1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (siganus guttatus) tại thừa thiên huế

69 1,3K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 8,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cứu kỹ về thức ăn có sử dụng các nguyên liệu giá rẻ và sẵn có ở địa phương, nhucầu thức ăn của cá bố mẹ và ấu trùng; Nghiên cứu kỹ thuật nuôi trong các điềukiện khác nhau như nuôi ao, lồ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Thủy sản

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI:

Kỹ thuật nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (Siganus guttatus) tại xã Hải

Dương, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Sinh viên thực hiện: Phạm Văn Thoàng Lớp: CĐNTTS K47

Giáo viên hướng dẫn: TS Mạc Như Bình

Bộ môn: Bộ môn quản lý nguồn lợi thủy sản

Huế 05/2016

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

Khoa Thủy sản

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI:

Kỹ thuật nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (Siganus guttatus) tại xã Hải

Dương, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Sinh viên thực hiện: Phạm Văn Thoàng Lớp: CĐNTTS K47

Giáo viên hướng dẫn: TS Mạc Như Bình Thời gian thực tập: Từ ngày 14/03 đến ngày 22/05/2016 Địa điểm thực tập: Xã Hải Dương, thị xã Hương Trà,

tỉnh Thừa Thiên Huế

Bộ môn: Bộ môn quản lý nguồn lợi thủy sản

Huế 05/2016

Trang 4

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này bản thân tôi đã nhận đợc rất nhiều sự giúp đỡ vô cùng quý báo về vật chất và tinh thần Nhân đây cho phép tôi đợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:

Thầy giáo TS Mạc Nh Bình, ngời đã theo suốt tôi trong quá trình nghiên cứu, trực tiếp hớng dẫn tôi tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp.

Bác Phan Lân chủ tịch hội nghề cá Hơng Giang đã nhiệt tình giúp đỡ

và hỗ trợ trang thiết bị, kỹ thuật cho tôi trong suốt thời gian thực tập.

Các thầy cô trong Khoa Thủy Sản, Trờng Đại Học Nông Lâm Huế đã trang bị cho tôi kiến thức trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trờng, luôn quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập.

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành

đề tài này.

Với thời gian học tập ngắn ngủi nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự góp ý tận tình của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để khóa luận đợc hoàn thiện hơn.

Trang 5

Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 30Bảng 4.2: Tỷ lệ thành thục của cá Dìa sau 2 tháng nuôi vỗ 39Bảng 4.2: Tuổi và kích thước cá bố mẹ thành thục lần đầu trong điều kiện nuôi

42Bảng 4.3: Tỷ lệ thành thục của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ 43Bảng 4.4 : Hệ số thành thục của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ 44

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1 Cá Dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787) 4

Hình 2.2 Lồng nuôi cá Dìa bố mẹ 22

Hình 4.1 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn I (độ phóng đại 10 x10) 33

Hình 4.2 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn II (độ phóng đại 10 x10) 34

Hình 4.3 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10 x10) 35

Hình 4.4 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn IV (độ phóng đại 10 x10) 35

Hình 4.5 Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn I (độ phóng đại 10x10) 36

Hình 4.6 Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn II (độ phóng đại 10x10) 37

Hình 4.7 Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10x10) 38

Hình 4.8 Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn IV (độ phóng đại 10x10) 38

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ thành thục của cá Dìa đực sau 2 tháng nuôi

vỗ ở 2 nghiệm thức 40Biểu đồ 4.2 : Biểu đồ thể hiện tỷ lệ thành thục của cá dìa cái sau 2 tháng nuôi vỗ

ở 2 nghiệm thức 40Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ thành thục của cá dìa đực và cá dìa cái 43Biểu đồ 4.4: HSTT của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ 45

Trang 8

MỤC LỤC

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Mở đầu 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

PHẦN II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Đặc điểm sinh học của cá Dìa 3

2.1.1 Phân loại và phân bố 3

2.1.2 Hình thái cấu tạo 4

2.2 Tình hình nghiên cứu cá dìa ở Việt Nam 11

2.2.1 Tình hình nghiên cứu họ cá dìa tại Việt Nam 11

2.2.2 Tình hình nghiên cứu cá dìa tại Thừa Thiên Huế 13

2.2.3 Sự sinh sản nhân tạo cá dìa 14

2.2.4 Tình hình nuôi cá dìa tại Hải Dương, Hương Trà, Thừa Thiên Huế 15

2.2.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên đối với việc phát triển nuôi trồng thủy sản tại vùng ven biển Xã Hải Dương, Thị Xã Hương Trà 16

2.3 Một số cơ sở khoa học về nuôi vỗ các loài cá 16

2.3.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nuôi vỗ cá bố mẹ 17

2.3.1.1 Về tổ chức tế bào học 17

2.3.1.2 Về đặc điểm sinh thái và sinh lý 17

2.3.1.3 Về đặc điểm sinh thái 17

2.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài lên sự phát dục tuyến sinh dục của cá bố mẹ được nuôi vỗ 18

2.3.2.1 Thức ăn 18

Trang 9

2.3.2.2 Nhiệt độ 19

2.3.2.3 Quang kỳ 19

2.3.2.4 Dòng nước 19

2.3.2.5 Những yếu tố khác 20

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 3.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.2 Thời gian và địa điểm nhiên cứu 21

3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

3.2.2 Địa điểm nghiên cứu 21

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

3.3.1 Bố trí thí nghiệm để xác định ảnh hưởng của thức ăn đến kết quả nuôi vỗ .21

3.3.2 Xác định tuổi và trọng lượng thành thục 22

3.3.3.Xác định các chỉ số về sinh sản 22

3.3.4 Xác định đặc trưng các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cá Dìa 23

3.3.5 Xác định mùa vụ sinh sản cá Dìa: 23

3.3.6 Phương pháp chọn cá bố mẹ cho đẻ 23

3.3.7 Phương pháp kích thích sinh sản 23

3.3.8 Xác định các yếu tố môi trường: 23

3.4 Nội dung nghiên cứu 24

3.4.1 Đặc điểm sinh học sinh sản của cá Dìa 24

3.4.2 Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá dìa 24

3.4.3 Quy trình nuôi vỗ cá Dìa bố mẹ 24

3.4.3.1 Cơ sở khoa học 24

3.4.3.2 Quá trình chuẩn bị lồng nuôi vỗ 25

Trang 10

3.4.3.3 Tuyển chọn cá bố mẹ 25

3.4.3.4 Quản lí và chăm sóc bể nuôi vỗ cá bố mẹ 25

3.5 Xử lý số liệu 28

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Biến động các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 29

4.1.1 Nhiệt độ nước 30

4.1.2 pH 31

4.1.3 Độ mặn 32

4.1.4 Oxy hòa tan 32

4.2 Đặc điểm phát triển của tuyến sinh dục cá Dìa 33

4.2.1 Sự phát triển của buồng trứng cá cái 33

4.2.2 Sự phát triển của tinh sào cá dìa đực 36

4.3 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến quá trình nuôi vỗ 39

4.3.1 Tỷ lệ thành thục cá 39

4.4 Nghiên cứu về các tiêu chí sinh sản nhân tạo cá Dìa 41

4.4.1Tuổi và trọng lượng thành thục lần đầu của cá Dìa 41

4.4.2 Tỷ lệ thành thục cá dìa bố mẹ 42

4.4.3 Hệ số thành thục 44

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Kiến nghị 46

PHẦN VI: TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 13

cá Mú, cá Dìa,… Trong đó, cá Dìa (Siganus guttatus) là một trong những loài

cá biển có giá trị kinh tế cao phân bố phổ biến tại vùng đầm phá Thừa ThiênHuế Cá Dìa là loài rộng muối, có khả năng thích ứng với độ mặn từ 1‰ đến

30‰ Cá Dìa (S.gustatus) có tốc độ sinh trưởng khá nhanh, phổ thức ăn rộng Cá

Dìa là loài có khả năng thích ứng với sự thay đổi của các yếu tố môi trường vànhu cầu thị trường cao, ổn định nên đang được người dân nuôi phổ biến

Hiện nay nghề nuôi và khai thác cá Dìa (Siganus guttatus) tại vùng đầm

phá Tam Giang – Cầu Hai đang phát triển mạnh.Tuy nhiên, người nuôi trồng vàkhai thác cá dìa vẫn còn gặp một số khó khăn nhất định, nguyên nhân chủ yếu

do thiếu thông tin về đặc điểm sinh học, di cư và nguồn cung cấp con giống Đểbảo vệ và phát triển nguồn lợi cá dìa tại địa phương cần thiết phải có các nghiêncứu về quy trình sản xuất giống nhân tạo

Cá Dìa được coi là loài đặc hữu, có giá trị cao nhất, thịt cá ngọt và thơm ỞHuế có mô hình nuôi cá Dìa kết hợp nuôi tôm sú cho năng suất cao Tạo ra hiệuquả kinh tế rất lớn cho người dân Mặc dù vậy, hiệu quả kinh tế của việc nuôi cáDìa vẫn còn thấp, do nguồn giống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên Trong khi

đó nhiều nước trong khu vực như Philippines, Indonesia và nhiều nước ở vùngĐịa Trung Hải đã sản xuất thành công cá Dìa giống từ nhiều năm nay Là loài cóhiệu quả kinh tế cao tuy nhiên việc sản xuất giống cá Dìa hiện nay còn gặp rấtnhiều khó khăn Nguồn giống hiện tại vẫn chưa đáp ứng hết được nhu cầu củangười dân Vậy nên việc nghiên cứu quy trình sinh sản nhân tạo cá Dìa là rấtquan trọng Trong đó kỹ thuật nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ là một trong nhữngkhâu quan trọng đầu tiên trong quy trình sản xuất giống, cá bố mẹ có chất lượng

tốt sẽ cho cá giống tỉ lệ sống cao và tốc độ tăng trưởng nhanh (Nguyễn Văn

Kiểm, 1999).

Trang 14

Để tìm hiểu thêm về cá Dìa cũng như quy trình nuôi vỗ cá Dìa bố mẹ nên

hôm nay tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ cá dìa bố mẹ

(Siganus guttatus) tại Thừa Thiên Huế” mong tạo ra nguồn giồng tốt nhất,

chất lượng nhất

1.2Mục tiêu đề tài

 Tìm ra các tiêu chí điều kiện môi trường tốt cho quá trình nuôi vỗ cá bố mẹ

 Ảnh hưởng của các loại thức ăn thích hợp cho cá Dìa bố mẹ

 Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ để chuẩn bị cho quá trình sinh sản nhântạo

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài làm cơ sở khoa học cho các nghiên

cứu hoàn thiện quy trình sản xuất và ương giống cá Dìa

Ý nghĩa thực tiễn: Chủ động được nguồn giống cá Dìa bằng hình thức sinh

sản nhân tạo

Trang 15

PHẦN II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm sinh học của cá Dìa

2.1.1 Phân loại và phân bố

Hệ thống phân loại của cá Dìa như sau:

Lớp cá xương: Osteichthyes

Phân lớp tia vây: Actinopteryii

Bộ cá vược: Perciformes

Họ cá dìa: SiganidaeGiống: Siganus

Loài cá dìa: Siganus guttatus Bloch, 1787

Tên tiếng Anh: Golden rabbit fish, Orange-spotted Spinefoot

Theo Woodland (1983), hiện nay trên thế giới có 26 loài cá họ cá Dìa

(Siganidae), phân bố ở vùng biển của các châu lục, sống đáy nơi các dãy san hô

ngầm, nước lợ ven biển Phân bố phía Đông Châu Á Thái Bình Dương, chủ yếucác nước như là Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Việt Nam, Đài Loan,Philippine và phía Nam Trung Quốc Cá có thể di chuyển từ phía Đông NamChâu Á Thái Bình Dương đến các khu vực và các địa phương phía Bắc

Cá Dìa (Siganus guttatus) có kích cỡ trung bình, cá lớn nhất đạt 42cm và

trọng lượng khoảng 1,5kg Giống (ấu trùng) thường tập trung ở vùng ven biển

có thảm cỏ quanh các lạch sông Khi đạt kích thước nhất định chúng rời các cửasông đến vùng triều tìm đến các rạn san hô gần bờ có độ sâu 6m để đẻ trứng.Theo Burgan và Zseleczky (1979) cá con sống quanh những rễ cây nơi có nhữngbóng râm ở vùng nước mặn, vịnh nước nông hoặc cửa sông Cá trưởng thànhsống ven biển, nhưng thường ra vào các sông ngòi và cửa sông

Cá Dìa thích nghi với môi trường sống ở biển, các rạn san hô vùng nướclợ; Độ sâu: 0 - 25 m; Nhiệt độ: 24°C - 28°C Cá phân bố ở các vùng biển thuộcĐông Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương: quần đảo Andaman, Thái Lan,Malaysia, Singapore, Indonesia (bao gồm cả Irian Jaya), Việt Nam, Ryukyus,miền nam và miền đông Trung Quốc, Đài Loan

Cá Dìa có thể chịu được sự thay đổi độ mặn khá cao Pilaii (1962) lưu ý rằng

cá Dìa có thể không chịu được độ mặn thấp và nhiệt độ cao Tuy nhiên,

Trang 16

Carum-bana và Luchavez (1979) lại quan sát thấy cá con S guttatus (37- 43 mm SL) có thể chịu được khi ở các điều kiện này Tỷ lệ chết của loài S guttatus là 28% sau 2

ngày Nồng độ tối ưu cho sự phát triển và sống còn của các loài là 10‰ Cá Dìa

có thể chấp nhận nồng độ oxy thấp Cá con có thể chịu được sự thay đổi nhiệt độgiữa 23 và 260C( từ 23-26°C) Theo Gundermann (1983) thì các loài cá có thểchịu được pH ở phạm vi rộng và cũng có thể chịu được khi có yếu tố xử lý mạnh

2.1.2 Hình thái cấu tạo

Hình 1 Cá Dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787)

Cá Dìa có 13 tia vây lưng cứng, 10 tia vây lưng mềm, 7 tia cứng vây hậumôn, 9 tia mềm vây hậu môn và 13 đốt sống Lưng có màu sẫm, bụng có màubạc, có một điểm sáng màu vàng liền kề với vài tia cuối cùng của vây lưng GócPreopercular 91° -102°; vảy mạnh đủ trang trải các má; đường giữa ngực thunhỏ Lỗ mũi trước thấp, hơi mở rộng ra phía sau Gai mập mạp, cay, có nọc độc.Chiều dài tối đa: 42,0 cm ; chiều dài phổ biển: 25,0 cm

2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng

Giai đoạn ấu trùng: Ống tiêu hoá của S.guttatus được nghiên cứu về phôi

học và mô học Bắt đầu như một ống thẳng, sau đó xoắn lại 8 - 9 giờ sau khi nởcùng với việc hấp thụ noãn hoàng Gan bắt đầu phát triển vào ngày thứ nhất nhưmột tấm mầm tế bào lỏng lẻo Nó to lên và kích cỡ noãn hoàng trở nên nhỏ đi,khác biệt đến ngày thứ năm Noãn hoàng được hấp thụ lại sớm hơn các hạt dầunhỏ ở ngày thứ hai và thứ ba; điều đó nói lên rằng chất noãn hoàng được sửdụng cho tổng hợp các cơ quan còn các hạt dầu nhỏ tích luỹ năng lượng Ấu

trùng S guttatus sinh trưởng rất nhanh trong 24 giờ Mồm loài này mở ra tại 36

Trang 17

giờ sau khi nở, học cách ăn lúc 60 giờ sau khi nở và noãn hoàng tái hấp thu tại

72 giờ sau khi nở (Baraginao,1986) Ấu trùng của S guttatus tiêu thụ noãn

hoàng của chúng và bắt đầu dinh dưỡng vào ngày thứ hai Tuy nhiên, tỷ lệ chếtxảy ra rất cao ở những ngày đầu, đặc biệt rất cao ở ngày thứ 3 và 4, do thiếu loạithức ăn phù hợp Cho ăn bằng Brachionus (cỡ nhỏ hơn 90 m) cỡ 10 - 20 cá thể/

ml tăng tỷ lệ sống sót trong giai đoạn ấu trùng Chlorella, Tetraselmis vàIsochrysis là những nguồn thức ăn của ấu trùng nhưng chúng không được sửdụng quá ngày thứ 4 Ấu trùng nauplius của giáp xác chân chèo (copepoda) nhỏhơn Brachionus và vì vậy thích hợp hơn cho giai đoạn dinh dưỡng đầu tiên của

ấu trùng cá Dìa Trong các trại giống, ấu trùng cá Dìa dinh dưỡng bằng ấu trùngnauplius của Brachionus, Artemia và thức ăn nhân tạo

Ấu trùng mới nở thường trôi nổi rất yếu và có chiều dài toàn thân khoảng1,5-2,6mm Ruột của chúng thẳng, mắt chưa có sắc tố và miệng chưa hình thành,

ở loài S.guttatus túi noãn hoàng có kích thước 0,70 x 0,24mm và có 2 giọt dầu.

Ấu trùng của loài S guttatus bộc lộ tính ưa ánh sáng và dòng chảy lần lượt thể

hiện khi cá đạt chiều dài toàn thân là 2,6mm và 2,7 mm; tính ưa ánh sáng biếnmất ở cỡ 9,2 mm Ấu trùng ổn định ở bể đáy ương cỡ 19,6 mm

Nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng Siganids cho đến nay vẫn còn chưa biết

rõ Ấu trùng của S.guttatus ở 2,6 mm chiều dài toàn thân (TL) ban đầu dinh

dưỡng bằng luân trùng và ở chiều dài toàn thân 4,4 mm (ngày 12) dinh dưỡng

bằng tôm biển Ấu trùng của loài S.guttatus từ ngày thứ 9 (3,7 mm TL), ngày 15

(5,8 mm TL) và ngày 21 (7,9 mm TL) Đối với mọi nhóm tuổi, tỷ lệ ấu trùng cóthức ăn trong dạ dày giảm xuống vào ban đêm và xuống tới 0 vào lúc 22h, ấutrùng thường ăn mạnh vào sáng sớm Sự chán ăn thường xảy ra vào khoảng 8 -

10 giờ sáng

Giai đoạn cá con: Ở giai đoạn ấu trùng, cá Dìa ăn động vật phù du, sang

giai đoạn con non và con trưởng thành lại dinh dưỡng hoàn toàn bằng cỏ(Suyehiro, 1942) Chúng ăn bằng cách rỉa thực vật dưới biển, thường cúi đầugặm cỏ, đầu hướng xuống dưới cả ngày lẫn đêm (Gunderman, 1983) Phân tích

dạ dày cho thấy những cá bị nhốt thích tảo trong khi cá ngoài tự nhiên thì không

thích (Merta, 1982) Loài S.guttatus rất thích Eteromorpha sp trong phòng thí nghiệm nhưng ngoài tự nhiên thì ngược lại (Westernhagen,1974) Siganus

guttatus và một số loài cá Dìa khác khi được nuôi chấp nhận nhiều loại thức ăn

(Carumbana và Luchavez, 1979) Con non và con trưởng thành ngoài tự nhiên

ăn bất cứ loài tảo nào mà chúng có thể kiếm được và tiêu hoá Chúng ăn rất tíchcực vào buổi sáng và ít hơn về ban đêm (Zseleczky,1979; Hasse, 1977) Để có

Trang 18

những hiểu biết tốt hơn về tính ăn của cá Dìa, các nghiên cứu về dinh dưỡng vàenzym đã được tiến hành, Parazo (1989) đã chỉ ra tỷ số tăng trưởng cụ thể của

cá Dìa non (S.guttatus) tăng lên theo từng mức protein và năng lượng Fao cũng

thừa nhận rằng cá Dìa có khả năng sử dụng khẩu phần là mỡ và cacbonat trongmột chừng mực nào đó để sử dụng protein cho tăng trưởng

Giai đoạn cá trưởng thành: Loài Siganus guttatus dinh dưỡng bằng thức

ăn dạng viên thương phẩm (20% protein) với khối lượng 2% trọng lượng của cơthể được giữ thường xuyên trong các bể Cá đẻ trứng hàng tháng nếu được dinhdưỡng bằng thức ăn có hàm lượng protein cao, nhưng vẫn có sự suy giảm trong

tỷ lệ thụ tinh, nở và chất lượng ấu trùng với tuổi cá bố mẹ Soletchnick (1984)

đã gợi ý rằng cá bố mẹ cần được duy trì ở một khẩu phần ăn ít năng lượng vàprotein có hàm lượng cao Đối với mục đích đẻ trứng, cá nên được cho ăn thức

ăn giàu năng lượng và protein Một cá mẹ có thể đẻ 4 tháng liên tục khi đượcdinh dưỡng bằng khẩu phần ăn có cho thêm 10% pollack hoặc dầu từ gan cátuyết to đầu Thức ăn chứa nhiều dầu từ gan cá tuyết to đầu hoặc kết hợp thêm

đậu tương hoặc lecithin làm cho cá đẻ liền trong 13 tháng Cá bố mẹ của loài S.

guttatus dinh dưỡng với khẩu phần ăn có chứa 18% mỡ từ các nguồn này sẽ

giúp cho cá có thể đẻ nhiều hơn và tỷ lệ sống sót của ấu trùng cao hơn những cádinh dưỡng bằng khẩu phần thức ăn chỉ có 12 - 15% mỡ Ấu trùng từ nhữngnguồn cá bố mẹ này thường to hơn Không có tác động đáng kể nào tới sự thụtinh, dung lượng của noãn hoàng và tỷ lệ nở theo 3 mức dinh dưỡng

Rất nhiều nghiên cứu về sự phát triển cá Dìa đã cho các kết quả mâu

thuẫn có thể là do sự khác nhau về hệ thống nuôi và chế độ cho ăn Cá S.

guttatus trong lồng chậm ở giai đoạn cá con nhưng rất nhanh ở giai đoạn

tiền trưởng thành Theo Miranda (1984), tỷ lệ thả giống thích hợp ở ao là

50 con/m2 Khi cho ăn cám gạo cá phát triển nhanh hơn nhưng tỷ lệ sốngthấp Lumot (tảo lục dạng sợi) làm thức ăn tốt hơn lap-lap của tảo lục- lam,tảo silic và các vi khuẩn khác

2.1.4 Đặc điểm sinh sản

Cá Dìa có chu kỳ sinh sản hàng năm, trong thời gian nhất định vào mùaxuân và đầu mùa hè (Lam,1974) Lam (1974) báo cáo rằng juvenile của

Siganuscanaliculatus xuất hiện vào cuối mùa xuân, thành thục sinh dục vào mùa

đông sau, và đẻ trứng vào mùa xuân Hasse và ctv (1977) lưu ý rằng cá có thể đẻtrứng nhiều lần trong một năm nhất định, và có thể đạt ít nhất hai năm tuổi thọ

Sinh sản tự nhiên của các loài thuộc Siganidae đã được quan sát ở S.argenteus

Trang 19

(Tobias, 1976; Luchavez và Carumbana,1982), S Canaliculatus (McVey, l972),

S Chrysosphilos (Tridjoko và ctv.,1985); S Guttatus (Soletchnik, 1984; Juario

và ctv.,1985; Hara và ctv.,1986), S Rivulatus (Popper và ctv.,1973), S Virgatus (Tridjoko và ctv.,1985) và S Vermiculatus (Popper và Gtmdermann,1976).

McVey (1972) phát biểu rằng mức độ thủy triều là yếu tố quan trọng nhất trong

sinh sản của S.canaliculatus; điều này cũng giống với khẳng định của Manacop

(1937) rằng loài này đẻ khi thủy triều rút Lavina và Alcala (1974) ghi nhận làviệc sinh sản xảy ra trong ở tầng gần mặt của những vùng nước mở

Sinh sản tự nhiên tuân theo chu kỳ trăng, ví dụ S.guttatus, sinh sản vào

khoảng 2-3 ngày sau 7 ngày đầu tiên của chu kỳ trăng trong suốt cả năm (Hara

và ctv., 1986) Những quả trứng được phóng thích khi sinh sản tự nhiên ở loài

S.guttatus chiếm khoảng 12% số lượng tế bào trứng trong buồng trứng và mất

5-10% trọng lượng cơ thể của con cái mỗi tháng (Soletchnik, 1984) Theo kết quả

nghiên cứu về mô (Juario và cộng sự, 1985), cá đực S guttatus sinh ra từ trại

giống, thành thục ở 10 tháng tuổi đạt chiều dài toàn thân 19 cm, con cái thànhthục 12 tháng tuổi chiều dài 21,5 cm

Soletchenik (1984) quan sát thấy sự thành thục đầu tiên của con S guttatus

cái nuôi nhốt ở cỡ 200g (34cm) và con cái sinh ra từ trại giống ở cỡ 260g 22cm) Chất lượng và số lượng cho ăn là yếu tố quan trọng đối với sự thành thụccủa loài Hầu hết con cái ăn thức ăn công nghiệp chứa 43% protein đều đặn mộttháng một lần trong suốt thời gian sinh sản 11 tháng, cá dìa càng lớn cho lượngtrứng càng nhiều (Soletchenik, 1984)

(20-Cá 400g có chỉ số so sánh dinh dưỡng sinh sản (GSI) là 13,8 đẻ 0,8 triệutrứng Cá 520g có 12,6 GSI cho 1,2 triệu trứng (Soletchenik, 1984) Hara (1987)dựa trên cơ sở sự theo dõi hàng tuần GSI và cỡ trứng của cá ở thủy vực Cebu-Bohol (Philippin) trong 12 tháng cho thấy khi GIS lớn hơn 7,0 cá có thể đẻ

được Theo Soletchenik (1984) trứng cá Dìa (S.guttatus) xuất ra trong 1 đợt sinh

sản tự nhiên chiếm khoảng 12% số lượng noãn bào và làm mất khoảng 5-10%trọng lượng con cái mỗi tháng

Tại bang nuôi trồng thủy sản thuộc SEAFDC, người ta đã tiến hành cho

loài cá dìa(Siganus gutatus) sinh sản nhân tạo và đã thành công Cá cái sinh sản

hàng tháng trong bể bằng vải bọt đường kính 6cm cá cái được kích thích đẻ tựnhiên bằng các loại hoocmon HCG, Citrat clomiphine Để đáp ứng về tinh của

cá Dìa đực trưởng thành người ta đã tiêm cho cá đực loài S guttatus hoocmon

LHRHa cùng với spermatocit (68%) và một số tinh trùng là 14.1*106 tinh trùng1ml tinh dịch: việc sản xuất tinh dịch được duy trì suốt 3 tuần liên tiếp bằng các

Trang 20

cách tiêm thường xuyên 200ml LHRHa Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tổng số trứng đẻbằng tổng số ấu trùng sinh ra cũng giống như trong sinh sản tự nhiên Các nhànghiên cứu còn cho rằng, sự thay đổi môi trường (có thể giảm mực nước, gâyphản ứng stress cũng có tác dụng làm tăng sự sinh sản hằng tháng nhưng để đảmbảo 100% cá đẻ vẫn còn có thêm kích dục tố ngoại sinh Trứng nở tự nhiênthường được độ mặn từ 3-7‰, với tỷ lệ nở là 90% Trứng đẻ do kích thích chịuđược độ mặn tới 68‰ Kết quả nghiên cứu cho thấy độ mặn thích hợp là từ 20-32‰ để ấp trứng và ương ấu trùng, tỷ lệ sống củng được cải thiện khi ương ởnhiệt độ từ 22-26°C.

Sự biến thái của ấu trùng gần như thay đổi nhanh chóng và rõ ràng về hình

dạng bên ngoài Ấu trùng loại S guttatus khi nở dài 1.42mm, nhưng chúng phát

triển cực nhanh trong 16 giờ đầu mặc dù khối lượng cơ thể giảm đi trong giờđầu tiên, cỡ miệng chỉ đạt 0.08 mm, khoảng 1.5 giờ sau thì chúng ăn lần đầutiên Thức ăn chúng ưa thích là luân trùng nhỏ (80-120 µm) Juario và cộng sự

(1985) đã tiến hành cho loài cá Siganus guttatus ăn tảo, luân trùng, artemia, thức

ăn nhân tạo trong quá trình ương cá bột và đã đạt được những thành công Saukhi nở 45 ngày, ấu trùng chuyển thành cá bột với độ dài khoảng 10mm Cá Dìa

(S guttatus) đã được nuôi ở các môi trường khác nhau với các kích cỡ khác

nhau, sau đây là tốc độ phát triển trung bình của cá Dìa (S guttatus) ở những

môi trường nuôi khác nhau

Một số loài cá Dìa đã được nuôi từ lâu đời ở Philippin dưới các hình thứcnuôi đơn, ghép với cá Măng và phần lớn là nuôi trong ao Ao nuôi cá Dìa có thểlấy nước lợ trực tiếp từ sông, nếu phải phụ thuộc vào nguồn nước từ các ao bêncạnh thường thất bại vì chất lượng nước không đảm bảo Ao ương chiếm khoảng1/5 tổng diện tích, cá đựợc nuôi trong ao ương khoảng 1 tháng với tỷ lệ thảgiống là 200.000-300.000 con/ha Ao chuyển tiếp chiếm khoảng 1/4 hoặc 1/3diện tích, được đặt gần ao ương hoặc ao nuôi vỗ, cá được nuôi ở đây khoảng 1tháng với mật độ thả giống là 60.000-100.000 con/ha Cá nuôi vào khoảng 3-4tháng với mật độ thả giống là 1.500-2.000 con/ha phụ thuộc vào thức ăn trong

ao và cỡ cá giống

Ở Indonesia, cá Dìa là loài cá có giá trị và sinh sống ở nhiều đầm phá Yếu

tố liên quan tới sự phát triển nghề nuôi cá Dìa ở nước này trong tương lai baogồm mối quan hệ về lợi ích kinh tế và nhu cầu thị hiếu (Woodland, 1979;Duray, 1990) Tuy cá Dìa đã được nuôi phổ biến ở một số nước nhưng vẫn cònnhiều vấn đề phải nghiên cứu tiếp Có 6 vấn đề cần được xác định là: Cần điềutra về loài để xác định loài nuôi phù hợp và các yếu tố thị trường; Cần nghiên

Trang 21

cứu kỹ về thức ăn có sử dụng các nguyên liệu giá rẻ và sẵn có ở địa phương, nhucầu thức ăn của cá bố mẹ và ấu trùng; Nghiên cứu kỹ thuật nuôi trong các điềukiện khác nhau như nuôi ao, lồng bè …; Hiện sinh sản nhân tạo không còn là trởngại nhưng phải nghiên cứu sản xuất giống có quy mô lớn đối với các loài khácnhau nhất là ở Việt Nam việc sản xuất giống đại trà vẫn chưa được tiến hành,người dân chủ yếu là vớt giống ngoài tự nhiên để ương nuôi; Cần hoàn thiệnthêm để đưa ra các tiêu chuẩn về các phương pháp thu hoạch, vận chuyển.Nghiên cứu tiếp về các loại bệnh và cách phòng trị Và điều cuối cùng là cũngcần tìm hiểu các vấn đề về kinh tế xã hội của các trại nuôi cá Dìa và nghề nuôi

cá Dìa nói chung

Hara và ctv (1986) tiến hành quan sát các hành vi sinh sản của S.guttatus.

Trước khi sinh sản thực sự, con đực và con cái bơi kèm sát nhau Chúng bơi từ

từ gần mặt nước, con đực thường theo sau con cái Khi đẻ trứng, con đực tiếpcận con cái, chạm vào vùng hậu môn của con cái, sau đó tách ra khỏi con cái.Sau thời gian kích thích của con đực, con cái đẻ một lượng nhỏ trứng và con đựcphóng tinh dịch Chúng sẽ trở lại tĩnh lặng trong một thời gian, sau đó trứng vàtinh dịch được phóng ra nhiều hơn Sinh sản này tương tự như của

S.Vermiculatus (Gundermann và ctv., 1983; Popper và Gundermann,1975), S.Canaliculatus trong tự nhiên (Manacop, 1937), và S.rivulatus, S luridus trong

điều kiện nuôi nhốt (Popper và Gundermann, 1975)

Trứng của cá Dìa khi chín có dạng cầu, nhỏ, bám dính mạnh, có nhiều giọtdầu hình cầu, chìm trong nước (Lam, 1974; Leis và Rennis, 1983) trừ trứng của

loài S argenteus là dạng trứng trôi nổi tự do và không bám dính (Burgan và

Zseleczky, 1979; Luchavez và Carumbana, 1982) Manacop (1937) cho rằng sự

cấu tạo lưới ở màng trứng của loài S canaliculatus là nguyên nhân gây ra sự bám dính của trứng Cấu tạo lưới này không thấy rõ ở trứng của S guttatus

(Hara và ctv., 1986) Trứng phát triển nhanh chóng và nở trong 25 đến 32 giờ ở27-29°C (May và ctv., 1974; Popper và ctv,1973; Von Westernhagen và

Rosenthal, 1975) Ấu trùng mới nở có kích thước từ 0,76mm ở S.canaliculatus (Thresher, 1984) đến 2,60mm ở S.fuscescens (Fujita vàUeno,1954) Ấu trùng cá

Dìa là sinh vật phù du và dinh dưỡng bằng noãn hoàng của chúng trong vòng haihoặc ba ngày (Poppervà ctv., 1973) Thời gian trung bình của giai đoạn phù du

khoảng 25 ngày (23ngày đối với S.canaliculatus (May và ctv.,1974); 29ngày đối với S.leneatus (Bryan và Madraisau,1977) Hầu hết các loài cá Dìa có thể đẻ

trứng trong điều kiện nuôi nhốt nhiều tháng trong năm Khả năng đẻ trứng liên

tục quanh năm của S.guttatus ở điều kiện bị giam cầm đã được báo cáo bởi Hara

và ctv(1986) Phát hiện này cho rằng xử lý nội tiết tố (Bryan và ctv, 1975) có thể

Trang 22

không cần thiết nếu cho sinh sản vào đúng những ngày tháng âm lịch Bên cạnh

đó, dinh dưỡng của cá mẹ là một yếu tố thành công tự nhiên (Lam, 1974; Hara

và ctv, 1986)

Người ta đã quan sát hiện tượng sinh sản tự nhiên diễn ra trong điều kiện

nuôi nhốt ở loài S guttatus (Soletchnik, 1984; Juario và cộng sự,1985; Hara và cộng sự,1986) Việc sinh sản tự nhiên diễn ra theo chu kỳ trăng, loài S guttatus

sinh ra vào khoảng 2-3 ngày sau 7 ngày đầu tiên của chu kỳ trăng trong suốt cảnăm (Hara và cộng sự, 1986) Cá Dìa cũng được kích thích đẻ tự nhiên bằng

hoocmôn Đối với cá Dìa (S guttatus) tiêm HCG với liều 2IU/g tỷ lệ cá đẻ là

25% sau 4 lần tiêm (Palma,1978), với Clomiphinecitrate 2IU/g đẻ sau 2 lầntiêm, kết quả phụ thuộc vào đường kính noãn bào (Juario và cộng sự, 1985); VớiHCG 2IU/g đẻ 100% (Ayson 1990,1989); với LRH-a 6,7mg/viên/250g cá, cá đẻ8-9 ngày sau khi cấy hoocmôn dạng viên (Havey và cộng sự, 1985) Trứng xuất

ra trong một đợt sinh sản tự nhiên của loài S guttatus (Soletchnik, 1984) chiếm

khoảng 12% số lượng noãn bào và làm mất 5-10% trọng lượng con cái mỗitháng

Về tập tính sinh sản ở loài S.guttus, Hara và cộng sự (1986) quan sát thấy

con đực đuổi theo và thúc vào bụng con cái Con đực tiếp tục bơi gần con cái,thỉnh thoảng lại thúc lần lượt vào nắp mang, vùng hậu môn và cuống đuôi Concái sau đó đẻ trứng và con đực xuất tinh, cả hai con bơi rất năng động quanh bể.Tất cả những lần quan sát được đều xãy ra vào khoảng giữa những ngày trăngnon và trăng rằm Các kết quả của một nghiên cứu trong một năm về chu kỳ sinh

sản của cá Dìa (S guttatus) ở các vùng nước ở Cebu-Bohol (Philipin) trùng với

quan sát trước đây là cá nuôi nhốt sinh sản trong tuần đầu tiên của chu kỳ trăng(Hara và cộng sự,1986) Hầu hết cá Dìa trong tự nhiên có một mùa đẻ nhất định,

cá Dìa nuôi nhốt sinh sản suốt năm Theo Soletchnik (1984); Hara và cộng sự(1986 ) cá S guttatus ở Philipin đẻ quanh năm

Sự phát triển của phôi phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ và đường kính trứng

Trứng cá S guttatus đã thụ tinh có đường kính 0,46mm mất khoảng 28 - 31 giờ

để nở ở nhiệt độ 25 - 27oC (Palma, 1978), đường kính 0,55mm nở sau 20 - 26giờ ở nhiệt độ 26 - 30oC (Juario và cộng sự, 1985), còn đường kính 0,54 -0,60mm mất 18 - 20 giờ ở nhiệt độ 26 - 28oC (Hara và cộng sự, 1986)

Ấu trùng mới nở thường trôi nổi rất yếu và có chiều dài toàn thânkhoảng 1,5-2,6mm Ruột của chúng thẳng, mắt chưa có sắc tố và miệng

chưa hình thành, ở loài S.guttatus túi noãn hoàng có kích thước 0,70 x 0,24mm và có 2 giọt dầu (Hara và cộng sự, 1986) Ấu trùng của loài S.

guttatus bộc lộ tính ưa ánh sáng và dòng chảy lần lượt thể hiện khi cá đạt chiều

Trang 23

dài toàn thân là 2,6mm và 2,7 mm; tính ưa ánh sáng biến mất ở cỡ 9,2mm Ấutrùng ổn định ở bể đáy ương ở cỡ 19,6mm (Hara,1987).

Ở lần mở miệng đầu tiên, cỡ miệng của S.guttatus chỉ là 0,08mm ở 30,5 giờ

sau khi nở Lần ăn đầu tiên xuất hiện vào 1,5 giờ sau khi mở miệng và thức ăn

ưa thích là luân trùng nhỏ (80 -120m)

2.2 Tình hình nghiên cứu cá dìa ở Việt Nam

2.2.1 Tình hình nghiên cứu họ cá dìa tại Việt Nam

Theo nghiên cứu của các nhà ngư loại học, họ cá Dìa (Siganidae) ở Việt

Nam có 15 loài (danh mục cá biển Việt Nam, 1996) Vùng đầm phá Thừa Thiên

Huế chỉ có 4 loài; S guttatus, S oramin, S.sp, S fusceceus (Nguyễn Văn Tiến,

2000, Võ Văn Phú, Lê Văn Miên, 2001) Trong đó, cá Dìa ( S guttatus) là loài

cá nước lợ điển hình, có giá trị kinh tế nhất, loài này thường gặp ở vùng nướcnông ven bờ Ở vùng đầm phá, chúng phân bố rộng từ cửa biển nơi có nồng độmuối khá cao (>20‰) đến vùng cửa sông, nơi có nồng độ muối thấp (1-2‰),(Võ Văn Phú, 2001) Nhờ sự thích nghi rộng muối và rộng nhiệt, cá Dìa xuấthiện quanh năm và có thể nuôi trên toàn bộ đầm phá

Các nghiên cứu về thành phần thức ăn tự nhiên của cá dìa, đã xác địnhđược 34 loài Trong đó tảo Silic chiếm ưu thế 20 loài Về khối lượng các loàithực vật chiếm ưu thế, ngoài ra còn có một ít động vật có xương sống Phổ thức

ăn của cá phù hợp với thức ăn có trong môi trường (Võ Văn Phú, 2001) Dựavào đặc điểm này có thể thấy cá là đối tượng nuôi thả tốt Các nghiên cứu gầnđây về nguồn lợi cá Dìa cho biết sản lượng cá Dìa trong thời gian qua suy giảm

rõ rệt Nguyên nhân là do người dân sử dụng nhiều loại ngư cụ khác nhau: lướivây, chuôm, te máy, xiết điện …để khai thác quanh năm Đặc biệt nghề đáydùng đụt đáy có mắt lưới quá nhỏ nên hầu hết cá Dìa giống trôi từ biển vào đều

bị chết, làm cho nguồn lợi cá Dìa trong đầm phá gần như cạn kiệt Việc sản xuấtthức ăn và kỹ thuật cho ăn là một trong những khâu quan trọng trong sản xuấtgiống Ngày nay, với nhiều kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất thức ăn nhân tạocho ấu trùng, những loại thức ăn tươi sống như: tảo, luân trùng, giáp xác vàArtemia vẫn được xem là nguồn thức ăn quan trọng và có tiềm năng lớn trongsản xuất giống Nhiều loại tảo đã được nghiên cứu nuôi trong phòng thí nghiệm

và nuôi sinh khối như: Thalasiossirapseudomonas,Skeletonema,

Chaetoceroscalcitrans, Chaetocerosmulleri, Nannochloropsis ocula, Chlorella minutissma, Isochrisis galbana, Pavlova viridi, Phaeodactylum triconutum, Tetraseomis, luân trùng (Brachionusplicatilis), ấu trùng 2 mảnh vỏ, ấu trùng

tôm, cá theo nhiều phương pháp khác nhau

Trang 24

Theo Lê Đức Ngoan và CTV., 2003 có kết quả nghiên cứu khoa học cấp bộ

đã xác định thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá Dìa là 37 chi thuộc 8ngành động vật và thực vật Ở Thừa Thiên Huế, cá Dìa là loài cá nước lợ đặcsản nổi tiếng, có nhiều ở đầm Cầu Hai Giá cá Dìa tại các nhà hàng hiện nay là

từ 130.000-150.000đ/kg, Nguyễn Văn Huy và Nguyễn Văn Huệ, 2007

Báo cáo tổng kết công tác nuôi trồng thủy sản năm 2005 và phương hướngnhiệm vụ kế hoạch năm 2006 của Sở thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế, tỉnh đã pháttriển đa dạng hóa đối tượng, trong lúc tình hình nuôi tôm gặp khó khăn, năm

2006 nhiều địa phương đã mạnh dạn chuyển sang nuôi các đối tượng khác, nghềnuôi cá Dìa, cá Hồng , cá Mú …bằng lồng phát triển mạnh ở vùng gần cửa biển

Tư Hiền, Hải Dương, Lộc Bình,…Tổng số lồng nuôi là 246 cái, sản lượng thuhoạch là 53 tấn Quảng Điền đã thử nghiệm nuôi xen ghép trong ao nuôi tôm cácđối tượng mới như cá Dìa,…có kết quả và mở ra triển vọng phát triển mô hìnhnày đối với các loại ao chìm trên đầm phá hiện nuôi tôm không hiệu quả Năm

2005, trung tâm khuyến ngư đã sản xuất nhân tạo thành công giống cá Dìa, mở

ra hướng mới cho sản xuất cung cấp giống cá Dìa cho nuôi trồng thủy sản năm

2006 đồng thời đưa ra những mô hình mới có kết quả tốt như nuôi tôm Sú kếthợp cá Dìa và trồng rong câu Toàn tỉnh sẽ chuyển đổi đối tượng nuôi thủy sản

từ 15-20 ha ao nuôi vùng hạ triều bị ô nhiễm không nuôi tôm được sang nuôi cáDìa, rong câu và tôm

Tuy nhiên, việc nghiên cứu cá Dìa chưa được công bố nhiều trên các tàiliệu cũng như các phương tiện thông tin mà chỉ là những báo cáo khoa học nhỏ,

lẻ, chưa có hệ thống Người dân đa phần nuôi cá theo kinh nghiệm chứ chưa có

kỉ thuật nuôi hoàn thiện Do vậy cần nhiều hơn sự quan tâm, đầu tư nghiên cứucủa các nhà khoa học Việt Nam Một số thành công bước đầu nghiên cứu về cáDìa ở nước ta:Theo nghiên cứu của các nhà ngư loại học, họ cá Dìa ở Việt Nam

có 15 loài (Danh mục cá biển Việt Nam, 1996) Ở vùng đầm phá Thừa Thiên

Huế có 4 loài (Võ Văn Phú, 2001) Trong đó cá Dìa S Guttatus là loài cá nước

lợ điển hình có giá trị kinh tế nhất, thường gặp ở vùng nước nông ven bờ Vùngđầm phá chúng phân bố rộng từ vùng cửa biển có nồng độ muối cao đến vùngcửa sông nơi nồng độ muối chỉ đạt 1 – 2ppt Nhờ sự thích nghi rộng muối vàrộng nhiệt cá Dìa xuất hiện quanh năm và có thể nuôi trên toàn bộ đầm phá.Theo Lê Thị Nam Thuân (1996) cá Dìa trong điều kiện tự nhiên, chín muồi sinhdục và đẻ vào tháng 4 Chúng có thể đẻ trứng kéo dài và kết thúc vào tháng 8.Một số nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá Dìa như: Dự án sản xuất giống cáDìa do Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện (2003 – 2005)dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia đến từ Trung tâm nghiên cứu ngề cá

Trang 25

Đông Nam Á Nghiên cứu của Lê Văn Dân (2006) về sự phát tiển tuyến sinh dục

cá Dìa, một số chỉ tiêu sinh học sinh sản và nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Dìa ởThừa Thiên Huế Tuy đã có những nghiên cứu về sản xuất giống cá Dìa ở ViệtNam, nhưng đến nay vẫn chưa sản xuất được con giống để cung cấp cho ngườinuôi

2.2.2 Tình hình nghiên cứu cá dìa tại Thừa Thiên Huế

Cá Dìa là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế.Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá Dìa từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau (Lê VănDân và cộng sự, 2006) Cá Dìa có kích thước 1,5 - 5 cm xuất hiện ở đầm pháThừa Thiên Huế từ tháng 3 đến tháng 9, tập trung vào các tháng 3, 4, 5 tại khuvực Tam Giang, Đầm Sam và cửa Tư Hiền

Năm 1980, Hoàng Đức Đạt, Võ Văn Phú nghiên cứu về đặc tính sinh học

của cá Dìa - Siganus guttatus ở đầm phá nam tỉnh Bình Trị Thiên Năm 1991,

Võ Văn Phú dẫn liệu về đặc tính sinh học của một số loài cá kinh tế ở vùng đầmphá tỉnh Thừa Thiên Huế Năm 1995, Võ Văn Phú nghiên cứu khu hệ cá và đặcđiểm sinh học 10 loài cá đầm phá Thừa Thiên Huế Năm 1998, Võ Văn Phúnghiên cứu dẫn liệu bước đầu về đặc tính sinh trưởng và dinh dưỡng của cá Dìa

(Siganus guttatus) ở đầm phá Thừa Thiên Huế Năm 2006, Lê Đức Ngoan nghiên cứu phát triển nuôi cá Dìa (Siganus guttatus) và tôm he Rằn (Peanus

semisulcatus) ở vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lê Đức Ngoan, Lê Văn Dân, 2006 “Nghiên cứu sự phát triển tuyến sinh dục

của cá Dìa (Siganus guttatus, Bloch, 1787) ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế, đã

nghiên cứu được chu kỳ phát dục của noãn sào cá Dìa không rõ ràng, chỉ bắt gặp

cá thành thục vào tháng 3 và tháng 5, tỷ lệ thành thục thấp (8,3%) Trong năm,thời gian thành thục của cá Dìa đực từ tháng 3 đến tháng 7 năm sau, tỷ lệ thànhthục cao vào tháng 3 (72,7%) và tháng 6 (61,5%) Cá Dìa là loài cá đơn tính,trong cấu trúc tế bào học tuyến sinh dục có nhiều tế bào sinh dục phát triển quacác thời kỳ khác nhau, tế bào trứng chín có kích thước khác nhau chứng tỏ cá đẻnhiều đợt, nhiều lần trong năm và thời gian đẻ kéo dài Không tìm thấy tuyến sinhdục của cá Dìa ở giai đoạn V và VI, chứng tỏ cá không sinh sản ở vùng đầm pháThừa Thiên Huế Lê Văn Dân, Lê Đức Ngoan, 2006, Một số tiêu chí sinh sản của

cá Dìa (Siganus guttatus, Bloch, 1787) ở đầm phá Thừa Thiên Huế Lê Văn Dân,

Lê Đức Ngoan, 2006, Kết quả bước đầu về sinh sản nhân tạo cá Dìa (Siganus

guttatus, Bloch, 1787).

“Nuôi cá Dìa giống sinh sản nhân tạo (Siganus guttatus, Bloch, 1787) kết hợp với Rong Câu chỉ vàng (Gracilaria Verrucosa) và tôm sú (Penaeus

Trang 26

monodon)” tại xã Hương Phong, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế do Lê

Thị Bích Thủy nghiên cứu năm 2007 Năm 2007, Nguyễn Thị Thúy Hằng, ChâuThị Tuyết Hạnh nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn công nghiệp và rong biển

(Gracillaria sp) đến sinh trưởng và phát triển của cá Dìa (Siganus guttatus) nuôi

thương phẩm Năm 2008, Nguyễn Văn Huy “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái dinh

dưỡng và khả năng tiêu hóa của cá Dìa (Siganus guttatus) đối với một số loại thức

ăn khác nhau ở đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế Nghiên cứu đặc điểm sinhthái dinh dưỡng của cá Dìa: Vùng phân bố đặc điểm môi trường, thành phần thức

ăn tự nhiên, tập tính ăn

Nguyễn Hữu Khánh, Hồ Thị Bích Ngân, Đặng Đình Dũng, Ngô Nguyên

Đáng đã công bố kết quả thử nghiệm nuôi cá Dìa (Siganus guttatus), cá Kình (Siganus oramin) kết hợp với cá Nâu (Scatophanus argus) và cá Đối (Mugil

cephslus) ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, Thừa Thiên Huế.

Năm 2012, Nguyễn Tý với đề tài nghiên cứu một số ký sinh trùng ngoại ký

sinh trên cá Dìa (Siganus guttatus) giai đoạn cá hương đến cá giống nuôi ở đầm

phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế Phạm Thị Hải Yến xác định tỷ lệ tiêu hóa các

chất dinh dưỡng và axit amin của một số loại thức ăn cá Dìa (Siganus guttatus).

2.2.3 Sự sinh sản nhân tạo cá dìa

Người ta đã quan sát hiện tượng sinh sản tự nhiên diễn ra trong điều kiện

nuôi nhốt ở loài S guttatus (Soletchnik, 1984; Juario và cộng sự,1985; Hara và cộng sự,1986) Việc sinh sản tự nhiên diễn ra theo chu kỳ trăng, loài S guttatus

sinh ra vào khoảng 2-3 ngày sau 7 ngày đầu tiên của chu kỳ trăng trong suốt cảnăm (Hara và cộng sự, 1986) Cá Dìa cũng được kích thích đẻ tự nhiên bằng

hoocmôn Đối với cá Dìa (S guttatus) tiêm HCG với liều 2IU/g tỷ lệ cá đẻ là

25% sau 4 lần tiêm (Palma,1978), với Clomiphinecitrate 2IU/g đẻ sau 2 lầntiêm, kết quả phụ thuộc vào đường kính noãn bào (Juario và cộng sự, 1985); VớiHCG 2IU/g đẻ 100% (Ayson 1990,1989); với LRH-a 6,7mg/viên/250g cá cá đẻ8-9 ngày sau khi cấy hoocmone dạng viên (Havey và cộng sự, 1985) Trứng

xuất ra trong một đợt sinh sản tự nhiên của loài S guttatus (Soletchnik, 1984)

chiếm khoảng 12% số lượng noãn bào và làm mất 5-10% trọng lượng con cáimỗi tháng

Về tập tính sinh sản ở loài S.guttus, Hara và cộng sự (1986) quan sát thấy

con đực đuổi theo và thúc vào bụng con cái Con đực tiếp tục bơi gần con cái,thỉnh thoảng lại thúc lần lượt vào nắp mang, vùng hậu môn và cuống đuôi Concái sau đó đẻ trứng và con đực xuất tinh, cả hai con bơi rất năng động quanh bể.Tất cả những lần quan sát được đều xãy ra vào khoảng giữa những ngày trăng

Trang 27

non và trăng rằm Các kết quả của một nghiên cứu trong một năm về chu kỳ sinh

sản của cá Dìa (S guttatus) ở các vùng nước ở Cebu-Bohol (Philipin) trùng với

quan sát trước đây là cá nuôi nhốt sinh sản trong tuần đầu tiên của chu kỳ trăng(Hara và cộng sự,1986) Hầu hết cá Dìa trong tự nhiên có một mùa đẻ nhất định,

cá Dìa nuôi nhốt sinh sản suốt năm Theo Soletchnik (1984); Hara và cộng sự(1986 ) cá S guttatus ở Philipin đẻ quanh năm

Sự phát triển của phôi phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ và đường kính trứng

Trứng cá S guttatus đã thụ tinh có đường kính 0,46mm mất khoảng 28 - 31 giờ

để nở ở nhiệt độ 25 - 27oC (Palma, 1978), đường kính 0,55mm nở sau 20 - 26giờ ở nhiệt độ 26 - 30oC (Juario và cộng sự, 1985), còn đường kính 0,54 -0,60mm mất 18 - 20 giờ ở nhiệt độ 26 - 28oC (Hara và cộng sự, 1986)

Ấu trùng mới nở thường trôi nổi rất yêú và có chiều dài toàn thânkhoảng 1,5-2,6mm Ruột của chúng thẳng, mắt chưa có sắc tố và miệng

chưa hình thành, ở loài S.guttatus túi noãn hoàng có kích thước 0,70 x 0,24mm và có 2 giọt dầu (Hara và cộng sự, 1986) Ấu trùng của loài S.

guttatus bộc lộ tính ưa ánh sáng và dòng chảy lần lượt thể hiện khi cá đạt chiều

dài toàn thân là 2,6mm và 2,7 mm; tính ưa ánh sáng biến mất ở cỡ 9,2mm Ấutrùng ổn định ở bể đáy ương ở cỡ 19,6mm (Hara,1987)

Ở lần mở miệng đầu tiên, cỡ miệng của S.guttatus chỉ là 0,08mm ở 30,5 giờ

sau khi nở Lần ăn đầu tiên xuất hiện vào 1,5 giờ sau khi mở miệng và thức ăn

ưa thích là luân trùng nhỏ (80 -120m)

2.2.4 Tình hình nuôi cá dìa tại Hải Dương, Hương Trà, Thừa Thiên Huế

Nghề nuôi cá lồng tại đây được hình thành cách đây không lâu và phát triểnmột cách tự phát ở một số hộ gia đình.Vì trước những năm 1990,số lượng và sảnlượng các loài thủy sản ở đây rất phong phú, người ta chỉ cần khai thác là có thể đảmbảo cuộc sống gia đình.Những năm gần đây do việc khai thác quá mức cộng thêmcông tác bảo vệ chưa được coi trọng nên nguồn lợi thủy sản này ngày càng khanhiếm, số lượng các loài tôm, cá ngày càng giảm Tuy nhiên đến mùa sinh sản thì sốlượng các loài cá giống vẫn đáp ứng một phần nhu cầu con giống của ngư dân, nhiềungư dân đả đưa con giống về nuôi trong các lồng quanh phá, nghề nuôi cá lồng đãxuất hiện từ đó

Đối tượng nuôi chính là các loài cá có giá trị kinh tế như cá Mú, cá Hồng, cáChẻm, cá Dìa.Với đối tượng nuôi đa dạng đa dạng như vậy nên nghề nuôi trồng thủysản ở đây phát triển có tính bền vững cao và hiệu quả mang lại cho người dân ngàycàng nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh về diện tích và quy

mô nghề nuôi trồng ở đây

Trang 28

Cá Dìa là đối tượng nuôi cá giá trị kinh tế cao, chất lượng thịt thơm ngon.Nhưng điều kiện quan trọng nhất là cá Dìa có khả năng thích nghi cao với điềukiện môi trường nuôi, đặc biệt là sự thay đổi của nồng độ muối nên đây là đốitượng được người dân rất ưa chuộng đưa vào nuôi.Nguồn giống cá Dìa được thuvào tháng 5 đến tháng 7 âm lịch, dùng lưới, nò sáo để đánh bắt quanh phá, kíchthước cá giống từ 0.5 đến 1cm.

2.2.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên đối với việc phát triển nuôi trồng thủy sản tại vùng ven biển Xã Hải Dương, Thị Xã Hương Trà

Nhìn chung vùng ven biển Xã Hải Dương có môi trường sinh thái phù hợpcho việc phát triển nuôi trồng thủy sản.Tuy nhiên do đặc thù về khí hậu nên có

sự phân mùa sâu sắc, nắng nóng, mưa lũ…đả tác động mạnh đến việc phát triểnnuôi trồng thủy sản ở đây

Đầu năm do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc rét kèm theo mưa kéo dàiđến tháng 4 nên làm cho độ mặn tương đối thấp gây khó khăn cho việc nuôitrồng thủy sản

Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau.Như vậy việc nuôi trồngthủy sản chỉ thuận lợi trong vòng 6 – 7 tháng từ tháng 2 đến tháng 8

Đặc điểm này tạo tính chất căng căng thẳng về thời vụ trong nuôi trồngthủy sản Do vậy, trong xây dựng cần chú ý cao trình để hạn chế ảnh hưởng củathiên tai và xác định lịch thời vụ thích hợp để thu hoạch trước mùa mưa bão

2.3 Một số cơ sở khoa học về nuôi vỗ các loài cá

Sản xuất giống cá trong thực tiễn là thực hiện các biện pháp kỹ thuật sinhhọc nhằm tạo ra thế hệ con có sức sống từ những cá đã trưởng thành để thả nuôi

ở các vùng nước Vì thế nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ là khâu quan trọng đầu tiêntrong quy trình sản xuất giống, làm tiền đề cho những khâu kỹ thuật kế tiếp Sau

đó mới là việc kích thích sinh sản (có thể gồm cả việc gieo tinh nhân tạo), ấptrứng và ương cá mới nở đến khi thành cá giống, nghĩa là có đủ sức sống để thảvào các vùng nước

Nuôi vỗ cá bố mẹ là quá trình cho ăn, chăm sóc, tạo điều kiện thuận lợi cho

sự thành thục, tức là để có buồng tinh (tinh sào) và buồng trứng (noãn sào) pháttriển tốt ở cá đực và cá cái một cách tương ứng vào thời gian thích hợp trongđiều kiện nhân tạo Cá phát triển đầy đủ sẵn sàng chuyển sang tình trạng sinhsản khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi, hoặc được kích thích bằng phươngpháp sinh lý (Nguyễn Tường Anh, 2005)

Trang 29

2.3.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nuôi vỗ cá bố mẹ

Mỗi loài cá đẻ vào một thời vụ khác nhau Quá trình thành thục có tính chu

kì rõ rệt Tính chu kì là sự thích nghi có tính chất di truyền Nghiên cứu tính chu

kì trên, người ta căn cứ vào những vấn đề sau:

2.3.1.1 Về tổ chức tế bào học

Để nuôi cá vào nuôi vỗ đúng thời điểm, cần phải nghiên cứu tổ chức tế bàohọc của tuyến sinh dục

2.3.1.2 Về đặc điểm sinh thái và sinh lý

Vào cuối thu sang đông nhiệt độ nước lớn hơn nhiệt độ sinh học, đôi khinhiệt độ nước nhỏ hơn nhiệt độ sinh học (rất hiếm) cá có hiện tượng tích lũy mỡrất tốt, sự phát triển của buồng trứng hầu như không có Sự trao đổi chất chủ yếu

là đồng hóa mãnh liệt Do đó thời kì này người ta tập trung cung cấp thức ăn tinh cho

cá để cho cá tích lũy vật chất dinh dưỡng một cách cao nhất Sau đó sang mùa xuânnhiệt độ nước tăng lên, đây là điều kiện thích hợp cho quá trình phát triển tuyến sinhdục Sự trao đổi chất chủ yếu ở thời kì này là quá trình chuyển hóa vật chất dinhdưỡng đã tích lũy được cho tuyến sinh dục (Lê Văn Dân và CTV, 2005)

2.3.1.3 Về đặc điểm sinh thái

Buồng trứng của cá cái phát triển theo một quy luật mang tính chất chu kì

rõ rệt Qua nghiên cứu người ta thấy rằng: Khi cá đang thành thục khối lượngbuồng trứng tăng lên rõ rệt Điều này chứng tỏ có sự trao đổi chuyển hóa vậtchất bên trong cơ thể cá Nghiên cứu sự chuyển hóa vật chất trong cơ thể cá làmột yêu cầu cần thiết cho sự phát triển của tuyến sinh dục

Vật chất tích lũy chia làm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn II – III: là giai đoạn sinh trưởng mạnh, tức là quá trình đồnghóa vật chất dinh dưỡng ở cơ và gan cá (lúc này là mùa thu đông) Vì vậy thờigian này cá đòi hỏi rất nhiều thức ăn (đặc biệt là thức ăn giàu protein)

- Bước sang xuân đầu hạ, buồng trứng cá bước sang giai đoạn IV, lúc này

có sự đồng hóa mạnh mẽ ở buồng trứng, đồng thời quá trình dị hóa ở cơ và gan.Đây là quy luật trao đổi chất của cá, đặc biệt đối với cá đã tham gia sinh sản.Biết được quy luật hoạt động của tuyến sinh dục nên trong sinh sản nhântạo người ta nuôi vỗ cá bố mẹ theo 2 giai đoạn

- Giai đoạn nuôi vỗ tích cực: Tạo mọi điều kiện cho cá tích lũy vật chấtdinh dưỡng bằng cách tăng cường cho cá ăn Trong thực tế lấy Ball mỡ làm tiêu

Trang 30

chuẩn, thường kết thúc giai đoạn nuôi vỗ tích cực, cá phải đạt Ball 4 - Ball 5,sau đó chuyển sang giai đoạn tiếp theo.

- Giai đoạn nuôi vỗ thành thục: mục đích giai đoạn này là bằng các yếu tốsinh thái, dinh dưỡng bắt các vật chất dinh dưỡng đã được tích lũy ở giai đoạntrước đó chuyển hóa cho buồng trứng (Lê Văn Dân và CTV, 2005)

2.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài lên sự phát dục tuyến sinh dục của cá bố mẹ được nuôi vỗ

Chế độ dinh dưỡng tốt có thể làm cho cá phát dục, thành thục và sinh sảnsớm Dinh dưỡng ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển tuyến sinh dục của cácloài cá nuôi

Đảm bảo cho sự phát triển tuyến sinh dục cá phải chú ý trên cả hai phươngdiện: số lượng và chất lượng thức ăn phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từngloài cá Nhiều nghiên cứu về thực tế sản xuất đã chứng tỏ rằng, chất lượng thức

ăn có ảnh hưởng rõ rệt đến mùa vụ sinh sản, hệ số thành thục, tỷ lệ thành thục,chất lượng trứng và cá con

Trong tự nhiên nhiều loài cá chỉ đẻ 1 lần trong năm với mùa vụ sinh sảnkéo dài vì không đủ chất dinh dưỡng sau khi đẻ Những cá như thế ngay sau khi

đẻ nếu được nuôi vỗ tốt, đặc biệt là được cung cấp thức ăn đầy đủ cho sự phụchồi sức khỏe và sự tạo trứng tạo tinh thì có thể tái thành thục và sinh sản nhiềulần trong năm Tuy nhiên cũng có những cá chỉ đẻ một lần trong năm với mùa rõrệt và tương đối ngắn

Những cá thành thục trong năm thường có hệ số thành thục lần đầu trongnăm ấy.Vì vậy các yếu tố môi trường và hoạt động nội tiết cá bình thườngnhưng cá có thời gian bắt mồi và tái tích lũy noãn hoàng ngắn trước khi sinh sảnlần sau trong năm

Trang 31

2.3.2.2 Nhiệt độ

Nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đối với các phản ứng hóa học Khi nhiệt độtăng 10°C thì thời gian của phản ứng hóa học rút ngắn còn một nửa Đối với cácphản ứng sinh hóa điều này cũng đúng trong khoảng nhiệt độ thích hợp

Cá là động vật biến nhiệt, nhiệt độ môi trường quyết định sự hoạt độngchung và nhất là sự dinh dưỡng của cá Ở nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao, cákhông bắt mồi được, dự trữ mỡ cạn kiệt thì tuyến sinh dục là nguồn chất dự trữ duytrì sự sống của cá.Trong trường hợp này, tuyến sinh dục ngưng phát triển và tiêubiến, sự sinh sản bị ảnh hưởng xấu

Đối với mỗi loài cá có một khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triểntuyến sinh sục và sinh sản Ngoài khoảng nhiệt độ ấy, cá có thể sống nhưngkhông thành thục và sinh sản được Điều này có liên quan đến sự phân bố địa lýcủa loài

Đối với những loài cá có sự di cư sinh sản thì có thể có sự khác biệt nhiệt độthích hợp với sự phát triển của tuyến sinh dục, nhiệt độ thích hợp cho sự đẻ trứng.Trong phạm vi nhiệt độ thích hợp thì nhiệt độ càng cao càng rút ngắn thờigian nuôi vỗ cá bố mẹ Nikonski (1967) cho biết “Mỗi giai đoạn phát triển của

cá thể nói chung và buồng trứng nói riêng đòi hỏi mức nhiệt độ khác nhau Khinhiệt độ thấp thích hợp cho sự sinh trưởng và tích lũy vật chất dinh dưỡng, cònkhi nhiệt độ cao lại thích hợp cho quá trình thành thục của tuyến sinh dục”

2.3.2.3 Quang kỳ

Quang kỳ hay chu kỳ quang là thời gian có ánh sáng trong 24 giờ liên tục.Nói đơn giản, quang kỳ trong tự nhiên là thời gian ban ngày trong một ngàyđêm, tổng thời gian của quang kỳ và thời gian ban đêm tương ứng là 24 giờ.Bằng thực nghiệm người ta chứng minh được rằng sự phát triển tuyến sinh

dục của những loài cá Hồi (Salmonidae) và nhiều loài cá biển chịu ảnh hưởng

của sự biến động về quang kỳ Đối với những loài cá như thế trong tự nhiên sựthành thục diễn ra sớm khi quang kỳ giảm thì việc giảm thời gian chiếu sáng banngày làm cho cá thành thục và rụng trứng sớm hơn

2.3.2.4 Dòng nước

Trong tự nhiên nhiều loài cá có sự di cư sinh sản ngược dòng và có bãi đẻ ởthượng nguồn các con sông thì rất cần dòng nước cho sự thành thục và sinh sản

Trang 32

Đối với cá bố mẹ khi nuôi vỗ tuyệt đối không để cá nổi đầu, dẫn đến cáchậm thành thục, khi tuyến sinh dục cá phát triển từ giai đoạn III – IV – V, cá cócường độ trao đổi chất lớn, đòi hỏi hàm lượng ôxy hòa tan trong nước rất cao.Như vậy, vai trò của dòng nước đối với sự thành thục của cá là rất quantrọng, chính vì vậy mà các loài cá ở tự nhiên sinh sản khi có sự thay đổi về dòngnước, chất nước và thường tập trung vào mùa mưa Trong quá trình di cư ngượcdòng đi đẻ, cường độ bắt mồi của cá giảm dần theo sự phát triển của buồngtrứng, theo đó độ béo của cá cũng giảm do sự chuyển hóa chất dinh dưỡng chobuồng trứng.

Từ lý luận và thực tiễn sản xuất giống của nhiều loài cá cho thấy rằng:những ao thường xuyên kích thích nước cá sẽ thành thục tốt, sức sinh sản cao,chất lượng trứng và ấu trùng tốt Cũng có thể giải thích hiệu quả của kích thíchnước là khi dùng dòng nước để kích thích cá trong ao tức là sử dụng biện pháptổng hợp để làm thay đổi toàn bộ điều kiện trong ao nuôi Việc thay nước mớitrong ao còn tạo điều kiện cho sự vận động, chuyển hóa các chất dinh dưỡng đãtích lũy sang tế bào trứng Biện pháp thay nước mới hoặc kích thích bằng dòngnước đặc biệt quan trọng đối với những ao nuôi vỗ cá bố mẹ có mật độ cao, diệntích nhỏ và độ sâu của ao thấp

Nhìn chung, có thể nói các yếu tố bên ngoài, các yếu tố hữu sinh và vô sinhcủa môi trường là rất quan trọng liên quan đến sự thành thục và sinh sản của cá

và được coi là khâu đầu tiên trong những tác nhân dẫn đến sự sinh sản cá

Trang 33

PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá Dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787)

3.2 Thời gian và địa điểm nhiên cứu.

3.2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ ngày 14/3/2016 đến ngày 22/05/2016

3.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Xã Hải Dương,thị xã Hương Trà,tỉnh Thừa Thiên Huế

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Bố trí thí nghiệm để xác định ảnh hưởng của thức ăn đến kết quả nuôi vỗ

- Trong thí nghiệm này sử dụng 2 lồng nuôi có kích thước 2m x 2m x 1(cácyếu tố môi trường về nhiệt độ, độ mặn và pH giống nhau) Mật độ ban đầu là 20con/lồng

- Nuôi vỗ cá bố mẹ: Cá nuôi có trọng lượng trung bình 550g Trong quátrình nuôi sử dụng thức ăn Công ty LDHH thức ăn thủy sản Việt Hoa

- Sử dụng 2 công thức ăn như sau:

+ Nghiệm thức I : Thức ăn công nghiệp + dầu mực (tỉ lệ 20ml dầu mực/1kgthức ăn) + mực tươi

+ Nghiệm thức II: Chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp

- Chế độ cho ăn thỏa mãn nhu cầu

Trang 34

Hình 2.2 Lồng nuôi cá Dìa bố mẹ

3.3.2 Xác định tuổi và trọng lượng thành thục

Trong các lồng nuôi hàng tháng tiến hành kiểm tra để xác định tuổi vàtrọng lượng thành thục lần đầu của cá Dìa bố mẹ

Định kì 15 ngày bắt cá lên đo các tiêu chí về trọng lượng và chiều dài của

cá để đánh giá tình hình phát triển của cá

3.3.3.Xác định các chỉ số về sinh sản

- Các công thức tính các chỉ tiêu sinh học theo Pravdin (1973) và NguyễnTường Anh (2008)

- Tuổi và kích thước thành thục lần đầu

Tính tuổi cá: dựa vào thời gian nuôi và vẩy cá

- Mùa vụ sinh sản: được xác định bắt đầu khi noãn sào và tinh sào đạt giaiđoạn IV (cá thành thục) Noãn sào có chứa các tế bào trứng ở thời kỳ trứng chín

và tinh sào có chứa tinh trùng.Trong nghiên cứu dựa vào đặc điểm tổ chức tếbào học hoặc dựa vào việc thăm trứng và vuốt sẹ để xác định

Ngày đăng: 06/10/2016, 11:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm - Nghiên cứu kỹ thuật  nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (siganus guttatus) tại thừa thiên huế
Bảng 4.1. Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm (Trang 40)
Hình 4.3. Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10 x10) - Nghiên cứu kỹ thuật  nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (siganus guttatus) tại thừa thiên huế
Hình 4.3. Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10 x10) (Trang 45)
Hình 4.5. Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn I (độ phóng đại 10x10) - Nghiên cứu kỹ thuật  nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (siganus guttatus) tại thừa thiên huế
Hình 4.5. Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn I (độ phóng đại 10x10) (Trang 46)
Hình 4.6. Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn II (độ phóng đại 10x10) - Nghiên cứu kỹ thuật  nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (siganus guttatus) tại thừa thiên huế
Hình 4.6. Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn II (độ phóng đại 10x10) (Trang 47)
Hình 4.7. Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10x10) - Nghiên cứu kỹ thuật  nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (siganus guttatus) tại thừa thiên huế
Hình 4.7. Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10x10) (Trang 48)
Bảng 4.2: Tỷ lệ thành thục của cá Dìa sau 2 tháng nuôi vỗ - Nghiên cứu kỹ thuật  nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (siganus guttatus) tại thừa thiên huế
Bảng 4.2 Tỷ lệ thành thục của cá Dìa sau 2 tháng nuôi vỗ (Trang 49)
Bảng 4.2: Tuổi và kích thước cá bố mẹ thành thục lần đầu trong điều kiện nuôi - Nghiên cứu kỹ thuật  nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (siganus guttatus) tại thừa thiên huế
Bảng 4.2 Tuổi và kích thước cá bố mẹ thành thục lần đầu trong điều kiện nuôi (Trang 52)
Bảng 4.4 : Hệ số thành thục của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ - Nghiên cứu kỹ thuật  nuôi vỗ cá dìa bố mẹ (siganus guttatus) tại thừa thiên huế
Bảng 4.4 Hệ số thành thục của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w