Nội dung của phương pháp là thêm dần thuốc thử B đã biết nồng độ vào dung dịch chất cần xác định A đến khi lượng thuốc thử B tương đương với lượng chất A.. Trong quá trình chuẩn độ khi l
Trang 1PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG DẦU THỰC VẬT
GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP CHUẨN ĐỘ HAY CÒN GỌI PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỂ TÍCH [1,7,12]
1 Giới thiệu chung [1,7]
Phương pháp phân tích định lượng dựa trên việc đo lường thuốc thử cần dùng để phản ứng với một lượng đã cho của chất cần xác định gọi là phương pháp phân tích chuẩn độ (thể tích)
Nhà bác học Pháp J.L.Gay Lussac là người đặt cơ sở cho phép phân tích chuẩn độ
Nội dung của phương pháp là thêm dần thuốc thử B đã biết nồng độ vào dung dịch chất cần xác định A đến khi lượng thuốc thử B tương đương với lượng chất A
Định lượng bằng phương pháp thể tích rất nhanh, thời gian cần để hoàn thành chuẩn độ được tính bằng phút Điều đó cho phép tiến hành một số phép thử xác định liên tiếp và song song mà không tốn công
Chất xác định A : Chất cần xác định được kí hiệu bằng chữ A là nguyên tố hoá
học, đơn chất, hay hợp chất cần xác định có trong mẫu phân tích Các nguyên tử, các ion chứa các gốc tự do và các nhóm chức cũng thuộc nhóm chất cần xác định
Thuốc thử (chất phản ứng) chất rắn, chất lỏng, chất khí phản ứng được với chất
cần xác định A thì gọi là thuốc thử và kí hiệu bằng chữ B
Tóm lại : Thuốc thử là chất tham gia trực tiếp vào phản ứng, còn chất phản ứng
là một hoá phẩm, nó có thể là một hỗn hợp của các chất khác nhau, có thể có những chất phụ trợ và dung môi thuốc thử
Chuẩn độ : Xác định định lượng chất A bằng phương pháp chuẩn độ là ta thêm
dung dịch chất chỉ thị đã biết chính xác nồng độ tương ứng với hàm lượng chất cần xác định A và dung dịch chứa chất cần nghiên cứu Thuật ngữ chuẩn độ xuất phát từ chữ “chuẩn” Thuốc thử thêm vào chất chuẩn độ có thể là rắn, thể lỏng, hoặc thể khí
Vì vậy theo nghĩa rộng, chuẩn độ là quá trình trộn lẫn liên tục một lượng thuốc thử B ở thể rắn, thể lỏng, hoặc thể khí có thể đã được đo chính xác cùng với chất cần
Trang 2nghiên cứu Khi đó lượng thuốc thử tương ứng với với hàm lượng cấu tử cần xác định dễ dàng để phản ứng với thuốc thử B theo một đương lượng nghiêm ngặt
Trong phương pháp chuẩn độ không buret người ta không đo thể tích thuốc thử đã tiêu tốn cho phản ứng, vì vậy không cần biết chính xác nồng độ của thuốc thử Khi đó người ta tính số giọt dung dịch của thuốc thử tiêu tốn hoặc đo thời gian chuẩn độ của chất cần xác định
1.1 Dung dịch chuẩn hay dung dịch chuẩn độ : Dung dịch thuốc thử B đã biết
nồng độ được dùng để chuẩn độ trong phương pháp phân tích thể tích
1.2 Độ nguyên chuẩn của dung dịch (CN) độ nguyên chuẩn của dung dịch được
biểu diễn bằng số đương lượng gam của chất đó có trong một lít dung dịch
1.3 Độ chuẩn :nồng độ chính xác của dung dịch chuẩn thuốc thử B gọi là độ
chuẩn, nó được biểu diễn bằng số gam chất tan có trong 1cm3 (ml) dung dịch
1.4 Định luật (quy tắc) về đương lượng : Các nguyên tắc hoá học hay các hợp
chất của chúng tham gia vào các phản ứng hoá học với nhau theo một khối lượng xác định tương ứng với đương lượng hoá học (đương lượng gam) của chúng Nói cách khác một đương lượng gam của chất này phản ứng với một đương lượng gam chất khác Quy tắc này có ý nghĩa lớn trong phân tích thể tích: dựa vào quy tắc ấy ta tính được kết quả phân tích Theo quy tắc về đương lượng :
nA = nB
n = NV/1000 = α /Đ = TV/Đ Trong đó :
nA, nB, là số đương lượng gam của chất tan A, và B
N nguyên độ chuẩn của dung dịch (đlg/l)
V là thể tích dung dịch (ml)
Đ là đương lượng gam chất tan
T là độ chuẩn g/cm3 (ml)
1.5 Điểm tương đương và điểm cuối của sự chuẩn độ
Theo quy tắc về độ đương lượng, sự chuẩn độ cần tiến hành đến khi lượng thuốc thử B thêm vào tương đương với hàm lượng chất cần xác định A Trong quá trình chuẩn độ khi lượng dung dịch chuẩn thuốc thử B về mặt lý thuyết tương đương đúng bằng lượng chất cần xác định A đã phản ứng với thuốc thử B thêm vào theo một phương trình phản ứng hoá học xác định thì gọi là điểm tương đương
Trang 3Điểm tương đương được xác định bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn theo sự đổi màu của chất chỉ thị được thêm vào trong dung dịch chuẩn độ Tại thời điểm thấy sự thay đổi màu của chất chỉ thị được gọi là điểm cuối của sự chuẩn độ Thường thường điểm cuối của sự chuẩn độ không trùng với điểm tương đương, tương ứng về mặt lý thuyết điểm cuối chuẩn độ
Điểm tương đương rơi vào thời điểm khi lượng thuốc thử B cần thiết theo lý thuyết thêm vào dung dịch chuẩn độ để phản ứng hết với chất cần xác định A Do vậy tại điểm tương đương phải không còn chất A và thuốc thử B nếu phản ứng tương tác giữa chúng xảy ra định lượng Các phản ứng dùng trong phân tích chuẩn độ là phản ứng thuận nghịch nên ở điểm tương đương thực tế phản ứng không đi đến cùng được Đó là một trong những nguyên nhân làm cho điểm tương đương không bao giớ trùng với điểm cuối của sự chuẩn độ
Trong trường hợp điểm tương đương hoàn toàn hoặc hầu như hoàn toàn trùng với điểm cuối của sự chuẩn độ, thì theo lượng thuốc thử tiêu thụ khi phản ứng với chất xác định (TBVB) dựa vào quy tắc độ đương lượng, có thể tính được lượng chất cần xác định ra gam (gA) hay hàm lượng phần trăm (xA) Khi các điểm ấy không trùng nhau thì xác định một số hiệu chỉnh, hệ số này được tính dựa kiện thu được khi chuẩn độ những dung dịch chất cần xác định đã biết trước nồng độ, hay tiến hành tính toán theo phương pháp của nhà bác học Rumani Litean
1.6 Lượng cân chất phân tích.
Lượng nhỏ mẫu trung bình của chất được lấy ra để phân tích gọi là lượng cân Để thu được những kết quả chính xác cấn lấy những lượng cân chất phân tích trên cân phân tích Độ chính xác của kết quả phân tích phụ thuộc vào việc cân chính xác lượng cân Tuỳ thuộc vào hàm lượng tương đối của cấu tử xác định trong mẫu nghiên cứu và phương pháp phân tích đã chọn mà chọn lượng cân Biết hàm lượng gần đúng của một cấu tử nào đó trong mẫu phân tích có thể tính được lượng cân thích hợp
1.7 Các phản ứng dùng trong phân tích chuẩn độ
Các phương pháp phân tích chuẩn độ dựa trên cơ sở sử dụng những phản ứng khác nhau : trung hoà, oxi hoá khử, kết tủa, tạo phức, trao đổi ion, thay thế, cộng hợp, trùng ngưng…
Người ta dùng phản ứng trung hoà để chuẩn độ các axit vô cơ và hữu cơ, phenol, các hợp chất dị vòng, dẫn xuất oxi, bazơ, muối…
Người ta thường thường chuẩn độ bazơ bằng các dung dịch axit chuẩn, còn các axit bằng dung dịch bazơ, điểm tương đương được nhận ra bằng các chất chỉ thị bằng axit - bazơ hay bằng các phương pháp lý hoá
Trang 4Người ta dùng phản ứng oxy hoá khử khi chuẩn độ các chất vô cơ, hydro quinon, đường, các axit oxalic…cũng như các chất oxi hoá vô cơ, các hợp chất hữu cơ chưa no, các chất màu hữu cơ, các chế phẩm y dược…
Người ta thường chuẩn độ các chất khử bằng các dung dịch chuẩn oxi hoá, còn các chất oxi hoá bằng chất khử hay bằng các phương pháp khác
Người ta dùng phản ứng kết tủa khi chuẩn độ những chất tạo được những sản phẩm không tan trong môi trường tương ứng
Trong trường hợp khi chất xác định nằm ở dạng không thuận tiện cho việc xác định thì ta chuyển nó thành những cation hay anion thích hợp
Người ta sử dụng rộng rãi các phản ứng tạo phức trong phân tích chuẩn độ, thuộc loại này là các phản ứng xảy ra giữa các cation của các nguyên tố chuyển tiếp và các axit amin, axit etylendiamintettraaxetic và các thuốc thử khác
Phản ứng trao đổi Ion kèm theo sự hình thành các hộp chất ít phân ly, ít tan và phân tử
Phản ứng thế
1.8 Các yêu cầu đối với phản ứng.
Các phản ứng dùng trong phân tích chuẩn độ phải thoả mãn các điều kiện sau :
- Chất tham gia phản ứng phải theo tỷ lệ định lượng nhất định
- Phản ứng giữa chất cần xác định với dung dịch chuẩn( dung dịch chuẩn độ) của thuốc thử phải xảy ra nhanh và thực tế phải hoàn toàn
- Các thuốc thử có mặt trong sản phẩm nghiên cứu cùng với cấu tử chính cần xác định chuyển vào dung dịch phải không cản trở sự chuẩn độ của chất cần xác định
- Bằng cách nào đó phải xác định điểm tương đương rõ ràng và chính xác
- Phản ứng phải có khả năng xảy ra ở nhiệt độ phòng
- Sự chuẩn độ phải không có phản ứng phụ kèm theo gây sai lệch kết quả phân tích
1.9 Thuốc thử dùng trong chuẩn độ.
Thuốc thử dùng trong chuẩn độ không phải chỉ là dung dịch của các chất rắn, lỏng, khí hay dung môi lỏng mà cả các chất khí, chất lỏng, hỗn hợp lỏng, chất rắn và những chất đựơc tạo ra bởi phương pháp quang hoá và điện hoá Các thuốc thử được dùng là các kiềm, bazơ, ait, các chất oxi hoá, khử, các chất kết tủa, tạo phức…
1.10 Điều kiện chuẩn độ.
Trang 5Trong quá trình chuẩn độ cần phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều kiện để đảm bảo cho việc phân tích được nhanh chóng và đạt được độ chính xác của phép định lượng Những điều kiện cơ bản cần tuân theo trong phép phân tích chuẩn độ :
- Nơi chuẩn độ phải được chuẩn bị cẩn thận và có đầy đủ ánh sáng ban ngày, ánh sáng điện
- Các dụng cụ đem dùng và các máy đo phải được rửa sạch và hiệu chỉnh chính xác trước khi bắt đầu chuẩn độ
- Các thuốc thử đem dùng, các chất phụ đưa vào phân tích chuẩn độ, hỗn hợp nước cất hay nước trao đổi ion phải không có các tạp chất lạ, làm sai lệch kết quả phân tích
- Trường hợp oxi hay cacbondioxyt có ảnh hưởng đến quá trình chuẩn độ thì chuẩn độ trong môi trường trơ, thường là khí nitơ để tránh những phản ứng phụ mà ta không mong muốn
- Phải lắc cẩn thận và liên tục các chất phản ứng trong quá trình chuẩn độ
- Sự chuẩn độ phải hoàn thành trong khoảng 5-10 phút và diễn ra trong điều kiện phải được kiểm tra nghiêm ngặt
- Để xác định điểm cuối của quá trình chuẩn độ, chất chỉ thị hay phương pháp công cụ nào đó phải được đảm bảo xác định rõ ràng và chính xác điểm cuối và có khả năng trùng hợp với điểm tương đương
- Khi chuẩn độ đảm bảo môi trường phản ứng, axit hay kiềm bằng cách cho thêm vào hỗn hợp chuẩn độ các chất điện ly, các dung môi hữu cơ, hay các chất chiết, hỗn hợp đệm, chất tạo phức, các chất xúc tác, các chất cảm ứng, các chất chỉ thị cần thiết cho phương pháp xác định
- Độ chuẩn của các dung dịch chuẩn đem dùng trước khi chuẩn độ phải được xác định và kiểm tra cẩn thận theo các chất tinh khiết hoá học xác định
- Tất cả các phép chuẩn độ song song cần làm trong cùng một ngày, việc dời phép xác định song song sang ngày khác chỉ được phép trong trường hợp hoàn toàn tin tưởng vào độ hằng định của dung dịch chuẩn dùng để chuẩn độ Nếu độ chuẩn của dung dịch chuẩn không hằng định thì ngày hôm sau phải kiểm tra lại độ chuẩn
1.11 Ý nghĩa của phương pháp phân tích chuẩn độ.
Chuẩn độ là một phương pháp phân tích trọng lượng rất quan trọng, nó được sử dụng rộng rãi trong thực tế tại các phòng thí nghiệm ở các nhà máy, trường học và các viện nghiên cứu khoa học để xác định thành phần của các hợp chất hữu cơ, vô cơ
Trang 6và các cơ nguyên tố Ngoài ra các dữ kiện định lượng thu được bằng các phương pháp chuẩn độ còn được dùng để xác định cấu tạo chất nghiên cứu, nghiên cứu động học của quá trình hoá học, xác định hằng số phân ly của các axit và bazơ, lực tương đối của các chất điện ly, độ dài và vị trí của thang hằng số tự proton hoá của các dung môi khác nhau, xác định trọng lượng của các phân tử, nghiên cứu cơ chế của các biến đổi hoá học khác nhau, để nghiên cứu sự biến dạng và sự cường hoá của các phương pháp tổng hợp điều chế các nguyên tố và các hợp chất đặc biệt tinh khiết, đảm bảo độ tối ưu của quá trình công nghệ hoá học…
1.12 Phân loại phương pháp phân tích chuẩn độ.
Tuỳ thuộc vào loại phản ứng chính được dùng , người ta chia phương pháp chuẩn độ phân tích thành các nhóm sau :
Phương pháp trung hoà hay phương pháp chuẩn độ axit – bazơ : Dựa trên phản
ứng trung hoà của axit, bazơ, muối của các axit yếu hay bazơ yếu bị thuỷ phân mạnh trong dung dịch nước, các hợp chất vô cơ hay hữu cơ trong dung dịch không nước có tính axit hay kiềm…
Phương pháp oxi hoá khử : Dựa trên phản ứng oxi hoá khử của các nguyên tố
có khả năng chuyển từ mức oxi hoá thấp lên mức oxi hoá cao, và ngược lại, cũng như các ion và các phân tử phản ứng được với chất oxy hóa hoặc khử mà không bị oxi hoá hay khử trực tiếp
Phương pháp kết tủa : Dựa vào việc dùng các phản ứng kết tủa.
Phương pháp tạo phức : Dựa vào việc sử dụng phản ứng tạo phức, trong số các
phản ứng đó phản ứng giữa ion kim loại với các complexon được sử dụng rộng rãi nhất
2 Phương trình phản ứng chuẩn độ chung.[1]
2.1 Các phương pháp xác định điểm tương đương [1]
Việc xác định điểm cuối của sự chuẩn độ là quan trọng nhất của phương pháp phân tích chuẩn độ, vì kết quả phân tích phụ thuộc vào độ chính xác của việc xác định điểm tương đương Thường thì kết thúc sự chuẩn độ dựa vào sự đổi màu của dung dịch chuẩn hay chất chỉ thị cho vào trong quá trình chuẩn độ
Ngoài ra có thể dùng những phương pháp không cần chất chỉ thị mà dựa vào máy móc đặc biệt cho phép xét đoán những biến đổi xảy ra ở dung dịch chuẩn trong quá trình tiến hành chuẩn độ, các phương pháp xác định này được gọi là phương pháp hoá lý hay dụng cụ Chúng dựa trên việc đo độ dẫn điện, giá trị thế, mật độ quang và
Trang 7các thông số lý hoá khác của dung dịch chuẩn độ, và dung dịch này bị biến đổi rõ ràng ở điểm tương đương
2.2 Phương trình chuẩn độ chung [1]
2.2.1 Phương trình chung của quá trình chuẩn độ được thể hiện như sau :
B Bd
A + A 1 + A n → A 1 + A n + D + E → A 1 + A n + D + E + B d
Với:
A, A1, An là những chất xác định trong dung dịch chuẩn
B là thuốc thử( chất chuẩn)
D, E sản phẩm của phản ứng chất xác định A với thuốc thử B
Bd là lượng thuốc thử dư
Theo mức độ chuẩn độ thì nồng độ chất cần xác định A giảm dần đến điểm tương đương và tại đây nó được giảm đến mức tối thiểu, sau điểm tương đương nó bằng 0
Trước điểm tương đương nồng độ thuốc thử B bằng 0 vì khi thêm B vào dung dịch chuẩn độ nó sẽ phản ứng với chất cần xác định, tại điểm tương đương trong dung dịch chuẩn sẽ có vết thuốc thử B, sau điểm tương đương nồng độ thuốc thử B sẽ tăng lên vì nồng độ chất cần xác định lúc này bằng 0
Nồng độ sản phẩm phản ứng D và E tăng dần do phản ứng của thuốc thử B và chất cần xác định, nó đạt cực đại tại điểm tương đương và trên thực tế trở thành hằng định sau điểm tương đương
2.2.2 Xác định điểm tương đương: bằng các phương pháp sau:
Phương pháp nhìn bằng mắt: Dựa vào sự đổi màu của dung dịch nếu chất cần
xác định A hay thuốc thử B có màu, vì tại điểm tương đương nồng độ chất A giảm dần còn nồng độ thuốc thử B thì tăng dần
Phương pháp nhìn bằng mắt dựa vào sự xuất hiện đục hay sự biến đổi màu do sự tạo thành các sản phẩm phản ứng hoặc chất chỉ thị nếu A, B không màu
Phương pháp lý hoá – dụng cụ: Dựa vào việc xây dựng đường cong chuẩn độ
sau khi phân tích, đường này phản ứng sự biến đổi của các thông số lý hoá của dung dịch chuẩn độ (pH), trong quá trình chuẩn độ không phụ thuộc vào màu của A và B
Trang 8Ta cần xác định điểm tương đương theo giao điểm các đường hay theo bước nhảy của đường chuẩn độ
2.3 Các phương pháp chuẩn độ chung [1]
2.3.1.Chuẩn độ trực tiếp
Phương pháp chuẩn độ đơn giản nhất là từ buret đã hiệu chỉnh chính xác, ta nhỏ từng giọt dung dịch chuẩn thuốc thử B vào một thể tích xác định dung dịch hay một lượng cân xác định A đã hoà tan trong dung môi thích hợp
Ta xác định điểm tương đương theo nồng độ A (CA) giảm rõ rệt, sự giảm đó kèm theo sự mất màu của dung dịch ( nếu chất A là có màu) hay sự bắt đầu tăng nồng độ của B ( CB) (theo sự xuất hiện màu của dung dịch nếu thuốc thử B có màu), hay theo sự đổi màu của chất chỉ thị
Sự biến đổi nồng độ các chất phản ứng và tạo thành trong quá trình chuẩn độ được tóm tắt trong bảng sau:
tương đương
Tại điểm tương đương
Sau điểm tương đương A
B
D, E
CA giảm dần
CB = 0
CD, CE tăng dần
CA giảm rõ rệt
Trong dung dịch xuất hiện vết thuốc thử B
CD, CE đạt cực đại
CA ≈ 0
CB bắt đầu tăng lên
CD,CE thực tế trở thành hằng định Nếu biết được dung dịch thuốc thử B tiêu tốn để phản ứng với chất cần xác định A thì hàm lượng chất A được tính một cách dễ dàng
2.3.2.Chuẩn độ ngược
Trang 9Đôi khi do một nguyên nhân nào đó mà không dùng phương pháp chuẩn độ trực tiếp được ta tiến hành dùng phương pháp chuẩn độ ngược Đây là phương pháp chuẩn độ phần dư, cụ thể là thêm một thể tích chính xác, lấy dư dung dịch thuốc thử B vào một thể tích xác định của dung dịch hoặc lượng cân xác định chất A đã hoà tan trong dung môi thích hợp Lượng thuốc thử B không tham gia phản ứng được chuẩn độ bằng dung dịch thuốc bổ trợ khác (B1) đã biết nồng độ chính xác Chuẩn độ lượng dư thuốc thử B không được ít hơn 15-20 ml thuốc thử B1 theo phương pháp đa lượng hay từ 1.5-2 ml theo phương pháp vi lượng
Giống như khi chuẩn độ trực tiếp biết được dung dịch chuẩn của thuốc thử B tiêu tốn cho phản ứng với chất cần xác định A, có thể tính hàm lượng chất A một cách dễ dàng
2.3.3.Chuẩn độ gián tiếp
Chuẩn độ thay thế : thêm vào chất cần xác định A thuốc thử bổ trợ B1 nào đó sẽ phản ứng với chất A và giải phóng ra một lượng tương đương chất mới A1, chuẩn độ chất này bằng dung dịch chuẩn của thuốc thử chính B, nói cách khác đây là sự thay chuẩn độ trực tiếp chất cần xác định A bằng chất chuẩn độ thay thế A1
Xác định điểm cuối của quá trình chuẩn độ bằng chất chỉ thị
Xác định hàm lượng sản phẩm phản ứng: ta xác định sản phẩm phản ứng D E bằng phương pháp nào đó sau đó tương tác của chất xác định A và thuốc thử B
Xác định theo hiệu số: Nếu biết hoặc xác định được hàm lượng của tất cả các cấu tử và các cấu tử A1 An trong dung dịch chuẩn độ thì có thể dễ dàng tính được hàm lượng của cấu tử A
A = ∑A,A1,An - ∑A1,An Trong nhiều trường hợp để phân tích hổn hợp chất phức tạp ta kết hợp nhiều phương pháp lại với nhau
3 Phương pháp chuẩn độ trung hoà (chuẩn độ axit - bazơ) [1]
3.1 Đặc điểm của phương pháp
Phương pháp trung hoà dựa trên việc sử dụng phản ứng trung hoà Phương trình
cơ bản của phương pháp này là sự tương tác của ion hydron hay hydro với ion hydroxyt tạo thành phần tử nứơc ít bị phân ly
H3O+ + OH- →H2O hay H+ + OH- → H2O
Trang 10Phương pháp trung hoà cho phép định lượng các axit (bằng các dung dịch chuẩn kiềm), kiềm (bằng các dung dịch chuẩn axit) và các chất phản ứng với axit và kiềm trong dung dịch nước theo một tỉ lệ hợp thức
Chuẩn độ bằng các axit hoặc kiềm Dùng dung dịch chuẩn nào đó chứa ion hidroxon có thể chuẩn độ được các bazơ, ngược lại dùng các dung dịch bazơ để chuẩn độ lại dung dịch axit Kỹ thuật xác định được tiến hành như sau: từ buret đựng dung dịch axit hay bazơ nhỏ từ từ vào dung dịch xác định một lượng kiềm hay axit đến điểm tương đương Người ta tính lượng kiềm hay axit có trong dung dịch nghiên cứu theo thể tích dung dịch chuẩn axit hoặc kiềm tiêu tốn để trung hoà một thể tích xác định dung dịch mẫu phân tích hoặc một lượng cân của mẫu cần phân tích
3.2 Xác định điểm tương đương
Xác định điểm tương đương bằng chất chỉ thị Xác định điểm tương đương là thời điểm khi lượng thuốc thử B thêm vào tương đương với lượng chất cần xác định A đã phản ứng với nó
Thực tế người ta xác định điểm tương đương bằng phương pháp dùng chất chỉ thị, dựa theo sự đổi màu của chất chỉ thị được thêm 1-2 giọt vào dung dịch chuẩn độ
Phương pháp lý hoá hay phương pháp công cụ để xác định độ tương đương Do các chất chỉ thị màu không dúng để xác định điểm tương đương khi chuẩn độ các dung dịch có màu mạnh và đục nên người ta đã nghiên cứu các phương pháp khác xác định điểm tương đương dựa trên sự quan sát tính chất của dung dịch bị thay đổi đột ngột tại điểm tương đương Các phương pháp vật lý, hoá lý hay công cụ xác định điểm tương đương có ý nghĩa to lớn Chúng được dựa vào việc đo bằng những máy móc đặc biệt một số đại lượng đặc trưng cho một số tính chất nào đó của dung dịch, mà tính chất đó biến đổi từ từ trong quá trình chuẩn độ, nhưng thay đổi rất rõ rệt ở điểm tương đương
3.3 Nguyên tắc xây dựng đồ thị biểu diễn trong quá trình trung hoà.
Trong quá trình trung hoà pH của dung dịch cần chuẩn độ thay đổi tuỳ thuộc vào thể tích VB và độ chuẩn TB của dung dịch thêm vào Do đó nếu trên trục hoành biểu diễn lượng % còn lại của axit hay kiềm trong dung dịch hoặc lượng dung dịch chuẩn thêm vào bằng ml ở các thời điểm khác nhau, còn trên trục tung là các giá trị
pH của dung dịch tương ứng với chúng, ta sẽ thu được những điểm, nối các điểm đó ta được đường biểu diễn quá trình biến đổi pH trong quá trình chuẩn độ