TÓM TẮT KHÓA LUẬNTên đề tài: Nghiên cứu thực trạng chuyển đổi đất trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú tại phường Đông Giang, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Sinh viên thực hiện: Hoàng T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾKhoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu thực trạng chuyển đổi đất trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú tại phường Đông Giang, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Thùy Dương Lớp: Phát triển nông thôn 46A
Thời gian thực hiện: 28/12/2015 – 01/5/2016 Địa điểm thực hiện: Phường Đông Giang, TP Đông Hà,
Tỉnh Quảng Trị Giáo viên hướng dẫn: Th.S Hoàng Thị Hồng Quế
Bộ môn: Khuyến nông
NĂM 2016
Trang 2hệ sinh viên nh chúng tôi.
Từ tận đáy lòng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đặc biệt chân thành đến cô giáo Th.S Hoàng Thị Hồng Quế- ngời đã trực tiếp hớng dẫn, tận tình chỉ bảo và hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Đồng thời, tôi cũng vô cùng cảm ơn các cán bộ của ủy ban nhân dân phờng
Đông Giang, Hợp tác xã Dịch vụ tổng hợp nông nghiệp Đông Giang 2 và nhân dân phờng Đông Giang đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài tốt nghiệp.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc quý Thầy, Cô giáo dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp giảng dạy; chúc Đảng bộ và nhân dân phờng Đông Giang giành thắng lợi trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc.
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Tên đề tài: Nghiên cứu thực trạng chuyển đổi đất trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú tại phường Đông Giang, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Thùy Dương
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Hoàng Thị Hồng Quế
Tóm tắt đề tài:
- Giới thiệu đề tài:
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp là làm sao phát huy đượchết khả năng, mang lại hiệu quả kinh tế cao mà không làm mất đi thuộc tính của
nó Đông Giang là một phường tiêu biểu của thành phố Đông Hà về hoạt độngchuyển đổi mục đích sử dụng đất từ trồng hoa màu sang nuôi tôm sú mang lạihiệu quả kinh tế cao cho các hộ Tuy nhiên, mô hình nuôi tôm sú lại tiềm ẩnnhiều rủi ro mà nông hộ cần có những biện pháp nhằm hạn chế những rủi ro, mởrộng mô hình, phát triển kinh tế Đây là lý do tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu thực trạng chuyển đổi đất trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú tại phường Đông Giang, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị”.
- Mục tiêu và Phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: (1) Tìm hiểu thực trạng chuyển đổi từtrồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú trên địa bàn phường Đông Giang; (2) Phântích hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi tôm sú; (3) Nghiên cứu ảnh hưởng củanuôi tôm sú đối với thu nhập và đời sống của hộ
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định tính và phân tích địnhlượng Các dữ liệu thứ cấp, phỏng vấn sâu người am hiểu, thảo luận nhóm đượcphân tích định tính Phân tích định lượng dữ liệu phỏng vấn hộ; mã hóa và quản
lý bằng phần mềm Excel gồm giá trị trung bình, độ lệch chuẩn một số biến củacác đối tượng điều tra; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ bằngphần mềm SPSS 20
- Các kết quả nổi bật, kết luận và đề xuất chính từ kết quả của đề tài.
Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của phường Đông Giang thực sự phùhợp với sự sinh trưởng và phát triển của loài tôm sú Đây là điều kiện quan trọngquyết định đến sự thành công của mô hình
Trang 5Thực trạng nuôi tôm sú của tại phường Đông Giang cũng là thực trạng củacác hộ khảo sát trên địa bàn phường Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đấtđược tiến hành từ năm 2003 Đến nay, diện tích nuôi tôm trên toàn phường là19,4ha với 35 hồ nuôi tôm sú, 5 hồ xử lý nước và 51 hộ tham gia nuôi tôm
Mô hình nuôi tôm sú đã mang lại doanh thu và lợi nhuận rất cao, điển hìnhtrong 3 năm vừa qua Đặc biệt là năm 2014, doanh thu từ các hộ nuôi tôm sútrên địa bàn phường là 13,7 tỷ đồng, lợi nhuận đạt hơn 7,5 tỷ đồng So với hoạtđộng trồng hoa màu trước đây, hiệu quả kinh tế mà mô hình nuôi tôm sú manglại cao hơn gấp 5 lần, giúp người dân ổn định và cải thiện đời sống
Trong số các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ, yếu tố có mức độ ảnhhưởng lớn bao gồm: số lao động của hộ và diện tích đất hộ sở hữu
Mô hình nuôi tôm sú có vai trò rất lớn đối với thu nhập và đời sống của cácnông hộ: đóng góp quan trọng trong thu nhập của hộ, giúp bà con xây dựng nhà
ở, mua sắm các vật dụng cần thiết trong sản xuất và sinh hoạt; làm tăng cơ cấuchi tiêu của các thành viên trong gia đình lên nhiều lần
Một số thuận lợi của các hộ nuôi tôm như nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ củachính quyền địa phương; sự chăm chỉ, tích cực học hỏi và đoàn kết của các hộnuôi và đặc biệt là có hệ thống xử lý nước trước khi đưa vào hồ nuôi, đảm bảocho môi trường sống của tôm nuôi, chất lượng tôm giống được đảm bảo
Các khó khăn chủ yếu là vấn đề về nguồn nước ngọt trong mùa khô và thịtrường tiêu thụ sản phẩm không ổn định
Chính quyền và người dân địa phương đã đưa ra những biện pháp: xâydựng, củng cố hệ thống thủy lợi nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nước ngọt chokhu vực nuôi tôm; tạo mối liên kết vững chắc về thị trường tiêu thụ Đồng thời,các hộ cũng cần phải theo dõi đối tượng nuôi nhằm nhanh chóng phát hiệnnhững thay đổi bất thường và kịp thời đưa ra những biện pháp xử lý, tránh gây
ra thiệt hại đáng tiếc
Hoạt động nuôi tôm sú được chính quyền và nhân dân phường Đông Giangđánh giá rất cao và có định hướng mở rộng diện tích trong những năm tới
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
TH.S Hoàng Thị Hồng Quế Hoàng Thị Thùy Dương
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Sản lượng nuôi tôm vụ 1 năm 2013 của toàn thành phố 13
Bảng 2.2: Sản lượng tôm vụ 1 toàn thành phố năm 2014 13
Bảng 2.3: Sản lượng nuôi tôm vụ 1 năm 2015 của toàn thành phố 14
Bảng 4.1: Ngành nghề sinh sống của người dân phường Đông Giang 21
Bảng 4.2: Tiến trình chuyển đổi đất trồng hoa màu sang nuôi tôm sú trên địa bàn phường Đông Giang 23
Bảng 4.3: Các chỉ tiêu về doanh thu của các hộ trên địa bàn nghiên cứu trong 3 năm gần đây 24
Bảng 4.4: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của toàn phường trong 3 năm gần đây25 Bảng 4.5: Đặc điểm của các hộ nuôi tôm sú được khảo sát 26
Bảng 4.6: Cơ cấu sử dụng đất của các hộ nuôi tôm được khảo sát 27
Bảng 4.7: Một số chỉ tiêu về thực trạng của các hộ khảo sát 28
Bảng 4.8: Các loại chi phí cho nuôi tôm sú của các hộ khảo sát 30
Bảng 4.9: So sánh hiệu quả kinh tế giữa nuôi tôm sú và trồng hoa màu trên 1ha đất của các hộ khảo sát trên địa bàn phường 31
Bảng 4.10: Thu nhập của các hộ nuôi tôm sú tại phường Đông Giang 3 năm gần đây và trước khi chuyển đổi 32
Bảng 4.11: Tình hình mua sắm các vật dụng sinh hoạt, phương tiện sản xuất của nông hộ được khảo sát từ khi nuôi tôm sú trên địa bàn phường 33
Bảng 4.12: Sự thay đổi cơ cấu chi tiêu trung bình hộ/năm trước và sau khi chuyển đổi của các hộ khảo sát 34
Bảng 4.13: Những thuận lợi mà người dân nhận được trong quá trình thực hiện mô hình nuôi tôm sú tại phường Đông Giang 36
Bảng 4.14: Những khó khăn khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú tại phường 39
Trang 9MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu 3
2.1.1 Cơ sở lý luận về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 3
2.1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 3
2.1.1.2 Cơ sở khoa học của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp 4
2.1.2 Khái quát về tôm sú 5
2.1.3 Lý luận về hiệu quả kinh tế 5
2.1.3.1 Hiệu quả kinh tế 5
2.1.3.2 Ảnh hưởng của thu nhập đến đời sống của người sản xuất 8
2.1.4 Một số nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam 9
2.1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới về hiệu quả sử dụng đất 9
2.1.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam về hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả của mô hình nuôi tôm sú 9
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu 11
2.2.1 Cơ sở pháp lý về chuyển đổi đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản 11
2.2.2 Tình hình nuôi tôm sú tại Việt Nam 12
2.2.3 Tình hình nuôi tôm sú trên địa bàn tỉnh Quảng Trị 12
2.2.4 Tình hình nuôi tôm sú tại thành phố Đông Hà 12
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 15
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 15
Trang 103.1.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu 15
3.1.2.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu 15
3.1.2.3 Phạm vi không gian 15
3.2 Nội dung nghiên cứu 15
3.3 Phương pháp nghiên cứu 16
3.3.1 Chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu 16
3.3.1.1 Chọn điểm nghiên cứu 16
3.3.1.2 Chọn mẫu nghiên cứu 16
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 16
3.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 16
3.3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 17
3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 17
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 18
4.1 Đặc điểm cơ bản của phường Đông Giang 18
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của phường Đông Giang 18
4.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội của phường Đông Giang 20
4.2 Thực trạng chuyển đổi sử dụng đất từ trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú trên địa bàn phường Đông Giang 22
4.2.1 Thực trạng chuyển đổi từ trồng hoa màu sang nuôi tôm sú trên địa bàn phường Đông Giang 22
4.2.1.1 Quá trình chuyển đổi đất trồng hoa màu sang nuôi tôm sú 22
4.2.1.2 Tổng giá trị sản xuất của toàn phường từ hoạt động nuôi tôm sú 24
4.2.1.3 Giá trị gia tăng của toàn phường 24
4.2.2 Thực trạng chuyển đổi từ trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú tại các hộ khảo sát trên địa bàn phường Đông Giang 26
4.2.2.1 Đặc điểm các hộ khảo sát 26
4.2.2.2 Cơ cấu sử dụng đất của các hộ khảo sát 27
4.2.2.3 Thực trạng nuôi tôm sú của các hộ khảo sát 28
4.3 Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sú tại phường Đông Giang 29
Trang 114.3.1 Chi phí đầu từ cho nuôi tôm sú của các hộ 29
4.3.2 So sánh hiệu quả kinh tế giữa nuôi tôm sú và trồng hoa màu 31
4.3.3 Ảnh hưởng của nuôi tôm sú đến thu nhập và đời sống của các hộ nuôi tôm tại phường Đông Giang 32
4.3.3.1 Thu nhập từ nuôi tôm sú trong tổng thu nhập của nông hộ 32
4.3.3.2 Tình hình mua sắm các vật dụng của các hộ khảo sát từ khi nuôi tôm sú .33
4.3.3.3 Thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của các hộ khảo sát 34
4.3.2.4 Sử dụng lao động và tính gắn kết cộng đồng 35
4.4 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú tại phường 35
4.4.1 Thuận lợi trong quá trình thực hiện mô hình nuôi tôm sú 35
4.4.2 Khó khăn khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú trên địa bàn phường 39
4.4.3 Giải pháp khắc phục khó khăn khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú 40
4.4.4 Đánh giá về mô hình nuôi tôm sú 41
4.4.4.1 Đánh giá của người nuôi tôm về mô hình nuôi tôm sú 41
4.4.4.2 Đánh giá của chính quyền địa phương về mô hình nuôi tôm sú 42
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Kiến nghị 45
5.2.1 Đối với chính quyền địa phương 45
5.2.2 Đối với người dân 46
PHẦN 6: TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 12PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia
và nó cũng là yếu tố mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển củacon người và các sinh vật khác trên trái đất Đất đai là tài sản quý giá, là điềukiện sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất, đặc biệt làtrong lĩnh vực nông, lâm nghiệp Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất
kì một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vậtchất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Thấu hiểu được tầmquan trọng của đất đai đối với đời sống của nhân loại, con người đã tiến hànhnhững hoạt động nhằm khai thác tối đa khả năng làm việc của đất nhằm manglại hiệu quả cao nhất, phục vụ cho cuộc sống của con người
Tuy nhiên, việc sử dụng đất đai sao cho nó phát huy hết những khả năng,mang lại hiệu quả kinh tế cao mà không làm giảm chất lượng đất là một điềuđáng trăn trở cho những người sử dụng đất, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thịtrường phát triển như hiện nay Quá trình đô thị hóa nhanh chóng dẫn đến diệntích đất nông nghiệp dần thu hẹp lại, bên cạnh đó là sự gia tăng dân số và nhucầu về chỗ ở, lương thực tăng lên cũng là vấn đề đặt ra cho hiệu quả sử dụng đấthiện nay Việc sử dụng đất đúng mục đích không chỉ phát huy được tiềm năng
tự nhiên mà còn thể hiện được trình độ canh tác của con người, mang lại hiệuquả cho người sử dụng Chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một nhu cầu hợppháp của mọi tổ chức, gia đình, cá nhân đang sử dụng, quản lý đất đai Việcchuyển đổi mục đích sử dụng đất nhằm khai thác tối đa lợi ích kinh tế, tài chính
mà đất đai đem lại là một nhu cầu cấp bách đối với những vùng đất chưa thực sựmang lại hiệu quả tương xứng với tiềm năng đất đai
Vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong giai đoạn côngnghiệp hóa, đô thị hóa luôn là vấn đề nóng bỏng, thời sự, được các ngành, cáccấp, mọi người quan tâm Để đáp ứng cho mối quan tâm đó, Nhà nước ta đã đưa
ra những quy định về chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho các cá nhân, giađình, tổ chức xã hội nhằm mục đích phát huy tối đa hiệu quả kinh tế của đất đai.Chính sách chuyển đổi mục đích sử dụng đất hợp lý không chỉ tạo nên tính bềnvững xã hội, đảm bảo quyền lợi hợp lý của từng hộ gia đình, từng cá nhân, đồngthời đảm bảo quyền lợi của cộng đồng, của toàn dân tộc Sử dụng đất hợp lý làtác nhân trực tiếp tạo nên tính bền vững trong quá trình phát triển của đất nước
Trang 13Hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất được tiến hành ở tất cả các địaphương trên đất nước ta, và tỉnh Quảng Trị cũng không ngoại lệ Nhận thấyđược sự phù hợp giữa điều kiện tự nhiên của địa phương và sự phát triển củatôm sú, chính quyền địa phương đã đưa tôm sú vào danh mục các loài nuôi trồngthủy sản nhằm phát triển kinh tế Phường Đông Giang là phường tiêu biểu trongviệc chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ trồng hoa màu sang nuôi tôm sú củathành phố Đông Hà, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Bên cạnh hiệuquả kinh tế cao, hoạt động nuôi tôm sú còn gặp phải không ít những rủi ro trongquá trình sản xuất và tiêu thụ tôm sú, gây không ít khó khăn cho cuộc sống củangười dân Xuất phát từ vấn đề thực tế của địa phương, đánh giá đúng thực trạngchuyển đổi sử dụng đất cũng như hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sú vànhững thuận lợi khó khăn của mô hình này mang lại, từ đó làm cơ sở cho việc
phát triển mô hình, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng chuyển đổi đất trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú tại phường Đông Giang, Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng chuyển đổi từ trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sútrên địa bàn phường Đông Giang
- Phân tích hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sú
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nuôi tôm sú đối với thu nhập và đời sống củahộ
Trang 14PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về đề tài nghiên cứu
2.1.1 Cơ sở lý luận về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp và chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Khái niệm đất đai
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như mộtnhân tố sinh thái (FAO, 1976) Trên quan điểm nhìn nhận của FAO thì đất đaibao gồm tất cả những thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnhhưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Như vậy, đất đượchiểu như là một tổng thể của nhiều yếu tố, bao gồm: khí hậu, địa mạo/ địa hình,đất, thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật tự nhiên, những biếnđổi của đất do hoạt động của con người
Tuy nhiên vai trò của đất đai đối với từng ngành thì không hoàn toàn giốngnhau, cụ thể đối với ngành nông- lâm nghiệp: Đất đai có vai trò vô cùng quantrọng, không chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồntại mà còn là yếu tố tích cực của các quá trình sản xuất, thể hiện ở chỗ đất cungcấp cho cây trồng nước, không khí, các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồngsinh trưởng và phát triển Trong quá trình sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quảkinh tế, con người luôn tìm cách tác động vào các tính chất hóa học, lý học, sinhhọc để tăng độ phì cho đất Đất đai quyết định đến quá trình sản xuất để tạo rasản phẩm Vì vậy, trong quá trình sử dụng đất cần phải biết cách khai thác, sửdụng, chuyển đổi cơ cấu một cách hợp lý, đồng thời phải bảo vệ đất, cải tạo,nâng cao độ phì cho đất Bên cạnh đó chúng ta cần phải lựa chọn các loại hình
sử dụng đất phù hợp để nâng cao năng suất cho cây trồng [17]
Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất các ngành nôngnghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng để nghiêncứu thí nghiệm về nông nghiệp và còn được gọi là ruộng đất [5]
Khái niệm chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất là sự thay đổi về mục đích sử dụng củađất Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp là phạm trù hẹp hơn, tuycũng chỉ sự thay đổi về mục đích sử dụng của đất, nhưng đó là mục đích của đấtnông nghiệp này sang mục đích nông nghiệp khác hoặc từ đất nông nghiệp sangđất phi nông nghiệp
Trang 15Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp còn được hiểu theo các góc
độ về mặt pháp lý, về kinh tế tổ chức Về mặt pháp lý, chuyển đổi mục đích sửdụng đất nông nghiệp là thay đổi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụngđất, được phê duyệt bằng quyết định hành chính Về mặt kinh tế, đất được sửdụng vào tất cả các hoạt động kinh tế và đời sống kinh tế xã hội.[5]
2.1.1.2 Cơ sở khoa học của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
(1) Yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế, trong đó có cả ngành nôngnghiệp (giao thông, thủy lợi); các nhu cầu phát triển đô thị và văn hóa xã hội.(2) Do sự phát triển của ngành nông nghiệp đã cho phép chuyển đất nôngnghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp
Cơ sở khoa học của chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
- Lý luận về địa tô với vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất: Từ khái
niệm và bản chất của địa tô, luận án đã kết luận: Sự chiếm hữu địa tô là hìnhthức kinh tế mà quyền sở hữu đất đai dựa vào đó để thực hiện Đây là cơ sở hếtsức quan trọng để xem xét tới mối tương quan giữa sử dụng đất vào mục đíchnông nghiệp hay phi nông nghiệp và chuyển đổi mục đích giữa chúng
- Lý luận về lợi thế so sánh với vấn đề chuyển đổi mục đích đất nông nghiệp: Luận án đi sâu xem xét các loại về lợi thế tuyệt đối, so sánh, cạnh tranh
và cho rằng: Nghiên cứu về lợi thế, không chỉ xem xét trong chuyên môn hóasản xuất ở mỗi quốc gia mà còn là cơ sở để xem xét xác định lợi thế và khai tháclợi thế của từng địa phương và cơ sở kinh doanh của các địa phương, trong đólợi thế về đất đai.[5]
Các trường hợp chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Các trường hợp chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp phải đượcphép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm:
- Chuyển đất trồng lúa sang đất trồng cây lâu năm, đất trồng rừng, đất nuôitrồng thủy sản, đất làm muối
- Chuyển đất trồng cây hàng năm khác sang đất nuôi trồng thủy sản nướcmặn, đất làm muối, đất nuôi trồng thủy sản dưới hình thức ao, hồ, đầm
- Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sửdụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp
- Chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp.[15]
Trang 162.1.2 Khái quát về tôm sú
Tôm sú (tên khoa học là Penaeus monodon) là một loài động vật giáp xácđại dương được nuôi để làm thực phẩm Tôm sú là loài sống ở nơi chất đáy làbùn pha cát với độ sâu từ ven bờ đến 40 m nước và độ mặn 5 ÷ 34‰ Tôm sú cóđặc điểm sinh trưởng nhanh, trong 3 ÷ 4 tháng có thể đạt cỡ bình quân 40 -50gam Tôm trưởng thành tối đa với con cái có chiều dài là 220 ÷ 250mm, trọnglượng 100-300gam Con đực dài 160 ÷ 210mm, trọng lượng 80 ÷ 200 gam Tôm
có tính ăn tạp, thức ăn ưa thích là thịt các loài nhuyển thể, giun nhiều tơ(Polycheacta) và giáp xác
Tôm sú là loài hải sản mang lại giá trị dinh dưỡng cao, mà mặt hàng xuấtkhẩu có nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngành thủy sản nước nhà Thành phần dinhdưỡng trong 100g tôm sú gồm: Calories (95), fat colories (56), total fat (0,6g),saturated fat (0), cholesterol (90mg), sodium (185mg), protien (19,2g), omega-3(0) Tôm sú là mặt hàng tôm phổ biến ở nước ta Thành phần dinh dưỡng củatôm sú so với một số loại tôm khác như tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng, tôm
he nâu thì thành phần dinh dưỡng của tôm sú cao hơn và tương đương với tômVịnh Mexico Hương vị tôm sú ngon và đậm đà hơn các loại tôm khác [16]Phân bố tự nhiên của loài này là khu vực Ấn- Tây- Thái Bình Dương, trải
từ bờ đông châu Phi, bán đảo Ả Rập, đến tận Đông Nam Á và biển Nhật Bản ỞĐông Úc cũng có loài này, và một lượng nhỏ tôm sú cũng đi vào Địa Trung Hảiqua kênh đào Suez Ngoài ra còn có ở Hawaii và bờ biển Đại Tây Dương của
Mỹ (Florida, Georgia và Nam Carolina) [19]
2.1.3 Lý luận về hiệu quả kinh tế
2.1.3.1 Hiệu quả kinh tế
Khái niệm hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầucủa các nhà sản xuất kinh doanh có thực hiện hạch toán kinh tế, là động lực,thước đo của mọi hoạt động Nâng cao hiệu quả kinh tế là nhiệm vụ cuối cùngcủa mọi nổ lực sản xuất kinh doanh Khái niệm hiệu quả kinh tế được hiểu nhưsau:
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân phối Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giátrị đều tính đến việc xem xét sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạtđược hoặc là hiệu quả kỹ thuật hoặc là hiệu quả phân phối thì mới chỉ là điềukiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt được hiệu quả kinh tế
Trang 17Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chiphí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về
kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp Hiệu quả kỹ thuậtliên quan đến phương tiện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra một đơn vị nguồn lựcdùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
Hiệu quả phân phối (hay còn gọi là hiệu quả giá) là chỉ tiêu hiệu quả trongcác yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩmthu thêm trên một đồng chi phí chi thêm về đầu vào Thực chất về hiệu quả phânphối là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá của đầu vào và giá củađầu ra; vì thế nó còn được gọi là hiệu quả giá
Như vậy, hiệu quả kỹ thuật đánh giá về mặt hiện vật, hiệu quả phân phốiđánh giá về mặt giá trị, chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả tiêu chuẩn vềhiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối thì khi đó mới đạt được hiệu quả kinh tế
Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả kinh tế
- Biết được mức hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nôngnghiệp, các nguyên nhân ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế để có các biện phápthích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
- Làm căn cứ để xác định phương hướng đạt tăng trưởng cao trong sản xuấtnông nghiệp Nếu hiệu quả kinh tế còn thấp thì có thể tăng sản lượng nôngnghiệp bằng các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, ngược lại nếu đã đượchiệu quả kinh tế cao thì để tăng sản lượng cần phải đổi mới công nghệ
Các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế- xã hội, vừa có tính lý luận, vừa
có tính khoa học sâu sắc, vừa là yêu cầu đặt ra của thực tiễn sản xuất Bản chấtcủa hiệu quả kinh tế là tương quan so sánh tương đối và tuyệt đối giữa lượng kếtquả thu được với lượng chi phí bỏ ra, tuy nhiên, so sánh tuyệt đối chỉ giới hạntrong phạm vi nhất định Như vậy, để tính được hiệu quả kinh tế, vấn đề đặt ra làphải xác định được kết quả thu được với chi phí bỏ ra
Tùy theo mục đích tính toán hiệu quả kinh tế mà xác định kết quả thu đượcsao cho phù hợp Chẳng hạn, với mục tiêu là sản xuất ra sản phẩm đáp ứng nhucầu của xã hội thì kết quả được sử dụng là tổng giá trị sản xuất Nhưng với cácdoanh nghiệp, trang trại phải thuê mướn nhân công thì kết quả thu được cầnquan tâm là lợi nhuận, còn với nông hộ kết quả được quan tâm lại là thu nhập,thu nhập hỗn hợp
Trang 18Chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh là những chi phí cho cácyếu tố đầu vào như đất đai, lao động, tiền vốn, nguyên nhiên vật liệu tùy theomục đích phân tích và nghiên cứu mà chi phí bỏ ra có thể tính toàn bộ hoặc chotừng yếu tố chi phí Thông thường chi phí bỏ ra được tính bằng tổng chi phí,tổng chi phí trung gian, chi phí vật chất, chi phí lao động sống, chi phí vốn, chiphí đất đai
Sau khi đã xác định kết quả thu được và chi phí bỏ ra, chúng ta có thể tínhđược hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, có thể xác định hiệu quả kinh tế theo các mụcđích tiếp cận khác nhau
Thứ nhất, hiệu quả toàn phần được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạtđược và chi phí bỏ ra, có nghĩa là hiệu quả kinh tế là so sánh về mặt lực lượnggiữa kết quả và chi phí sản xuất
Trong đó:
H, h: Hiệu quả kinh tế
Q: Khối lượng sản phẩm thu được
C: Chi phí bỏ ra
Phương pháp này có ưu điểm là phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồnlực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả,hoặc một đơn vị kết quả cần tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực Vì vậy, giúp ta sosánh được hiệu quả ở các quy mô lớn
Thứ 2, hiệu quả cận biên được xác định bằng cách so sánh phần tăng thêmcủa kết quả thu được và phần tăng thêm của chi phí bỏ ra
Trong đó:
Q: Khối lượng sản phẩm tăng thêm
C: Chi phí tăng thêm
Trang 19Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ được
hộ nông dân sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Đây
là chỉ tiêu tổng hợp nói lên quy mô, cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh củanông hộ
- Chi phí trung gian (IC): bao gồm những chi phí vật chất và dịch vụ mua
ngoài dùng cho sản xuất, không bao gồm chi phí khấu hao tài sản
- Giá trị gia tăng (VA): là một trong những chỉ tiêu tổng hợp quan trọng
phản ánh kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của các ngành, các thànhphần kinh tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định Đó lànguồn gốc của mọi khoản thu nhập, sự giàu có và phồn vinh xã hội Nó khôngchỉ biểu hiện hiệu quả của sản xuất theo chiều rộng mà còn là một trong những
cơ sở quan trọng để tính các chỉ tiêu kinh tế khác được xác định bằng công thứcsau:
VA = GO – ICTrong đó:
VA: Giá trị gia tăng
GO: Tổng giá trị sản xuất
IC: Chi phí trung gian
- Giá trị sản xuất tính cho một đơn vị chi phí trung gian (GO/IC): là chỉ
tiêu phản ánh về số lượng đơn vị giá trị sản xuất thu được khi bỏ ra một đơn vịchi phí trung gian đầu tư sản xuất
- Giá trị gia tăng tính cho một đơn vị chi phí trung gian (VA/IC): là chỉ
tiêu phản ánh về lượng, cho biết cứ một đơn vị chi phí trung gian bỏ ra để đầu tưcho đối tượng sản xuất thì thu được bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng Đây là chỉtiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế đạt được
- Giá trị sản xuất/ha (GO/ha): là chỉ tiêu cho biết bình quân một ha đối
tượng sản xuất thu được bao nhiêu đơn vị giá trị sản xuất [18]
2.1.3.2 Ảnh hưởng của thu nhập đến đời sống của người sản xuất
- Cải thiện điều kiện vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống cho ngườidân, đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo
- Cải thiện điều kiện sức khỏe cho người dân: giảm tỷ lệ người mắc bệnh,giảm tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, giảm tỷ lệ tử vong ở người lớn và trẻ nhỏ
Trang 20- Cải thiện môi trường làm việc, phát triển giáo dục, nâng cao tỷ lệ giáo dụcphổ cập, tăng tỷ lệ số học sinh đến trường
- Tạo ra công ăn việc làm cho người dân địa phương
- Phải nâng cao sự gắn kết trong cộng đồng địa phương; lôi kéo được sựtham gia của cộng đồng địa phương
2.1.4 Một số nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam
2.1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới về hiệu quả sử dụng đất
Hướng nghiên cứu mà đa số các nhà khoa học quan tâm trong lĩnh vựcnâng cao hiệu quả sử dụng đất là xem xét sự phù hợp của mỗi giống cây trồngtrên từng loại đất là cơ sở để bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai tháchiệu quả những tiềm năng đất đai nói riêng và lợi thế của từng vùng sinh thái nóichung Xuất phát từ lý do trên mà hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệpthuộc nhiều nước trên thế giới đã tạo ra những giống cây trồng mới giúp choviệc hình thành nên các kiểu sử dụng đất mới ngày càng phù hợp với đất đai, khíhậu của mỗi vùng là cơ sở để khai thác đất đai có hiệu quả hơn Viện lúa quốc tế(IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa cũng như hệ thống cây trồngtrên đất canh tác Tại Nhật Bản, tạp chí “Farming Japan” hàng tháng đều giớithiệu các công trình của các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai,đặc biệt là của Nhật
Các nước trong khu vực đều có những chính sách và nghiên cứu về sự pháttriển của nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hàng hóa nói riêng TrungQuốc đã coi việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triểnkinh tế xã hội nông thôn Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản
lý và sử dụng đất đai ổn định, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thốngtrách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trồng sản xuất Chính quyềncác địa phương của Trung Quốc thực hiện chủ trương “Ly nông bất ly hương”
đã thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp cũng như sự phát triển kinh tế nông thônmột cách toàn diện Thái Lan có chính sách cho thuê đất dài hạn hay cấm trồngcác loại cây không thích hợp trên từng loại đất đã thúc đẩy việc quản lý và sửdụng đất có hiệu quả hơn [8]
2.1.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam về hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả của
mô hình nuôi tôm sú
Việt Nam là một nước nông nghiệp Đời sống và các hoạt động kinh tế – xãhội thậm chí cả nền văn minh từ xa xưa đã gắn với trồng trọt và chăn nuôi Vì
Trang 21vậy, những nghiên cứu về cơ cấu cây trồng, hệ thống nông nghiệp và hiệu quả sửdụng đất ở nước ta gắn liền với lịch sử hình thành, đấu tranh và bảo vệ Tổ Quốc.
Do yêu cầu của việc tăng năng suất, sản lượng cây trồng để đáp ứng nhu cầulương thực, thực phẩm của con người nên các nghiên cứu về trồng xen, trồng gối,luân canh, tăng vụ đã được nghiên cứu từ rất sớm Trên cơ sở đó để đánh giá hiệuquả sử dụng đất và lựa chọn các loại hình sử dụng đất hiệu quả nhất
Điều kiện sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn nhiều khó khăn, chịu nhiềurủi ro do thiên tai bão lụt, hạn hán, sâu bệnh… làm cho năng suất và sản lượngcây trồng thấp, không ổn định và bấp bênh Khi phân tích đánh giá hiệu quả sửdụng đất của một vùng có thể thấy rõ một số loại hình sử dụng đất sử dụngnguồn giống cây trồng của địa phương có khả năng chống chịu khá với điềukiện ngoại cảnh không thuận lợi, năng suất cây trồng ổn định nhưng lại thấp,không đáp ứng yêu cầu con người Do đó cần phải đưa các giống cây trồng tốt,cho năng suất cao, ổn định, phù hợp với điều kiện sinh thái cụ thể của vùng vàosản xuất Ngoài ra, đối với những loại hình sử dụng đất chưa phát huy được tiềmnăng vốn có của vùng, năng suất chưa cao và kém ổn định thì phải có điều chỉnhphù hợp để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đất
Những năm qua Việt Nam đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật,kinh tế và tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên cứu và ứng dụngtập trung vào các vấn đề sau: lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao;
bố trí luân canh cây trồng vật nuôi với từng loại đất; thực hiện thâm canh toàndiện, liên tục trên cơ sở ứng dụng tiến bộ kỷ thuật vào sản xuất
Cũng trong giai đoạn này, chương trình quy hoạch tổng thể đang được tiếnhành nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hóa nông nghiệp, nội dungquan trọng nhất là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụngđất nông nghiệp Những công trình nghiên cứu mô phỏng chiến lược phát triểnnông nghiệp vùng đồng bằng sông hồng của GS.TS Đào Thế Tuấn cũng đề cậpđến việc phát triển hệ thống cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong điềukiện Việt Nam Hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long do GS.TS.Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một kết luận về phân vùng sinh thái vàhướng áp dụng những giống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau nhằmkhai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả cao hơn
Khi đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất ở huyện Đông Hưng, tỉnhThái Bình, tác giả Phan Quốc Hưng và Vũ Thị Thu Hương đã xem xét phân tíchtrên ba phương diện hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, và tác động môi trường
Trang 22của từng loại hình Và để so sánh hiệu quả giữa các loại hình sử dụng đất cầnđưa ra phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội thông qua các chỉtiêu tổng thu nhập, thu nhập hỗn hợp hiệu quả đồng vốn, sử dụng lao động, mức
độ chấp nhận của người dân thành các mức độ rất cao, cao, trung bình và thấp
Từ kết quả so sánh để đề xuất các loại hình sử dụng đất có thể mở rộng [7].Một số tác giả đã có những nghiên cứu về hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹthuật của mô hình nuôi tôm sú như các tác giả Đặng Hoàng Xuân Huy, PhạmXuân Thủy và Terje Vassdal của trường Đại học Nha Trang và Đại học Tromso-
Na Uy đã thực hiện nghiên cứu về phân tích hiệu quả kỹ thuật cho các trại nuôitôm sú thương phẩm tại thành phố Nha Trang, Việt Nam Kết quả chỉ ra rằng tạithành phố Nha Trang có 25% số trại nuôi tôm sú thương phẩm đạt hiệu quả kỹthuật và 75% số trại là không hiệu quả kỹ thuật
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
2.2.1 Cơ sở pháp lý về chuyển đổi đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản
- Nghị quyết 09/2000/NQ- CP của Chính phủ về một số chủ trương vàchính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đãxác định trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp: với các loại đất sản xuất lúa kémhiệu quả thì chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác có hiệu quả cao hơn,như đất khô hạn chuyển sang trồng màu, đất trũng và đất ven biển chuyển sangnuôi trồng thủy sản, đất ven đô thị chuyển sang trồng rau, hoa, cây ăn quả
- Quyết định 224/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệtchương trình phát triển nuôi trổng thủy sản thời kỳ 1999- 2010 quy định vềchính sách sử dụng đất, mặt nước nuôi trồng thủy sản: được phép chuyển đổiruộng nhiễm mặn, ruộng trũng, đất làm muối, đất ngập úng sản xuất lúa bấpbênh, kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản
- Nghị quyết quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Trị đếnnăm 2020 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị khóa VI, kỳ họp thứ 11trong quy hoạch phát triển thủy sản đến năm 2020 đã xác định việc chuyểnđổi đất hoang hóa, vùng trũng trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủysản nước ngọt tại các huyện: Hải Lăng, Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong,Cam Lộ, thị xã Quảng Trị và thành phố Đông Hà; phát triển nuôi thủy sảntrên vùng cát ven biển các huyện: Triệu Phong, Hải Lăng, Vĩnh Linh, GioLinh và nuôi tôm nước lợ tập trung ở các huyện: Vĩnh Linh, Triệu Phong, GioLinh và thành phố Đông Hà
2.2.2 Tình hình nuôi tôm sú tại Việt Nam
Trang 23Nhìn chung, sản lượng thủy sản của cả nước trong 3 năm qua (2013- 2015)đều tăng và đạt trên mức 6 triệu tấn Đặc biệt, sản lượng thủy sản năm 2015 đãđạt 6,55 triệu tấn.
Theo báo cáo Tình hình kinh tế- xã hội các năm từ 2013 đến 2015 của tổngcục thống kê, sản lượng thuỷ sản năm 2013 ước tính đạt 5918,6 nghìn tấn, tăng3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng nuôi tôm sú nước lợ đạt 268nghìn tấn và diện tích nuôi tôm sú là 590 nghìn ha Sản lượng thuỷ sản năm
2014 ước tính đạt 6332,5 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm trước Sản lượng tôm
sú thu hoạch trong năm đạt 252 nghìn tấn, giảm 8,7% so với năm 2013 Diệntích thu hoạch tôm sú giảm 19 nghìn ha do hoạt động nuôi tôm gặp nhiều khókhăn trong vấn đề giá cả và ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo dài; đây lànguyên nhân gây ra sự bùng phát về dịch bệnh, gây thiệt hại cho người sản xuất.Sản lượng thuỷ sản năm 2015 ước tính đạt 6549,7 nghìn tấn, tăng 3,4% so vớinăm trước Diện tích nuôi tôm sú cả năm đạt khoảng 570 nghìn ha, tăng 14,6%
so với năm trước; sản lượng đạt 249,2 nghìn tấn, tăng 3,2% [14]
2.2.3 Tình hình nuôi tôm sú trên địa bàn tỉnh Quảng Trị
Diện tích nuôi trồng thủy sản 9 tháng năm 2015 ước đạt 2856 ha, giảm4% (-120,5 ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó: nuôi tôm 987,4 ha, giảm1% (-9,9 ha) Trong tổng diện tích nuôi tôm, nuôi tôm sú 348,8 ha, giảm12,8% (-51ha)
Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng năm 2015 ước đạt 23455 tấn, tăng 5,3%(+1187 tấn) so với cùng kỳ năm trước; trong đó, sản lượng tôm đạt 3323 tấn,tăng 10,1% (+304 tấn); Cụ thể, sản lượng nuôi trồng ước đạt 5794 tấn, tăng9,1% (+482 tấn); trong đó: sản lượng tôm đạt 3201 tấn, tăng 11,8% (+337 tấn)chủ yếu là tôm thẻ chân trắng
2.2.4 Tình hình nuôi tôm sú tại thành phố Đông Hà
Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố Đông Hà, đặc biệt lànuôi tôm trong 3 năm gần đây (từ năm 2013 đến năm 2015) đã mang lại giá trịkinh tế cao cho người dân một số địa phương trên toàn thành phố Trong 9phường của thành phố Đông Hà có 3 phường đủ điều kiện phát triển kinh tếbằng nuôi tôm nước lợ, đó là các phường: Đông Giang, Đông Lễ, Đông Lương.Tình hình nuôi tôm sú của 3 phường trong 3 năm qua có sự biến động và kết quảthu thập được tổng hợp các bảng dưới đây
Bảng 2.1: Sản lượng nuôi tôm vụ 1 năm 2013 của toàn thành phố
Trang 24Tên phường Diện tích
(ha)
Sản lượng (kg)
Doanh thu (triệu đồng)
(Nguồn: Báo cáo sản lượng nuôi tôm vụ 1 TP Đông Hà, 2013)
Năm 2013, với tổng diện tích nuôi tôm là 54,82 ha, 3 phường đã tiến hànhnuôi tôm vụ 1 với tổng sản lượng 103,69 tấn tôm với doanh thu hơn 17 tỷ đồng.Trong đó, Đông Giang là phường đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với chỉ 18 ha,thu được 44,77 tấn và mang lại doanh thu gần 10 tỷ đồng Trong khi đó, Đông
Lễ và Đông Lương với 23,62 ha và 13,2 ha diện tích, thu được tổng sản lượnggần 59 tấn tôm với tổng doanh thu 7,675 tỷ đồng Tính chung toàn thành phố,doanh thu nuôi tôm sú vụ 1 là 17,586,8 tỷ đồng
Bảng 2.2: Sản lượng tôm vụ 1 toàn thành phố năm 2014
Tên phường Diện tích (ha) Sản lượng
(kg)
Doanh thu (triệu đồng)
Lợi nhuận (triệu đồng) Tôm thẻ Tôm sú
(Nguồn: Báo cáo sản lượng tôm sú vụ 1TP Đông Hà, 2014)
Vụ 1 năm 2014, diện tích nuôi tôm của toàn thành phố có sự tăng nhẹnhưng sản lượng và doanh thu tăng mạnh Tổng doanh thu cho vụ tôm trên toànthành phố là 26,5762 tỷ đồng và tổng lợi nhuận là 14,25342 tỷ đồng Diện tíchnuôi tôm sú tại phường Đông Giang có sự biến động nhẹ (tăng thêm 1,4 ha)nhưng sản lượng và doanh thu lại tăng lên đáng kể Sản lượng tôm sú vụ 1 tạiphường Đông Giang đạt tới 60 tấn với doanh thu gần 14 tỷ đồng và lợi nhuậnhơn 7,5 tỷ đồng Ở 2 phường nuôi tôm còn lại của thành phố Đông Hà cũng là
vụ mùa thắng lợi với sự gia tăng về sản lượng, doanh thu cũng như lợi nhuận.Phường Đông Lễ và Đông Lương đều nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng với tỷ
lệ khác nhau Phường Đông Lễ nuôi khoảng 14 ha tôm thẻ chân trắng và 10 hatôm sú với tổng sản lượng 48,8 tấn, mang về doanh thu 7,5 tỷ đồng và lợi nhuận
4 tỷ đồng Phường Đông Lương với 10,75 ha nuôi tôm sú và 2,45 ha tôm thẻ
Trang 25chân trắng Sản lượng thu được là 29,8 tấn tôm, doanh thu trên 5 tỷ và lợi nhuậnhơn 2,5 tỷ đồng.
Năm 2015 cũng là một năm khá thuận lợi cho hoạt động nuôi tôm sú trênđịa bàn thành phố Kết quả bảng 2.3 minh chứng cho điều đó
Bảng 2.3: Sản lượng nuôi tôm vụ 1 năm 2015 của toàn thành phố
Tên phường Diện tích (ha) Sản lượng
(kg)
Doanh thu (triệu đồng)
Lợi nhuận (triệu đồng)
(Nguồn: Báo cáo sản lượng nuôi tôm vụ 1 TP Đông Hà, 2015)
Nhìn chung nuôi tôm sú vụ 1 năm 2015 của 3 phường không có sự biếnđộng lớn về diện tích, sản lượng và doanh thu so với vụ 1 năm 2014; chỉ có sựkhác biệt về lợi nhuận ở các địa phương Với tổng mức doanh thu toàn thànhphố từ nuôi tôm là 26,654 tỷ đồng nhưng tổng lợi nhuận chỉ chưa đầy 11 tỷđồng Lợi nhuận từ nuôi tôm sú ở các phường thấp hơn so với năm trước trongkhi doanh thu vẫn không thay đổi nhiều, đó là do chi phí cho hoạt động nuôi tôm
sú tăng cao hơn các năm Các khoản chi phí cao hơn tổng lợi nhuận khoảng 1,5lần Vì vậy, trong những năm tới đây, người nuôi tôm cần phải có sự điều chỉnh,cân nhắc mức chi tiêu sao cho phù hợp để giảm chi phí, tăng lợi nhuận [4]
Trang 26PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ chuyển đổi từ đất trồng hoa màusang nuôi tôm sú trên địa bàn phường Đông Giang
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
3.1.2.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng chuyển đổi đất trồng cây hoa màu sang nuôitôm sú tại phường Đông Giang, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
3.1.2.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thu thập các tài liệu về nuôi tôm sú trong khoảng thờigian 3 năm, từ năm 2013 đến năm 2015
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016
3.1.2.3 Phạm vi không gian
Địa điểm nghiên cứu tại phường Đông Giang, thành phố Đông Hà, tỉnhQuảng Trị
3.2 Nội dung nghiên cứu
Đặc điểm cơ bản của phường Đông Giang
- Điều kiện tự nhiên của phường Đông Giang
- Điều kiện kinh tế xã hội của phường Đông Giang
Thực trạng chuyển đổi sử dụng đất từ trồng cây hoa màu sang nuôi tôm
sú trên địa bàn phường Đông Giang
- Thực trạng chuyển đổi từ trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú trên địabàn phường Đông Giang
- Thực trạng chuyển đổi từ trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú tại các hộkhảo sát trên địa bàn phường Đông Giang
Hiệu quả của mô hình nuôi tôm sú tại phường Đông Giang
- Chi phí đầu tư cho hoạt động nuôi tôm sú
- So sánh hiệu quả kinh tế giữa nuôi tôm sú và trồng hoa màu
Trang 27Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú tại phường Đông Giang
- Thuận lợi trong quá trình nuôi tôm sú
- Khó khăn khi thực hiện mô hình nuôi tôm sú
- Giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn
- Đánh giá về mô hình nuôi tôm sú tại phường Đông Giang
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu
3.3.1.1 Chọn điểm nghiên cứu
Nghiên cứu thu thập thông tin từ người dân thuộc 4 khu phố (6,7,8,9) thựchiện mô hình chuyển đổi từ đất trồng hoa màu sang nuôi tôm sú tại phườngĐông Giang Đây là 4 khu phố thuộc khu vực chuyển đổi sang nuôi tôm sú trênđịa bàn phường
3.3.1.2 Chọn mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành chọn ngẫu nhiên 30 hộ nuôi tôm sú thuộc 30 trêntổng số 35 hồ nuôi trong khu vực nghiên cứu Các hộ nuôi tôm hiện tại đều là hộkhá Các hộ được chọn thuộc 4 khu phố thực hiện hoạt động chuyển đổi với tỷ lệsau: khu phố 6 (7 hộ), khu phố 7 (9 hộ), khu phố 8 (9 hộ), khu phố 9 (5 hộ)Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 7 người am hiểu gồm: Chủ tịch UBNDphường Đông Giang, phó Chủ nhiệm HTX DVTHNN Đông Giang 2 phụ trách
về chăn nuôi, chuyên viên Phòng Kinh tế thành phố Đông Hà, 4 khu phố trưởngcủa 4 khu phố thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ trồng hoa màu sangnuôi tôm sú
Hoạt động thảo luận nhóm được tiến hành với 8 người gồm: chủ tịchUBND phường Đông Giang, phó chủ nhiệm HTX DVTHNN Đông Giang 2 phụtrách về chăn nuôi, khu phố trưởng khu phố 7 và 5 người dân am hiểu về hoạtđộng nuôi tôm
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
3.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Nghiên cứu đã tiến hành thu thập thông tin dữ liệu thứ cấp gồm báo cáo kếtquả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội của UBND phường Đông Giang, báo cáokết quả sản xuất dịch vụ nông nghiệp của HTX dịch vụ tổng hợp nông nghiệp
Trang 28Đông Giang 2, báo cáo sản lượng tôm sú vụ 1 toàn thành phố của Phòng Kinh tếthành phố Đông Hà trong 3 năm và một số tài liệu có liên quan đến hoạt độngchuyển đổi mục đích sử dụng đất, hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm sú vàcác yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của nông hộ
3.3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn sâu: Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 7 người am hiểu
để tìm hiểu thực trạng và quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bànphường Đông Giang, hiệu quả kinh tế và xã hội của mô hình nuôi tôm sú đối vớicác hộ nuôi tôm, đánh giá về mô hình chuyển đổi và định hướng chuyển đổi củađịa phương trong thời gian tới
- Phỏng vấn hộ: Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn ngẫu nhiên 30 hộ nuôi
tôm sú bằng bảng hỏi bán cấu trúc để thu thập các thông tin chung về hộ, thựctrạng và quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ trồng hoa màu sang nuôitôm sú, hiệu quả của mô hình nuôi tôm sú so với cây hoa màu trước đó, thuậnlợi và khó khăn trong quá trình thực hiện mô hình nuôi tôm sú và đánh giá của
hộ về mô hình
- Thảo luận nhóm: Nghiên cứu đã tiến hành thảo luận nhóm với 8 người để
lấy ý kiến và thông tin về hiệu quả của mô hình nuôi tôm sú, những thuận lợi,khó khăn trong quá trình thực hiện mô hình nuôi tôm sú, và đề xuất các giảipháp
3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Số liệu định tính được phân tích, đánh giá
- Số liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm Excel và SPSS 20
Trang 29PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm cơ bản của phường Đông Giang
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của phường Đông Giang
Vị trí địa lý
Hình 4.1: Bản đồ phường Đông Giang và khu vực nuôi tôm trên địa bàn phường
(Nguồn: google map, bản đồ phường Đông Giang, Đông Hà, Quảng Trị)
Phường Đông Giang là một phường thuộc thành phố Đông Hà, tỉnh QuảngTrị được thành lập theo Quyết định số: 328/QĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 1991của Chính Phủ và có diện tích tự nhiên 625ha
- Phía Bắc giáp phường Đông Thanh, thành phố Đông Hà và xã Cam An,huyện Cam Lộ
- Phía Đông giáp xã Gio Quang, huyện Gio Linh
- Phía Nam giáp Phường 2, phường Đông Lễ và thành phố Đông Hà
Trang 30- Phía Tây giáp Phường 1, Phường 2, phường Đông Thanh và thành phốĐông Hà.
Vị trí phường Đông Giang có tầm nhìn chiến lược quan trọng về giao lưukinh tế- xã hội và quốc phòng - an ninh với các địa phương khác Với vị trí địa
lý này tạo điều kiện cho phường phát triển mọi mặt về kinh tế, văn hoá, xã hội
và giao lưu kinh tế, văn hoá với các phường trong thành phố Đông Hà, cáchuyện trong tỉnh và các tỉnh lân cận một cách dễ dàng bằng đường bộ, đườngthuỷ Đây là nơi có tiểm năng phát triển thương mại, dịch vụ với thế mạnh pháttriển trồng hoa, cây cảnh và nuôi tôm sú
Địa hình - Khí hậu - Thuỷ văn
- Địa hình
Địa bàn của phường bị chia cắt bởi con sông Hói Sòng (bắt nguồn từ hướngTây chảy theo hướng Tây - Đông), bên cạnh đó có con kênh đào là Hói (bắtnguồn từ phía Đông chảy theo hướng Đông - Nam) hợp thành Sông Hiếu đỗ rangã ba Gia Độ chảy ra Biển Đông qua Cửa Việt Nguồn nước sông Hiếu và Hóiđược sử dụng chủ yếu để nuôi tôm nước lợ, đặc biệt là nuôi tôm sú nước lợ củangười dân nơi đây
Địa hình thuộc vùng đồng bằng phía Bắc dọc theo hạ lưu sông Hiếu Địahình nhìn chung tương đối bằng phẳng và thấp trũng nên về mùa mưa lũ thường
bị ngập lụt trên diện rộng Đây cũng là vấn đề khó khăn trong hoạt động nuôitôm nước lợ nói chung và nuôi tôm sú nói riêng
- Khí hậu
Khu vực chịu ảnh hưởng chung của khí hậu khu vực miền Trung Nhiệt độtrung bình hàng năm đạt 20-250C Nhiệt độ cao nhất chủ yếu vào các tháng từtháng 5 đến tháng 7, đạt 35 đến 400C Nhiệt độ thấp nhất vào khoảng tháng 8đến tháng 1 đạt 180C có khi xuống tới 120C đến 150C Lượng mưa trung bìnhhàng năm khoảng từ 2000 đến 2.800mm và thường tập trung vào tháng 10, 11,
12 và chiếm tới 68% - 70% lượng mưa năm Độ ẩm trung bình hàng nămkhoảng 84.8% Nhiệt độ chênh lệch cao giữa các tháng trong năm, mùa hè nắngnóng; mùa đông lạnh, mưa nhiều cũng là điều kiện bất lợi cho sự sinh trưởng vàphát triển của tôm nuôi Đặc biệt là vấn đề dịch bệnh có nguy cơ xảy ra đối vớiloại hình nuôi này
Gió mùa: Gió trong năm phân thành 2 mùa gió chính Gió mùa Tây Namhoạt động mạnh về mùa hè từ tháng 4 đến tháng 11, tốc độ gió bình quân từ 2,0 –
Trang 312,2m/s Gió mùa này mang độ ẩm và gây mưa cho vùng Gió Tây Bắc hoạt độngmạnh vào các tháng 12 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió bình quân từ 1,7 – 1,9m/s.Cũng như các tỉnh khác ở khu vực miền Trung, Quảng Trị thường xuyênphải chịu những hiện tượng thời tiết đặc biệt Thống kê trong 30 năm gần đây,
số trận bão đổ bộ vào đất liền từ vĩ tuyến 12 trở vào chiếm 24,4% tốc độ gió từcấp 7 đến cấp 12, bão thường đến các tháng 8,9,10, bình quân một năm có 2 – 3cơn bão Hội tụ nhiệt đới là hiện tượng này thường xuất hiện phổ biến từ tháng9,10 đôi khi vào giữa tháng 5 và đầu tháng 6 Thời tiết khô nóng là hiện tượngxuất hiện khá phổ biến ở Quảng Trị nói chung và Đông Hà nói riêng từ tháng 3đến tháng 8, nhiệt độ không khí cao trên 350C, độ ẩm không khí dưới 50% Giólốc: thường xảy ra vào các tháng 4,5,8,9,10 và kèm theo mưa lớn
- Thủy văn
Sông Hiếu bắt nguồn từ Hướng Hoá chảy từ nguồn đổ ra cảng Cửa Việtlàm ranh giới giữa Đông Giang với phường Đông Lễ chạy qua địa bàn 5,3km.Hói Sòng chảy từ ngã tư Sòng ra sông Hiếu chia cắt phường Đông Giang rathành hai khu vực chạy qua phường Đông Giang dài 5km Lạch từ xã GioQuang chảy qua Cầu Bến lội và đổ ra sông Hiếu là ranh giới giữa Đông Giangvới xã Gio Quang chảy qua địa bàn dài 2km Đông Giang có 2 đập chắn mặn ởkhu phố 8
4.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội của phường Đông Giang
Dân số, lao động
Hiện tại phường Đông Giang có 01 dân tộc sống trên địa bàn đó là dân tộc
Kinh gồm 10 khu phố Có 1.170 hộ gần 5.000 nhân khẩu, mật độ dân số: 752
người/km2 Là vùng thấp lụt hàng năm ảnh hưởng từ hai đến ba cơn lũ và bão, lànơi nắng lắm mưa nhiều, nhiệt độ thường xuyên thay đổi đột ngột ảnh hưởngđến đời sống của bà con nhân dân Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng kinhdoanh buôn bán và sản xuất nông nghiệp Ngành nghề sinh sống chủ yếu củangười dân ở các khu phố được phân chia cụ thể như sau:
Trang 32Bảng 4.1: Ngành nghề sinh sống của người dân phường Đông Giang
(Nguồn: Điểm thông tin khoa học và công nghệ phường Đông Giang, 2016)
Khu vực nuôi tôm sú nước lợ được chuyển đổi từ trồng hoa màu thuộcvùng sản xuất của người dân các khu phố: 6,7,8,9
Tình hình sử dụng đất trên địa bàn phường Đông Giang
Các loại đất ở địa phương chủ yếu đất thịt pha cát, đất thịt nhẹ, đất phù sa bồiđắp thích nghi cho việc đầu tư vào sản xuất nông nghiệp như trồng lúa, rau màu.Tổng diện tích đất tự nhiên toàn phường là 625,53 ha, được phân ra ba loạiđất bao gồm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng
Tổng diện tích đất nông nghiệp gồm đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồngthủy sản là 337,5 ha chiếm 54% tổng diện tích đất tự nhiên của toàn phường;trong đó đất nuôi trồng thủy sản là 27,25 ha chiếm 4% tổng diện tích đất Trong27,25 ha đất nuôi trồng thủy sản hiện có 19,4 ha nuôi tôm nước lợ, đặc biệt lànuôi tôm sú và diện tích này có thể được mở rộng trong thời gian tới do nhu cầucủa địa phương về gia tăng hiệu quả kinh tế nhờ vào hoạt động nuôi tôm sú này.Bởi hiện tại, diện tích nuôi tôm sú nước lợ tương đối ít nhưng đem lại giá trịkinh tế khá lớn cho người dân nơi đây cũng như đóng góp rất lớn vào sự pháttriển kinh tế cho toàn phường
Đất phi nông nghiệp với diện tích 252,17 ha chiếm 40% tổng diện tích đất
tự nhiên và đất chưa sử dụng chiếm 6% diện tích đất với 35,86 ha
Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế của phường năm 2015 có cơ cấu phát triển các ngành nhưsau: thương mại dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu các ngành kinh tế, 57-62%; nông nghiệp đứng thứ hai với 25- 26% và tiểu thủ công nghiệp 11- 12%
Trang 33Thương mại dịch vụ là thế mạnh bởi vị trí địa lý của phường thuận lợi choviệc giao lưu hàng hóa bằng cả đường bộ và đường thủy Với lợi thế có Quốc lộ1A đi qua, người dân thuộc khu phố 1 có thể phát triển các loại hình thương mại,dịch vụ khác nhau Về đường thủy, thuận lợi lớn nhất là có con sông Hiếu chảydọc theo địa giới hành chính của phường với chiều dài là 5,3km Đây là điềukiện thuận lợi để địa phương phát triển các dịch vụ ẩm thực với những nhà hàng,quán ăn phục vụ thực khách, đặc biệt là vào mùa hè.
Bên cạnh phát triển kinh tế bằng thương mại, dịch vụ thì nông nghiệp vẫn
là ngành đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của phường, bởi 9/10 khuphố có hoạt động sản xuất nông nghiệp và phần lớn người dân trên địa bànphường sống bằng nghề nông Diện tích đất nông nghiệp chiếm đến 54% tổngdiện tích đất tự nhiên của phường và đây cũng là ngành phát triển kinh tế chủđạo của phần lớn các hộ trên địa bàn phường
Ngoài thương mại- dịch vụ và nông nghiệp thì tiểu thủ công nghiệp cũngchiếm một phần trong cơ cấu kinh tế của phường
Để phù hợp với phát triển kinh tế đô thị, Ban chỉ đạo phường cần có cơchế chuyển đổi hệ thống cây trồng vật nuôi, từng bước chuyển đổi cơ cấucác ngành kinh tế để phù hợp với sự phát triển chung của toàn thành phốcũng như toàn tỉnh
4.2 Thực trạng chuyển đổi sử dụng đất từ trồng cây hoa màu sang nuôi tôm sú trên địa bàn phường Đông Giang
4.2.1 Thực trạng chuyển đổi từ trồng hoa màu sang nuôi tôm sú trên địa bàn phường Đông Giang
4.2.1.1 Quá trình chuyển đổi đất trồng hoa màu sang nuôi tôm sú
Quá trình chuyển đổi từ đất trồng hoa màu sang nuôi tôm sú bắt đầu từ năm
2003 và chuyển đổi lần 2 năm 2007, tiến hành tăng diện tích nuôi tôm năm
2015 Dưới đây là bảng mô tả quá trình chuyển đổi đất trồng hoa màu sang nuôitôm sú trên địa bàn phường Đông Giang
Trang 34Bảng 4.2: Tiến trình chuyển đổi đất trồng hoa màu sang nuôi tôm sú trên địa
bàn phường Đông Giang
(Nguồn: Phỏng vấn người am hiểu, 2016)
Kết quả bảng 4.2 cho ta thấy xu hướng gia tăng về số lượng và diện tíchcác hồ nuôi tôm, hồ xử lý và số hộ nuôi Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụngđất bắt đầu từ năm 2003 cho đến hiện tại, trải qua 2 lần chuyển đổi năm 2003,
2007 và 1 lần mở rộng diện tích nuôi tôm năm 2015 Từ đất trồng hoa màu kémhiệu quả, sản xuất manh mún, thu nhập thấp, chính quyền phường Đông Giangcùng với Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp nông nghiệp Đông Giang 2 tiến hànhchuyển đổi từ đất hoa màu sang nuôi tôm sú
Trong quá trình đó, chính quyền địa phương đã vận động các hộ chuyển đổiđất và liên kết với nhau, thành lập tổ hợp tác nuôi tôm ban đầu với 10 hồ nuôigồm 33 hộ tiến hành hoạt động chuyển đổi trên 6,5 ha đất Để làm mô hình trìnhdiễn cũng như khuyến khích bà con chuyển đổi, HTX phối hợp với chính quyềncấp trên lên quy hoạch, hợp đồng doanh nghiệp đào hồ, kết hợp với hỗ trợ củaNhà nước Diện tích nuôi tôm đó được duy trì trong thời gian bốn năm
Đến năm 2007, do nhu cầu chuyển đổi của các hộ để phát triển kinh tế,diện tích nuôi tôm đã tăng lên với tổng diện tích là 15 ha và thêm 21 hồ nuôitôm mới và 5 hồ nuôi được chuyển đổi thành hồ xử lý nước với tổng diện tích3,56ha Diện tích hồ xử lý vẫn giữ nguyên đến hiện nay Hồ xử lý nước là hồcủa các hộ không nuôi tôm chuyển qua làm hồ xử lý cho những hộ nuôi Hồ xử
lý lấy nguồn nước ngọt từ sông vào, qua quá trình xử lý bằng các chế phẩm sinhhọc, men vi sinh cần thiết cho đến khi đạt được mức an toàn trong chất lượngnước thì sẽ được đưa vào hồ nuôi Nước ngọt sau khi được xử lý phải đưa vào
hồ nuôi với lượng vừa phải, tránh gây sốc cho tôm và dần thuần hóa tôm nuôitrong môi trường nước ngọt Trong đợt chuyển đổi này, chi phí đào hồ do các hộnông dân có nhu cầu chuyển đổi chịu trách nhiệm
Trang 35Năm 2015, diện tích nuôi tôm đã tăng lên là 19,4 ha với tổng cộng 35 hồnuôi tôm và 5 hồ xử lý nước Diện tích tăng lên chủ yếu là do các hộ đủ nguồnlực về tài chính và lao động muốn mở rộng thêm diện tích nuôi tôm, tăng hiệuquả kinh tế cho gia đình Các hộ có nhu cầu mở rộng diện tích phải được sựđồng ý của chính quyền địa phương mới có thể tiến hành mở rộng diện tíchnuôi Mọi chi phí để mở rộng mô hình đều do người do người nuôi tôm bỏ ra.
Số hộ tham gia chuyển đổi cũng không ngừng tăng lên, từ 33 hộ năm 2003đến hiện nay số hộ nuôi tôm lên đến 51 hộ Trước đó có 150 hộ sản xuất hoamàu manh mún hiện nay đã chuyển qua 51 hộ nuôi tôm Các hộ còn lại có thểcho thuê đất hoặc đổi sang đất trồng trọt để sản xuất
4.2.1.2 Tổng giá trị sản xuất của toàn phường từ hoạt động nuôi tôm sú
Chỉ tiêu về tổng giá trị sản xuất (GO) được phản ánh thông qua các chỉ tiêu
về sản lượng, năng suất, giá trị GO, GO/ha Các chỉ tiêu đó trong 3 năm gầnđây được thể hiện thông qua bảng số liệu sau đây:
Bảng 4.3: Các chỉ tiêu về doanh thu của các hộ trên địa bàn nghiên cứu trong 3
(Nguồn: Báo cáo kết quả sản xuất dịch vụ nông nghiệp của HTX Đông Giang 2, 2016)
Nhìn chung, các chỉ tiêu trong tổng giá trị sản xuất (GO) của khu vực có xuhướng tăng lên theo thời gian, đặc biệt là năng suất và sản lượng tôm nuôi trong
2 năm gần đây.Sản lượng tôm nuôi có sự gia tăng lớn năm 2014 và 2015, đạtmức trên 60 tấn Năng suất cũng có xu hướng tăng theo: năm 2013 năng suất chỉ2,3 tấn/ha nhưng năm 2015, năng suất là 3,2 tấn/ha Tổng giá trị sản xuất 3 nămgần đây liên tục tăng do có sự gia tăng về sản lượng Đặc biệt năm 2014 và
2015, tổng giá trị sản xuất lên đến trên 13 tỷ đồng Giá trị sản xuất/ha (GO/ha)của toàn vùng trong 3 năm gần đây trong khoảng từ 550 đến 762 triệu đồng/ha
4.2.1.3 Giá trị gia tăng của toàn phường
Giá trị gia tăng hay lợi nhuận của toàn vùng nuôi tôm trên địa bàn phườngđược thể hiện thông qua bảng dưới đây
Trang 36Bảng 4.4: Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của toàn phường trong 3 năm gần đây
Năm Chỉ tiêu
2013
Năm 2014
Năm 2015
Tổng giá trị sản xuất (GO) Triệu đồng 9.911,80 13.716,20 13.087,00Chi phí trung gian (IC) Triệu đồng 5.239,80 6.142,78 7.545,00Giá trị gia tăng (VA) Triệu đồng 4.672,00 7.573,42 5.542,00
(Nguồn: Báo cáo tổng kết tổng kết nhiệm kỳ 2011- 2015 của HTX Đông Giang 2, 2016)
Nhìn chung trong 3 năm qua, hoạt động nuôi tôm ở phường Đông Giang đềumang lại lợi nhuận cho bà con nuôi tôm Lợi nhuận toàn vùng nuôi đạt từ 4,672 tỷđồng (năm 2013) đến 7,573 tỷ đồng (năm 2014) và 5,542 tỷ đồng (năm 2015).Giá trị sản xuất tính cho một đơn vị chi phí trung gian (GO/IC) trong 3 nămgần đây đều đạt giá trị lớn hơn 1 Điều này chứng tỏ rằng doanh thu của toànvùng lớn hơn chi phí bỏ ra, hay mô hình có lãi Đặc biệt là năm 2014, tỷ số nàyđạt 2,23 tức là neus bỏ ra một đồng chi phí sản xuất sẽ thu lại 2,23 đồng giá trịsản phẩm
Giá trị gia tăng tính cho một đơn vị chi phí trung gian (VA/IC) đều đạt giátrị dương trong 3 năm qua, chứng tỏ rằng mô hình mang lại lợi nhuận trongnhững năm đó Lợi nhuận đạt cao nhất năm 2014 khi tỷ lệ này có giá trị là 1,23.Điều đó cho biết là nếu bỏ ra một đồng chi phí thì sẽ thu lại 1,23 đồng lợi nhuận
Vì vậy, đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hìnhGiá trị gia tăng bình quân (VA/ha) trong 3 năm qua lần lượt đạt 260 triệuđồng/ha, 420 triệu đồng/ha và 286 triệu đồng/ha Lợi nhuận năm 2015 thấp hơnnăm 2014 là vì sự chênh lệch về chi phí giữa 2 năm Vì vậy, cần tối thiểu hóacác khoản chi phí nhằm đạt được lợi nhuận tối đa