b Độ dẫn nhiệt của khuôn lớn nên giảm khả năng điền đầy của kim loại, do đó khó đúc vật phức tạp và vật đúc có thành mỏng.. d Khuôn, lõi bằng kim loại nên không có tính lún, ngăn trở sự
Trang 1CÔNG NGHệ chế tạo PHÔI
Sản xuất đúc
Trang 22
Chương 4
Đúc đặc biệt
Trang 4Phương pháp này có đặc điểm sau:
a) Khuôn kim loại có thể dùng được nhiều lần (vài
trăm đến hàng vạn lần) tùy thuộc vào kim loại vật đúc
Trang 5b) Vật đúc có độ chính xác cao (cấp 6, 7) và độ bóng
bề mặt cao (4ữ 7) Vì độ chính xác và độ bóng của khuôn cao
c) Tổ chức hạt nhỏ mịn (do nguội nhanh) nên cơ tính tốt
d) Tiết kiệm được vật liệu làm khuôn và điều kiện lao
động tốt
Trang 66
Song đúc trong khuôn kim loại còn có những nhược
điểm:
a) Giá thành của khuôn đắt nên chỉ dùng trong sản
xuất hàng loạt và hàng khối
b) Độ dẫn nhiệt của khuôn lớn nên giảm khả năng điền
đầy của kim loại, do đó khó đúc vật phức tạp và vật
đúc có thành mỏng
c) Độ dẫn nhiệt của khuôn lớn nên khi đúc gang dễ bị hoá trắng
d) Khuôn, lõi bằng kim loại nên không có tính lún,
ngăn trở sự co của kim loại nhiều làm cho vật đúc dễ nứt
Trang 77
2- VËt liÖu lµm khu«n vµ kÕt cÊu khu«n:
Trang 88
Trang 99
Trang 1010
Trang 113- Công nghệ đúc trong khuôn kim loại:
Quá trình đúc trong khuôn kim loại được tiến hành
như sau:
- Làm sạch bề mặt lòng khuôn sau mỗi lần đúc
- Sấy khuôn đến nhiệt độ nhất định để giảm tốc độ
nguội của kim loại lỏng Nhiệt độ sấy khuôn phụ thuộc vào kim loại vật đúc và được quy định trong sổ tay
thiết kế đúc
Trang 12- Sơn bề mặt khuôn, lõi một lớp sơn đệm chịu nhiệt với chiều dày đến 2 mm (chỉ sơn 1 ữ2 lần trong mỗi ca sản xuất)
- Sơn phủ lên lớp sơn đệm một lớp sơn áo bằng dầu ma dút, dầu hoả hoặc dầu thực vật Khi rót kim loại lỏng vào khuôn, lớp sơn này sẽ cháy tạo nên màng khí
ngăn cách kim loại lỏng và bề mặt khuôn do đó nâng cao tính chịu nhiệt của khuôn
- Ráp khuôn và rót kim loại lỏng vào khuôn
- Để nguội vật đúc trong khuôn một thời gian nhất
định rồi dỡ khuôn
Trang 13ξ3- Đúc áp lực
1- Khái niệm:
Khác với quá trình đúc rót thông thường, khi đúc
áp lực kim loại điền đầy khuôn không phải nhờ tác dụng của trọng lực mà là nhờ tác dụng của lực ép cưỡng bức từ bên ngoài
Đúc áp lực có những ưu điểm sau:
- Vật đúc có độ bóng và độ chính xác cao (độ chính xác đạt tới 0,01 mm, độ bóng đạt tới 5 ữ 7)
Trang 162- Khuôn đúc áp lực:
Trang 173- Máy đúc áp lực:
Trang 1818
Trang 1919
Trang 2020
Trang 21đồng đều, bền và dẻo khi ở nhiệt độ cao, có độ chảy
loãng tốt và khá ổn định thành phần khi giữ lâu trong
lò nấu
Hợp kim thường dùng đúc áp lực gồm có 1; UAM5-10; AΛ2 ; AΛ4; AΛ10B; AΛ1011; MΛ3 ;
UAM4-MΛ5; hợp kim đồng
Trang 22b) Kết cấu của vật đúc:
Vật đúc phải có thành dày đều nhau để tránh rỗ,
nếu vật đúc có thêm gân để tăng độ cứng vững, chiều dày của gân phải bằng 0,8 ữ 0,9 chiều dày thành, chiều dày vật đúc không được lớn quá vì khó bổ ngót (thư
ờng chiều dày vật đúc là 0,8 ữ 6 mm) tùy tiết diện vật
đúc và hợp kim đúc Vật đúc không nên có góc chuyển tiếp nhọn, phải có bán kính lượn, có thể đúc được chi tiết có ren trong và ren ngoài bằng nhôm, kẽm, bước
ren ngoài khoảng 1 mm còn bước ren trong khoảng 2 mm
Trang 23c) Hệ thống rót và thông hơi:
Không dẫn kim loại vào ruột hoặc chở lồi ra để
tránh hiện tượng xoáy và để khí thoát ra dễ Rãnh dẫn cần bố trí sao cho không có sự giao dòng kim loại,
không có sự va đập kim loại vào thành khuôn, (muốn vậy dùng chốt phân dòng) và không bị đổi hướng dòng chảy đột ngột, v.v
Trang 24
đúc.
Trang 25Hệ thống rót dùng trong đúc áp lực có 3 loại:
Trang 26lµ 10 ÷ 20oC.
Trang 27e) Chế độ ép (áp lực ép):
áp lực ép phụ thuộc vào loại hợp kim, chiều dày và
độ phức tạp của vật đúc Trong thực tế sản xuất phải
đúc thử một số chi tiết để tìm áp lực đúc thích hợp
Trang 28P = m r ω2
Qua công thức trên ta thấy khối lượng riêng m của kim loại càng lớn, bán kính quay r càng lớn, vận tốc quay ω càng lớn thì lực ly tâm càng lớn
Trang 29Đúc ly tâm có ưu điểm sau:
* Đúc được những chi tiết hình tròn xoay rỗng mà
không cần dùng lõi, do đó tiết kiệm được vật liệu và
đường gân hoặc hình nổi mỏng Mặt khác vì kim loại
điền đầy khuôn tốt nên không cần đậu ngót bổ xung,
do đó tiết kiệm kim loại vật đúc
Trang 30* Vật đúc sạch do tạp chất, xỉ và phi kim nhẹ có lực ly tâm bé nên không bị lẫn vào kim loại vật đúc
* Tổ chức kim loại mịn chặt, không bị rỗ co, rỗ khí do
đông đặc dưới tác dụng của lực ly tâm
Trang 31* Khó nhận được đường kính lỗ bên trong vật đúc
chính xác vì khó định được lượng kim loại rót vào
khuôn chính xác
* Chất lượng bề mặt trong của vật đúc kém (đối với vật
đúc tròn xoay) vì chứa nhiều tạp chất và xỉ Vật đúc dễ
bị thiên tích tỷ trọng
Trang 322- Các phương pháp đúc ly tâm:
- Đúc ly tâm đứng.
Trang 3333
Trang 34- §óc ly t©m ngang
Trang 35ξ5- Đúc trong khuôn vỏ mỏng
1- Thực chất, đặc điểm của đúc trong khuôn vỏ
mỏng:
a) Thực chất của đúc trong khuôn vỏ mỏng:
Là đúc trong khuôn cát nhưng chiều dày của khuôn chỉ
6 ữ 10 mm
b) Đúc trong khuôn vỏ mỏng có những đặc điểm
sau:
- Có thể đúc được gang, thép, kim loại màu với vật đúc
có khối lượng dưới 100kg, độ chính xác đạt cấp 5 ữ 7,
độ bóng đạt 4 ữ 7
Trang 36- Khuôn vỏ mỏng thuộc về khuôn khô, có độ nhẵn bóng bề mặt hốc khuôn và độ thông khí cao, truyền nhiệt khá nên cho phép nhận được vật đúc ít khuyết tật
- Quá trình chế tạo khuôn vỏ mỏng dễ cơ khí hoá, tự
động hoá
Trang 37c) Hỗn hợp làm khuôn và lõi vỏ mỏng truyền thống
bao gồm cát thạch anh với 4ữ6% nhựa tổng hợp punve bakêlít
Hỗn hợp cát - nhựa trước khi nhào trộn được bổ sung 2% axêtôn để hoà tan nhựa tạo thành lớp màng nhựa bao quanh các hạt cát Hỗn hợp này nhào trộn
đơn giản bằng máy trộn cánh gạt, sau khi trộn hỗn hợp bảo quản thuận lợi, dùng được lâu ngày Hỗn hợp cát - nhựa có đặc tính là ở 200ữ250oC phân tử phênol chảy
ra tạo khả năng dính kết các hạt lại với nhau sau đó tự hoá cứng tạo nên độ bền khoảng 20ữ50 N/cm2
Trang 38Sau khi hoá cứng hỗn hợp cát - nhựa punvebakêlit không có khả năng chảy ra lần 2 dù có nung nóng đến nhiệt độ cao hơn 250oC Vì vậy cát - nhựa là hỗn hợp dùng một lần Khi rót khuôn dưới tác dụng của nhiệt truyền từ vật đúc sang, chất dính nhựa sẽ phân huỷ
hoàn toàn vì vậy khuôn và lõi tự rời ra khỏi vật đúc khi
dỡ khuôn, làm sạch vật đúc
Trang 39b) Nung nóng tấm mẫu lên đến 220 ữ 250 oC.
c) Đổ hỗn hợp cát - nhựa lên tấm mẫu nóng, giữ
khoảng 12 ữ 20 giây để các phân tử phênol nóng chảy liên kết các hạt cát thành một lớp dày 6ữ8 mm
Trang 40d) Loại bỏ phần hỗn hợp cát - nhựa còn thừa phía bên trên
e) Sấy tấm mẫu cùng khuôn vỏ mỏng ở nhiệt lđộ 350ữ
370oC trong 1ữ2 phút để đóng cứng hoàn toàn hỗn
hợp cát- nhựa, nâng cao độ bền cho khuôn
h) Tách khuôn vỏ mỏng ra khỏi tấm mẫu
i) Làm nửa khuôn còn lại tương tự như
k) Ghép hai nửa khuôn bằng cách dán hoặc kẹp chặt,
đem rót kim loại lỏng, để nguội ta thu được vật đúc
Trang 4141
Trang 42b) Đặc điểm:
- Có thể đúc được những vật có kết cấu phức tạp từ
những hợp kim khó chảy như thép gió, thép không rỉ
Trang 43khuôn mẫu chảy có bề mặt nhẵn cao, không có mặt phân khuôn nên không có sai lệch do lắp ráp khuôn gây ra
- Nhược điểm của đúc mẫu chảy là chu trình sản xuất kéo dài, giá thành khuôn đúc cao
Trang 44c) Công dụng:
Đúc mẫu chảy được dùng nhiều để chế tạo các loại
dụng cụ cắt (như dao phay, dao truốt), các loại bánh
răng, líp xe đạp, đĩa môtô và một số phụ tùng nổ
Vật đúc có khối lượng dưới 100 kg, chiều dày thành có thể mỏng đến 0,3 mm, đường kính lỗ có thể nhỏ đến 2mm
Trang 45để chế tạo khuôn ép mẫu Vật liệu để chế tạo mẫu gốc
có thể là thép, đồng thau, gỗ, chất dẻo v.v Phương
pháp chế tạo mẫu gốc có thể bằng cách đúc hoặc gia
công cơ khí
Trang 46b) Chế tạo khuôn ép
Khuôn ép có thể làm bằng kim loại, chất dẻo, xi măng, v.v chế tạo khuôn ép được tiến hành bằng gia công áp lực, đúc, gia công cơ khí hoặc kết hợp các phư
ơng pháp trên Khuôn ép cũng có hai nửa để dễ lấy
mẫu chảy ra khỏi khuôn Khuôn ép ngoài yêu cầu
chính xác còn đòi hỏi nhẵn bóng để đảm bảo độ chính xác và độ bóng của mẫu chảy
Trang 47c) Chế tạo vật liệu dễ chảy
Vật liệu dễ chảy gồm nhựa thông, sáp, paraphin và stêarin - thành phần của nó thường như sau: 70% nhựa thông + 20% sáp + 10% paraphin hoặc 30% paraphin + 70% Stêarin
Nhiệt độ chảy của vật liệu làm mẫu chảy thường là
50 ữ 90oC, song không được biến mền dưới nhiệt độ 30
ữ 35oC ở trạng thái chảy loãng vật liệu dùng làm
mẫu chảy phải điền đầy khuôn tốt
Vật liệu dễ chảy được nấu trong lò nồi điện trở, khi nấu phải quấy đều và gạt bỏ tạp chất nổi trên bề mặt
nồi lò
Trang 48d) Chế tạo mẫu chảy
ép vật liệu dễ chảy vào khuôn ép dưới áp xuất
khoảng 2 at Để nguội cho mẫu đông đặc rồi mở
khuôn ép, lấy mẫu ra sửa chữa
e) Lắp mẫu thành chùm mẫu.
Mục đích của việc lắp các mẫu chảy thành chùm mẫu có chung hệ thống rót là để tăng năng suất đúc
Trang 49Tiếp theo đem chùm mẫu đã có lớp vỏ đi hơ nóng
ở nhiệt độ 80ữ 90oC hoặc nhúng vào nước sôi để làm chảy mẫu, thu được hốc khuôn
Trang 50h) Sấy khuôn:
Trước khi sấy khuôn có thể đặt chùm khuôn vào hòm khuôn, lèn chặt cát xung quanh để tăng bền cho
khuôn Hòm khuôn được đưa vào lò sấy ở nhiệt độ 850
ữ 900oC để đốt cháy hết vật liệu dễ chảy còn sót lại
trong hốc khuôn đồng thời tăng độ bền cho vỏ khuôn như gốm hoá nó
i) Nấu chảy kim loại, rót khuôn, để nguội, dỡ, làm
sạch vật đúc.
Trang 5151
Trang 52tinh) Nhờ xung quanh và bên trong khuôn có nước
làm nguội nên nhiệt được truyền nhanh từ kim loại
lỏng ra bên ngoài, vật đúc kết tinh nhanh và được kéo liên tục ra khỏi khuôn bằng những cơ cấu đặc biệt (con lăn, bàn rút)
Trang 53- N¨ng suÊt cao, gi¶m hao phÝ chÕ t¹o khu«n, gi¶m hao phÝ kim lo¹i vµo hÖ thèng rãt, ngãt
Trang 5454 Hình 161: Sơ đồ đúc thỏi liên tục Hình 162 : Sơ đồ đúc tấm liên tục
Trang 55- Nhược điểm lớn nhất của đúc liên tục là tốc độ nguội quá lớn nên ứng xuất còn lại trong vật đúc cao làm nó
dễ bị nứt vỡ khi sử dụng Chính vì vậy đúc liên tục
trong thực tế chủ yếu dùng để tạo thép thỏi hoặc thép tấm
Trang 562- Đúc khuôn mẫu cháy:
Về mặt qui trình công nghệ đúc theo khuôn mẫu cháy tương tự như đúc trong khuôn mẫu chảy Điểm khác biệt ở đây là mẫu được làm bằng vật liệu dễ cháy (pôlistirôn), vì vậy mẫu không phải lấy ra khỏi khuôn trước lúc rót kim loại lỏng Khi rót khuôn mẫu sẽ bị cháy, khí thoát ra ngoài qua hệ thống thoát khí Phư
ơng pháp này được dùng để đúc các vật lớn, không
thích hợp khi đúc trong khuôn mẫu chảy
Trang 573- Đúc trong khuôn từ:
Phương pháp này do Hofman.R phát minh năm
1971 Thực chất của nó là dùng hạt sắt φ 0,25 thay cát
đổ vào hòm khuôn bao quanh mẫu cháy Khi đặt vào trong từ trường mạnh các hạt sắt bị nhiễm từ hút nhau làm khuôn chặt cứng Sau khi vật đúc đông đặc khuôn
được đưa ra khỏi từ trường vì vậy các hạt sắt tự rời
nhau, vật đúc được lấy ra khỏi khuôn dễ dàng còn các hạt sắt được dùng lại cho lần đúc sau