Để cónhững hiểu biết tốt hơn về tính ăn của cá Dìa, các nghiên cứu về dinh dưỡng vàenzym đã được tiến hành, Parazo 1989 đã chỉ ra tỷ số tăng trưởng cụ thể của cá Dìa non S.guttatus tăng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Thủy Sản
……
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPTÊN ĐỀ TÀI:
Ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến quá trình nuôi vỗ
thành thục cá Dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787) tại xã Hải Dương, thị xã
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Thủ
Giáo viên hướng dẫn : Th.S Trần Nguyên Ngọc
Huế 05/2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này bản thân tôi đẩ nhận được rấtnhiều sự giúp đỡ vô cùng quý báo về vật chất và tinh thần Nhân đây cho phéptôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:
Thầy giáo Th.S Trần Nguyên Ngọc, người đả theo suốt tôi trong quá trìnhnghiên cứu, trực tiếp hướng dẫn tôi tận tình, chu đáo trong suốt quá trình thựchiện khóa luận tốt nghiệp
Bác Phan Lân chủ tịch hội nghề cá Hương Giang đả nhiệt tình giúp đỡ và
hỗ trợ trang thiết bị, kỹ thuật cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Các thầy cô trong Khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Huế đảtrang bị cho tôi kiến thức trong suốt thời gian ngồi trên ghế nhà trường, luônquan tâm giúp đở và động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đồng nghiệp đảgiúp đở và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành đềtài này Với thời gian học tập ngắn ngủi nên không tránh khỏi những thiếu sót.Kính mong sự góp ý tận tình của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để khóaluận được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Huế, tháng 06 năm 2016Sinh viên: Nguyễn Văn Thủ
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂ
Bảng 3.1 Dụng cụ và thời gian theo dõi các yếu tố môi trường .25
Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm .34
Bảng 4.2 : Tuổi và kích thước cá bố mẹ thành thục lần đầu trong điều kiện nuôi
47
Bảng 4.3: Tỷ lệ thành thục của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ .48
Biểu đồ 4.2 : Biểu đồ thể hiện tỷ lệ thành thục của cá dìa cái sau 2 tháng nuôi vỗ ở 2 nghiệm thức 49
Bảng 4.4 : Hệ số thành thục của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ .50
Biểu đồ 4.3: Biểu đồ thể hiện HSTT của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ .50
YBảng 3.1 Dụng cụ và thời gian theo dõi các yếu tố môi trường .25
Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm .34
Bảng 4.2 : Tuổi và kích thước cá bố mẹ thành thục lần đầu trong điều kiện nuôi 44
Bảng 4.3:Tỷ lệ thành thục của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ .45
Bảng 4.4 : Hệ số thành thục của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ .46
Trang 4BANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢN
Hình 1 Sự phân bố của cá Dìa (S.gustatus) 3
Hình 2: cá dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787) .24
Hình 3 : thức ăn cá tạp 100% 28
Hình 4 : mực tươi 29
Hình 5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm .30
Hình 6 : Giai thí nghiệm 30
Hình 7 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn I (độ phóng đại 10 x10) 40
Hình 8 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn II (độ phóng đại 10 x10) .41
Hình 9 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10 x10) 42
Giai đoạn IV .42
Hình 10 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn IV (độ phóng đại 10 x10) .42
Hình 11 Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn I (độ phóng đại 10x10) .43
Hình 12 Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn II (độ phóng đại 10x10) 44
Hình 13 Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10x10) 45
Hình 14 Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn IV (độ phóng đại 10x10) .45
YHình 2.1 Sự phân bố của cá Dìa (S.gustatus) .3
Hình 3.1: cá dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787) .24
Hình 3.2 : thức ăn cá tạp 100% .28
Hình 3.3 : mực tươi .29
Hình 3.4: Sơ đồ bố trí thí nghiệm .30
Hình 3.5 : Giai thí nghiệm .30
Hình 4.1 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn I (độ phóng đại 10 x10) .37
Hình 4.2 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn II (độ phóng đại 10 x10) .38
Trang 5Hình 4.3 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10 x10) 39
Hình 4.4 Lát cắt buồng trứng cá Dìa giai đoạn IV (độ phóng đại 10 x10) 39
Hình 4.5.Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn I (độ phóng đại 10x10) .40
Hình4.6.Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn II (độ phóng đại 10x10) .41
Hình 4.7.Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn III (độ phóng đại 10x10) .42
Hình 4.8.Lát cắt tinh sào cá Dìa giai đoạn IV (độ phóng đại 10x10) .42
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 : Tỷ lệ thành thục của cá dìa đực và cá dìa cái .45Biểu đồ 4.2: HSTT của cá dìa sau 2 tháng nuôi vỗ .47
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Mở đầu .1
1.2 Mục đích của đề tài .2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá dìa .3
2.1.1 Đặc điểm phân bố .3
2.1.2 Đặc điểm hình thái .4
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng .4
2.1.4 Đặc điểm sinh sản .6
2.2 Tình hình nghiên cứu cá dìa trên thế giới và ở Việt Nam .11
2.3 Tình hình nghiên cứu cá dìa tại Thừa Thiên Huế .13
2.4 Một số cơ sở khoa học về nuôi vỗ 14
2.4.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nuôi vỗ cá bố mẹ .14
2.4.1.1 Về tổ chức tế bào học .15
2.3.1.2 Về đặc điểm sinh thái và sinh lý .15
2.4.1.3 Về đặc điểm sinh thái .15
2.4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài lên sự phát dục tuyến sinh dục của cá bố mẹ được nuôi vỗ .16
2.4.2.1 Thức ăn .16
2.4.2.2 Nhiệt độ .16
2.4.2.3 Quang kỳ .17
2.4.2.4 Dòng nước .17
2.4.2.5 Những yếu tố khác .18
2.5 Nghiên cứu về dinh dưỡng 18
PHẦN 3:NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .24
3.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Thời gian và địa điểm nhiên cứu 25
3.2.1 Thời gian nghiên cứu 25
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu .25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 83.4.1 Nguồn thông tin hổ trợ nghiên cứu 25
3.4.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 25
3.4.3 Phương pháp thu mẫu và theo dõi tỷ lệ thành thục của cá dìa 26
3.4.4 Phương pháp xác định chiều dài và trọng lượng .26
3.4.5 Phương pháp xác định tuổi cá .26
3.4.6 Đánh giá khả năng thành thục và tỷ lệ thành thục .27
3.4.7 Phương pháp kiểm tra tuyến sinh dục của cá dìa .27
3.4.8 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
3.4.9 Phương pháp xử lý số liệu 31
PHẦN 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Biến động các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 33
4.1.1 Nhiệt độ nước .34
4.1.2 pH .35
4.1.3 Độ mặn 36
4.1.4 Oxy hòa tan .36
4.2 Đặc điểm phát triển của tuyến sinh dục cá dìa .37
4.2.1 Sự phát triển của buồng trứng cá cái .37
4.2.2 Sự phát triển của tinh sào cá dìa đực .40
4.3 Đánh giá khả năng thành thục và tỷ lệ thành thục của cá dìa khi nghiên cứu hai loại thức ăn .43
4.3.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ .43
4.3.2 Tuổi và trọng lượng thành thục lần đầu của cá dìa .43
4.3.3 Tỷ lệ thành thục cá dìa bố mẹ .44
4.3.4 Hệ số thành thục .46
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .48
5.1 Kết luận .48
5.2 kiến nghị .48
TÀI LIỆU THAM KHẢO .49
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Mở đầu .1
1.2 Mục đích của đề tài .2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Đặc điểm sinh học của cá dìa .3
Trang 92.1.1 Đặc điểm phân bố .3
2.1.2 Đặc điểm hình thái .4
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng .4
2.1.4 Đặc điểm sinh sản .6
2.2 Tình hình nghiên cứu cá dìa trên thế giới và ở Việt Nam .11
2.3 Tình hình nghiên cứu cá dìa tại Thừa Thiên Huế .13
2.4 Một số cơ sở khoa học về nuôi vỗ 14
2.4.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nuôi vỗ cá bố mẹ .15
2.4.1.1 Về tổ chức tế bào học .15
2.3.1.2 Về đặc điểm sinh thái và sinh lý .15
2.4.1.3 Về đặc điểm sinh thái .15
2.4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài lên sự phát dục tuyến sinh dục của cá bố mẹ được nuôi vỗ .16
2.4.2.1 Thức ăn .16
2.4.2.2 Nhiệt độ .17
2.4.2.3 Quang kỳ .17
2.4.2.4 Dòng nước .17
2.4.2.5 Những yếu tố khác .18
2.5 Nghiên cứu về dinh dưỡng 18
PHẦN 3:NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.2 Thời gian và địa điểm nhiên cứu 25
3.2.1 Thời gian nghiên cứu 25
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu .25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Nguồn thông tin hổ trợ nghiên cứu 25
3.4.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 25
3.4.3 Phương pháp thu mẫu và theo dõi tỷ lệ thành thục của cá dìa 26
3.4.4 Phương pháp xác định chiều dài và trọng lượng .26
3.4.5 Phương pháp xác định tuổi cá .26
3.4.6 Đánh giá khả năng thành thục và tỷ lệ thành thục .27
3.4.7 Phương pháp kiểm tra tuyến sinh dục của cá dìa .27
Trang 103.4.8 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
PHẦN 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Biến động các yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 33
4.1.1 Nhiệt độ nước .34
4.1.2 pH .36
4.1.3 Độ mặn 36
4.1.4 Oxy hòa tan………
4.2 Đặc điểm tổ chức học của việc phát triển tuyến sinh dục cá dìa 37
4.2.1 Đặc điểm phát triển của tế bào sinh dục cá Dìa cái .37
4.2.2 Đặc điểm phát triển của tế bào sinh dục cá Dìa đực .39
4.2.3 Đặc điểm phát triển của tuyến sinh dục cá dìa .40
4.2.3.1 Sự phát triển của buồng trứng cá cái .40
4.2.3.2 Sự phát triển của tinh sào cá dìa đực .43
4.3 Đánh giá khả năng thành thục và tỷ lệ thành thục của cá dìa khi nghiên cứu hai loại thức ăn .46
4.3.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ .46
4.3.2 Tuổi và trọng lượng thành thục của cá dìa .46
4.3.3 Tỷ lệ thành thục cá 47
4.3.4 Hệ số thành thục .49
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
5.1 Kết luận .52
5.2 kiến nghị .52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 11BẢNG QUY ƯỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT.
Trang 12PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Mở đầu
Trong những năm gần đây ngành thủy sản Việt Nam đã có những bướcphát triển mạnh mẽ trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn với giátrị xuất khẩu đứng thứ 3 cả nước Các sản phẩm thủy sản cung cấp khoảng 40%lượng protein động vật trong bữa ăn của người Việt Nam Tạo ra khoảng 4 triệuviệc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn,cũng như xóa đói giảm nghèo cho hàng triệu người lao động khác.Sản phẩmthủy sản có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của con người.Đâykhông chỉ là nguồn thực phẩm thiên nhiên giàu đạm mà còn có giá trị về dượcliệu,mỷ nghệ,cân bằng sinh thái Bởi những vai trò to lớn đó mà thủy sản nóichung được con người quan tâm từ rất sớm, là đối tượng được con người nuôi vàkhai thác tại các thủy vực và vùng ven biển Với tiềm năng lớn về đất đai,diệntích mặt nước,nguồn lao động dồi dào,Việt Nam có điều kiện thuận lợi để pháttriển nuôi trồng thủy sản.Hiện nay tình hình dịch bệnh về gia súc, gia cầm ngàycàng tăng nên nhu cầu về thực phẩm có nguồn gốc từ thủy sản ngày càng tăngcao Vì vậy, việc mở rộng nuôi trồng thủy sản là một trong những hướng pháttriển chiến lược để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm cho con người Đa dạng hóađối tượng nuôi nhằm đa dạng hóa sản phẩm là mục tiêu, xu hướng phát triển củangành thủy sản nước ta trong những năm vừa qua cũng như những năm tới, đặcbiệt chú trọng đến những đối tượng bản địa, dể nuôi, có khả năng thích ứng vớimôi trường,giá trị thương phẩm cao,góp phần tăng tính bền vững cũa ngànhđang đực nhiều nhà nghiên cứu sản xuất và người dân quan tâm
Thừa Thiên Huế có hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai với diện tíchhơn 22.000 ha, có tính đa dạng sinh học cao Trong 230 loài cá phân bố tại vùngđầm phá Tam Giang – Cầu Hai có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như cá hồng,
cá mú, cá dìa,… Trong đó, cá dìa (Siganus guttatus) là một trong những loài cá
biển có giá trị kinh tế cao phân bố phổ biến tại vùng đầm phá Thừa Thiên Huế
Cá dìa là loài rộng muối, có khả năng thích ứng với độ mặn từ 1‰ đến 30‰ Cá
dìa (S.gustatus) có tốc độ sinh trưởng khá nhanh, phổ thức ăn rộng Cá dìa là
loài có khả năng thích ứng với sự thay đổi của các yếu tố môi trường và nhu cầuthị trường cao, ổn định nên đang được người dân nuôi phổ biến
Cá dìa là một trong những đối tượng cho sinh sản rất khó khăn,nhiều côngtrình nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá dìa đả được công bố nhưng chưa thực
sự mang hiệu quả cao, đáp ứng được nhu cầu về nguồn giống cho thị trường
Trang 13Một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng con giống,cho tỷ lệ nở và
tỷ lệ sống cao,số lượng con giống nhiều thì phải lựa chọn cá bố mẹ có hệ số thànhthục cao, buồng trứng lớn và nâng cao được sức sinh sản Để tìm hiểu về cách nângcao sức sinh sản cho cá bố mẹ,được sự cho phép cũa Khoa Thủy Sản, Trường Đại
Học Nông Lâm Huế và giáo viên hướng dẩn tôi thực hiện đề tài “ Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến nuôi vỗ thành thục cá Dìa(Siganus guttatus Bloch, 1787) tại
xã Hải Dương, thị xã Hương Tra, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá dìa
Cá Dìa (Siganus guttatus) có kích cỡ trung bình, cá lớn nhất đạt 42cm và
trọng lượng khoảng 1,5kg Giống (ấu trùng) thường tập trung ở vùng ven biển
có thảm cỏ quanh các lạch sông Khi đạt kích thước nhất định chúng rời các cửasông đến vùng triều tìm đến các rạn san hô gần bờ có độ sâu 6m để đẻ trứng.Theo Burgan và Zseleczky (1979) cá con sống quanh những rễ cây nơi có nhữngbóng râm ở vùng nước mặn, vịnh nước nông hoặc cửa sông Cá trưởng thànhsống ven biển, nhưng thường ra vào các sông ngòi và cửa sông (Alaca, 1979;Soh và Lam,1973)
Hình 2.1 Sự phân bố của cá Dìa (S.gustatus)
Cá dìa thích nghi với môi trường sống ở biển, các rạn san hô vùng nướclợ; Độ sâu: 0 - 25 m Nhiệt độ: 24°C - 28°C Cá phân bố ở các vùng biển thuộc
Trang 15Đông Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương: quần đảo Andaman, Thái Lan,Malaysia, Singapore, Indonesia (bao gồm cả Irian Jaya), Việt Nam, Ryukyus, miềnnam và miền đông Trung Quốc, Đài Loan, Biển Đông, Philippines, và Palau.
Cá Dìa có thể chịu được sự thay đổi độ mặn khá cao Pilaii (1962) lưu ýrằng cá Dìa có thể không chịu được độ mặn thấp và nhiệt độ cao Tuy nhiên,
Carumbana và Luchavez (1979) lại quan sát thấy cá con S guttatus (37- 43 mm SL) có thể chịu được khi ở các điều kiện này Tỷ lệ chết của loài S guttatus là
28% sau 2 ngày Nồng độ tối ưu cho sự phát triển và sống còn của các loài là10%o Cá Dìa có thể chấp nhận nồng độ oxy thấp Cá con có thể chịu được sựthay đổi nhiệt độ giữa 23 và 260C Theo Gundermann (1983) thì các loài cá có thểchịu dược pH ở phạm vi rộng và cũng có thể chịu được khi có yếu tố xử lý mạnh
và chật chội
2.1.2 Đặc điểm hình thái
Cá dìa có 13 tia vây lưng cứng, 10 tia vây lưng mềm, 7 tia cứng vây hậumôn; 9 tia mềm vây hậu môn; 13 đốt sống Lưng có màu sẫm, bụng có màubạc, Preopercular 91 ° -102 °; vảy mạnh đủ trang trải các má; đường giữa ngựcthu nhỏ Lỗ mũi trước thấp, hơi mở rộng ra phía sau Gai mập mạp, cay, có nọcđộc Chiều dài tối đa: 42,0 cm [10]; chiều dài phổ biển: 25,0 cm
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và dinh dưỡng
Giai đoạn ấu trùng: Ống tiêu hoá của S.gut
thẳng, sau đó xoắn lại 8 - 9 giờ sau khi nở cùng với việc hấp thụ noãn hoàng.Gan bắt đầu phát triển vào ngày thứ nhất như một tấm mầm tế bào lỏng lẻo Nó
to lên và kích cỡ noãn hoàng trở nên nhỏ đi, khác biệt đến ngày thứ năm Noãnhoàng được hấp thụ lại sớm hơn các hạt dầu nhỏ ở ngày thứ hai và thứ ba; điều
đó ngụ ý rằng chất noãn hoàng được sử dụng cho tổng hợp các cơ quan còn các
hạt dầu nhỏ tích luỹ năng lượng Ấu trùng S guttatus sinh trưởng rất nhanh
trong 24 giờ Mồm loài này mở ra tại 36 giờ sau khi nở, học cách ăn lúc 60 giờsau khi nở và noãn hoàng tái hấp thu tại 72 giờ sau khi nở (Baraginao,1986) Ấu
trùng của S guttatus tiêu thụ noãn hoàng của chúng và bắt đầu dinh dưỡng vàongày thứ hai Tuy nhiên, tỷ lệ chết xảy ra rất cao ở những ngày đầu, đặc biệt rấtcao ở ngày thứ 3 và 4 [17], [15] do thiếu loại thức ăn phù hợp Cho ăn bằngBrachionus (cỡ nhỏ hơn 90 m) cỡ 10 - 20 cá thể/ml tăng tỷ lệ sống sót tronggiai đoạn ấu trùng Chlorella, Tetraselmis và Isochrysis là những nguồn thức ăncủa ấu trùng nhưng chúng không được sử dụng quá ngày thứ 4 Ấu trùng nauplii
Trang 16của giáp xác chân chèo (copepoda) nhỏ hơn Brachionus và vì vậy thích hợp hơncho giai đoạn dinh dưỡng đầu tiên của ấu trùng cá Dìa Trong các trại giống, ấutrùng cá Dìa dinh dưỡng bằng ấu trùng nauplii của Brachionus, Artemi và thức
ăn nhân tạo
Ấu trùng mới nở thường trôi nổi rất yêú và có chiều dài toàn thân khoảng1,5-2,6mm Ruột của chúng thẳng, mắt chưa có sắc tố và miệng chưa hình thành,
ở loài S.guttatus túi noãn hoàng có kích thước 0,70 x 0,24mm và có 2 giọt dầu
Ấu trùng của loài S guttatus bộc lộ tính ưa ánh sáng và dòng chảy lần lượt thể
hiện khi cá đạt chiều dài toàn thân là 2,6mm và 2,7 mm; tính ưa ánh sáng biếnmất ở cỡ 9,2 mm Ấu trùng ổn định ở bể đáy ương ở cỡ 19,6 mm
Nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng Siganids cho đến nay vẫn còn chưa biết
rõ Ấu trùng của S.guttatus ở 2,6 mm chiều dài toàn thân (TL) ban đầu dinh
dưỡng bằng luân trùng và ở chiều dài toàn thân 4,4 mm (ngày 12) dinh dưỡng
bằng tôm biển Ấu trùng của loài S.guttatus từ ngày thứ 9 (3,7 mm TL), ngày 15
(5,8 mm TL) và ngày 21 (7,9 mm TL) Đối với mọi nhóm tuổi, tỷ lệ ấu trùng cóthức ăn trong dạ dày giảm xuống vào ban đêm và xuống tới 0 vào lúc 22h, ấutrùng thường ăn mạnh vào sáng sớm Sự chán ăn thường xãy ra vào khoảng 8-10giờ sáng
Giai đoạn cá con:Ở giai đoạn ấu trùng, cá Dìa ăn động vật phù du, sang
giai đoạn con non và con trưởng thành lại dinh dưỡng hoàn toàn bằng cỏ(Suyehiro, 1942) Chúng ăn bằng cách rỉa thực vật dưới biển, thường cúi đầugặm cỏ, đầu hướng xuống dưới cả ngày lẫn đêm (Gunderman, 1983) Phân tích
dạ dày cho thấy những cá bị nhốt thích tảo trong khi cá ngoài tự nhiên thì không
thích (Merta, 1982) Loài S.guttatus rất thích Eteromorpha sp trong phòng thí nghiệm nhưng ngoài tự nhiên thì ngược lại (Westernhagen,1974) Siganus
guttatus và một số loài cá Dìa khác khi được nuôi chấp nhận nhiều loại thức ăn
(Carumbana và Luchavez, 1979) Con non và con trưởng thành ngoài tự nhiên
ăn bất cứ loài tảo nào mà chúng có thể kiếm được và tiêu hoá Chúng ăn rất tíchcực vào buổi sáng và ít hơn về ban đêm (Zseleczky,1979; Hasse, 1977) Để cónhững hiểu biết tốt hơn về tính ăn của cá Dìa, các nghiên cứu về dinh dưỡng vàenzym đã được tiến hành, Parazo (1989) đã chỉ ra tỷ số tăng trưởng cụ thể của
cá Dìa non (S.guttatus) tăng lên theo từng mức protein và năng lượng Fao cũng
thừa nhận rằng cá Dìa có khả năng sử dụng khẩu phần là mỡ và cacbonat trongmột chừng mực nào đó để sử dụng protein cho tăng trưởng
Giai đoạn cá trưởng thành: Loài Siganus guttatus dinh dưỡng bằng thức
ăn dạng viên thương phẩm (20% protein) với khối lượng 2% trọng lượng của cơthể đựoc giữ thường xuyên trong các bể Cá đẻ trứng hàng tháng nếu được dinh
Trang 17dưỡng bằng thức ăn có hàm lượng protein cao, nhưng vẫn có sự suy giảm trong
tỷ lệ thụ tinh, nở và chất lượng ấu trùng với tuổi cá bố mẹ Soletchnick (1984)
đã gợi ý rằng cá bố mẹ cần được duy trì ở một khẩu phần ăn ít năng lượng vàprotein có hàm lượng tro cao Đối với mục đích đẻ trứng, cá nên được cho ănthức ăn giàu năng lượng và protein, nhưng nghèo tro Một cá mẹ có thể đẻ 4tháng liên tục khi được dinh dưỡng bằng khẩu phần ăn có cho thêm 10% pollackhoặc dầu từ gan cá tuyết to đầu Thức ăn chứa nhiều dầu từ gan cá tuyết to đầuhoặc kết hợp thêm đậu tương hoặc lecithin làm cho cá đẻ liền trong 13 tháng Cá
bố mẹ của loài S guttatus dinh dưỡng với khẩu phần ăn có chứa 18% mỡ từ các
nguồn này sẽ giúp cho cá có thể đẻ nhiều hơn và tỷ lệ sống sót của ấu trùng caohơn những cá dinh dưỡng bằng khẩu phần thức ăn chỉ có 12 - 15% mỡ Ấu trùng
từ những nguồn cá bố mẹ này thường to hơn Không có tác động đáng kể nào tới
sự thụ tinh, dung lượng của noãn hoàng và tỷ lệ nở theo 3 mức dinh dưỡng
Rất nhiều nghiên cứu về sự phát triển cá Dìa đã cho các kết quả mâu
thuẫn có thể là do sự khác nhau về hệ thống nuôi và chế độ cho ăn Cá S.
guttatus trong lồng chậm ở giai đoạn cá con nhưng rất nhanh ở giai đoạn tiền
trưởng thành Theo Miranda (1984), tỷ lệ thả giống thích hợp ở ao là 50 con/m2.Khi cho ăn cám gạo cá phát triển nhanh hơn nhưng tỷ lệ sống thấp Lumot (tảolục dạng sợi) làm thức ăn tốt hơn lap-lap của tảo lục- lam, tảo silíc và các vikhuẩn khác
2.1.4 Đặc điểm sinh sản
Vòng đời của cá dìa trong tự nhiên hầu như đã được biết đến(Thresher,1984) Chúng có chu kỳ sinh sản hàng năm, trong thời gian nhất địnhvào mùa xuân và đầu mùa hè (Lam,1974) Lam (1974) báo cáo rằng juvenile của
Siganuscanaliculatus xuất hiện vào cuối mùa xuân, thành thục sinh dục vào mùa
đông sau, và đẻ trứng vào mùa xuân Hasse và ctv (1977) lưu ý rằng cá có thể đẻtrứng nhiều lần trong một năm nhất định, và có thể đạt ít nhất hai năm tuổi thọ
Sinh sản tự nhiên của các loài thuộc Siganidae đã được quan sát ở S.argenteus (Tobias, 1976; Luchavez và Carumbana,1982), S Canaliculatus (McVey, l972),
S Chrysosphilos (Tridjoko và ctv.,1985); S Guttatus (Soletchnik, 1984; Juario
và ctv.,1985; Hara và ctv.,1986), S Rivulatus (Popper và ctv.,1973), S Virgatus (Tridjoko và ctv.,1985) và S Vermiculatus (Popper và Gtmdermann,1976).
McVey (1972) phát biểu rằng mức độ thủy triều là yếu tố quan trọng nhất trong
sinh sản của S.canaliculatus; điều này cũng giống với khẳng định của Manacop
(1937) rằng loài này đẻ khi thủy triều rút Lavina và Alcala (1974) ghi nhận làviệc sinh sản xảy ra trong ở tầng gần mặt của những vùng nước mở
Trang 18Sinh sản tự nhiên tuân theo chu kỳ trăng, ví dụ S.guttatus, sinh sản vào
khoảng 2-3 ngày sau 7 ngày đầu tiên của chu kỳ trăng trong suốt cả năm (Hara
và ctv., 1986) Những quả trứng được phóng thích khi sinh sản tự nhiên ở loài
S.guttatus chiếm khoảng 12% số lượng tế bào trứng trong buồng trứng và mất
5-10% trọng lượng cơ thể của con cái mỗi tháng (Soletchnik, 1984) Theo kết quả
nghiên cứu về mô (Juario và cộng sự, 1985), cá đực S guttatus sinh ra từ trại
giống, thành thục ở 10 tháng tuổi đạt chiều dài toàn thân 19 cm, con cái thànhthục 12 tháng tuổi chiều dài 21,5 cm
Soletchenik (1984) quan sát thấy sự thành thục đầu tiên của con S.
guttatus cái nuôi nhốt ở cỡ 200g (34cm) và con cái sinh ra từ trại giống ở cỡ
260g (20-22cm) Chất lượng và số lượng cho ăn là yếu tố quan trọng đối với sựthành thục của loài Hầu hết con cái ăn thức ăn công nghiệp chứa 43% proteinđều đặn một tháng một lần trong suốt thời gian sinh sản 11 tháng, cá dìa cànglớn cho lượng trứng càng nhiều (Soletchenik, 1984)
Cá 400g có chỉ số so sánh dinh dưỡng sinh sản (GSI) là 13,8 đẻ 0,8 triệutrứng Cá 520g có 12,6 GSI cho 1,2 triệu trứng (Soletchenik, 1984) Hara (1987)dựa trên cơ sở sự theo dõi hàng tuần GSI và cỡ trứng của cá ở thủy vực Cebu-Bohol (Philippin) trong 12 tháng cho thấy khi GIS lớn hơn 7,0 cá có thể đẻ
được Theo Soletchenik (1984) trứng cá dìa (S.guttatus) xuất ra trong 1 đợt sinh
sản tự nhiên chiếm khoảng 12% số lượng noãn bào và làm mất khoảng 5-10%trọng lượng con cái mỗi tháng
Tại bang nuôi trồng thủy sản thuộc SEAFDC, người ta đã tiến hành cho
loài cá dìa(Siganus gutatus) sinh sản nhân tạo và đã thành công Cá cái sinh sản
hàng tháng trong bể bằng vải bọt đường kính 6cm cá cái được kích thích đẻ tựnhiên bằng các loại hooc mon HCG, Citrat clomiphine Để đáp ứng về tinh của
cá dìa đực trưởng thành người ta đã tiêm cho cá đực loài S guttatus hoocmon
LHRHa cùng với spermatocit (68%) và một số tinh trùng là 14.1*106 tinh trùng1ml tinh dịch: việc sản xuất tinh dịch được duy trì suốt 3 tuần liên tiếp bằng cáccách tiêm thường xuyên 200ml LHRHa Tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tổng số trứng đẻbằng tổng số ấu trùng sinh ra cũng giống như trong sinh sản tự nhiên Các nhànghiên cứu còn cho rằng, sự thay đổi môi trường (có thể giảm mực nước, gâyphản ứng stress cũng có tác dụng làm tăng sự sinh sản hằng tháng nhưng để đảmbảo 100% cá đẻ vẩn còn có thêm kích dục tố ngoại sinh Trứng nở tự nhiênthường được độ măn từ 3-71 o/oo, với tỷ lệ nở là 90% Trứng đẻ do kích thíchchịu được độ mặn tới 68o/oo Kết quả nghiên cứu cho thấy độ mặn thích hợp là
Trang 19từ 20-32o/oo để ấp trứng và ương ấu trùng, tỷ lệ sống củng được cải thiện khiương ở nhiệt độ từ 22-260C.
Sự biến thái của ấu trùng gần như thay đổi nhanh chóng và rõ ràng về
hình dạng bên ngoài Ấu trùng loại S guttatus khi nở dài 1.42mm, nhưng chúng
phát triển cực nhanh trong 16 giờ đầu mặc dù khối lượng cơ thể giảm đi tronggiờ đầu tiên, cỡ miệng chỉ đạt 0.08 mm, khoảng 1.5 giờ sau thì chúng ăn lần đầutiên Thức ăn chúng ưa thích là luân trùng nhỏ (80-120 µm) Juario và cộng sự
(1985) đã tiến hành cho loài cá Siganus guttatus ăn tảo, luân trùng, artemia, thức
ăn nhân tạo trong quá trình ương cá bột và đã đạt được những thành công Saukhi nở 45 ngày, ấu trùng chuyển thành cá bột với độ dài khoảng 10mm Cá dìa
(S guttatus) đã được nuôi ở các môi trường khác nhau với các kích cỡ khác
nhau, sau đây là tốc độ phát triển trung bình của cá dìa (S guttatus) ở những môi
trường nuôi khác nhau
Một số loài cá dìa đã được nuôi từ lâu đời ở Philippin dưới các hình thứcnuôi đơn, ghép với cá Măng và phần lớn là nuôi trong ao Ao nuôi cá dìa có thểlấy nước lợ trực tiếp từ sông, nếu phải phụ thuộc vào nguồn nước từ các ao bêncạnh thường thất bại vì chất lượng nước không đảm bảo Ao ương chiếm khoảng1/5 tổng diện tích, cá đựợc nuôi trong ao ương khoảng 1 tháng với tỷ lệ thảgiống là 200.000-300.000 con/ha Ao chuyển tiếp chiếm khoảng 1/4 hoặc 1/3diện tích, được đặt gần ao ương hoặc ao nuôi vỗ, cá được nuôi ở đây khoảng 1tháng với mật độ thả giống là 60.000-100.000 con/ha Cá nuôi vào khoảng 3-4tháng với mật độ thả giống là 1.500-2.000 con/ha phụ thuộc vào thức ăn trong
ao và cỡ cá giống
Ở Indonesia, cá dìa là loài cá có giá trị và sinh sống ở nhiều đầm phá Yếu
tố liên quan tới sự phát triển nghề nuôi cá dìa ở nước này trong tương lai baogồm mối quan hệ về lợi ích kinh tế và nhu cầu thị hiếu (Woodland, 1979;Duray, 1990) Tuy cá dìa đã được nuôi phổ biến ở một số nước nhưng vẫn cònnhiều vấn đề phải nghiên cứu tiếp Có 6 vấn đề cần được xác định là: Cần điềutra về loài để xác định loài nuôi phù hợp và các yếu tố thị trường; Cần nghiêncứu kỹ về thức ăn có sử dụng các nguyên liệu giá rẻ và sẵn có ở địa phương, nhucầu thức ăn của cá bố mẹ và ấu trùng; Nghiên cứu kỹ thuật nuôi trong các điềukiện khác nhau như nuôi ao, lồng bè …; Hiện sinh sản nhân tạo không còn là trởngại nhưng phải nghiên cứu sản xuất giống có quy mô lớn đối với các loài khácnhau nhất là ở Việt Nam việc sản xuất giống đại trà vẫn chưa được tiến hành,người dân chủ yếu là vớt giống ngoài tự nhiên để ương nuôi; Cần hoàn thiệnthêm để đưa ra các tiêu chuẩn về các phương pháp thu hoạch, vận chuyển
Trang 20Nghiên cứu tiếp về các loại bệnh và cách phòng trị Và điều cuối cùng là cũngcần tìm hiểu các vấn đề về kinh tế xã hội của các trại nuôi cá dìa và nghề nuôi cádìa nói chung
Hara và ctv (1986) tiến hành quan sát các hành vi sinh sản của S.guttatus.
Trước khi sinh sản thực sự, con đực và con cái bơi kèm sát nhau Chúng bơi từ
từ gần mặt nước, con đực thường theo sau con cái Khi đẻ trứng, con đực tiếpcận con cái, chạm vào vùng hậu môn của con cái, sau đó tách ra khỏi con cái.Sau thời gian kích thích của con đực, con cái đẻ một lượng nhỏ trứng và con đựcphóng tinh dịch Chúng sẽ trở lại tĩnh lặng trong một thời gian, sau đó trứng và
tinh dịch được phóng ra nhiều hơn Hành vi sinh sản này tương tự như của S.
Vermiculatus (Gundermann và ctv., 1983; Popper và Gundermann,1975), S Canaliculatus trong tự nhiên (Manacop, 1937), và S rivulatus, S Luridustrong
điều kiện nuôi nhốt (Popper và Gundermann, 1975)
Trứng của cá dìa khi chín có dạng cầu, nhỏ, bám dính mạnh, có nhiều giọtdầu hình cầu, chìm trong nước (Lam, 1974; Leis và Rennis, 1983) trừ trứng của
loài S argenteus là dạng trứng trôi nổi tự do và không bám dính (Burgan và
Zseleczky, 1979; Luchavez và Carumbana, 1982) Manacop (1937) cho rằng sự
cấu tạo lưới ở màng trứng của loài S canaliculatus là nguyên nhân gây ra sự bám dính của trứng Cấu tạo lưới này không thấy rõ ở trứng của S guttatus
(Hara và ctv., 1986) Trứng phát triển nhanh chóng và nở trong 25 đến 32 giờ ở27-29°C (May và ctv., 1974; Popper và ctv,1973; Von Westernhagen và
Rosenthal, 1975) Ấu trùng mới nở có kích thước từ 0,76mm ở S.canaliculatus (Thresher, 1984) đến 2,60mm ở S.fuscescens (Fujita vàUeno,1954) Ấu trùng cá
dìa là sinh vật phù du và ăn noãn hoàng của chúng trong vòng hai hoặc ba ngày(Poppervà ctv., 1973) Thời gian trung bình của giai đoạn phù du khoảng 25
ngày (23ngày đối với S.canaliculatus (May và ctv.,1974); 29ngày đối với
S.leneatus (Bryan và Madraisau,1977) Hầu hết các loài cá dìa có thể đẻ trứng
trong điều kiện nuôi nhốt nhiều tháng trong năm Khả năng đẻ trứng liên tục
quanh năm của S.guttatus ở điều kiện bị giam cầm đãđược báo cáo bởi Hara và
ctv(1986) Phát hiện này cho rằng xử lý nội tiết tố (Bryan và ctv, 1975) có thểkhông cần thiết nếu cho sinh sản vào đúng những ngày tháng âm lịch Bên cạnh
đó, dinh dưỡng của cá mẹ là một yếu tố thành công tự nhiên (Lam, 1974; Hara
và ctv, 1986)
Người ta đã quan sát hiện tượng sinh sản tự nhiên diễn ra trong điều kiện
nuôi nhốt ở loài S guttatus (Soletchnik, 1984; Juario và cộng sự,1985; Hara và cộng sự,1986) Việc sinh sản tự nhiên diễn ra theo chu kỳ trăng, loài S guttatus
sinh ra vào khoảng 2-3 ngày sau 7 ngày đầu tiên của chu kỳ trăng trong suốt cả
Trang 21năm (Hara và cộng sự, 1986) Cá Dìa cũng được kích thích đẻ tự nhiên bằng
hooc môn Đối với cá Dìa (S guttatus) tiêm HCG với liều 2IU/g tỷ lệ cá đẻ là
25% sau 4 lần tiêm (Palma,1978), với Clomiphinecitrate 2IU/g đẻ sau 2 lầntiêm, kết quả phụ thuộc vào đường kính noãn bào (Juario và cộng sự, 1985); VớiHCG 2IU/g đẻ 100% (Ayson 1990,1989); với LRH-a 6,7mg/viên/250g cá cá đẻ8-9 ngày sau khi cấy hoóc môn dạng viên (Havey và cộng sự, 1985) Trứng xuất
ra trong một đợt sinh sản tự nhiên của loài S guttatus (Soletchnik, 1984) chiếm
khoảng 12% số lượng noãn bào và làm mất 5-10% trọng lượng con cái mỗi tháng
Về tập tính sinh sản ở loài S.guttus, Hara và cộng sự (1986) quan sát thấy
con đực đuổi theo và thúc vào bụng con cái Con đực tiếp tục bơi gần con cái,thỉnh thoảng lại thúc lần lượt vào nắp mang, vùng hậu môn và cuống đuôi Concái sau đó đẻ trứng và con đực xuất tinh, cả hai con bơi rất năng động quanh bể.Tất cả những lần quan sát được đều xãy ra vào khoảng giữa những ngày trăngnon và trăng rằm Các kết quả của một nghiên cứu trong một năm về chu kỳ sinh
sản của cá Dìa (S guttatus) ở các vùng nước ở Cebu-Bohol (Philipin) trùng với
quan sát trước đây là cá nuôi nhốt sinh sản trong tuần đầu tiên của chu kỳ trăng(Hara và cộng sự,1986) Hầu hết cá Dìa trong tự nhiên có một mùa đẻ nhất định,
cá Dìa nuôi nhốt sinh sản suốt năm Theo Soletchnik (1984); Hara và cộng sự(1986 ) cá S guttatus ở Philipin đẻ quanh năm
Sự phát triển của phôi phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ và đường kính
trứng Trứng cá S guttatus đã thụ tinh có đường kính 0,46mm mất khoảng 28
-31 giờ để nở ở nhiệt độ 25 - 27oC (Palma, 1978), đường kính 0,55mm nở sau 20
- 26 giờ ở nhiệt độ 26 - 30oC (Juario và cộng sự, 1985), còn đường kính 0,54 0,60mm mất 18 - 20 giờ ở nhiệt độ 26 - 28oC (Hara và cộng sự, 1986)
-Ấu trùng mới nở thường trôi nổi rất yêú và có chiều dài toàn thânkhoảng 1,5-2,6mm Ruột của chúng thẳng, mắt chưa có sắc tố và miệng
chưa hình thành, ở loài S.guttatus túi noãn hoàng có kích thước 0,70 x 0,24mm và có 2 giọt dầu (Hara và cộng sự, 1986) Ấu trùng của loài S.
guttatus bộc lộ tính ưa ánh sáng và dòng chảy lần lượt thể hiện khi cá đạt chiều
dài toàn thân là 2,6mm và 2,7 mm; tính ưa ánh sáng biến mất ở cỡ 9,2mm Ấutrùng ổn định ở bể đáy ương ở cỡ 19,6mm (Hara,1987)
Ở lần mở miệng đầu tiên, cỡ miệng của S.guttatus chỉ là 0,08mm ở 30,5
giờ sau khi nở Lần ăn đầu tiên xuất hiện vào 1,5 giờ sau khi mở miệng và thức
ăn ưa thích là luân trùng nhỏ (80 -120m)
Trang 222.2 Tình hình nghiên cứu cá dìa trên thế giới và ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của các nhà ngư loại học, họ cá dìa (Siganidae) ở Việt
Nam có 15 loài (danh mục cá biển Việt Nam, 1996) Vùng đầm phá thừa Thiên
Huế chỉ có 4 loài; S guttatus, S oramin, S.sp, S fusceceus (Nguyễn Văn Tiến,
2000, Võ Văn Phú, Lê Văn Miên, 2001) Trong đó cá dìa ( S guttatus) là loài
cá nước lợ điển hình, có giá trị kinh tế nhất, loài này thường gặp ở vùng nướcnông ven bờ Ở vùng đầm phá, chúng phân bố rộng từ cửa biển nơi có nồng độmuối khá cao (>20 o/oo) đến vùng cửa sông, nơi có nồng độ muối thấp (1-2o/oo), (Võ Văn Phú, 2001) Nhờ sự thích nghi rộng muối và rộng nhiệt, cá dìaxuất hiện quanh năm và có thể nuôi trên toàn bộ đầm phá
Các nghiên cứu về thành phần thức ăn tự nhiên của cá dìa, đã xác địnhđược 34 loài Trong đó tảo Silic chiếm ưu thế 20 loài Về khối lượng các loàithực vật chiếm ưu thế, ngoài ra còn có một ít động vật có xương sống Phổ thức
ăn của cá phù hợp với thức ăn có trong môi trường (Võ Văn Phú, 2001) Dựavào đặc điểm này có thể thấy cá là đối tượng nuôi thả tốt Các nghiên cứu gầnđây về nguồn lợi cá dìa cho biết sản lượng cá dìa trong thời gian qua suy giảm
rõ rệt Nguyên nhân là do người dân sử dụng nhiều loại ngư cụ khác nhau: lướivây, chuôm, te máy, xiết điện …để khai thác quanh năm Đặc biệt nghề đáydùng đụt đáy có mắt lưới quá nhỏ nên hầu hết cá dìa giống trôi từ biển vào đều
bị chết, làm cho nguồn lợi cá dìa trong đầm phá gần như cạn kiệt Việc sản xuấtthức ăn và kỹ thuật cho ăn là một trong những khâu quan trọng trong sản xuấtgiống Ngày nay với nhiều kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất thức ăn nhân tạo cho
ấu trùng, những loại thức ăn tươi sống như: tảo, luân trùng, giáp xác và Artemiavẫn được xem là nguồn thức ăn quan trọng và có tiềm năng lớn trong sản xuấtgiống Nhiều loại tảo đã được nghiên cứu nuôi trong phòng thí nghiệm và nuôi
sinh khối như: Thalasiossirapseudomonas,Skeletonema, Chaetoceroscalcitrans,
Chaetocerosmulleri, Nannochloropsis ocula, Chlorella minutissma, Isochrisis galbana, Pavlova viridi,Phaeodactylum triconutum, Tetraseomis, luân trùng
(Brachionusplicatilis), ấu trùng 2 mảnh vỏ, ấu trùng tôm, cá theo nhiều phương
pháp khác nhau
Theo Lê Đức Ngoan và CTV., 2003 có kết quả nghiên cứu khoa học cấp
bộ đã xác định thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa của cá dìa là 37 chi thuộc
8 ngành động vật và thực vật Ở Thừa Thiên Huế, cá dìa là loài cá nước lợ đặcsản nổi tiếng, có nhiều ở đầm Cầu Hai Giá cá dìa tại các nhà hàng hiện nay là từ130.000-150.000đ/kg, Nguyễn Văn Huy và Nguyễn Văn Huệ, 2007
Trang 23Báo cáo tổng kết công tác nuôi trồng thủy sản năm 2005 và phươnghướng nhiệm vụ kế hoạch năm 2006 của Sở thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế, tỉnh
đã phát triển đa dạng hóa đối tượng, trong lúc tình hình nuôi tôm gặp khó khăn,năm 2006 nhiều địa phương đã mạnh dạn chuyển sang nuôi các đối tượng khác,nghề nuôi cá dìa, cá Hồng , cá Mú …bằng lồng phát triển mạnh ở vùng gần cửabiển Tư Hiền, Hải Dương, Lộc Bình,…Tổng số lồng nuôi là 246 cái, sản lượngthu hoạch là 53 tấn Quảng Điền đã thử nghiệm nuôi xen ghép trong ao nuôi tômcác đối tượng mới như cá dìa …có kết quả và mở ra triển vọng phát triển môhình này đối với các loại ao chìm trên đầm phá hiện nuôi tôm không hiệu quả.Năm 2005, trung tâm khuyến ngư đã sản xuất nhân tạo thành công giống cá dìa,
mở ra hướng mới cho sản xuất cung cấp giống cá dìa cho nuôi trồng thủy sảnnăm 2006 đồng thời đưa ra những mô hình mới có kết quả tốt như nuôi tôm Súkết hợp cá dìa và trồng rong câu Toàn tỉnh sẽ chuyển đổi đối tượng nuôi thủysản từ 15-20 ha ao nuôi vùng hạ triều bị ô nhiễm không nuôi tôm được sangnuôi cá dìa, rong câu và tôm
Tuy nhiên, việc nghiên cứu cá dìa chưa được công bố nhiều trên các tàiliệu cũng như các phương tiện thông tin mà chỉ là những báo cáo khoa học nhỏ,
lẻ, chưa có hệ thống Người dân đa phần nuôi cá theo kinh nghiệm chứ chưa có
kỉ thuật nuôi hoàn thiện Do vậy cần nhiều hơn sự quan tâm, đầu tư nghiên cứucủa các nhà khoa học Việt Nam Một số thành công bước đầu nghiên cứu về cáDìa ở nước ta:Theo nghiên cứu của các nhà ngư loại học, họ cá Dìa ở Việt Nam
có 15 loài (Danh mục cá biển Việt Nam, 1996) Ở vùng đầm phá Thừa Thiên
Huế có 4 loài (Võ Văn Phú, 2001) [4] Trong đó cá Dìa S Guttatus là loài cá
nước lợ điển hình có giá trị kinh tế nhất, thường gặp ở vùng nước nông ven bờ.Vùng đầm phá chúng phân bố rộng từ vùng cửa biển có nồng độ muối cao đếnvùng cửa sông nơi nồng độ muối chỉ đạt 1 – 2ppt Nhờ sự thích nghi rộng muối
và rộng nhiệt cá Dìa xuất hiện quanh năm và có thể nuôi trên toàn bộ đầm phá.Theo Lê Thị Nam Thuân (1996) cá Dìa trong điều kiện tự nhiên, chin muồi sinhdục và đẻ vào tháng 4 Chúng có thể đẻ trứng kéo daì và kết thúc vào tháng 8.Một số nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá Dìa như: Dự án sản xuất giống cáDìa do Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Thừa Thiên Huế thực hiện (2003 – 2005)dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của chuyên gia đến từ Trung tâm nghiên cứu ngề cáĐông Nam Á Nghiên cứu của Lê Văn Dân (2006) về sự phát tiển tuyến sinh dục
cá Dìa, một số chỉ tiêu sinh học sinh sản và nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá Dìa ởThừa Thiên Huế Tuy đã có những nghiên cứu về sản xuất giống cá Dìa ở Việt
Trang 24Nam, nhưng đến nay vẫn chưa sản xuất được con giống để cung cấp cho ngườinuôi.
2.3 Tình hình nghiên cứu cá dìa tại Thừa Thiên Huế
Cá dìa là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế ở đầm phá tỉnh Thừa ThiênHuế Mùa vụ sinh sản tự nhiên của cá dìa từ tháng 8 ðến tháng 3 nãm sau (LêVãn Dân và cộng sự, 2006) Cá dìa có kích thước 1,5 - 5 cm xuất hiện ở đầmphá Thừa Thiên Huế từ tháng 3 đến tháng 9, tập trung vào các tháng 3, 4, 5 tạikhu vực Tam Giang, Đầm Sam và cửa Tư Hiền
Năm 1980, Hoàng Đức Đạt, Võ Văn Phú nghiên cứu về đặc tính sinh học
của cá dìa - Siganus guttatus ở đầm phá nam tỉnh Bình Trị Thiên Năm 1991, Võ
Văn Phú dẫn liệu về đặc tính sinh học của một số loài cá kinh tế ở vùng đầm phátỉnh Thừa Thiên Huế Năm 1995, Võ Văn Phú nghiên cứu khu hệ cá và đặcđiểm sinh học 10 loài cá đầm phá Thừa Thiên Huế [9] Năm 1998, Võ Văn Phúnghiên cứu dẫn liệu bước đầu về đặc tính sinh trưởng và dinh dưỡng của cá dìa
(Siganus guttatus) ở đầm phá Thừa Thiên Huế Năm 2006, Lê Đức Ngoan nghiên cứu phát triển nuôi cá dìa (Siganus guttatus) và tôm he Rằn (Peanus
semisulcatus) ở vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế.
Lê Đức Ngoan, Lê Văn Dân, 2006 “Nghiên cứu sự phát triển tuyến sinh
dục của cá dìa (Siganus guttatus, Bloch, 1787) ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế,
đã nghiên cứu được chu kỳ phát dục của noãn sào cá Dìa không rõ ràng, chỉ bắtgặp cá thành thục vào tháng 3 và tháng 5, tỷ lệ thành thục thấp (8,3%) Trongnăm, thời gian thành thục của cá Dìa đực từ tháng 3 đến tháng 7 năm sau, tỷ lệthành thục cao vào tháng 3 (72,7%) và tháng 6 (61,5%) Cá dìa là loài cá đơn tính,trong cấu trúc tế bào học tuyến sinh dục có nhiều tế bào sinh dục phát triển quacác thời kỳ khác nhau, tế bào trứng chín có kích thước khác nhau chứng tỏ cá đẻnhiều đợt, nhiều lần trong năm và thời gian đẻ kéo dài Không tìm thấy tuyến sinhdục của cá dìa ở giai đoạn V và VI, chứng tỏ cá không sinh sản ở vùng đầm pháThừa Thiên Huế [1] Lê Văn Dân, Lê Đức Ngoan, 2006, Một số tiêu chí sinh sản
của cá dìa (Siganus guttatus, Bloch, 1787) ở đầm phá Thừa Thiên Huế Lê Văn
Dân, Lê Đức Ngoan, 2006, Kết quả bước đầu về sinh sản nhân tạo cá dìa
(Siganus guttatus, Bloch, 1787).
“Nuôi cá dìa giống sinh sản nhân tạo (Siganus guttatus, Bloch, 1787) kết hợp với Rong Câu chỉ vàng (Gracilaria Verrucosa) và tôm sú (Penaeus
monodon)” tại xã Hương Phong, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế do Lê
Thị Bích Thủy nghiên cứu năm 2007 Năm 2007, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Châu
Trang 25Thị Tuyết Hạnh nghiên cứu ảnh hưởng củ thức ăn công nghiệp và rong biển
(Gracillaria sp) đến sinh trưởng và phát triển của cá dìa (Siganus guttatus) nuôi
thương phẩm Năm 2008, Nguyễn Văn Huy “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái dinh
dưỡng và khả năng tiêu hóa của cá Dìa (Siganus guttatus) đối với một số loại thức
ăn khác nhau ở đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế Nghiên cứu đặc điểm sinhthái dinh dưỡng của cá dìa: Vùng phân bố đặc điểm môi trường, thành phần thức
ăn tự nhiên, tập tính ăn
Nguyễn Hữu Khánh, Hồ Thị Bích Ngân, Đặng Đình Dũng, Ngô Nguyên
Đáng đã công bố kết quả thử nghiệm nuôi cá Dìa (Siganus guttatus), cá Kình (Siganus oramin) kết hợp với cá Nâu (Scatophanus argus) và cá Đối (Mugil
cephslus) ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, Thừa Thiên Huế [6]
Năm 2012, Nguyễn Tý với đề tài nghiên cứu một số ký sinh trùng ngoại
ký sinh trên cá dìa (Siganus guttatus) giai đoạn cá hương đến cá giống nuôi ở
đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế Phạm Thị Hải Yến xác định tỷ lệ tiêu
hóa các chất dinh dưỡng và axit amin của một số loại thức ăn cá dìa (Siganus
guttatus).
2.4 Một số cơ sở khoa học về nuôi vỗ.
Sản xuất giống cá trong thực tiễn là thực hiện các biện pháp kỹ thuật sinhhọc nhằm tạo ra thế hệ con có sức sống từ những cá đã trưởng thành để thả nuôi
ở các vùng nước Vì thế nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ là khâu quan trọng đầu tiêntrong quy trình sản xuất giống, làm tiền đề cho những khâu kỹ thuật kế tiếp Sau
đó mới là việc kích thích sinh sản (có thể gồm cả việc gieo tinh nhân tạo), ấptrứng và ương cá mới nở đến khi thành cá giống, nghĩa là có đủ sức sống để thảvào các vùng nước
Nuôi vỗ cá bố mẹ là quá trình cho ăn, chăm sóc, tạo điều kiện thuận lợicho sự thành thục, tức là để có buồng tinh (tinh sào) và buồng trứng (noãn sào)phát triển tốt ở cá đực và cá cái một cách tương ứng vào thời gian thích hợptrong điều kiện nhân tạo Cá phát triển đầy đủ sẵn sàng chuyển sang tình trạngsinh sản khi gặp điều kiện môi trường thuận lợi, hoặc được kích thích bằngphương pháp sinh lý (Nguyễn Tường Anh, 2005)[1]
2.4.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nuôi vỗ cá bố mẹ
Mỗi loài cá đẻ vào một thời vụ khác nhau Quá trình thành thục có tínhchu kì rõ rệt Tính chu kì là sự thích nghi có tính chất di truyền Nghiên cứu tínhchu kì trên, người ta căn cứ vào những vấn đề sau:
Trang 272.4.1.1 Về tổ chức tế bào học
Để nuôi cá vào nuôi vỗ đúng thời điểm, cần phải nghiên cứu tổ chức tếbào học của tuyến sinh dục
2.3.1.2 Về đặc điểm sinh thái và sinh lý
Vào cuối thu sang đông nhiệt độ nước lớn hơn nhiệt độ sinh học, đôi khinhiệt độ nước nhỏ hơn nhiệt độ sinh học (rất hiếm) cá có hiện tượng tích lũy mỡrất tốt, sự phát triển của buồng trứng hầu như không có Sự trao đổi chất chủ yếu
là đồng hóa mãnh liệt Do đó thời kì này người ta tập trung cung cấp thức ăn tinh cho
cá để cho cá tích lũy vật chất dinh dưỡng một cách cao nhất Sau đó sang mùa xuânnhiệt độ nước tăng lên, đây là điều kiện thích hợp cho quá trình phát triển tuyến sinhdục Sự trao đổi chất chủ yếu ở thời kì này là quá trình chuyển hóa vật chất dinhdưỡng đã tích lũy được cho tuyến sinh dục (Lê Văn Dân và CTV, 2005) [1]
2.4.1.3 Về đặc điểm sinh thái
Buồng trứng của cá cái phát triển theo một quy luật mang tính chất chu kì
rõ rệt Qua nghiên cứu người ta thấy rằng: Khi cá đang thành thục khối lượngbuồng trứng tăng lên rõ rệt Điều này chứng tỏ có sự trao đổi chuyển hóa vậtchất bên trong cơ thể cá Nghiên cứu sự chuyển hóa vật chất trong cơ thể cá làmột yêu cầu cần thiết cho sự phát triển của tuyến sinh dục
Vật chất tích lũy chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn II – III: là giai đoạn sinh trưởng mạnh, tức là quá trình đồnghóa vật chất dinh dưỡng ở cơ và gan cá (lúc này là mùa thu đông) Vì vậy thờigian này cá đòi hỏi rất nhiều thức ăn (đặc biệt là thức ăn giàu protein)
- Bước sang xuân đầu hạ, buồng trứng cá bước sang giai đoạn IV, lúc này
có sự đồng hóa mạnh mẽ ở buồng trứng, đồng thời quá trình dị hóa ở cơ và gan.Đây là quy luật trao đổi chất của cá, đặc biệt đối với cá đã tham gia sinh sản
Biết được quy luật hoạt động của tuyến sinh dục nên trong sinh sản nhântạo người ta nuôi vỗ cá bố mẹ theo 2 giai đoạn
- Giai đoạn nuôi vỗ tích cực: Tạo mọi điều kiện cho cá tích lũy vật chấtdinh dưỡng bằng cách tăng cường cho cá ăn Trong thực tế lấy Ball mỡ làm tiêuchuẩn, thường kết thúc giai đoạn nuôi vỗ tích cực, cá phải đạt Ball 4 - Ball 5,sau đó chuyển sang giai đoạn tiếp theo
Trang 28- Giai đoạn nuôi vỗ thành thục: mục đích giai đoạn này là bằng các yếu tốsinh thái, dinh dưỡng bắt các vật chất dinh dưỡng đã được tích lũy ở giai đoạntrước đó chuyển hóa cho buồng trứng (Lê Văn Dân và CTV, 2005) [1].
2.4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài lên sự phát dục tuyến sinh dục của cá bố mẹ được nuôi vỗ
Chế độ dinh dưỡng tốt có thể làm cho cá phát dục, thành thục và sinh sảnsớm.Dinh dưỡng ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển tuyến sinh dục của cácloài cá nuôi
Đảm bảo cho sự phát triển tuyến sinh dục cá phải chú ý trên cả haiphương diện: số lượng và chất lượng thức ăn phù hợp với nhu cầu dinh dưỡngcủa từng loài cá Nhiều nghiên cứu về thực tế sản xuất đã chứng tỏ rằng, chấtlượng thức ăn có ảnh hưởng rõ rệt đến mùa vụ sinh sản, hệ số thành thục, tỷ lệthành thục, chất lượng trứng và cá con
Trong tự nhiên nhiều loài cá chỉ đẻ 1 lần trong năm với mùa vụ sinh sảnkéo dài vì không đủ chất dinh dưỡng sau khi đẻ Những cá như thế ngay sau khi
đẻ nếu được nuôi vỗ tốt, đặc biệt là được cung cấp thức ăn đầy đủ cho sự phụchồi sức khỏe và sự tạo trứng tạo tinh thì có thể tái thành thục và sinh sản nhiềulần trong năm Tuy nhiên cũng có những cá chỉ đẻ một lần trong năm với mùa rõrệt và tương đối ngắn
Những cá thành thục trong năm thường có hệ số thành thục lần đầu trongnăm ấy.Vì vậy các yếu tố môi trường và hoạt động nội tiết cá bình thườngnhưng cá có thời gian bắt mồi và tái tích lũy noãn hoàng ngắn trước khi sinh sảnlần sau trong năm [1]
2.4.2.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng rõ rệt đối với các phản ứng hóa học Khi nhiệt độtăng 100C thì thời gian của phản ứng hóa học rút ngắn còn một nửa.Đối với cácphản ứng sinh hóa điều này cũng đúng trong khoảng nhiệt độ thích hợp
Trang 29Cá là động vật biến nhiệt, nhiệt độ môi trường quyết định sự hoạt độngchung và nhất là sự dinh dưỡng của cá Ở nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao, cákhông bắt mồi được, dự trữ mỡ cạn kiệt thì tuyến sinh dục là nguồn chất dự trữ duytrì sự sống của cá.Trong trường hợp này, tuyến sinh dục ngưng phát triển và tiêubiến, sự sinh sản bị ảnh hưởng xấu.
Đối với mỗi loài cá có một khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triểntuyến sinh sục và sinh sản.Ngoài khoảng nhiệt độ ấy, cá có thể sống nhưngkhông thành thục và sinh sản được.Điều này có liên quan đến sự phân bố địa lýcủa loài
Đối với những loài cá có sự di cư sinh sản thì có thể có sự khác biệt nhiệt độthích hợp với sự pháttriển của tuyến sinh dục, nhiệt độ thích hợp cho sự đẻ trứng
Trong phạm vinhiệt độ thích hợp thì nhiệt độ càng cao càng rút ngắn thờigian nuôi vỗ cá bố mẹ Nikonski (1967) cho biết “Mỗi giai đoạn phát triển của
cá thể nói chung và buồng trứng nói riêng đòi hỏi mức nhiệt độ khác nhau Khinhiệt độ thấp thích hợp cho sự sinh trưởng và tích lũy vật chất dinh dưỡng, cònkhi nhiệt độ cao lại thích hợp cho quá trình thành thục của tuyến sinh dục” [1]
2.4.2.3 Quang kỳ
Quang kỳ hay chu kỳ quang là thời gian có ánh sáng trong 24 giờ liên tục.Nói đơn giản, quang kỳ trong tự nhiên là thời gian ban ngày trong một ngàyđêm, tổng thời gian của quang kỳ và thời gian ban đêm tương ứng là 24 giờ
Bằng thực nghiệm người ta chứng minh được rằng sự phát triển tuyến
sinh dục của những loài cá Hồi (Salmonidae) và nhiều loài cá biển chịu ảnh
hưởng của sự biến động về quang kỳ Đối với những loài cá như thế trong tựnhiên sự thành thục diễn ra sớm khi quang kỳ giảm thì việc giảm thời gian chiếusáng ban ngày làm cho cá thành thục và rụng trứng sớm hơn [1]
Như vậy, vai trò của dòng nước đối với sự thành thục của cá là rất quantrọng, chính vì vậy mà các loài cá ở tự nhiên sinh sản khi có sự thay đổi về dòngnước, chất nước và thường tập trung vào mùa mưa Trong quá trình di cư ngược
Trang 30dòng đi đẻ, cường độ bắt mồi của cá giảm dần theo sự phát triển của buồngtrứng, theo đó độ béo của cá cũng giảm do sự chuyển hóa chất dinh dưỡng chobuồng trứng
Từ lý luận và thực tiễn sản xuất giống của nhiều loài cá cho thấy rằng:những ao thường xuyên kích thích nước cá sẽ thành thục tốt, sức sinh sản cao,chất lượng trứng và ấu trùng tốt Cũng có thể giải thích hiệu quả của kích thíchnước là khi dùng dòng nước để kích thích cá trong ao tức là sử dụng biện pháptổng hợp để làm thay đổi toàn bộ điều kiện trong ao nuôi Việc thay nước mớitrong ao còn tạo điều kiện cho sự vận động, chuyển hóa các chất dinh dưỡng đãtích lũy sang tế bào trứng Biện pháp thay nước mới hoặc kích thích bằng dòngnước đặc biệt quan trọng đối với những ao nuôi vỗ cá bố mẹ có mật độ cao,diện tích nhỏ và độ sâu của ao thấp [1]
Nhìn chung, có thể nói các yếu tố bên ngoài, các yếu tố hữu sinh và vô sinhcủa môi trường là rất quan trọng liên quan đến sự thành thục và sinh sản của cá vàđược coi là khâu đầu tiên trong những tác nhân dẫn đến sự sinh sản cá [1]
2.5 Nghiên cứu về dinh dưỡng.
Cá Dìa là động vật ăn thực vật theo từng đàn nhỏ trên nhiều loại tảo đáy(Tsuda và Bryan,1973; Von Westernhagen,1973; Bwathondi,1982) Trong tựnhiên, chúng ăn một số loài tảo, như Gracilaria, Hypnea, Laurencia được chứngminh là ưa thích nhất (Von Westernhagen, 1973) Bên cạnh đó, chúng cũng ănEntemorpha, Ulva, Sargassum, Turbinaria và Enhalus [11]
Ấu trùng của S guttatus tiêu thụ noãn hoàng của chúng và bắt đầu dinh
dưỡng vào ngày thứ 2 Tuy nhiên tỷ lệ chết xảy ra rất cao vào những ngày đầu,đặc biệt vào ngày thứ 3-4 do thiếu loại thức ăn phù hợp (Juario và ctv., 1985;Hara và ctv., 1986) [17] Cho ăn bằng Brachionus (cỡ nhỏ hơn 90μm) với mứcm) với mức10-20 cá thể/ml tăng tỷ lệ sống sót ở giai đoạn ấu trùng (Duray, 1986; Hara và
Trang 31ctv., 1986) Chlorella, Tetraselmis và Isochrysis là những nguồn thức ăn của ấu
trùng nhưng không được sử dụng quá ngày thứ 4 (Duray, 1986) Đối với S.
guttatus, sử dụng thực vật phù du tổng hợp hoặc riêng Isochrysis kết hợp với
Brachionus cỡ nhỏ đã mang lại sự sống sót tốt hơn khi dùng Tetraselmis kết hợpvới Brachionus hoặc Chlorella với Brachionus [9]
Trong các trại giống, ấu trùng cá dìa dinh dưỡng bằng nauplii củaBrachionus, Artemia và thức ăn nhân tạo(May và ctv., 1974; Bryan vàMadraisau, 1977; Palma, 1978; Luchavez và Carumbana, 1982; Juario và ctv.,
1985; Hara và ctv., 1986) Nếu tách con non của loài S guttatus khỏi bố mẹ ở
giai đoạn sớm (ngày thứ 10-15) thì tỷ lệ sống sót sẽ rất thấp Tuy nhiên, Gomez
(1988) đã tách thành công con non 25 ngày tuổi của S guttatus và dùng thức ăn
nhân tạo với lipid lấy từ nhiều nguồn khác nhau, tỷ lệ sống đạt 78,6-83,8% [9]
Parazo(1990) thử nghiệm sáu chế độ ăn gồm ba mức protein (25%, 35%,
45% chất khô), mỗi mức gồm 2 mức năng lượng ước tính (3161 kcal/kg,3832kcal/kg) làm thức ăn cho cá bột trong 8 tuần, nuôi trong bể 250lít với mật
độ thả giống 80 con/bể Tốc độ tăng trưởng tăng lên khi tăng hàm lượngprotein Dựa trên phản ứng tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng protein ,một chế độ ăn với 35% protein và 3832kcal/kg năng lượng đã được tìm thấy làtốt nhất cho cá dìa con Hàm lượng chất béo trong thân thịt tăng ở những cáđược cho ăn với chế độ ăn 3832kcal/kg năng lượng Protein thịt xẻ và tỷ lệphần trăm tro cơ bản vẫn ổn định và độc lập với chế độ ăn thí nghiệm [21]
Zhao Feng và ctv (2009) đã phân tích thành phần axít béo trong các bộ
phận khác nhau của cá cái Siganus gutattus trưởng thành, kết quả cho thấy lipid
tổng số chứa trong cơ, gan và buồng trứng tương ứng là (2,79 ± 0,15)%, (12,78
± 1,30)% và (2,85 ± 0,17)% [26]
Parazo (1991) đã sử dụng thức ăn nhân tạo có mức protein tương đương
với nauplii của Artemia choấu trùng S.guttatus Ấu trùng phát triển tốt như nhau
trên tất cả các thức ăn nhân tạo trong khi ấu trùng được cho ăn Artemia chậmphát triển và tỷ lệ sống thấp Điều này có thể là do tỷ lệ cho ăn dưới mức tối ưuhoặc chất lượng dinh dưỡng của Artemia thiếu hụt Parazo (1991) đã đưa ra mộtkhẩu phần với 40% protein và mức năng lượng là 3971 kcal/kg dùng cho các trại
sản xuất giống S guttatus, mức cho ăn là 4,5g/bể/ngày [22].
Một vài nghiên cứu đã được thực hiện dựa trên các nhu cầu năng lượnghoặc khả năng sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau của ấu trùng cá dìa.Parazo (1991) nhận thấy ấu trùng cá dìa sử dụng nhiều carbohydrate hiệu quả
Trang 32hơn so với ấu trùng cá chẽm và cá mú Trong đó carbohydrate chiếm 37% nguồncung cấp cũng không gây ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng của ấu trùng và khônglàm thay đổi protein thịt cá Parazo (1991) đã thành công khi sử dụngđến10%dầu gan cá tuyết trong khẩu phần thử nghiệm cho ấu trùng cá dìa Điềunày đã được mặc nhiên công nhận bởi Parazo, rằng loài cá này có khả năng sửdụng chất béo và carbohydrate và đề nghị năng lượng tổng số 3900kcal/kg trongthức ăn của ấu trùng cá dìa [9].
Hara và ctv (1986)cho rằng ấu trùng S.guttatus yêu cầu 53-59% protein
thô trong khẩu phần ăn nuôi thương mại trong khi trước đây Juario và ctv (1985)
đã đề xuất 40% protein thô là đủ trong quá trình sản xuất giống Tuy nhiên, việcnghiên cứu, so sánh về sự tồn tại và hiệu suất tăng trưởng của cá dìa được cho ănthức ăn nhân tạo so với thức ăn tươi sống đã không được thực hiện [14]
Mặc dù cá dìa chủ yếu ăn thực vật trong tự nhiên, chúng cũng có khả năng
ăn tạp Một số chỉ dẫn quan sát rằng cá dìa là động vật ăn thực vật không bắt buộc
(Lam, 1974) [22] Trong điều kiện nuôi nhốt, S Canaliculatus ăn tất cả các loại
thực phẩm cung cấp, chẳng hạn như gạo đã nấu chín, tôm khô và thậm chí cá phế
liệu Tương tự như vậy, S.rivulatuslưu giữ trong hồ sẽ ăn một số thực phẩm như
cá băm nhỏ hoặc nhuyễn thể, bột cá, bột viên, rong biển (Ben-Tuvia và ctv.,1973) [11] Dựa trên khả năng ăn tạp của cá dìa, Parazo (1990) đã cố gắng tìmnguồn cung cấp nguyên liệu xây dựng khẩu phần quy mô thương mại [11]
Một số loài (S canaliculatus, S.rivulatus,S spinus, S guttatus) khi được
nuôi, chấp nhận rất nhiều loại thức ăn (Horstmann, 1975; Tahil, 1978;Carumbana và Luchavez, 1979) [13] Con non và con trưởng thành ngoài tựnhiên ăn bất cứ loài tảo nào mà chúng kiếm được (Bryan, 1975; Westernhagen,1973; Tsuda và ctv., 1976) Cá dìa ăn rất tích cực vào buổi sáng sớm và ít hơnvào ban đêm (Popper và Gundermann, 1975; Burgan và Zseleczky, 1979; Hasse
và ctv., 1977) [9]
Trong ao, Ganzon-Naret (1991) thu được trọng lượng cao nhất của S.
guttatus dinh dưỡng bằng lumut bổ sung vớimột khẩu phần có chứa 30%
protein Tuy nhiên, tỷ lệ sống sót caonhấtlà ở những cáđược cho ănduy nhất lumut
[9]
Các kết quả nghiên cứu nuôi loài S rivulatus bằng lồng cho thấy cá đạt cỡ
185g/con sau 10 tháng nuôi [12] [16] Lichatowich và ctv (1984) thử nghiệmnuôi cá dìa bằng thức ăn chế biến với hàm lượng bột đậu nành 53%, bột cá 14%,
Trang 33bột bắp 15%, bột mì 15%, vitamin và khoáng 3% cho thấy cá sinh trưởng tốt vàđạt kích cỡ 105 g/con sau 5 tháng nuôi [11].
Các thí nghiệm ở Ixraen cho thấy, khi sử dụng tảo khô với thức ăn côngnghiệp 25% đạm, cá sinh trưởng rất tốt, tăng trưởng gấp hai lần về chiều dài, 4lần về trọng lượng sau 5 tuần nuôi so với ban đầu Cũng đạt được tốc độ sinh
trưởng này khi nuôi loài cá dìa S canaliculatus bằng tảo (thí nghiệm ở
Philippin) hay bằng thức ăn dùng để nuôi gà (thí nghiệm ở Palau) (theo tổng hợpcủa Pillay, 1990) Như vậy, có thể thấy việc sử dụng thức ăn trong nuôi cá dìatương đối dễ do chúng có nhu cầu protein không cao và tiêu hoá thức ăn chếbiến tốt nên khả năng phát triển nuôi chúng cũng dễ dàng hơn [5]
Dinh dưỡng kiến nghị cho cá dìa trong một hệ thống nuôi thương phẩm đãđược làm sáng tỏ bằng cách so sánh thức ăn Tacon và ctv (1990) đánh giá các
loại thức ăn khác nhau nuôi S.canaliculatus trong lồng nổi trong 100 ngày Họ
nhận thấy rằng sự phát triển tốt nhất và hiệu quả sử dụng thức ăn được ghi nhậnđối với cá ăn chế độ ăn có chứa 31% protein, lipidthô 8% và 38% carbohydrate.Những kết quả này tương đồng với các nghiên cứu khác đã báo cáo trước đó bởiBwathondi (1982) và Ismael và ctv (1986) [14]
Thành công trong việc sử dụng thức ăncó hàm lượng protein dưới 30% cho
cá dìa nuôi trong ao đất với thức ăn tự nhiên cũng đã được báo cáo Tiêu biểu,Emata (1991) công bố rằng một chế độ ăn có chứa 26% protein thúc đẩy tăngtrưởng của cá dìa trong ao cao hơn so với cá ăn khẩu phần có chứa protein 21%
Ảnh hưởng của hàm lượng chất béo trong thức ăn của S.canaliculatus đã
được đánh giá bởi Osman và ctv (1996) [16] Với thức ăn chứa 25% protein thô,5% chất béo (dầu hướng dương) đã cho sinh trưởng tốt nhất Cá giống (11,0g)cho ăn khẩu phần chứa 0,5 hoặc 10% chất béo cũng cho mức tăng tương tự Mứcchất béo tối ưu được ước tính là 8% cho cá bột và 3% cho cá giống [25]
Siganus guttatus ăn thức ăn viên (42% protein) ở mức 2% trọng lượng
thân (Juario và ctv.,1985) Cá đẻ trứng hàng tháng nếu được nuôi với một chế độ
ăn có hàm lượng protein cao (Soletchnik, 1984), nhưng có sự suy giảm tỷ lệ thụtinh, tỷ lệ nở và chất lượng ấu trùng liên quan đến tuổi cá bố mẹ (Juario vàctv.,1985) Đối với mục đích đẻ trứng, cá nên được cho ăn thức ăn giàu nănglượng và protein nhưng nghèo tro [10]
Chế độ ăn giàu dầu gan cá tuyết hoặc kết hợp với đậu tương hoặc lecithin
làm cho cá đẻ 13 tháng liên tục Cá bố mẹ S.guttatusănvới chế độ ăn có chứa 18%
chất béo từ các nguồn này cũng sinh ra nhiều trứng hơn và khả năng sống sót của ấu
Trang 34trùng cũng tốt hơn so với chế độ ăn chỉ với 12-15% chất béo (Duray và ctv.,
1994) Ấu trùng từ những cá bố mẹ này thường lớn hơn Không có tác động đáng kể
nào đến sự thụ tinh, khối lượng noãn hoàng và tỷ lệ nở ở 3 mức dinh dưỡng đó
[14]
Năm 2010, các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành thí nghiệm trên
Siganusguttatus (trọng lượng ban đầu 104,64 ±2,76g) để đánh giá những ảnh
hưởng của việc thay thế bột cá bằng bột đậu nành trong chế độ ăn lên hiệu suấttăng trưởng của cá, thành phần cơ thể, các chỉ số sinh học và để xác định hàm
lượng bột đậu nành tối ưu trong khẩu phần ăn của S guttatus Năm chế độ ăn
cân bằng về Nitơ và năng lượng đã được xây dựng có chứa 35% protein và19,00MJ/kg năng lượng tổng số Tỷ lệ thay thế (bột đậu nành: bột cá) là 0:1
(D1), 1:2 (D2), 1:1 (D3), 2:1 (D4), 1:0(D5) S Guttatus được cho ăn thỏa mãn hai lần mỗi ngày Kết quả cho thấy hiệu suất tăng trưởng của S Guttatus đã bị
ảnh hưởng đáng kể bởi hàm lượng bột đậu nành trong chế độ ăn Tăng trọng(WG), tỷ lệ tăng trưởng đặc biệt (SGR) và lượng thức ăn ăn vào(FI) có một mốitương quan nghịch với hàm lượng bột đậu nành trong khẩu phần WG và SGRđạt tối đa khi cá được cho ăn với bột cá nguyên chất, tương ứng 24,42% và0,44%/ngày Sự khác biệt đáng kể về SGR trong mỗi nhóm đã được đề cập Giátrị FI trong D1cao hơn đáng kể trong D5 Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) cómột mối tương quan thuận với hàm lượng bột đậu nành trong khẩu phần Giá trịthấp nhất của FCR đã được tìm thấy ở nghiệm thức D1, nhưng không có khácbiệt đáng kể giữa D1 và D2 Cũng không có sự khác biệt rõ ràng giữa D2 và D3.Việc thay thế không có ảnh hưởng đáng kể đến protein thô cơ bắp và độ ẩmnhưng đã đánh dấu ảnh hưởng đến protein thô và chất béo của toàn bộ cơ thể.Giá trị thấp nhất của protein thô toàn bộ cơ thể được quan sát thấy ở D5(19,11%) Hàm lượng protein thô ở gan có xu hướng tăng đầu tiên và sau đógiảm dần, với sự tăng hàm lượng bột đậu nành trong khẩu phần Chất béo thôtrong gan ở chế độ ăn có hàm lượng bột đậu nành cao là thấp hơn đáng kể so vớichế độ ăn có hàm lượng bột đậu nành thấp hơn Việc thay thế không có ảnhhưởng đáng kể đến chỉ số sinh học, ngoại trừ chỉ số Viscerasomatic Các nhànghiên cứu khuyến nghị khẩu phần thay thế nên ít hơn 1:2 trong chế độ ăn cho
S Guttatus dựa trên SGR, FCR, FI và một số thông số khác Tuy nhiên, xem xét
chất lượng cơ của S guttatus, cho thấy tỷ lệ thay thế có thể lên tới 2:1 [15]
Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Thị Thúy Hằng (2007) cũng nghiên cứu xácđịnh ảnh hưởng của các mức protein khác nhau lên tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ
sống của cá dìa (Siganus guttatus) tại Thừa Thiên Huế Thí nghiệm được bố trí
Trang 35trên đối tượng cá dìa giai đoạn nuôi thương phẩm với 5 mức protein là 15%,20%, 25%, 30%, 35% protein Kết quả thí nghiệm cho thấy mức protein thíchhợp cho tăng trưởng của cá là 25-30% protein trong khẩu phần và có sự sai khác
có ý nghĩa với mức protein 15% (P<0,05) và không có sự sai khác về tốc độ tăngtrưởng so với mức 20% và 35% protein trong khẩu phần Trọng lượng trungbình cao nhất đạt ở mức 25% protein (32,9g/con) và mức 30% (34g/con) Tốc
độ tăng trưởng của cá đạt từ 0,3g/ngày đến 0,38g/ngày Trong thí nghiệm này,các tác giả nhận thấy các mức protein khác nhau không ảnh hưởng đến tỷ lệsống của cá [6]
Trang 36PHẦN 3:NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Cá dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787) có hệ thống phân loại như sau:
Loài cá dìa: Siganus guttatusBloch, 1787
Hình 3.1: cá dìa (Siganus guttatus Bloch, 1787)
Trang 373.2 Thời gian và địa điểm nhiên cứu.
3.2.1 Thời gian nghiên cứu.
Từ ngày 04/01/2016 đến ngày 1/05/2016
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu.
Xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của hai loai thức ăn đến thành thục sinh dục của cá dìa bố mẹ.Các chỉ tiêu theo dõi :
+ Xác định các chỉ tiêu môi trường : pH, nhiệt độ, độ mặn
+Tuổi và trọng lượng thành thục lần đầu của cá dìa
+ Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cá dìa
+ Tỷ lệ thành thục
+ Hệ số thành thục
3.4 Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1 Nguồn thông tin hổ trợ nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu từ hai nguồn:
- Nguồn thông tin sơ cấp: thu thập thông tin từ những người có liên quan,điều tra trực tiếp tại địa bàn thực tập…
- Nguồn thông tin thứ cấp:
+ Tiến hành thu thập số liệu từ thực tế thí nghiệm
+ Thông qua tham khảo sách, báo, internet…
3.4.2 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường.
Bảng 3.1 Dụng cụ và thời gian theo dõi các yếu tố môi trường