1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng trồng quế của người dân trên địa bàn xã trà sơn, trà bồng, quảng ngãi

55 1,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm khắc phục những tồn tại và hạn chế nêu trên vì thế tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng trồng Quế của người dân trên địa bàn xã Trà Sơn, Trà Bồng, Quảng Ngãi” nhằm đánh giá

Trang 1

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hàm lượng tinh dầu Quế của 1 số nước 3

Bảng 2.2: Sản lượng cụ thể của từng châu (2013): 17

Bảng 2.3: Các nước xuất khẩu Quế trên thế giới năm 2013 17

Bảng 2.4: Khối lượng và giá trị nhập khẩu bình quân/năm mặt hàng Quế trên thế giới giai đoạn 2006-2010 19

Bảng 4.1: Diện tích và sản lượng một số loại cây trồng từ năm 2013-2015 25

Bảng 4.2: Cơ cấu diện tích đất rừng ở xã Trà Sơn năm 2015 (Đvt: ha) 26

Bảng 4.3: Số lượng một số loại gia súc, gia cầm từ năm 2013-2015 (Đơn vị tính: con) 26

Bảng 4.4: Thống kê diện tích Quế theo tuổi ở xã Trà Sơn năm 2014 (ĐVT: ha) 27

Bảng 4.5: So sánh các đặc trưng hình thái thực vật của cây Quế địa phương và cây Quế di thực 29

Bảng 4.6: Thông tin chung của các hộ trồng Quế 30

Bảng 4.7: Giá Quế qua các năm 33

Bảng 4.9: Các loại tài sản mua được từ tiền thu từ Quế 35

Bảng 4.10: Nguồn gốc giống Quế của nông hộ 38

Bảng 4.11: Mức độ khó khăn của người dân (Đvt:%) 39

Trang 2

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Bản đồ hành chính huyện Trà Bồng 22Hình 4.2: Sơ đồ kênh tiêu thụ Quế ở xã Trà Sơn 29

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

PHẦN II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

2.1 Giới thiệu chung về cây Quế 2

2.1.1 Đặc điểm sinh học của cây Quế 2

2.1.2 Giá trị của cây Quế 3

2.1.3 Gieo trồng và thu hoạch cây Quế 6

2.1.4 Về thị trường đầu ra 6

2.1.5 Sự phân bố Quế trồng trên thế giới, tại Việt Nam 7

2.1.6 Các giống Quế ở Việt Nam 9

2.1.7 Điều kiện sinh thái của cây Quế 9

2.1.8 Tình hình nghiên cứu cây Quế ở Việt Nam 10

2.1.9 Sâu bệnh hại chính trên cây Quế và phương pháp phòng trừ 15

2.1.10 Một số khái niệm liên quan 16

2.2 Tình hình xuất nhập khẩu sản phẩm Quế 17

2.2.1 Tình hình sản xuất Quế trên thế giới 17

2.2.2 Tình hình tiêu thụ Quế của thị trường thế giới 18

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 20

3.2 Nội dung nghiên cứu 20

3.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã: xã Trà Sơn, Trà Bồng, Quảng Ngãi 20

3.2.2 Thực trạng sản xuất Quế tại xã Trà Sơn 20

3.2.3 Đánh giá vai trò của trồng Quế đối với thu nhập của người dân xã Trà Sơn 20

3.2.4 Những khó khăn và thuận lợi trong phát triển trồng Quế 20

Trang 5

3.3 Phương pháp nghiên cứu 20

3.3.1 Chọn điểm nghiên cứu 20

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu 21

2.4.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 21

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Trà Sơn 22

4.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Trà Sơn 22

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Trà Sơn 25

4.2 Thực trạng trồng Quế của người dân trên địa bàn xã Trà Sơn 26

4.2.1 Thực trạng trồng Quế ở xã Trà Sơn 26

4.2.2 Thực trạng trồng Quế ở các hộ khảo sát 30

4.2.3 Tình hình tiêu thụ hồ tiêu của các nông hộ khảo sát 32

4.2.4 Vai trò của cây Quế đối với thu nhập của người dân xã Trà Sơn 34

4.3 Thuận lợi và khó khăn của người dân trồng Quế ở xã Trà Sơn 35

4.3.1 Thuận lợi khi trồng Quế 35

4.3.2 Khó khăn khi trồng Quế 39

PHẦN V KẾT LUẬN 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Kiến nghị 43

5.2.1 Đối với người dân trồng Quế 43

5.2.2 Đối với các cấp chính quyền 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 8

PHẦN I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Đặt vấn đề

Trong khoảng mấy chục năm trở lại đây, Việt Nam được biết đến rộng rãi trênthế giới nhờ sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng đặc trưng của miền nhiệt đới nóng

ẩm Một trong số những mặt hàng đặc trưng ấy phải kể đến mặt hàng Quế Cho đếnngày nay, Quế vẫn giữ nguyên được giá trị đa công dụng của nó Quế là một loài câybản địa có nhiều công dụng, trong những năm gần đây cây quế đã được trồng rộng rãi

ở nhiều địa phương trong cả nước Với giá trị kinh tế cao, dễ gây trồng và chu kỳ kinhdoanh không quá dài như một số cây gỗ khác, cây quế có thể tổ chức sản xuất thànhnguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và có giá trị

Quảng Ngãi là địa phương có vùng trồng Quế lớn thứ 2 ở Việt Nam Trong đó,vùng quế được trồng tập trung với quy mô lớn nhất tỉnh là 2 huyện Trà Bồng và TâyTrà Trong đó, huyện Trà Bồng có khoảng 2.600 ha và Tây Trà 2.500 ha Nhờ vàođiều kiện khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng thích hợp nên cây Quế Trà Bồng được xem làsản phẩm chất lượng cao; vỏ quế dày, hương vị thơm ngon Ngày nay, Quế Trà Bồngđược Cục Sở hữu trí tuệ công nhận nhãn hiệu tập thể “ Quế Trà Bồng – Tây Trà,Hình”, là 1 trong số 4 đặc sản của Quảng Ngãi, có mặt trong Top 10 đặc sản thiênnhiên nổi tiếng của Việt Nam và 8 đặc sản quà tặng Việt Nam đã được công nhận giátrị đặc sản quà tặng châu Á[1]

Xã Trà Sơn là một xã miền núi thuộc huyện Trà Bồng nằm ở Trung Bộ, nằm vềphía Tây Bắc của tỉnh Quảng Ngãi ở độ cao trung bình từ 700-1500 m so với mặt nướcbiển Là một trong những xã trồng Quế tập trung tại huyện Trà Bồng, đây được xem làcây kinh tế vườn chủ lực không thể thay thế tại huyện Trà Bồng nói chung và xã TràSơn nói riêng Chính cây Quế đã góp phần làm thay đổi cuộc sống từ khó khăn trở nên

đủ ăn và giàu có cho bao hộ gia đình trên vùng đất đỏ bazan này Tuy nhiên, việc sảnxuất và phát triển diện tích Quế của người dân trên đại bàn xã thời gian qua còn nhữngtồn tại và hạn chế nhất định nên thu nhập của người trồng Quế thấp chưa tương xứngvới tiềm năng và lợi thế vốn có của loài cây này; năng suất, chất lượng sản phẩm Quếthu hoạch chưa cao Bên cạnh đó, người dân không mặn mà với việc trồng Quế dẫnđến diện tích trồng ngày một giảm đi Nhằm khắc phục những tồn tại và hạn chế nêu

trên vì thế tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng trồng Quế của người dân trên địa bàn xã Trà Sơn, Trà Bồng, Quảng Ngãi” nhằm đánh giá đúng tình hình sản

xuất Quế làm cơ sở cho việc đề xuất những định hướng bảo tồn và phát triển loài câybản địa có giá trị này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng trồng Quế của người dân trên địa bàn xã Trà Sơn

- Đánh giá vai trò của trồng Quế đối với thu nhập của người dân

- Nghiên cứu những khó khăn và thuận lợi của việc trồng Quế đối với người dân

Trang 9

PHẦN II TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu chung về cây Quế

2.1.1 Đặc điểm sinh học của cây Quế

Quế là tên gọi của nhiều loài trong trong chi Cinnamomum thuộc họ Lauraceae,lớp hai lá mầm, ngành hạt kín, với đặc trưng là vỏ có dầu thơm, cay nồng, dùng làmthuốc, hương liệu hay gia vị Chi Cinnamomum ở Đông Dương có 22 loài trong đó có

3 loài Cinnamomum Cassia BL, Cinnamomum obtussfolium Ness, Cinnamomumzeylancium Cây Quế ở xã Trà Sơn là loài Cannamomum Cassia BL[2]

Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá vànổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng,mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18-20 cm, rộng khoảng 6-8 cm,cuống lá dài khoảng 1 cm Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân câytròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc Trong các bộ phận của câyQuế như vỏ, lá, hoa, rễ, gỗ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có chứa hàm lượngtinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4-5% Tinh dầu Quế có màu vàng, thành phần chủyếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70-90% Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắtđầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo,vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay màu phớt vàng Quế ra hoa vào tháng 4, 5 vàquả chín vào tháng 1, 2 năm sau Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyểnsang màu tím than, quả mọng trong chứa 1 hạt, quả dài 1-1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1

kg hạt quế có khoảng 2000-3000 hạt Bộ rễ quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vàolòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy Quế có khả năng sinh sống tốt trêncác vùng đồi núi dốc Cây Quế lúc còn nhỏ cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng

và phát triển tốt, càng lớn lên mức độ chịu bóng càng giảm dần và sau khoảng 3-4 nămtrồng thì cây Quế hoàn toàn ưa sáng Quế ưa khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp cho

sự sinh trưởng và phát triển của cậy Quế là 20-25℃, tuy nhiên Quế vẫn có thể đượcđiều kiện nhiệt độ thấp (lạnh tới 10℃ hoặc 0℃) hoặc nhiệt độ cao tối đa 37-38℃.Lượng mưa hàng năm khoảng 1.600-2.500 mm Quế có thể mọc được trên nhiều loạiđất có nguồn gốc đá mẹ khác nhau (sa thạch, phiến thạch…), đất ẩm nhiều mùn, tơixốp; đất đỏ, vàng, đất cát pha; đất đồi núi, chua (pH 4-6), nghèo dinh dưỡng, nhưngthoát nước tốt Tuy nhiên, cây Quế thích hợp tốt nhất ở những nơi có độ cao địa hình,chêch lệch biên độ nhiệt ngày và đêm lớn, có như vậy thì cây Quế mới tích lũy đượcnhiều tinh dầu

Loại cây này đã trở thành cây đặc sản của vùng nhiệt đới như Việt Nam,Srilanca, Indonexia, Ấn Độ, Trung Quốc, Madagasxca… Chất lượng các loại Quếkhác nhau của các nước được so sánh bằng hàm lượng tinh dầu chứa trong Quế Hàmlượng càng nhiều, chất lượng Quế càng tốt

Trang 10

Bảng 2.1 Hàm lượng tinh dầu Quế của 1 số nước

Nguồn: Nguyễn Năng Vinh[3]

Quế là một loại cây có yêu cầu tương đối đặc biệt về điều kiện tự nhiên và pháttriển được ở một số nơi nhất định ở miền nhiệt đới, nắng lắm, mưa nhiều, độ ẩm cao…Cây Quế phát triển thích hợp trên loại đất mùn xốp, thoáng nước, có độ dốc 10-20°,cây ưa mát với nhiệt độ trung bình 20-25℃ Do vậy trên thế giới chỉ có 1 số nước mới

có điều kiện thuận lợi để cho cây Quế phát triển như Việt Nam, Trung Quốc,Indonexia, Ấn Độ, Srilanca, Nhật Bản, Nga Song ở những nơi này cây Quế củng chỉ

có thể sinh trưởng được ở một số vùng nhất định, do vậy cây Quế từ lâu đã trở thànhmột loại cây đặc sản của một số vung nhiệt đới

2.1.2 Giá trị của cây Quế

Tất cả các bộ phận của cây Quế đều có giá trị sử dụng cho một số ngành sảnxuất Vỏ Quế có thể dùng vào việc chữa bệnh, gia vị thực phẩm, đồ dùng gia đình…

Gỗ Quế có thể dùng để chế tạo các đồ dùng như bàn ghế, tủ, đồ mỹ nghệ, cành lá cóthể nấu lấy tinh dầu hoặc làm củi đốt Tuy nhiên vỏ Quế lại là bộ phận có giá trị nhất

vì tinh dầu chủ yếu được chưng cất từ vỏ cây

Cây Quế ngoài thành phần chủ yếu là Andehyt Cinamic còn chứa nhiều chấtkhác như ogenola, saprola, fuaurola,… các chất này có công dụng trong một số lĩnhvực như y học để làm thuốc chữa bệnh, trong công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng.Ngày nay, người ta thường tách lấy Andehyt từ cây Quế rồi chuyển hóa thành chấtthơm có giá trị khác Trong công nghiệp thực phẩm Quế được dùng làm gia vị để chếbiến bánh kẹo, chát định hướng, trong công nghiệp hàng tiêu dùng Quế được dùng làmnguyên liệu chế biến xà phòng, nước hoa, dầu chải, phấn sáp… Nhiều nơi trên thế giớingười ta đã biết dùng quế làm gia vị thực phẩm cách đây hàng trăm năm; ngày nay,Quế, hồ tiêu, sa nhân, đinh hương, gừng… đã trở thành tập đoàn gia vị có giá trị phùhợp với khẩu vị của nhiều nước trên thề giới Đặc biệt hơn nữa, khi y học hiện đại pháttriển người ta lại phát hiện nhiều công dụng chữa bệnh của cây Quế

Theo Đông Y, cây Quế có vị cay, tính đại nhiệt, vị đắng, thơm và ngọt, có tácdụng bổ mật, thông huyết mạch, dùng để chữa chứng chân tay co quắp, đau bụng do

Trang 11

khí lạnh, chữa phong hàn, viêm khớp, hư tâm tỳ, mạch chạy nhỏ, bệnh dịch tà cấptính… Từ xa xưa, nhân dân ta đã biết dùng vỏ cây Quế mài vào nước đun sôi để nguộirồi uống sẽ chữa được các bệnh về tiêu hóa, hô hấp, kích thích sự tuần hoàn máu, lưuthoogn huyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên… Quế có tính năng chống lại giá lạnh, cótính sát trùng nên nó được nhân dân ta coi là một trong bốn loại thuốc quý bao gồm:sâm, nhung, quế, phụ Trong đời sống hàng ngày, Quế được dùng để khủ bớt mùi tanhcủa cá, làm cho món ăn thơm ngon, hấp dẫn hơn, kích thích được tiêu hóa Ngoài raQuế còn được dùng để sản xuất bánh kẹo, rượu như bánh Quế, kẹo Quế, rượu Quế…Quế còn được sử dụng làm hương vị, bột Quế được trộn với các vật liệu khác nhau sau

đó đem làm hương khi đốt lên có mùi thơm dễ chịu, được sủ dụng trong các đền chùa,đình miếu ở các nước Châu Á nơi có phong tục thờ cúng tổ tiên và theo đạo Khổng,đạo Hồi Gần đây, nhiều địa phương còn sử dụng gỗ Quế, vỏ Quế để làm ra các sảnphẩm thủ công mỹ nghệ như bộ khay, ấm, chén, dĩa bằng gỗ Quế; vỏ Quế được dùng

để sản xuất các tấm lót giày, làm dép đi trong nhà Hiện nay các sản phẩm này rấtđược ưa chuộng, Riêng mặt hàng dép đi trong nhà có tẩm bột Quế đã được xuất khẩu

đi một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản,…

Nhiều nơi trên thế giới gọi cây Quế là cây “chữa bách bệnh” Từ hàng ngànnăm qua, cây Quế đã đươc nhân dân ta dùng làm thuốc chữa bệnh và Quế Chi đã thành

vị thuốc ko thể thiếu trong các hiệu thuốc Đông Y, trong các toa thuốc Chính vì cónhiều công dụng như vậy nên từ lâu Quế đã trở thành hàng hóa được buôn bán ở khắpnơi trên thế giới

Từ lâu, nhân dân ta đã có kinh nghiệm trồng và chế biến các sản phẩm Quế.Cây Quế có thể dùng làm thuốc bổ, thuốc chữa bệnh, dùng làm hương liệu, thựcphẩm… Quế Trà Việt Nam nổi tiếng từ thời Bắc thuộc, khi đó Quế được mệnh danh là

“Giao Chỉ ngọc Quế” và luôn là vật phẩm dùng vào việc tiến công cho các vua chúaphương Bắc Ngày nay, do nhu cầu về sản phẩm Quế ở trong nước và trên thế giớingày một tăng thì các vùng trồng Quế ở nước ta ngày càng được mở rộng để đáp ứngnhu cầu đó Trên thế giới có nhiều loại Quế nhưng Quế Việt Nam vẫn được coi là làmột loại quí nhất, vẫn được các nước nhập khẩu đánh giá cao về chất lượng Ở ViệtNam, Quế được xuất khẩu dưới dạng thô chủ yếu là vỏ Quế còn cành, lá… thì đượcchưng cất thành tinh dầu sau đó dùng để sản xuất các loại dược phẩm như cao saovàng, làm hương liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng…

Thông thường Quế trồng sau 6-7 năm là có thể tiến hành khai thác tỉa thưađược Với loại Quế khai thác ở tuổi 15 thì có thể tỉa thưa từ 2-3 lần để điều chỉnh mật

độ cho thích hợp Thường cứ phải sau 15 năm thì rừng Quế mới cho khai thác chínhđược, tuy nhiên trong quá trình đợi khai thác chình người ta tiến hành tỉa thưa và dùngcác sản phẩm tỉa thưa này làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm

và hương liệu Các loại Quế tốt dùng vào mục đích làm dược liệu thì thời gian kéo dài

20 năm

Trang 12

Tuy cây Quế là loài thực vật sống lâu năm nhưng sản phẩm chính của cây Quếkhông phải gỗ như những loại cây khác mà chính là vỏ Quế Từ trước tới nay, khi nóiđến cây Quế người ta thường nghĩ ngay đến vỏ Quế Tuy nhiên, sản xuất Quế khôngchỉ lấy vỏ mà cành, lá Quế đều có thể sử dụng được, gỗ Quế được dùng nhiều trongngành công nghiệp, thủ công nghiệp, gỗ trụ mỏ.

Vỏ Quế khai thác trên cùng một cây thường chia thành các loại sau:

- Vỏ Quế bóc ở thân cây: đoạn cách gốc 1m đến nơi tỉa cành vỏ thường dày,lượng tinh dầu trong vỏ cao, vỏ thẳng đẹp ít bị thủng do có ít mắt chết và ít bị vênh.Nhân dân ta thường gọi loại Quế này là Quế Trung Châu Đây là loại Quế tốt nhất

- Vỏ Quế bóc từ ngọn cây các cành lớn thường được gọi là Quế Thượng căn.Loại Quế này thường có nhiều lỗ thủng do có nhiều mắt chết và hàm lượng tinh dầucủng ít hơn so với Quế Trung Châu Khi bóc vỏ loại Quế này cần chú ý hạn chế tối đa

sự xây xước do các mắt chết ở thân cây tạo nên

- Vỏ Quế Hạ căn là vỏ Quế bóc từ đoạn thân cây sát gốc có đặc điểm là vỏ dàynhưng hàm lượng tinh dầu thấp và thường bị cong vênh

- Vỏ Quế chi là vỏ Quế bóc từ những cành cây nhỏ

Sản phẩm Quế vỏ sau khi phơi khô bên ngoài có màu xanh xám, bên trong cómàu vàng nhạt, vàng sậm đến nâu vàng, khi nếm có vị rất cay sau đó có vị ngọt Khithu hoạch Quế vỏ, người dân áp dụng các phương thức khai thác trắng (chặt cả cây đểthu vỏ và lá) và bóc vỏ Quế bằng cách khoanh vòng trên thân Quế, sau đó dùng mộtthanh thép mỏng tách nhẹ vỏ Quế ra khỏi thân Vỏ Quế sau khi thu hoạch mang vềđược phoi khô tự nhiên dưới bóng râm hoặc dưới nắng nhạt, tránh nắng gắt vì sẽ mấtdầu Sau khi được các đơn vị thu mua, Quế vỏ được tiếp tục phơi khô và phân loại VỏQuế được bán trực tiếp ra thị trường hoặc sơ chế thành những sản phẩm chủ yếu như:Quế chẻ, Quế bào và Quế kẹp bằng phương pháp thủ công

Quế bào và Quế chẻ được sơ chế và dùng làm thuốc và gia vị; trong khi Quếkẹp được làm công phu bởi những nghệ nhân thường bán với mức giá cao và sử dụng

để chế tác ra các sản phẩm mỹ nghệ dùng làm quà tặng như: bình ly Quế, ché Quế, ốngtăm, hộp tròn, hộp trang trí… ngoài ra vỏ Quế còn được xay ra thành bột để làm gia vị

và làm đế lót giày

Ngoài sản phẩm là vỏ Quế thì gỗ Quế củng có nhiều giá trị sử dụng như cácloại cây gỗ khác, có thể dùng gỗ Quế để làm cốp pha xây dựng, đóng đồ mộc, làm gỗtrụ mỏ… Gỗ Quế được đánh giá có chất lượng khá tốt như các loại cây bồ đề, mỡ,bạch đàn Trong gỗ Quế có một lượng tinh dầu nên không bị mối mọt, thân cây lạithẳng đều và cứng, vì vậy gỗ Quế thích hợp cho việc chế tác các sản phẩm thủ công

mỹ nghệ hay sản xuất các sản phẩm sinh hoạt tiêu dùng làm từ gỗ; làm trụ hầm mỏ rấtbền vững Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng gỗ Quế vẫn còn hạn chế, người dân vẫn dùngmột lượng lớn gỗ Quế để làm củi đốt Với những đặc điểm ưu việt trên, việc không tậndụng tối đa tiềm năng từ gỗ Quế là một sự lãng phí lớn

Trang 13

Sản phẩm tinh dầu Quế: tinh dầu Quế Trà Bồng có hàm lượng AndehytCinnamic rất cao Đây là một sản phẩm tiềm năng với giá trị kinh tế cao được đầu tưmáy móc kĩ thuật sản xuất bởi hệ thống nhà máy tinh dầu Quế tư nhân Nguyên liệusản xuất tinh dầu Quế là thân Quế nhỏ, cành, lá Quế được tận dụng từ sau mỗi vụ thuhoạch hoặc quá trình tỉa thưa cành, tỉa lá cho đồi Quế Khác với sản phẩm Quế vỏ, sảnphẩm tinh dầu Quế được sản xuất quanh năm nhờ nguồn nguyên liệu dự trữ.

Như vậy, mặt hàng Quế có rất nhiều công dụng trong cuộc sống đời thường nên

nó ngày càng được đánh giá cao và sử dụng phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà cả trênthế giới

2.1.3 Gieo trồng và thu hoạch cây Quế

Quế thường được gieo trồng vào tháng 01-02 âm lịch khi mà điều kiện thời tiếtrất phù hợp cho cây con phát triển Trong 02-03 năm đầu, người trồng tiến hành tỉathưa và trồng dặm để đảm bào cho mật độ trồng Thời gian 5 năm đầu cần chú ý chămsóc cây, che nắng cho cây con vì khi còn non cây ưa bóng râm, khi cây trưởng thànhthì không phải chăm sóc nhiều Sau khi trồng được khoảng 8-10 năm thì cây Quế cóthể cho thu hoạch Việc thu hoạch được tiến hành trong hai vụ, từ tháng 2 đến tháng 4

và từ tháng 9 đến tháng 11 Thời kì này này hàm lượng tinh dầu tập trung nhiều nhấttrong vỏ Quế

Khi cây Quế đến tuổi khai thác, người trồng sẽ tiến hành thu hoạch Việc thuhoạch có thể được tiến hành bằng cách chặt hạ cả cây xuống, sau đó chặt hết các cành

lá rồi tiến hành bóc vỏ hoặc người ta không chặt cây mà chỉ khai thác một phần vỏ củacây Quế để có thể thu hoạch nhiều lần Việc khai thác một phần vỏ được tiến hànhbằng cách người ta không chặt cây Quế mà chỉ bóc tách một phần vỏ Quế Khi bóc vỏngười ta không bóc hết phần biểu bì ở trong cùng để sau một thời gian nó sẽ tự tái sinhthành lớp vổ mới Sau khi khai thác được khoảng 1 năm thì cây Quế lại có thể chokhai thác lần tiếp theo Cách khai thác này mới được áp dụng gần đây và trong quátrình khai thác đòi hỏi người khai thác phải rất khéo tay và có nhiều kinh nghiệm thìmới tiến hành được nên người dân chủ yếu khai thác bằng cách ban đầu

2.1.4 Về thị trường đầu ra

Hiện nay thị trường đầu ra của Quế và các sản phẩm của Quế tương đối hạnchế, đặc biệt là thị trường nước ngoài Với sản lượng vỏ Quế xuất khẩu hằng nămtương đối lớn, với nhiều chủng loại: Quế thô, bình ly Quế, tinh dầu, bột Quế… nhưngchủ yếu là xuất bán nội địa Thông tin về thị trường đầu ra của Quế và các sản phẩmcủa Quế thời gian qua chưa được các cấp, các ngành quan tâm đúng mức và thông tinkịp thời, thường xuyên đến người trồng Quế nói riêng và nhân dân trên địa bàn nóichung Các cuộc hội thảo khoa học, thông tin giữa 4 nhà (nhà nông-Nhà nước-nhàkhoa học và nhà doanh nghiệp) chưa được chia sẻ thường xuyên vì vậy thiều thông tin

Trang 14

thị trường đầu ra, sản phẩm chủ yếu được bán cho các cơ sở thu mua và thương lái qua

đó mới được xuất bán đi nơi khác nên tình trạng ép giá thường xảy ra

Khâu quảng bá, giới thiệu sản phẩm Quế trên các trang báo, tạp chí trong nước

và ngoài nước, truyền hình chưa được thường xuyên, nội dung và hình thức chưa đadạng; các sản phẩm Quế xuất khẩu chưa được quản lý chặt chẽ, chưa có định hướng và

kế hoạch cụ thể trong việc quảng bá thương hiệu Quế Trà Bồng với thị trường trong vàngoài nước

Từ thời Pháp thuộc, thực dân Pháp muốn độc quyền thu mua Quế trên vùng đấtnày nhưng đã thất bại Thương nhân người Kinh, người Hoa đã vào tận các thôn, nóccủa người Kor để trao đổi, thu gôm Quế, chở xuống các cảng biển hoặc qua cửa ngõHội An để xuất đi Hồng Kông, Trung Quốc và các nước trên thế giới

2.1.5 Sự phân bố Quế trồng trên thế giới, tại Việt Nam

* Phân bố trên thế giới

Trên thế giới Quế phân bố tự nhiên và được gây trồng trở thành hàng hóa ở một

số nước Châu Á và Châu Phi như Indonexia, Trung Quốc, Việt Nam, Srilanca vàMadagasxca Trong các nước có Quế, cây Quế củng chỉ phân bố ở một số địa phươngnhất định, có đặc điểm khí hậu, đất đai và địa hình thích hợp của nó, ở ngoài vùng sinhthái cây Quế sinh trưởng và phát triển không tốt

* Phân bố cây Quế ở Việt Nam

Ở nước ta cây Quế tự nhiên mọc hỗn giao trong các khu rừng tự nhiên nhiệt đới

ẩm từ Bắc vào Nam Tuy nhiên cho đến nay Quế tự nhiên đã không còn nữa và thayvào đó cây Quế đã được thuần hóa thành cây trồng

Cây Quế phân bố chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, TháiNguyên, Bắc Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Hà Tây, Ninh Bình,Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà,

Bà Rịa-Vũng Tàu Trong đó có 4 vùng trồng Quế tập trung là: Yên Bái, Quảng Ninh,Thanh Hoá - Nghệ An và Quảng Nam - Quảng Ngãi

Từ lâu đời nước ta đã hình thành 4 vùng trồng Quế, mỗi vùng có những sắc tháiriêng về tự nhiên, về dân tộc và nguồn lợi thu từ được từ Quế Có thể sơ bộ giới thiệu

4 vùng Quế ở nước ta là:

- Vùng Quế Yên Bái: vùng Quế Yên Bái tập trung ở các huyện Văn Yên, VănChấn, Văn Bàn và Trấn Yên tỉnh Yên Bái Các khu vực có Quế nhiều như Đại Sơn,Viễn Sơn, Châu Quế, Phong Dụ, Xuân Tầm… có diện tích trồng Quế và sản lượng vỏQuế chiếm khoảng 70% của cả vùng Sinh sống trên vùng Quế Yên Bái chủ yếu làđồng bào Dao, có nghề trồng Quế từ lâu đời Đặc điểm của vùng Quế Yên Bái là vùngrừng núi chia cắt, hiểm trở, nằm phía Đông và Đông Nam của dãy núi Hoàng LiênSơn, có độ cao tuyệt đối khoảng 300-700 m; nhiệt độ trung bình năm là 22,7℃, lượng

Trang 15

mưa bình quân năm trên 2.000 mm, có nơi như Phong Dụ lượng mua trung bình bănđạt đến 3.000 mm; độ ẩm bình quân là 84% Đất đai phát triển trên đá sa thạch, phiếnthạch, có tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn và thoát nước Vùng Quế Yên Bái là vùng Quế

có diện tích và sản lượng lớn nhất cả nước

- Vùng Quế Trà My, Trà Bồng: các huyện Trà My (tình Quảng Nam) và TràBồng (tình Quảng Ngãi) cùng nằm về phái Đông của dãy Trường Sơn Thượng nguồnphía Tây là đỉnh Ngọc Linh cao khoảng 1.500 m thấp dần về phía Đông Vùng QuếTrà My, Trà Bồng có độ cao khoảng 400-500 m; nhiệt độ bình quân năm 22℃, lượngmưa bình quân là 2.300mm/năm, độ ẩm bình quân 85% Đất đai phát triển trên các loại

đá mẹ, sa thạch hoặc sa phiến thạch có tầng đất dày ẩm, thoát nước, thành phần cơ giớitrung bình Quế là nguồn lợi và gắn bó với đồng bào các dân tộc ít người như Kor, Cà

tu, Cà toong, Bu từ bao đời nay Các xã như Trà Sơn, Trà Hiệp, Trà Thủy ( Trà Bồng),Trà Giác, Trà Long, Trà Mai (Trà My) là các xã có nhiều Quế nhất trong vùng VùngQuế Trà Bồng, Trà My đến nay đã được mở rộng ra các huyện xung quanh như QuếSơn, Phước Sơn, Sơn Tây, Sơn Hà

- Vùng Quế Quế Phong, Thường Xuân: các huyện Quế Phong, Quỳ Châu (tỉnhNghệ An) và Thường Xuân, Ngọc Lạc (tỉnh Thanh Hóa) là một vùng liền giải nằm vềphía Đông dẫy Trường Sơn; có vĩ độ từ 19° đến 20° vĩ độ Bắc Phía Tây thượngnguông là các dãy núi cao khoảng 1.500-2.000 m án ngữ biên giới Việt-Lào và thấpdần về phía Đông Vùng Quế Quế Phong, Thường Xuân kẹp giữa lưu vực sông Chu vàsông Hiến; có độ cao trung bình khoảng 300-700 m Địa hình chia cắt và đón gióĐông-Nam nên lượng mưa của vùng rất cao trên 2.000mm/năm, nguồn nước dồi dào,nhiệt độ bình quân năm 23,1℃, ẩm độ bình quân là 85% Thực vật trong vùng đa dạng

và phong phú, có rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị như song, mây, tre, trúc vàcác loài cây làm thuốc, cây cho thực phẩm… Quế Thanh và Quế Quỳ là Quế tốt vìhàm lượng và chất lượng tinh dầu cao nổi tiếng trên cả nước, đồng bào các dân tộcThái, Mường, Mán sinh sống trong vùng có nghề trồng và khai thác sử dụng Quế từlâu đời Những vườn Quế, đồi Quế ở Châu Kim, Thông Thụ, Thái Vạn Trình, ThắngLộc đã đem lại nguồn lợi kinh tế và môi sinh cho khu vực

- Vùng Quế Quảng Ninh: các huyện Hải Ninh, Hà Cối, Đầm Hòa, Tiên Yên vàBình Liêu (Quảng Ninh) là vùng đồi núi san sát nhau thuộc cánh cung Đông Bắc kéodài về phía biển Các dãy núi theo hình cánh cung Đông Bắc-Tây Nam là địa hìnhchắn gió vì vậy lượng mưa trong vùng rất cao khoảng trên 2.300 mm/năm, nhiệt độbình quân năm là 23℃ Quế được gây trồng trên đai cao khoảng 200-400 m QuếQuảng Ninh là nguồn lợi đáng kể của đồng bào Thanh Y, Thanh Phán sinh sống trongvùng Các vườn đồi Quế ở Quảng Lâm, Hoàng Mô, Pò Hèm, Lục Phủ, Quất Động đãnhiều năm cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu

2.1.6 Các giống Quế ở Việt Nam

Trang 16

Việc xác định các loài Quế ở nước ta đang có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiêntheo: “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” tập II của các tác giả Võ Văn Chi, Vũ VănChuyên, Phạm Nguyên Hồng, Lê Khả Kế, Đỗ Tất Lợi, Thái Văn Trừng ở Việt Nam

có các loại Quế sau:

- Cây Quế Trung Quốc (Quế đơn, Quế bì): Cinnamomum cassia B.L, cao từ 17m, lá Quế mọc cách, dai, sáng bóng và nhẵn ở mặt trên, có lớp lông mịn dưới mặt

12-lá Gân lá nhỏ, mọc ngang song song, hoa mọc thành chum Quả hình bầu dục đựngtrong đấu nguyên hoặc hơi chia thùy Loại Quế này thường được trồng ở Quảng Ninh,Yên Bái, Quảng Nam Quế Đơn có thể nói là loại Quế tốt nhất, được các nước trên thếgiới ưa chuộng và mua với giá rất cao Tuy nhiên, khi trồng ở mỗi địa phương khácnhau thì có vị khác nhau

- Cây Quế Thanh: Cinnamomum obtusifolium Nees.var Loureirii-Perrot etEbernh, cây Quế loại này cao, to, có cây cao tới 10-15m Chu vi tối đa có thể đạt1m50-1m80 Cành cây còn non nhẵn Lá hình bầu dục hơi thuôn ở hai đầu, tròn cạnh,dài từ 10-15cm Mặt lá xanh láng, mặt trái nhạt hơn có ba gân nổi, gân giữa to hơn.Hoa nhỏ như hoa mộc, màu vàng tươi điểm trắng; mặt trái đài hoa có lông nhung; hoamọc từng chùm từ các kẽ lá gần ngọn hoặc ở gốc các nhánh, nở vào mùa thu, hươngthanh dịu Quả Quế nhỏ như quả xoan, mới chín có sắc đỏ, sau tím dần như quả bồquân, sáng bóng Vỏ của loại Quế này như da voi, lúc còn ở cây có màu trắng, sù sì,sau khi phơi nắng ngả sang màu hơi đen

- Cây Quế Sài Gòn: Cinnamomum tamala Nees et Eberm phân bố ở Bắc Bộ vàTrung Bộ

- Cây Quế Quan: Cinnamomum zeylanicum Blume, cao từ 20-25m, cành nonvuông, có lông ngắn và rải rác Lá Quế Quan mọc đối, dài và có hình bầu dục, hơinhọn và nhẵn ở gốc, tù ở đầu hoa Hoa mọc thành chùm, quả mọc hình bầu dục, trongđấu có 3 hoa cùng tồn tại, thùy cắt gọt ở giữa Quế Quan được trồng ở Thanh Hóa,Nghệ An, Vũng Tàu và Tây Ninh So với 2 loại Quế kia thì quế Quan không được thịtrường ưa chuộng do có thân nhỏ, hàm lượng tinh dầu ít và sản lượng thấp

2.1.7 Điều kiện sinh thái của cây Quế

Theo tác giả Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Nguyễn Tấn Đạt, 1993, các yếu tốsinh thái quan trọng tác động đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Quế là: chế độánh sáng, yếu tố khí hậu (lượng mưa, chế độ nhiệt, ẩm), đất đai, địa hình (độ dốc)

- Địa hình: Quế là cây có thể phát triển tốt ở nơi có địa hình đồi núi thoai thoảivới độ dốc dưới 25° vì với điều kiện đất đồi núi, độ dốc cao sẽ dẫn tới hiện tượng đất

bị sói mòn, sạt lở nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây Quế

- Đất đai: do quá trình tiến hóa lâu dài của thực vật, mỗi loài đều thích nghi vớicác điều kiện môi trường xác định, trong đó có yếu tố đất đai Quế có thể sinh trưởng

Trang 17

tốt trên hầu hết các loại đất đồi núi, tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn, nhưng phải thoátnươc tốt, các loại đất phát triển trên các loại đá mẹ phiến thạch, sa thạch, granit, riolit.

- Khí hậu: nhân tố khí hậu là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự pháttriển bình thường của Quế Các nhân tố đáng chú ý là: lượng mưa, chế độ nhiệt, ẩm.Quế là một loại cây thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, nắng nhiều Vì vậy

ở các vùng Quế mọc tự nhiên ở nước ta là các vùng có lượng mưa cao từ 2.000mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân hàng năm từ 21-22℃, độ ẩm bình quân trên 80%

Ánh sáng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất củacây Quế Về chế độ ánh sáng: Quế là loài cây trung bình giai đoạn đầu (từ 1-3 năm)cần che bớt ánh sáng trực xạ gay gắt mùa hè ở các vùng khí hậu nóng Sau đó, cây cónhu cầu ánh sáng tăng dần, nên phải hạ độ tàn che kịp thời hoặc tỉa thưa đúng lúc mớiđảm bảo cho quá trình sinh trường, phát triển bình thường

2.1.8 Tình hình nghiên cứu cây Quế ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ thế kỉ XIV, Tuệ Tĩnh đã có những ghi chép ban đầu về đặcđiểm cây Quế và công dụng của loài cây này Tiếp theo đó, Lê Quý Đôn trong “Vănđài loại ngữ” và Nguyễn Trứ trong “Việt Nam thực vật học” củng đã mô tả lại hìnhthái và công dụng của cây Quế Trong bộ sách “Y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển củaHải Thượng Lãn Ông (1721 – 1792) có nhiều bài thuốc sử dụng vỏ Quế

Củng trong khoảng thời gian này, khi người Pháp đến Việt Nam, Joanis deLoureiro (1730) đã mô tả 1.257 loài cây có ở Nam Bộ trong cuốn FloraCochinchinensis và xác định tên khoa học của cây Quế là Laurus cinnamomum Lour

Từ đó cho đến thế kỉ XIX hầu như ko có công trình nghiên cứu thêm về cây Quế[4]

Từ năm 1907 – 1914, phần lớn cây cỏ Đông Dương đã được ghi chép lại trong

bộ thực vật chí đồ sộ do Henri Lecomte làm chủ biên (Flore genera de Indochine) đãgiới thiệu họ Lauraceae (tập V), trong đó có hai loài Quế Việt Nam là Cinnamomucassia Blume và Cinnamomum zeylanium Ness Kế thừa những thông tin ban đầu này

về cây Quế đã có nhiều tác giả nghiên cứu bổ sung thêm những hiểu biết mới về loàicây này ở các lĩnh vực khác nhau Những người có công trong lĩnh vực này phải kểđến Đỗ Tất Lợi (1961, 1978), Lê Văn Giai (1961), Phó Đức Thanh (1944, 1965),…Tuy nhiên, những công trình này tác giả chủ yếu đề cập vào mô tả hình thái, xác địnhmột số đặc điểm phân bố, công dụng của các bộ phận trên cây Quế và xác định vị tríphân loại của loài trong hệ thống sinh thái Từ những năm 1980 trở lại đây, có một sốtác giả nghiên cứu mở rộng vùng trồng Quế, nghiên cứu mở rộng vùng trồng Quế,nghiên cứu về tinh dầu, sản lượng vỏ Quế ở các vùng và thị trường vỏ Quế trong vàngoài nước… Mặc dù có sự phân tán trong nghiên cứu về cây Quế nhưng tổng hợpnhững nghiên cứu này ở Việt Nam có thể nhận thấy tập trung ở bốn nội dung sau:

Trang 18

* Nghiên cứu công dụng và vị trí phân loại của cây Quế:

Ở lĩnh vực này có lịch sử tương đối lâu đời như đã nêu, tuy nhiên về số lượngnghiên cứu không nhiều Về công dụng của các bộ phận trên cây Quế chủ yếu là khaithác làm thuốc, giá trị dược liệu của các bộ phận này phụ thuộc vào kỹ thuật khai thác,chế biến vỏ Quế

Về phân loại, nghiên cứu tương đối hệ thống và đầy đủ có thể kể đến nghiêncứu của Trần Hợp (1976, 1984) [2] Theo Trần Hợp, Quế là tên của nhiều loài trongchi Cinnamomum thuộc họ Lauraceae với đặc trưng là vỏ có dầu thơm, cay nồng,dùng làm thuốc, hương liệu hay gia vị Tác giả củng đã thống kê tới 18 loài có tên gọi

là Quế và nơi phân bố chủ yếu của chúng ở trong nước củng như ở một số nước kháccùng với những mô tả về đặc điểm hình thái khác nhau của loài Quế này và kết luậnCinnamomum cassia Blume là loài cây Quế có nguồn gốc tại Việt Nam, là nguyên sảntại Việt Nam nên nó còn có tên là Quế Giao Chỉ

* Nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh thái học, khả năng gây trồng và mở rộng vùng phân bố của cây Quế:

Đây là một lĩnh vực nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm và được tiến hànhtrên nhiều vùng Quế của nước ta Hoàng Cầu (1993) [4] đã nghiên cứu dẫn giống QuếThanh, Quế Quảng ra các tỉnh Hòa Bình, Yên Bái với mục đích khảo nghiệm loài vàbệnh tua mực ở các tỉnh phía Bắc Tác giả cho biết độ cao thích hợp để trồng Quế nàycủng đã đề cập trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Khánh (1996) [5] đã phân vùng lậpđịa lâm nghiệp Ở Quảng Ngãi, Trần Cửu (1983) [6] , Nguyễn Thanh Phương (1994)[7], củng đã nghiên cứu đặc điểm sinh học và khả năng trồng và di thực cây Quế từQuảng Ngãi về vùng núi An Lão (Bình Định) Tại Bình Định, phương pháp trồng Quếdưới tán cây rừng tự nhiên có độ che 0,3 – 0,4 là thích hợp, tác giả đề xuất tại đây, Quếnên trồng ở độ cao trên 200 m để tránh tua mực Năm 1993, Phạm Chí Thành, LêThanh Hà nghiên cứu điều kiện sống cơ bản của cây Quế ở Văn Yên (Yên Bái) đãđánh giá “muốn có sản lượng Quế ổn định và lâu dài thì chủ trương trồng Quế thuầnloài là không hợp lý vì đất sau trồng Quế thường bị khô, xấu, khả năng phục hồi đấtlâu” [8] Kết quả nghiên cứu này củng phù hợp với một số kết luận của Phạm XuânHoàn (1998) [9] khi nghiên cứu ảnh hưởng của đất tới sinh trưởng của rừng Quế chồi

ở Yên Bái Năm 1996, Ngô Đình Quế [10] đã nghiên cứu khả năng trồng Quế tại Đại

Từ (Thái Nguyên) và đánh giá bước đầu Quế sinh trưởng tốt tại vùng này

Năm 1998, các tác giả Ngô Đình Quế, Hoàng Cầu, Nguyễn Đức Minh đã dựthảo quy trình trồng Quế, và đó củng chính là những đề xuất được Bộ Lâm Nghiệp(cũ) phát triển để xây dựng quy phạm kỹ thuật trồng Quế của Bộ từ năm 1990 [11] Vềphương thức trồng Quế, hiện nay đáng chú ý có một số công trình như trồng Quế dướitán rừng của đồng bào Dao ở Viễn Sơn, nghiên cứu của Trần Lê Hoàng (1996) [12] vềcác mô hình trồng Quế và kỹ thuật trồng Quế; Phạm Xuân Hoàng (1998) đã nghiêncứu về cây Quế trong các hệ thống nông lâm kết hợp ở Việt Nam, ảnh hưởng của

Trang 19

chính sách giao đất, giao rừng đến tập quán trồng Quế của người Dao và cây Quếtrong kỹ thuật canh tác bảo tồn [9].

Từ những nghiên cứu trên cho thấy phần lớn tác giả đều thống nhất Quế là câychịu bóng ở giai đoạn tuổi nhỏ Từ 5 tuổi trở lên, cây Quế ưa sáng hoàn toàn Quếđược trồng dưới tán rừng, hoặc trồng theo nhiều phương thức khác nhau Cây Quế cóthể dẫn giống để mở rộng phạm vi phân bố tự nhiên của nó ra những vùng khác nhau

có khí hậu và đất đai tương tự như nơi nó đã phát sinh Tuy nhiên chất lượng của vỏQuế ở những vùng này chưa có cơ sở kết luận Những nghiên cứu so sánh và địnhlượng quá trình sinh trưởng của Quế ở các vùng trồng Quế tập trung trong nước chưađược các tác giả quan tâm nhiều

* Nghiên cứu về sinh trưởng và sản lượng rừng Quế:

Những nghiên cứu về sinh trưởng và định lượng quá trình sinh trưởng về câyQuế của nước ta còn đang ở mức độ thăm dò và những kết quả thu được ban đầu cầnđược kiểm định một cách khoa học Lý do là, về phương pháp nghiên cứu sinh trưởngcho một loài cây mà sản phẩm chính là vỏ, khác với những loài cây cho sản phẩmchính là gỗ Mặt khác, Quế phân bố ở ba miền nhưng phạm vi phân bố ở mỗi vùng cóthể vận dụng ở các vùng khác hay không là vấn đề cần phải nghiên cứu

Trần Hợp (1984) [2] đã nghiên cứu một số “tập tính sinh thái” và nhận xét “câyQuế mang đầy đủ tính chất của một loài cây sinh thái – khí hậu” Nghiên cứu tăngtrưởng của cây Quế, Trần Hợp (1984) đã chia quá trình sinh trưởng thành hai “thời kỳlớn”: Thời kỳ cây Quế ở vườn ươm dưới 5 tuổi (thời kỳ còn chịu bóng) và thời kỳthành thục, tức là thời kỳ ưa sáng hoàn toàn và ổn định về chiều cao đường kính cũngnhư vỏ Tuy nhiên khi giải thích cây trong đó có tuổi cao nhất là 45 tuổi tác giả đã chia

“sự tăng trưởng” của cây Quế làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn I: dưới 10 tuổi Ở giai đoạn này chiều dày vỏ Quế từ 0,3 – 0,4 cm.Tăng trưởng đường kính trung bình 1 cm và tăng trưởng chiều cao bình quân 1,1cm/năm

- Giai đoạn II: từ 10 – 30 tuổi Giai đoạn này “là giai đoạn ổn định tương đối”

Bề dày vỏ từ 0,5 – 0,7 cm Đường kính tăng bình quân 0,7 cm/năm và tăng chiều caobình quân đạt 0,5 m/năm

- Giai đoạn III: trên 35 tuổi Tăng trưởng chậm rõ rệt: đường kính tăng bìnhquân 0,24 cm/năm và chiều cao bình quân tăng 0,2 m/năm, bề dày vỏ đạt ở mức 0,7 –0,8 cm Tỷ lệ thể tích vỏ ổn định xấp xỉ 10% so với thể tích cây

Căn cứ vào giai đoan tăng trưởng trên, Trần Hợp đã phân chia các lâm phầnQuế thành 8 cấp tuổi với cự li mỗi cấp tuổi là 5 năm Tác giả kết luận: giai đoạn I (5 –

10 tuổi) cây mọc nhanh nhất, chúng đạt chiều cao lý và đường kính lý tưởng, sau đócác chỉ số này chậm dần và ổn định ở tuổi 30 Do đó tuổi khai thác tốt nhất từ 30 – 35tuổi Tuy nhiên theo tác giả có thể khai thác sớm hơn khoảng 10 tuổi lúc đó Quế đãqua giai đoạn mọc nhanh và bước vào giai đoạn phát triển bình thường

Từ kết quả nghiên cứu của Trần Hợp (1984) có thể có một số kết luận sau:

Trang 20

- Việc xác định cấp tuổi trong nghiên cứu những quần thể thuần loài đêu tuổithường được áp dụng để xác định mật độ thích hợp trong chặt, nuôi dưỡng và đề xuấtcác biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác Bởi lẽ, trong mỗi cấp tuổi cây rừng có nhữngđặc trưng và kết cấu lâm phần, đặc trưng về các mối quan hệ giữa các cá thể trongquần thể, có nghĩa là nó có những đặc trưng riêng về mặt lâm học Đối với cây Quế,việc phân chia 5 cấp tuổi là tương đối lâu dài vì Quế là cây sinh trưởng nhanh như kếtquả nghiên cứu của tác giả đã khẳng định.

- Khi đã xác định để phân chia 8 cấp tuổi, tác giả còn chia quá trình tăng trưởngcủa rừng Quế làm 3 giai đoạn là không cần thiết và dễ gây ra mâu thuẫn Tác giả đềxuất tuổi khai thác dựa giai đoạn tăng giữa giai đoạn II và giai đoạn III (tuổi 30 – 35)

là chưa hoàn toàn phù hợp Nếu dựa vào cấp tuổi sẽ hợp lý hơn, bởi mỗi cấp tuổithường tương ứng với một giai đoạn sinh trưởng và phát triển, theo đó sẽ có các biệnpháp xử lý lâm sinh tương ứng

- Hiện tại, rất khó tìm được những cây Quế có tuổi từ 35 – 40 năm Các lâmphần Quế thuần loài ở tuổi 15 không còn nhiều Phần lớn đã bị chặt tỉa trong nhiềunăm, qui luật kết cấu lâm phần bị phá vỡ Bởi vậy sẽ thiếu thực tế nếu vẫn xác địnhtheo 8 cấp tuổi như Trần Hợp đã đề xuất trong thực tiễn trồng Quế hiện nay

- Công trình nghiên cứu của Trần Hợp về cây Quế năm 1984 có thể được đánhgiá là một trong những công trình tương đối đầy đủ và hoàn thiện về xác định vị trítrong hệ thống sinh của loài, về các đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của câyQuế Những kết quả đó đã góp phần bổ sung những hiểu biết mới về loài cây này,phục vụ tốt cho công tác trồng Quế ở Việt Nam Tuy nhiên, trong nghiên cứu sinhtrưởng của các lâm phần Quế tác giả chưa định lượng và mô phỏng được quá trìnhnày

* Nghiên cứu hàm lượng tinh dầu và thị trường tiêu thụ vỏ Quế:

Những kết quả bước đầu khảo sát hàm lượng tinh dầu trong vỏ Quế ở một sốvùng trồng Quế Việt Nam được Nguyễn Mê Linh và cộng sự công bố trong nhữngnăm từ 1976 – 1980 [13] Từ các mẫu vỏ Quế ở Yên Bái, Quảng Ninh và Thanh Hóa,kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng tinh dầu Quế ở nước ta đều cao hơn so với cácnước khác, cụ thể là hàm lượng này biến động từ 1,12 – 4% còn các nước khác bìnhquân từ 1 – 2% Tác giả Nguyễn Mê Linh nhận xét, từ độ cao cách mặt đất 1 m trở lên,hàm lượng tinh dầu trong vỏ Quế tăng dần theo chiều cao

Do những đặc điểm về mặt quản lý, thị trường vỏ Quế là một thị trường không

ổn định kể cả tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Theo Nguyễn Hải Khoát (1981) [14],

Vũ Đình Quang (1993) [15], Việt Nam là nước xuất khẩu Quế đứng thứ 5 trong tổng

số 6 nước xuất khẩu vỏ Quế nhiều nhất thế giới và giá trị Quế Việt Nam thường caohơn 5 – 30% Mặc dù vậy, hiện nay Việt Nam “có nhiều cơ quan xuất khẩu Quế và giá

cả củng khác nhau”… Tác giả nhận định “hàng trăm đơn vị trong toàn quốc tham giaxuất khẩu Quế và bán vỏ Quế qua thị trường biên giới Việt – Trung làm phát sinhnhiều tiêu cực từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ” Những kết quả nghiên cứu gần

Trang 21

đây cho thấy Quế ở Yên Bái chiếm 60 – 80% khối lượng sản xuất toàn quốc Năm

1991, ở Văn Yên sản lượng khai thác và thu mua cao nhất là 1.037 tấn và ước tínhkhoảng 30% sản lượng này trôi nổi trên thị trường tự do

Việc nghiên cứu cây Quế ở miền Trung được biết đến đầu tiên là nghiên cứucủa Boriero – một cựu khâm sứ Trung Bộ trong tác phẩm “Trồng và buôn bán Quế ởTrung bộ” đăng trong “Tập san kinh tế Đông Dương”, năm 1904 Trong tài liệu này,tác giả đã nghiên cứu đặc tính sinh học và sinh thái của cây Quế, đồng thời bước đầuphân biệt Quế Phước Sơn và Trà My (Quảng Nam) có ba loại là Quế kép, Quế kiên vàQuế thanh Ngoài ra, trong nghiên cứu cũng đề cập đến việc khai thác Quế ở vùng QuếThanh Hóa chủ yếu là khai thác Quế mọc tự nhiên trong rừng và giá trị của vùng Quếnày

Năm 1975, Thạch Bích, Hoàng Minh Tuấn [16] đã nghiên cứu đặc điểm sinhthái và tăng trưởng Quế ở Thanh Hóa Trong thời gian từ năm 1976 đến 1980, tác giảNguyễn Mê Linh và cộng sự [13] đã công bố những kết quả bước đầu khảo hàm lượngtinh dầu vỏ Quế ở một số vùng Quế Việt Nam trong đó có vùng Quế Thanh Hóa

Khi nghiên cứu bệnh tua mực Quế, tác giả Nguyễn Trung Tín [17] đã kết luận:cây Quế ít bị sâu bệnh khi trồng ngoài khu vực phân bố tự nhiên của nó, nhưng bệnhtua mực có thể xuất hiện ở độ cao trên 400 m tại miền Trung

Ngoài ra, ở miền Trung, một số tác giả: Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, NguyễnTiến Đạt (1988, 1993) [18] đã nghiên cứu theo hướng dẫn phân hạng đất trồng Quế ởQuảng Nam – Đà Nẵng và đã có những kết luận cụ thể về nhu cầu dinh dưỡng khoáng,đặc điểm đất vùng trồng Quế Quảng Nam – Đà Nẵng

Gần đây nhất, Tiến sĩ Trần Quang Tấn cùng cộng sự dưới sự quản lý của BộKhoa học Công nghệ, đã thực hiện đề tài cấp nhà nước: “Nghiên cứu nguyên nhânchết hàng loạt và đề xuất biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm góp phần ổn định năngsuất, chất lượng Quế Việt Nam” Nghiên cứu này được thực hiện ba năm (từ 2001 –2004) và trong nghiên cứu này, tác giả kết luận nguyên nhân gây chết hàng loạt Quế ởQuảng Nam là do sâu đo gây hại kết hợp với sâu đục ngọn, ngoài ra bệnh tua mực làbệnh gây hại phổ biến và nguy hiểm ở địa phương

Vùng Quế xã Trà Sơn, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi đánh giá là vùng Quếcho chất lượng thương phẩm cao, nói đến Trà Sơn hiện nay, người ta nghĩ ngay đây làcây xóa đói giảm nghèo của đồng bào dân tộc Kor Thế nhưng ở Quảng Ngãi nóichung và ở Trà Sơn nói riêng cây Quế lại chưa được nghiên cứu đầy đủ

Năm 1983, Trần Cửu [6] có những nghiên cứu sơ bộ về vấn đề phát triển câyQuế ở huyện Trà Bồng nói chung và xã Trà Sơn nói riêng Tác giả Nguyễn ThanhPhương (1994), củng nghiên cứu đặc điểm sinh học, khả năng trồng và di thực câyQuế từ Quảng Ngãi về vùng núi An Lão (Bình Đinh) Vừa qua, năm 2009 Bộ Khoahọc Công nghệ, Cục sở hữu trí tuệ đã ra Quyết định về việc cấp giấy chứng nhận đăng

ký nhãn hiệu “Quế Trà Bồng – Tây Trà, Hình” cho vùng Quế thuộc huyện Trà Bồng

và huyện Tây Trà Tuy nhiên, để phát triển bền vững cho vùng Quế Quảng Ngãi, cần

Trang 22

có những nghiên cứu sâu hơn về hiện trạng và khả năng thích nghi của những giốngQuế trồng tại địa phương.

2.1.9 Sâu bệnh hại chính trên cây Quế và phương pháp phòng trừ

Cây Quế chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều loại sâu bệnh hại trên hầu hết các bộphận từ ngọn, thân, cành, lá, trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng, chu kỳ kinh doanhgây ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng, phát triển, chất lượng của Quế và cácsản phẩm của loài cây này

Các loại sâu, bệnh hay gặp trên cây Quế là[22]:

- Sâu đục đọt: con trưởng thành đẻ trứng vào đọt non của cây Quế, sâu non khi

nở đục từ ngọn, ăn sâu xuống phía dưới, các vết đục kéo dài khoảng 5-7 cm, làm chocác đoạn ngọn bị đục thường héo chết khô, gây cho đọt bị đục kích thích phân cànhnhiều, cây chậm phát triển chiều cao

Biện pháp phòng trừ: vệ sinh đồng ruộng, phát dọn thực bì, tỉa cành tạo tán tạovườn Quế thông thoáng Bấm tỉa các đọt non bị sâu hại đêm tiêu hủy Khi sâu đục đọtphát sinh trùng các đợt cây Quế ra lộc thì dùng một trong các loại thuốc Regent800WG, Padan 95SP, Karate 2,5EC phun trừ sâu non tại các điểm sinh trưởng của cây

- Sâu đo: con trưởng thành thường tập trung dưới gốc sau đó bay lên đẻ trứng

trên cây Sâu cắn phá lá chỉ chừa lại gân chính làm ảnh hưởng đến khả năng quang hợpcủa cây Các vườn Quế bị sâu ăn trụi lá trong điều kiện khô hạn có thể làm chết cây

Biện pháp phòng trừ: giống như sâu đục đọt

- Bệnh thối gốc mốc trắng: bệnh do nấm Sclerotrium rolfsii gây nên Bệnh

thường gây hại từng chòm trên luống cây con trong vườn ươm, cây bị bệnh thườnghéo vàng sau đó khô chết, ở phần thân và cổ rễ gần mặt đất thường quan sát thấy cácsợi nấm màu trắng, sau phát triển trên thân và lan ra cả mặt đất

Biện pháp phòng trừ: cần lên luống cao từ 15 – 20 cm và tạo hệ thống thoátnước trong vườn ươm Xử lý đất làm vườn ươm bằng vôi và các thuốc gốc đồng nhưChampion 57.6DP, Coc 85WP Khi bệnh mới xuất hiện thì dùng một trong các loạithuốc Moncenren 250SC, Topsin M 700WP

- Bệnh tua mực: bệnh do dich khuẩn bào Phytoplasma gây nên, là loại bệnh

nguy hiểm nhất trên Quế tại xã Trà Sơn cũng như huyện Trà Bồng Bệnh xuất hiện gâyhại trên cả thân, cành, cuống lá và gân lá của cây Quế Lúc đầu trên thân, cành xuấthiện các u bướu sần sùi dạng hạt gạo, sau đó các u bướu phát triển rất nhanh và mọc racác tua dài giống như tua mực, các tua này có thể dài tới 40 cm Cuống lá và gân lá bịbệnh sưng to hơn bình thường, trên cuống lá củng có thể sinh ra các tua nhưng kíchthước nhỏ Cây Quế bị bệnh còi cọc, chậm phát triển, nếu bệnh năng cây có thể chết,không có khả năng cho thu hoạch vỏ

Trang 23

Biện pháp phòng trừ: cây con trước khi xuất vườn cần loại bỏ các cây nhiễmbệnh, sử dụng các thuốc Bảo vệ thực vật có tính nội hấp và lưu dẫn như Admire050EC, Confidor 100SC phun trừ côn trùng môi giới Sử dụng một số loại thuốc trừrầy có tính nội hấp và lưu dẫn như trên phun trừ rệp ống nếu có mật độ rệp cao.

- Bệnh thán thư: bệnh do nấm Collectotrichum sp gây nên, vết bệnh trên lá là

những đốm hình tròn có các vòng đồng tâm, rìa màu nâu đen, giữa bạc trắng Bệnhnặng có thể gây cháy lá thành từng mảng, ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây

Biện pháp phòng trừ: chọn giống sạch bệnh, trồng với mật độ phù hợp Khi cây

bị bệnh thì cắt tỉa đọt bị bệnh đem tiêu hủy để tiêu diệt nguồn bệnh Khi bệnh pháttriển mạnh thì có thể dùng một trong các loại thuốc Aliette 80WP, Cuzate M8-72 WP

để phun trừ

- Bệnh đốm lá: bệnh phát sinh gây hại chủ yếu trên các lá bánh tẻ và lá già.

Triệu chứng là các vết đốm hình tròn, bầu dục có màu nâu đen trên lá Phần tiếp giápgiữa mô bệnh và mô khỏe có viền màu sáng Bệnh nặng làm giảm diện tích màu xanhcủa lá, ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây làm cây sinh trưởng và phát triểnchậm

Biện pháp phòng trừ: trồng Quế theo mật độ khuyến cáo Khi bệnh gây hạinặng có thể dùng các loại thuốc Carbenda 50FL, Sumi-eight 12,5 WP, Ridomil 68WGphun trừ

2.1.10 Một số khái niệm liên quan

- Sản xuất: Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong

các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sửdụng, hay để trao đổi trong thương mại [23]

- Tiêu thụ sản phẩm: là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian giữa hai

bên là sản xuất và phân phối bán hàng Là việc đưa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từngười sản xuất đến người tiêu dùng, thực hiện việc thay đổi quyền sở hữu tài sản [24]

- Hộ gia đình: hình thức kinh doanh hộ gia đình là hình thức kinh doanh chủ

yếu, các hộ này chủ yếu buôn bán ra thị trường là Quế vỏ, cành nhánh, lá Quế.[25]

- Doanh nghiệp tư nhân: là hình thức hoạt động có quy mô lớn nhất trong lĩnh

vực sản xuất và kinh doanh các sản phẩm từ Quế Các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnhvực này chủ yếu là những hộ gia đình đã có kinh nghiệm lâu năm trong kinh doanhQuế chuyển đổi mô hình lên hình thức doanh nghiệp để mở rộng quy mô hoạt động.[26]

2.2 Tình hình xuất nhập khẩu sản phẩm Quế

2.2.1 Tình hình sản xuất Quế trên thế giới

Trang 24

Cây quế chỉ được trồng ở Châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, một số quốcgia có sản lượng sản xuất lớn như Indonexia, Trung Quốc, Việt Nam, Xrilanca vàMadagasca Trong đó, châu Á chiếm sản lượng sản xuất lớn nhất với hơn 98,7%, cònchâu Phi và châu Mỹ Latinh chỉ chiếm một phần nhỏ [19].

Bảng 2.2: Sản lượng cụ thể của từng châu (2013):

Bảng 2.3: Các nước xuất khẩu Quế trên thế giới năm 2013

Tên nước Số lượng (kg) Tỷ lệ (%)

Trang 25

2.2.2 Tình hình tiêu thụ Quế của thị trường thế giới

Củng như các mặt hàng nông sản khác sản phẩm Quế sớm được buôn bán trênthị trường thế giới Song do Quế là sản phẩm của một số vùng có khí hậu nhiệt đới,nên khả năng sản xuất Quế còn hạn chế Trong khi đó nhu cầu về sản phẩm Quế lạitương đối cao trên thế giới Vì vậy, việc kinh doanh xuất khẩu Quế vỏ và tinh dầu Quế

là lợi thế của một số nước Những nước có điều kiện trồng và chế biến hầu như sảnxuất ra để phục vụ xuất khẩu, tiêu dùng trong nước không nhiều, trong đó có ViệtNam Vì nhu cầu tiêu thụ khá phổ biến, nhưng khả năng sản xuất lại có tính đặc thù vàthường cách xa nhau về địa lý Như vây, trong tương lai ngành sản xuất và kinh doanhxuất khẩu Quế là ngành có triển vọng

Vào khoảng những năm 80 của thế kỷ XX, đã từng tồn tại một thị trường Quếthế giới, mà ở đó những nước xuất khẩu thường giữ chế độ độc quyền Riêng ở ViệtNam trong thời kỳ đó, sản phẩm Quế vỏ và tinh dầu Quế được nhà nước độc quyềnquản lý thu mua để xuất khẩu

Trong những năm gần đây, sản phẩm Quế vẫn tiếp tục được ưa chuộng và buônbán trên thị trường thế giới Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sản phẩm Quếngày càng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: sản xuất mỹ phẩm, trongcông nghiệp dược phẩm, công nghiệp thực phẩm… Theo tài liệu của Plantation Crops,thị trường của sản phẩm vỏ Quế hiện nay bao gồm cả Châu Mỹ, Châu Á và một phầnChâu Phi Nước tiêu thụ sản phẩm vỏ Quế nhiều nhất là Mỹ, mỗi năm có nhu cầu20.000-22.000 tấn Nhật Bản có nhu cầu khoảng 8.000 tấn/năm, Mexico có nhu cầuhơn 3.000 tấn/năm, Ba Lan, Bungari củng có nhu cầu lớn nhưng khả năng nhập khẩucòn ít

Về thị trường đối với sản phẩm dầu Quế, hiện nay chưa có báo cáo chuyên đềnào về thị trường cho sản phẩm này Tuy nhiên, theo Hiệp hội tinh dầu-hương liệu-mỹphẩm Việt Nam cho biết nước ta có quan hệ thu mua lẫn bán nguyên liệu, sản phẩmcủa ngành hàng đặc thù này với khoảng 30 quốc gia trên thế giới Cũng theo Hiệp hội,nghịch lý là ở chỗ các nước nhập khẩu tinh dầu nước ta lại là nhừng nước tái xuất khẩutrở lại sản phẩm tinh dầu Quế cho Việt Nam với giá trị cao gấp nhiều lần Hiệp hộiđánh giá, nhu cầu tinh dầu và hương liệu, mỹ phẩm trên thế giới ngày càng tăng nhanh

do con người ngày càng có xu hướng quay trở về dùng sản phẩm có nguồn gốc từthiên nhiên

Hiện nay, hầu hết các nước có khả năng sản xuất Quế thường là nước có nềnkinh tế đang phát triển Tại mỗi nước vùng sản xuất Quế lại thường là khu vực miềnnúi, đây là địa bàn cư trú của các dân tộc ít người, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuậtcòn gặp nhiều khó khăn, tập quán sản xuất còn lạc hậu, điều này cũng ảnh hưởng tớikhả năng sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm Quế xuất khẩu

Qua phân tích và tìm hiểu thị trường cho thấy nhu cầu về các sản phẩm Quếtrên thế giới tương đối ổn định và có chiều hướng ngày một gia tăng Đây là điều kiện

Trang 26

thuận lợi để đẩy mạnh sản xuất, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm tinh dầu, hươngliệu nói riêng và các sản phẩm Quế nói chung.

Do đặc tính chỉ sinh trưởng và phát triển trong một số ít vùng nhiệt đới nên thịtrường xuất khẩu-nhập khẩu Quế trên thế giới đã trở nên vô cùng phát triển Trongthời gian gần đây, cùng với các mặt hàng khác trong tập đoàn gia vị như hồ tiêu, gừng,tỏi… mặt hàng Quế có xu hướng ngày càng tăng và chiếm một thị phần lớn Khốilượng nhập khẩu mặt hàng Quế của toàn thế giới đang có xu hướng ngày càng tăng về

cả khối lượng và giá trị

Bảng 2.4: Khối lượng và giá trị nhập khẩu bình quân/năm mặt hàng Quế trên thế giới

giai đoạn 2006-2010

Khối lượng (Tấn) 107.26

8 116.946 109.271 119.621 124.237Giá trị (nghìn USD) 182.40

7 198.899 218.072 210.378 239.759

Nguồn: Số liệu thống kê International Trade Center 2011

Với xu hướng phát triển cùng chiều với xuất nhập khẩu, giá trị nhập khẩu củamặt hàng Quế củng sẽ tăng đáng kể, dự báo cho một lượng cầu về Quế vẫn sẽ tăng vớimột mức giá ổn định Trong những năm gần đây, giá cả mặt hàng Quế có xu hướngtăng mạnh và ổn định, tạo điều kiện tốt cho sự phát triển ngành trồng, sản xuất, chếbiến và xuất nhập khẩu của các nước

Các nước nhập khẩu Quế trên thế giới chủ yếu thuộc nhóm các nước có ngànhcông nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng rất phát triển với công nghệ kỹthuật sản xuất hiện đại Theo số của International Trade Center thì Mỹ, Ấn Độ,Mexico… là nhóm nước dẫn đầu thế giới về lượng nhập khẩu mặt hàng Quế Trongkhi nhu cầu nhập khẩu Quế ngày càng tăng không ngừng, sản lượng lượng Quế xuấtkhẩu ra thị trường thế giới hàng năm vẫn chỉ là một con số hữu hạn do đặc trưng vềđiều kiện tự nhiên và sinh trưởng của loại cây này Do đó, các nhóm nước nhiệt đớinhư Việt Nam, Trung Quốc, Indonexia, Srilanca được xem là có lợi thế tuyệt đối vềxuất khẩu Quế so với các nước khác Mặc dù được xem là quốc gia có chất lượng tinhdầu trong các sản phẩm Quế rất cao và nguồn nguyên liệu dồi dào, tuy nhiên, tổngkhối lượng xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 11,03% tổng sản lượng thế giới Điều

đó đặt ra cho Việt Nam câu hỏi rất lớn về việc xuất khẩu cây Quế trực tiếp sang cácnước trên thế giới và sự phát huy tối đa tiềm năng xuất khẩu của các vùng Quế trên cảnước

Ngày đăng: 06/10/2016, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Hoàng Cầu (1993), “Phân vùng sinh thái và mở rộng trồng Quế ở nước ta” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng sinh thái và mở rộng trồng Quế ở nước ta
Tác giả: Hoàng Cầu
Năm: 1993
6. Trần Cửu (1983), “Vấn đề phát triển cây Quế ở huyện Trà Bồng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển cây Quế ở huyện Trà Bồng
Tác giả: Trần Cửu
Năm: 1983
8. Phạm Chí Thành, Lê Thanh Hà (1993), “Về môi trường sinh thái của Văn Yên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về môi trường sinh thái của Văn Yên
Tác giả: Phạm Chí Thành, Lê Thanh Hà
Năm: 1993
1. Hội thảo chuyên đề về cây Quế và giải pháp phát triển trong thời gian đến của UBND huyện Trà Bồng (2014) Khác
2. Trần Hợp (1976, 1984)26, Một số đặc tính của cây Quế Khác
3. Nguyễn Năng Vinh, Kĩ thuật khai thác và chế biến tinh dầu, 1997 Khác
5. Nguyễn Văn Khánh (1996), Góp phần nghiên cứu phân vùng lập địa lâm nghiệp Khác
7. Nguyễn Thanh Phương (1994), “Di thực cây Quế từ Trà Bồng – Quảng Ngãi về vùng núi An Lão Khác
9. Phạm Xuân Hoàn (2011), nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật trong kinh doanh rùng Quế tại tỉnh Yên Bái Khác
10. Ngô Đình Quế (1996), Đánh giá khả năng trồng Quế ở Bắc Thái 11. Bộ Lâm nghiệp (1990), Quy phạm kỹ thuật trồng Quế Khác
12. Trần Lê Hoàng (1996), Kỹ thuật trồng Quế, thông tin khoa học kỹ thuật và kinh tế Lâm nghiệp Khác
13. Nguyễn Mê Linh, Phùng Cẩm Thạch, Ngô Duy Bình (1989), Góp phần khảo sát tinh dầu Quế ở Việt Nam Khác
14. Bộ Thương mại (2006), Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng Quế các tỉnh miền núi phía Bắc Khác
15. Vũ Đình Quang (1993), Quế Yên Bái với thị trường tiêu thụ Khác
16. Thạch Bích, Hoàng Minh Tuấn (1975), Một vài đặc điểm sinh thái và tăng trưởng của Quế Thanh Hóa Khác
17. Nguyễn Trung Tín (1999), Bệnh tua mực Quế Khác
18. Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Nguyễn Tấn Đạt (1993), Đất trồng Quế ở Quảng Nam – Đà Nẵng.19. Faostat3.fao.org Khác
22. Tài liệu tuyên truyền và hướng dẫn kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại Quế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4: Khối lượng và giá trị nhập khẩu bình quân/năm mặt hàng Quế trên thế giới - Nghiên cứu thực trạng trồng quế của người dân trên địa bàn xã trà sơn, trà bồng, quảng ngãi
Bảng 2.4 Khối lượng và giá trị nhập khẩu bình quân/năm mặt hàng Quế trên thế giới (Trang 24)
Bảng 4.1: Diện tích và sản lượng một số loại cây trồng từ năm 2013-2015 - Nghiên cứu thực trạng trồng quế của người dân trên địa bàn xã trà sơn, trà bồng, quảng ngãi
Bảng 4.1 Diện tích và sản lượng một số loại cây trồng từ năm 2013-2015 (Trang 30)
Sơ đồ kênh tiêu thụ sản phẩm Quế trên địa bàn xã Trà Sơn:  Người tiêu dùng - Nghiên cứu thực trạng trồng quế của người dân trên địa bàn xã trà sơn, trà bồng, quảng ngãi
Sơ đồ k ênh tiêu thụ sản phẩm Quế trên địa bàn xã Trà Sơn: Người tiêu dùng (Trang 34)
Bảng 4.5: So sánh các đặc trưng hình thái thực vật của cây Quế địa phương và cây - Nghiên cứu thực trạng trồng quế của người dân trên địa bàn xã trà sơn, trà bồng, quảng ngãi
Bảng 4.5 So sánh các đặc trưng hình thái thực vật của cây Quế địa phương và cây (Trang 34)
Hình 4.2: Sơ đồ kênh tiêu thụ Quế ở xã Trà Sơn 4.2.2 Thực trạng trồng Quế ở các hộ khảo sát - Nghiên cứu thực trạng trồng quế của người dân trên địa bàn xã trà sơn, trà bồng, quảng ngãi
Hình 4.2 Sơ đồ kênh tiêu thụ Quế ở xã Trà Sơn 4.2.2 Thực trạng trồng Quế ở các hộ khảo sát (Trang 35)
Bảng 4.7: Giá Quế qua các năm - Nghiên cứu thực trạng trồng quế của người dân trên địa bàn xã trà sơn, trà bồng, quảng ngãi
Bảng 4.7 Giá Quế qua các năm (Trang 38)
Bảng 4.9: Các loại tài sản mua được từ tiền thu từ Quế - Nghiên cứu thực trạng trồng quế của người dân trên địa bàn xã trà sơn, trà bồng, quảng ngãi
Bảng 4.9 Các loại tài sản mua được từ tiền thu từ Quế (Trang 41)
Bảng 4.10: Nguồn gốc giống Quế của nông hộ - Nghiên cứu thực trạng trồng quế của người dân trên địa bàn xã trà sơn, trà bồng, quảng ngãi
Bảng 4.10 Nguồn gốc giống Quế của nông hộ (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w