RƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾKhoa Khuyến nông và Phát triển Nông thôn KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: Tìm hiểu công tác tái tổ chức theo Luật Hợp tác xã mới 2012 và thực trạng hoạt động c
Trang 1RƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Khuyến nông và Phát triển Nông thôn
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu công tác tái tổ chức theo Luật Hợp tác xã mới (2012) và thực trạng hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện: Hoàng Đức Sơn
Lớp: Phát triển Nông thôn 46B
Thời gian thực hiện: 28/12/2015 – 1/05/2016
Địa điểm thực hiện: Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Cao Úy
Bộ môn: Phát triển nông thôn
NĂM 2016
Trang 2Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn ThS Trần Cao Úy, đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian vừa qua.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Khuyến nông và Phát triển Nông thôn đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Xin gởi tới Liên minh hợp tác xã Quảng Trị lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em thu thập số liệu nghề nghiệp cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài tốt nghiệp.
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh,trong cơ quan Liên minh Hợp tác xã Quảng Trị dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc.
Mặc dù đã có nhiều nổ lực và cố gắng,nhưng do thời gian và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót Kính mong sự chỉ dẫn góp ý của quý thầy, cô giáo
để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 05/2016Sinh viên:
Trang 3Hoàng Đức Sơn
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Những lý luận cơ bản về hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp 3
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp tác xã 3
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm của hợp tác xã nông nghiệp 3
2.1.3 Lợi ích khi thành lập, gia nhập hợp tác xã nông nghiệp 4
2.2 Thực trạng hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay 5
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 5
2.2.2 Nội dung và yêu cầu đổi mới của hợp tác xã nông nghiệp 7
2.2.3 Các loại hình hợp tác xã nông nghiệp 10
2.3 Tình hình phát triển kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp tại Quảng Trị 11
2.3.1 Tình hình hoạt động các HTX nông nghiệp 11
2.3.2 Tình hình các tổ hợp tác trong nông nghiệp 11
2.3.3 Đánh giá chung 12
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Nội dung nghiên cứu 14
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của TP Đông Hà 14
3.1.2 Thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn thành phố 14
3.1.3 Quá trình thực hiện tái tổ chức theo luật mới của các HTX nông nghiệp trên địa bàn thành phố 15
3.2 Phương pháp nghiên cứu 15
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 15
Trang 5Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Đông Hà 17
4.1.1 Đặc điềm tự nhiên 17
4.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 21
4.2 Thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đông Hà 23
4.2.1 Số lượng, quy mô, phân loại theo chuỗi sản phẩmchủ yếu các hợp tác xã 23
4.2.2 Lịch sử ra đời của các HTX nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu 25
4.2.3 Đặc điểm, số lượng thành viên 26
4.2.4 Đặc điểm nguồn nhân lực quản lý 31
4.2.5 Tài sản, đất đai và nguồn vốn hoạt động hiện có của các HTX 36
4.2.6 Tổ chức sinh hoạt của các hợp tác xã 40
4.2.7 Hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ của hợp tác xã 41
4.2.8 Tình hình liên kết đầu ra, đầu vào của các HTX 44
4.3 Quá trình tái tổ chức theo luật HTX mới (2012) của các HTX NN trên địa bàn Thành phố Đông Hà 47
4.3.1 Đặc điểm hoạt động của các HTX trước khi tái tổ chức 47
4.3.2 Thời gian thực hiện tái tổ chức 49
4.3.3 Cơ quan tham vấn thực hiện tái tổ chức 51
4.3.4 Những khó khăn, thuận lợi trong quá trình tái tổ chức 52
PHẦN 5 KẾT QUẢ, KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 58
PHẦN 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHẦN 7 PHỤ LỤC 1
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Quy mô, số lượng các HTX phân loại theo hiệu quả hoạt động, vùng
sinh thái và chuỗi sản phẩm chủ yếu 24
Bảng 4.2 Tình hình biến độ số lượng thành viên 27
Bảng 4.3 Tình hình tham gia HTX của hộ nông dân 30
Bảng 4.4 Số lượng cán bộ quản lý, điều hành các hợp tác xã 31
Bảng 4.5 Độ tuổi quản lý , điều hành của 18 hợp tác xã 33
Bảng 4.6 Số năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực HTX của các cán bộ quản lý, điều hành HTX 34
Bảng 4.7 Tình hình vốn góp của các HTX 37
Bảng 4.8 Tình hình sử dụng đất đai của các HTX 39
Bảng 4.9 Số lần sinh hoạt của các HTX 40
Bảng 4.10 Tình hình thực hiện dịch vụ của các HTX 42
Bảng 4.11 Tình hình tổ chức sản xuất và tiêu thụ của các HTX 43
Bảng 4.12 Tình hình lên kết với các đối tác của HTX 46
Bảng 4.13 Thời gian thực hiện tái tổ chức của các HTX 50
Bảng 4.14 Mức độ tham vấn của các cơ quan từ 18 HTX 51
Bảng 4.15 Khó khăn của các HTX trong quá trình tái tổ chức 52
Bảng 4.16 Định hướng ưu tiên phát triển trong tời gian tới của các HTX 55
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Thời gian thành lập các HTX 25
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ tham gia cụ thể của hai giới vào 18 HTX 28
Biểu đồ 4.3 Lĩnh vực hoạt động của xã viên 29
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ nam nữ tham gia vào công tác điều hành, quản lý hợp tác xã 32
Biểu đồ 4.5 Trình độ văn hóa của các cán bộ quản lý, điều hành HTX 35
Biểu đồ 4.6 Trình độ chuyên môn của các cán bộ quản lý, điều hành HTX 36
Biểu đồ 4.7 Liên kết đầu ra, đầu vào của các chuỗi sản phẩm tại các HTX 45
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTX: Hợp tác xã
HTX NN: Hợp tác xã nông nghiệp
LM HTX: Liên minh hợp tác xã
Sở NN&PTNT: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Sở KH – ĐT: Sở kế hoạch - đầu tư
Sở TT – TT: Sở Thông tin - truyền thông
UBND: Ủy ban nhân dân
ĐVT: Đơn vị tính
Trang 9TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài: Tìm hiểu công tác tái tổ chức theo luật HTX mới (2012) và thực
trạng hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp ở thành phố Đông Hà, tỉnhQuảng Trị
Tên sinh viên: Hoàng Đức Sơn
Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Cao Úy
Luật hợp tác xã năm 1996 ra đời tạo hành lang pháp lý cho các hợp tác xãhoạt động trong điều kiện kinh tế mới của cơ chế thị trường Qua thời gian pháttriển và đổi mới, để phù hợp với mục tiêu chung của đất nước, tình hình kinh tếthế giới và hoàn thiện hệ thống pháp lý về hợp tác xã luật hợp tác xã đã tiếp tụcđược sửa đổi, ban hành vào năm 2003 và lần gần đây nhất là luật hợp tác xã năm2012.Cả nước nói chung và Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị nói riêng từ khicác hợp tác xã kiểu cũ được tiến hành chuyển đổi thành lập các hợp tác xã kiểumới hoạt động theo luật hợp tác xã 2012 thì các nghành nông nghiệp và cơ cấukinh tế đã có sự chuyển biến lớn, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển sang nềnkinh tế hàng hóa Trong điều kiện thực hiện luật hợp tác xã năm 2012 mới trảiqua được 3 năm, cho đến nay nền kinh tế của Thành phố đã đạt được kết quảkhả quan Đặc biệt là hợp tác xã nông nghiệp, ngoài ra còn có các hợp tác xãkhác cũng trên đà tiến chuyển
Tuy kết quả bước đầu đã đạt được như vậy, song để quá trình hoạt độngcủa hợp tác xã từng bước mang lại được hiểu quả kinh tế cao về cả số lượng lẫnchất lượng và theo cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước Để hiểu rõ hơn
về thực trạng hoạt động và quá trình vận hành theo luật Hợp tác xã năm mới
2012 tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Tìm hiểu công tác tái tổ chức theo
luật HTX mới (2012) và thực trạng hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp ỏ thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ’’
Đề tài xác định rõ hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đó là đánh giá thực trạnghoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở Đông Hà sau tái tổ chức và tìm hiểuquá trình, kết quả ban đầu của công tác tái tổ chức của các HTX NN theo luậtHTX 2012 trên địa bàn thành phố Đông Hà
Dựa theo mục tiêu nghiên cứu mà nội dung của đề tài tập trung vào các điềuchính sau: Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu; Thực trạnghoạt động của các HTX NN trên địa bàn thành phố; Quá trình thực hiện tái tổ chứctheo luật hợp tác xã năm 2012 của các HTX NN trên địa bàn nghiên cứu
Trang 10Các phương pháp chính được áp dụng để nghiên cứu đề tài bao gồmphương pháp thu thập thông tin được tiến hành bằng cách thu liệu các thông tinthứ cấp cũng như sơ cấp và phương pháp phân tích thống kê, xử lý số liệu Cụthể các thông tin định tính sẽ được phân tích, sơ đồ hóa còn các thông tin địnhlượng sẽ được phần mềm Excel xử lý.
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trên địa bàn nghiên cứu có 18 HTX NNđang hoạt động, phần lớn các HTX đã thực hiện tái tổ chức thành công theo luậtHTX năm 2012 vào năm 2014 Địa bàn hoạt động của các HTX hầu hết nằmtrên vùng sinh thái đồng bằng với sản phẩm chủ yếu là lúa ngoài ra còn có raumàu, gỗ Hiện nay toàn bộ 18 HTX có 3753 xã viên, trong đó có đến 86% sảnxuất độc canh cây lúa; tỷ lệ hộ xã viên trên số hộ nông dân là 94,96% cho thấy
sự tin tưởng, ủng hộ của bà con là rất lớn vào các HTX; trình độ quản lý của cán
bộ HTX còn rất hạn chế, có đến 56,6% chưa qua đào tạo Quá trình tái tổ chứcđược các HTX thực hiện trung bình 4 tháng/ HTX, trong quá trình đó các HTX
đã nhận được sự quan tâm, hỗ trợ rất lớn từ chính quyền địa phương và cơ quanquản lý mà đặc biệt là Liên minh HTX Quảng Trị Hiện tại, các HTX chủ yếuthực hiện cung cấp 18 khâu dịch vụ đầu vào với mục đích hỗ trợ sản xuất nôngnghiệp cho xã viên, tình hình liên kết đầu ra đã bắt đầu có chiều hướng khả quankhi đã có 2 HTX thực hiện bao tiêu sản phẩm đầu ra Trong tương lai tới cácHTX có định hướng sẽ giảm diện tích đất trồng lúa để tập trung phát triển câyngắn ngày mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, đồng thời mở rộng lĩnh vực sảnxuất ngoài nông nghiệp
Từ kết quả của quá trình phân tích nghiên cứu, một số kiến nghị được đưa
ra đối với 18 HTX NN tại đây như sau: Đối với chính quyền địa phương cần thật
sự quan tâm hơn nữa đến việc phát triển mô hình kinh tế tập thể mà cụ thể là cácHTX, thành lập mô hình HTX sản xuất – liên kết – tthu hoạch - tiêu thụ sảnphẩm phù hợp với điều kiện đặc thù, xu hướng phát triển của địa phương Đốivới các HTX, ban quản lý các HTX cần đổi mới tư duy quản lý theo mô hình cũ,lạc hậu bên cạnh đó không ngừng trao dồi, học hỏi, nâng cao khả năng quản lý
mà đặc biệt là kỹ năng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, thương thảo hợp đồng,tìm kiếm thị trường đầu ra dựa trên một chiến lược phát triển HTX lâu dài; xãviên các HTX phải thay đổi nhận thức về HTX, tích cực tham gia, bày tỏ ý kiến,đóng góp trong quá trình quản lý và phát triển HTX
Sinh viên thực hiện Giáo viên hướng dẫn
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể có lịch sử ra đời khá lâu Trên thế giới
các hợp tác xã (HTX) đã hình thành hơn 150 năm Qua rất nhiều biến cố lịch sử,
hợp tác xã vẫn tồn tại qua nhiều chế độ chính trị khác nhau ở nhiều nước khác
nhau Hiện nay các hợp tác xã vẫn tồn tại và ở một số nước đang có xu hướng
mở rộng
Ở Việt Nam, trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo, cơ chế quản lý tập trung bao cấp từng bước bị xóa bỏ, cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước hình thành và ngày càng được hoàn thiện
để điều tiết các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Những năm qua, các
HTX tổ chức theo mô hình cũ đối mặt với khó khăn và thách thức nghiêm trọng
vì không thích ứng được với cơ chế kinh tế mới Đại bộ phận các hợp tác xã tồn
tại một cách hình thức, không có phương hướng và nội dung dẫn đến nhiều hợp
tác xã tan rã
Ngày 20 tháng 3 năm 1996, Quốc Hội thông qua Luật Hợp tác xã và có
hiệu lực kể từ ngày 01/01/1997 Luật hợp tác xã năm 1996 ra đời tạo hành lang
pháp lý cho các hợp tác xã hoạt động trong điều kiện kinh tế mới của cơ chế thị
trường Qua thời gian phát triển và đổi mới, để phù hợp với mục tiêu chung của
đất nước, tình hình kinh tế thế giới và hoàn thiện hệ thống pháp lý về hợp tác xã
luật hợp tác xã đã tiếp tục được sửa đổi, ban hành vào năm 2003 và lần gần đây
nhất là luật hợp tác xã năm 2012
Cả nước nói chung và Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị nói riêng từ khi
các hợp tác xã kiểu cũ được tiến hành chuyển đổi thành lập các hợp tác xã kiểu
mới hoạt động theo luật hợp tác xã 2012 thì các nghành nông nghiệp và cơ cấu
kinh tế đã có sự chuyển biến lớn, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển sang nền
kinh tế hàng hóa Trong điều kiện thực hiện luật hợp tác xã năm 2012 mới trải
qua được 3 năm, cho đến nay nền kinh tế của Thành phố đã đạt được kết quả
khả quan Đặc biệt là hợp tác xã nông nghiệp, ngoài ra còn có các hợp tác xã
khác cũng trên đà tiến chuyển
Tuy kết quả bước đầu đã đạt được như vậy, song để quá trình hoạt động
của hợp tác xã từng bước mang lại được hiểu quả kinh tế cao về cả số lượng lẫn
chất lượng và theo cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước Để hiểu rõ hơn
về thực trạng hoạt động và quá trình vận hành theo luật Hợp tác xã năm mới
Trang 122012 tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu công tác tái tổ chức theo
luật HTX mới (2012) và thực trạng hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp ỏ
thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị’’
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở Đông Hà
sau tái tổ chức
- Tìm hiểu quá trình tái tổ chức và kết quả ban đầu công tác tái tổ chúc của
các Hợp tác xã nông nghiệp theo luật HTX 2012 trên địa bàn thành phố Đông Hà
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các HTX nông nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố Đông Hà
1.4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu quá trình tái tổ chức hợp
tác xã nông nghiệp theo mô hình hợp tác xã kiểu mới theo luật hợp tác xã năm
2012 và thực trạng hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn thành phố
Đông Hà sau khi tái tổ chức theo luật hợp tác xã năm 2012
- Phạm vi thời gian thực hiện: từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2016
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Những lý luận cơ bản về hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp tác xã
2.1.1.1 Định nghĩa hợp tác xã
“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân,
do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của
thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong
quản lý hợp tác xã.”.(Điều 3 – Luật HTX năm 2012)
2.1.1.2 Đặc điểm của hợp tác xã
Định nghĩa pháp lý về hợp tác xã phản ánh những điểm cơ bản sau đây:
-Hợp tác xã (HTX) là tổ chức kinh tế tập thể Các xã viên là chủ của hợp
tác xã, có toàn quyền quyết định những vấn đề tổ chức, hoạt động và phân phối
lợi ích trong hợp tác xã trên cơ sở những quy định của Luật Hợp tác xã và những
văn bản có liên quan;
- Hợp tác xã có thể được thành lập khi có số lượng xã viên từ 7 trở lên,
được đăng ký và hoạt động tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm;
- Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, hoạt động như một loại hình doanh
nghiệp, bình đẳng với các doanh nghiệp khác Hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các
nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật;
- Hợp tác xã là tổ chức mang tính xã hội, rộng mở cho tất cả những ai có
nguyện vọng trở thành thành viên hợp tác xã Hợp tác xã ra đời dựa trên nguyên
tắc dân chủ, bình đẳng, công khai và đoàn kết Mỗi xã viên có 1 phiếu bầu;
- Mục tiêu hoạt động của hợp tác xã là mang lại lợi ích vật chất và tinh thần
cho tất cả các xã viên, tập thể và cộng đồng;
- Xã viên có trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủ, thực hiện tốt những quy
định trong Điều lệ của hợp tác xã, hợp tác, xây dựng và phát triển hợp tác xã
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm của hợp tác xã nông nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm của hợp tác xã nông nghiệp
Từ khái niệm trên của Luật Hợp tác xã, có thể khái quát khái niệm về hợp
Trang 14tác xã nông nghiệp như sau:
“Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể do nông dân, hộ gia
đình nông dâncó nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo
quy định của Luật Hợp tác xã để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên
tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản
xuất, kinh doanh nông nghiệp và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.”
2.1.2.2 Đặc điểm của hợp tác xã nông nghiệp
Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp; một tổ chức kinh tế của nông dân, có đặc trưng gắn với hộ nông
dân được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ
nông nghiệp
Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao nhằm đáp
ứng các nhu cầu và nguyện vọng của nông dân về sản xuất, kinh doanh và dịch
vụ nông nghiệp; nông dân gia nhập hợp tác xã vì họ cần được hợp tác xã phục
vụ, cần hợp tác xã trợ giúp những việc mà họ không thể tự làm hoặc làm một
mình không có hiệu quả, khắc phục được những nhược điểm và hạn chế khi sản
xuất kinh doanh đơn lẻ
2.1.3 Lợi ích khi thành lập, gia nhập hợp tác xã nông nghiệp
2.1.3.1 Lợi ích khi thành lập hợp tác xã
Khi xã viên là hộ nông dân sản xuất trực tiếp, xã viên có nhiều cơ hội tiếp
cận các sản phẩm đầu vào với giá hợp lý, chất lượng bảo đảm cũng như có cơ
hội tiếp cận thị trường trong việc tiêu thụ sản phẩm với giá cả cao hơn Đồng
thời, xã viên được hưởng các dịch vụ tư vấn, kỹ thuật thuận lợi hơn
Ngoài ra, khi tham gia thành lập hợp tác xã các thành viên có thể cùng
nhau chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm, đoàn kết, hợp tác kinh doanh, tức là không
còn sự cạnh tranh giữa từng hộ
Việc thành lập hợp tác xã còn mang lại ưu thế trong việc đàm phán với
chính quyền địa phương như xin cấp đất để phát triển và tham gia các chương
trình ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến của địa phương
2.1.3.2 Lợi ích khi gia nhập hợp tác xã
Khi gia nhập hợp tác xã các xã viên sẽ được ưu tiên sử dụng các sản phẩm
Trang 15dịch vụ hợp tác xã theo giá cả thỏa thuận giữa hợp tác xã và xã viên Ngoài ra xã
viên còn được hỗ trợ hoặc tiêu thụ sản phẩm, được ưu tiên làm việc cho hợp tác
xã và được trả công lao động theo quy định của Điều lệ hợp tác xã
Đối với các hợp tác xã phát triển mạnh , xã viên còn được hưởng các phúc
lợi từ hợp tác xã, được cung cấp các thông tin kinh tế-kỹ thuật cần thiết, được
hợp tác xã hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ Ngày nay, đối với
các hợp tác xã hoạt động theo hình thức hợp tác xã kiểu mới
2.2 Thực trạng hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
2.2.1.1 Giai đoạn trước đổi mới (1954 - 1986)
Thời kỳ thí điểm xây dựng hợp tác xã ở miền Bắc (1955 - 1957), thời kỳ
này chúng ta đã xây dựng được 45 hợp tác xã và trên 100.000 tổ đổi công tuy
nhiên số lượng hợp tác xã còn ít, trình độ thấp song đã có tác động tích cực đến
sản xuất và xây dựng nông thôn
Thời kỳ tổ chức xây dựng Hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp (1958 - 1960),
tại miền Bắc đã có 40.422 hợp tác xã nông nghiệp, thu hút 2,4 triệu hộ nông dân,
chiếm 85,8% tổng số hộ với 76% diện tích ruộng đất Về cơ bản, miền Bắc đã
hoàn thành xây dựng hợp tác xã bậc thấp; đặc biệt có 4.346 hợp tác xã bậc cao
và xuất hiện một số hợp tác xã có quy mô toàn xã
Thời kỳ tổ chức hợp tác xã bậc cao (1960 - 1965), xuất hiện 17.562 Hợp
tác xã nông nghiệp bậc cao; hợp tác xã nông nghiệp đã thu hút 90,3% số hộ
nông dân miền Bắc tham gia hợp tác xã, trong đó có 80% số hộ tham gia các
hợp tác xã bậc cao Trong thời kỳ này, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp tiếp
tục bộc lộ những khuyết tật: số hợp tác xã yếu kém nhiều, hiệu quả hoạt động
thấp, chưa đạt được mục tiêu hợp tác hoá đề ra, chưa xây dựng được niềm tin
vững chắc đối với nông dân
Thời kỳ tiếp tục củng cố và phát triển hợp tác xã ở miền Bắc (1966 - 1975)
Đảng và nhà nước chủ trương đẩy mạnh cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến
kỹ thuật và tiến hành cuộc vận động dân chủ, phấn đấu đưa nông nghiệp miền
Bắc tiến lên sản xuất lớn XHCN Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đã thu hút
được 97% số hộ nông dân vào hợp tác xã, trong đó 88% tham gia hợp tác xã bậc
cao với quy mô hợp tác xã không ngừng mở rộng Tuy nhiên đến giai đoạn
1966-1975 diện tích gieo trồng của các hợp tác xã đã giảm 3,6% so với giai
đoạn 1961-1965; các hộ xã viên có thu nhập từ hợp tác xã ngày càng thấp, lương
Trang 16thực tính bình quân theo đầu người giảm từ 304 kg thời kỳ 1961 - 1965 xuống
258,8 kg thời kỳ 1966 – 1975; tệ nạn tham ô, lãng phí và hiện tượng thất thoát,
hư hao tiền vốn ở các hợp tác xã tăng lên đến mức nghiêm trọng
Thời kỳ mở rộng hợp tác hoá trên phạm vi cả nước (1976 - 1986), ở miền
Bắc, hợp tác xã nông nghiệp tiếp tục mở rộng quy mô, tổ chức lại theo hướng
tập trung, chuyên môn hoá, cơ giới hoá; ở miền Nam, phong trào hợp tác hoá
nông nghiệp đã được đẩy mạnh Cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ
XX, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp lâm vào tình trạng bế tắc, những
khuyết điểm, yếu kém của mô hình hợp tác hoá kiểu cũ ngày càng bộc lộ rõ, tác
động tiêu cực về tâm lý và xã hội trong nông thôn, người lao động không gắn bó
với ruộng đất; sản xuất nông nghiệp dẫm chân tại chỗ Số lượng lương thực từ
năm 1976 đến năm 1981 không vượt quá con số 15 triệu tấn mỗi năm Và để
tháo gỡ khó khăn, một số địa phương đã đi tìm mô hình mới về hợp tác xã nông
nghiệp theo phương thức khoán sản phẩm đến người lao động; trước tình hình
đó tháng 01 năm 1981, Ban Bí thư đã ban hành chỉ thị 100-CT-TW về cải tiến
công tác khoán và mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao
động trong hợp tác xã nông nghiệp và đã thu được kết quả rất lớn trong sản xuất
nông nghiệp Tuy nhiên, mô hình hợp tác xã vẫn dựa trên sở hữu tập thể, quản lý
tập trung, phân phối thống nhất theo chế độ công điểm
2.2.1.2 Giai đoạn từ đổi mới đến nay (1987 – đến nay)
Thời kỳ từ thực hiện “đổi mới” đến khi có Luật Hợp tác xã (1987-1996),
chủ trương cải biến thực sự tính chất và phương cách tổ chức quản lý hợp tác xã
nông nghiệp ở nước ta: hộ gia đình xã viên được xác định là những đơn vị kinh
tế tự chủ; kinh tế hộ được quyền chủ động sản xuất, kinh doanh, hợp tác xã chỉ
thực hiện những khâu công việc mà kinh tế hộ làm không hiệu quả hoặc không
làm được Do không thích ứng với cơ chế mới và do công tác quản lý nhà nước
đối với hợp tác xã không theo kịp tình hình, nên vào những năm đầu của thập kỷ
90 thế kỷ trước, hầu hết các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp bị giải
thể hàng loạt hoặc chỉ tồn tại về hình thức Chỉ có khoảng 15% số hợp tác xã đã
chuyển đổi hoạt động thích ứng với điều kiện mới, bảo đảm phục vụ và thúc đẩy
kinh tế hộ phát triển sản xuất Thời điểm cao nhất của phong trào hợp tác hoá
nông nghiệp, cả nước có 17.022 hợp tác xã nông nghiệp và 36.352 tập đoàn sản
xuất nông nghiệp thì đến tháng 12 năm 1996, cả nước chỉ còn13.762 hợp tác xã
nông nghiệp và 1.892 tập đoàn sản xuất
Thời kỳ từ khi có luật hợp tác xã đến khi luật hợp tác xã mới năm 2012
Trang 17được ban hành (1997-2012) Tính đến 30/6/2010, cả nước có 8.918 hợp tác xã
nông nghiệp, bình quân một hợp tác xã có 795 xã viên Hiện nay, các hợp tác xã
nông nghiệp chủ yếu tập trung làm dịch vụ hỗ trợ cho hộ xã viên Ở các mức độ
khác nhau, hợp tác xã nông nghiệp đã thể hiện được vai trò quan trọng trong
việc hướng dẫn các hộ xã viên ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả
kinh tế cao, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn; nhiều hợp tác xã đã thể hiện được các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng
và phát triển hợp tác xã, tinh giảm được bộ máy quản lý, phát huy được vai trò
tự chủ, dân chủ nội bộ, xác định địa vị chính đáng, quyền và nghĩa vụ của xã
viên Hợp tác xã thích ứng dần với cơ chế kinh tế thị trường tuy nhiên quá trình
chuyển đổi và phát triển hợp tác xã nông nghiệp còn chậm, chưa tương xứng với
yêu cầu phát triển của sức sản xuất; hợp tác xã nông nghiệp quy mô còn nhỏ,
chưa đáp ứng kịp sự phát triển kinh tế hàng hoá của kinh tế hộ ở nhiều vùng
Một số hợp tác xã chuyển đổi và thành lập mới còn mang tính hình thức, chưa
chuyển biến về nội dung, chưa tổ chức được các hoạt động dịch vụ hỗ trợ hộ xã
viên phát triển kinh tế, cải thiện đời sống.Tính hình thức trong chuyển đổi HTX
theo luật HTX vẩn chưa được khắc phục như đa số xã viên các HTX đã chuyển
đổi khi tham gia HTX không có đơn và vốn góp mới, như vậy không đáp ứng
được yêu cầu cơ bản là muốn gia nhập hợp tác xã viên phải góp vốn
Thời kỳ từ khi có luật hợp tác xã mới năm 2012 đến nay, luật hợp tác xã
mới năm 2012 ban hành nhiều HTX quy mô còn nhỏ, thiếu vốn, tài sản ít, chậm
đổi mới, khả năng cạnh tranh thấp Đa sô HTX vẩn tập trung vào các dịch vụ
truyền thống như khuyến nông, thủy lợi cả nước còn 38% số HTX chư có trụ
sở riêng, nhiều tài sản của HTX chưa gắn với quyền sử dụng đất, nhiều cơ sở
dịch vụ chư được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cho HTX thiếu
tính độc lập, tự chủ trong kinh doanh.Đội ngũ cán bộ quản lý HTX còn hạn chế
về trình độ, năng lực Nhiều cán bộ quản lí chưa qua tập huấn nghiệp vụ, làm
việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm còn thiếu yên tâm làm việc ổn định lâu dài
trong HTX, chủ yếu do chế độ thù lao cho cán bộ HTX còn thấp Nhiều HTX cả
HTX đã chuyển đổi và HTX thành lập mới chưa bảo dảm những tuân thủ
nguyên tắc, giá trị HTX, các quy định về góp vốn, điều lệ về tích lũy những tài
sản vốn qũy chung, vốn không chia Hoạt động của HTX còn thiếu gắn bó với
nhau, chưa có sự liên kết hệ thông chặt chẻ về mặt kinh tế, xã hội về tổ chức
Tuy đã hình thành được một số liên hiệp HTX, nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả chư
cao, hổ trợ HTX thành viên còn ít Công nợ trong HTX nhất là trong HTX chưa
Trang 18chuyển đổi chưa xử lí rỏ ràng đích điểm nên cũng là cản trở hoạt động của HTX.
2.2.2 Nội dung và yêu cầu đổi mới của hợp tác xã nông nghiệp
Luật hợp tác xã và các văn bản pháp lý khác có liên quan là cơ sở pháp lý
để tiến hành đổi mới hợp tác xã Sau 2 năm thực hiện Luật hợp tác xã, số hợp
tác xã làm xong thủ tục chuyển đổi và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh cả nước là 3.525, chiếm 39% tổng số hợp tác xã nông nghiệp hiện có
Đồng thời, có 1.821 hợp tác xã (20% tổng số hợp tác xã nông nghiệp hiện có) đã
làm xong thủ tục nhưng chưa được đăng ký kinh doanh Các tỉnh phía Bắc có
7.730 hợp tác xã nông nghiệp, số hợp tác xã đã làm thủ tục chuyển đổi 4.393
hợp tác xã, chiếm 57% Các tỉnh phía Nam có 1.297 hợp tác xã, đã chuyển đổi
được 947 hợp tác xã bằng 74% số hợp tác xã có trong vùng
Các tỉnh đạt tỷ lệ chuyển đổi cao (trên 90%) gồm: Tuyên Quang, Bắc
Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định,
Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa,… Các tỉnh mới
chuyển đổi được ít gồm Thái Bình, Lai Châu,
Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, các
hộ nông dân có nhu cầu tổ chức ra các hợp tác xã kiểu mới Nhưng sự hình
thành các hợp tác xã mới không chỉ đơn giản là bằng một quyết định tuyên bố
giải thể hợp tác xã kiểu cũ, thành lập hợp tác xã kiểu mới là xong, mà điều cốt
lõi là phải xuất phát từ trình độ sản xuất thực tế của kinh tế hộ nông dân Theo
quy luật, những nơi nào các hộ nông dân sản xuất nhiều nông sản hàng hóa, nơi
đó ắt có nhu cầu về kinh tế hợp tác cao hơn, rõ rệt hơn so với các nơi mà hộ
nông dân còn sản xuất tự cấp, tự túc là chu yếu Thực tế hiện nay, có những tỉnh
nông nghiệp còn ở trình độ sản xuất tự túc là chủ yếu mà đến năm 1998 đã hoàn
thành chuyển đổi và xây dựng xong các hợp tác xã kiểu mới, còn chính những
địa phương mà nông sản hàng hóa nhiều thì số hợp tác xã kiểu mới lại chưa có
bao nhiêu là điều cần phải phân tích, rút kinh nghiệm
Để có được các hợp tác xã kiểu mới đích thực, đem lại hiệu quả cho kinh tế
hộ nông dân trong quá trình chuyển đổi hợp tác xã và xây dựng hợp tác xã kiểu
mới hiện nay, cần kiên quyết tránh cách làm ồ ạt, chạy theo số lượng, nặng về
hình thức, phải coi trọng nội dung và những yêu cầu đổi mới sau:
Hợp tác xã kiểu mới dựa trên cơ sở quyền tự chủ kinh doanh của mỗi hộ
nông dân với số ruộng đất đã được Nhà nước giao quyền sử dụng ổn định lâu
dài gồm 5 quyền như luật đất đai đã quy định để tiến hành sản xuất nông, lâm,
ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản Các hộ nông dân xã viên là chủ thể của hợp
Trang 19tác xã, tự nguyện góp vốn, góp sức tham gia hoạt động của hợp tác xã, cùng
hưởng kết quả, cùng chịu rủi ro của hợp tác xã theo mức góp vốn, góp sức vào
hợp tác xã Mỗi xã viên có quyền biểu quyết bình đẳng, ngang nhau không phù
thuộc vào số vốn góp nhiều hat ít
Hợp tác xã ra đời trước hết vì yêu cầu phát triển kinh tế của mỗi hộ gia
đình xã viên Vì vậy, trước hết hợp tác xã phải thực hiện có hiệu quả các dịch vụ
đầu vào và đầu ra của kinh tế hộ, tập trung vào các khâu mà hộ nông dân có yêu
cầu do họ không làm được hoặc làm được nhưng không hiệu quả bằng hợp tác
xã làm Hoạt động dịch vụ của hợp tác xã nhằm bảo vệ lợi ích của các hộ gia
đình xã viên trong cơ chế thị trường Hợp tác xã kiểu mới ra đời và hoạt động
nhằm phục vụ kinh tế hộ gia đình xã viên, chứ không phải thay thế, xóa bỏ kinh
tế hộ gia đình xã viên Kinh tế hộ gia đình xã viên là cơ sở để tồn tại và phát
triển của hợp tác xã kiểu mới Mục tiêu hàng đầu của hợp tác xã nông nghiệp
kiểu mới là sự phát triển và hiệu quả của kinh tế hộ gia đình xã viên Bên cạnh
đó, với tư cách là một loại hình doanh nghiệp cơ sở, hợp tác xã thực hiện các
hoạt động tạo ra lợi nhuận như phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương
nghiệp nông thôn… nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nông
dân và tạo ra lợi nhuận
Xã viên hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới không chỉ là nông dân mà gồm cả
những người lao động khác nếu họ có nguyện vọng Khi tham gia hợp tác xã,
mọi thành viên đều phải góp vốn bằng tiền hoặc tài sản Hợp tác xã chỉ phải chịu
trách nhiệm về các nghĩa vụ xã hội với các xã viên của chính mình, mà không
phải chịu trách nhiệm xã hội với những người ngoài hợp tác xã
Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp có đầy đủ các điều kiện để trở
thành pháp nhân kinh tế, đó là:
- Hợp tác xã được thành lập và đăng ký kinh doanh hợp pháp tại cơ quan có
thẩm quyền của nhà nước
- Hợp tác xã có cơ cấu tổ chức chặt chẽ tuân thủ các quy định của Luật hợp
tác xã Việt Nam, các cơ quan quản lý hợp tác xã do đại hội xã viên bầu lên một
cách dân chủ không có sự áp đặt từ phía nhà nước
- Hợp tác xã có tài sản riêng thuộc sở hữu của hợp tác xã được hình thành
từ vốn hoạt động và có quyền chi phối tài sản đó theo yêu cầu sản xuất kinh
doanh, dịch vụ của hợp tác xã và tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó trong
hoạt động của mình
- Hợp tác xã có thẩm quyền kinh tế để nhân danh mình tham gia các quan
Trang 20hệ pháp luật thể hiện bởi các quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã như đã quy định
tại điều 8 và điều 9 Luật hợp tác xã
Hợp tác xã là đơn vị kinh tế tự chủ, tự quyết định phương hướng sản xuất
kinh doanh, lựa chọn mô hình Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các hoạt
động của hợp tác xã, mà chỉ quản lý về mặt nhà nước thông qua pháp luật và
chính sách Nội dung chủ yếu của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới là thực hiện
các hoạt động dịch vụ kinh tế hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình xã viên; kinh doanh
trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản hàng hóa và kinh doanh các
nghành nghề khác ở nông thôn Trong quá trình hoạt động vừa phải tuân thủ quy
luật khách quan của kinh tế thị trường vừa chấp hành đường lối chính sách của
Đảng và pháp luật nhà nước
Đổi mới và phát triển hợp tác xã nông nghiệp là 1 quá trình phức tạp, lâu
dàu, chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Vì vậy, phải có
bước đi thích hợp, thận trọng và vững chắc, không nóng vội chủ quan, phải xác
định rõ mục tiêu và định hướng phát triển cho từng thời kỳ, làm từng bước có
trọng tâm, trọng điểm
2.2.3 Các loại hình hợp tác xã nông nghiệp
Hiện nay, ở Việt nam đang tồn tại 2 loại hình hợp tác xã nông nghiệp chủ yếu:
-Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp:
Trong loại hình này, việc sản xuất nông nghiệp là việc riêng của các hộ, do
các hộ xã viên tiến hành, hợp tác xã chỉ cung ứng các dịch vụ theo yêu cầu của
các hộ các dịch vụ này gồm có:
+ Dịch vụ các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (các hợp tác xã
cung ứng vật tư, giống cây trồng cho hộ xã viên)
+ Dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp (Hợp tác xã làm đất, tưới
nước, bảo vệ thực vật, khuyến nông, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thú y,
cho các hộ xã viên)
+ Dịch vụ các yếu tố đầu ra cho sản xuất nông nghiệp (Hợp tác xã chế biến,
tiêu thụ nông sản )
- Hợp tác xã dịch vụ kết với sản xuất kinh doanh:
Đối với loại hình hợp tác xã này, ngoài việc làm các dịch vụ hỗ trợ kinh tế
hộ xã viên, còn tổ chức sản xuất, kinh doanh và phát triển các ngành nghề khác
phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống của hộ xã viên và cộng đồng, như tín
Trang 21dụng nội bộ, dịch vụ điện.
Trang 222.3 Tình hình phát triển kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp tại
Quảng Trị
2.3.1 Tình hình hoạt động các HTX nông nghiệp
Trong những năm qua, khu vực kinh tế tập thể tỉnh Quảng Trị từng bước
khẳng định được vai trò, vị trí quan trọng của mình trong phát triển kinh tế - xã
hội tại địa phương Đến thời điểm 30/06/2014, toàn tỉnh có 299 hợp tác xã nông
nghiệp (Vĩnh Linh 58 HTX, Gio Linh 48 HTX, Cam Lộ 14 HTX, Triệu Phong
93 HTX, Hải Lăng 55 HTX, Thị xã Quảng Trị 8 HTX, TP Đông Hà 18 HTX,
Hướng Hóa 5 HTX)
- Về tổ chức bộ máy: Bộ máy quản lý không ngừng được củng cố, kiện
toàn theo hướng gọn nhẹ Hoạt động của các HTX theo hướng thiết thực hơn,
gắn liền với lợi ích của thành viên
- Về đội ngũ cán bộ: tính đến năm 2015, toàn tỉnh có 1.909 cán bộ chủ chốt
của các HTX nông nghiệp trên toàn tỉnh, trong đó có 34 cán bộ có trình độ đại
học, cao đẳng (chiếm 3,1%), có 205 cán bộ trình độ trung cấp (chiếm 18,8%), có
220 cán bộ có trình độ sơ cấp (chiếm 20,2%), còn lại 57,9% là bồi dưỡng ngắn
hạn và chưa qua đào tạo
- Về hoạt động: Theo báo cáo quyết toán năm 2013 của các huyện, thành
phố, thị xã, tổng doanh thu của các HTX nông nghiệp đạt 226.732 triệu đồng,
bình quân 760,84 triệu đồng/HTX; tổng lợi nhuận khoảng 22.299 triệu đồng, lợi
nhuận bình quân/HTX 74,82 triệu đồng (cao nhất 1.682 triệu đồng/HTX, thấp
nhất 271 triệu đồng/HTX); một số HTX doanh thu chỉ đủ bù chi phí và một số
HTX làm ăn thua lỗ
Thu nhập bình quân của Giám đốc HTX 1.343.000 đồng/tháng (cao nhất
3.500.000 đồng/ tháng, thấp nhất 200.000 đồng/tháng)
Có 37,7% HTX được đánh giá là hoạt động loại khá, giỏi; 49,6% HTX hoạt
động trung bình, 12,7% hoạt động yếu kém
2.3.2 Tình hình các tổ hợp tác trong nông nghiệp
Toàn tỉnh hiện có khoảng 7.151 tổ hợp tác, trong đó có 1.626 tổ hợp tác
nông nghiệp (có 185 có đăng ký chứng thực với ủy ban nhân dân xã, phường)
Bình quân một tổ hợp tác có 7-9 thành viên Các tổ còn lại chủ yếu là hoạt động
tự phát theo tính chất mùa vụ, chưa thực hiện đăng ký chứng thực
Trang 232.3.3 Đánh giá chung
2.3.3.1 Về hợp tác xã nông nghiệp
Nhìn chung các hợp tác xã cơ bản đáp ứng được các khâu dịch vụ đầu vào
phục vụ cho thành viên: Dịch vụ thủy nông, tổ chức sản xuất, bảo vệ đồng
ruộng, sản xuất giống,… Một số hợp tác xã đã mở rộng dịch vụ có giá trị gia
tăng như: Thu mua, chế biến nông sản; tín dụng nội bộ; thâm canh rừng trồng;
làm đất và thu hoạch bằng máy móc; cung ứng phân bón trả chậm…
Trong quá trình phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới, các hợp tác xã
đã thể hiện vai trò tích cực, quan trọng thể hiện qua việc hỗ trợ kinh tế hộ phát
triển, nâng cao thu nhập cho nông dân và góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng thôn
Nhiều hợp tác xã nông nghiệp đã thể hiện có hiệu quả vai trò tập hợp, vận
động bà con nông dân ứng dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng
cao hiệu quả sản xuất; từng bước thực hiện liên doanh, liên kết tiêu thụ hàng hóa
nông sản cho xã viên và nông dân
Bên cạnh các hoạt động sản xuất – kinh doanh, hợp tác xã đã giúp hộ xã
viên tiếp cận chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước trong phát triển kinh
tế, giảm nghèo, an sinh xã hội
Bên cạnh những mặt tích cực, nhiều hợp tác xã tuy đã chuyển đổi theo Luật
HTX 2012 song chưa thực sự chuyển đổi tư duy, hoạt động phù hợp trong bối
cảnh phát triển mới, vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế:
- Nhận thức của một bộ phận cán bộ, nhân dân về vai trò HTX chuyển biến
chậm, tâm lý trông chờ ỷ lại vẫn còn Sự gắn kết giữa xã viên với HTX rời rạc,
thiếu bền vững
- Quy mô sản xuất của một số HTX nhỏ, chủ yếu theo địa giới hành chính
thôn, xã; nguồn vốn và cơ sở vật chất thiếu thốn, chưa tạo được sự liên kết trong
sản xuất, chế biến và tiêu thụ hàng hóa cho xã viên, sức cạnh tranh thấp, lợi
nhuận ít, thậm chí có HTX làm ăn thua lỗ
- HTX NN tại Quảng Trị là những tổ chức có nội dung hoạt động kinh tế,
xã hội phức tạp, quy mô thành viên và lao động lớn, nhưng năng lực nội tại về
cả vốn liếng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực lại rất yếu, không đáp ứng
được yêu cầu đổi mới, phát triển Phần lớn các HTX không có mặt bằng để triển
khai các hoạt động, thậm chí có tới trên 52% số HTX không có trụ sở làm việc
- Hầu hết các HTX chưa xây dựng được chiến lược sản xuất kinh doanh
Trang 24dịch vụ theo hướng đa nghành, chủ yếu đang tập trung thực hiện một số dịch vụ
đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp Xu hướng liên kết giữa các hợp tác xã
vẫn theo quy mô vùng còn yếu, chưa tổ chức các khâu dịch vụ thu mua sản
phẩm cho nông dân
- Trình độ đội ngũ quản lý các HTX chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới trong
giai đoạn hiện nay; thiếu cần bộ trẻ có kiến thức, năng lực, nhiệt tình, tâm huyết
gắn bó lâu dài với HTX
- Công tác quản lý điều hành, hoạch toán – kế toán HTX còn yếu về nhiều
mặt, nhiều đơn vị chưa thực hiện đúng chế độ quy định hiện hành Giải quyết
công nợ chưa triệt để, đặc biệt là nợ phải thu
- Khả năng huy động nguồn vốn từ xã viên còn hạn chế; việc vay vốn
nghân hàng gặp nhiều khó khăn
- Công tác chuyển đổi theo Luật HTX 2012 đã hoàn thành tuy nhiên về bản
chất nhiều hợp tác xã vẫn hoạt động theo hình thức, chưa thật sự tận dụng hết
các mặt tích cực từ luật để huy động, phát triển quy mô HTX
2.3.3.2 Về tổ hợp tác nông nghiệp
Tổ hợp tác được thành lập với hình thức tổ chức, quy mô và nội dụng hoạt
động rất đa dạng, phong phú và linh hoạt, chủ yếu hướng vào mục đích giúp đỡ,
tương trợ nhau như: Trao đổi kinh nghiệp sản xuất, hỗ trợ giống mới, kỹ thuật
mới, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ; cung cấp thông tin tiêu thụ
sản phẩm; động viên và hoán đổi ngày công; làm đất…
Loại hình tổ hợp tác là tiền đề thích hợp trong việc tiến tới thành lập HTX,
góp phần giúp nhau giảm nghèo, giải quyết việc làm và tăng thu nhập ở khu vực
nông thôn trong xây dựng nông thôn mới
Tuy nhiên, phát triển tổ hợp tác còn mang tính tự phát, không có tư cách
pháp nhân, tổ chức thiếu chựt chẽ nên gặp nhiều khó khăn trong giao dịch kinh
tế, tiếp cận các chính sách của Nhà nước và giải quyết, xử lý các tranh chấp
trong nội bộ và giữa tổ hợp tác với các thành phần kinh tế khác
Quy mô tổ hợp tác nhỏ bé, khối lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ tạo ra
không nhiều, sức cạnh tranh thấp; Cơ sở vật chất kỹ thuật của các tổ hợp tác rất
hạn hẹp, sự hợp tác giữa các tổ với nhau và với các đối tác bên ngoài còn lỏng
lẻo, thiếu bền vững
Hầu hết những người tham gia điều hành tổ hợp tác chưa qua đào tạo, bồi
Trang 25dưỡng về quản lý kinh doanh, nên việc chỉ đạo tổ phát triển sản xuất, kinh doanh
còn rất hạn chế
PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của TP Đông Hà
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
- Khí hậu
- Thủy văn
- Đất đai
3.1.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội
- Tăng trưởng kinh tế
- Cơ cấu kinh tế
- Dân số, lao động
- Cơ sở hạ tầng
3.1.2 Thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp trên
địa bàn thành phố
- Nhân sự, cơ cấu tổ chức và đặc điểm bộ máy quản lý
- Số lượng thành viên hội đồng quản trị/Ban giám đốc, Ban kiểm soát, các
bộ phận giúp việc (Kế toán, kho quỹ,…)
+ Kinh nghiệm
+ Trình độ văn hóa, chuyên môn
+ Tỷ lệ nam/nữ tham gia quản lý
+ Số lượng các tổ, đội sản xuất kinh doanh hoặc làm dịch vụ
- Thành viên và đặc điểm thành viên (số lượng, đặc điểm nghề nghiệp,…)
- Loại hình đăng ký sản xuất kinh doanh, mục tiêu hoạt động
- Nguồn lực (vốn điều lệ, vốn góp thành viên, vốn hỗ trợ bên ngoài, đất đai…)
- Các loại hình dịch vụ HTX đang thực hiện và tình hình tổ chức sản xuất
Trang 26kinh doanh của các HTX
- Tình hình lên kết với các đối tác bên ngoài
- Đại hội thành viên và sinh hoạt định kỳ của HTX
Trang 273.1.3 Quá trình thực hiện tái tổ chức theo luật mới của các HTX nông nghiệp
trên địa bàn thành phố
- Đặc điểm hoạt động của HTX trước khi thực hiện tái tổ chức
- Thời gian thực hiện tái tổ chức
- Cơ quan tư vấn thực hiện tái tổ chức
- Những khó khăn và thuận lợi trong quá trình tái tổ chức
- Các định hướng hoạt động trong thời gian sắp tới
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.2.1.1 Thông tin thứ cấp
- Thu thập số liệu đã được công bố qua đại hội xã viên thường niên của
HTX; các báo cáo kinh tế - xã hội, phương án sản xuất kinh doanh thường niên
của HTX; báo cáo quyết toán của HTX
- Các tài liệu báo cáo, định hướng chiến lược, các chính sách/thể chế hỗ
trợ phát triển kinh tế tập thể nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng từ Liên
minh HTX&DNNQD, cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh Quảng Trị về phát
triển kinh tế HTX
- Các báo cáo, tổng kết thức hiện quá trình tái tổ chức, báo cáo tự đánh giá
quá trình của Liên minh hợp tác xã trên địa bàn và đánh giá của cấp, nghành cao
hơn trong và sau quá trình
-Tài liệu từ niên giám thống kê (hoặc báo cáo thống kê), các báo cáo
nghiên cứu đã được công bố trên báo chí, mạng internet
3.2.1.2 Thông tin sơ cấp
- Chọn điểm nghiên cứu: địa bàn thành phố Đông Hà – Tỉnh Quảng Trị
- Chọn mẫu nghiên cứu:
+ Số lượng: 18 HTX nông nghiệp trên địa bàn
+ Tiêu chí: các hợp tác xã nông nghiệp nằm trên TP Đông Hà
- Phỏng vấn sâu:
+Số lượng phỏng vấn gồm 18 Giám đốc HTX hợp tác xã nông nghiệp, 2 cán
bộ lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã – cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh Quảng Trị
về phát triển kinh tế HTX trong đó có 1 Giám đốc Trung tâm dạy nghề - tư vấn, hỗ
Trang 28trợ HTX và Doanh nghiệp, 1 Giám đốc Liên minh HTX Quảng Trị.
+ Sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc với các câu hỏi đóng và mở
+Nội dung phỏng vấn: : Tìm hiểu các khâu dịch vụ đầu vào (thuỷ lợi, bảo
vệ thực vật, phân bón và vật tư nông nghiệp, làm đất, dịch vụ tín dụng….); các
dịch vụ đầu ra (bao tiêu sản phẩm cho xã viên; giới thiệu và quảng bá sản phẩm
thông qua hội chợ, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, hợp đồng mua bán sản phẩm
…); tìm hiểu quá trình tái tổ chức (thời gian thực hiện tái tổ chức, năm thực hiện
thành công, khó khăn, thuận lợi trước, trong và sau quá trình tái tổ chức,…)
3.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Đối với thông tin thứ cấp: tổng hợp, chọn lọc thông tin liên quan cần thiết
đến đề tài
- Đối với thông tin sơ cấp:
+ Thông tin định tính: Tổng hợp, so sánh, phân loại
+ Thông tin định lượng: Xử lý số liệu điều tra bằng phần mềm excel
Trang 29Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Đông Hà
4.1.1 Đặc điềm tự nhiên
a) Vị trí địa lý:
Thành phố Đông Hà là tỉnh lỵ- trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
của tỉnh Quảng Trị, nằm ở tọa độ 16º07’53’’ - 16º52’22’’ vĩ độ Bắc,
107º04’24’’ - 107º07’24’’ kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và Cam Lộ,
- Phía Nam giáp huyện Triệu Phong
- Phía Đông giáp huyện Gio Linh và Triệu Phong,
- Phía Tây giáp huyện Cam Lộ
Tổng diện tích tự nhiên là 72,96 km2 , dân số trung bình năm có 83.191
người, chiếm 1,54% diện tích và 13,8% dân số toàn tỉnh Mật độ dân số 1.134
người/km2 Thành phố Đông Hà được chia thành 9 phường bao gồm: phường 1,
2, 3, 4, 5, Đông Giang, Đông Thanh, Đông Lương và Đông Lễ
Thành phố Đông Hà nằm trên giao điểm quốc lộ 1A với đường 9 xuyên Á
(Hành lang Đông-Tây) nối với Lào, Thái Lan, Myanmar và các nước trong khu
vực; cách không xa các đô thị phát triển và tiềm năng như thành phố Huế (70
km), thành phố Đồng Hới (93 km); cách cảng Cửa Việt 16 km, sân bay Phú Bài
(Huế) 84 km, cách cửa khẩu quốc tế Lao Bảo 83 km
Từ khi được nâng cấp lên đô thị loại III và thành lập thành phố Đông Hà
trực thuộc tỉnh, tăng trưởng kinh tế của thành phố có xu hướng phát triển nhanh,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, hạ tầng đô thị tiếp tục được đầu tư chỉnh
trang, hoàn thiện Bộ mặt kinh tế - xã hội thành phố có những nét khởi sắc mới,
tạo đà cho những bước phát triển trong giai đoạn tiếp theo
b) Địa hình:
Địa hình thành phố Đông Hà gồm 2 dạng cơ bản là địa hình gò đồi bát úp
và địa hình đồng bằng, thuận lợi cho phát triển các ngành kinh tế và xây dựng
các công trình đô thị quy mô, vững chắc
- Địa hình gò đồi bát úp ở phía Tây và Tây Nam có diện tích 3.191 ha,
chiếm 43,7% diện tích tự nhiên; có độ cao trung bình 10 m so với mặt nước
Trang 30biển, nghiêng dần về phía Đông với độ dốc trung bình 5-100 Mặt đất được phủ
trên nền phiến thạch và sa phiến, có ưu thế cho việc xây dựng nền móng tốt cho
các công trình; trồng cây lương thực, cây ăn quả, phát triển lâm nghiệp Địa hình
đồi bát úp nối tiếp có thể tạo nên không gian kiến trúc đô thị thoáng đẹp, đa
dạng, vững chắc và không bị ngập lụt
- Địa hình đồng bằng có độ cao trung bình 3 m so với mực nước biển,
chiếm 56,3% diện tích tự nhiên, tập trung ở các phường II, phường III, Đông
Thanh, Đông Giang, Đông Lễ và Đông Lương Mặt đất được phủ lớp phù sa
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, sản xuất lúa nước, nuôi trồng thuỷ sản
Tuy nhiên có nhiều nơi thấp trũng nên hàng năm thường hay bị ngập lụt, không
thuận lợi cho xây dựng hạ tầng, các công trình đô thị
c) Khí hậu:
Thành phố Đông Hà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng lại
chịu ảnh hưởng của gió Tây - Tây Nam nên tạo thành một tiểu vùng khí hậu
khô, nóng Khí hậu chia thành 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa: tập trung vào tháng 8 đến tháng 11 và kéo dài đến tháng 3 năm
sau Mùa mưa trùng vào mùa gió mùa Đông Bắc nên kèm theo rét lạnh kéo dài,
độ ẩm không khí rất cao
- Mùa khô nóng: kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7, gần như liên tục nắng
nóng kèm theo gió Tây-Tây Nam khô nóng Do hiệu ứng ‘‘Phơn’’ (fonth) đã
đem đến cho Đông Hà một loại hình thời tiết đặc trưng nắng nóng và khô hạn
kéo dài Có những ngày gió Tây - Tây Nam thổi mạnh, sức gió cấp 6, cấp 7 và
do cấu tạo địa hình của phía triền dốc Đông Trường Sơn nên khi gió qua đèo
Lao Bảo về Đông Hà tạo thành những cơn bão nhỏ, khô nóng có khi kéo dài
trong nhiều tháng làm thời tiết thêm oi bức
-Nhiệt độ: Đông Hà có nền nhiệt độ tương đối cao, trung bình năm 24,4ºC,
nhiệt độ tối cao 42ºC, thường xảy ra trong tháng 6,7; nhiệt độ tối thấp 11ºC,
thường xảy ra trong khoảng tháng 12, tháng 1 Trong mùa hạ, từ tháng 5 đến
tháng 7 khi xuất hiện gió mùa Tây Nam (thường gọi là gió Lào) mang đặc trưng
nắng nóng và khô hạn kéo dài, đó cũng là thời gian nóng nhất trong năm
- Lượng mưa: đây là khu vực có lượng mưa tương đối lớn, bình quân năm
2.700 mm nhưng phân bố không đều theo các tháng trong năm Mưa tập trung
chủ yếu vào tháng 9, 10, 11, cao nhất vào tháng 9 thường gây nên lũ lụt Nước
lũ tràn về đồng ruộng tạo nên lớp phù sa mới, bồi đắp độ màu mỡ cho đất nhưng
Trang 31nước lớn làm ngập lụt xóm làng gây ra nhiều thiệt hại cho sản xuất và đời sống.
- Độ ẩm: độ ẩm trung bình năm đạt 84%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất
94% (tháng 9,11), tháng thấp nhất là 75% (tháng 1 và 2)
- Nắng: khu vực Đông Hà có số giờ nắng cao nhưng phân bố không đều
giữa các tháng trong năm Thời kỳ nắng nhiều là những tháng mùa khô từ tháng
4 đến tháng 8, số giờ nắng đều lớn hơn 200 giờ Tháng có giờ nắng cực đại là
tháng 7, đạt 239 giờ Thời kỳ ít nắng là những tháng mùa đông từ tháng 11 đến
tháng 3, số giờ nắng dưới 120 giờ Tháng ít nắng nhất là tháng 12, đạt 80,5 giờ
- Gió: Đông Hà chịu ảnh hưởng sâu sắc của 2 loại gió mùa: gió mùa Đông
Bắc hoạt động từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Gió mùa Tây Nam hoạt động
khá mạnh mẽ từ tháng 4 đến tháng 9 Tốc độ gió trung bình trong các tháng từ
2,5 - 3,5 m/s Tốc độ gió mạnh thường xảy ra trong cơn dông, hoặc khi có bão
đổ bộ, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được 35m/s
- Bão: mùa bão thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 11, tập trung nhất vào
các tháng 9 đến 11 Các cơn bão đổ bộ vào đất liền thường kèm theo mưa to kết
hợp nước biển dâng cao và lượng mưa từ trên nguồn đổ xuống gây lũ lụt và
ngập úng trên diện rộng làm thiệt hại đến cơ sở hạ tầng, phá hoại mùa màng, gây
nhiều tổn thất về kinh tế, xã hội và môi trường
d) Thủy văn:
Chế độ thủy văn của thành phố Đông Hà chịu ảnh hưởng của hệ thống sông
ngòi và thủy triều từ biển vào thông qua Cửa Việt Hệ thống sông ngòi của thành
phố gồm 3 sông chính:
Sông Hiếu: Là hệ thống sông lớn nhất chảy qua phía Bắc thành phố, bắt
nguồn từ sườn Đông dãy Trường Sơn, huyện Hướng Hóa, từ độ cao trên 1000 m
chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam qua địa phận huyện Cam Lộ đi về Đông
Hà và nhập vào sông Thạch Hãn ở ngã 3 Gia Độ Sông Hiếu có chiều dài 70 km,
diện tích lưu vực 465 km2 Đoạn đi qua thành phố Đông Hà dài 8 km, chiều rộng
trung bình 150 - 200 m Khu vực hạ lưu sông Hiếu chịu sự chi phối của thủy
triều từ biển vào nên có chế độ dòng chảy khá phức tạp Về mùa khô dòng chảy
ở thượng lưu nhỏ nên mặn xâm nhập sâu, biên độ mặn lớn, mùa lũ nước thường
dâng cao gây ngập lụt Sông Hiếu là nguồn phù sa bồi đắp màu mỡ cho các cánh
đồng ven hai bên sông; cung cấp nước ngọt dồi dào cho sản xuất và sinh hoạt,
đồng thời còn là nguồn điều hoà chế độ nhiệt ẩm cho thành phố, nhất là vào mùa
hè Sông Hiếu còn là đường thuỷ rất thuận lợi nối Đông Hà - Cam Lộ, Đông Hà
- Cửa Việt và là nguồn khai thác cát sạn dồi dào cho ngành xây dựng
Trang 32Sông Thạch Hãn: Bắt nguồn từ Ba Lòng, sông có chiều dài 145 km, đoạn
chảy ven phía Đông thành phố dài 5 km là ranh giới giữa Đông Hà và huyện
Triệu Phong
Sông Vĩnh Phước: Bắt nguồn từ vùng đồi cao 300 - 400 mét thuộc huyện
Cam Lộ chảy qua phía Nam thành phố đổ vào sông Thạch Hãn, có chiều dài 45
km, chiều rộng trung bình 50-70m, diện tích lưu vực 183 km2 ; lưu lượng trung
bình 9,56m3/s, mùa kiệt 1,79m3/s Đây là con sông cung cấp nguồn nước sinh
hoạt chính cho địa bàn thành phố
Mạng lưới các hồ đập: Ngoài hệ thống các sông chính, Đông Hà còn có
mạng lưới các hồ đập phân bố đều khắp trên địa bàn thành phố như hồ Trung
Chỉ, hồ Khe Mây, hồ Đại An, hồ Khe Sắn, hồ Km 6
Nhìn chung mạng lưới sông suối, hồ ao là nguồn nước dồi dào cung cấp
cho sinh hoạt dân cư, phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, phát
triển các ngành kinh tế, có tác dụng điều hòa khí hậu, môi trường sinh thái trên
địa bàn thành phố
e) Đất đai:
Theo số liệu thống kê thành phố, tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố là
7295,87 ha, được phân theo các loại đất chính: đất nông nghiệp, đất phi nông
nghiệp và đất chưa sử dụng
- Đất nông nghiệp: Diện tích 3.939,48 ha, chiếm 54,55% tổng diện tích tự
nhiên, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất mặt nước nuôi
trồng thuỷ sản
+ Đất sản xuất nông nghiệp: Có diện tích 1.568,51 ha, trong đó đất trồng
cây hàng năm 1.385,12 ha, chiếm phần lớn diện tích 87,95% đất sản xuất nông
nghiệp, chủ yếu là trồng lúa, màu 1.125,69 ha và trồng các loại cây thực phẩm
như đậu, đỗ, rau, quả, ớt Đất trồng cây lâu năm có diện tích 174,82 ha chiếm
9,0% diện tích đất sản xuất nông nghiệp, chủ yếu trồng cây cây ăn quả các loại
+ Đất lâm nghiệp: Có diện tích 2.370,97 ha, chiếm 32,5% diện tích tự
nhiên, phần lớn là rừng trồng sản xuất, rừng bảo vệ môi trường sinh thái
+ Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích 186,62 ha, chiếm 4,6% diện
tích đất nông nghiệp, bao gồm các hồ, đầm nuôi cá, tôm, thuỷ sản
- Đất phi nông nghiệp: Diện tích 2.492,93 ha, chiếm 34,17% diện tích tự
nhiên, bao gồm các loại đất:
Trang 33+ Đất ở: Có diện tích 782,01 ha, chiếm 31,37% đất phi nông nghiệp Đông Hà
là một đô thị không có xã ngoại thị nên toàn bộ đất ở của thành phố là đất ở đô thị,
không có đất ở nông thôn Bình quân đất ở đô thị/người là 92,5 m2 /người
+ Đất chuyên dùng: Diện tích 962,04 ha, chủ yếu là đất giao thông, xây
dựng, thuỷ lợi, dẫn truyền năng lượng
+ Các loại đất phi nông nghiệp khác: Diện tích 748,88 ha, bao gồm đất tôn
giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa địa, sông suối và mặt nước chuyên dùng
- Đất chưa sử dụng: Diện tích còn 571,22 ha, chiếm 7,83% tổng diện tích tự
nhiên, chủ yếu là đất bằng và đất đồi núi chưa sử dụng Hầu hết các phường đều
còn diện tích đất chưa sử dụng Thời gian tới, cần triệt để khai thác sử dụng quỹ
đất này phục vụ phát triển các ngành kinh tế-xã hội trên địa bàn thành phố
4.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Qua quá trình phát triển từ khi trở thành trung tâm tỉnh lỵ đến nay, kinh tế
của thành phố Đông Hà luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, thời kỳ sau
cao hơn thời kỳ trước, luôn dẫn đầu trong toàn tỉnh
- Về tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong những
năm qua đạt 11,5 - 12,5%/năm và phấn đấu đạt 12,5 - 13,5% thời kỳ 2016 - 2020
4.1.2.2 Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng nghành sản xuất
nông nghiệp, tăng tỷ trọng nghành nghề và dịch vụ Cơ cấu kinh tế trên địa bàn
có xu hướng tăng mạnh trong các nghành dịch vụ (66,6%), công nghiệp-xây
dựng (30,5%), nông nghiệp (2,9%)
4.1.2.3 Dân số và lao động
a) Dân số
Dân số trung bình toàn thành phố có 83.191 người, trong đó nam chiếm
48,9%, nữ 51,1% Theo cách tính quy mô dân số trong phân loại đô thị (bao
gồm cả dân số thường trú và tạm trú quy đổi) thì quy mô dân số Đông Hà hiện
nay khoảng 92.000 - 93.000 người Trên địa bàn dân cư phân bố không đều, tập
trung đông ở các phường nội thị Phường I tập trung đông dân nhất, có mật độ
9.023 người/km2 , phường III có mật độ thấp nhất 292 người/m2
Trang 34b) Lao động.
Trên địa bàn thành phố có 51.831 người trong độ tuổi lao động, chiếm
62,3% tổng dân số, bình quân mỗi năm tăng thêm khoảng 1.100-1.200 người
Bên cạnh sự gia tăng nguồn nhân lực từ số dân bước vào tuổi lao động, thành
phố còn là địa bàn hấp dẫn, thu hút lao động từ các địa phương trong tỉnh đến
làm việc và sinh sống, trung bình mỗi năm có khoảng 400-500 người Đây là
nguồn nhân lực bổ sung cho nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng là áp lực đối với
vấn đề tạo việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội
4.1.2.4 Cơ sở hạ tầng
a) Giao thông
Thời gian qua, hệ thống giao thông trên địa bàn thành phố đã được đầu tư
xây dựng tương đối hoàn chỉnh, nhiều tuyến được nâng cấp, mở rộng và quy
hoạch mới Nhiều tuyến đường chính đã được trải nhựa, bê tông hóa và bo, lát
vỉa hè Đường giao thông nội đồng phục vụ sản xuất, vận chuyển nông nghiệp
tính đến năm 2015 đã cơ bản hoàn thành trên 93%
b) Giáo dục
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo của thành phố có nhiều chuyển biến tích cực,
ngày càng phát triển Quy mô giáo dục không ngừng được mở rộng, chất lượng
giáo dục toàn diện ở các ngành học, bậc học ngày càng được khẳng định Các
trường lớp từng bước được kiên cố hóa, cơ sở vật chất được tăng cường Đến
nay toàn thành phố đã có 20 trường thuộc các bậc học đạt chuẩn quốc gia về
giáo dục, đạt 44% so tổng số trường Chất lượng giáo viên ngày càng được nâng
lên, có 100% giáo viên trung học cơ sở, 98,6% giáo viên tiểu học và trên 90%
giáo viên mầm non đạt và vượt chuẩn các loại hình trường lớp phát triển đa
dạng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của con em trên địa bàn Công tác
xã hội hóa giáo dục đạt được những kết quả nhất định
c) Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Trên địa bàn thành phố có 23 cơ sở y tế công lập, trong đó có 2 bệnh viện:
Bệnh viện đa khoa tỉnh quy mô 300 giường và Bệnh viện thành phố quy mô 50
giường; 9 trạm y tế phường; có 1 phòng Quản lý sức khỏe cán bộ, 1 Trung tâm
phòng chống bệnh xã hội, 1 Trung tâm giám định y khoa do Tỉnh quản lý và
Trung tâm y tế của thành phố v.v Đặc biệt đang xây dựng mới Bệnh viện đa
khoa tỉnh 500 giường và Bệnh viên chuyên khoa Lao và bệnh phổi Ngoài ra còn
có các phòng khám chuyên khoa, đa khoa tư nhân Năm 2010, đã có 100% trạm
Trang 35y tế phường có bác sỹ, 100% trạm y tế đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế Bình
quân trên 1 vạn dân có 27,4 bác sỹ, 77 giường (kể cả y tế tuyến tỉnh và tuyến
thành phố) Số trẻ dưới 1 tuổi uống đủ 6 loại văcxin đạt 99,7%, tiêm ngừa uốn
ván cho phụ nữ có thai đạt 99,6% Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm còn 11,2%
d) Văn hóa – Thông tin – Thể thao
Hoạt động văn hoá-văn nghệ được phát triển rộng khắp trên địa bàn thành
phố Hàng năm tổ chức được nhiều cuộc thi, hội diễn văn nghệ quần chúng với
chất lượng ngày càng tăng Việc bảo tồn và phát huy các truyền thống văn hóa
dân tộc được quan tâm hơn Công tác thông tin có nhiều chuyển biến ích cực
góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Phong trào xây dựng
đời sống văn hóa cơ sở, nếp sống văn minh, gia đình văn hóa ngày càng phát
triển sâu rộng Đến nay đã có 87,5% gia đình, 85,5% khu phố, 88,2% cơ quan,
trường học đạt tiêu chuẩn văn hóa Các thiết chế văn hóa đang được quan tâm
đầu tư, đã có 7/9 phường có thiết chế văn hóa, 67/83 khu phố có nhà văn hóa,
trong đó 34 nhà văn hóa đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên chất lượng các hoạt động văn
hóa chưa cao, chất lượng thông tin tuyên truyền chưa hấp dẫn Việc phòng
chống, ngăn chặn các tệ nạn xã hội, các tập tục lạc hậu còn hạn chế
Phong trào thể dục thể thao quần chúng có bước phát triển khá Nhiều
phường đã tổ chức Hội khoẻ Phù đổng, đại hội thể dục thể thao cơ sở Số người
tham gia luyện tập TDTT ngày càng đông Đã có 100% các trường trên địa bàn
thành phố thực hiện tốt công tác giáo dục thể chất, đưa vào hoạt động chính
khóa Thể thao thành tích cao được chú trọng và có bước phát triển khá
4.2 Thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn thành
phố Đông Hà
4.2.1 Số lượng, quy mô, phân loại theo chuỗi sản
phẩmchủ yếu các hợp tác xã
Địa bàn nghiên cứu gồm có 18 HTX NN, mỗi HTX ứng với mỗi chuỗi
cung ứng dịch vụ sản phẩm khác nhau, phần lớn các HTX nằm trên vùng sinh
thái đồng bằng (bảng 4.1)
Trang 36Bảng 4.1 Quy mô, số lượng các HTX phân loại theo hiệu quả hoạt động, vùng
sinh thái và chuỗi sản phẩm chủ yếu
Tên HTX Quy mô Phân loại
hợp tác xã
Vùng sinh thái
Sản phẩm chủ yếu
Vĩnh Phước Thôn ấp Trung bình Đồng bằng Lúa
Tân An Thôn ấp Khá giỏi Bán sơn địa Gỗ, bò
Tân Vĩnh Thôn ấp Trung bình Đồng bằng Lúa
Lương An Thôn ấp Yếu kém Đồng bằng Lúa
Tây Trì Thôn ấp Trung bình Đồng bằng Lúa
Đông Hiếu Phường Khá giỏi Đồng bằng Lúa, gỗ
Phương Gia Thôn ấp Trung bình Đồng bằng Lúa
Trùng Chỉ Thôn ấp Trung bình Đồng bằng Lúa
Phú Lễ Thôn ấp Trung bình Đồng bằng Lúa
Lạng Phước Thôn ấp Khá giỏi Đồng bằng Lúa
Đông Thanh Phường Khá giỏi Đồng bằng Lúa, rau
Đại Áng Thôn ấp Trung bình Đồng bằng Lúa
Đông Giang I Liên thôn Trung bình Đồng bằng Lúa
Lai Phước Thôn ấp Trung bình Đồng bằng Lúa
Lập Thạch Liên thôn Trung bình Đồng bằng Lúa
Điếu Giang Phường Trung bình Đồng bằng Lúa
Đông Giang II Liên thôn Trung bình Đồng bằng Lúa, thủy sản
Vân An Liên thôn Trung bình Đồng bằng Lúa
(Nguồn: Điều tra HTX năm 2016)
Kết quả cho thấy rằng, trên tổng số 18 HTX NN, có 16,66% HTX với quy
mô địa bàn hoạt động trên toàn phường, 22,22% HTX liên thôn và 61,12% các
HTX còn lại có quy mô theo thôn
Nhìn chung các HTX NN ở Đông Hà được đánh giá hoạt động có hiệu quả,
có lãi, đáp ứng được nhu cầu sản xuất nông nghiệp của bà con nông dân trên địa
bàn hoạt động (94,44% các HTX có địa bàn hoạt động nằm trên vùng sinh thái
đồng bằng) Căn cứ vào những chỉ tiêu đánh giá các HTX được chia làm 3 loại
với số HTX khá giỏi chiếm 22,22%, 72,22% HTX trung bình và 5,56% HTX
yếu kém hoạt động thua lỗ Trên thực tế điều tra, HTX Lương An – HTX được
đánh giá là yếu kém đang hoạt động với số vốn điều lệ hiện tại là 0, hoạt động
của HTX chỉ mang tính hình thức, cầm chừng qua từng mùa vụ
Về mặt sản phẩm, sản phẩm cung ứng chủ yếu của các HTX là lúa, gỗ, bò,
thủy sản, 94.44% HTX với sản phẩm chủ yếu là lúa, riêng HTX Tân An là hợp
Trang 37thuận lợi để phát triển lúa tuy nhiên đây lại là địa hình lý tưởng để phát triển
kinh tế lâm nghiệp Kết quả cho thấy HTX Tân An đã hoạt động rất hiệu quả,
được đánh giá là HTX khá giỏi với sản phẩm cung ứng chủ yếu là gỗ và bò
4.2.2 Lịch sử ra đời của các HTX nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
Cùng với tình hình của cả nước,các HTX nông nghiệp trên địa bàn Thành
phố Đông Hà đã được thành lập nhằm mục đích phát triển kinh tế tập thể Qua
thời gian để phù hợp với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, các HTX đã
được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của người nông dân
ĐVT: %
18 hợp tác xã 0
Trước năm 1986 Từ năm 1986 đến 2012 Sau năm 2012
Biểu đồ 4.1 Thời gian thành lập các HTX
(Nguồn: Điều tra HTX năm 2016)
Về thời gian thành lập các HTX, 61,11% HTX thành lập trong giai đoạn
1986-2012, 33,33% HTX thành lập trước năm 1986 và 5,56% HTX thành lập
sau năm 2012
Thực tế điều tra thời gian thành lập của 18 HTX cho thấy, trước năm 1986
nhiều HTX lớn đã được thành lập, sau đó trong thời kỳ đổi mới để phù hợp với
việc quản lý, điều hành và đặc thù của địa bàn mỗi vùng các HTX đã được tách
ra thành lập lại theo quy mô nhỏ hơn từ các HTX lớn Cụ thể:
Trang 38- Các HTX Lập Thạch(1998), Lương An(1999), Lạng Phước(1996),
Phương Gia(1990),Vân An (1989) , Phú Lễ (1986) được tách ra từ HTX lớn
Đông Lễ (1986) Cần nói thêm HTX Đông Lễ là tiền thân của HTX Phú Lễ, dựa
trên cơ sở văn phòng, vật chất HTX Đông Lễ cũ sau khi giải thể người ta đổi tên
và thành lập HTX Phú Lễ
- HTX Đông Giang II(1982) được tách ra từ HTX Đông Giang I(1981)
- Các HTX Tân Vĩnh(1988), Lai Phước (1989), Đại Áng (1989), Vĩnh
Phước (1986), Trùng Chỉ (1982) được tách ra từ HTX Đông Lương, trong quá
trình giải thể HTX Đông Lương đồng thời thành lập HTX Trùng Chỉ
-Các HTX Điếu Giang (1978), Đông Hiếu (1980), Tây Trì (1982), Đông
Thanh (1981) là 4 HTX không có những biến động nhiều về tổ chức, tuy nhiên
nhìn chung trên địa bàn quy mô hoạt động của 4 HTX này có xu hướng giảm dần
- Đối với HTX Tân An (2012) là hợp tác xã mới thành lập, xuất phát từ nhu
cầu phát triển kinh tế lâm nghiệp của một số hộ dân ở Khu phố Khe Lấp –
Phường 3 Đây là một HTX được đánh giá cao và tiềm năng sẽ phát triển mạnh
trong tương lai
4.2.3 Đặc điểm, số lượng thành viên
4.2.3.1 Về số lượng
Trãi qua nhiều năm số lượng thành viên của HTX đã có rất nhiều thay đổi,
số lượng thành viên của một HTX thể hiện quy mô của hợp tác xã, phản ánh
mức độ tin cậy, ủng hộ của bà con nông dân với HTX trên địa bàn hoạt động
(bảng 4.2)
Trang 39Bảng 4.2 Tình hình biến độ số lượng thành viên
Tên HTX
Thành viên khi thành lập
Thành viên hiện tại
So sánh (+/-) Tỉ lệ %
(Nguồn: Báo cáo HTX năm 2016)
Từ bảng 4.2 có thể thấy 11 HTX (61,1%) giảm về số lượng thành viên, 6
HTX (33,3%) tăng về số lượng thành viên và 1 HTX (5,6%) giữ nguyên số lượng
thành viên từ khi thành lập Theo thời gian, số lượng thành viên các hợp tác xã đã
có nhiều biến động để đáp ứng nhu cầu sản xuất của bà con nông dân trên địa bàn,
riêng HTX trồng trọt chăn nuôi Tân An thành lập vào năm 2012 là một hợp tác xã
mới hoạt động 4 năm vẫn chưa có biến động về số lượng thành viên
Trang 40Nhìn chung các HTX giảm rất mạnh về số lượng thành viên, từ khi thành
lập 18 HTX có 5425 thành viên, hiện tại là 3753 thành viên giảm 1672 thành
viên (32,4%) so với số lượng ban đầu, trung bình mỗi hợp tác xã giảm 92 thành
viên (1,8%) Cụ thể, các hợp tác xã có số lượng thành viên khi thành lập và số
lượng thành viên tăng giảm khác nhau:
Số HTX giảm về số lượng thành viên gồm 11 HTX: Nhận thấy từ bảng tỷ
lệ giảm trung bình của 11 HTX là 30,01%, HTX có tỷ lệ giảm cao nhất là
76,74% (165 thành viên), tỷ lệ giảm thấp nhất là 3,24%(10 thành viên)
6 HTX tăng về số lượng thành viên: Tỷ lệ tăng trung bình của 6 HTX là 42,
73%, HTX có tỷ lệ tăng cao nhất là 116,6% (35 thành viên), tỷ lệ tăng thấp nhất
là 1,09% (5 thành viên)
4.2.3.2 Đặc điểm thành viên
* Về giới tính
Số lượng thành viên của các HTX và THT là một trong số các chỉ tiêu quan
trọng, phản ánh thực trạng về quy mô, sự tham gia của nam giới và nữ giới vào
các mô hình tổ chức sản xuất tập thể ở các địa phương hiện nay Kết quả khảo
sát về số lượng thành viên, sự tham gia của 2 giới vào các HTX thể hiện cụ thể ở
Đông
Hiếu
Phươ
ng Gia
Đông
Tha
nh
Đại Áng
Đông
Gian
g II
Vân An
75.43 66.11 78.46 53.49 65 62.4170.06
31.69 53.67 66.06 40.33
62.47
38.4630.24
54.55
38 54.35 38.15
24.57 33.8921.54
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ tham gia cụ thể của hai giới vào 18 HTX
(Nguồn: Điều tra hợp tác xã năm 2016)