3 Xác định được ảnhhưởng của chế độ che bóng, giá thể và nồng độ mặn đến sinh trưởng cây conBần chua và để thực hiện được mục tiêu đó đề tài tiến hành các nội dung 1 Thínghiệm ảnh hưởng
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1
PHẦN 2.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Các nghiên cứu về cây Bần chua trên thế giới 3
2.1.1 Danh pháp và phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Nghiên cứu cây Bần chua trên thế giới 6
2.2 Các nghiên cứu về cây Bần chua ở Việt Nam 7
2.2.1 Thông tin chung về cây Bần chua ở Việt Nam 7
2.2.2 Phân bố 10
2.2.3 Đặc điểm sinh thái 11
2.2.4 Thành phần hóa học 13
2.2.5 Giá trị của cây Bần chua 14
2.2.6 Các mối đe dọa đến cây Bần chua hiện tại 17
2.3 Một số nghiên cứu liên quan đến nhân giống và gây trồng cây ngập mặn ở Việt Nam 18 PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Mục tiêu 20
3.1.1 Mục tiêu chung 20
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 20
3.2 Nội dung nghiên cứu 20
3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nảy chồi của hom bần chua 20
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm chất bảo vệ thực vật đến số lượng cây sống hậu nảy mầm của cây Bần chua 20
3.2.4 Ngiên cứu ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sinh trưởng cây con 20
3.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ mặn đến sinh trưởng của cây con 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 21
Trang 23.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 21
3.3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nảy chồi của hom bần chua 21
3.3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm chất bảo vệ thực vật đến số lượng cây sống giai đoạn hậu nảy mầm 23
3.3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng giá thể, chế độ che bóng, nồng độ mặn đến sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm 24
3.3.3 Phương pháp theo dõi tăng trưởng chiều cao thân cây 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Quảng Điền 28
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
4.1.1.1 Vị trí địa lí 28
4.1.1.2 Khí hậu thời tiết 29
4.1.1.3 Địa hình đất đai, thổ nhưỡng 29
4.1.2 Đặc điểm kinh tế- xã hội 31
4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế 31
4.1.2.2 Về tình hình xã hội 32
4.2.1 Ảnh hưởng của loại chất kích thích sinh trưởng đến sự nảy chồi theo thời gian 35
4.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ của các loại chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nảy chồi của hom Bần chua 35
4.3 Kết quả nghiên cứu nhân giống từ hạt 38
4.4.1 Ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng cây con 40
4.4.2 Ảnh hưởng của độ che bóng đến sinh trưởng cây Bần chua 41
4.4.3 Ảnh hưởng của loại nồng độ mặn đến sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm 42
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Diện tích rừng ngập mặn trên thế giới 4
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm giấm hom 22
Bảng 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm nảy mầm cây con 23
Bảng 3.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm về giá thể 24
Bảng 3.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm về chế độ che bóng 25
Bảng 3.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của các loại nồng độ mặn 25
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của nồng độ các loại chất kích thích khác nhau đến tỷ lệ nảy chồi hom cây Bần chua.(đvt %) 37
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của nhóm chất bảo vệ thực vật đến số lượng sống cây con bần chua giai đoạn hậu nảy mầm.(đvt:cây) 39
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của giá thể đến chiều cao (cm) của cây 40
Bảng 4.5 Ảnh hưởng độ che bóng đến chiều cao (cm) của cây 41
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của nồng độ mặn đến chiều cao (cm) của cây 43
Trang 4DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Một số vùng phân bố của bần chua trên thế giới.[15] 6
Hình 2.2 Thân cây Bần chua 7
Hình 2.3 Lá cây Bần Chua 8
Hình 2.4 Hoa, quả cây Bần chua 9
Hình 2.5 Rễ cây Bần chua 9
Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Quảng Điền 28
Hình 4.2 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ % nảy chồi theo thời gian giâm hom Bần chua 35
Hình 4.3 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ % nảy chồi theo nồng độ các chất kích thích sinh trưởng 36
Hình 4.4 Biểu đồ mô tả số lượng cây sống theo thời gian với các nhóm chất bảo vệ thực vật tác động khác nhau 39
Trang 5UNEP Chương trình môi trường thế giới
UICN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới
Trang 6TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Cây Bần chua (Sonneratia caseolaris(L.) Engl.)[9] là một loài cây trồng có
khả năng thích nghi với môi trường sống rất cao với các vùng ven biển, cửasông, ven phá và là loài cây được chọn là loài cây trồng chính nhằm khôi phụcRNM[3] Bần được xem như loài cây rất quan trọng cho việc phòng hộ chốngxói lỡ ở vùng bãi biển cửa sông do có nhiều đặc điểm sinh thái ưu việt Trongnhững năm gần đây nhu cầu giống cây Bần chua rất lớn tuy nhiên do kỹ thuậtgieo ươm cây Bần chua còn hạn chế dẫn đến một số vùng không đáp ứng đủ nhu
cầu về giống Do vậy trong bài khóa luận tốt nghiệp này tôi muốn “Nghiên cứu
kỹ thuật giâm hom và chăm sóc cây Bần chua (Sonneratia caseolaris(L.) Engl.) giai đoạn vườn ươm ở vùng cát huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” Thực hiện đề tài này nhằm mục tiêu (1) Xác định được ảnh hưởng của
nồng độ các loại chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nảy chồi của hom Bầnchua (2) Xác định được nhóm nhân tố bảo vệ thực vật ảnh hưởng đến số lượngcây sống của cây con Bần chua ở giai đoạn vườn ươm (3) Xác định được ảnhhưởng của chế độ che bóng, giá thể và nồng độ mặn đến sinh trưởng cây conBần chua và để thực hiện được mục tiêu đó đề tài tiến hành các nội dung (1) Thínghiệm ảnh hưởng của loại chất kích thích sinh trưởng IAA, IBA và NAA vànồng độ hóa chất đến tỷ lệ nảy chồi của hom giâm Bần chua (2) Thí nghiệm ảnhhưởng của nhóm chất bảo vệ thực vật đến số lượng cây sống cây con Bần chuagiai đoạn hậu nảy mầm (3) (4) (5) Thí nghiệm ảnh hưởng của giá thể, chế độ che
bóng, nồng độ mặn đến sinh trưởng của cây con Thông qua các phương pháp
chuyên ngành để thực hiện được các nội dung trên là (1) Phương pháp thu thập
số liệu thứ cấp (2) Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (3) Phương pháp theodõi tăng trưởng chiều cao thân cây
Qua 90 ngày thí nghiệm đề tài đã thu được một số kết quả sau: (1) Các chấtkích thích sinh trưởng có ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy chồi của hom giâm Bần chua,nên sử dụng chất kích thích sinh trưởng IAA vào việc xử lý giâm hom Bần chua
để cho tỷ lệ nảy chồi tốt nhất Nồng độ các chất kích thích sinh trưởng cũng ảnhhưởng đến tỷ lệ nảy chồi của hom giâm Bần chua, đề tài chọn ra được nồng độchất kích thích sinh trưởng cho tỷ lệ nảy chồi tốt nhất là 500ppm và 1500ppm.(2) Các nhóm chất bảo vệ thực vật có ảnh hưởng đến số lượng sống của cây conBần chua Qua kết quả nghiên cứu đề tài chọn ra nước muối 350/00 cho số lượngcây con nhiều nhất (3) Các công thức giá thể có ảnh hưởng đến sinh trưởng vềchiều cao cây Bần chua ở giai đoạn vườn ươm Qua kết quả thực hiện nghiêncứu, đề tài chọn ra được công thức giá thể thích hợp nhất cho cây Bần chua con
Trang 7đó là 100% đất cát (4) Các công thức che bóng có ảnh hưởng đến sinh trưởng
về chiều cao cây Bần chua ở giai đoạn vườn ươm Qua kết quả thực hiện nghiêncứu, đề tài chọn ra được công thức che bóng thích hợp nhất cho cây Bần chuacon đó là che bằn lưới lan (5) Các công thức nồng độ mặn ảnh hưởng đến sinhtrưởng về chiều cao cây Bần chua ở giai đoạn vườn ươm Qua kết quả thực hiệnnghiên cứu, đề tài chọn ra được công thức nồng độ mặn thích hợp nhất cho câyBần chua con đó là nồng độ 250/00
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái quan trọng có năng suất cao ởvùng cửa sông ven biển nhiệt đới nhưng rất nhạy cảm với những tác động củacon người và thiên nhiên[3] RNM là những quần hợp thực vật đặc trưng ởnhững vùng ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới có các đảo che chắn phía ngoài.Trong những điều kiện môi trường thuận lợi chúng có khả năng tái sinh tự nhiênmạnh nhờ khả năng phát tán và cố định nhanh của trụ mầm trên mặt bùn.[2]RNM ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú về thành phần loài với nhiềuloài cây khác nhau và được chia thành 2 nhóm là nhóm thực vật ngập mặn ‘thựcthụ’ và nhóm thực vật ‘tham gia’ Theo Phan Nguyên Hồng (1993) [3] thì hệsinh thái RNM của nước ta có 77 loài cây trong đó 35 loài thuộc nhóm thực vậtngập mặn ‘thực thụ’ và 44 loài thuộc nhóm thực vật ‘tham gia’ Hệ thống RNMViệt Nam phân bố dọc theo bờ biển từ bắc đến nam Theo số liệu thống kê của
Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, năm 1943 diện tích RNM Việt Nam trên400.000 ha, đến năm 1996 giảm còn 290.000 ha, năm 2006 là 279.000 ha [7][8].Mặc dù trong thời gian qua công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng ngập mặnđược chú trọng nhưng diện tích rừng vẫn sụt giảm nghiêm trọng và hiện nay cònkhoảng 155.290 ha, giảm 100.000 ha so với trước năm 1990[7][8] Nguyên nhândẫn đến những hậu quả trên là do sự tan phá của chiến tranh, do sự khai thácRNM quá mức, do sự gia tăng dân số quá nhanh, sự biến đổi của khí hậu trêntoàn cầu, việc xây dựng các công trình như cảng biển, các khu du lịch sinh tháiven biển, đặc biệt việc xây dựng các ao nuôi tôm đã làm suy giảm RNM mộtcách nhanh chóng [3]
Cây Bần chua (Sonneratia caseolaris(L.) Engl.)[9] là một loài cây trồng có khả
năng thích nghi với môi trường sống rất cao với các vùng ven biển, cửa sông,ven phá và là loài cây được chọn là loài cây trồng chính nhằm khôi phụcRNM[3] Bần được xem như loài cây rất quan trọng cho việc phòng hộ chốngxói lỡ ở vùng bãi biển cửa sông do có nhiều đặc điểm sinh thái ưu việt Ngoài ra,cây bần chua còn được biết đến với một số công dụng khác Cây bần được sửdụng làm dược liệu: Theo Đông y, quả bần có vị chua của phó mát, tính mát, cótác dụng tiêu viêm, giảm đau Lá có vị chát, có tác dụng cầm máu cũng được sửdụng làm thuốc đắp vào chỗ viêm tấy vì bong gân [9] Ở Mã Lai, dùng bần chín
để trị những ký sinh trùng trong ruột, giun, sán Ăn bần chín để trị ho và dùng lábần non nghiền nát để trị các bệnh thiếu máu giảm tiểu cầu (hesmaturie) và bệnhđậu mùa variole (Perry, 1980) Rễ thở (bất) dùng làm nút chai Gỗ bở chỉ dùng
Trang 9đóng đồ nhỏ, làm củi đun, làm bột giấy, bột giấy chế biến từ gỗ Bần thích hợptrong việc chế biến loại giấy kraft Cành đã rụng lá dùng làm chất chà nhử cá vàlàm củi đun Bần còn được biết đến như là một món ăn Các bộ phận của câybần được dùng làm rau Lá non và búp hoa cây Bần được dùng làm rau sống.Quả Bần non (bần chát) và quả Bần già (bần chua) được dùng làm rau.
Trong những năm gần đây nhu cầu giống cây Bần chua rất lớn tuy nhiên do
kỹ thuật gieo ươm cây Bần chua còn hạn chế dẫn đến một số vùng không đápứng đủ nhu cầu về giống Các tác giả Phan Nguyên Hồng (1970), Nguyễn KhoaLân (1980), Trần Văn Ba (1980) đã nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu các cơquan, bộ phận của cây Bần chua Trong các công trình nghiên cứu về cây ngậpmặn có liên quan như Phan Nguyên Hồng (1970), Nguyễn Khoa Lân (1980),Viện Điều tra Quy hoạch rừng (1980), các tác giả nhận định rằng Bần chua làloài có phạm vi phân bố rộng ở cả 3 miền nước ta Các nghiên cứu này đã giúpcác nhà kỹ thuật có thể khái quát được vùng khí hậu, đất đai có thể gây trồngBần chua một cách có kết quả Có thể thấy rằng chưa có nhiều các tài liệunghiên cứu về nhân giống và gây trồng cây Bần chua vì vậy cần có các nghiêncứu về các phương pháp nhân giống, và gây trồng phù hợp nhằm phát triển loàicây ngặp mặn này một cách bền vững trong tương lai Do vậy trong bài khóa
luận tốt nghiệp này tôi muốn “Nghiên cứu kỹ thuật giâm hom và chăm sóc cây Bần Chua (Sonneratia caseolaris(L.) Engl.) giai đoạn vườn ươm ở vùng cát huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm góp phần hoàn thiện kỹ thuật
gieo ươm cây Bần chua hiệu quả và cung cấp nguồn giống phục vụ gây trồngthử nghiệm tại khu vực ven biển Thừa Thiên Huế
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Các nghiên cứu về cây Bần chua trên thế giới
2.1.1 Danh pháp và phân loại
Chi Bần (danh pháp khoa học: Sonneratia) là một Chi của thực vật có hoa trong họ Bằng lăng (Lythraceae) Trước đây Sonneratia được đặt trong họ Bần (Sonneratiaceae), bao gồm cả Sonneratia và chi Phay (Duabanga), nhưng
hiện nay hai chi này được đặt trong các phân họ chứa chính chúng của họ Bằng
lăng (Lythraceae) Tên khoa học của chi này còn là Blatti do James Edward
Smith đặt, nhưng Sonneratia có độ ưu tiên cao hơn Chúng là các loài cây thân
gỗ sinh sống trong các cánh rừng tràm đước ven biển
Chi Sonneratia chứa khoảng 14-16 loài, trong đó loài quan trọng là cây Bần chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.) và cây Bần ổi (Sonneratia alba).
[11]
Tên khoa học: Sonneratia caseolaris (L.) Engl
Tên tiếng Anh: Apple Mangrove, Crabapple Mangrove
acida L.F, Rhizophora caseolaris L.
Phân loại khoa học:
Trang 11lập, giữ vai trò ổn định môi trường nhờ hệ thống rễ trải rộng liên kết để giữ bùnđược liên tục bồi đắp[8] Đối với nghiên cứu Phan Nguyên Hồng, (1987) RNMphân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và nhiệt đới hai bán cầu.
Theo ông Achim Steier (1987) cho biết hiện nay có khoảng 150.000km2RNM được tìm thấy tại 123 nước trên thế giới Khu vực tập trung RNM lớn nhấtthế giới là Indonesia chiếm 21%, Brazil có 9% và Úc là 7% Tuy nhiên theo mộtnghiên cứu của Hutechings và Seager (1987) cho rằng diện tích rừng ngập mặntrên thế giới là 15,429.000 ha, trong đó 6,246.000 ha nằm ở Châu Á nhiệt đới vàChâu Đại Dương, 5,781.000 ha nằm ở vùng Châu Mỹ nhiệt đới cá 3,402.000 hathuộc Châu Phi
Trên phạm vi toàn cầu, Wash (1974) cho rằng sự phân bố của địa lý củaRNM chia làm hai khu vực chính là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương baogồm Nhật Bản, Philipin, Ấn Độ, Đông Nam Á, bờ biển Hồng Hải, Đông Phi vàkhu vực 2 là Tây Phi và Châu Mỹ bao gồm bờ biển Châu Phi ở Đại Tây Dương
Dựa vào việc tính toán trên bản đồ và công nghệ viễn thám ( Spalding vàcộng sự, (1997) lại thống kê thấy diện tích vùng ngập mặn trên thế giới là181.077 km2 và được phân bố theo bảng 2.1
Cây Bần là loài cây rừng ngập mặn nhiệt đới, có nguyên sản ở vùng Nam Á vàĐông Nam Á, được phát tán rộng khắp Châu Á , Châu Phi và Châu Đại dương
Cụ thể chúng có nguồn gốc từ Bangladesh, Sri Lanka, Nam Á Châu, Phi luậtTân và Úc Châu Tại Ấn độ những rừng ngập nước chạy dọc theo bờ biển củabán đảo Ấn độ và trong đảo Andaman và Nicobar Ở Tích Lan, được gặp trongvùng Tây Nam
Bảng 2.1 Diện tích rừng ngập mặn trên thế giới
Trang 12Hiện nay các nước có nhiều cây bần mọc hoang và được trồng như: Châu
Campuchia, Philippin, Indonesia, Timor , Đảo Hải Nam (Trung Quôc), ĐôngBắc Australia và một số nước ở Châu Đại dương như Niughnia, New Guinea,Solomon Islands, New Hebrides…(Little, 1983).[15]
Hình 2.1 Một số vùng phân bố của bần chua trên thế giới.[15]
2.1.3 Nghiên cứu cây Bần chua trên thế giới.
Một số công trình nghiên cứu bần chua trên thế giới liên quan đến nộidung, phương pháp nghiên cứu của đề tài,đặc biệt là một số công trình nghiêncứu về hình thái,sinh thái và phân loài trong chi bần của các tác giả: F.Toble vàcộng sự (1923),D.K.S.Grant(1938),J.H.Karacmer (1951), G.E.Walsh (1967),P.B.Tomlison (1986) S.Aksomkoae và cộng sự (1992)
Khi nghiên cứu về sự phân bố của các quần xã thực vật nước lợ và hệ thựcvật J.E.Teijsimann và cộng sự(1957), F.M.Blanco (1877-1888), C.A.Backer vàcộng sự(1920),N.Abe(1937), I.R.Dall (1939), A.H.Khan và cộng sự (1956),L.Emberger (1960), J.S.Beard (1967), C.G.G.J.N.Van Steenis (1968),
M.R.Arena và cộng sự (1973), J.Dramsfield (1978) đã trình bày một số đặcđiểm sinh thái của cây bần chua
M.Gurke và cộng sự (1897), E.J.Baillaud và cộng sự (1904), D.A.Kribs(1950), A.L.Howard (1951), V.L.Chapman (1975) nghiên cứu cấu trúc giải phẫumột số cơ quan cây bần chua cho thấy khả năng thích nghi của cây sống trongmôi trường bãi lầy chịu ảnh hưởng nước triều lợ định kỳ
Trang 13N.A.Siddiqi (1990,1993) nghiên cứu cách làm vườn ươm cây chi bần(
Sonneratia ) cho biết một số thông tin về kỹ thuật và kết quả gieo ươm loài Sonneratia alata ở Bangladesh.
Qua những tài liệu mà tôi thu thập được thì trên thế giới chưa có nơi nàonghiên cứu kỹ thuật giâm hom cành, cách chăm sóc và các nhân tố ảnh hưởng
cây bần chua (Sonneratia caseolaris) ở giai đoạn vườn ươm.
2.2 Các nghiên cứu về cây Bần chua ở Việt Nam
2.2.1 Thông tin chung về cây Bần chua ở Việt Nam
Tên khoa học: Sonneratia caseolaris (L.) Engl
Tên gọi khác: Bần sẻ, Bần dĩa (Nam Bộ), Thủy liễu.
- Hình thái thân cây
Thân Bần chua thuộc loài thân gỗ đại mộc, có nhiều cành Cây gỗ cao 15m, có khi cao tới 25m Cành non màu đỏ, 4 cạnh, có đốt phình to Gỗ xốp,
10-bở, vỏ thân chứa nhiều tanin
Hình 2.2 Thân cây Bần chua
- Hình thái lá, hoa, quả, hạt
Lá Bần thuộc loại lá đơn, mọc đối, dày, giòn, hơi mọng nước Lá lúc nonhẹp, dài thích nghi với môi trường nước chảy, những lá ở phần không ngập nước
có phần bầu dục trái xoan ngược hay trái xoan thuôn, thon hẹp thành cuống ởgóc, cụt hay tròn ở chóp, dai, dài 5-10 cm, rộng 35- 45mm Cuống và một phần
Trang 14gân chính màu đỏ, gân giữa nỗi rỏ cả hai mặt, cuống dài 0,5-1,5 cm, dày, dòn.
Lá mang đặc tính hướng quang ngang, luôn luôn vận động sao cho mặt phẳngcủa lá vuông góc với mặt trời để nhận được nhiều năng lượng ánh sáng Lá bầnchua rụng vào mùa đông
Hình 2.3 Lá cây Bần Chua
Hoa Bần thuộc loại hoa lưỡng tính, đối xứng tỏa tròn, 6 cánh đài hợp lại ởgốc, thuộc loại đài đồng trưởng, 6 cánh hoa màu trắng đục, thuôn dần ở phầngốc và đỉnh
Số lượng nhị nhiều, nhị dính với ống của đài hoa, chỉ nhị có màu trắng ởphần trên và đỏ ở phần dưới, lúc ở trong nụ thì cuộn lại, chỉ nhị dài hình chỉ,mang bao phấn hình thận Bầu trên hình cầu dẹt, bầu có khoảng 20 lá noãn, vòinhụy dài, đầu nhụy hơi tròn Đài hợp ở gốc, có 6 thùy dày và dai, mặt ngoài màulục, mặt trong màu tím hồng Cánh tràng 6, màu trắng đục, hình dải, thuôn vềhai đầu Nhị có chỉ hình sợi, bao phấn hình thận Bầu hình cầu dẹt, vòi dài, đầuhơi tròn
Quả Bần thuộc loại quả mọng hơi nạc, khi còn non cứng, dòn, khi chínquả mọng, thịt quả mềm, ruột chứa nhiều hạt Quả có đường kính 5-10 cm, cao2-3 cm, gốc có thùy đài xòe ra, bẹp, màu xanh, quả bì dày, nạc vị chua chua vớiphần dưới như hình ngôi sao
Trang 15Hình 2.4 Hoa, quả cây Bần chua
Hạt nhiều dẹt, khi chín quả rụng trôi nổi theo nước thủy triều, hạt sống lâu
và phát triển mạnh trên các bãi bồi Muốn trồng cây Bần không phải gieo hạt,chỉ cần nhổ những cây bần con mọc sẵn trong tự nhiên rất nhiều để trồng
- Mùa ra hoa quả: Cây bần chua ra hoa hầu như quanh năm Quả thường
chín vào tháng 10 đến tháng 12
Trang 162.2.2 Phân bố
Ở Việt Nam cây Bần mọc hoang và được trồng ở rừng ngập mặn ven biển
từ Bắc vào Nam nơi có nhiều bùn và bãi bồi Ở Miền Bắc cây Bần mọc thànhrừng gần như thuần loại ven bờ biển và vùng cửa sông như ở Hải Phòng, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Ở Miền Nam cây Bần là thành phần chính yếu củacác rừng ngập mặn tự nhiên ven biển và chúng mọc dày đặc ven sông rạch ởĐBSCL
Là một loài cây ngập mặn vì vậy sự phân bố của cây Bần chua gắn liền với
sự phân bố của cây ngập mặn Hệ sinh thái RNM phân bố dọc bờ biển Việt Namthuộc 28 tỉnh và thành phố Phan Nguyên Hồng (1999) đã chia vùng phân bốRNM Việt Nam thành 4 khu vực với 12 tiểu khu và xác định điều kiện sinh tháicho từng tiểu khu:
(1) Khu vực I: Ven biển Đông Bắc Quần thể cây ngập mặn ở đây tương đối
đa dạng và có khả năng chịu mặn cao với các loài như Đâng, Trang, Mắm,Vẹt…vv Là một loài cây với biên độ muối hẹp nên ở khu vực I nhìn chung câyBần Chua chỉ phân bố rải rác và không phải là loài cây chiếm ưu thế ở vùng này.Khu vực này được chia làm 3 tiểu khu
- Tiểu khu 1: Từ Móng Cái đến Cửa Ông, bờ biển dài khoảng 55km Tiểukhu này gồm lưu vực cửa sông Kalong, lưu vực vịnh Tiên Yên – Hà Cối vàvùng ven bờ cửa sông Tiên Yên – Ba Chẽ
- Tiểu khu 2: Từ Cửa Ông đến Cửa Lục, bờ biển dài khoảng 44km
- Tiểu khu 3: Từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn, Bờ biển dài khoảng 55km
(2) Khu vực II: Ven biển đồng bằng Bắc Bộ.
Khu vực này được chia làm 2 tiểu khu
- Tiểu khu 1: Từ mũi Đồ Sơn đến cửa sông Văn Úc Ở tiểu khu này quầnthể Bần chua chiếm ưu thế hỗn giao với Sú, Ô rô ở tầng dưới Cây chỉ cao 5-10m
- Tiểu khu 2: Từ cửa sông Văn Úc đến Lạch Trường thuộc khu bồi tụ của
hệ sông Hồng Ở tiểu khu này quần thể Bần chua được hình thành trên các cửasông Trên các lạch là quần thể sú và Ô rô vv Các quần thể này ở dạng cây bụi
và thấp cằn cỗi
(3) Khu vực III: Ven biển trung bộ từ mũi Lạch Tường đến mũi Vũng Tàu.
Khu vực này được chia làm 3 tiểu khu
Trang 17- Tiểu khu 1: Từ Lạch Trường đến mũi Ròn Ở đây quần thể cây Bần chuachiếm ưu thế xuất hiện ở trong cửa sông, dọc theo sông, chiều cao trung bình 6-8m Tầng dưới là Ô rô, sú, Ráng, Giá…phía nam tỉnh Hà Tĩnh, ở phía trong cửasông xuất hiện quần thể Mắm, Đâng, Sú, Vẹt dù và quần thể Bần chua chiếm ưu thế.
- Tiểu khu 2: Từ Ròn đến mũi đèo Hải Vân
- Tiểu khu 3: Từ đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tàu
(4) Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ Khu vực này được chia làm 4 tiểu khu.
- Tiểu khu 1: Từ mũi Vũng Tàu đến cửa sông Soài Rạp (ven biển ĐôngNam Bộ)
- Tiểu khu 2: Từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh (ven đồngBằng sông Cửu Long)
- Tiểu khu 3: Từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp (ven biển TâyNam bán đảo Cà Mau)
- Tiểu khu 4: Từ cửa sông Bảy Háp (mũi Bà Quan) đến mũi Nãi, Hà Tiên(ven biển phía Tây bán đảo Cà Mau) [7]
2.2.3 Đặc điểm sinh thái
Là một loại cây rừng ngập mặn nên cây Bần chua có những đặc điểmthích nghi với hệ sinh thái đặc trưng của rừng ngập mặn Theo nghiên cứu củaông Phan Nguyên Hồng (1991) thì cây rừng ngập mặn ở Việt Nam được chialàm hai loại Loại có biên độ muối rộng và loại có biên độ muối hẹp
Loại có biên độ muối rộng gồm:
- Nhóm chịu mặn cao (10-35 ‰) gồm một số loài mắm, đâng, đưng,dà
Loại có biên độ muối hẹp gồm:
- Nhóm cây mọng nước, chịu độ mặn cao (20-33‰) có bần trắng, bần ổi
- Nhóm cây thảo mọng nước chịu mặn cao (25-30‰) có muống biển, sam
biển, hến hải nam
- Nhóm cây nước lợ điển hình (có độ mặn 5-15‰ hoặc thấp hơn)gồm dừa
nước, bần chua, mái dầm…
Trang 18- Nhóm cây nước lợ sống trên cạn, độ mặn thấp (1-10‰) từ nội địa phát tán
ra vùng nước lợ [2]
Như vậy cây Bần chua là loài thích hợp với vùng nước lợ, khả năng chịumặn tương đối kém hơn so với các loại cây ngập mặn khác như đước, mắm,vẹt vv…
Cây Bần chua phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận xích đạo nên môitrường không khí, nhiệt độ có những yếu tố đặc trưng Ở những nơi có biên độnhiệt thích hợp và ít giao động, cây Bần chua có điều kiện sinh trưởng và pháttriển tốt, cho nên khi phát tán, hạt giống có điều kiện nảy mầm tối ưu nhất.Ngược lại ở những nơi có biên độ nhiệt dao động lớn thì quá trình sinh trưởng sẽdiễn ra chậm cho nên cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố của câyBần chua
Các loài cây ngập mặn thường phong phú và kích thước lớn nhất ở vùngxích đạo và nhiệt đới ẩm Cận xích đạo là những nơi có nhiệt độ không khí cao,biên độ nhiệt hẹp Nhiệt độ thích hợp cho hoạt động sinh lý của vùng ngập mặn
là 25-280C, nếu nhiệt độ có thay đổi trong môi trường quá cao hay quá thấp cũngảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Ở Việt Nam, số lượng cũngnhư kích thước loài cây ngập mặn ở miền nam thường phong phú cũng như tohơn so với miền bắc, nhất là vùng nam bộ Vì nhiệt độ vùng nam bộ thường 25-
280C, biên độ nhiệt hẹp trong khi đó ở miền bắc thường chịu ảnh hưởng nhiệt độthấp vào mùa đông và nhiệt độ cao vào mùa hè
Ngoài ra cường độ ánh sáng cũng là một nhân tố quan trọng đến sinhtrưởng và phát triển của cây Bần chua Cường độ ánh sáng thích hợp cho câysinh trưởng và phát triển là 3000-3800 kcal/m2/ngày (Aksornkoae,1993)[6].Môi trường nước cũng là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của cây Bầnchua, nó cung cấp chất dinh dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái sinh vàphát tán hạt giống Trong môi trường này thì lượng mưa đóng vai trò quan trọngtrong việc duy trì độ mặn để hạt giống và loài cây ngập mặn ở những khu vựckhác có điều kiện lưu trú và nảy mầm Sự phân bố tối ưu của các loài cây ở vùngxích đạo như Trung Mỹ, Malaysia, quần đảo Indonesia vv Cây Bần chua pháttriển ở những nơi mà lượng mưa hằng năm từ 1800-3000 mm (Aksonrnkoae1993)[14] Còn ở vùng nhiệt đới cây Bần chua phát triển ở những nơi có nhiềumưa như Thái Lan, Australia Với những vùng ít mưa, số lượng cũng như kíchthước loài suy giảm
Ở ven biển Nam Bộ, nhiệt độ bình quân ở Cà Mau và Vũng Tàu chênhlệch nhau rất ít (chỉ 0,70C) nhưng lượng mưa ở Cà Mau là 2360(mm/năm) nhiều
Trang 19hơn vũng tàu 1.375 (mm/năm) nên rừng ngập mặn nói chung và cây Bần chuanói riêng đều phong phú và đa dạng hơn.
Các loài ngập mặn sống ở thể nền ngập nước định kỳ khác nhau như sét,bùn, cát thô lẫn sỏi đá, bùn ở cửa sông bờ biển, đất than bùn Tuy nhiên RNM pháttriển rộng nhất trên thể nền bùn sét có mùn bã hữu cơ Loại đất này thường gặp dọc
bờ biển, tam giác châu thổ, các cửa sông hình phểu và vịnh kín sóng
Sự phân bố các loài ngập mặn có liên quan rất nhiều đến hàm lượng O2,
SO2, độ mặn của thể nền Nói chung cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trườngcòn thoáng khí, loài cây có rể thở như Bần vẫn có khả năng thích nghi với môitrường yếm khí
RNM phát triển ở vùng bờ biển nông, ít sóng, gió như trong vịnh các cửasông hình phểu, sau các mũi đất, eo biển hẹp hoặc dọc bờ biển có các đảo chechắn ở ngoài
Cây Bần mọc ở đầm lầy nước lợ thành các quần thụ gần thuần loài hoặchỗn giao với các loài Trang, Sú, Mấn, Cóc Ở Đồng bằng sông Cửu Longthường mọc ven các kênh rạch hay xen lẫn trong những đám dừa nước […]Nghiên cứu những đặc điểm của thủy triều liên quan đến sự sinh trưởng vàphát triển của rừng ngập mặn Việt Nam và một số nước Đông Nam Á PhanNguyên Hồng (1991) có nhận xét khi điều kiện khí hậu và đất không có sự khácnhau lớn, thì vùng có chế độ bán nhật triều cây sinh trưởng tốt hơn vùng có chế
độ nhật triều
Biên độ triều ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân bố của cây, các lưu vực có biên
độ triều thấp như miền Trung Trung Bộ và Tây bắc bán đảo Cà Mau (0,5-1m)khả năng vận chuyển và trầm tích nguồn giống kém, do đó cây phân bố ở phạm
vi rất hẹp Chỉ nơi có biên độ triều cao trung bình 2-3m, địa hình bằng phẳng thìcây phân bố sâu rộng vào đất cao
2.2.4 Thành phần hóa học
- Vỏ thân và gỗ chứa archin (emodin), archinin (chrysophanic acid) Trong
quả có chất màu, archin và archicin Vỏ thân chứa nhiều tanin (10-20%) có thểdùng thuộc da Trong vỏ thân có chất Emodin và axit chrysophanic có thể làm
các chất màu trong thực phẩm và thuốc thô (Perry, 1980).
- Gỗ bần xốp, tỷ lệ bột giấy thu hồi khoảng 52,7% (trong đó có 8,5% lignin,
17,6% pentosan có màu nâu) Ngoài ra trong gỗ và vỏ thân cây bần có có hai
Trang 20chất archin (C15H10O5) và archinin (C15H14O12) cĩ thể khai thác làm chất màuthực phẩm (CSIR,1976).[16]
- Trong quả bần chín cĩ hàm lượng pectin 11% ở dạng chất trong suốt
(ZMB) Cĩ 2 chất flavonọdes chống oxy hĩa được phân lập là: lutéoline và
lutéoline 7-O-glucoside.[16]
2.2.5 Giá trị của cây Bần chua
Với đường bờ biển dài, xĩi mịn luơn là vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam
Ở những vùng đầu nguồn, đất dốc, đặc biệt là vùng đới bờ ven biển nơi chịu tácđộng mạnh mẽ của triều cường, giĩ, bão hằng năm Là một loại cây ngập mặnnên Bần chua cĩ nhiều giá trị phịng hộ, đặc biệt là chống xĩi mịn, sạt lỡ Ngồi
ra cây Bần chua cịn cĩ vai trị chắn sĩng, lắng phù sa, lấn biển làm giảm độmuối và độ phèn trong đất và cải thiện khí hậu
Bảo vệ được các cơng trình trọng yếu như đê biển ven bờ, kè đá vv từ đĩbảo vệ được tài sản ven bờ, đồng ruộng, làng mạc và cả sinh mạng con người ởbên trong đất liền khi triều cường, sĩng biển dâng cao, sĩng thần
Rừng ngập mặn giúp giảm 50% - 90% năng lượng của sĩng thần Theo nghiêncứu của các nhà khoa học thì trong các khu rừng ngập mặn cao, tốc độ sĩnggiảm trên 100m khoảng 20% chiều cao cột sĩng (Mazda và cộng sự ,1997) Mộtnghiên cứu khác của Phan Nguyên Hồng, độ cao sĩng biển giảm mạnh khi điqua rừng ngập mặn, với mức biến đổi từ 75% đến 85%, từ 1,3m xuống 0,2-0,3m Khơng chỉ giữ vai trị làm lá phổi xanh cho trái đất, RNM nĩi chung vàcây bần chua nĩi riêng cịn là những “ bức tường xanh” cĩ tác dụng phịng hộtrước giĩ và sĩng biển
Đánh giá những thiệt hại do các cơn bão gây ra trong những năm qua thìnơi nào RNM được trồng và bảo vệ tốt thì các đê biển vùng đĩ vẫn vững vàngtrước sĩng giĩ lớn, dù đê biển được đắp từ đất nện, trong khi đĩ những tuyến đêbiển được xây dựng kiên cố bằng bê tơng hay kè đá nhưng rừng ngập mặn bịchặt phá thì bị tan vỡ Trong đợt sĩng thần ngày 26/12/2004 đã khiến hơn 2 triệungười ở 13 quốc gia Châu Á và Châu Phi bị thiệt mạng, mơi trường bị tàn phánặng nề, nhưng kết quả khảo sát của IUCN (Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thếgiới) và UNEP ( chương trình mơi trường thế giới) cùng các nhà khoa học kháccho thấy những làng xĩm ở phía sau vùng cĩ RNM với băng rừng rộng gần như
Trang 21còn nguyên vẹn vì năng lượng sóng đã bị giảm đi 50% -90% nên thiệt hại vềngười rất thấp hoặc không bị tổn thất.[7]
RNM hạn chế lũ lụt cho các vùng lân cận, nạp và tiết nước ngầm, lắngđọng trầm tích độc tố, cố định chất dinh dưỡng, hạn chế hiện tượng phú dưỡng Tạo cảnh quan, môi trường tốt thuận lợi cho các loại hình du lịch, nghĩdưỡng, làm lá chắn tốt cho nhiệm vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng
Mở rộng diện tích đất liền và đất canh tác Ở các cửa sông lớn RNM có thể
cố định phù sa để mỗi năm lấn dần ra biển, diện tích đất phía trong được rửamặn và phèn chuyển dần thành đất canh tác
Chủng loại các loài sinh vật tăng nhờ có nơi cư trú, nơi sinh sản và nguồnthức ăn dồi dào
Giá trị thực phẩm: Các bộ phận của cây bần được dùng làm rau Lá non
và búp hoa cây Bần được dùng làm rau sống Quả Bần non (bần chát) và quảBần già (bần chua) được dùng làm rau Quả bần chát và bần chua được xắtmỏng để dùng làm rau ghém, dùng riêng hoặc trộn với các loại rau tập tàn khác.Đặc biệt là ăn với mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm ruốc vv Quả bần chín rụcdầm trong đĩa nước mắm, sẽ có món nước mắm bần vừa ngon và vừa hấp dẫn,cách chế biến rất đơn giản, chỉ cầm dầm nát quả bần trong nước mắm, thêm gia
vị như bột ngọt, ớt, đường Quả bần chín được làm chất chua để nấu canh chua,nấu lẩu chua
Ngoài ra quả bần chín được chế thành chất phụ gia thực phẩm Một chấtthạch trong suốt có thể được chế biến từ trái bần có chứa chất pectine để làmchất kết dính
Làm dược liệu
Theo Đông y: Quả bần có vị chua của phó mát, tính mát Có tác dụngtiêu viêm, giảm đau Lá có vị chát, có tác dụng cầm máu Cũng được sử dụnglàm thuốc đắp vào chỗ viêm tấy vì bong gân [9]
Nước ép bần lên men có thể dùng để cầm máu Đồng thời hoa bần đâmnát, vắt nước điều trị bệnh tiểu ra máu.[14]
Các công dụng khác
Cây Bần còn có những công dụng khác như rễ thở (bất) dùng làm nút chai Gỗ
bở chỉ dùng đóng đồ nhỏ, làm củi đun, làm bột giấy, bột giấy chế biến từ gỗ Bầnthích hợp trong việc chế biến loại giấy kraft Cành đã rụng lá dùng làm chất chànhử cá và làm củi đun
Trang 22Các nghiên cứu sinh khối rừng ngập mặn ở Philippines cho biết sản lượngkhai thác trắng cây Bần qua luân kỳ 10 năm được 157 tấn chất khô/ha, trong đó
gỗ Bần chiếm 74,4 tấn/ha và sản lượng bột giấy thu hồi trên 30 tấn/ha
Gỗ Bần thuộc loại gỗ nặng (800kg/m3), được dùng trong kỹ nghệ đóng tàu
vì gỗ có đặc tính kháng loài hà sâu đục thuyền ở biển Tuy nhiên gỗ cũng có tính
ăn mòn kim loại, có lẽ trong gỗ Bần có chứa giàu khoáng chất.[19]
Hoa Bần trong bầu nhụy chứa một chất ngọt phong phú cho loài ong mật.(Backer và Steenis, 1951)
Bần chua cũng được sử dụng làm củi, nó tạo ra rất nhiều nhiệt, tro và muối.[19]
Cây Bần chua đã gắn liền với cuộc sống bà con Nam bộ Hình thành nênmột vùng văn hóa sông nước đậm đà bản sắc dân tộc Cây Bần chua thấp thoángtrong những câu hò ru con hay ca giao tục ngữ đã đi vào ký ức tuổi thơ của conngười nơi đây những ký ức đẹp không thể phai mờ
Bà con Nam bộ đã dành cho cây Bần một tâm tình ưu ái Trong các câu cadao, họ mượn hình ảnh cây Bần để thổ lộ tấm lòng của mình với nhiều cung bậc cảmxúc khác nhau, từ đó tạo nên nhận thức thẩm mỹ khá mới lạ về loài cây này:
“Muốn ăn mắm sặc bần chua Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm”.
Xuất phát từ cái tên nghe quá đói khổ “bần” mà người Nam bộ đã đặt câu
đố về nó:
“Giống chi toàn là giống đực Thiếu tứ bề cam cực chung thân ?”
Từ kiếp bình sinh “thiếu tứ bề” ấy mà tác giả bình dân đã mượn trái Bần
để nói lên số phận hẩm hiu của người phụ nữ:
“Thân em như trái bần trôi Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu?”.
Cây Bần còn là cái để người ta so sánh sự sang hèn:
“Không thương em hổng có cần
Trầm hương khó kiếm chớ đước bần thiếu chi”.[14]
Cây bần còn là biểu vật của sự nhớ thương, là mật hiệu của tình yêu:
“Chiều chiều xuống bến ba lần
Trang 23Trông em không thấy thấy bần xơ rơ”
“Lẻ đôi em chịu lẻ đôi
Hoa tàn em cũng đợi, bần trôi em cũng chờ”.[14]
(Nguồn Đặng Duy Khôi-Báo Cần Thơ)
Từ loại nguyên liệu có sẵn ở Đồng bằng Nam Bộ là rễ bần, hai tác giả La VũThùy Linh và Trương Ngọc Đức (Trường Đại học Tôn Đức Thắng) đã nghiêncứu sản xuất thành công than hoạt tính Các tác giả cho biết, công trình đã xácđịnh được đặc trưng của rễ bần và sản xuất thành công than hoạt tính với điềukiện than hóa ở 450°C trong 3 giờ và hoạt hóa bằng cách tẩm muối cacbonat vànung trong môi trường CO2 ở nhiệt độ 800°C trong khoảng 1 giờ Kết quả chothấy than hoạt tính từ rễ bần có thể thay thế các loại than hoạt tính trên thịtrường trong xử lý nước, xử lý môi trường, hấp phụ, khử mùi và màu.[18]
Bà Cúc ở Trà Vinh đã chế biến thành công loại bột bần lên men cả thángkhông hư Bà Cúc mạnh dạn lập cơ sở chế biến bột bần Thủy Tiên với đặc sảnbột bần và mứt bần, cung ứng cho thị trường Năm 2009, ngành chức năng tỉnhTrà Vinh hỗ trợ cho bà mua máy móc để chế biến Cũng trong năm này, sảnphẩm mứt bần và bột lẩu bần của bà Cúc được công nhận bảo hộ nhãn hiệu độcquyền Điều này không chỉ mang lại thêm nguồn thực phẩm mà còn tạo thêmnguồn thu nhập cho người dân địa phương Bà Cúc cho biết mỗi ngày cơ sởThủy Tiên thu mua từ 100 - 400 kg bần chín do người dân mang tới bán, giá từ4.000 đồng/kg tùy thời điểm
2.2.6 Các mối đe dọa đến cây Bần chua hiện tại
Suy giảm diện tích do hoạt động canh tác cũng như mở rộng diện tíchnuôi trồng thủy hải sản Việt Nam có gần nửa triệu ha RNM tự nhiên vào năm
1943, đến năm 2000 diện tích RNM chỉ còn khoảng hơn 150.000 ha, trong đógần 80% là rừng mới trồng Từ năm 1987 cho dến nay RNM bị mất hơn 200.000
ha, phần lớn rừng tự nhiên có giá trị cao Trong khi đó diện tích nuôi trồng thủysản đã tăng thêm 1,1 triệu ha vào năm 2003 Diện tích đất trồng lúa ở Đồng bằngsông Cửu Long tăng từ 2,062 triệu ha (1976) lên 3,815 tiệu ha (2004) thông quahoạt động khai hoang từ đồng cỏ và rừng ngập nước
Lỡ đất và vùi lấp do sóng biển, thay đổi chế độ thủy triều, khai thác gỗcủi, đốt than thiếu kế hoạch, thiếu kiểm soát, sâu hại
Ô nhiễm môi trường biển và ven bờ bởi các loại chất thải (công nghiệp,nông nghiệp và sinh hoạt) và sự cố tràn dầu
Trang 24Công tác quản lý tài nguyên còn nhiều bất cập, hệ thống quản lý còn chưahoàn thiện, chức năng nhiệm vụ còn chưa rõ ràng, chồng chéo thiếu sự phối hợp.Nhận thức của người dân địa phương về tác dụng phòng hộ của loài Bầncòn hạn chế nên chưa tận dụng được nguồn lực bảo vệ của người dân địaphương.
2.3 Một số nghiên cứu liên quan đến nhân giống và gây trồng cây ngập mặn ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến nội dung của đềtài tập trung vào các vấn đề chính sau đây:
Trong các công trình nghiên cứu về cây ngập mặn có liên quan như PhanNguyên Hồng (1970), Nguyễn Khoa Lân (1980), Viện Điều tra Quy hoạch rừng(1980), các tác giả nhận định rằng Bần chua là loài có phạm vi phân bố rộng ở
cả 3 miền nước ta Các nghiên cứu này đã giúp các nhà kỹ thuật có thể khái quátđược vùng khí hậu, đất đai có thể gây trồng Bần chua một cách có kết quả
Nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu các cơ quan, bộ phận của cây có các tácgiả Phan Nguyên Hồng (1970), Nguyễn Khoa Lân (1980), Trần Văn Ba ( 1980).Các tác giả đều có nhận xét cây bần chua có những đặc điểm thích nghi đặc biệtvới các môi trường đầm lầy, nước lợ, thiếu không khí, chịu nhiều tác động củasóng, gió và các điều kiện bất lợi khác Tuy nhiên các tác giả mới đề cập đến cáchình thái giải phẫu một số cơ quan, bộ phận của cây bần chua sống trong điềukiện tự nhiên mà chưa có nghiên cứu các ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng khácnhau đến cấu trúc, hình thái lá bần chua
Các tác giả Phan Nguyên Hồng (1994;1996), Trần Văn Ba (1994), HoàngCông Đãng (1996) đã đề cập khái quát một số nét về chọn đất làm vườn ươm,thu hái, tách hạt và bảo quản hạt giống, kỹ thuật gieo ươm và một số thông số kỹthuật là tư liệu có giá trị gợi ý cho các thí nghiệm cần thiết Một số tác giả khácOkawa Satosi và cộng sự (1996), Tetsumi Asano (1995) nghiên cứu về bảo quản
và nảy mầm của hạt Bần chua ở Việt Nam có nhận xét như sau: ánh sáng và độ
ẩm cao là điều kiện cần thiết cho hạt nảy mầm…
Theo luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp của Châu Hoàn Vinh với đề tài
là “ Nghiên cứu hiện trạng và kỹ thuật nhân giống một số loài cây rừng ngập mặn tại tỉnh Thừa Thiên Huế” thì cây Bần chua có khả năng tái sinh bằng chồi
khá tốt Sau khi nghiên cứu tác giả đã tìm ra được 4 công thức cho tỷ lệ hom rarễ tốt nhất là :
+ Công thức : 100% đất tầng B và IBA 500ppm
Trang 25+ Công thức : 100 % đất tầng B và IBA 1000ppm.
+ Công thức 50% đất tầng B + 50% bùn ngập mặn và IPA 500ppm
+ Công thức 50% đất tầng B + 50% bùn ngập mặn và IPA 500ppm
Và rút ra được kết luận :
- Giá thể và nồng độ chất kích thích sinh trưởng IBA không tác động đến
số lượng chồi của hom cây Bần chua
- Công thức giá thể 25% đất tầng B + 75 % bùn ngập mặn và 100% Bùn
ngập mặn cho chiều cao hom cây Bần chua lớn nhất.[….]
Như vậy ngoài khả năng tái sinh bằng hạt ra, chúng ta cũng có thể sửdụng hom nhằm gây trồng và phát triển vốn cây rừng
Như vậy có thể thấy rằng: các nghiên cứu cây Bần chua ở trong nước chủyếu đi vào các kỹ thuật gieo ươm, trồng rừng còn việc tìm hiểu ảnh hưởng củacác yếu tố sinh thái quyết định đến sinh trưởng của cây trong giai đoạn vườn
ươm còn rất ít Vì vậy đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề trên.
Trang 26PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nảy chồi của hom bần chua
Tiến hành giâm hom cành cây bần chua sử dụng các chất kích thích sinhtrưởng IAA, IBA và NAA với các nồng độ 0 ppm, 500ppm, 1000 ppmm 1500ppm, 2000 ppm
3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm chất bảo vệ thực vật đến số lượng cây sống hậu nảy mầm của cây Bần chua.
Tiến hành bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên với ba lần lặp trên mỗinhân tố, các nhân tố tác động trong các thùng xốp với các nhân tố là thuốc trừsâu và nấm, thuốc chống côn trùng và nước muối 35 0/00 và thí nghiệm đối chứnggieo tự nhiên trên đất cát có phủ một lớp thảm mục
3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng cây con
Ảnh hưởng của đặc điểm giá thể 100% đất cát, 100% đất phù sa sông và50% đất cát + 50% đất phù sa sông đến chiều cao của cây con
3.2.4 Ngiên cứu ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sinh trưởng cây con
Ảnh hưởng của chế độ che bóng nilon mờ, che bóng bằng lưới lan và không cheđến sinh trưởng chiều cao cây
Trang 273.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ mặn đến sinh trưởng của cây con
+ Các loại nồng độ muối: ĐC: 250/00; CT1: 350/00; CT 2: 450/00; CT3: 600/00
+ Phương pháp tưới: tưới ngập 1/3 bầu sau đó nếu nước cạn thì bổ sung thêm nước không thêm muối.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu thứ cấp có liên quan tới vấn đề nghiên cứu, kế thừacác tài liệu khác như báo cáo khoa học, các đề tài liên quan
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
3.3.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nảy chồi của hom bần chua
+ Bố trí thí nghiệm giâm hom cành ở các loại chất kích thích sinh trưởngkhác nhau (IBA, NAA, IAA) ở các nồng độ khác nhau từ 0ppm, 500ppm,1000ppm,1500ppm, 2000ppm, 2500ppm
Thí nghiệm giâm hom được nghiên cứu trên các công thức:
Trang 28Bảng 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm giâm hom
CT10
CT4
CT5
CT11
CT2
CT9
CT6
CT13
CT7
CT3
CT8KHỐI
II
CT
8
CT3
CT13
CT5
CT11
CT9
CT1
CT10
CT4
CT2
CT12
CT7
CT6KHỐI
III
CT
4
CT12
CT2
CT1
CT6
CT8
CT10
CT3
CT11
CT5
CT7
CT13
CT9Các công thức thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên một nhân tốvới ba lần lặp lại, dung lượng mẫu trong mỗi lần lặp là 30 hom
Hom có độ dài 20cm, phần cuối hom được xử lý chất kích thích sinhtrưởng Hom được giâm sâu khoảng 1cm trong cát ẩm đã được xử lý nấm bệnh.Sau khi giâm xong che nắng cho khu vực giâm hom
Chuẩn bị dụng cụ: kéo cắt cành, kéo cắt lá, xô, chậu, cân điện tử, lọ thủytinh, bột tan, thuốc IBA, NAA, IAA nguyên chất, dung dịch benlat 0,1%, nhàgiâm hom có hệ thống phun tự động, luống giâm
Pha chế thuốc:
Dụng cụ: cân điện tử, bột tan, thuốc kích thích nguyên chất, bình đựngbằng thủy tinh, cồn 90o
Phương pháp pha chế thuốc dạng bột:
Xác định khối lượng hóa chất cần pha
Xác định khối lượng bột tan
Xác định mIBA nguyên chất theo công thức sau:
Cddm = x1 000 000
m mIBA
Trang 29Đối với dạng nước, khối lượng IBA nguyên chất cũng được xác định theophương pháp trên Sau đó cho IBA vào cốc thủy tinh, cho một ít cồn đủ để IBAtan hết, sau đó cho bột tan vào khấy đều 15- 20 phút tiếp tục cho nước cất vàođến thể tích cần dùng.
Chỉ tiêu đánh giá: đánh giá tỉ lệ ra chồi.
Thời gian theo dõi và đánh giá được tiến hành trong 3 tháng từ tháng 2 đếntháng 4 Kết quả đo đếm ghi vào phiếu lập sẵn để xử lý, so sánh và đánh giá
3.3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm chất bảo vệ thực vật đến số lượng cây sống giai đoạn hậu nảy mầm.
Ảnh hưởng của nhóm chất bảo vệ thực vật đến tỉ lệ sống cây con với 4công thức:
CT1 (ĐC): đối chứng
CT 2 : thuốc trừ sâu và nấm
CT 3: thuốc chống côn trùng
CT 4: nước muối 350/00
- Hạt được gieo trong thùng xốp với số lượng 1 quả/thùng
Bảng 3.3 Sơ đồ bố trí thí nghiệm nảy mầm cây con
-Thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
- Bảo đảm đồng nhất các yếu tố khác cần thí nghiệm, chỉ thay đổi yếu tố cần
thí nghiệm
- Thời gian theo dõi và đánh giá được tiến hành trong 3 tháng từ tháng 2
đến tháng 4 Sử dụng thước kẻ đơn vị milimet để đo chiều cao vút ngọn Kết quả
đo đếm ghi vào phiếu lập sẵn để xử lý, so sánh và đánh giá
Trang 303.3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng giá thể, chế độ che bóng, nồng độ mặn đến sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng cây con.
Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của ruột bầu đến sinh trưởng của cây Bầnchua ở giai đoạn vườn ươm được nghiên cứu trên 3 công thức:
CT1 : Bầu 100% đất phù sa sông
CT2 : Bầu 50% đất phù sa sông +50% đất cát
CT3 : Bầu 100% đất cát
- Cây con được cấy trong bầu làm bằng nilong, kích thước bầu 12 x 20 cm.
- Luống đặt bầu là luống cát, nền luống rộng 1,2 m
Bảng 3.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm về giá thể
-Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, 20 cây/lần lặp.
- Bảo đảm đồng nhất các yếu tố khác cần thí nghiệm, chỉ thay đổi yếu tố cần
thí nghiệm
- Thời gian theo dõi và đánh giá được tiến hành trong 3 tháng từ tháng 2
đến tháng 4 Sử dụng thước kẻ đơn vị milimet để đo chiều cao vút ngọn Kết quả
đo đếm ghi vào phiếu lập sẵn để xử lý, so sánh và đánh giá
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của độ che bóng đến sinh trưởng cây Bần chua.
Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của chế độ che bóng đến sinh trưởng của câyBần chua ở giai đoạn vườn ươm được nghiên cứu trên 3 công thức:
CT1 : không che
CT2 : che bằng ni lông mờ
CT3 : che bằng lưới lan
- Cây con được cấy trong bầu làm bằng nilong, kích thước bầu 12 x 20 cm.
- Luống đặt bầu là luống cát , nền luống rộng 1,2 m
Trang 31Bảng 3.5 Sơ đồ bố trí thí nghiệm về chế độ che bóng
-Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, 20 cây/lần lặp.
- Bảo đảm đồng nhất các yếu tố khác cần thí nghiệm, chỉ thay đổi yếu tố cần
thí nghiệm
- Thời gian theo dõi và đánh giá được tiến hành trong 3 tháng từ tháng 2
đến tháng 4 Sử dụng thước kẻ đơn vị milimet để đo chiều cao vút ngọn Kếtquả đo đếm ghi vào phiếu lập sẵn để xử lý, so sánh và đánh giá
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của loại nồng độ mặn đến sinh trưởng của cây con.
Ảnh hưởng của nồng độ mặn đến sinh trưởng của cây Bần chua ở giaiđoạn vườn ươm được thực hiện với 4 công thức:
Bảng 3.6 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của các loại nồng độ mặn
Thời gian theo dõi và đánh giá được tiến hành trong 3 tháng từ tháng 2đến tháng 4 Sử dụng thước kẻ đơn vị milimet để đo chiều cao vút ngọn Kết quả
đo đếm ghi vào phiếu lập sẵn để xử lý, so sánh và đánh giá
Trang 323.3.3 Phương pháp theo dõi tăng trưởng chiều cao thân cây
Chiều cao cây đo cố định 15 ngày một lần và đo tất cả các cây thínghiệm Công thức tính tăng trưởng về chiều cao là:
+ Tăng trưởng về chiều cao:
= Hn+1 - Hn
Hn+1: chiều cao đo lần thứ n+1
Hn: chiều cao đo lần thứ n
Sử dụng phương pháp phân tích thống kê trong lâm nghiệp để xử lý và phân tích
số liệu (phần mềm Excel)
Xác định các đặc trưng mẫu: Giá trị trung bình, phương sai, sai tiêuchuẩn, phân tích phương sai và kiểm tra tiêu chuẩn t (Student) để tìm ra chỉ tiêuhiệu quả nhất
Đánh giá sinh trưởng theo phương pháp phân tích phương sai: Tiến hànhphân tích phương sai một nhân tố để xác định tiêu chuẩn F (Fisher) để đánh giákhác biệt của công thức thí nghiệm, xử lý hạt giống nảy mầm, che bóng, giá thể,nồng độ mặn
+ Nếu Ft F05: Công thức tác động đồng đều lên kết quả thí nghiệm với độtin cậy 95%
+ Nếu Ft F05: Công thức không tác động đồng đều lên kết quả thí nghiệmvới độ tin cậy 95%
Tìm công thức có hiệu quả nhất: Việc tìm công thức hiệu quả nhất dựavào việc so sánh hai giá trị trung bình lớn nhất thứ nhất và lớn nhất thứ haithông qua tiêu chuẩn t (Student):
+ Nếu |t| ≤ t05: Giữa 2 số trung bình được chọn không có sự sai khác + Nếu |t| > t05: Giữa hai số trung bình được chọn có sự sai khác rõ và chọncông thức có số trung bình lớn nhất làm công thức có hiệu quả