh nghiệp
*Thương hiệu : Trong quá trình phát triển sản xuất và lưu thông, các nhà sản
xuất hoặc cung ứng dịch vụ đã đặc định hàng hóa của mình bằng cách sử dụng
những dấu hiệu dưới hình thức nào đó để thể hiện Những dấu hiệu đó được gọi là
thương hiệu, được nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ sử dụng trong thương mại
nhằm ám chỉ sự liên quan giữa hàng hóa và dịch vụ với người có quyền sử dụng dấu
hiệu đó với tư cách là người chủ sở hữu hoặc đăng ký thương hiệu
Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketting Hoa Kỳ “thương hiệu là một cái tên,
một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng, một hình vẽ hoặc tổng hợp tất cả các yếu
tố trên nhằm xác định một sản phẩm hoặc dịch vụ của một (hoặc một nhóm người)
Trang 32và phân biệt sản phẩm dịch vụ đó với các đối thủ cạnh tranh” [3] Có thể nói thương
hiệu là hình thức thể hiện bên ngoài tạo ra ấn tượng, thể hiện cái bên trong cho sản
phẩm hoặc doanh nghiệp Thương hiệu tạo ra nhận thức và niềm tin của người tiêu
dùng đối với sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng Giá trị của một
thương hiệu là triển vọng lợi nhuận mà thương hiệu đó có thể đem lại cho nhà sản
xuất trong tương lai Nói cách khác thương hiệu là tài sản vô hình của doanh
nghiệp
Xây dựng thương hiệu là vấn đề đòi hỏi thời gian, khả năng tài chính và ý chí
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Một doanh nghiệp có năng
lực cạnh tranh cao cũng có nghĩa là họ đã xây dựng được thương hiệu mạnh, thương
hiệu đó luôn được khách hàng nhớ và nhận biết rõ ràng
Qua việc xây dựng thành công một thương hiệu người ta có thể đánh giá về
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đó vì:
- Thương hiệu làm cho khách hàng tin tưởng vào chất lượng, yên tâm và tự hào
khi sử dụng thương hiệu
- Thương hiệu tốt giúp tạo dựng hình ảnh công ty, thu hút khách hàng mới, vốn
đầu tư, thu hút nhân tài
- Thương hiệu tốt giúp phân phối sản phẩm dễ dàng hơn, tạo thuận lợi khi tìm thị
trường mới
- Uy tín cao của thương hiệu tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sản
phẩm, đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, giúp cho việc triển khai khuếch
trương sản phẩm dễ dàng hơn, đòng thời giảm chi phí tiếp thị, giúp doanh nghiệp có
điều kiện phòng thủ, chống lại sự cạnh tranh quyết liệt về giá
- Thương hiệu của người bán khi đã đăng ký bao hàm sự bảo hộ của pháp luật đối
với những tính chất độc đáo của sản phẩm trước sản phẩm bị đối thủ bắt chước
* Thị phần : Cùng với thương hiệu, thị phần cũng là một chỉ tiêu đánh giá
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Thị phần của doanh nghiệp là tỷ trọng giữa
số hàng hóa của doanh nghiệp so với tổng số hàng hóa được bán trên thị trường
Trang 33với tổng doanh thu sản phẩm đó trên thị trường Thị phần tương đối là tỷ lệ so sánh
giữa doanh thu của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất Nó cho biết vị
thế của doanh nghiệp trên thị trường Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao sẽ
chiếm được thị phần tương ứng với năng lực cạnh tranh đó và có nhiều khả năng
tăng thị phần Thị phần là một loại tài sản vô hình của doanh nghiệp, để giành và
giữ vững được thị phần đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự nỗ lực không ngừng trong
việc sản xuất các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường, làn tốt công tác
marketting và đảm bảo chất lượng sản phẩm như đã hứa
Sau đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của DN bằng hai chỉ số sau :
Tổng giá trị xây lắp của DN Thị phần
Tổng doanh thu toàn ngành
Nguồn : [‘‘Bài giảng Marketing’’TS : Ngô Trần ánh]
Thị phần tương đối: Được xác định trên cơ sở sự so sánh phần thị trường tuyệt đối
của doanh nghiệp với phần thị trường tuyệt đối của một số đối
*Uy tín của doanh nghiệp: Chỉ tiêu này liên quan đến tất cả các chỉ tiêu trên và
các yếu tố khác như: Chất lượng công trình, tổ chức doanh nghiệp, tổ chức các dự
án thi công, markesting, và trong giai đoạn này thì hiệu quả của hoạt động SXKD là
quan trọng nhất
1.3 Các nhân tố chính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của DN xây dựng
công trình giao thông [ Tác giả tự tổng hợp]
Năng lực cạnh tranh mà doanh nghiệp có được là do sự phấn đấu bền bỉ và lâu
dài của doanh nghiệp Nó là kết quả của rất nhiều hoạt động thực hiện theo chiến
lược cạnh tranh đã đề ra và phụ thuộc vào nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp
Trang 341.3.1 Các nhân tố chính bên trong bao gồm:
1.3.1.1 Nhân tố Tài chính [ Tác giả tự tổng hợp, dự kiến]
Nguồn lực tài chính là vấn đề không thể không nhắc đến bởi nó có vai trò quyết
định đến hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp Trước hết, nguồn lực tài chính
được thể hiện ở quy mô vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn phục vụ sản
xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó Quy mô vốn tự có phụ
thuộc quá trình tích luỹ của doanh nghiệp
Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, lợi nhuận hàng năm cao, phần lợi
nhuận để lại tái đầu tư cho sản xuất kinh doanh sẽ lớn và quy mô vốn tự có sẽ tăng
Doanh nghiệp có quy mô vốn tự có lớn cho thấy khả năng tự chủ về tài chính và
chiếm được lòng tin của nhà cung cấp, chủ đầu tư và khách hàng
Để đáp ứng các yêu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể
huy động vốn từ rất nhiều nguồn, chiếm dụng tạm thời của các nhà cung cấp, hoặc
khách hàng, vay các tổ chức tài chính hoặc huy động vốn trên thị trường chứng
khoán Khả năng huy động vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào mối quan hệ của
doanh nghiệp với các bên cung ứng vốn và sự phát triển của thị trường tài chính
Nếu thị trường tài chính phát triển mạnh, tạo được nhiều kênh huy động với những
công cụ phong phú sẽ mở ra nhiều cơ hội đầu tư phát triển cho doanh nghiệp
Mặt khác để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp vấn đề chính cần
xem xét kết cấu vốn cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp Kết cấu vốn hợp lý
sẽ có tác dụng đòn bẩy góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Có những doanh nghiệp có quy mô vốn lớn nhưng không mạnh, đó là do kết
cấu tài sản và nguồn vốn không phù hợp với quy mô và đặc điểm sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp đó chưa biết cách khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực
tài chính của mình
Trang 35Ngược lại, có những doanh nghiệp có quy mô vốn không lớn nhưng vẫn
được coi là mạnh vì doanh nghiệp đó đã duy trì được tình trạng tài chính tốt, biết
cách huy động những nguồn tài chính thích hợp để sản xuất những sản phẩm đáp
ứng các nhu cầu của thị trường mục tiêu
1.3.1.2 Nhân tố máy móc, thiết bị và công nghệ [ Tác giả tự tổng hợp, dự kiến]
Máy móc thiết bị là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố định, nó
là những cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu quyết định năng lực sản xuất của doanh
nghiệp, là nhân tố đảm bảo năng lực cạnh tranh Nếu máy móc thiết bị và trình độ
công nghệ thấp kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phẩm,
làm tăng các chi phí sản xuất Sản phẩm của doanhnghiệp sẽ không đạt các yêu cầu về
tiêu chuẩn hoá và thống nhất hóa sẽ rất khó tham gia vào thị trường khu vực và trong
nước
Để đánh giá về năng lực máy, móc thiết bị và công nghệ dựa vào các đặc tính sau:
-Tính hiện đại của thiết bị công nghệ: Biểu hiện ở các thông số như hãng sản
xuất, năm sản xuất, công suất thiết kế, giá trị còn lại của thiết bị
-Tính đồng bộ: Thiết bị đồng bộ là điều kiện đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bị,
công nghệ với phương pháp sản xuất, với chất lượng và độ phức tạp của sản phẩm
do công nghệ đó sản xuất ra
-Tính hiệu quả: Thể hiện trình độ sử dụng máy móc thiết bị sẵn có để phục vụ
mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp
-Tính đổi mới: Hoạt động sản xuất kinh doanh luôn có nhiều biến động, máy
móc thiết bị phải thích ứng được với yêu cầu sản xuất kinh doanh của từng giai
đoạn, từng phương án sản xuất kinh doanh, nếu máy móc thiết bị không thể sử dụng
linh hoạt và chậm đổi mới thì sẽ không đảm bảo năng lực cạnh tranh cho DN
Cùng với máy móc thiết bị, công nghệ là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo M Porter mỗi doanh nghiệp phải làm chủ
hoặc ít ra là có khả năng tiếp thu các công nghệ có ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng sản phẩm Không đơn giản là việc có được công nghệ mà điều quan trọng
Trang 36hơn là khả năng áp dụng công nghệ, đó mới là nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh Để
áp dụng được công nghệ, các DN phải kết hợp nhiều yếu tố khác nữa Người đi đầu
vào thị trường công nghệ mới chưa chắc là người chiến thắng Người chiến thắng là
người biết làm thế nào để công nghệ đó áp dụng rộng rãi trong DN[4]
Có thể khẳng định một doanh nghiệp với hệ thống máy móc thiết bị và công
nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý tốt sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng cao,
giá thành hạ và đảm bảo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp
1.3.1.3 Nhân tố nguồn nhân lực [ Tác giả tự tổng hợp, dự kiến]
Nhân tố con người là vô cùng quan trọng đối với hoạt động của mỗi doanh
nghiệp, để quản lý tốt các hoạt động sản xuất kinh doanh trước hết phải làm tốt
công tác về quản lý nguồn nhân lực Nguồn nhân lực không đảm bảo về số lượng và
chất lượng là nguyên nhân giảm sút năng suất và chất lượng sản phẩm Làm tốt
công tác quản lý nguồn nhân lực là con đường dẫn tới thành công của các doanh
nghiệp bởi quản lý nguồn nhân lực giúp doanh nghịêp khai thác được mọi tiềm
năng của người lao động đóng góp vào sự phát triển
Nguồn nhân lực của doanh nghiệp cần đáp ứng được các yêu cầu về chuyên
môn, nghiệp vụ, trình độ đối với từng vị trí làm việc Yêu cầu đối với giám đốc và
quản trị viên các cấp không chỉ cần trình độ về nghiệp vụ mà còn phải có khả năng
sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, sự nhanh nhẹn, linh hoạt trong thu thập và xử lý
thông tin, sáng suốt dự báo và đối phó với các biến động của thương trường
Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
- Ban giám đốc doanh nghiệp: Là những người vạch ra các chiến lược kinh
doanh, trực tiếp điều hành và tổ chức sản xuất kinh doanh, quyết định sự thành công
hay thất bại của một doanh nghiệp
Những thành viên của ban giám đốc cần có kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ
và hiểu biết về các hoạt động của doanh nghiệp, biết cách động viên sức mạnh tập
thể vì sự nghiệp chung
Trang 37- Cán bộ quản trị cấp trung gian và cấp cơ sở: Là những người trực tiếp điều
hành và thực hiện các kế hoạch, phương án kinh doanh do ban giám đốc đề ra
Họ góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp Họ cần thành
thạo chuyên môn và có kinh nghiệm quản lý, năng động, có khả năng ra quyết định
và tham mưu cho ban giám đốc
- Đội ngũ công nhân: Để đứng vững trên thị trường không chỉ cần cán bộ lãnh
đạo giỏi mà còn cần có đội ngũ công nhân lành nghề, trung thực và sáng tạo Họ là
những người trực tiếp tạo nên chất lượng sản phẩm, lòng hăng say nhiệt tình làm
việc của họ là yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp [4]
1.3.1.4 Nhân tố liên doanh liên kết của doanh nghiệp.[Tác giả tự tổng hợp,dự kiến]
Liên doanh liên kết là sự kết hợp hai hay nhiều pháp nhân kinh tế để tạo ra một
pháp nhân mới có sức mạnh tổng hợp về kinh nghiệm và khả năng tài chính Đây là
một trong những yếu tố đánh giá năng lực của doanh nghiệp Nhất là đối với những
doanh nghiệp thường tham gia các dự án với quy mô lớn, những yêu cầu đôi khi
vượt năng lực một doanh nghiệp đơn lẻ trong cạnh tranh Để tăng năng lực cạnh
tranh trên thị trường vấn đề mở rộng các quan hệ liên doanh liên kết dưới nhiều
hình thức thích hợp là giải pháp quan trọng và thích hợp Qua đó doanh nghiệp có
thể đáp ứng một cách toàn diện những yêu cầu của dự án có quy mô lớn và độ phức
tạp cao
Liên doanh liên kết có thể thực hiện theo chiều ngang, tức là doanh nghiệp sẽ
liên kết với các doanh nghiệp cùng ngành để đảm nhận các dự án lớn mà trong điều
kiện độc lập DN không đủ điều kiện tham gia dự án Liên kết theo chiều dọc là hình
thức liên kết với các doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu hoặc trang thiết bị nhờ
đó có thể giảm giá thành sản phẩm Dù liên doanh liên kết dưới hình thứ nào cũng
đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi
1.3.2 Các nhân tố bên ngoài bao gồm:
Các nhân tố bên ngoài có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động cạnh
tranh của doanh nghiệp là khách hàng (người mua), nhà cung cấp, đối thủ cạnh
tranh, môi trường vĩ mô
Trang 381.3.2.1 Nhân tố khách hàng
Thị trường hay nói chính xác là khách hàng là nơi bắt đầu và cũng là nơi kết
thúc quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Căn cứ vào nhu cầu của khách hàng,
doanh nghiệp đưa ra các quyết định sản xuất và khi quá trình sản xuất kết thúc, sản
phẩm của doanh nghiệp lại được đưa ra thị trường để đáp ứng các nhu cầu đó
Bên cạnh đó, khả năng thanh toán của khách hàng sẽ quyết định sức mua hàng
hoá của doanh nghiệp Nếu khách hàng có khả năng thanh toán cao, đó là một thị
trường có nhiều tiềm năng, doanh nghiệp có thể tăng cường cải tiến mẫu mã, tăng
chất lượng sản phẩm đẩy mạnh xúc tiến bán hàng để mở rộng thị trường Để lựa
chọn phương án sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải căn cứ vào nhu cầu và
sức mua của thị trường Đặc tính của nhu cầu có vai trò quyết định hình thành đặc
tính của sản phẩm và tạo ra những áp lực để nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị sử
dụng và phát triển sản phẩm mới
Khách hàng hoặc người mua của mỗi doanh nghiệp có thể là người tiêu dùng
(nếu sản xuất hàng tiêu dùng), có thể là các doanh nghiệp, tổ chức (nếu sản xuất
nguyên vật liệu, máy móc thiết bị…), có thể là các chủ đầu tư (nếu doanh nghiệp
nhận thầu các dự án, công trình…)
Mặc dù đối tượng có thể khác nhau song người mua nói chung có xu hướng
muốn tối hóa lợi ích của mình với chi phí thấp nhất nên họ luôn tìm mọi cách gây
áp lực để doanh nghiệp giảm giá hàng hóa, mặc cả để có chất lượng tốt hơn và được
phục vụ nhiều hơn Cơ sở để đưa ra quyết định mua bán là bình đẳng, đôi bên đều
có lợi nhưng do sức ép cạnh tranh doanh nghiệp luôn phải đối mặt với những đòi
hỏi của khách hàng Để phòng thủ trước những sức ép đó, việc phải xem xét lựa
chọn nhóm khách hàng mục tiêu là một quyết định rất quan trọng đảm bảo sự tồn tại
của doanh nghiệp
Hơn nữa không chỉ đơn giản là đáp ứng tốt mọi nhu cầu khi khách hàng cần
Doanh nghiệp cần xây dựng được mối quan hệ bền vững với khách hàng, nhất là
xây dựng quan hệ bạn hàng tin cậy với những khách hàng lớn, có nhu cầu sử dụng
sản phẩm của doanh nghiệp một cách ổn định và lâu dài
Trang 39Việc doanh nghiệp sử dụng linh hoạt các chính sách ưu đãi về giá cả, thời
gian giao hàng, phương tiện vận chuyển, khuyến mại, với những khách hàng lớn,
khách hàng truyền thống rất có sức hấp dẫn và củng cố sự tin cậy lẫn nhau Nhờ vậy
duy trì được thị phần hiện có và tăng khả năng mở rộng thị phần cho doanh nghiệp
Giữ được khách hàng là một yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của mỗi doanh
nghiệp
1.3.2.2 Nhân tố nhà cung cấp
Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp không thể thiếu được các
yếu tố đầu vào, đó là vật tư, máy móc thiết bị, vốn,…Vai trò của nhà cung cấp đối
với doanh nghiệp thể hiện ở áp lực về giá các yếu tố đầu vào Giữa nhà cung cấp và
doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời
gian giao hàng Nhà cung cấp có nhiều cách để tác động đến khả năng thu lợi nhuận
của các doanh nghiệp như nâng giá, giảm chất lượng vật tư kỹ thuật mà họ cung
ứng, không đảm bảo tiến độ giao hàng theo yêu cầu, gây ra sự khan hiếm giả tạo
Nếu trên thị trường có nhiều nhà cung cấp thì doanh nghiệp có thể lựa chọn nhà
cung cấp, điều đó tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường yếu tố đầu vào, có tác dụng
làm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp Thế mạnh của nhà cung cấp tăng lên
nếu số lượng nhà cung cấp ít, không có hàng thay thế, doanh nghiệp không phải là
khách hàng quan trọng của nhà cung cấp hoặc loại vật tư được cung ứng là yếu tố
đầu vào quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm hoặc hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp Do đó, nhà cung cấp nói chung có ảnh hưởng không nhỏ
đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.2.3 Các đối thủ cạnh tranh [ Tác giả tự tổng hợp, dự kiến]
Đối thủ cạnh tranh là nhân tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến doanh nghiệp
Trong một ngành nào đó mà tồn tại một hoặc một số doanh nghiệp thống lĩnh thì
cường độ cạnh tranh ít hơn và doanh nghiệp thống lĩnh đóng vai trò chỉ đạo giá
Trong trường hợp này nếu doanh nghiệp không ở vị trí thống lĩnh thì sức cạnh tranh
là rất kém Nhưng nếu tồn tại nhiều doanh nghiệp có thế lực và quy mô tương
đương nhau thì cạnh tranh trong ngành sẽ rất gay gắt Cần phải coi trọng lợi thế so
Trang 40sánh của mình và biến nó thành lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp nào có nhiều lợi
thế cạnh tranh thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao hơn
Trong thị trường tự do cạnh tranh, gần như không có rào cản gia nhập thị
trường, luôn có các đối thủ tiềm ẩn, sẵn sàng tham gia thị trường bất cứ lúc nào Sự
xuất hiện của đối thủ mới có thể gây ra những cú sốc mạnh cho các doanh nghiệp
hiện tại vì thông thường những người đi sau thường có nhiều căn cứ cho việc ra
quyết định hơn và các chiêu bài của họ thường có tính bất ngờ
Để chống lại các đối thủ tiềm ẩn, doanh nghiệp phải thường xuyên củng cố năng
lực cạnh tranh của mình bằng cách không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm, bổ
sung những đặc tính mới ưu việt hơn cho sản phẩm, luôn phấn đấu giảm chi phí để
sẵn sàng tham gia các cuộc cạnh tranh về giá
1.3.2.4 Nhân tố môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô của mỗi doanh nghiệp bao gồm ba yếu tố: thực trạng nền kinh
tế xã hội, hệ thống pháp luật và bối cảnh chính trị xã hội
Nếu nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, thu nhập quốc dân tính
trên đầu người cao sẽ tạo điều kiện tăng tích luỹ, tăng đầu tư cho sản xuất, thị
trường có sức mua lớn là môi trường thuận lợi để DN phát triển
Hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Nhà Nước sẽ có tác dụng tạo
điều kiện hoặc kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị
trường, Nhà Nước có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường cạnh tranh Nhà
Nước thúc đẩy và tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp thông qua các chính sách như:
- Nhà Nước đầu tư nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực Hỗ trợ nghiên cứu
phát triển khoa học công nghệ, đầu tư cho cơ sở hạ tầng Tạo điều kiện về cơ sở vật
chất và các yếu tố đầu vào
- Thực hiện các chính sách kích cầu để mở rộng và tăng dung lượng thị trường
đầu ra cho doanh nghiệp Đồng thời với công cụ chi tiêu Chính Phủ, Nhà Nước
cũng là người mua với nhu cầu đa dạng
- Nhà Nước quy hoạch và tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ