Ở nước ta tuy các mô hình nuôi Ếch Thái Lan chủ yếu là mô hình theo hộ gia đình có quy mô vừa và nhỏ mới phát triển nhưng đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ Khoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
tỉnh Thừa Thiên Huế
Bộ môn: Kinh tế nông thôn
HUẾ, 05/2016
Trang 2Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi còn nhận đợc sự quan tâm giúp đỡ của nhiều ngời Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu trờng Đại học Nông Lâm Huế
Ban chủ nhiệm khoa Khuyến nông – Phát triển nông thôn cùng các thầy cô trong khoa đã truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt bốn năm qua Đây chính là hành trang bớc vào đời, vào nghề của mỗi sinh viên ngành phát triển nông.
Lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo ThS Nguyễn Thiện Tâm đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Các nông hộ nuôi ếch ở thôn Di Tây, Di Trung đã tạo điều kiện giúp đõ tôi trong quá trình tham gia thực tập tại địa phơng Và lòng biết ơn chân thành đến chị Nguyễn Thị Hồng Gấm chủ tịch hội phụ nữ xã đã tạo điều kiện cho tôi đợc tiếp cận và tìm hiểu thực tập về vị trí chủ tịch hội phụ nữ xã Bên cạnh đó tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ Ban Nhân Dân Xã Phú Hồ- Huyện Phú Vang- Tỉnh Thừa Thiên Huế đã giúp đỡ
để bài báo cáo của tôi có thể hoàn thành một cách tốt nhất.
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến gia đình, anh chị em và bạn bè
đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi nhất về mặt vật chất lẫn tinh thần để tôi có thể hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù bản thân đã có nhiều sự cố gắng nhng do bớc đầu tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế nên sẽ không tránh khỏi những sai sót nhất định Rất mong nhận đợc sự đóng góp của quý thầy cô cùng các bạn
để khóa luận đợc hoàn thiện hơn.
Huế, thỏng 05 năm 2016
Sinh viờn thực hiện
Phạm Thị Chung
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SXKD : Sản xuất kinh doanhQHKT : Quy hoach kinh tếUBND : Uỷ ban nhân dânHĐND : Hội đồng nhân dânHQKT : Hiệu quả kinh tếSXNN : Sản xuất nông nghiệpĐVT : Đơn vị tính
ĐLC : Độ lệch chuẩnTrđ : Triệu đồng
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Tên đề tài: “Tìm hiểu hoạt động nuôi Ếch Thái Lan của nông hộ trên
địa bàn xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Địa điểm nghiên cứu: Xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế SVTH: Phạm Thị Chung
GVHD: ThS Nguyễn Thiện Tâm
Giới thiệu đề tài
Trong vài năm gần đây, nước ta đã du nhập, thuần dưỡng và nhân giống ếch Thái Lan (Rana tigerina) với tập tính lớn nhanh và tỷ lệ sống cao hơn thích hợp cho việc nuôi công nghiệp so với ếch đồng Việt Nam (R rugulosa) Tuy nhiên, việc nuôi thương phẩm giống ếch này còn khá mới mẻ đối với người dân nước ta Do đó việc tìm ra mô hình nuôi thích hợp và có hiệu quả kinh tế là rất cần thiết Bên cạnh đó, chúng ta cũng biết ếch có tập tính ăn nhau, dẫn đến sự hao hụt trong quá trình ương, nuôi Do đó cần tìm hiểu điều kiện dẫn đến sự ăn nhau của chúng để khắc phục và tìm ra biện pháp nuôi có hiệu quả hơn
Xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế với những lợi thế về diện tích ao hồ, mặt nước và có nhiều diện tích ruộng trũng Ngoài việc phát triển trồng lúa, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, nghề nuôi Ếch đã góp phần quan trọng giúp nhiều hộ nông dân ở xã cải thiện hoạt động tạo thu nhập Tuy nhiên, do nhiều yếu tố ảnh hưởng khác nhau như: trình độ chuyên môn, hoạt động nuôi Ếch chưa tập trung vẫn còn phân tán, quá trình tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn…
Vì thế, xuất phát từ thực tiễn trên tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu
hoạt động nuôi Ếch Thái Lan của nông hộ trên địa bàn xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Nội dung, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu chính
• Nội dung nghiên cứu chính:
- Tìm hiểu về tình hình nuôi ếch của nông hộ tai xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Tình hình phát triển nuôi Ếch Thái Lan trên địa bàn xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Tình hình phát triển nuôi Ếch Thái Lan của các nông hộ tại điểm nghiên cứu
Trang 7• Mục tiêu: (1) Tìm hiểu tình hình nuôi Ếch Thái Lan tại xã Phú Hồ, huyện Phú
Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế (2) Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi Ếch Thái Lan tại
xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
• Phương pháp chính:
- Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu:
+ Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thông qua các báo cáo, số liệu thống kê tại xã, huyện về vấn đề liên quan đến đề tài
+ Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Phỏng vấn người am hiểu, phỏng vấn hộ, và quan sát thực địa
- Phương pháp phân tích thống kê, xử lý số liệu: Thông tin định tính sẽ được phân tích, đánh giá và số liệu định lượng sẽ được sử lý bằng phần mềm Microsoft Excel
Kết quả nghiên cứu nổi bật
Thấy được tình hình tình hình nuôi ếch của nông hộ tai xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã và đang đem lại hiệu quả cho người dân Góp phần cải thiện thu nhập, tạo việc làm cho người địa phương
Đánh giá được hiệu quả mà hoạt động đem lại so với tổng thu nhập Thu nhập từ ếch chiếm 37,3% trong tổng thu nhập của nông hộ
Qua quá trình đánh giá hiệu quả cho thấy hoạt động mang lại hiệu quả cao
và được thể hiện qua cả ba mặt: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội
Vì đây là hoạt động mới nên số hộ tham gia vào vẫn còn rất ít Số hộ dân chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sản xuất là chính Số hộ kinh nghiệm trên 5 năm chiếm ưu thế (chiếm 88,24%)
Hoạt động nuôi ếch Thái lan của nông hộ vẫn còn bị ảnh hưởng bởi các yếu
tố như trình độ chuyên môn, hoạt động nuôi Ếch chưa tập trung vẫn còn phân tán, quá trình tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn…
Kết luận
Hoạt động nuôi ếch của nông hộ đã đem lại hiệu quả cao đối với kinh tế và môi trường Hoạt động này giúp giải quyết được việc làm cho bà con lúc nhàn rỗi, góp phần tăng thu nhập, hạn chế sự ô nhiễm chất thải chăn nuôi ra môi trường Tuy nhiên hoạt động vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định cần được
Trang 8khắc phục Để giúp cho người nông dân sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi ngày càng dễ dàng hơn, phát triển tiến bộ và đi lên.
Trang 9PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ếch Thái Lan có vai trò rất quan trọng đối với thế giới và trong nước Ở nước ta tuy các mô hình nuôi Ếch Thái Lan (chủ yếu là mô hình theo hộ gia đình
có quy mô vừa và nhỏ) mới phát triển nhưng đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, góp phần xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn gắn liền với phát triển công nghiệp và dịch vụ Các mô hình nuôi ếch đã phát huy có hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn.Tuy nhiên từ trước đến nay, sản lượng Ếch phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên Mặc dù ở nước ta đã có nhiều mô hình nuôi ếch đồng với phương pháp thủ công dân gian nhưng không phổ biến do tỷ lệ sống thấp, tốn nhiều thời gian, không mang lại hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, việc khai thác ếch ngoài tự nhiên làm ảnh đến môi trường sinh thái, tạo điều kiện cho côn trùng phá hoại mùa màng phát triển và ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp [7]
Trong vài năm gần đây, nước ta đã du nhập, thuần dưỡng và nhân giống ếch Thái Lan (Rana tigerina) với tập tính lớn nhanh và tỷ lệ sống cao hơn thích hợp cho việc nuôi công nghiệp so với ếch đồng Việt Nam (R rugulosa) Tuy nhiên, việc nuôi thương phẩm giống ếch này còn khá mới mẻ đối với người dân nước ta Do đó việc tìm ra mô hình nuôi thích hợp và có hiệu quả kinh tế là rất cần thiết Bên cạnh đó, chúng ta cũng biết ếch có tập tính ăn nhau, dẫn đến sự hao hụt trong quá trình ương, nuôi Do đó cần tìm hiểu điều kiện dẫn đến sự ăn nhau của chúng để khắc phục và tìm ra biện pháp nuôi có hiệu quả hơn
Ở Thừa Thiên Huế, loại hình nuôi Ếch Thái Lan tuy phát triển từ năm 2009 đến nay nhưng những kết quả đạt được đã thể hiện là nhân tố mới trong nông nghiệp và nông thôn, góp phần tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh [3]
Xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế với những lợi thế về diện tích ao hồ, mặt nước và có nhiều diện tích ruộng trũng, từ lâu Phú Hồ - Phú Vang đã được biết đến là một trong những xã trọng điểm sản xuất nông nghiệp của huyện Phú Vang, tỉnh Nghệ An, trong đó có nghề nuôi Ếch Thái Lan thương phẩm Ngoài trồng lúa, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, nghề nuôi Ếch đã góp phần quan trọng giúp nhiều hộ nông dân ở xã cải thiện hoạt động tạo thu
Trang 10nhập Tuy nhiên, do nhiều yếu tố ảnh hưởng khác nhau như: trình độ chuyên môn, hoạt động nuôi Ếch chưa tập trung vẫn còn phân tán, quá trình tiêu thụ còn gặp nhiều khó khăn…
Vì thế, xuất phát từ thực tiễn trên tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu
hoạt động nuôi Ếch Thái Lan của nông hộ trên địa bàn xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu tình hình nuôi Ếch Thái Lan tại xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi Ếch Thái Lan tại xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về ếch thái Lan
Ếch Thái Lan có tên khoa học là Rana rugosa là một loài Ếch trong họ Ranidae, bộ ordo, lớp Amphibia, ngành Choradata, giới Animalia Đây là một loài ếch có giá trị kinh tế được nuôi nhiều để lấy thịt ở Việt Nam.[2]
Ếch là loài lưỡng cư, chu kỳ sống có 3 giai đoạn (nòng nọc, Ếch giống và Ếch trưởng thành) Nguồn nước nuôi Ếch phải sạch, không bị ô nhiễm, độ mặn của nước không quá 5o/oo Ếch Thái Lan,có nguồn gốc từ Thái Lan, độ PH nước đạt khoảng 6,5 - 8,5, nhiệt độ nước thích hợp từ 25 - 32°C Thức ăn cho ếch là mồi sống, di động (như côn trùng, giun, ốc,…) hay mồi tĩnh (như thức ăn công nghiệp hay thức ăn tự chế gồm cám và cá tạp với tỷ lệ 1:1) đều được Mùa sinh sản Ếch thường từ tháng 3 - 7 âm lịch, Ếch 1 tuổi (50 - 60g/con) đã bắt đầu tham gia sinh sản nhưng ếch từ 2 - 3 tuổi sẽ cho thế hệ con tốt hơn, Ếch đẻ từng cặp (1 đực : 1 cái), ếch đẻ 3 - 4 lần/năm, Ếch cái đẻ năm thứ nhất từ 2500 - 3000 trứng, Ếch cái từ 3 - 4 tuổi thì đẻ từ 4000 - 5000 trứng/năm Ếch giống sau khi nuôi được 3 - 4 tháng tuổi Ếch đạt trọng lượng từ 300 -400 g/con [11]
• Đặc điểm hình thái Ếch Thái Lan
Ếch Thái Lan có mình ngắn và không phân tách với đầu Chiều dài thân trung bình từ 7-13cm và nặng 100-300g, Ếch có bốn chân, chân trước có bốn ngón rời, chân sau có năm ngón dính liền nhau và khoẻ Toàn thân Ếch phủ lớp
da trần thường xuyên ẩm ướt, được cấu tạo bởi nhiều lớp, lớp thượng bì có nhiều lớp tế bào và có tuyến nhờn.Lớp hạ bì tiêu giảm và dính với cơ bên dưới.Ếch trao đổi khí trực tiếp qua da là chủ yếu [2]
Mắt Ếch tuy lồi to, có mí mắt nhưng thị lực kém Chi có năm ngón, cơ thể
có những bó cơ riêng biết và khoẻ Sọ có hai khớp nối với đốt sống cổ đầu tiên,
song cử động của đầu vẫn còn hạn chế [2]
• Đặc điểm phân bố
Ếch Thái Lan thường sống trong tự nhiên, nơi sinh sống ở các ao hồ, đầm lầy, kênh rạch Được nuôi theo hộ gia đình và các trang trại ở một số quốc gia trên thế giới như: Ấn Độ, Ai Cập, Singapore… Năm 2001-2002 một số hộ nuôi ở thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Đồng Tháp đã nhập Ếch Thái Lan về nuôi [1]
Trang 12• Đặc điểm dinh dưỡng
Ếch ăn chủ yếu là động vật Chế độ ăn của Ếch phụ thuộc vào tuổi, giai đoạn phát triển và nơi ở Nòng nọc mới nở ra sống bằng chất dinh dưỡng dự trữ
từ noãn hoàng, ba ngày sau khi noãn hoàng tiêu hết chúng bắt đầu ăn động vật phù du như thủy trần, bọ đỏ Nhờ có bón phân vào lúc này động vật phù du mới phát triển mạnh
Khi nòng nọc biến thái thành Ếch con, chúng bắt đầu bắt mồi là các động vật như: Giun, tép, ốc, tôm, cua, cá con, châu chấu, cào cào, Các côn trùng khi bay lại gần, Ếch ngóc đầu lên phóng lưỡi dính lấy con mồi Lúc thiếu thức ăn nòng nọc Ếch cũng ăn lẫn nhau
Ếch trưởng thành có thức ăn chủ yếu là các loại côn trùng di động như là ruồi, muỗi, giun, ốc,
Trong điều kiện nuôi, Ếch có thể ăn các loại cám gạo, bột ngô, bột ngũ cốc trộn với cá, tôm, tép hay thức ăn công nghiệp Khi còn nhỏ Ếch thích ăn cám gạo (có canxi giúp cho xương phát triển) [2]
• Đặc điểm sinh trưởng
Trong điều kiện tự nhiên, Ếch một tuổi con cái nặng 500g, con đực nặng 100g Đối với Ếch nuôi nuôi 3-4 tháng đạt khoảng 200-300g/con [6]
Ếch Thái Lan là loài lưỡng cư, chu kỳ sống có ba giai đoạn: nòng nọc, Ếch giống, Ếch trưởng thành [6]
- Nòng nọc (từ khi nở đến khi mọc đủ bốn chân): khoảng 21-28 ngày, sống hoàn toàn trong môi trường nước [6]
- Ếch giống (2-50g): Thích sống trên cạn gần nơi có nước, ăn thức ăn tự nhiên, ở giai đoạn này Ếch có thể ăn thịt lẫn nhau nếu thiếu thức ăn hoặc thức ăn không
Trang 13Ếch cái: Không có đặc điểm như Ếch đực, đến mùa sinh sản thì Ếch cái bụng to và mềm hơn ếch đực [6]
- Tuổi và kích thước sinh sản: Ếch một tuổi có trọng lượng từ 100-150g/con đã tham gia sinh sản lần đầu, Ếch 2-3 tuổi sẽ cho chất lượng trứng tốt nhất
- Mùa vụ sinh sản: Mùa vụ chính là vào mùa mưa, Ếch có thể đẻ 1-2 lứa trong mùa sinh sản, Ở miền Nam là từ tháng 4-9, miền Bắc là từ tháng 2-7 âm lịch Ếch thường đẻ vào ban đêm sau những cơn mưa rào Nuôi theo mô hình công nghiệp Ếch có thể đẻ 3-4 lần trong năm [6]
- Sức sinh sản: Ếch cái đẻ năm thứ nhất từ 2500-3000 trứng, Ếch 3-4 tuổi đẻ 4000-5000 trứng/ năm Ếch đẻ theo từng cặp 1 đực: 1 cái [6]
- Trứng Ếch thuộc loại trứng dính, có hình tròn, đường kính từ 1-3mm Khi trứng gặp tinh trùng thụ tinh rơi xuống nước trứng sẽ trương to lên dính vào nhau thành màng trứng và nổi lên trên mặt nước Trứng có hai phần rõ rệt trắng và đen, một nữa hình cầu màu đen hướng lên phía trên gọi là cực động vật, một nửa cực màu trắng hướng xuống phía dưới gọi là cực thực vật [6]
2.1.2 Mô tả kỹ thuật sản xuất Ếch giống
• Lựa chọn địa điểm
Việc lựa chọn địa điểm nhằm phát huy cao nhất hiệu quả đầu tư, các tiêu chí cần xem xét gồm: [9]
Nguồn nước phải chủ động, dồi dào, không bị nhiễm các hóa chất nông nghiệp, công nghiệp và các chất thải sinh hoạt
Gần nơi ở của người nuôi để thuận tiện cho công tác quản lý và chăm sóc
Thuận lợi khi đi lại kiểm tra ếch thường xuyên để tránh trộm cắp
Ở vị trí cao tránh ngập lụt vào mùa mưa
Xa đường lộ lớn có nhiều xe cộ qua lại vì tiếng ồn lớn sẽ làm ếch giật mình sợ không dám ăn Tuy nhiên đường sá cần thuận tiện để dễ dàng vận chuyển khi tiêu thụ ếch
Ở gần nơi có nguồn thức ăn tự nhiên và gần nơi thị trường tiêu thụ
• Chọn Ếch bố mẹ tham gia sinh sản [4]
Ếch đực: Có hai màng kêu ở dưới hàm, hai bên hầu gọi là túi âm thanh Bàn chân trước nhám hơn, ngón chân trước có mấu thịt hóa sừng gọi là chai sinh dục, da Ếch màu xám, không trơn bóng như ếch cái.Cùng tuổi Ếch đực nhỏ hơn Ếch cái, Ếch đực càng già màng kêu càng lớn và tiếng kêu càng vang xa hơn.Ếch cái: Không có đặc điểm như Ếch đực, đến mùa sinh sản thì Ếch cái bụng to và mềm hơn Ếch đực Thông thường đến giai đoạn trưởng thành Ếch cái
Trang 14có trọng lượng lớn hơn Ếch đực Đây cũng là một đặc điểm thích nghi cho quá trình giao phối diễn ra dễ dàng Chọn những con không bị dị hình, dị tật, đầy đủ các bộ phận và có sức khỏe tốt.
• Nuôi vỗ Ếch bố mẹ [4]
• Địa điểm nuôi vỗ
Trong quá trình nuôi vỗ cần nuôi Ếch đực riêng và Ếch cái riêng Nuôi vỗ ở trong giai với mật độ như sau:
- Cá tươi cắt thành lát mỏng hoặc để nguyên con, tôm tươi, tép tươi
- Thức ăn công nghiệp dạng viên
Quá trình nuôi vỗ Ếch bố mẹ phải đảm bảo 2 giai đoạn: Giai đoạn nuôi vỗ tích cực và giai đoạn nuôi vỗ thành thục
- Giai đoạn nuôi vỗ tích cực (45-60 ngày): Cho ăn 2 lần/ngày Buổi sáng từ 7-9 giờ và buổi chiều từ 16-17 giờ Lượng thức ăn trong một ngày bằng khoảng 3% trọng lượng thân
- Giai đoạn nuôi vỗ thành thục (20-30 ngày): Giai đoạn này giảm lượng thức ăn xuống (khoảng 1,5-2% trọng lượng thân) Nếu cho ăn nhiều thức ăn Ếch
sẽ tích nhiều mở ảnh hưởng đến quá trình tạo trứng Cho ăn 1 lần/ngày vào buổi chiều khoảng 16-17h
Sau khi nuôi vỗ Ếch cái phải có buồng trứng phát triển tốt, có thể nhìn thấy hai bên hông, bụng phình to ra, noãn sào đã và đang chuyển hóa sang giai đoạn
ba thích hợp cho thụ tinh Trong thời kỳ này, nên để Ếch yên tĩnh nghĩ ngơi, không để tiếng động làm giật mình nhảy phóng làm vỡ buồng trứng
• Cho Ếch đẻ[4]
Trang 15• Vệ sinh bể đẻ
Trước khi ta cho Ếch bố mẹ tham gia sinh sản ta phải tiến hành vệ sinh bể đẻ.Tẩy sạch các vết bẩn trên thành bể, dùng thuốc tím độ khoảng 3mg/l để khử trùng sau đó rửa sạch lại bằng nước
• Tiêm kích dục tố
Kích dục tố được sử dụng gồm LRH-A3 kết hợp với Domperidom
Sử dụng một ống LRH-A3 cộng với 2 viên Domperidom hòa tan trong 15ml nước cất dùng cho 10 cặp ếch bố mẹ
Sau khi cho Ếch bố mẹ vào bể đẻ ta tiến hành tiêm kích dục tố như sau: LRH-A3 cho vào cốc thủy tinh cùng với 2 viên Domperidom đã nghiền nát, sau
đó cho 15ml nước cất vào và khuấy đều Tiêm Ếch cái với liều lượng 1ml/con, Ếch đực với liều bằng một nửa Ếch cái là 0,5ml/con.Tiêm ở mặt dưới cơ đùi sau của Ếch, chỉ tiêm ở dưới da thì mới có hiệu quả cao Sau khi tiêm xong ta thả Ếch đực với Ếch cái vào chung với nhau để cho chúng tiến hành bắt cặp sinh sản
• Lắp dàn phun mưa[4]
Sau khi đã tiêm kích dục tố cho Ếch bố mẹ ta cho Ếch vào bể đẻ Với tập tính của Ếch thường đẻ sau cơn mưa rào nên ta sẽ lắp dàn phun mưa nhân tạo nhằm mục đích kích thích Ếch bố mẹ bắt cặp sinh sản Tạo mưa liên tục trong khoảng 30 phút, lúc này Ếch bắt đầu tiến hành bắt cặp giao phối
• Quá trình giao phối và sinh sản [4]
Ếch đực sẽ tự động bắt cặp và nhảy leo lên mình Ếch cái và dùng hai chân trước ôm bụng Ếch cái Dưới sức ép của đôi chân Ếch đực, trứng Ếch từ trong bụng Ếch cái tiết ra Cùng lúc đó con đực sẽ phóng tinh lên thụ tinh cho trứng Nơi đẻ của Ếch phải thực sự yên tĩnh Sau khi Ếch đẻ xong vớt Ếch đực và Ếch cái ra khỏi bể.Ếch bố mẹ sau khi giao phối và sinh sản chúng ta tiếp tục nuôi vỗ sau đó khoảng 40 ngày có thể cho đẻ lại lứa khác
• Quá trình ấp trứng[4]
Trứng Ếch có hình cầu có đường kính khoảng 1,5-1,8mm Trứng có hai phần rõ rệt: Một nửa hình cầu màu đen luôn hướng lên phía trên được gọi là cực động vật, một nửa hình cầu màu trắng luôn xoay về phía dưới được gọi là cực thực vật Khi ta xoay cực động vật xuống dưới sau một thời gian nó sẽ tự động quay lên lại phía trên thì trứng đó được gọi là trứng tốt, nếu trứng không tự xoay
Trang 16được hoặc trứng có màu trắng ngà thì trứng đó đã bị ung và cần phải loại bỏ Xung quanh trứng có một màng nhầy trong suốt bao bọc, chất nhầy xung quanh trứng còn làm tăng độ hội tụ ánh sáng, nâng nhiệt độ của trứng lên để làm trứng mau nở Khác với ếch đồng, trứng của Ếch Thái Lan ban đầu không nổi lên trên
mà chìm xuống phía dưới đáy, trứng có thể rời rạc hoặc dính thành chùm
Sau khi Ếch mẹ đã tiến hành sinh sản, ta vớt Ếch bố mẹ ra và duy trì mực nước trong bể khoảng 10cm Trong quá trình ương trứng phải luôn giữ nhiệt độ khoảng 25-320C Tiến hành lắp hệ thống sục khí, tạo nguồn Oxy cho sự phát triển của trứng
Trứng Ếch sau khoảng 18-48 giờ sẽ phát triển thành nòng nọc Vớt những trứng bị ung không nở ra để tạo môi trường tốt cho nòng nọc phát triển
2.1.3 Mô tả kỹ thuật nuôi Ếch thương phẩm (trong bể xi măng hay bể lót bạt)
• Xây dựng bể nuôi [6]
Bể nuôi ếch Thái Lan có diện tích trung bình từ 6-10m2, tường cao 1,5m, có lưới đậy để tránh ếch nhảy ra, hạn chế ánh nắng làm tăng nhiệt độ Đồng thời tránh được kẻ thù như: Chó, mèo, chim, cú…
1,2-Đáy bể nên làm hơi nghiên để tiện lợi cho việc thay nước
Mực nước trong bể nuôi 20-25cm nên thường xuyên phun nước tưới cho ếch, nhất là vào khoảng thòi gian trưa nắng
• Chọn giống và mật độ thả nuôi[6]
Ếch Thái Lan cạnh tranh thức ăn rất cao nên dễ phân đàn và ăn thịt lẫn nhau Nên chọn đàn Ếch cùng ngày tuỏi và cùng kích thước khoẻ mạnh, màu sắc tươi sáng, không bị dị tật, không bị xây xát, và thả với mật độ hợp lý là điều hết sức quan trọng quyết định đến năng suất
- Ếch giống cỡ 5-6g/con: thả 150-200con/m2
- Ếch 7-10g/con: thả 100-150con/m2
- Ếch 150g/con: thả 80-100con/m2
- Trước khi thả giống nên tắm cho ếch bằng nước muối 3% trong 15 phút
• Thức ăn và cách cho ăn [6]
Hiện nay thức ăn phổ biến cho Ếch Thái Lan là loại thức ăn công nghiệp dành cho cá giống, cá da trơn, cá rô phi: Có hàm lượng đạm từ 22-40%
Thức ăn được vãi đều khắp tránh cho ăn tập trung một chỗ Ếch giành thức
ăn sẽ cắn nhau
Trang 17Cho Ếch ăn nhiều lần trong ngày
Ếch ăn mạnh vào chiều tối và đêm nên ban ngày cho ăn ít, tập trung thức ăn vào tối và đêm cho Ếch
Ngoài ra cũng cần phải lựa chọn kích cỡ thức ăn và hàm lượng đạm phù hợp với sự phát triển của Ếch
• Chăm sóc và quản lý [6]
Thường xuyên phân thưa và phân cỡ đàn Ếch để tránh con lớn ăn con nhỏ.Hàng ngày theo dõi mọi hoạt động của Ếch: Mức ăn, tốc độ lớn, tình hình bệnh để kịp thời điều trị, xử lý khi có tình huống xảy ra Định kỳ hàng ngày thay nước, vệ sinh bể nuôi Thường xuyên trộn men tiêu hoá và vitamin giúp Ếch tăng trưởng và phòng bệnh đường ruột và phòng trừ các loại bệnh khác
• Thu hoạch và vận chuyển.[6]
Sau khi thả giống được 2,5-3 tháng trọng lượng Ếch đạt 150-300g/con thì
có thể tiến hành thu hoạch bán Ếch thịt
Cho Ếch ngừng ăn 12h trước khi thu hoạch
Tháo cạn nước trong bể rồi dùng vợt xúc hoặc bắt bằng tay
2.2 Khái niệm về nông hộ
Nông hộ là hộ chuyên sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, làm kinh tế tổng hợp và một số hoạt động khác nhằm phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp) có tính chất tự sản xuất, do cá nhân làm chủ hộ tự chịu trách nhiệm toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh
Đặc trưng kinh tế nông hộ ở nước ta là đông về số lượng, sản xuất mang tính tự túc, tự cấp Nông hộ là một đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân công, tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng Về cơ sở pháp lí thì nông hộ hiện vẫn chủ yếu chi phối bởi bộ luật dân sự
Định nghĩa khác về nông hộ, tác giả Frank Ellis định nghĩa nông hộ là các
hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trương và có xu hướng hoạt dộng với mức độ không hoàn hảo” [1]
Ở nước ta, có nhiều có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm nông hộ.Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 19930 cho rằng nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn [1]
Trang 18Theo nghiên cứu gần đây của một số tác giả và theo quan điểm của cá nhân tôi thì khái niệm về nông hộ là: Là những hộ gia đình sinh sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính làm nông nghiệp, nguồn thu và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông Ngoài nông nghiệp các hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp khác ở các mức độ khác nhau.
2.2.1 Hình thức chăn nuôi hộ gia đình
Theo Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng
ký kinh doanh thì hộ kinh doanh cá thể là do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh [10]
Theo Hồ Lê Phi Khanh (2012): “Hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh bao gồm nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết thống, sống chung một mái nhà, chung một nguồn thu nhập (hoạt động sinh hoạt và sản xuất kinh doanh), không có sự tách biệt về mặt tài sản” [5]
Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích là sản xuất hàng hóa để bán) Tuy nhiên cần có sự chú ý ở đây là các hộ gia đình có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế [12]
Riêng đối với nghiên cứu này, để thuận lợi cho nghiên cứu tôi tạm đưa ra khái niệm hình thức chăn nuôi hộ gia đình là hình thức kinh tế nông hộ các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình, mục đích sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (có thể trao đổi nhưng hạn chế)
2.3 Hiệu quả kinh tế và phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù đặc biệt quan trọng, nó thể hiện kết quả sản xuất trong mỗi đơn vị chi phí gồm các ngành sản xuất.Về mặt hình thức, HQKT là 1 đại lượng so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra [8]
Để đánh giá HQKT chúng ta phải đứng trên quan điểm toàn diện, phải biểu hiện trên các góc độ khác nhau và có quan hệ chặt chẽ với nhau theo không gian – thời gian – số lượng – chất lượng
Về mặt không gian: Khi xét HQKT không nên xét một mặt, một lĩnh vực
mà xét trong mối quan hệ hữu cơ hợp lý trong tổng thể chung
Về mặt thời gian: Sự toàn diện của HQKT đạt được không chỉ xét ở từng
Trang 19giai đoạn mà phải xét trong toàn bộ chu kì sản xuất.
Về mặt số lượng: HQKT phải thể hiện mối tương quan thu, chi theo hướng giảm đi hoặc tăng thêm
Về mặt chất lượng: HQKT phải bảo đảm sự cân đối hợp lý giữa các mặt kinh tế, chính trị, xã hội
HQKT trong nông nghiệp: HQKT trong nông nghiệp là tổng hợp các hao phí về lao động và lao động vật hóa để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp Nó thể hiện bằng cách so sánh kết quả sản xuất đạt được với khối lượng chi phí lao động và chi phí vật chất bỏ ra Khi xác định HQKT trong sản xuất nông nghiệp phải tính đến việc sử dụng đất đai, các nguồn dự trữ vật chấtlao động trong nông nghiệp Các tiềm năng này bao gồm vốn sản xuất, vốn lao động và đất đai
HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động kinh tế,
là thước đo, cơ sở động lực của hoạt động sản xuất Nó phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên và các phương thức quản lí Nâng cao chất lượng của hoạt động kinh tế, tăng cường sử dụng các nguồn lực có sẵn trong hoạt động sản xuất là yêu cầu khách quan của mọi ngành sản xuất xã hội
do nhu cầu vật chất cuộc sống của con người ngày càng tăng
Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
HQKT được đo lường bằng sự so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Vì vậy để xác định HQKT cần chú ý đến các nguyên tắc sau:
• Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả, theo nguyên tắc này tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sở mục tiêu
Phân tích hiệu quả gồm một phương án luận dựa trên phân tích mục tiêu Phương án có hiệu quả cao nhất khi nó đóng góp nhiều nhất cho việc thực hiện các mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất
Các chỉ tiêu về HQKT lựa chọn để nghiên cứu dưới một số dạng sau: [8]
• Tổng giá trị sản xuất (GO): tổng giá trị sản xuất là giá trị tính bằng tiền của toàn
bộ các sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra của quốc gia hay ở 1 vùng 1 địa phương cụ thể trong một thời gian nào đó Tổng giá trị sản xuất được thể hiện bằng công thức: GO = ∑ Qi x Pi
Trong đó: Qi là khối lượng sản phẩm loại i
Pi là giá cả sản phẩm loại i
• Chi phí trung gian (IC): Chi phí trung gian là toàn bộ các khoản chi phí vật chất
Trang 20thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình SXNN Chi phí trung gian được thể hiện bằng công thức:IC = ∑ Cj x Gj
Trong đó: Cj là số lượng đầu tư của đầu vào thứ j
Gj là đơn giá đầu vào thứ j
Khác với các ngành sản xuất phi nông nghiệp, việc tính toán giá thành sản xuất trong nông nghiệp là vấn đề rất khó khăn do việc tính toán chi phí về lao động, đặc biệt là trong kinh tế hộ gia đình Giá thành sản xuất chỉ có thể tính toán chính xác ở các cơ sở sản xuất mà đơn giá tiền công đã được xác định Vì vậy, ngoài chỉ tiêu giá thành sản xuất, người ta thường dùng chỉ tiêu chi phí trung gian thay cho chỉ tiêu giá thành
• Giá trị tăng thêm (VA): Giá trị tăng thêm là phần giá trị gia tăng của một quá trình SXNN VA được thể hiện bằng công thức: VA = GO – IC
• Lợi nhuận (Pr) : Là sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, phản ánh kết quả kinh tế của mọi hoạt động SXKD của đơn vị kinh tế để tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD
Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Pr = GO - TC
• Lợi nhuận/ chi phí(Pr/IC): Phản ánh hiệu quả lợi nhuận đạt được trên một đồng chi phí Cứ một đồng chi phí để đầu tư sản xuất sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một chu kỳ sản xuất.Khi lợi nhuận lớn hơn chi phí rất nhiều thì chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao Đây là điều
mà mỗi đơn vị kinh tế đều mong muốn đạt được
Trong SXNN, việc tính toán lợi nhuận sản xuất là vấn đề hết sức khó khăn
do việc xác định đơn giá tiền công lao động rất phức tạp Lợi nhuận sản xuất trong nông nghiệp chỉ có thể tính toán tương đối dễ dàng trong các doanh nghiệp nông nghiệp, nơi mà đơn giá tiền công đã được xác định còn trong kinh tế hộ gia đình và một số hình thức tổ chức sản xuất khác thì không có đơn giá ngày công thống nhất, mặt khác do nhiều điều kiện khác nhau nên người nông dân phải sản xuất theo kiểu “lấy công làm lãi” Do vậy, ngày nay người ta thường tính chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp để đánh giá kết quả sản xuất thay cho chỉ tiêu lợi nhuận
Ý nghĩa của việc xác định hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
Việc xác định hiệu quả kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp nhận biết được mức hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
Là căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuất nông nghiệp Nếu hiệu quả kinh tế còn thấp thì có thể tăng sản lượng nông
Trang 21nghiệp bằng các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, ngược lại nếu đạt được hiệu quả kinh tế cao thì tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ
2.4 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được xem là sự tác động của mô hình tới môi trường như thế nào, liệu mô hình có thích ứng được với môi trường hay không? Khi nói tới hiệu quả môi trường cũng cần xem xét liệu mô hình đó có gây tác động gì đến môi trường và những ảnh hưởng của nó đến môi trường như thế nào? Để thấy được hiệu quả môi trường của mô hình chúng ta cần đánh giá được các chỉ
số sau: Mô hình có gây ô nhiễm cho môi trường hay không? Mức độ cải tạo và nâng cao độ phì của đất cao hay thấp; khả năng bền vững như thế nào? Kĩ thuật
có được sử dụng lâu dài hay không trong điều kiện biến động của thị trường và
sự ra đời của các kĩ thật mới Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do hoạt động sản xuất gây ra như: Xói mòn, ô nhiễm đất, không khí, bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Tuy nhiên, việc xác định hiệu quả môi trường là tương đối khó và là vấn đề cần quan tâm không chỉ trong ngành chăn nuôi mà hầu hết các hoạt động sản xuất
2.5 Hiệu quả xã hội
Một chỉ tiêu nữa mà hoạt động sản xuất cần đạt tới là hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu
xã hội nhất định Các mục tiêu xã hội thường thấy là giải quyết việc làm, giảm
số người thất nghiệp; nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động ; nâng cao mức sống cho các tầng lớp dân cư trên cơ sỡ giải quyết tốt các quan hệ trong phân phối, đảm bảo và nâng cao sức khỏe; đảm bảo vệ sinh môi trường;
Hiệu quả kinh tế xã hội là mối tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt được cả về mặt kinh tế và xã hội Mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh
tế là phát triển xã hội, vì thế hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau Do đó nên khi nói đến hiệu quả kinh tế chúng ta cần hiểu trên quan điểm kinh tế- xã hội
2.6 Tình hình nuôi Ếch trên thế giới và Việt Nam
2.6.1 Tình hình nuôi Ếch Thái Lan trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 2000 loài Ếch, chia đều ra khắp các châu lục, tuy nhiên không phải loài nào cũng làm thực phẩm để nuôi sống con người
Có nhiều loài Ếch cực độc do chất độc tiết ra từ da của chúng, do những độc tố
Trang 22tiềm ẩn trong nội tạng của chúng.
Ở các nước Âu-Mỹ, nhu cầu nhập Ếch sống và đùi Ếch cứ tăng dần qua các năm (năm sau tăng hơn năm trước lên đến 15%), Ai Cập là một trong những nước xuất khẩu thịt Ếch vào các thị trường rộng lớn này Nhờ có khí hậu thuận lợi nên việc nuôi Ếch ở Ai Cập có khả năng cung cấp mặt hàng này quanh năm cho thị trường tiêu thụ trên thế giới [13]
Bên cạnh Ai Cập phải nói đến Ấn Độ, mỗi năm cũng xuất khẩu gần 4000 tấn đùi Ếch Tại Ấn Độ có nhiều cơ sở nuôi Ếch công nghiệp quy mô rộng lớn, trại nuôi Ếch rộng cả ngàn ha [13]
Brazil hàng năm cũng xuất khẩu được 500 tấn thịt Ếch Còn Nhật Bản hàng năm cũng xuất khẩu được 600 tấn thịt Ếch đóng hộp.[13]
Ở các nước như Cuba, Nam Tư, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan Là các nước đã và đang không ngừng lớn mạnh phát triển thêm nhiều trang trại nuôi Ếch công nghiệp với quy mô lớn và đang có nhiều thị trường tiêu thụ ở khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu
Tại Thái Lan từ những năm 1995-1998, họ đã du nhập giống Ếch bò Bắc
Mỹ về nuôi đạt kết quả tốt Từ năm 2000, ở Thái Lan tạo dòng Ếch mới nuôi để lấy thịt có hiệu quả kinh tế cao, dòng Ếch này được lai tạo từ dòng Ếch bò Bắc
Mỹ với giống Ếch đồng địa phương Từ những ưu điểm của 2 giống Ếch này, các trại sản xuất giống Ếch Thái Lan đã cho phối giống lai tạo được dòng mới gọi là Ếch Thái Lan, có thịt trắng, xương mềm và dễ nuôi Nhiều cơ sở nuôi Ếch công nghiệp ở nhiều nước trong khu vực trong đó có Việt Nam, cũng nhập giống của họ về nuôi [8]
2.6.2 Tình hình nuôi Ếch Thái Lan ở Việt Nam
Những năm qua Ếch đồng được xem là một loại thủy sản nội địa có giá trị kinh tế cao ở đồng bằng sông Cửu Long và cả ở nước ta Vì vậy việc khai thác loài Ếch bản địa đã làm nguồn lợi Ếch ngày càng suy giảm và cạn kiệt, nên việc nghiên cứu quy trình từ sinh sản nhân tạo đến nuôi Ếch thương phẩm đến thay thế nguồn Ếch bản địa ngoài tự nhiên là rất cần thiết và cấp bách
Trước đây, Việt Nam đã du nhập nhiều loài Ếch khác nhau từ nhiều nguồn khác nhau như Cuba, Mexico, Brazil Nhưng khả năng thích nghi của các loài này kém nên không phát triển rộng rãi ở nước ta Đây là nguyên nhân khiến loài Ếch đồng Việt Nam vẫn bị khai thác mạnh mẽ Nhưng cho đến năm 2003-2004 Việt Nam đã du nhập một giống Ếch mới từ Thái Lan về Theo ý kiến của ông
Trang 23Lê Thanh Hùng và Ban Giám Đốc trung tâm nghiên cứu sản xuất giống thủy sản
An Giang cho biết: Loài Ếch Thái Lan này là loài Ếch thích hợp để đưa vào quy trình sản xuất hàng loạt ở An Giang nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung bởi đặc điểm sinh trưởng và phát triển của Ếch Thái Lan là rất phù hợp với điều kiện môi trường ở đây, đặc biệt là điều kiện nuôi giữ và ăn mồi tĩnh như
là thức ăn viên hay là thức ăn tự chế [7]
Xuất phát từ những nhu cầu ngày càng lớn của thị trường tiêu thụ Ếch thương phẩm và sự thích nghi của loài Ếch Thái Lan này, sở khoa học và công nghệ An Giang đã tiếp nhận chuyển giao quy trình sinh sản nhân tạo Ếch Thái Lan từ Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh cho đơn vị tiếp nhận là Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản An Giang Cho đến năm 2009, Trung tâm đã triển khai 5 đợt bố trí thí nghiệm sinh sản nhân tạo và sản xuất giống Ếch Thái Lan thành công và ổn định quy trình với 147 cặp Ếch
bố mẹ tham gia sinh sản và kết quả đạt được như sau: Tỷ lệ sinh sản, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống trung bình qua các đợt thí nghiệm lần lượt là 90%, 80%, 75%, 70% Kết quả trên cho thấy chỉ có tỷ lệ sinh sản và tỷ lệ sống là đạt các chỉ tiêu kỹ thuật theo hợp đồng chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo và sản xuất giống Ếch Thái Lan [13]
Trước những kết quả đáng khích lệ trên là nguồn động lực để Sở Khoa Học
và Công Nghệ kết hợp với Trung Tâm nghiên cứu sản xuất giống thủy sản tiếp tục thực hiện những mô hình khảo nghiệm nuôi thương phẩm Ếch Thái Lan ở một số điểm trình diễn trong địa bàn tỉnh An Giang, với 3 mô hình nuôi như: Nuôi trong ao đất, nuôi trong bể xi - măng và nuôi trong giai và đăng quầng, nhằm chọn ra mô hình nuôi thâm canh Ếch thương phẩm đạt hiệu quả nhất, để
từ đó có thể nhân rộng mô hình sản xuất đại trà ở các hộ nông dân, giúp nông dân có thêm thu nhập từ giống ếch Thái Lan này [13]
Năm 2005 đã đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của phong trào nuôi Ếch Thái Lan ở nhiều tỉnh, thành Nếu năm 2004 tại TP.HCM chỉ lác đác một số hộ nuôi loại Ếch này mang tính thử nghiệm, thì đến năm 2005 qua thống kê sơ bộ
có đến 300 hộ nuôi loại Ếch này với các quy mô khác nhau Các nhà chuyên môn của Trung tâm Nghiên cứu khoa học kỹ thuật và khuyến nông TP.HCM nhận định: Đây là tốc độ phát triển rất nhanh đối với vật nuôi còn rất mới Không những thế, phong trào nuôi Ếch Thái Lan nhanh chóng lan rộng ra nhiều tỉnh, thành trong cả nước và đồng bằng sông Cửu Long là một trong những nơi
có số lượng nuôi lớn nhất [14]
Những năm gần đây ở Hà Tĩnh có một số công ty trong quá trình giao lưu thương mại với các nước Thái Lan, Malaysia Đã học hỏi thêm được nhiều kinh
Trang 24nghiệm nuôi Ếch Sự đam mê học hỏi, ứng dụng đã thúc đẩy họ tổ chức trang trại thực hiện sản xuất trên quê hương mình [15]
Từ những tài liệu ban đầu, kinh nghiệm của bạn bè và quan trọng hơn là những ứng dụng sáng tạo vào thực tiễn sản xuất, trang trại của công ty Lý - Thanh - Sắc đã có bước đầu thành công trong việc nuôi đặc sản Ếch và Baba Đặc biệt trang trại đã có kết quả tốt trong việc sản xuất giống đảm bảo chất lượng, vừa để nuôi vừa để kinh doanh phục vụ giống cho nhân dân trong và ngoài tỉnh Trang trại của hợp tác xã Đồng Tâm ở Thạch Trị - Thạch Hà đã thành công trong việc nuôi Ếch thịt và sản xuất được giống nhân tạo Trung tâm Khuyến Ngư tỉnh Hà Tĩnh và Phòng thủy sản của các huyện đã tổ chức tập huấn hướng dẫn kỹ thuật rộng rãi, nhằm khuyến khích các hộ gia đình phát triển nuôi Ếch Thái Lan hàng hóa [15]
2.6.3 Tình hình nuôi Ếch Thái Lan ở Thừa Thiên Huế
Tại Thừa Thiên Huế nghề nuôi Ếch Thái Lan cũng đang phát triển mạnh
mẽ Vào năm 2009, trại nuôi Ếch giống của anh Nguyễn Văn Ty tại thôn Phước Hưng, xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc trại giống của anh sản xuất được 100.000 giống/năm Trại giống của ông Đinh Như Trực ở thôn Di Tây, xã Phú Hồ, huyện Phú Vang hiện đang lưu giữ hơn 100 cặp Ếch bố mẹ Trại giống của ông cung cấp hàng nghìn Ếch giống cho các hộ nuôi thương phẩm trong và ngoài tỉnh, cung cấp hơn 5 tấn Ếch thịt mỗi năm đem lại thu nhập khoảng 100 triệu đồng/năm, Ếch giống của ông được nhiều hộ nuôi ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng tìm mua.[16]
Trại giống của anh Đặng Duy Minh ở xã Hương Phong, huyện Hương Trà mới phát triển hiện có hơn 35 cặp Ếch bố mẹ và 5000 Ếch thương phẩm Theo
kế hoạch thì số lượng Ếch bố mẹ cho sinh sản chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường Cũng trên địa bàn xã Hương Phong còn có một số hộ gia đình nuôi Ếch Thái Lan là ông Trương Dũng, ông Ngô Nghịch, ông Lê Viết Giáp, ông Trần Đức Tín đang phát triển nuôi Ếch thương phẩm và cho sinh sản nhân tạo giống Ếch này [16]
2.2.1.4 Tình hình nuôi ếch ở xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tại xã Phú Hồ nghề nuôi Ếch Thái Lan cũng đã phát triển mạnh mẽ từ năm
2005, tại hộ gia đình ông Đinh Như Trực ở thôn Di Tây được hỗ trợ mười cặp Ếch giống bố mẹ và được trung tâm Khuyến Nông huyện hướng dẫn thực hiện
kỹ thuật, sau một năm ông đã chủ động được tình hình và hoàn toàn chủ động sản xuất được nguồn giống Đến năm 2008 việc sản xuất Ếch giống được nhân
Trang 25rộng cho các hộ nông dân khác Ngoài việc sản xuất Ếch giống thì hộ gia đình ông còn nuôi Ếch thương phẩm khoảng 2500 đến 3000 con mỗi năm Nhiều hộ nông dân nhận thấy được lợi ích từ mô hình nên đã học tập và làm theo tính đến nay trên địa bàn toàn xã có trên 17 hộ nông dân tham gia vào hoạt động.[2]
Trang 26PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu tập trung vào các hộ nuôi Ếch Thái Lan ở xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Có hai loại hình nuôi Ếch Thái Lan được xem xét đó là nuôi Ếch trong ao đất, nuôi trong bể xi măng Thực tế hai loại hình nuôi này không khác nhau về
cơ cấu con nuôi nhưng khác nhau về qui mô từng loại vật nuôi, hình thức và cách thức nuôi
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi Ếch Thái Lan thuộc địa bàn xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Phạm vi không gian: Hoạt động nuôi Ếch Thái Lan tại xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những xã có số hộ nuôi Ếch lớn trên địa bàn huyện Có điều kiện tự nhiên thuận lợi, diện tích vùng ao hồ và đất nuôi trồng thuỷ sản lớn có khả năng mở rộng quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung lớn của huyện Đặc biệt xã có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu khoa học
kỹ thuật, cũng như lưu thông hàng hóa
- Phạm vi về thời gian: Số liệu thu thập trong đề tài để đánh giá hiệu quả kinh tế trong năm 2015, số liệu tổng quan thứ cấp từ năm 2013-2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Tìm hiểu về tình hình nuôi ếch của nông hộ tai xã Phú Hồ, huyện Phú Vang,tỉnh Thừa Thiên Huế
• Tổng quan điểm nghiên cứu
• Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
- Đặc điểm địa hình và khí hậu Đặc điểm địa hình và khí hậu
- Tài nguyên đất
• Điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân số, lao động và phân loại hộ tại điểm nghiên cứu
- Đặc điểm hoạt động sản xuất của vùng nghiên cứu
Trang 273.3.2 Tình hình phát triển nuôi Ếch Thái Lan trên địa bàn xã Phú Hồ, huyện
Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Quá trình phát triển nuôi Ếch Thái Lan trên địa bàn xã Phú Hồ
- Các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án nuôi Ếch Thái Lan tại xã Phú Hồ
- Đặc tính kỹ thuật của hoạt động nuôi Ếch
- Tình hình phát triển nuôi nuôi Ếch Thái Lan của các nông hộ tại xã Phú Hồ
+ Đặc điểm của hộ nuôi nuôi Ếch Thái Lan
+ Tuổi của chủ hộ
+ Nghề nghiệp và sử dụng lao động
+ Trình độ văn hóa
+ Tình sử dụng đất của nông hộ
+ Cơ cấu thu nhập của nông hộ nuôi Ếch Thái Lan tại điểm nghiên cứu
3.3.3 Tình hình phát triển nuôi Ếch Thái Lan của các nông hộ tại điểm
nghiên cứu
- Quy mô, số lượng diện tích hồ và lồng nuôi Ếch Thái Lan của các nông hộ
- Kinh nghiệm và kiến thức nuôi Ếch Thái Lan của chủ hộ
- Tình hình đầu tư nuôi Ếch Thái Lan của các nông hộ tại điểm nghiên cứu
- Đầu tư về dụng cụ, trang thiết bị nuôi Ếch Thái Lan của các nông hộ
- Chi phí trực tiếp nuôi Ếch Thái Lan của các nông hộ
- Chi phí trực tiếp nuôi Ếch Thái Lan thương phẩm của các nông hộ
- Chi phí trực tiếp nuôi Ếch Thái Lan Ếch Thái Lan sinh sản của các nông hộ
- Quy mô số lượng và giá trị sản xuất của các nông hộ
- Quy mô số lượng và giá trị sản xuất Ếch thương phẩm của các nông hộ
- Quy mô số lượng và giá trị sản xuất Ếch sinh sản của các nông hộ
- Kết quả và hiệu quả kinh tế từ hoạt động nuôi Ếch Thái Lan của các nông hộ
- Kết quả và hiệu quả kinh tế từ hoạt động nuôi Ếch Thái Lan thương phẩm của các nông hộ
- Kết quả và hiệu quả kinh tế từ hoạt động nuôi ếch Thái Lan sinh sản của các nông hộ
Trang 283.3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi ếch ở xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Yếu tố khách quan
- Yếu tố chủ quan
+ Điều kiện thuận lợi phát triển hoạt động
+ Điều kiện về con người
+ Điều kiện vê tự nhiên
3.4 Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1 Phương pháp chọn điểm
Điểm được chọn là xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế
− Là xã có hoạt động nuôi Ếch Thái Lan phát triển mạnh mang lại hiệu quả kinh tế cao
− Là xã điển hình trong hoạt động chăn nuôi và phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi Ếch Thái Lan
− Là một xã có nhiều hộ dân tham gia nuôi Ếch Thái Lan, hoạt động nuôi Ếch cũng đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực cho bà con nông dân ở đây
+ Số lượng nghiên cứu: 17 hộ mang tính đại diện
− Cách chọn hộ: chọn những hộ nuôi Ếch Thái Lan không lặp lại
Dựa theo danh sách các hộ dân nuôi Ếch Thái Lan trong xã
Chọn những hộ có nuôi Ếch trong địa bàn xã
3.4.3 Phương pháp tiếp cận
Áp dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia của các cấp lãnh đạo địa phương và đánh giá của người dân trong quá trình thu thập số liệu và phân tích kết quả
3.4.5 Phương pháp thu thập thông tin
• Thu thập thông tin thứ cấp
− Báo cáo kinh tế - xã hội của xã Phú Hồ qua các năm từ 2006-2010
− Báo cáo kinh tế-xã hội của xã Phú Hồ qua các năm từ 2010-2015
− Các chỉ thị, nghị quyết của HĐND xã Phú Hồ về việc phát triển kinh tế-xã hội
Trang 29− Các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo báo cáo của các ngành, các cấp.
• Thu thập thông tin sơ cấp
− Phương pháp phỏng vấn trực tiếp hộ dân theo phiếu điều tra đã chuẩn bị sẵn
+ Số lượng người phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn 17 hộ dân (đã chọn được theo tiêu chí ở trên)
+ Nội dung phỏng vấn: tìm hiểu về hoạt động nuôi Ếch Thái Lan của hộ dân
− Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn người am hiểu về tình hình nuôi Ếch của nông hộ ở xã Tìm hiểu về hiệu quả của hoạt động mang lại và những khó khăn rủi ro
− Số lượng người phỏng vấn cụ thể như sau
• Phỏng vấn chủ tịch xã để nắm rõ tình hình tại địa phương
• Phỏng vấn cán bộ phụ trách mảng kinh tế - xã hội của xã
• Phỏng vấn chủ tịch hội nông dân để tìm hiểu về tình nuôi Ếch Thái Lan tại địa phương
• Phỏng vấn trưởng thôn ở những thôn có số hộ nuôi nhất Ếch Thái Lan nhiều nhất trong xã
• Phỏng vấn người có nhiều kinh nghiệm nhất trong hoạt động nuôi Ếch tại địa phương
Từ những số liệu thu thập được thông qua quá trình phỏng vấn hộ dân, phỏng vấn người am hiểu tiến hành đưa vào phân tích (định tính, định lượng), đánh giá và xử lý các số liệu để đưa ra các chỉ tiêu nghiên cứu trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hợp lý cho đề tài nghiên cứu
3.4.6 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu
− Tổng hợp thông tin, dữ liệu: Tất cả các số liệu điều tra được mã hóa, nhập và xử
lí thống kê bằng các phép tính trên phần mềm Excel, SPSS
− Phương pháp phân tích: Nghiên cứu sử dụng 2 phương pháp là phân tích định tính và phân tích định lượng
− Tiến hành phân tích, so sánh,đối chứng để thấy được sự khác nhau hiệu quả kinh
tế giữa nuôi Ếch và trồng lúa về cả 3 mặt kinh tế,xã hội, môi trường, để từ đó tìm ra sự cần thiết và hiệu quả của việc áp dụng mô hình này vào trong hoạt động sản xuất của nông bước đầu đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi trồng
và mở rộng quy mô áp dụng hoạt động trên địa bàn nhằm đem lại hiệu quả kinh
tế cao cho các hộ dân ở địa phương, mang lại thu nhập
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tổng quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 304.1.1.1 Vị trí địa lý
Phú Hồ là xã đồng bằng nằm về phía tây của huyện Phú Vang, có tổng diện tích tự nhiên là 961,31ha Cách thành phố 10 km về phía Tây là một xã gồm nhiều thôn được hình thành trong quá trình xây dựng quê hương đất nước Trên địa bàn có 8 thông gồm: Di Đông, Di Tây, Trung An, Trung Chánh, Sư Lỗ Thượng, Sư Lỗ Đông, Nam Dương, Trung Đỗ
Với vị trí địa lý như sau:
- Phía Nam giáp xã Phú Lương thị xã Hương Thuỷ và xã Thuỷ Châu
- Phía Bắc giáp với xã Phú Xuân và Phú Mỹ
- Phía Tây giáp với thị xã Hương Thuỷ và xã Thuỷ Thanh
- Phía Đông giáp với xã Phú Lương và xã phú Xuân
Là địa bàn có lợi thế trong giao thông, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm tiếp thu tiến bộ tạo điều kiện thuận lợi trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi với các xã lân cận
Bản đồ xã Phú Hồ
(Nguồn: google map)
Trang 314.1.1.2 Đặc điểm địa hình và khí hậu
Xã Phú Hồ, huyện Phú Vang có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng Nhìn chung đặc điểm của xã Phú Hồ mang đặc điểm của vùng canh tác lúa nước
và hoa màu, hàng năm thường bị ngập úng vào mùa mưa, ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng Đường giao thông nông thôn đi lại khó khăn vào mùa mưa.Đây là một trong những cản trở không nhỏ đến việc
tổ chức sản xuất và sinh sống của nhân dân trong xã
Địa hình của xã Phú Hồ mang đặc điểm chung của vùng canh tác lúa nước
và hoa màu, hàng năm thường xuyên bị ngập úng vào mùa mưa, ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông nông thôn đi lại khó khăn vào mùa mưa
Điều kiện khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng trong phát triển nông nghiệp nói chung và trong hoạt động nuôi Ếch nói riêng Phú Hồ nằm trong vùng đồng bằng ven biển miền Trung nên khí hậu thời tiết gặp nhiều bất lợi, khí hậu trong năm phân thành 2 mùa rõ rệt Mùa khô bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau Lượng mưa hang năm lớn, trung bình khoảng 3000mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm tập trung nhiều vào các tháng 9, 10, 11 và 12 chiếm 70-80% lượng mưa của cả năm, gây úng lụt ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, cây trồng, nuôi trồng thuỷ sản cũng như đời sống của người dân Mùa nắng thì gió Tây – Nam khô nóng oi bức bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8 làm cho lượng bốc hơi nước lớn dẫn đến độ mặn trong các ao hồ cao, đêù này làm ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của bà con nông dân Với khí hậu nóng ẩm thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của hoạt động nuôi Ếch, nhưng đồng thời cũng thuận lợi cho mầm móng các loại bệnh gây hại phát triển Vì vậy, người sản xuất phải nắm chắc khí hậu, thời tiết là điều kiện để đưa ra những hướng sản xuất trong nông nghiệp hợp lý
Từ đó bố trí và dự trữ nguồn thức ăn hợp lý, đảm bảo nguồn thức ăn cho chăn nuôi Đồng thời có biện pháp đề phòng dịch bệnh, che chắn gia cố ao nuôi, lồng nuôi nhằm bảo vệ khỏi các yếu tố bất lợi của thời tiết một cách hợp lý
Trang 32Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất đai ở xã Phú hồ năm 2015
Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
và chăn nuôi Đây cũng làtrong một nhữnglợi thế xã có thể phát triển mạnh ngành chăn nuôi, tăng thu nhập và góp phần vào xoá đói giảm nghèo
Diện tích nông nghiệp của xã Phú Hồ chiếm tỷ lệ lớn nhất, thành phần cơ giới gồm: đất chuyển đổi do trồng lúa, đất cát pha và đất phù sa và đất khác (đất sông, suối…)
Mặt khác do điều kiện địa hình ở đồng bằng có nhiều ao hồ và đặc biệt là nằm bên con sông Như Ý là điều kiện để phát triển các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản đặc biệt là các hoạt động sản xuất mới như nuôi ếch Tuy nhiên do gần sông nên hằng năm thường xảy ra ngập úng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của bà con nông dân Do vậy để sử dụng có hiệu quả nguồn lực tự nhiên hiện có cần quan tâm tới công tác thuỷ lợi và giải quyết lũ lụt, cần có các biện pháp cải tạo đất cát
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Dân số, lao động và phân loại hộ tại điểm nghiên cứu
Lao động là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất Vai trò này càng được thể hiện rõ hơn trong sản xuất nông nghiệp, khi mà trình
độ cơ giới hóa còn chưa theo kịp đòi hỏi của thực tế sản xuất Dân số và lao
Trang 33động của xã cũng có nhiều điểm chung với các xã lân cận khác.
Phú Hồ là xã có nguồn lao động dồi dào với tổng số hộ trên xã luôn ở mức cao và tăng nhẹ qua các năm Cho thấy tốc độ phát triển kinh tế của xã cũng từ
đó có bước chuyển biến Để thấy rõ đặc điểm nhân khẩu, lao động và phân loại
- Bình quân lao động/hộ Lao đồng/hộ 2,06
(Nguồn: UBND Phú Hồ, 2015)
Xã Phú Hồ có 1225 hộ với 4932 nhân khẩu và lực lượng lao động của xã khá cao có đến 2527 lao động Như vậy số người trong độ tuổi lao động của xã cao hơn số người ngoài độ tuổi lao động và trẻ em chưa đến tuỏi lao động So với mặt bằng chung thì xã có số lao động lớn Tuy nhiên qua điều tra được biết
tỷ lệ công nghiệp, thủ công nghiệp và qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất nhỏ, phần lớn
là lao động chưa qua đào tạo và lao động nông nghiệp là chủ yếu Lao động có tay nghề còn thấp
4.1.2.1 Điều kiện về cơ sở vật chất hạ tầng
Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp chính quyền và các ban ngành, hệ thống cơ sở hạ tầng của xã Phú Hồ có sự chuyển biến đáng kể so với trước, phần nào đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân
Giao thông
Hệ thống giao thông nông thôn trên địa bàn xã khá phát triển và được phân
bố khá hợp lý Trong đó:
- Đường tỉnh lộ 10A có chiều dài 700m
- Đường tỉnh lộ 3 có chiều dài 4km
- Các tuyến đường giao thông liên thôn, liên xã có chiều dài hơn 20km
Thủy lợi
Trang 34Thủy lợi là yếu tố vô cùng quan trọng trong phát triển nông nghiệp Nhìn chung mạng lưới thủy lợi của xã tương đối hoàn chỉnh, chất lượng phục vụ khá tốt, kênh mương đã được cải tạo và kiên cố hóa đảm bảo cho việc cung cấp nguồn nước phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
- Số trạm bơm 4 cái
- Có 15,6 km kênh mương, trong đó đã kiên cố hoá được 9,66 km đạt 61,92%
4.1.2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất của vùng nghiên cứu
Phú Hồ là một xã thuần nông độc canh cây lúa với tổng diện tích gieo trồng
cả năm, 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu là 1028,4ha đạt kế hoạch 100%, cơ cấu giống lúa xá nhận đạt 98% diện tích gieo trồng, nhờ gieo sạ đúng kế hoạch, lịch thời vụ, chủ động làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh nên năng suất bình quân
là 66 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm 2014 Các loại cây trồng khác như: rau màu các loại năng suất và sản lượng đều đạt và vượt kế hoạch
• Về chăn nuôi gia súc, gia cầm:
Toàn xã có 1 mô hình trang trại nuôi bò và 10 gia trại tổng hợp, trong đó tổng đàn trâu, bò 418 con, tăng 104 con so với cùng kỳ năm 2014; trong đó: Trâu 280 con, Bò có 138 con; tổng đàn lợn có hơn 2.825 con, trong đó lơn nái:
550 con, tăng 235 con; tổng đàn gia cầm 56.533 con, giảm 12.140 con, trong đó vịt đàn 25.988 con; gà 16.525 con; đàn Ếch 230.000 con, trong đó: Ếch đẻ: 1.200 con; ở địa phương luôn đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc gia cầm bảo đảm theo kế hoạch chỉ đạo của huyện Nhìn chung khâu chăn nuôi gia súc, gia cầm ngày càng phát triển, hiện nay mô hình nuôi thỏ và chim bồ câu pháp tại Thôn Di Đông đang được phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế khá cao
Trang 35Bảng 4.3 Cơ cấu vật nuôi trên địa bàn xã năm 2015
(Nguồn: Báo cáo tổng kết kinh tế của xã Phú Hồ năm 2015)
Hội nông dân xã đến nay đã đứng ra thành lập 3 tổ vay vốn hỗ trợ cho hội viên nông dân có nhu cầu vay để tập trung làm ăn, đầu tư phát triển mô hình gia trại chăn nuôi như lợn, gà, vịt và nhiều mô hình khác có khả thi
• Nuôi trồng thuỷ hải sản.
Diện tích nuôi cá nước ngọt đạt 19,8ha Trong đó nuôi xen cá lúa, cá vịt và nuôi ao hồ nhỏ lẻ chủ yếu nuôi được 1 vụ cũng được duy trì thường xuyên Những hộ nỗi bậc như hộ anh Vấn, anh hoà, anh phượng (Di Đông) anh Lực (Sư
Lỗ Đông), anh Bòn (Đông Đỗ)
Năm 2015, một số hộ ở thôn Nam Dương và Di Tây đã chuyển sang mô hình trồng sen lấy hạt 1,3ha, giá trị ước đạt 4 triệu đồng/sào/năm
Mô hình nuôi ếch thịt và ếch bố mẹ, để sinh sản ở tại chi hội Di Tây như có
hộ anh Đinh Như Trực nuôi rất có hiệu quả đã đem lại phần thu nhập kinh tế cao Mỗi năm xuất được 230.000 con, với 1.200 con Ếch đẻ
• Trồng trọt
Năm 2015 diện tích lúa gieo sạ trong toàn xã đạt 1028,68 ha đạt 100% kế hoạch, cơ cấu giống lúa xác nhận đạt 98% diện tích gieo trồng