1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an

93 802 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 12,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyêntâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh,nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này trước tiên tôi trân trọng cảm ơn Ban giámhiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Khuyến nông và phát triển nông thôncùng các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốtthời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại Học Nông Lâm Huế

Đặc biệt với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáoTh.S Nguyễn Trọng Dũng đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trìnhthực tập để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Đồng thời tôi cũng xin cảm ơn các cấp lãnh đạo và toàn thể bà con nôngdân xã Đặng Sơn đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi cho tôi cóthể hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn chân thành đến toàn thể gia đình, bạn bè tôi,những người luôn ở bên tôi, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu đề tài tốt nghiệp

Do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nên đề tài không tránh khỏi thiếusót, hạn chế kính mong thầy cô giáo và các bạn sinh viên đóng góp để tôi hòanthiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 26 tháng 5 năm 2016Sinh Viên

Trần Thị Nhàn

Trang 2

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

-Tên đề tài : Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của

nó đến thu nhập của nông hộ tại xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Mục tiêu nghiên cứu:

+ Tìm hiểu thực trạng trồng dâu nuôi tằm tại xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương,tỉnh Nghệ An;

+ Đánh giá hiệu quả mang lại từ hoạt động trồng dâu nuôi tằm đối với các nônghộ;

+ Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ từ trồng dâu nuôitằm

- Sinh viên thực hiện: Trần Thị Nhàn

- Giáo viên hướng dẫn: Th.S: Nguyễn Trọng Dũng

- Phần tóm tắt đề tài:

Xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An là một xã thuần nông, thu nhậpcủa các hộ nông dân từ sản xuất nông nghiệp là chính và vẫn còn thấp, lao độngnhàn rỗi dư thừa nhiều Nghề trồng dâu nuôi tằm đã có mặt tại xã từ lâu đời.Làmột xã có truyền thống trồng dâu nuôi tằm cũng như ươm tơ dệt lụa có tiếngtrong huyện và trên địa bàn tỉnh Nghệ An Thu nhập từ trồng dâu nuôi tằm đãgiúp các hộ nông dân trong xã nâng cao thu nhập cải thiện đời sống vật chất vàtinh thần Trong TDNT thì cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập củacác hộ như lao động, kinh nghiệm, đất đai, đầu tư thâm canh… Xuất phát từthực tế đó em xin chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnhhưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnhNghệ An” để tiến hành nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại xã Đặng Sơn từ tháng 1 – tháng 5 năm 2016 Dựavào thông tin thu thập được thông qua phỏng vấn 45 hộ tại 5 xóm trên địa bàn

xã Đặng Sơn về tình hình sản xuất và tiêu thu dâu tằm năm 2015 và thông tinthứ cấp từ sách, báo, internet, … Phương pháp xử lý thông tin bằng công cụbảng tính excel và phần mềm spss20, từ đó tổng hợp và phân tích thông tin bằngphương pháp thống kê mô tả, so sánh, phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởngtới thu nhập của hộ từ trồng dâu nuôi tằm

Có hơn 250hộ trên toàn xã Đặng Sơn tham gia vào sản xuất dâu tằm Trung bìnhmỗi gia đình có 5 nhân khẩu với 3 lao động thì có 2 lao động tham gia sản xuất

Trang 3

TDNT, hầu hết những lao động này đều có trình độ văn hóa chỉ cấp 2 và cấp 3.Diện tích đất TDNT của các hộ vẫn rất ít chỉ 2,12 sào đối với nhóm hộ khá; 1,47sào đối với hộ TB và 0,97 sào đối với nhóm hộ Nghèo Đất trồng dâu manh múnđược trồng xen với những cây trồng khác là chủ yếu chưa được quy hoạch theovùng chuyên canh Chi phí đầu tư trên sào dâu của nhóm hộ khá là 1,78triệu/năm, hộ TB và hộ Nghèo lần lượt là 1,72 triệu đồng và 1,56 triệu đồng; Chiphí đầu tư nuôi tằm cho một vòng trứng các nhóm hộ trung bình là 168,85 nghìnđồng Thu nhập từ TDNT năm 2015 của nhóm hộ khá là 27,30 triệu đồng chiếm

31 % trong tổng thu nhập hộ cao hơn so với nhóm hộ TB là 16,95 triệu đồngchiếm 28 % tổng thu nhập của hộ và hộ Nghèo là 6,92 triệu đồng chiếm 18%tổng thu nhập của hộ

Kênh tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của hộ TDNT chủ yếu là cơ sở ươm tơ trong

xã, 95% số hộ tiêu thụ kén tằm thông qua cơ sở ươm tơ, hộ hoàn toàn bị độngtrong việc nhận giống và bán sản phẩm cho cơ sở ươm tơ Do vậy việc hộ bị épgiá xảy ra thường xuyên, theo kết quả điều tra năm 2015giá kén trắng dao động

từ 95.000đ – 100.000 đ/kg và giá kén vàng dao động từ 55.000đ – 60.000đ/kgthấp hơn so với thị trường

Thu nhập của hộ từ TDNT chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng Trong đó số lứa nuôi

và tổng chi phí là những nhân tố ảnh hưởng mạnh tới thu nhập từ TDNT Ngoài

ra, các hộ còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ như vốn đầu tư, tổnthất do dịch bệnh, giá bán…

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Trang 6

HQKT Hiệu quả kinh tế

TLSX Tư liệu sản xuất

LĐ Lao động

Trang 7

MỤC LỤC

Trang 8

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa là một nghề sản xuất truyền thống và

có lịch sử phát triển từ lâu đời ở Việt Nam Nghề trồng dâu nuôi tằm so với một

số ngành sản xuất nông nghiệp khác có nhiều ưu thế bởi vì:

Thứ nhất, mức đầu tư cho trồng dâu nuôi tằm không cao nhưng giá trịkinh tế thu được tương đối cao

Thứ hai, nghề trồng dâu nuôi tằm cho thu hoạch nhanh, trời ấm thì 18-20ngày, trời lạnh thì 25-30 ngày là cho thu hoạch

Thứ ba, cây dâu không thuộc loại cây kén đất, nó có thể sinh trưởng trênnhiều loại đất khác nhau từ đất phù sa ven sông đến đất vùng trũng thấp, đất khôcằn vùng đồi núi, mặt khác cây dâu không đòi hỏi nhiều về đầu tư chăm sóc, nhàcửa để nuôi tằm đơn giản, tận dụng được những nguyên liệu rẻ tiền

Thứ tư, nghề trồng dâu nuôi tằm còn tạo công ăn việc làm cho người dânlao động, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân nôngthôn, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái

Theo đánh giá của các chuyên gia, Việt Nam mới chỉ đáp ứng được 30%nhu cầu về tơ tằm trong nước và chừng đó nhu cầu về xuất khẩu Như thế cónghĩa là khả năng mở rộng ngành sản xuất này ở nước ta còn lớn, nhu cầu củathị trường về sản phẩm tơ tằm chúng ta chưa khai thác hết Vì thế, phát triểntrồng dâu nuôi tằm sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theohướng có hiệu quả nâng cao thu nhập và chất lượng đời sống của cư dân nôngthôn

Xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An là một xã thuần nông, thunhập của các hộ nông dân từ sản xuất nông nghiệp là chính và vẫn còn thấp, laođộng nhàn rỗi dư thừa nhiều Nghề trồng dâu nuôi tằm đã có mặt tại xã từ lâuđời Là một xã có truyền thống trồng dâu nuôi tằm cũng như ươm tơ dệt lụa cótiếng trong huyện và trên địa bàn tỉnh Nghệ An Thu nhập từ trồng dâu nuôi tằm

đã giúp các hộ nông dân trong xã nâng cao thu nhập cải thiện đời sống vật chất

và tinh thần Trong TDNT thì cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập củacác hộ như lao động, kinh nghiệm, đất đai, đầu tư thâm canh…

Trang 9

Xuất phát từ thực tế đó em xin chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng trồngdâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã Đặng Sơn,huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An” để tiến hành nghiên cứu.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu thực trạng trồng dâu nuôi tằm tại xã Đặng Sơn, huyện ĐôLương, tỉnh Nghệ An;

- Đánh giá hiệu quả mang lại từ hoạt động trồng dâu nuôi tằm đối với cácnông hộ;

- Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ từ trồngdâu nuôi tằm

Trang 10

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm làng nghề

Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được tạo bởi haiyếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó baogồm nhiều hộ gia đình sinh sống từ nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ công, giữa

họ có mối lên kết về kinh tế , xã hội và văn hóa

Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì “Làng nghề là một làng tuy vẫn còntrồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khácnhư đan lát, gốm sứ, làm tương song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảovới một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường(cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyêntâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh,nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàngthủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng

và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thịtrường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nướcngoài”

Theo thời gian và sự biến đổi về kinh tế văn hóa… ta lại có khái niệm vềlàng nghề như sau:Những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệpchiếm ưu thế về số hộ, số lao động và tỷ trọng thu nhập so với nghề nông

2.1.2 Khái niệm về trồng dâu nuôi tằm

- Nghề tằm

Tổ chức nông lương Liên hiệp quốc (FAO) cho rằng “nghề tằm gồm cảcác khâu công nghiệp, thủ công và mỹ nghệ Trồng dâu là tổng hợp các thao táccủa nghề nông Nuôi tằm là tổng hợp trình độ kỹ thuật cao được tạo nên bởi bàntay người nông dân Ươm tơ là ngành công nghiệp có lợi nhuận Khoa học kỹthuật về ngành dâu tằm tơ là sự hội ngộ của các ngành nông nghiệp, côngnghiệp và nghệ thuật; là sự kết hợp giữa nền văn hoá lâu đời và nền văn minhhiện đại, giữa cái giàu, cái nghèo và là sự phản ảnh tương phản giữa chúng”.Nghề tằm có 4 công đoạn hoàn toàn khác nhau nhưng lại gắn bó với nhaurất chặt chẽ là : Trồng dâu; nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa Tơ tằm đã tô điểm thêm

Trang 11

cho vẻ đẹp con người và dệt nên những câu ca dao, những bài thơ trữ tình tuyệttác Ở nước ta nghề tằm là nghề truyền thống lâu đời và hiện nay vẫn là sinh kế,

là công ăn việc làm của hàng trăm ngàn lao động và làm giàu cho đất nước nhờnhững giá trị to lớn của nó

- Sản xuất dâu tằm (Trồng dâu nuôi tằm)

Một hiện tượng có từ thời xưa là những nước nuôi tằm không phải tất cảđều dệt lụa Để nuôi tằm và ươm tơ, cần một lực lượng lao động nhiều và rẻ,không có sự huấn luyện chuyên môn đặc biệt Kỹ nghệ dệt lụa yêu cầu, trái lại,một loại nhân công khéo léo và có chất lượng Người ta thấy có những nước vừanuôi tằm vừa dệt lụa như Nhật bản, Trung quốc, Italia, Pháp; những nước chỉnuôi tằm như Trung Á; những nước dệt lụa mà không nuôi tằm như Anh, Mỹ,Đức, Thụy sỹ Ở nước ta có những làng dệt lụa rất nổi tiếng nằm ở những vùngtrồng dâu nuôi tằm lớn, nhưng đa số người nông dân trồng dâu nuôi tằm khôngươm tơ mà bán kén cho các cơ sở ươm tơ trong và ngoài vùng

Như vậy có thể thấy rằng “Trồng dâu nuôi tằm” là một hoạt động sản xuấtmang lại thu nhập cho người nông dân thông qua việc trồng dâu, nuôi tằm bánkén ươm

- Đặc điểm của sản xuất dâu tằm

Đặc điểm 1: Sản xuất dâu tằm là một hoạt động sản xuất kết hợp giữachăn nuôi và trồng trọt Quá trình này bao gồm 2 giai đoạn trồng dâu và nuôitằm Hai giai đoạn này có quan hệ mật thiết với nhau Giai đoạn trồng dâu là giaiđoạn trung gian của quá trình sản xuất dâu tằm vì nó cung cấp sản phẩm là ládâu cho giai đoạn nuôi tằm Người dân tổ chức sản xuất thường là một quá trìnhđược khép kín trong các hộ sản xuất nông nghiệp Chất lượng lá dâu có ảnhhưởng rất lớn tới kết quả nuôi tằm [4]

Đặc điểm 2: Cây dâu là đối tượng sản xuất của ngành trồng trọt, còn contằm là đối tượng sản xuất của ngành chăn nuôi, chúng là những sinh vật sống cónhững quy luật sinh trưởng và phát triển riêng đòi hỏi những biện pháp kỹ thuậtchăm sóc và tác động khác nhau trong từng giai đoạn, từng vùng, miền và từnggiống khác nhau.[4]

Đặc điểm 3: Sản xuất dâu tằm sử dụng rất nhiều lao động Trung bình cần

từ 7-8 lao động trên mỗi hecta dâu Sản xuất mang tính thủ công là chính do yêucầu công việc tỷ mỉ Tỷ lệ cơ giới hóa còn rất thấp Do đặc điểm này nên sảnxuất dâu tằm chỉ phát huy hiệu quả ở những vùng đông dân, ít đất, nhiều laođộng và giá nhân công rẻ.[4]

Trang 12

Đặc điểm 4: Sản xuất dâu tằm có tính thời vụ rất cao Một lứa tằm kể cảthời gian gỡ kén kéo dài từ 26-28 ngày Trong đó khoảng 8 ngày là lao động cậtlực, chủ yếu là hái dâu nuôi tằm tuổi 4, tuổi 5, bắt tằm lên né và thu hoạch kén(Sơ đồ 2.1).[4]

Đặc điểm 5: Sản xuất dâu tằm mang tính hàng hóa cao Sản phẩm là kén tằmđược bán ngay cho tư thương thu mua kén lấy tiền trang trải cho chi phí sản xuất

và sinh hoạt của gia đình Chỉ ở vùng các dân tộc miền núi, một bộ phân ngườidân trồng dâu nuôi tằm, tự ươm tơ dệt vải và may trang phục và các vật dụngtruyền thống của dân tộc phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của gia đình.[4]

Đặc điểm 6: Số lượng cá thể tằm trong một lứa nuôi là rất lớn Nguy cơdịch bệnh là rất cao, đặt ra yêu cầu công tác phòng trị bệnh nghiêm ngặt Thờigian của một lứa tằm lại rất ngắn chỉ trong vòng chưa đầy 1 tháng cho nênphòng bệnh là chủ yếu và tích cực.[4]

Đặc điểm 7: Thời gian nuôi tằm dài hay ngắn trong năm tùy từng khuvực, từng nước, song về cơ bản là không có hộ nông dân chỉ hoàn toàn nuôi tằm.Người ta thường nhìn nhận nuôi tằm như một hoạt động sản xuất phụ để kiếmthêm thu nhập cho gia đình vào những lúc rảnh rỗi.[4]

Sơ đồ 2.1 Vòng đời con tằm

Trang 13

2.1.3 Khái niệm về chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao độngsống, lao động vật hoá và các chi phí cần tiết khác mà doanh nghiệp chỉ ra đểtiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ.chế tạo sản phẩmhoặc thực hiện cung cấp lao vụ, dịch vụ trong một kỳ nhất định

Tổng chi phí (TC: Total cost):là giá trị thị trường của toàn bộ tài nguyênđược sử dụng để sản xuất ra sản phẩm đó trong một khoản thời gian nhất định.Tổng chi phí của việc sản xuất ra một sản phẩm trong nghiên cứu ngắn hạn (thời

kỳ mà trong đó một số đầu vào dành cho sản xuất của doanh nghiệp, nông hộ,…

là cố định Chẳng hạn quy mô của nhà máy, diện tích đất sản xuất,… được coi làkhông thay đổi), người ta chia tổng chi phí sản xuất ra là 2 loại là chi phí cố định

và chi phí biến đổi [1]

Chi phí cố định (FC: Fiexd cost): là những chi phí không thay đổi khi sảnlượng thay đổi, nói cách khác chi phí cố định là những chi phí mà nhà sản xuấtphải thanh toán dù chưa sản xuất ra một đơn vị sản phẩm nào như tiền thuê nhàxưởng, chi bảo dưỡng máy móc, mua bảo hiểm sản xuất, chi phí để duy trì một

số lượng nhân viên tối thiểu, tiền mua giấy phép sản xuất, lương bảo vệ,… [1]

Chi phí biến đổi (VC: Variable cost): là những chi phí phụ thuộc vào cácmức sản lượng, tăng giảm cùng với sự tăng giảm của sản lượng, chẳng hạn nhưtiền mua nguyên, nhiên vật liệu, tiền lương công nhân,… [1]

Tổng chi phí (TC): TC= FC + VC

2.1.4 Khái niệm và các chỉ tiêu của hiệu quả kinh tế

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về hiệu quả kinh tế Theo tiến sĩNguyễn Tiến Mạnh thì: “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quanphản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu đã xác định” [2]Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, nó liên quan trực tiếp vớinền sản xuất hàng hóa và với tất cả phạm trù và các quy luật kinh tế khác [3]

Để đánh giá đúng hiệu quả kinh tế cần phân biệt rõ 3 phạm trù: hiệu quả kinh

tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội

Hệ thống các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả kinh tế nông hộ [3]:

Tổng giá trị sản xuất (GO): GO=∑ QiPi

Thu nhập hỗn hợp (MI): MI = GO – C; Trong đó: Chi phí sản xuất: C= TT + i +De

Trang 14

Lợi nhuận kinh tế ròng (NB): NB = GO – C – TC; NB = MI – TC

Trong đó chi phí sản xuất trực tiếp (TT); Chi phí tự có (TC)

Vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, vải lụa tơ tằm của Trung Quốc đã bắtđầu được đưa đến khắp vùng châu Á và được vận chuyển bằng đường bộ sangphương tây theo các lộ trình dài được gọi là con đường tơ lụa Con đường tơ lụadài trên 10.000 km là một con đường cho tình hữu nghị và trao đổi văn hóa giữaTrung Quốc và các nước khác ở châu Á, châu Âu, và Bắc Phi thời cổ xưa

Suốt một thời gian dài nghề trồng dâu, nuôi tằm được giữ bí mật độc quyềncủa Trung Quốc rồi sau đó là các nuớc phương đông Theo một số nguồn tài liệunghề dâu tằm được truyền bá đầu tiên từ Trung Quốc sang Triều Tiên, NhậtBản, sau đó đến Ấn Độ và bán đảo Đông Dương rồi đến Indonesia

Vào năm 552 sau công nguyên, hoàng đế Justinien củ 2 giáo sĩ sang công cántại châu Á và khi trở về Byzance họ đã mang theo nhưng trứng tằm được cất dấutrong những cây gậy trúc Kể từ đó nghề dâu tằm đã lan rộng đến vùng Tiểu Á

và Hy Lạp, Italia và đến năm 1340 truyền bá vào Pháp

Năm 1552 nghề dâu tăm được đưa tới châu Mỹ Khi người Bồ Đào Nha xâmchiếm Mexico họ đã khuyến khích nhân dân phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm

ở vùng này Sau đó ngành nghề này lan truyền nhanh chóng lên phía bắc vàphía nam châu Mỹ

Trong suốt thế kỷ 18 ngành tơ tằm tiếp tục hưng thịnh tại Châu Âu, Nhật,Trung Quốc Thế kỷ 19 đánh dấu hai tình hình trái ngược nhau,một là sự cơ giớihóa dẫn đến việc tăng năng suất trong ngành công nghiệp tơ tằm và mặt khác là

sự suy giảm của ngành dâu tằm tơ châu Âu ở cuối thế kỷ 19 Sau khi khai thôngkênh đào Suez vào năm 1872 giá tơ nhập khẩu của Nhật đã trở nên rẻ hơn Sụcông nghiệp hóa tại các nước sản xuất tơ tằm châu Âu đã làm chuyển dịch

Trang 15

nguồn lao đông nông nghiệp về thành phố Thêm vào đó sự bùng phát của bệnhtằm gai (Nosema Bobycis Nagelli) đã quét sạch nghề nuôi tằm ở Pháp, hầu hếtcác nước châu Âu và Trung Đông Mặc dù về sau Louis Paster đã tìm ra biệnpháp phòng bệnh gai tích cực bằng cách kiểm tra ngài mẹ dưới kính hiển vinhưng nghề dâu tằm tại Châu lục này không thể phục hồi như trước.

Sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến cuối thập niên 1970, Nhật Bản là nước sảnxuất tơ tằm hàng đầu thế giới Sau đó Trung Quốc với những nỗ lực đáng kểtrong công tác tổ chức và kế hoạch đã chiếm lại vị trí lịch sử của mình là nướcsản xuất và xuất khẩu tơ lớn nhất thế giới

Hiện nay, trên thế giới có tất cả 31 nước tham gia sản xuất dâu tằm.Trung Quốc là quốc gia sản xuất dâu tằm lớn nhất thế giới, đứng thứ 2 là Ấn Độ.Việc sản xuất lụa các nước lớn trên thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ, Uzbekistan,Brazil, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Cộng Hòa Dân Chủ NhânDân Triều Tiên, Iran,…vv Rất ít quốc gia khác cũng đang tham gia vào việc sảnxuất kén tằm và tơ thô với số lượng không đáng kể; Kenya, Botswana, Nigeria,Zambia, Zimbabwe, Bangladesh, Colombia, Ai Cập, Nhật Bản, Nepal, Bulgaria,Thổ Nhĩ Kỳ, Uganda, Malaysia, Romania, Bolivia, vv

Biến động về sản lượng tơ lụa từ năm 2008 đến năm 2014 được biểu thịtrên bảng 2.1:

Bảng 2.1 Sản lượng tơ lụa toàn cầu từ 2008-2014

(Nguồn: Hiệp hội dâu tằm quốc tế)

Từ năm 2008 đến năm 2009, sản xuất tơ lụa bị giảm xuống Cụ thể năm 2008sản xuất tơ lụa đạt 120396,8 tấn, nhưng năm 2009 chỉ đạt 106169,54 tấn.Nguyên nhân của sự tụt giảm này là do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tếtoàn cầu Từ năm 2010-2014 sản xuất tơ lụa đã tăng trở lại và phát triển với tốc

độ khá đều qua các năm

2.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất dâu tằm của các nước

Sản xuất dâu tằm có bề dày thời gian và mang tính hàng hóa rất cao Ngay

từ hàng ngàn năm trước, thông qua con đường tơ lụa các sản phẩm tơ tằm đã

Trang 16

được giao thương từ Á sang Âu Bằng trao đổi thương mại và liên kết kinh tếquốc tế đã hình thành nên tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa và các tổ chức hợp táctrên toàn thế giới Những khó khăn mà sản xuất dâu tằm gặp phải không phải làcủa từng nước mà tất cả các nước đều gặp phải Những kinh nghiệm, nhữngthành tựu đạt được trong nghiên cứu và phát triển có tác động không chỉ mộtnước mà còn tác động đến hoạt động sản xuất của nhiều nước

+ Nước Pháp: Vai trò của nước Pháp về phương diện phát triển, sử dụng

và trong những thời kỳ khủng hoảng về dâu tằm là quan trọng và thường làquyết định Năm 1850, nước Pháp trở thành nước dẫn đầu về tơ lụa ở Châu Âu.Sau đó bệnh Gai phát sinh và lan truyền khắp các nước đến tận Nhật bản Ở đâyđánh dấu nhiệm vụ cứu tinh của Luis Pasteur, người đã phát hiện ra phươngpháp chiếu kính kiểm tra ngài mẹ Tiếp đó là cuộc đấu tranh tơ lụa trong nhiềunăm tại Nghị viên Pháp đã giúp cho sản xuất dâu tằm vượt qua khủng hoảng lầnthứ 2

Từ năm 1939, người ta đã đề xuất ý kiến nuôi tằm liên tiếp nhiều lứa ở vụXuân ở Châu Âu Họ không ngừng mở rộng việc nuôi này và rải ra suốt thờigian sinh trưởng của cây dâu trong năm bằng những phương tiện kỹ thuật mới.Chỉ có bằng cách nhân lên nhiều lần các lứa tằm trong năm mới có thể hìnhthành nên được một nền kinh tế dâu tằm thật sự vững chắc mang tính chất sảnxuất nông nghiệp lớn mà nghề dâu tằm vốn không có ngay từ thủa ban đầu

Cũng trên quan điểm đó mà từ năm 1929 đã thành lập ở Pháp buồng ấptrứng tằm tập thể đầu tiên và đến năm 1942 đã thành lập buồng nuôi tập trungtằm con đến tuổi 3 Khắp trên thế giới đã có sự chuyển biến tư tưởng về việc tậpthể hóa những công việc của thời kỳ đầu chăn nuôi tằm cũng như sự cần thiếtcủa một màng lưới các kỹ thuật viên để kiểm tra các lứa tằm và để bảo đảm vệsinh phòng bệnh

+ Nhật Bản : Các phái đoàn Pháp đã giúp đỡ Nhật Bản chống đỡ lại dịch

bệnh tằm Gai và 100 năm sau đã đưa nước Nhật lên địa vị dẫn đầu trên thế giới.Giữa thế kỷ 20, ảnh hưởng của Nhật Bản đã có tác dụng quyết định về mặt kinh

tế do chất lượng và số lượng xuất khẩu tơ Người Nhật có vai trò to lớn trongviệc phát triển khoa học kỹ thuật trong sản xuất dâu tằm như giống dâu, giốngtằm, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, máy nấu kén, ươm tơ được đại bộ phận cácnước dâu tằm áp dụng hiện nay Sản xuất dâu tằm đã có tác động rất sâu sắc đến

xã hội Nhật Bản Thứ nhất là sự cơ giới hóa và tự động hóa cao độ trong ngànhdâu tằm là tiền đề về mặt kỹ thuật để cơ giới hóa và tự động hóa các ngành sản

Trang 17

xuất khác Thứ hai, sản xuất tơ tằm quy mô lớn giúp cho Nhật Bản tích lũy đượcvốn để thực hiện quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa về sau.

Chính do quá trình công nghiệp hóa sớm hơn so với các nước sản xuấtdâu tằm khác nên Nhật Bản phải đối mặt với sự thiếu hụt lao động sớm và rấtgay gắt Do vậy, sự cải tiến về kỹ thuật nuôi tằm mang đậm nét của việc tiếtkiệm nhân công

+ Trung Quốc: Cái nôi của nghề dâu tằm đã đóng vai trò quan trọng

trong sự phát triển của nghề dâu tằm và số lượng những kinh nghiệm tích lũyqua nhiều thế kỷ ở Trung Quốc đã rất lớn nhưng ít được phổ biến Vai trò củaTrung Quốc đối với sản xuất dâu tằm trên thế giới hiện nay là vô cùng to lớn.Sản lượng kén tằm của Trung Quốc vẫn đang dần tăng, nhưng có một sự dịchchuyển từ Đông sang Tây Ở các tỉnh phía Đông, kinh tế phát triển mạnh nênsản xuất dâu tằm thu hẹp lại, còn các tỉnh phía Tây còn nhiều khó khăn nên quy

mô sản xuất dâu tằm đang được mở rộng

Về chính sách chỉ đạo sản xuất dâu tằm, chính phủ Trung Quốc đề ra mụctiêu là đổi mới trong lĩnh vực kỹ thuật, quản lý và kinh doanh để thích ứngkhông ngừng với sự thay đổi của kinh tế thị trường Trước đây sản phẩm kéntằm được ươm tại các xí nghiệp ươm tơ của các tỉnh, thì nay được thu mua vàchuyển đến Triết giang nơi có kỹ thuật và công nghệ ươm tơ ở trình độ cao nhất.Chất lượng tơ ở đây đều đạt cấp 4A trở lên Trung Quốc có chủ trương hạn chếxuất khẩu tơ sống, tăng cường xuất khẩu hàng hóa thành phẩm chế biến từ tơtằm

Trung Quốc có hệ thống các trại giống tằm tốt, chất lượng trứng giốngđảm bảo, năng suất cao, chất lượng tơ tốt Cả hai tỉnh Quảng Đông và QuảngTây sử dụng phổ biến giống tằm Lưỡng quảng số 2 Do chất lượng trứng giốngtốt và số giống sử dụng trong sản xuất ít nên nguyên liệu kén đồng nhất, rấtthích hợp cho ươm tơ cấp cao Phương thức tổ chức nuôi tằm con tập trung làphổ biến Người dân có nhà nuôi tằm riêng nên thuận lợi cho công tác vệ sinhsát trùng phòng bệnh Nuôi tằm lớn dưới nền nhà chiếm tỷ lệ rất cao trên 90%nên rất tiết kiệm công thay phân san tằm, công bắt tằm lên né Tỷ lệ tiêu hao dâuthấp, chỉ từ 12-13kg dâu/1kg kén

2.2.2 Trồng dâu nuôi tằm ở Việt Nam

2.2.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm ở Việt Nam

Ở Việt Nam nghề trồng dâu nuôi tằm đã có từ lâu Vào 1200 năm trước ởnước ta đã phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm Theo tài liệu ghi lại các đây 3 thế

Trang 18

kỷ tơ lụa Việt Nam đã xuất đi một số nước trên thế giới và lúc cao điểm diệntích dâu đã đạt tới 100.000 ha Năm 1900 nước ta đã xuất khẩu được 190 tấntơ.Năm 1989 Việt Nam đã gia nhập Hội tơ tằm quốc tế.

Thời kỳ trước năm 1986, cả nước có khoảng 5.000 ha dâu, hàng năm sảnxuất 1.200 tấn kén tằm, 175 tấn tơ và gần 1 triệu mét lụa Sản phẩm chủ yếu là

tơ và lụa cấp thấp Chế biến tơ chủ yếu là chế biến tơ cơ khí, xuất khẩu theoNghị định thư với các nước Đông Âu và Liên Xô cũ Từ năm 1986 đến 1993,nhà nước chuyển đổi cơ chế hạch toán kinh doanh, người dân chủ động trongviệc sử dụng đất đai, đưa các giống mới có năng suất cao vào sản xuất, áp dụng

kỹ thuật sản xuất tiên tiến nên sản xuất dâu tằm tăng nhanh từ 5.000ha dâu(1986) lên 38.000ha dâu (1993) Các năm 1994 đến 1997 là thời kỳ khó khăncủa ngành tơ tằm nước ta Giá tơ lụa trên thế giới giảm mạnh chỉ còn một nửa

so với giá thời kỳ 1989-1991 đã làm cho diện tích dâu giảm trên 50% Tuynhiên, trong giai đoạn khó khăn này, sản xuất vẫn có nhiều tiến bộ đáng kể ,chất lượng tơ được chú trọng, chi phí sản xuất giảm nhiều, thị trường trongnước được mở rộng, các làng nghề truyền thống được khôi phục lại, đồng thờingành cũng đã mở rộng sản xuất kinh doanh tổng hợp theo hướng khai thácchiều sâu, lợi thế và đi vào sản xuất nhiều mặt hàng đa dạng từ thứ liệu tơ tằm(sợi nái, đũi, thổ cẩm v.v ) Từ năm 1998 đến nay, thị trường tơ lụa thế giớiđang phục hồi dần đã góp phần thúc đẩy sản xuất dâu tằm trong nước pháttriển Đặc biệt thị trường tiêu thụ tơ lụa trong nước đang tăng (khoảng 1,2 – 1,5triệu mét/năm)

2.2.2.2 Thực trạng sản xuất dâu tằm ở Việt Nam.

Về trồng dâu: Hiện nay cả nước có 31 tỉnh tham gia sản xuất dâu tằm trêntoàn bộ 7 vùng sinh thái với tổng diện tích dâu là 7753ha Dưới đây là bảng thếhiện diễn biến diện tích đất trồng dâu qua các năm:

Bảng 2.2: Diễn biến diện tích dâu giai đoạn 2005-2014

Trang 19

Diện tích dâu có xu hướng giảm qua các năm Trong 10 năm diện tích dâugiảm 60,4% Trong đó đợt giảm mạnh nhất là khủng hoảng kinh tế toàn cầunăm 2008-2009 Từ năm 2010 đến nay giá kén tằm tương đối ôn định, ngườidân nhiều nơi hăng hái mở rộng diện tích Tuy nhiên nhiều vùng có tập quánsản xuất nhỏ lẻ sản xuất không hiệu quả, diện tích dâu tiếp tục giảm mạnh nêndiện tích dâu cả nước vẫn có xu hướng giảm.

Vùng trồng dâu mang tính tập trung nhất là Tây Nguyên, chiếm 49,69%, Đồngbằng sông Hồng chiếm 24,09%,Bắc Trung Bộ Chiếm 10,2%, Duyên hải NamTrung Bộ chiếm 6,35%, vùng Đông Bắc chiếm 4,54%, vùng Tây Bắc chiếm2,78% và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là chiếm tỷ lệ nhỏ nhất 0,02%

Tây Nguyên, 49.69

Đông Nam

Bộ, 2.33

ĐB Sông Cửu Long, 0.02

ĐB Sông Hồng, 24.09

Chất lượng giống tằm đang ngày càng tiến bộ Nhờ áp dụng rộng rãi tiến

bộ khoa học và công nghệ như giống mới , thuốc phòng trừ bệnh, kỹ thuật nuôitằm…đã phần nào hạn chế bớt rủi ro về dịch bệnh góp phần đưa nắng suất kén

ổn định ở mức cao

Cơ cấu giống tằm cũng thay đổi: Trước đây nông dân nuôi tằm kén vàng

là chủ yếu Hiện nay vụ xuân, vụ thu nuôi tằm lưỡng hệ kén trắng Vụ hè nuôitằm đa hệ lai Các vùng có khí hậu mát mẻ như Tây Bắc, Tây Nguyên thì 100%

Trang 20

Hình 2.2 Sản lượng kén tằm giai đoạn 2005-2014

Ươm tơ dệt lụa:

Tấn

Trang 21

Cả nước hiện có 11 cơ sở ươm tơ thuộc Tổng công ty dâu tằm tơ(VISERI), 8 cơ sở thuộc các địa phương và hàng trăm cơ sở tư nhân, với tổngsản lượng 2.100 tấn/năm Mạng lưới tiêu thụ và chế biến kén chủ yếu do tư nhânđảm nhiệm, theo cơ chế thị trường Xu hướng chế biến tơ của việt nam là ươm

tơ chất lượng cao giảm, chất lượng thấp và trung bình cho dệt thủ công tăng.Các nhà máy ươm tơ chuyển dần sang chập và xe sợi, công đoạn ươm tơ dầndần do các cơ sở sản xuất tư nhân thực hiện

Công nghệ sau tơ được đầu tư phát triển mỗi năm một tăng Hiện nay,công suất xe tơ của cả nước đạt trên 1.000 tấn tơ xe/năm Sản lượng tơ xe đang

có xu hướng tăng dần do nhu cầu của thị trường trong nước và ngoài nước ngàymột mở rộng

Công nghệ dệt lụa toàn ngành hiện có công suất 5,5 triệu mét lụa/năm,trình độ công nghệ dệt ở mức trung bình và thấp, cơ cấu mẫu mã sản phẩm dệtcòn chưa phong phú, chủ yếu phát triển ở các làng nghề theo công nghệ truyềnthống Nghề dệt lụa của Việt Nam sẽ được mở rộng khi ngành dâu tằm tơ khắcphục được vấn đề chất lượng và giá thành tơ

Về sản xuất và cung ứng trứng:

Cả nước hiện có 5 đơn vị sản xuất trứng giống tằm dâu và 1 đơn vị sảnxuất trứng tằm sắn, công suất 600.000 hộp trứng tằm dâu/năm và 1000 kg trứngtằm lá sắn/năm

Thực tế, thời gian qua các cơ sở nhân giống cung ứng được 100% giốngcho vụ hè và khoảng 60% cho vụ xuân thu, còn lại 40% do tư nhân nhập lậu từTrung Quốc Do phải vận chuyển xa và thiếu phương tiện chuyên dụng bảo quảnnên chất lượng trứng giống kém

2.2.2.3 Một số chủ trương, chính sách của nhà nước.

Phát triển dâu tằm được Đảng và chính phủ hết sức quan tâm, điều đóđược thể hiện ở các quyết định, chỉ thị được thông qua cụ thể là:

Quyết định của Hội Đồng Bộ Trưởng số 1/HĐBT ngày 4 tháng 1 năm

1982 về phát triển dâu tằm Theo quyết định chỉ rõ nước ta có điều kiện đất đaikhí hậu, lao động và truyền thống sản xuất tơ tằm để mặc và xuất khẩu để pháthuy những tiềm năm này HĐBT có chủ trương: “phát động phong trào trồng dâunuôi tằm để tự giải quyết nhu cầu về mặc; tích cưc xây dựng vùng sản xuất tơtằm tập trung để xuất khẩu; bổ sung một số chính sách khuyến khích sản xuất tơtằm; tổ chức thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả “.Từ khi có Quyết Định của

Trang 22

hội đồng bộ trưởng về phát triển dâu tằm diện tích, năng suất và sản lượng đượctăng nhanh trên cả nước.

Chỉ thị của hội đồng bộ trưởng về việc đẩy mạnh phát triển sản xuất dâutằm tơ ban hành ngày 12/07/1991(212/CT), mục tiêu đẩy mạnh sản xuất dâu tằm

tơ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Cụ thể, phát triểndâu tằm tơ đến năm 2000 của nước ta là phấn đấu đạt từ 70.000 hécta đến100.000 hécta dâu, chủ yếu ở vùng trung du, miền núi, đạt sản lượng từ 7.000 -8.000 tấn tơ; nâng nhanh chất lượng tơ và sản xuất các sản phẩm từ tơ tằm đểtăng nhanh kim ngạch xuất khẩu; giải quyết thêm việc làm cho khoảng 40-50vạn lao động

Để đạt được các mục tiêu trên, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ thị BộNông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, Thành phố

và các ngành có liên quan Tổ chức thực hiện tốt những nội dung sau: “1- Xúctiến nhanh việc quy hoạch và xây dựng các vùng trồng dâu, nuôi tằm, hệ thống

Cơ sở giống tằm và các xí nghiệp chế biến tơ tằm trong phạm vi cả nước Đặcbiệt, cần tập trung đầu tư để nhanh chóng mở rộng và định hình vùng dâu tằm vàcông nghiệp tơ lụa trọng điểm ở Lâm Đồng; 2- Trồng dâu, nuôi tằm do dân làm

là chính Các đơn vị kinh tế quốc doanh chủ yếu nắm các vùng dâu tằm trọngđiểm, tập trung mở rộng diện tích dâu, làm dịch vụ sản xuất, tiêu thụ sản phẩmcho nông dân, tổ chức công nghiệp chế biến và xuất khẩu sản phẩm; 3- Củng cố

và tăng cường đầu tư cho các trung tâm nghiên cứu khoa học dâu tằm tơ và các

Cơ sở sản xuất giống, bảo đảm tạo ra nhiều loại giống tốt, có năng suất, chấtlượng cao và cung cấp đủ giống cho nông dân sản xuất; 4 - Huy động nguồn vốntrong dân, vay vốn Tín dụng, vay vốn nước ngoài v.v để dầu tư cho sản xuất.Kết hợp Nhà nước và nhân dân cùng làm, khai thác khả năng lao động, vốn vàkinh nghiệm của dân; 5 - Uỷ ban Nhân dân các tỉnh cùng Bộ Nông nghiệp vàCông nghiệp thực phẩm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các ngành cóliên quan phải có kế hoạch tổ chức tốt việc đưa và nhận dân đến xây dựng cácvùng kinh tế dâu tằm và tổ chức tốt đời sống và phúc lợi xã hội; 6 - Mở rộngviệc đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật nuôi tằm, nhất là lao động kỹ thuật nuôitằm, ươm tơ, dệt lụa Tổ chức rộng rãi việc tập huấn, chuyển giao kỹ thuật chonông dân; 7 - Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Uỷ ban Nhân dântỉnh, thành phố phải có cán bộ chuyên môn giúp Bộ và Uỷ ban thực hiện chứcnăng quản lý Nhà nước về dâu tằm tơ

Quyết Định của Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh Nghệ An về chính sách đầu tư hỗtrợ khuyến khích phát triển một số cây công nghiệp và cây ăn quả: Căn cứ Nghị

Trang 23

quyết 17/NQ/TU ngày 20/9/2000 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về Chương trìnhhành động thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ khoá 15 Quyết định cónội dung cụ thể liên quan đến việc phát triển dâu tằm như sau:

Chính sách phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm

Hộ nông dân có điều kiện về đất đai lao động phát triển nghề trồng dâunuôi tằm để sản xuất kén bán nguyên liệu hoặc kết hợp với ươm tơ dệt lụa đểbán sản phẩm cho Công ty Dâu tằm tơ Nghệ An thì được hưởng các chính sáchsau đây:

Được trợ giá 30% giá giống dâu để trồng mới đối với các giống: Dâu SaLuân (Sa Luân 109) nhập nội từ Trung Quốc; giống dâu Việt Nam đa bội thể số7; Số 12 và giống dâu lai VH9

Được trợ giá 30% giá giống tằm (1 vòng trứng) đối với các giống tiến bộ

kỹ thuật nhập từ Trung Quốc như: Giống lai 932 x 7532 và 7532 x 932

Ngoài ra có một số chủ trương chính sách khác của nhà nước ta đó là “Chỉthị 408 – TTG ngày 14 – 8 - 1978 của thủ tướng chính phủ về phát triển mạnh

mẽ sản xuất dâu tơ tằm; Thông tư liên tịch 06 – TT – LN ngày 3 – 11 – 1982 vềviệc phát động phong trào toàn dân đẩy mạnh sản xuất dâu tằm và bông giữa BộNông Nghiệp và Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam; Quyết định 161/1998 QĐ-TTG ngày 1998 phê duyệt tổng ngành dệt may đến năm 2010 trong đó chỉ tiêuđến năm 2010 diện tích dâu là 40.000 ha, sản lượng tơ là 4.000 tấn…

2.2.3 Tình hình trồng dâu nuôi tằm ở Nghệ An

Nghề trồng dâu nuôi tằm ở Nghệ An hình thành và phát triển khá sớm(giữa thế kỷ XVI), được du nhập từ tỉnh Hà Đông (cũ) vào, phát triển mạnh cáchuyện Nam Đàn, Đô Lương, Diễn Châu, Quỳnh Lưu Trải qua thời gian, giá kéntằm không ổn định, sản phẩm làm không tiêu thụ được nên người dân đã chặt bỏhết cây dâu chuyển sang trồng cây khác

Những năm gần đây, do nhu cầu thị trường tăng cao cùng với chính sách

hỗ trợ của Nhà nước, những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nghề trồng dâu nuôi tằm,ươm tơ ở Nghệ An phát triển trở lại Các huyện Diễn Châu, Anh Sơn, ThanhChương, Đô Lương, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Quỳ Châu tận dụng các vùng đất vensông, đất bạc màu, đất triền đồi quy hoạch, trồng dâu thâm canh

Nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật, bà con nông dân đã lai tạo chọn lọc đượcnhiều giống dâu, giống tằm năng suất cao, chất lượng cao hay công nghệ nhângiống dâu trồng hạt, bón phân phối hợp, phòng trừ bệnh tổng hợp, nuôi tằm 2

Trang 24

giai đoạn, nâng cao năng suất kén đạt 1,5-2 tấn kén/ha Đến nay, toàn tỉnh cógần 500ha trồng dâu với trên 1500 hộ tham gia trồng dâu, nuôi tằm Với giá kénbình quân là 90.000 đồng/kg người trồng dâu nuôi tằm sẽ có thu nhập trên 12triệu đồng/năm.

Tỉnh Nghệ An có 3 làng nghề ươm tơ là làng Tiền Tiến xã Diễn Kim,Diễn Châu; làng Xuân Như xã Đặng Sơn, Đô Lương; xóm 6 xã Tường Sơn,Anh Sơn

Trên địa bàn tỉnh cũng đã hình thành các cơ sở kinh doanh tơ tằm, điểnhình là doanh nghiệp tư nhân dâu tơ tằm Lam Giang ở xã Thanh Giang, huyệnThanh Chương; Công ty cổ phần sản xuất Sợi tơ tằm Yarrn silk ở phườngQuang Tiến, thị xã Thái Hòa Các Công ty này đã đầu tư thiết bị máy móc hiệnđại, sản xuất các sản phẩm sợi tơ tằm chất lượng cao Công ty Lam Giang đã kýcác hợp đồng cung cấp giống, hỗ trợ kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm với các hộcủa huyện Thanh Chương, Nam Đàn Công ty Yarrn silk thu mua kén và hỗ trợngười trồng dâu, giá dâu giống và một năm đầu giống tằm Trung tâm Khuyếncông tỉnh đã hỗ trợ 615 triệu đồng phát triển nghề ươm tơ như đào tạo nghềươm tơ, xây dựng thương hiệu, phát triển làng nghề

Tơ tằm ở Nghệ An là loại sợi tự nhiên cao cấp có tính chất đặc biệt như

độ bóng cao, mềm mại, xốp Quần áo, khăn được làm bằng chất liệu tơ tằm rấtđược khách trong nước cũng như nước ngoài ưa chuộng

Thời gian tới, tỉnh tiếp tục mở rộng diện tích trồng dâu, có chính sách hỗtrợ cho các hộ dân ở các địa phương nuôi tằm để tăng thu nhập Song song đó,tỉnh chú trọng mô hình liên kết “bốn nhà” đồng thời mời gọi và tạo mọi điềukiện cho các doanh nghiệp đến đầu tư, cùng với nhân dân trồng dâu, nuôi tằm,ươm tơ, tiêu thụ sản phẩm, kết hợp với phát triển du lịch, dịch vụ để quảng básản phẩm làng nghề

Trang 25

3.3 Nội dung nghiên cứu.

3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng nghiên cứu

- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

- Đặc điểm về kinh tế-xã hội

3.3.2 Thực trạng trồng dâu nuôi tằm của nhóm xã.

- Tổng quát tình hình trồng dâu nuôi tằm của xã

- Đặc điểm cơ bản của nhóm hộ điều tra

 Tình hình sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra

 Tình hình lao động trồng dâu nuôi tằm của nhóm hộ điều tra

 Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ điều tra

 Tình hình sử dụng tư liệu sản xuất của nhóm hộ điều tra

- Tình hình trồng dâu và nuôi tằm của các hộ

- Tình hình tiêu thụ kén tằm của các hộ

3.3.3 Hiệu quả mang lại từ hoạt động trồng dâu nuôi tằm đối với các nông

hộ.

Trang 26

- Hiệu quả về kinh tế.

 Chi phí cho trồng dâu

 Kết quả của giai đoạn trồng dâu

 Chi phí cho giai đoạn nuôi tằm của các hộ

 Kết quả và hiệu quả của giai đoạn nuôi tằm

- Hiệu quả về xã hội và môi trường

 Hiệu quả xã hội

 Hiệu quả môi trường

3.3.4 Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ từ trồng dâu nuôi tằm.

 Nhân tố tổ chức sản xuất nuôi tằm

- Kiểm định một số nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân từ TDNT

3.3.5 Thuận lợi và khó khăn của nông hộ khi trồng dâu nuôi tằm

- Thuận lợi

- Khó khăn

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp chọn điểm, chọn mẫu

- Chọn điểm:

Đặng Sơn là một xã có diện tích trồng dâu nuôi tằm khá lớn so với những xãxung quanh Là xã có 7 xóm nhưng chỉ có 5 xóm (xóm 1 – xóm 5) tham giatrồng dâu nuôi tằm Do vậy, tôi tiến hành điều tra hộ trồng dâu nuôi tằm trên 5xóm này

- Chọn mẫu:

 Loại mẫu hộ:

+ Tiêu chí chọn hộ: là những hộ sản xuất dâu tằm

Trang 27

+ Số lượng hộ khảo sát: 45 hộ

+ Phương pháp chọn hộ: ngẫu nhiên phân loại

+ Xin báo cáo của xã danh sách các hộ làm nghề trồng dâu nuôi tằm

+Phân ra làm 3 loại hộ: Hộ khá, hộ trung bình, hộ nghèo để phỏng vấn

+ Chọn 15 hộ ngẫu nhiên trong danh sách các hộ khá

+Chọn 15 hộ ngẫu nhiên trong danh sách các hộ trung bình

+Chọn 15 hộ ngẫu nhiên trong danh sách các hộ nghèo

=> Tiến hành phỏng vấn các hộ đã được chọn

 Hộ thu mua kén và ươm tơ: 4 hộ, trên địa bàn xã có 8 hộ thu mua kén vàươm tơ thì tiến hành phỏng vấn đại diện 4 hộ thu mua kén và ươm tơ lớnnhất

3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin dữ liệu

- Dữ liệu thứ cấp:

+ Nghiên cứu tài liệu: Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn có liên quan đếnhoạt động sản xuất và phân phối sản phẩm chiếu dệt máy mà các nhà nghiên cứukhác đã thực hiện đã được in thành sách, báo, tạp chí hoặc đăng tải trên internet.+ Các báo cáo của địa phương: Các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội; danhsách các hộ tham gia vào hoạt động trồng dâu nuôi tằm ; báo cáo tình hình laođộng của xã trong những năm qua; báo cáo về thực trạng và khả năng phát triểncác nghề, làng nghề trên địa bàn huyện từ năm 2011 - 2015

- Dữ liệu sơ cấp: sử dụng công cụ PRA để điều tra thu thập thông tin:

+ Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn người am hiểu (Phó chủ tịch xã, Thôn trưởng,những người dân điển hình trong trồng dâu nuôi tằm) về lịch sử nghề TDNT, sự

hỗ trợ của chính quyền địa phương…

+ Phỏng vấn hộ: Sử dụng bản câu hỏi bán cấu trúc phỏng vấn 45 hộ tham giahoạt động TDNT Nội dung phỏng vấn bao gồm: hoạt động trồng dâu nuôi tằmhình thức tiêu thụ kén, các loại chi phí trong sản xuất và các yếu tố ảnh hưởngđến hoạt động trồng dâu nuôi tằm của hộ

+ Hộ thu mua kén và ươm tơ: sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc

+ Quan sát thực địa: Tiến hành quan sát tổng thể địa bàn nghiên cứu về tình hìnhkinh tế, văn hóa, xã hội và tình hình trồng dâu nuôi tằm ở địa bàn xã

Trang 28

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Phương pháp phân tổ thống kê :

Sử dụng phương pháp này để hệ thống hóa và phân tích các số liệu thu thậpđược từ điều tra, từ đó nhận biết tính quy luật của quá trình sản xuất

- Công cụ : Sử dụng phần mềm Excel, SPSS để xử lý số liệu thu thập được

3.4.4 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ số tương đối, chỉ số tuyệt đối,

số bình quân… để khảo sát quy mô, mức độ, cơ cấu từ đó phân tích, đánh giátình hình sản xuất, kinh doanh của các hộ TDNT và các mối liên quan, yếu tốtác động đến kết quả và hiệu quả TDNT

- Phương pháp sử dụng mô hình hồi quy:

Mô hình hồi quy nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng cũng như giải thích được sựnhân tố ảnh hưởng tới thu nhập từ TDNT của hộ tham gia sản xuất dâu tằm trênđịa bàn xã Đặng Sơn Đây là phương pháp phân tích hồi quy nhằm tìm hiểu mốiliên hệ giữa biến phụ thuộc và biến và một hay nhiều biến độc lập Trong đó, biếnphụ thuộc và biến độc lập của mô hình đều là biến định lượng

Tuổi chủ hộ: TDNT yêu cầu lao động không cao nên hầu hết mọi người cósức lao động là có thể tham gia vào nghề, tuổi của chủ hộ có ảnh hưởng tới thunhập từ dâu tăm Bởi việc tuổi nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của hộ, do nhiềutuổi nên hộ có thể sản xuất dâu tằm nhiều hơn, với những hộ có tuổi đời trẻ sẽ thamgia vào ngành nghề khác sử dụng sức khỏe nhiều hơn nên quy mô nuôi tằm ít hơn

để có thể tham gia ngành nghề khác

Trình độ học vấn : Khi trình độ càng cao thì sự nhạy bén trong quá trình sảnxuất, trồng dâu cũng như nuôi tằm và khả năng ứng biến trước hoàn cảnh sẽ caohơn Sự mạnh dạn đầu tư hơn sẽ đem lại thu nhập từ TDNT cao hơn

Diện tích dâu : Diện tích dâu quyết định đến sản lượng lá dâu, do đó các hộ

sẽ tùy vào khả năng cung cấp là dâu của mình mà xác định quy mô nuôi Quy mônuôi tằm ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập từ TDNT

Số lứa nuôi : Số lứa nuôi ảnh hưởng tới sản lượng kén sản xuất ra, sản lượng vàgiá bán quyết định trực tiếp đến thu nhập từ TDNT Do đó khi số lứa nuôi là mộtyếu tố ảnh hưởng lớn tới thu nhập từ TDNT

Tổng chi phí : Việc đầu tư chi phí cho trồng dâu nuôi tằm bao gồm chi phí cho làdâu và trứng tằm, dụng cụ nuôi ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng kén tằm và quy

mô nuôi tằm của hộ

Sử dụng phầm mềm SPSS để tiến hành chạy mô hình hồi quy tuyến tính

Trang 29

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo:

Trong quá trình nghiên cứu có thể tham khảo ý kiến của các cán bộ trungtâm khuyến nông, phòng kinh tế, lãnh đạo xã và các hộ nông dân tiên tiến làm

ăn có hiệu quả trong sản xuất dâu tằm

- Phương pháp tổng hợp và phân tích

Tiến hành phân tích thực trạng về quy mô trồng dâu nuôi tằm, về trình độứng dụng khoa học kỹ thuật, các nguồn lực cơ bản, kết quả sản xuất như năngsuất, sản lượng, số lượng kén tằm tiêu thụ, các hình thức tiêu thụ, những tiềmnăng và thuận lợi trong phát triển sản xuất dâu tằm giữa các loại hộ

Trang 30

PHẦN 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng nghiên cứu

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Hình 4.1 Bản đồ hành chính xã Đặng Sơn

Đặng Sơn là một xã nằm sát trung tâm huyện Đô Lương Xã có cây cầu

Đô Lương bắc qua nối phía Tây và Đông Nghệ An liền mạch quốc lộ 7A rấtthuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa bán đi các nơi; ngoài ra có đạp barangăn dòng nước điều chỉnh lưu lượng nước chảy trên dòng sông Lam tạo điềukiện sản xuất nông nghiệp

Ranh giới của xã được xác định như sau: Phía Đông giáp xã Tràng Sơn(với ranh giới là dòng Sông Lam) Phía Tây giáp xã Nam Sơn Phía Bắc giáp xãBắc Sơn Phía Nam giáp xã Lưu Sơn (với ranh giới là dòng Sông Lam)

Xã Đặng Sơn cách thị trấn Đô Lương 1km nên có vị thế khá thuận lợi.Nhân dân trong xã dễ dàng giao thương học hỏi các thông tin, vừa sản xuất lạivừa tiêu thụ ngay trên địa bàn Đây cũng được coi là một yếu tố thuận cho nghềTDNT của xã phát triển trong cả sản xuất và tiêu thụ

Trang 31

Địa hình xã tương đối bằng phẳng, Do có Sông Lam chảy qua bồi đắp phù

sa màu mỡ cho đất đai nên có nhiều đất bãi phì nhiêu rất phù hợp cho cây dâuphát triển Vì vậy hầu hết dâu của xã là dâu bãi dọc ven con sông

4.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn

Xã Đặng Sơn nói riêng và Tỉnh Nghệ An nói chung đều nằm trong vùngkhí hậu nhiệt đới gió mùa chế độ thời tiết thay đổi theo mùa rõ rệt Mùa lạnhkhô từ tháng 10 đến tháng 3, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, một năm đượcchia làm 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông Nhiệt độ trung bình hàng nămkhoảng 23oC – 24oC Tháng nóng nhất là tháng 6,7 nhiệt độ có ngày lên đến

40oC - 41 oC Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 80% và thấp nhất là75% Lượng mưa hàng năm bình quân khoảng 180mm

Nhìn chung điều kiện thời tiết, khí hậu, thủy văn của xã là tương đốithuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, trong đó có cây dâu tằm Tuynhiên, những thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu trong những năm gần đâynhư gió lào, lụt bão… điển hình là trận lụt trong năm 2010 đã gây ra nhiều khókhăn cho sản xuất nông nghiệp nơi đây cùng với nghề trồng dâu nuôi tằm, ảnhhưởng lớn đến đời sống đại bộ phận dân cư của xã Với điều kiện thay đổi vềthời tiết như vậy yêu cầu người làm nghề trồng dâu nuôi tằm phải có nhữngchuẩn bị tốt nhất với từng kiểu thời tiết cũng như nắm bắt được sự thay đổi đó

để đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất

4.1.2 Tình hình kinh tế xã hội của xã

4.1.2.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai của xã

Đất đai là yếu tố quan trọng hàng đầu và là tư liệu sản xuất chủ yếu củanông nghiệp Nó là nguồn tài nguyên đặc biệt bởi lẽ nếu có chế độ canh tác hợp

lý chất lượng đất ngày càng màu mỡ Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp nông thôn, công tác quy hoạch, sử dụng đất là công tác phảichú trọng một cách đặc biệt

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Đặng Sơn qua 5 năm 2011 - 2015

SL(ha)

2014SL(ha)

2015SL(ha)

So sánh %14/13 15/14A.Tổng diện tích đất tự nhiên 429,41 429,41 429,41 100 100I.Đất nông nghiệp 259,30 257,96 257,96 99,48 100-Đất sản xuất nông nghiệp 257,20 255,86 255,86 99,48 100

Trang 32

-Đất nuôi trồng thủy sản 2,10 2,10 2,10 100 100II.Đất phi nônghiệp 152,03 153,37 153,37 100,8 100

(Nguồn: Ban thống kê xã)

Qua bảng 4.1 tình hình sử dụng đất đai của xã qua 3 năm ta thấy:

Xã Đặng Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là 429,41 trong 3 năm qua làkhông thay đổi Trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm 259,3 ha năm 2013;đến năm 2014 diện tích đất lại tiếp tục giảm còn 257,96 ha và giữ nguyên ởnăm 2015 Như vậy diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm nhưng khôngđáng kể Nguyên nhân là do một phần diện tích đất được chuyển sang xây dựngnhà ở Với tốc độ giảm bình quân là 0,31%, mức độ giảm là không cao và theođịnh hướng tương lai thì diện tích đất nông nghiệp sẽ tiếp tục giảm xuống

Diện tích đất nông nghiệp giảm cũng kéo theo diện tích đất sản xuất nôngnghiệp giảm Diện tích đất sản xuất nông nghiệp năm năm 2013 diện tích đất sảnxuất nông nghiệp của xã là 257,2 ha giảm Đến năm 2014 diện tích đất sản xuấtnông nghiệp của xã là 255,86 ha giảm 0,52% so với năm 2013 Và đến năm

2015 thì diện tích đất sản xuất nông nghiệp không thay đổi so với năm 2014.Bình quân trong 3 năm diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm 0,32% Về diệntích nuôi trồng thủy sản qua 3 năm vẫn không thay đổi do việc nuôi trồng thủysản ở đây không phát triển, các hộ chỉ tận dụng diện tích đất mặt nước để nuôithả một số loại cá để góp phần làm tăng thu nhập

Diện tích đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng trong 3 năm qua Bìnhquân tăng 0,5% Nguyên nhân là do quá trình phát triển kinh tế cũng như thựchiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, một phần đấtnông nghiệp được chuyển qua đất phi nông nghiệp

Trang 33

Do khẩu nông nghiệp thì ngày một tăng mà đất nông nghiệp không đẻthêm được ngày lại một giảm nên bình quân đất nông nghiệp/khẩu giảm dần qua

3 năm Tương tự như vậy diện tích đất canh tác trên khẩu cũng giảm trong 3năm qua Về phần đất nông nghiệp/hộ NN sự biến động chủ yếu là do số hộnông nghiệp tăng lên do vậy mà cũng bị giảm Một nguyên nhân khác dẫn đếncác chỉ tiêu trên giảm cần phải kể đến đó là hàng năm một số lao động đãchuyển từ nghề nông sang các công việc khác như buôn bán, xây dựng… hoặc

đi làm thuê ở các tỉnh khác, đi xuất khẩu lao động

4.1.2.2 Tình hình lao động và nhân khẩu của xã

Dân số và lao động phản ánh mức độ lao động có sẵn để tham gia cáchoạt động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp nói chung và trong nghề trồngdâu nuôi tằm nói riêng

Dưới đây là bảng 4.2 thể hiện được hiện trạng dân số và lao động của xã năm

4.1.2.3 Điều kiện cơ sơ hạ tầng của xã.

Nhìn chung cơ sở hạ tầng của xã Đặng Sơn đã đáp ứng tương đối tốt yêucầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của xã Điều đó được thể hiện cụ thể quanhững khía cạnh sau:

Trang 34

Giao thông là trong những nhân tố quan trọng hàng đầu góp phần pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương Xã Đặng Sơn có vị trí cũng như hệ thốngđường bộ rất thuận lợi Xã có 2,1 km đường quốc lộ 7A đi qua rất thuận lợi choviệc vận chuyển hàng hóa các hộ buôn bán trong xã Ngoài ra, hệ thống đườngliện thôn – liên xã đã được bê tông hóa hoàn toàn; hiện nay xã đã có 1,1 kmđường liên xã và 12,68 km đường liên thôn Đặc biệt, một một đầu Đô Lươngnằm trên địa phận xã là nút giao thông huyết mạch quan trọng có một vị tríchiến lược đặc biệt giúp cho việc gao lưu kinh tế, văn hóa trong xã cũng như bên

ngoài gặp nhiều thuận lợi

* Hệ thống thủy lợi:

Đặng Sơn có 4 trạm bơm công suất 1720m3/h, chủ động chống úng cục bộtrong mùa mưa lũ, đảm bảo sản xuất nông nghiệp tương đối ổn định Hệ thốngmương kiên cố có chiều dài 13,26 km giúp cho người dân thuận lưới hơn trongcông việc tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp

* Hệ thống thống thông tin liên lạc:

Xã có một bưu điện văn hóa xã, ngoài ra ở mỗi xóm của xã đều có mộtdài phát thanh Điều này giúp cho người dân nắm bắt kịp thời các thông tin kinh

tế - xã hội cũng như chủ trương, chính sách của chính phủ

* Hệ thống điện:

Toàn xã có 3 trạm biến thế công suất 720kv ổn định cung cấp điện chocác hộ 100% các hộ đã có điện đến tận nhà đảm bảo nhu cầu sinh hoạt cũngnhư cho việc sản xuất của người dân

* Các công trình công cộng và phúc lợi:

Các công trình công cộng như trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, sân vậnđộng…đã phục vụ tốt nhu cầu học tập vui chơi và khãm chữa bệnh của ngườidân Xã có trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở bán công

đã được kiên cố hóa và nâng cấp đầu tư ngày càng hiện đại đầy đủ trang thiết bịhọc tập Xã có 01 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia với 10 giường bệnh góp phầnchăm sóc tốt sức khỏe cho cộng đồng Hiện nay xã đang xây dựng 1 trạm y tế đểphục vụ chất lượng tốt hơn cho người dân trong xã, dự tính hoàn thành vào cuốinăm 2016

4.1.2.4 Kêt quả phát triển kinh tế của xã

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, những năm qua xã Đặng SơnHuyện Đô Lương Tỉnh Nghệ An đã có những bước phát triển nhanh cả về kinh

Trang 35

tế và xã hội Các ngành sản xuất kinh doanh nói chung đều đạt giá trị kinh tếcao, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân trong xã Sự phát triển đóđược thể hiện trong bảng 4.3:

Bảng 4.3 Tình hình tăng trưởng kinh tế xã Đặng sơn giai đoạn 2011-2015

Tăng trưởng kinh tế Tỷ đồng 87,30 98,40 125 142,54 155,83Nông Lâm Thủy sản % 26,50 23,40 20,30 18,50 17,60Thủ công nghiệp- Xây

dựng

Dịch vụ- Thương mại % 50,90 53,70 56,70 58,30 58,50

(Nguồn: Ban thống kê xã)

Trong 5 năm qua kinh tế tiếp tục phát triển, tăng trưởng hàng năm ổnđịnh, tổng giá trị tăng trưởng theo giá hiện hành năm 2011 là 87,30 tỷ đồng, lên142,54 tỷ đồng năm 2014, năm 2015 là 155,83 tỷ đồng Giá trị tăng thêm bìnhquân đầu người năm 2011 là 16,27 triệu đồng/người/năm, lên 26,06 triệu đồngnăm 2014, 28,20 triệu đồng/ người/ năm 2015, so với mục tiêu Đại hội đề ra đạt95,17%

Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch đúng hướng, nông lâm, thủy sảngiảm từ 26,5% năm 2011, xuống 18,5 % năm 2014, năm 2015 là 17,6 % ; Tiểuthủ công nghiệp - Xây dựng tăng từ 22,6% năm 2011 lên 23,2% năm 2014, năm

2015 là 23,9 %; Dịch vụ - Thương mại tăng từ 50,9 % năm 2011; lên 58,3%năm 2014 và năm 2015 lên 58,5 %

Tổ chức sản xuất thời gian hợp lý, các loại giống mới cho năng suất cao và

áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất thâm canh nên năng suất cây trồng tăngtrưởng khá, sản lượng lương thực cây có hạt năm 2011đạt 2.220 tấn, năm 2014đạt 1.823 tấn, dự kiến năm 2015 đạt 2.091 tấn,bình quân lương thực đầu ngườinăm 2011 là 413 kg/người/ năm, năm 2014 là 333 kg/ người/ năm, năm 2015 là378kg/ người/ năm

Qua thống kê cho thấy sản lượng kén tằm năm 2014 của xã đạt là 9,6 tấnkén tằm; năm 2015 là 10 tấn kén tằm và định hướng phấn đấu đến năm 2020 đạt

16 tấn kén tằm Với định hướng như vậy xã cần có những chính sách nhằm đưasản xuất dâu tằm phát triển thêm một bước mới

4.2 Thực trạng nghề trồng dâu nuôi tằm của xã.

4.2.1 Tổng quát tình hình trồng dâu nuôi tằm của xã.

Trang 36

Tìm hiểu TDNT ở xã Đặng Sơn về lịch sử hình thành thì người dân nơiđây họ không còn nhớ rõ được là có từ bao giờ Các hộ TDNT chỉ nhớ rằng đây

là một nghề truyền thống từ trăm năm được cha ông để lại, truyền nối cho nhau

từ đời này qua đời khác và bây giờ họ chính là thế hệ hiện tại tiếp nối truyềnthống đó Có thể nói rằng nghề trồng dâu nuôi tằm được hình thành từ thời xaxưa

Là một trong những xã đi đầu Huyện Đô Lương trong ngành TDNT (cùngcác xã Lưu Sơn, Đại Sơn…) về cả quy mô lẫn hiệu quả Trong những năm 2001

- 2002, diện tích dâu của xã có lúc lên tới 60ha, phong trào sản xuất dâu tằmdiễn ra với nhịp độ khẩn trương, sau đó do sự biến động giá kén trên thị trườngvào năm 2003, có lúc xuống tới 10.000 – 15.000 đồng/kg nên tổng thu từ dâutằm không đủ đảm bảo đời sống, người dân nhổ dâu và thay thế bằng cây trồngkhác Từ năm 2006, ngành dâu trong cả nước dần hồi phục hồi, theo đó diện tíchdâu của xã được trồng lại một phần, nông dân không những không quay lưng lạivới ngành mà còn chú ý đầu tư thâm canh cho cây dâu con tằm nâng cao kết quảTDNT Từ năm 2006 đến 2015 diện tích trồng dâu của xã là 30ha Diện tíchtrồng dâu qua 10 năm là không thay đổi do nhu cầu của người dân muốn mởrộng quy mô nhưng lại gặp nhiều khó khăn

Vấn đề bất cập và tồn tại nhất trong sử dụng đất dâu của xã hiện nay làvấn đề quy hoạch đất nói chung và đất dâu nói riêng Đất trồng dâu của xã thuộcvào quỹ đất II (đất khoán – đất 5%); Xã giao đất này cho các hộ dân có nhu cầu

sử dụng, ngoài ra là đất 64 các hộ tận dụng trồng cùng cây hàng năm khác.Nhưng khi giao khoán thì không có giao ước gì về thời gian nhận khoán Nghĩa

là khi nào hộ không muốn sử dụng thì trả lại hoặc khi xã cần đất thì thu hồi lạicủa hộ Điều này gây nên tâm lý không ổn định cho người trồng dâu và khókhăn cho sự quản lý, lãnh đạo của xã Hơn nữa do chưa có chiến lược quy hoạchđất khoán lâu dài nên số ruộng dâu mà hộ trả lại xã lại đưa vào đấu thầu với mụcđích sử dụng khác Do đó mà phần đất dâu có thể xem lẫn với thửa nuôi trồngcây con khác gây ảnh hưởng phần nào đến chất lượng lá dâu (mà tằm thì rấtnhạy cảm với nguồn thức ăn không sạch)

Rõ ràng, chính sách quy hoạch đất hiện tại của xã bộc lộ những yếu kém.Đây là một yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất dâu tằm Một số quy hoạch

có tính chiến lược và khoa học sẽ góp phần đẩy nhanh hiệu quả của ngành, tăngthu nhập cho người nông dân

Một trong những chỉ tiêu được quan tâm nhất trong giai đoạn trồng dâu lànăng suất lá dâu Bởi lẽ, có dâu thì mới có công đoạn nuôi tằm Sản lượng dâucủa hộ sẽ quyết định số vòng trứng mà hộ có khả năng nuôi Trước đây trên tổng

Trang 37

diện tích dâu của xã chủ yếu là giống dâu cũ thường trồng bằng hom, khi trồnglại tận dụng cành dâu bố mẹ cũ nên cho năng suất và sản lượng thấp Nhận thấyviệc tăng năng suất dâu là giải pháp hết sức bức thiết để đưa ngành TDNT của

xã thoát khỏi tình trạng sản xuất kém hiệu quả, năm 2005, HTX Xuân Như được

sự chỉ đạo của chính quyền xã đã mạnh dạn đưa cán bộ đi thực tế ở Trung Quốc

về giống dâu mới (dâu lai Sa Nhị Luân – Trung Quốc), kết hợp với nhữngchuyến đi tới các vùng dâu tằm nổi tiếng khác như: Bảo Lộc, Vĩnh Phúc… đểhọc hỏi kinh nghiệm Từ đó, diện tích dâu cũ hàng năm được thay thế dần bằnggiống dâu mới do HTX cung cấp, hỗ trợ miễn phí hàng năm cho các hộ Hiệnnay, xã có khoảng 40% diện tích dâu cao sản này, số còn lại vẫn là dâu cũ –lượng dâu này rải rác ở các vườn, thửa đất nhỏ không tập trung

Thời gian qua diện tích trồng dâu giảm sút nguyên nhân là do thời tiếtdiễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến chất lượng lá dâu, con tằm, đồngthời kỹ thuật chăn nuôi của một bộ phận xã viên TDNT còn thấp… Đây lànhững nguyên nhân chủ yếu làm cho tằm thường xuyên hỏng gây sự chán nảncho người dân đặc biệt đối với những hộ nuôi tằm kén, buộc hộ phải chuyểnsang trồng cây trồng khác Bởi nuôi tằm phải đầu tư rất nhiều công, đặc biệttrong thời gian rảnh rỗi nguồn lao động gia đình tập trung tất cả vào việc hái dâu

và chăm sóc cho con tằm Khi tằm hỏng thì ngoài việc mất công lao động ra thì

hộ còn mất cả chi phí đầu tư cho cây dâu và con tằm

Có thể nói TDNT đây là nghề xuất hiện khá sớm ở xã và đã được kháđông người tham gia nhưng nghề này đang gặp rất nhiều khó khăn như về diễnbiến thời tiết khí hậu thay đổi thất thường, giá bán…

4.2.2 Một số đặc điểm của nhóm hộ điều tra

4.2.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra.

Đất đai là một tư liệu sản xuất không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp XãĐặng Sơn là một xã có diện tích đất bãi ven sông tương đối lớn so với các xãven sông của huyện thường xuyên được bồi đắp phù sa rất thuận tiện lợi choTDNT Để thấy rõ quy mô sản xuất của các hộ TDNT trong xã, tôi đã tiến hànhkhảo sát về tình hình sử dụng đất đai của nhóm hộ sản xuất dâu tằm và cho kếtquả ở bảng 4.4:

Bảng 4.4 Tình hình sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra

Nghèo

Trang 38

- Diện tích trồng dâu/khẩu Sào 0,38 0,29 0,2

- Diện tích SXNN/lao động Sào 2,13 1,91 1,64

- Diện tích trồng dâu/LĐ

(Nguồn: Số liệu phỏng vấn hộ năm 2016)

Qua bảng cho ta thấy đất sản xuất nông nghiệp của các nhóm hộ là khácnhau, hộ Khá có diện tích nhiều nhất bình quân 7,67 sào cao hơn so với hộ TB,

hộ Nghèo lần lượt là 5,75 sào và 4,27 sào, điều đó một phần do sự khác nhau về

số nhân khẩu Sự khác nhau là do năng lực của các hộ về sản xuất nông nghiệptrong đó có dâu tằm khác nhau nên sẽ nhận đất khoán từ xã cũng là khác nhau

và đất nhận thêm

Phần đất canh tác qua bảng thấy diện tích canh tác của các nhóm hộ khác nhau,

hộ Khá có diện tích canh tác là 17,12 sào cao nhất so với nhóm hộ TB và hộNghèo lần lượt là 14,51 sào và 11,10 sào; cũng dễ hiểu bởi khi đất sản xuất nôngnghiệp lớn sẽ kéo theo diện tích đất canh tác nhiều tương ứng giữa các nhóm hộ.Trong đó, phần diện tích trồng dâu của nhóm hộ khá vượt trội cao hơn hẳn sovới nhóm hộ trung bình và nhóm hộ Nghèo, cụ thể hộ khá có diện tích trồng dâubình quân là 2,12 sào cao hơn hẳn so với hộ trung bình là 1,47 sào, hộ Nghèo là0,97 sào Tương tự như vậy đất trồng lúa, trồng ngô giữa các nhóm hộ cũng có

sự khác nhau, nguyên nhân chính là do diện tích đất sản xuất nông nghiệp củacác nhóm hộ khác nhau kéo theo sự khác nhau đó

Điều đáng chú ý ở đây là diện tích trồng dâu chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơcấu đất sản xuất nông nghiệp của các hộ, cho thấy mức độ quan tâm với nghềTDNT giảm và các hộ chuyển sang trồng những loại cây thay thế khác là ngô,lạc Chứng minh cho điều này chúng ta có thể thấy rõ qua bảng trên khi diệntích ngô chiếm gần 50% tổng diện tích đất canh tác ở cả nhóm hộ Cụ thể vớinhóm hộ Khá là 8,13 sào và lần lượt hộ khá, hộ Nghèo là 7,07 sào ; 5,20 sào

Trang 39

Với một số chỉ tiêu bình quân trên khẩu và lao động, cho thấy diện tíchđất SXNN/khẩu của các nhóm hộ khác nhau Với các chỉ tiêu đất SXNN/laođộng cũng có sự khác nhau giữa các nhóm hộ Một chỉ tiêu đáng quan tâm đó làDiện tích trồng dâu/LĐ TDNT có sự khác nhau rõ rệt giữa các hộ, cụ thể hộ Khá

có bình quân 0,99 sào/lao động TDNT nhiều hơn so với hộ TB là 0,71 sào/laođộng và hộ Nghèo là 0,46 sào/lao động chính chỉ tiêu này khác nhau cũng gópphần ảnh hưởng tới khả năng sản xuất dâu tằm của hộ

Có thể nói tùy thuộc vào diện tích đất sản xuất nông nghiệp của mỗi hộ

mà họ có sự đầu tư khác nhau về diện tích đất trồng dâu, do vậy mà kết quả sảnxuất kinh doanh của các hộ TDNT cũng sẽ khác nhau Đây là sự điều chỉnh củacác nhóm hộ sao cho phù hợp với mô hình sản xuất của gia đình của mình

4.2.2.2 Tình hình lao động trồng dâu nuôi tằm của nhóm hộ điều tra.

Nhân khẩu và lao động của xã có sự khác nhau giữa 3 nhóm hộ Ở bảng4.5 ta có thể thấy được sự khác biệt này Nhóm hộ Khá có số nhân khẩu bìnhquân trên hộ là 5,40 người/hộ; số lao động bình quân 3,60 lao động/hộ và số laođộng tham gia vào hoạt động trồng dâu nuôi tằm 2,13 lao động/hộ Đến nhóm

hộ TB thì số nhân khẩu thấp hơn hộ Khá và là 4,47 người/hộ; số lao động bìnhquân 3 lao động/hộ; lao động tham gia hoạt động TDNT cũng ít hơn hộ Khá và

là 2,07 lao động/hộ Còn hộ Nghèo số nhân khẩu thấp hơn hộ Khá và cao hơn hộ

TB và là 4,53 người/hộ; số lao động trên hộ là thấp nhất trong 3 nhóm hộ và là2,60 lao động/hộ; số lao động tham gia hoạt động TDNT bình quân bằng vớinhóm hộ trung bình là 2,07 Điều này có thể cho ta biết được nhóm hộ Khá đầu

tư và hoạt động TDNT cao hơn so với nhóm hộ TB, hộ Nghèo Tuy nhiên sựchênh lệch này là không lớn Sự khác nhau đem lại thu nhập cao hơn cho hộ khá

ở đây là sự đầu tư lao động vào nghề này

Bảng 4.5 Tình hình nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra

(Nguồn: Số liệu phỏng vấn hộ năm 2016)

Để xét về chất lượng của lao động những hộ TDNT ta chú ý vào bảngsau:

Trang 40

Bảng 4.6 Trình độ văn hóa nghề nghiệp của nhóm hộ điều tra

(Nguồn: Số liệu phỏng vấn hộ năm 2016)

Qua bảng 4.4 ta thấy, lao động có trình độ hết cấp II của hộ Khá có tỷ lệcao nhất là 53,3% Trong khi đó ở nhóm hộ TB và Nghèo lần lượt là 60% và40% Lao động có trình độ hết cấp III cũng chiếm tỷ lệ cao lần lượt theo 3 nhóm

hộ Khá, TB, Nghèo là 46,70%; 33,30% và 60% Một đặc điểm của lao độngtrồng dâu nuôi tằm nơi đây là do thế hệ trước truyền lại, qua học hỏi lẫn nhaunên khâu kỹ thuật vẫn còn rất khiêm tốn và chỉ mấy năm trở lại đây mới có tậphuấn Chính vì vậy trình độ học vấn có ảnh hưởng đến chất lượng của lao độngnhưng không đáng kể Chính vì vậy khi nhiều hộ bệnh tằm tái phát đi tái phátlại, các lứa tằm liên tục bị hỏng nhưng không tìm được biện pháp gốc gây tâm lýchán nản Điều này xảy ra cả với những hộ có kinh nghiệm và cả những hộ mớibước vào nghề Chứng tỏ trình độ kỹ thuật của lao động sản xuất dâu tằm trongcác nông hộ vẫn còn nhiều hạn chế

Trong tất cả các hộ điều tra chúng tôi thấy đa phần các hộ kiêm sản xuất dâu tằmvới các nghề khác: làm dịch vụ, đi chợ, đi xây dựng, xuất khẩu lao động… bởi

vì nuôi tằm chỉ có 9 tháng trong một năm, thời gian còn lại lao động làm nghềkhác để tăng thu nhập cho gia đình và những thành viên khác cũng tranh thủ làmnghề dịch vụ khác thêm thu nhập Đa dạng hóa ngành nghề để tăng thêm thunhập cho nông hộ là điều đáng khuyến khích nhưng để đạt được hiệu quả cao

Ngày đăng: 06/10/2016, 11:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Vòng đời con tằm - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Sơ đồ 2.1. Vòng đời con tằm (Trang 12)
Hình 2.1.  Tỷ lệ diện tích dâu tằm phân theo vùng sinh thái - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 2.1. Tỷ lệ diện tích dâu tằm phân theo vùng sinh thái (Trang 19)
Hình 2.2. Sản lượng kén tằm giai đoạn 2005-2014 - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 2.2. Sản lượng kén tằm giai đoạn 2005-2014 (Trang 20)
Hình 4.1. Bản đồ hành chính xã Đặng Sơn - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 4.1. Bản đồ hành chính xã Đặng Sơn (Trang 30)
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Đặng Sơn qua 5 năm 2011 - 2015 - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Đặng Sơn qua 5 năm 2011 - 2015 (Trang 31)
Bảng 4.4. Tình hình sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Bảng 4.4. Tình hình sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra (Trang 38)
Hình 4.3. Cơ cấu thu nhập hỗn hợp của nhóm hộ trung bình - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 4.3. Cơ cấu thu nhập hỗn hợp của nhóm hộ trung bình (Trang 44)
Bảng 4.14.  Tình hình đầu tư chi phí vật chất cho nuôi tằm của các nhóm - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Bảng 4.14. Tình hình đầu tư chi phí vật chất cho nuôi tằm của các nhóm (Trang 54)
Bảng 4.18: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính sau khi bỏ biến   trình độ văn hóa - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Bảng 4.18 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính sau khi bỏ biến trình độ văn hóa (Trang 64)
Bảng 4.19. Ý kiến các nhóm hộ về nghề trồng dâu nuôi tằm - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Bảng 4.19. Ý kiến các nhóm hộ về nghề trồng dâu nuôi tằm (Trang 66)
Hình ảnh về bãi dâu ở xã Đặng Sơn - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
nh ảnh về bãi dâu ở xã Đặng Sơn (Trang 88)
Hình ảnh con tằm - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
nh ảnh con tằm (Trang 89)
Hình ảnh tằm bỏ vào né kén tằm - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
nh ảnh tằm bỏ vào né kén tằm (Trang 89)
Hình ảnh về ươm tơ tại cơ sở ươm tơ Xuân Như- Đặng Sơn - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
nh ảnh về ươm tơ tại cơ sở ươm tơ Xuân Như- Đặng Sơn (Trang 90)
Hình ảnh sản phẩm phụ Phân tằm - Nghiên cứu thực trạng trồng dâu nuôi tằm và ảnh hưởng của nó đến thu nhập của nông hộ tại xã đặng sơn, huyện đô lương, tỉnh nghệ an
nh ảnh sản phẩm phụ Phân tằm (Trang 91)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w