Muốn đạt hiệu quả trong việc sử dụng các vật chất dinh dưỡng trong khẩuphần thức ăn, thì việc xác định tỷ lệ giữa năng lượng với các vật chất dinhdưỡng đúng và phù hợp cho sinh lý pháy t
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 3DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Trang 4PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi gia cầm là nghề truyền thống lâu đời của các hộ gia đình ởvùng nông thôn Việt Nam Chăn nuôi gia cầm đóng vai trò quan trọng trong nềnkinh tế quốc gia nói chung và kinh tế của các hộ gia đình nói riêng Nghànhchăn nuôi gia cầm đóng góp 1,5% tổng giá trị quốc nội (GDP) thu từ chăn nuôinói chung và chiếm 28,58% tổng thu thập Trong đó thu từ chăn nuôi gia cầmchiếm 35,54% tổng thu từ chăn nuôi Tỷ lệ các hộ chỉ chăn nuôi gà chiếm phầnlớn 63,7%
Tổng số gia cầm của cả nước có 347 triệu con, tăng khoảng 2% trong đó
số lượng gà tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2015 Sản lượng thịt gia cầm hơi Quí
I ước tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước Sản lượng trứng gia cầm ước tăng7,2% so với cùng kỳ năm 2015
Trong bối cảnh chăn nuôi gia cầm hiện nay ở Việt Nam, ngành chăn nuôinước ta muốn tồn tại và phát triển bền vững phải tăng sức cạnh tranh đối với cácsản phẩm thịt nhập khẩu ngay trên thị trường nội địa Để tăng tính cạnh tranhcần thiết phải nâng cao chất lượng thịt nội địa, hạ giá thành chăn nuôi, tạo ra giábán cạnh tranh trên thị trường
Gà Ri Thuần là giống gà bản địa rất dễ nuôi, nhanh được thu hoạch (180ngày), chất lượng thịt thơm ngon và phù hợp với chăn nuôi ở các vùng nôngthôn Theo ông Hồ Xuân Tùng Giống gà Ri Thuần đang được người tiêu dùngcủa người Việt Nam và đang được nhiều hộ chăn nuôi lựa chọn [19]
Muốn bán được sản phẩm và thu được lợi nhuận thì ngoài việc giảm tối
đa chi phí thức ăn, sản phẩm của chúng ta phải sạch và có chất lượng cao Nhậnthấy rằng khi sử dụng chế phẩm bổ sung vào nguyên liệu phối trộn trong khẩuphần ăn cho gia cầm, giúp ta giảm được chi phí thức ăn và tạo ra sản phẩm sạchkhông bị tồn dư hoá chất, chất kích thích tăng trọng và kháng sinh trong thịt Vìthế việc sử dụng chế phẩm sinh học bổ sung vào nguyên thức ăn cho gà nhằmnâng cao sức đề kháng đang được nhiều người quan tâm
Tỏỉ và mật bò là nguồn nguyên liệu dễ thu mua Tỏi có tác dụng trongviệc phòng chống một số bệnh, trong khi mật bò có chứa các axit hữu cơ giúptiêu hóa các chất béo ở ruột non
Trang 6Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của chế phẩm có chứa mật bò và tỏi đến khả năng sinh trưởng của gà
Ri Thuần nuôi tại Thừa Thiên Huế’’.
1.2 Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm có chứa mật bò và tỏiđến khả năng sinh trưởng, thành tích thịt và chất lượng thịt của gà Ri Thuần
Trang 7PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam và Thừa Thiên Huế
2.1.1 Tình hình chăn nuôi gia cầm trong nước
Chăn nuôi gia cầm là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị tríquan trọng thứ hai (sau chăn nuôi lợn) trong toàn nghành chăn nuôi của ViệtNam Hằng năm gia cầm cung cấp khoảng 350 – 450 ngàn tấn thịt và hơn 2,5 –3,5 quả trứng Tuy nhiên, chăn nuôi gà ở nước ta vẫn đang trong tình trạng sảnxuất nhỏ, lẻ và phân tán, lạc hậu, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều, sản phẩmhàng hoá còn nhỏ bé Bình quân năng lượng thịt xẻ chỉ đạt 4,5 – 5,4 kg/người/năm và bình quân sản lượng trứng đạt 3,5kg/người/năm Sản xuất chưatương xứng với tiềm năng, sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội Mộtlượng sản phẩm chăn nuôi gà nhập khẩu từ nước ngoài về dù thuế suất nhất địnhnhưng các sản phẩm nhập khẩu vẫn từng bước chiếm lĩnh một phần thị trườngViệt Nam
Bảng 2.1.1 Số lượng gia cầm theo khu vực từ năm 2011-2015
314,755
327,696
341,906
ĐB Sông Cửu Long 56,514 60,683 58,703 23,468 58,459
Chăn nuôi gia súc, gia cầm chuyển dịch theo hướng tích cực, từ chăn nuôinhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứngdụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế Theo kết quả điều trachăn nuôi tại thời điểm 01/10/2015, đàn trâu cả nước có 2,5 triệu con, tăng 0,1%
Trang 8so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 5,4 triệu con, tăng 2,5%, riêng đàn bòsữa đạt 275,3 nghìn con, tăng 21% Đàn lợn có 27,7 triệu con, tăng 3,7%; đàn giacầm có 341,9 triệu con, tăng 4,3% Sản lượng thịt hơi các loại năm nay ước tínhđạt khá, trong đó sản lượng thịt trâu đạt 85,8 nghìn tấn, tăng 0,1%; sản lượng thịt
bò đạt 299,3 nghìn tấn, tăng 2,2%; sản lượng thịt lợn đạt 3,5 triệu tấn, tăng 4,2%;sản lượng thịt gia cầm đạt 908,1 nghìn tấn, tăng 3,8%.Tổng cục thống kê
Bảng 2.1.2 Sản lượng thịt hơi xuất chuồng của Việt Nam từ năm 2011-2015
Qua bảng số lượng gia cầm phân bố theo khu vực cho thấy, năm 2011 đầngia cầm phân bố nhiều nhất ở khu vực Sông Hồng với 76,075 nghìn con, đứngthứ hai là khu vực Trung Du và miền núi Phía Bắc với 60,268 nghìn con, sốlượng gia cầm thấp nhất qua các năm vẫn là khu vực Tây Nguyên Số lượng đàngia cầm ở khu vực tăng, giảm nhẹ qua từng năm đặc biệt từ năm 2013 đàn giacầm ở hầu hết các khu vực đều tăng mạnh Tổng đàn từ 293,722 triệu con năm
2011 tăng lên 341,906 triệu con năm 2015, tăng bình quân 85,9% /năm Vùng cóđàn gia cầm lớn nhất là Đồng Bằng Sông Hồng 90,948 triệu con, chiếm 26,6%tổng đàn gia cầm cả nước; tiếp đến Trung Du và Miền Núi Phía Bắc 70,567 triệucon, chiếm 20,6%; Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung 71,135 triệu con,chiếm 20,8%; Đồng Bằng Sông Cửu Long 58,459 triệu con, chiếm 17%; ĐôngNam Bộ 34,306 triệu con, chiếm 10%; Tây Nguyên 16,490 triệu con, chiếm4,8%
Trang 9Bảng 2.1.3 Sản lượng trứng của Việt Nam từ 2011-2015
(Đơn vị: Nghìn quả)
Cả nước 21522,4 393295,6 2345175,6 4540629,1 516902,3
ĐB Sông Hồng 69429,7 1566266,7 876626,7 1785724,5 1697555,6 Trung Du và miền
núi Phía Bắc 25572,1 578972,3 306728,9 616224,5 652789,1BTB và Duyên
Hải Miền Trung 31111,9 320381,2 354389,1 687484,5 811374,5Tây Nguyên 18295,6 154953,4 178435,6 283964,5 319972,3 Đông Nam Bộ 29986,7 345684,5 363352,3 666991,2 799316,5
ĐB Sông Cửu
Long 40828,9 248687,8 265625,6 500242,3 86242,3
]Về sản lượng sản phẩm chăn nuôi gia cầm gần đây được quan tâm và đầu
tư khá đồng bộ cả về giống, kỹ thuật và phương thức chăn nuôi, nên sản lượngthịt và trứng gia cầm năm sau luôn cao hơn năm trước với tỷ lệ tăng rất cao, cụthể là sản lượng thịt gia cầm sản xuất trong nước từ 28.023,9 ngàn tấn năm 2011tăng lên 70.087,4 ngàn tấn năm 2015, tăng bình quân 39,9%/năm Năm 2015,vùng có sản lượng thịt gia cầm cao nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long là55.589,4 ngàn tấn, chiếm 79,3% tổng sản lượng của cả nước, tiếp đến là vùngĐồng Bằng Sông Hồng là 22.433,6 ngàn tấn, chiếm 32%; vùng Đồng Nam Bộ là11.898,3 ngàn tấn, chiếm 16,9%; Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung là11.701,2 ngàn tấn, chiếm 16,6%,; Miền Núi và Trung Du là 11697,4 ngàn tấn,chiếm 16,6%; Tây Nguyên 3.732,5 ngàn tấn , chiếm 5,3%
Tổng sản lượng trứng gia cầm từ 21522,4 tỷ quả năm 2011 tăng lên51690,3 tỷ quả năm 2015, tăng bình quân 41,6% /năm Vùng có sản lượng trứnggia cầm cao nhất là Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung là 81137,5 triệuquả, chiếm 156,9% Tổng sản lượng trứng gia cầm cả nước; tiếp đến là vùngĐông Nam Bộ 79931,7 triệu quả, chiếm 154,5%; Miền Núi và Trung Du là65278,10 triệu quả, chiếm 126,2%; Tây Nguyên là 31997,3 triệu quả, chiếm61,9%; Đồng Bằng Sông Hồng là 16975,6 triệu quả, chiếm 32,8%; Đồng BằngSông Cửu Long 8624,3 triệu quả, chiếm 16,6%
Trang 10Chăn nuôi gia cầm phát triển tương đối tốt do dịch cúm gia cầm đã đượckhống chế và thời gian quay vòng ngắn nên việc khôi phục, phát triển khá thuậnlợi, Tuy nhiên hiện tại thời tiết nắng nóng cũng làm ảnh hưởng đến sự sinhtrưởng, phát triển của đàn gia cầm là nguy cơ tiềm ẩn gây bùng phát dịch bệnh.
2.1.2 Tình hình chăn nuôi gia cầm ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là một tỉnh có nhiều phong tục như cúng giỗ, lễ hội, phongtục cưới hỏi và các món ăn được chế biến từ gà, vịt thường mọi người yêu thích,điều này đã góp phần thúc đẩy chăn nuôi gia cầm ở địa phương phát triển
* Mục tiêu đạt ra của tỉnh trong năm 2015 về chăn nuôi gia cầm như sau:Phấn đấu đạt chỉ tiêu về số lượng đàn gia cầm gần 4 triệu con Tổng sảnlượng thịt hơi gia cầm: 9.100 tấn, sản lượng trứng: 50 triệu quả
Bảng 2.1.2 Mục tiêu của tỉnh chăn nuôi gia cầm đến năm 2015
Chỉ tiêu Số lượng đến năm 2015 Tăng hàng năm
Qui hoạch chăn nuôi trang trại gia cầm tập trung: các trại gà được bố trí ở
32 xã thuộc 8 huyện với diện tích 60 ha (trong đó 5 xã huyện A Lưới gia trại);trang trại vịt bố trí ở 30 xã thuộc 6 huyện với diện tích 167 ha
Giải pháp về giống vật nuôi: Phát triển các cơ sở sản xuất giống gia cầm
có qui mô vừa và lớn trong cùng qui hoạch trang trại, gắn với đổi mới hệ thốngchăn nuôi gia cầm
Phát triển chăn nuôi gia cầm theo phương thức thâm canh công nghiệp; sửdụng các giống gia cầm chuyên dụng như gà, vịt chuyên trứng, gà kiêm dụngtrứng thịt, gà thả vườn nhập nội Chuyển dần từ hình thức chăn nuôi gia cầmphân tán theo phương thức chăn nuôi công nghiệp
Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tháng Một năm 2016 tươngđối ổn định và phát triển Tính đến thời điểm 01/01/2016 tổng đàn trâu toàn tỉnhđạt 21.614 con, xấp xỉ tháng trước và tăng 0,13% so với cùng kỳ năm trước; đàn
bò 25.437 con, tương ứng tăng 0,16% và tăng 13,31%; đàn lợn đạt 202.358 con,tăng 0,15% và tăng 2,29% Đàn gia cầm thời điểm 01/01/2016 đạt 2.214 nghìncon, xấp xỉ tháng trước và tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước; trong đó đàn
gà 1.538 nghìn con, xấp xỉ tháng trước và tăng 0,2% so cùng kỳ năm trước
Trang 11Chăn nuôi lợn và gia cầm tương đối ổn định và phát triển do thời tiết thuận lợicho việc phát triển đàn, công tác vệ sinh môi trường chăn nuôi được cải thiệntích cực, hầu hết các cơ sở chăn nuôi đều có ý thức trong việc phòng bệnh chogia súc, gia cầm.Tính đến 15/01/2016 trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh ởđàn gia súc, gia cầm Công tác tiêm phòng gia súc, gia cầm vụ Xuân 2016 đãđược các địa phương triển khai, tính đến 15/01/2016 đã tiêm dịch tả tam liên lợnđược 10.540 liều vaccine, đạt 9% so với kế hoạch; tụ huyết trùng trâu bò 300liều, đạt 1% kế hoạch; dịch tả vịt 20.000 liều, đạt 4% kế hoạch; 5.800 liều đậu
gà, đạt 4% kế hoạch
2.2 Đặc điểm một số giống gà thả vườn ở Việt Nam
Xu thế gần đây khá nhiều hộ chăn nuôi gà thịt lựa chọn phương thức chănnuôi gà theo hướng thả vườn, bởi thực tế cách chăn nuôi trên có nhiều ưu điểm vàmang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi Chăn nuôi gà thả vườn cónhững đặc trưng cụ thể sau: Có thể nuôi theo hướng công nghiệp hoặc bán côngnghiệp; khả năng chống chịu bệnh tốt và tăng trọng khá; nhu cầu tiêu thụ loại gànày trên thị trường ngày càng tăng và đặc biệt là phù hợp với điều kiện đầu tư hạnchế Gà thả vườn có nhiều ưu điểm Cụ thể: Gà có sức đề kháng cao, ít bệnh tật,đặc biệt có khả năng chịu được thời tiết nóng Gà có tốc độ tăng trưởng vừa phải
Ngoại trừ 3 tuần đầu, thức ăn nuôi gà không đòi hỏi dinh dưỡng cao Sau3-4 tuần nuôi dạng công nghiệp, gà có thể thả ra vườn mà sức khỏe của gà vẫntốt, ít bệnh, chi phí đầu tư thấp Trên thị trường có nhiều giống gà để người chănnuôi lựa chọn gà Và dưới đây là đặc điểm của một số giống gà thả vườn như: gàLương Phượng, gà Ri, gà Tam Hoàng, gà Mía, gà Tre, gà Minh Dư, nhóm gà lai
2.2.1 Đặc điểm giống gà Lương phượng
Gà Lương Phượng có nguồn gốc từ Quảng Tây, Trung Quốc Chúng sởhữu màu lông hoa mơ sọc đen, mào và yếm, tích tai màu đỏ, da vàng Thời giannuôi giống gà này khoảng 150-155 ngày, chúng sẽ đẻ quả trứng đầu tiên, sảnlượng đạt từ 160-170 quả/mái/năm Lúc 70 ngày tuổi, lượng kg trung bình của
gà đạt trên 2kg/con gà trống và 1,8kg/con gà mái, mức tiêu tốn thức ăn khoảng
từ 2,4 – 2,6kg thức ăn/kg tăng trọng Gà Lương Phượng là giống gà khá dễ nuôi,tăng trọng nhanh và thịt thơm ngon Về sức đề kháng bệnh tật cũng rất tốt và cóthể thích nghi ở nhiều phương thức nuôi khác nhau, không nhất thiết là phảinuôi thả vườn
Trang 132.2.2 Đặc điểm giống gà Tam Hoàng
Nguồn gốc: xuất xứ từ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc
Đặc điểm ngoại hình: Gà có đặc điểm lông, da, chân màu vàng Cơ thểhình tam giác, thân ngắn, lưng phẵng, ngực nở, thịt ức nhiều, hai đuồi phát triển
Chỉ tiêu kinh tế: Gà nuôi đến 70 – 80 ngày tổi đã có thể đạt trọng lượng1,5 – 1,75 kg tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng trong là 2,5 – 3 kg Gà mái bắtđầu đẻ vào khoảng 125 ngày tuổi Sản lượng trứng đạt 135 quả/năm, trọnglượng gà mái trưởng thành 1,8 – 2,0 kg, gà giống là 2,2 – 2,8 kg Gà có nhữngđặc điểm rất giống với gà Ri ở nước ta, phẩm chất thịt thơm ngon, phù hợp vớiđiều kiện chăn thả ở Việt Nam cũng như nuôi công nghiệp và bán công nghiệp
Tuy nhiên gà Tam Hoàng được nhập vào nước ta theo nhiều nguồn,thường ít khi được thuần nhất và đạt tiêu chuẩn giống Do đó người nuôi phảihiểu biết và mua đúng giống thì nuôi mới đảm bảo
2.2.3 Đặc điểm giống gà Mía
Gà Mía có màu lông đặc trưng cho giống: đó là màu lá mía khô đối vớicon mái, màu lông đen xen kẽ cườm đỏ xẫm ở cánh và đuôi đối với con trống.Tốc độ mọc lông chậm, đến 15 tuần tuổi gà mới phủ kín lông ở gà trống và100% số gà là mào đơn
Thể trọng gà Mía nuôi sinh sản lúc 19 tuần tuổi ở con trống đạt 2,0kg, conmái đạt 1,4 kg và lúc 36 tuần tuổi ở con trống đạt 3,15 kg và con mái đạt 2,05
kg Tiêu tốn TA nuôi gà giống ở giai đoạn gà con và hậu bị (0-22tuần tuổi) là8,26kg/1 gà, ở giai đoạn đẻ trứng tiêu tốn TA cho 10 trứng (bình quân cho 33tuần đẻ) là 3,2kg
Gà Mía đẻ quả trứng đầu lúc 133 ngày tuổi và đạt tỷ lệ đẻ 5% lúc 165ngày tuổi Tỷ lệ đẻ cao nhất là 42% và tỷ lệ đẻ bình quân cho cả giai đoạn (33tuần lễ) là 32,75%, SL trứng đến 55 tuần tuổi là 75,65 quả/mái, tỷ lệ trứng cóphôi là 89,9%, tỷ lệ ấp nở là 71,9%
Tỷ lệ nuôi sống của gà Mía thương phẩm thịt đến 12 tuần tuổi đạt 96%.Chi phí TA cho 1 kg TT là 2,99kg, thể trọng lúc 12 tuần tuổi ở con trống1,4kg;
ở con mái 1,06kg Tỷ lệ thân thịt ở con trống 84,2%, ở con mái 78,5%; tỷ lệ thịtđùi ở con trống 29,9%, ở con mái 27,8%; tỷ lệ thịt lườn ở con trống 22,5%, ởcon mái 24,8%; tỷ lệ mỡ bụng ở con trống 1,7%, ở con mái 3,2% (Thông tinkhoa hoc kỹ thuật CN số 5-2003)
Trang 142.2.4 Đặc điểm giống gà Tre
Có thể nói đây là giống gà nhỏ nhất Việt Nam nếu không tính đến cácgiống gà cảnh ngoại nhập Gà mái có trọng lượng từ 800 gam đến 900 gam,
gà trống nặng từ 1200 gam đến 1300 gram Màu lông của gà tre hiện nay rất
đa dạng về màu sắc nhưng có thể đó là sản phẩm của sự lai tạo với các giống
gà khác
Gà có thể trưởng thành sau sáu tháng nuôi tuy nhiên để thật sự thành thụcthì phải sau tám tháng với gà mái và một năm đối với gà trống Khả năng đẻtrứng của gà mái có sự thay đổi tùy theo cá thể Nếu để sinh sản tự nhiên gà đẻkhoảng năm đến bảy lứa một năm Nếu ta lấy trứng không cho gà ấp thì mỗi lứatrứng sẽ cách nhau từ hai mơi đến ba mươi ngày Số lượng trứng mỗi lúa thườngtrên dưới mười quả, một số cá thể có thể đẻ liên tục hai mươi quả trên một lứa.Tuy nhiên đây là giống gà ít được nuôi phổ biến nên một số trường hợp bị thoáihóa do cận huyết sốtrứng mỗi lứa có khi chỉ là năm sáu quả mà thôi, thậmchí gà đẻ không liên tục (Ts Đinh Công Tiến)
Gà tre thuần chủng có sức đề kháng khá tốt đối với dịch bệnh, tuynhiên gà con thường yếu trong giai đoạn tháng đầu tiên sau khi nở
2.2.5 Đặc điểm giống gà Minh Dư
Gà Minh Dư có nguồn gốc từ gà Bình Định do ông Lê Văn Dư, Giám đốcCông ty giống gia cầm Minh Dư ở thôn Quỳnh Mai, xã Phước Nghĩa, huyệnTuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh thành lập
Công ty giống gia cầm Minh Dư được thành lập từ cuối năm 2006 trên cơ
sở một trại gà giống gia đình Hiện tại công ty có hơn 40 nghìn con giống ônhg
bà, bố mẹ Mỗi tháng sản xuất hơn 400 nghìn con giống cung cấp cho ngườichăn nuôi
Giống gà này được nuôi và chọn lọc từ gà địa phương Bình Định Gàđược chọn là những con mái không biết ấp và qua nhiều thế hệ chọn lọc cho nêngiống gà Minh Dư hiện tại
Gà có đăc điểm da vàng, chân vàng, lông có nhiều màu sắc khác nhaunghiêng về màu khói xẫm pha một ít long nâu đỏ cánh gián Sản lượng trứng
150 trứng/mái/năm Gà dễ nuôi sức đề kháng tốt, tiêu tốn thức ăn ít (2,8kg thức
ăn cho một kg tăng trọng) Gà nuôi thịt đạt trọng lượng là 1,6 đến 1,8 kg tuỳtheo con mái hay con trống chỉ sau ba tháng nuôi
Trang 152.2.6 Đặc điểm của giống gà Ri
Gà Ri là giống gà địa phương có từ lâu đời trên đất nước ta và được nuôiphổ biến khắp mọi miền đất nước ta Gà Ri phổ biến nhất ở miền Bắc nước ta và
ở miền Trung, còn ở miền Nam ít hơn
Đặc điểm ngoại hình: Qua nhiều năm, gà Ri bị pha tạp nhiều sắc lôngkhông đồng nhất, gà mái không đồng nhất, vàng rơm, vàng đất, có đốm đen ở
cổ, đuôi và đầu cánh Bộ lông của gà trống màu đỏ tía, đuôi đen có ánh xanh,mào sớm phát triển, ba tháng đã biết gáy Đầu thanh đa số mào đơn (95%) Dachân vàng, chân có hai hàng vẩy, thịt vàng, vẩy chân có khi màu đen gọi là chânchì Gà Ri mọc lông sớm chỉ hơn một tháng gà con đã mọc lông như gà trưởngthành
Khối lượng cơ thể lúc mới nở là 28g (Theo sử An Ninh và đồng 2003), lúc 4 tháng tuổi gà trống đạt trung bình 1,7kg, gà mái 1,2kg Thời gian
nghiệp-đạt trọng lượng thịt khoảng 4-5 tháng, sản lượng trứng 120-150 quả/mái/năm.Nếu nuôi tốt, thực hiện chế độ cai ấp thì có thể cho sản lượng 164-182
quả/mái /năm (Theo kết quả viện nghiên cứu chăn nuôi-1970) Khối lượng trứng
40-45g, tỷ lệ trứng có phôi đạt 89-90%,tỷ lệ nở trứng ấp: 94%, tỷ lệ nuôi conđến hai tuần tuổi là 98%
Ưu điểm nổi bật nhất của gà Ri là mọc lông, phát dục sớm, thịt trứngthơm ngon, thích nghi với khí hậu nhiệt đới, Á nhiệt đới, ít mẫn cảm với bệnhcầu trùng, bạch lỵ, đường hô hấp
Gà Ri có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên sớm khoảng 135-140 ngày Sảnlượng trứng một năm đạt từ 80-120 quả/mái Trứng có khối lượng bé 42-45gam, vỏ trứng màu nâu nhạt; tỷ lệ trứng có phôi 89-90%, tỷ lệ ấp nở 80-85%.Lúc mới nở gà Ri đạt 25-28 gam Lúc bắt đầu đẻ, khối lượng gà mái khoảng1200- 1300 gam; lúc trưởng thành đạt 1700- 1800 gam và gà trống đạt 2200-
2300 gam Chất lượng thịt gà Ri thơm ngon và đậm đà Gà Ri có ưu điểm nổibật là cần cù, chịu khó kiếm ăn, sức chống chịu với thời tiết và bệnh tật cao,
gà ấp và nuôi con khéo
Một ưu điểm nữa của gà Ri so với các giống gà lông màu nhập nội là cóthể khai thác gà mái ở năm đẻ thứ hai thậm chí năm đẻ thứ ba Với khẩu phần
Trang 16thức ăn nghèo dinh dưỡng (13 -14% đạm) vẫn nuôi được gà Ri đẻ trứng Vớinhững ưu điểm nêu trên, bao đời nay gà Ri là giống vật nuôi phổ biến ở nôngthôn nước ta (Nhà xuất bản Nông Nghiệp, 2001).
2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm
2.3.1 Nhu cầu năng lượng
Để cung cấp đầy đủ, cân đối và chính xác khẩu phần ăn cho gà thì yếu tốđầu tiên là mức năng lượng thích hợp trong khẩu phần Năng lượng cần thiết choviệc duy trì các hoạt động, sinh trưởng và phát triển của cơ thể Lượng nănglượng thừa so với nhu cầu sẽ được sử dụng không có hiệu quả và tích lũy thành
mỡ Muốn đạt hiệu quả trong việc sử dụng các vật chất dinh dưỡng trong khẩuphần thức ăn, thì việc xác định tỷ lệ giữa năng lượng với các vật chất dinhdưỡng đúng và phù hợp cho sinh lý pháy triển, sản xuất là hết sức quan trọng.Chi phí năng lượng trong khẩu phần gia cầm khoảng 45-50% tổng chi phí(Nowland, 1978)
Gia cầm nhận năng lượng cần thiết từ thức ăn Tất cả năng lượng trong thức
ăn đó không được gà sử dụng hoàn toàn mà nó bị mất đi cùng với phân, nước tiểu
và thải nhiệt Vì vậy giá trị năng lượng thực của khẩu phần thức ăn chỉ chiếm70-90% từ giá trị năng lượng toàn phần Sự oxy hóa hydratcacbon và mỡ thườngđược thực hiện hoàn toàn ở cơ thể động vật và vì thế số lượng nhiệt sinh ra tương
tự như bombe đo năng lượng, tuy thế protein không được oxy hóa hoàn toàn ở cơthể gia cầm và sự trao đổi chất của chúng cho sản phẩm cuối cùng là axit uric chứanăng lượng Vì vậy sự oxy hóa của chúng trong cơ thể sản sinh ra 4,2 kcal/g thấphơn 25% so với giá trị năng lượng toàn phần (Bùi Đức Lũng, 2001)
2.3.2 Nhu cầu protein
Trong cơ thể động vật nói chung và cơ thể gia cầm nói riêng, proteinkhông thể tổng hợp từ lipit hay gluxit mà phải lấy từ thức ăn đưa vào hằng ngàyvới số lượng đầy đủ và theo một tỷ lệ thích hợp theo nhu cầu của cơ thể(McDonald, 1988; Singh, 1988; Vũ Duy Giảng và cs, 1995)
Đối với gia cầm, protein có rất nhiều chức năng và là thành phần chínhcủa xương, dây chằng, da, lông, các cơ quan và cơ Do protein được sử dụng choduy trì, sinh trưởng và sản xuất nên nó được thường xuyên đưa vào cơ thể
Trang 17Bảng 2.3.2 Nhu cầu protein và năng lượng đối với gà (NRC, 1981)
Loại gia cầm Protein (%) ME (Kcal) Xơ tối đa (%)
Gà (1981)
Nguồn trích: Nguyễn Đức Hưng (2009)[14]
Trong khẩu phần ăn của gia cầm, nhu cầu protein thường được biểu thịbằng tỷ lệ phần trăm protein thô trong thức ăn (protein thô là số gam proteinchứa trong 100g thức ăn) Mặt khác nhu cầu về protein liên quan chặt chẽ vớimức năng lượng trong khẩu phần Vì vậy để đánh giá mức cân bằng giữa nănglượng và protein người ta còn dùng tỷ lệ giữa năng lượng trao đổi và % proteinthô của khẩu phần
3.3.3 Nhu cầu vitamin
Vitamin rất cần thiết cho sức khoẻ, duy trì, sinh trưởng và sinh sản của giacầm và các loài động vật khác Một số vitamin có liên quan trực tiếp với sứckhoẻ và bảo vệ tổ chức, nhiều vitamin khác lại rất cần thiết cho trao đổi chất.Các vitamin luôn có mặt trong các mô bào của cây trồng và vật nuôi và thôngthường nhu cầu rất nhỏ để bổ sung vào trong khẩu phần Tuy nhiên, nhu cầu vềmột loại vitamin nào đó phụ thuộc vào điều kiện môi trường, loại thức ăn và giaiđoạn sinh trưởng hay sản xuất của gia cầm Loại trừ vitamin tan trong dầu mỡ(A, D, K, E), các vitamin dự trữ trong cơ thể rất ít, đặc biệt vitamin nhóm B và
C, cho nên cần phải cung cấp đầy đủ vitamin trong khẩu phần ăn hàng ngàynhằm thỏa mãn nhu cầu của gia cầm (Nowland, 1978)
Mọi sự thiếu hụt vitamin đều dẫn đến rối loạn trao đổi chất, gây thiệt hạicho cơ thể động vật Tùy vào sự thiếu nhiều hay ít mà triệu chứng bệnh nặnghay nhẹ Đối với gia cầm triệu chứng dễ phát hiện nhất khi thiếu vitamin thườngthấy là gà mổ lông nhau Trong thời gian ngắn nếu không bổ sung vitamin cũng
có thể ảnh hưởng đến sức sống của gà thịt (Glavits và ctv, 1994) Gia cầm ănkhẩu phần thiếu các vitamin, chỉ bổ sung vi khoáng thì có triệu trứng gầy yếu
Trang 18Stress nhiệt và thiếu vitamin trong khẩu phần ảnh hưởng xấu đến sức sống vàtính miễn dịch của gà thịt (Deyhim và ctv, 1994).
2.3.4 Nhu cầu xơ của gà
Chất xơ là một hỗn hợp carbohydrates nằm trong màng tế bào của thựcvật Có 2 loại chất xơ: Loại không hòa tan trong nước có trong các loại hạtnguyên trạng, vỏ các loại hạt, rau Và Loại hòa tan trong nước có trong rau trái,gạo đỏ, yến mạch oats, lúa mạch (barley)
Các chất này đều không được tiêu hóa và có rất ít giá trị dinh dưỡng Tuynhiên khi ăn vào thì chất xơ có một số tác dụng tốt được nhiều người tin theo vàkhoa học thực nghiệm cũng phần nào đồng ý
Vì không hòa tan trong nước và khi được ăn với nhiều nước, chất xơ cóthể là môn thuốc an toàn và hữu hiệu để phòng tránh bệnh về đường ruột Nólàm mềm và tăng lượng phân để bộ tiêu hóa dễ dàng thải ra khỏi cơ thể Ngoài
ra, khi vào đến ruột già, nó được vi sinh vật tranh nhau ăn, tạo ra nhiều hóa chất
có hơi (gas) Các hơi này kích thích ruột già làm gà đẩy phân ra ngoài Một nhậnxét cụ thể là trâu bò ăn cỏ, rơm rất nhiều chất xơ nên phẩn rất to và mềm
Vì không hòa tan trong nước, chất xơ có thể ngăn ngừa sự thành hình cáctúi nhỏ ở vách ruột già bằng cách giảm thiểu sự táo bón và giảm sự căng phồngcủa ruột già trong việc tống khứ chất phế thải
2.3.5 Nhu cầu khoáng
Theo Bùi Đức Lũng (2001) thì chất khoáng chiếm trên dưới 3% khốilượng cơ thể gia cầm, trong đó chứa 40 nguyên tố khoáng Các nguyên tốkhoáng tham gia cấu tạo nên toàn bộ bộ xương Trong các dịch thể nó ở trạngthái hòa tan và ion đảm bảo cân bằng nội môi Nó còn là thành phần của emzym
và vitamin là những yếu tố xúc tác sinh học trong cơ thể
Khoáng rất cần thiết đối với gia cầm và tuỳ theo nhu cầu đối với cơ thể
mà khoáng được chia làm hai loại là các nguyên tố đa lượng và các nguyên tố vilượng Gia cầm cần khoáng cho các hoạt động sống vì vậy thiếu khoáng thì giacầm giảm sinh trưởng, và trong trường hợp thiếu nghiêm trọng gia cầm sẽ giảmsức khoẻ và sức kháng bệnh (Nowland, 1978) Khẩu phần thiếu các nguyên tố
đa lượng hoặc vi lượng đều làm giảm khả năng tăng trọng, lượng thức ăn ăn vào
và hệ số chuyển đổi thức ăn của gia cầm Chúng đồng thời làm giảm lượngcanxi xương, khoáng tổng số của xương nhưng làm tăng lượng phốt pho xương(Southern và CTV, 1994)
Trang 19Việc thiếu canxi và phốt pho sẽ được khắc phục nếu bổ sung một lượngthức ăn bột thịt và xương vào khẩu phần Tuy nhiên, mức canxi trong khẩu phầncao sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Shafey andMcDonald, 1991) và mức phốt pho trong khẩu phần cao sẽ làm tăng hiện tượngyếu xương (Nelson và CTV, 1990) Nhu cầu về khoáng tính trong hỗn hợp thức
ăn của gia cầm có tỷ lệ rất thấp, điếu đó cho thấy vai trò đặc biệt của khoángtrong dinh dưỡng gia cầm
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và chuyển hoá thức ăn ở gia cầm
Sinh trưởng là quá trình tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăngchiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thểcon vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước Sinh trưởng chính là sự tíchlũy dần dần của các chất, tốc độ và sự tổng hợp protein chính cũng là tốc độ hoạtđộng của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể
Khi nghiên cứu về sinh trưởng, không thể không nói đến phát dục Phátdục là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng them và hoàn chỉnh các tính chất,chức năng và bộ phận trong cơ thể Phát dục diễn ra từ khi trứng được thụ tinh,qua các giai đoạn phát triển khác nhau cho đến khi cơ thể trưởng thành Để xácđịnh chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng không phải là dễ dàng
2.4.1 Ảnh hưởng của giống
Các giống gà khác nhau có phản ứng với mức protein và acid amine trongkhẩu phần, có tốc độ sinh trưởng, khối lượng khác nhau Các giống hướng thịtcao sản sinh trưởng nhanh hơn các giống kiêm dụng, và thấp nhất là các giống
đẻ trứng năng suất cao Các dòng khác nhau trong một giống cũng có tốc độsinh trưởng khác nhau Ngày nay công tác chọn giống càng hiện đại, tốc độ sinhtrưởng trong một giống càng đồng đều và mức cao Thể trọng là tính trạng sốlượng được quy định bởi các yếu tố di truyền Hệ số di truyền của khối lượng cơthể cao: 0,3-0,64 Nguyễn Đức Hưng, (2006)
Kết quả nghiên cứu Nguyễn Huy Đạt và đồng tác giả (1996) trên gàbroiler của 4 giống AA, Lohmann, Isavedette và Avian cũng cho thấy gà broiler,Lohmann và Isavedette có tốc độ sinh trưởng cao hơn so với gà broiler AA vàAvian từ 6,58-9,75% Letner và Asmundsen (1983) đã so sánh tốc độ sinh
Trang 20trưởng của các giống gà Plymounth Rock có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gàLeghorn trắng từ 2-6 tuần tuổi và sau đó không có sự sai khác Nguyễn MạnhHùng và đồng tác giả (1994) cũng cho biết sự khác nhau về khối lượng giữa cácgiống gia cầm là rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn hướng trứng khoảng500-700gam (13-30%).
Kết quả nghiên cứu trên các dòng của bộ giống gà thịt thuần chủngPlymonth Rock của Lê Hồng Mận và đồng tác giả (1985) cho thấy sự khác nhau
về số lượng cơ thể ở thời điểm 56 ngày tuổi trên 3 dòng ĐT3, ĐT8 và ĐT9.Nghiên cứu trên 3 dòng thuần (V1,V2,V3) của 3 bộ giống gà Hybro HV85 cũngcho thấy tốc dộ sinh trưởng của 3 dòng hoàn toàn khác nhau ở thời điểm 42ngày tuổi
2.4.2 Ảnh hưởng tính biệt
Quá trình trao đổi chất của gà mái và gà trống là khác nhau Con trốngluôn có hệ số trao đổi chất cao hơn con mái (Singh 1988) Hệ số tích lũy nănglượng so với mức ăn vào của gà Plymouth Rock lúc 1 ngày tuổi của con trống là46,71% còn con mái là 40,60% Kết quả nghiên cứu trên 2 dòng BVx và BVycủa giống gà chuyên dụng trứng Leghorn cũng cho thấy có sự chênh lệch vềkhối lượng cơ thể giữa gà trống và mái ở thời điểm 63 ngày tuổi North (1990)
đã rút ra kết luận: lúc mới sinh gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sựkhác nhau càng lớn , ở 2 tuần tuổi: hơn 5%,3 tuần tuổi: hơn 11%,5 tuần tuổi:hơn 17%,6 tuần tuổi: hơn 20% ,7 tuần tuổi: hơn 23%,8 tuần tuổi: hơn 27%
Theo Summer và Leeson (1984), mức năng lượng trong khẩu phần ăn ảnhhưởng rất lớn đến tăng trọng của gà mái, trong khi đó ít ảnh hưởng đến tăngtrọng của gà trống Nhu cầu mức protein trong khẩu phần của gà mái luôn thấphơn so với gà trống khi khẩu phần đó có cùng mức năng lượng Hàm lượngprotein trong khẩu phần nuôi gà trống phải trên 20% khi năng lượng trao đổi là
3220 kcal/kg, trong khi đó mức protein để nuôi gà mái chỉ cần 16% (Bùi ĐứcLũng cs…)
Trong cùng một giống, cùng giới tính, ở gà có tốc độ mọc lông nhanh, cótốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn Tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ đếntốc độ sinh trưởng, nếu gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn gà chậmlớn Hayer và đồng tác giả (1970) đã xác định trong cùng một giống thì gà mái
Trang 21dụng ngược chiều với gen liên kết với giới tính quy định tốc độ mọc lông.
2.4.3 Ảnh hưởng của lứa tuổi
Nhu cầu năng lượng càng ngày càng tăng trong khi nhu cầu các chất dinhdưỡng khác thì giảm dần theo lứa tuổi Vì có sự thay đổi về cấu trúc cơ thể, gàcàng lớn nhu cầu năng lượng cho tăng trọng càng cao, trong khi đó nhu cầuprotein cho tăng trọng càng giảm Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gia cầm theothời gian có dạng hình parabol
2.4.4 Ảnh hưởng môi trường nuôi dưỡng
Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các thành phần của cơ thể như:thịt, xương, da Tỷ lệ sinh trưởng của các phần này phụ thuộc vào độ tuổi , tốc
độ sinh trưởng và phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Trong cùng một dònggiống tốc độ chế độ dinh dưỡng khác nhau cũng cho khả năng sinh trưởng khácnhau Theo nghiên cứu của Đồng Thị Tính và đồng tác giả (1993) trên gà AAgiai đoạn hậu bị cho thấy với mức năng lượng và protein khác nhau thì khốilượng cơ thể giai đoạn ăn tự do 1-3 tuần tuổi thí nghiệm có sự khác nhau giữacác lô thí nghiệm Kết quả nghiên cứu trên gà trống ISA-30 MPK giai đoạn sau
25 tuần tuổi cũng cho kết quả tương tự, khối lượng của gà trống ở thời điểm
21-60 tuần tuổi của các lô thí nghiệm khác nhau về thành phần dinh dưỡng cũngkhác nhau
+Nhiệt đô: Ở gia cầm, các giai đoạn khác nhau chịu ảnh hưởng của nhiệt
độ khác nhau Gia cầm là động vật đẳng nhiệt, thân nhiệt luôn ổn định mặc dùnhiệt độ môi trường có thể thay đổi lên xuống Thân nhiệt bình quân của gàtrưởng thành dao động 41,2-42,20C, cao hơn các loài động vật có vú (36-390C)(Lê Văn Thọ cs…) Ở gia cầm non, yêu cầu nhiệt độ cao để sưởi ấm cơ thể, khichúng lớn thì yêu cầu nhiệt độ giảm Nếu điều kiện chăn nuôi không khống chếđược nhiệt độ, đặc biệt như ở trại hở thì việc nhiệt độ môi trường tăng cao, vàomùa hè rất nguy hiểm, gà dễ stress, giảm sinh trưởng hoặc có thể chết Do đótùy điều kiện nuôi mà chọn giống gà và áp dụng quy trình phù hợp, đảm bảonhiệt độ thích hợp cho gà sinh trưởng phát triển tốt
+ Ánh sáng: Trong chăn nuôi gia cầm, vấn dề chiều sáng có ảnh hưởng
lớn đến sự sinh trưởng của gia cầm Chế độ chiếu sáng phù hợp giúp các phảnứng sinh lý diễn ra bình thường, kích thích các hoocmon điều hòa sinh trưởng
Trang 22thúc đẩy cơ thể phát triển bình thường, đảm bảo tốc độ sinh trưởng của giống.Gia cầm nếu nuôi trong điều kiện thiếu ánh sáng sẽ còi cọc, chậm lớn, kéo dài sẽgây ảnh hưởng xấu cho gia cầm, chúng dễ bị stress, giảm khả năng ăn vào, dễcắn mổ lẫn nhau.
+ Đô thông thoáng: Thông thoáng tốt giúp nó cung cấp đầy đủ lượng oxy
cho gà, thải khí độc (NH3, H2S,…) ra khỏi chuồng nuôi, kiểm soát được độ ẩm
và nhiệt độ trong chuồng nuôi, đồng thời còn giúp kiểm soát được dịch bệnh.Tuy nhiên ở gà con trong một tuần đầu nó rất cần được giữ ấm cho nên cần chechắn chuồng nuôi để khỏi mất nhiệt khu vực úm Trong trường hợp điện bị cắt(cúp điện) nên mở rèm che chuồng nuôi ra ngay để gà khỏi bị ngộp và giẫm đạplẫn nhau, rồi tiếp theo chúng ta mới tìm cách xử lý mất điện Sau khi úm đượcmột tuần có thể chúng ta tháo rèm che để chuồng nuôi được thông gió với tốc độkhoảng 0,2m/giây là được, để chuồng nuôi không bị ẩm thấp làm cho gà chậmlớn và dễ bị bệnh
2.4.5 Các yếu tố khác
Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, các yếu tố khác từ môi trường cóảnh hưởng đến sinh trưởng của gia cầm đó là mật độ nuôi dưỡng, vệ sinh, dịchbệnh,… Cần đảm bảo quy trình và đúng yêu cầu kỹ thuật nhằm tạo điều kiệncho vật nuôi sinh trưởng phát triển tốt nhất
2.5 Đặc điểm một số loại nguyên liệu thức ăn sử dụng trong nghiên cứu
Dinh dưỡng thức ăn là một trong những yếu tố quyết định tới năng suấtchăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Muốn thức ăn có chấtlượng tốt thì cần phải có các nguyên liệu đảm bảo cho các chỉ tiêu dinh dưỡngtheo qui định Trong phạm vi của đề tài này chúng tôi chỉ đề cập tới một sốnguyên liệu chính thường dùng trong chăn nuôi gia cầm
Chế phẩm có tác dụng giữ cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột, khống chế
sự sinh trưởng của các vi sinh vật có hại, phòng chống tiêu chảy, khử mùi hôicủa phân Nhờ các loại vitamin và axit amin được tao ra trong quá trình lên men,chế phẩm có tác dụng kích thích tiêu hóa, nâng cao tỉ lệ chuyển hóa thức ăn,tăng sức đề kháng
2.5.1 Nhóm thức ăn giàu năng lượng
Tất cả các loại thức ăn có hàm lượng giàu protein dưới 20% và xơ thô
Trang 23dưới 18% được xếp vào thức ăn giàu năng lượng Nhóm thức ăn giàu nănglượng bao gồm các loại hạt ngũ cốc như ngô, lúa mỳ, cao lương… các phụphẩm của ngành xay xát như: tấm ,cám, gạo… các loại thức ăn củ như sắn,khoai lang , khoai tây… và các chất dầu mỡ Dưới đây là một số nguyên liệuchính sau.
2.5.1.1 Ngô
Ngô là loại hạt quan trọng nhất dùng trong thức ăn trong chăn nuôi chogia cầm do các nguyên nhân lien quan đến đặc điểm thực vật và giá trị dinhdưỡng nó thường 45 – 70% trong khẩu phần ăn hàng ngày của gia cầm So vớicác loại thức ăn ngũ cốc khác thì ngô là loại thức ăn giàu năng lượng (1kg hạtngô có từ 3200 – 3300 kcal ME) Ngô chứa 65% tinh bột hàm lượng xơ thấp 2 -6%, protein thô dao động từ 8 – 13% tính theo vật chất khô
Axit anin hạn chế nhất trong ngô là Lysin Gần đây người ta đã tạo ra đượcmột số giống ngô mới giàu axit amin hơn, giống như Oparque-2 có hàm lượngLysin cao hơn nhiều so với ngô bình thường, song vẫn nghèo Meniotin Mộtgiống ngô mới nữa là Floury-2 có hàm lượng Lysin và Metionin cao hơn giốngngô Oparque-2 Nếu dùng loại ngô này thì không cần bổ sung thêm Metionin
Hàm lượng Lipit của ngô có từ 3 – 6% chủ yếu là các loại axit béo chưa
no, ngoài ra ngô còn chứa một hàm lượng đáng kể carotene (tiền vitamin A) vàsắc tố giàu xantophyll (C40H56O2) đây là những dẫn xuất có chứa oxy củacarotene Các xantophyll đều là các cấu tử chủ yếu của các sắc tố vàng của hoa,
lá, nụ, quả Trong ngô vàng thì thành tố này tồn tại dưới dạng cryptoxanthin vàzeaxanthin Vì vậy, khi cho gia cầm ăn ngô vàng hoặc ngô đỏ thì màu sắc củalong đỏ trứng sẽ đậm hơn bình thường, da gà sẽ vàng đẹp hơn Điều này làm giatăng giá trị sản phẩm
Nhược điểm chính khi dùng ngô là nguy cơ nhiễm aflatoxin từ nấm mốcAspergillus flavus, Aspergillus parasiticus, nhất là với ngô tại các vùng được thuhoạch trong mùa mưa không đủ điều kiện phơi hoặc sấy khô đúng mức Theonhiều nghiên cứu của Nguyễn Chí Hanh và đồng tác giả (1996) thì khi bắt đầuđưa ngô vào bảo quản, ngô đã bị nhiễm nấm mốc (100.103 khuẩn lac/gam)nhưng chưa xuát hiện Aflatoxin Sau 2 tháng bảo quản chưa xuất hiện aflatoxin
ở mức thấp (40µg/kg) Mức độ nhiễm nấm mốc, độc tố tăng dần và đạt mức caosau 5 tháng bảo quản (200.103 khuẩn lạc/gam và 553,2µg aflatoxin/1kg hạt).Trong vụ hè thu khi bảo quản ngũ hat thì sự biến đổi thành phần hoá học và sựsinh sản aflatoxin thấp hơn khi bảo quản vụ đông xuân Bên cạnh đó, trong ngôcòn chứa hàm lượng bột đường và mỡ cao nên rất dễ bị mọt phá hoại Mọt xuất
Trang 24hiện nhiều nhất trong ngô ở giai đoạn chuyển từ khô hanh sang nóng ẩm Trong
10 – 15 ngày, mọt có thể ăn hỏng toàn bộ kho ngô hàng chục tấn
2.5.1.2 Tấm
Tấm là nguyên liệu giàu năng lượng, được sử dụng trong khẩu phần củnhiều loại vật nuôi đặc biệt là trong khẩu phần của gà thịt, năng lượng cao vàhàm lượng xơ thấp Thành phần ding dưỡng của một mâu tốt tương đương vớigạo Hàm lượng đạm thô của tấm là 8,7% và 9,56% Năm 2010 toàn vùng ĐBSông Cửu Long đã đưa trên 4,1 triệu lượt ha đất vào trồng lúa đạt 2,46 triệu tấntấm gạo hàng năm nếu tính 10 kg lúa nguyên liệu cho 1 kg tấm gạo
2.5.1.3 Cám gạo
Cám gạo là nguồn thực phẩm của nghành xay xát gạo Lượng cám thuđược bình quân là 10% khối lượng lúa Việt Nam hiện có sản lượng gạo đứngthứ 2 thế giới nên nguồn cám gạo rất dồi dào Cám gạo là sản phẩm có giá trịdinh dưỡng cao Trong cám gạo có chứa khoảng 10 – 13% protein thô, 10 – 15%lipit thô, 8 – 9% xơ thô và 9 – 10% khoáng tổng số, ngoài ra trong cám gạo cònrất giàu vitamin nhóm B, đặc biệt là vitamin nhóm B1 Trong 1kg cám gạo có22,2 mg vitamin B1, 13,1 mg B6 và 0,43 mg Biotin Cám gạo chứa khoảng 14 –18% là dầu, vì vậy, cám gạo có mùi thơm ngon và gia cầm rất thích ăn
Nhưng đây cũng chính là nhược điểm của cám gạo, bởi vì trong dầu cám
có menlipaza làm phân giải các axit béo không no nên dễ làm cho mỡ dễ bị ôithiu, giảm chất lượng của cám, khi có cám sẽ trở nên đắng và khét Trong cámgạo hàm lượng photpho cao hơn hàm lượng canxi gấp 10 lần nhưng lại có tới70% photpho ở dạng phitin không hấp thu được
2.5.2 Nhóm thức ăn giàu protein
Theo Irma (1983), Kellems và Church (1998), thức ăn giàu protein là tất
cả các loại thức ăn có hàm lượng protein trên 20%, xơ thô dưới 18% Thức ăngiàu protein gồm 2 loại thức ăn giàu protein có nguồn gốc từ động vật như: bột
cá, bột thịt xương, bột máu… Và thức ăn giàu protein có nguồn gốc từ thực vậtnhư: hạt đỗ tương, hạt lạc, hạt vừng, hạt đậu xanh, khô dầu đỗ tương, khô dầulạc, khô dầu dừa, khô dầu hướng dương
Thức ăn protein sau khi được tiêu hóa, hấp thu dưới dạng các acid amin.Các acid amin sẽ theo máu về gan tuần hoàn tới các mô bào Ngoài các acidamin có nguồn gốc từ thức ăn, máu còn tiếp nhận các acid amin là sản phẩm của