Mặc dù được phát hiện muộn nhưng việc nghiên cứu sử thi M’nông cũng đã đạt được những thành tựu to lớn, các tác giả tiêu biểu là Đỗ Hồng Kỳ với công trình Sử thi thần thoại M’nông 1996
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dẫn liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận án
Triệu Văn Thịnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Ngoài sự nỗ lực của bản thân, trong quá trình thực hiện luận án chúng tôi nhận được sự gợi ý và hướng dẫn tận tình, chu đáo của GS.TS Lê Chí Quế, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, của PGS.TS Đỗ Hồng Kỳ, Viện nghiên cứu Tôn giáo - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Luận án còn có sự giúp đỡ về tài liệu, sự động viên khích lệ và những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo thuộc Khoa Văn học, Trường Đại học Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Xin trân trọng gửi tới quý thầy cô giáo lời biết ơn chân thành và sâu sắc
Trang 5MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 21
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
5 Phương pháp nghiên cứu 22
6 Đóng góp mới của luận án 23
7 Cấu trúc của luận án 24
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 25
1.1 Khái quát về dân tộc M’nông 25
1.1.1 Địa bàn cư trú, đặc điểm xã hội và thành phần tộc người 25
1.1.2 Đời sống văn hoá của người M’nông 31
1.1.2.1 Đời sống văn hoá vật chất 31
1.1.2.2 Đời sống văn hoá tinh thần 33
1.2 Kho tàng văn học dân gian 35
1.2.1 Các tác phẩm thuộc loại hình văn xuôi tự sự 36
1.2.2 Các tác phẩm thuộc loại hình văn vần 40
1.3 Những vấn đề cơ bản của Ot Ndrong 41
1.3.1 Những vấn đề cơ bản về nội dung của sử thi M’nông 41
1.3.1.1 Ot Ndrong phản ánh vũ trụ quan và nhân sinh quan của người M’nông 41
1.3.1.2 Ot Ndrong phản ánh những vận động, chuyển biến lớn 43
1.3.1.3 Ot Ndrong là “bách khoa thư” của người M’nông 44
1.3.2 Hình thức thể hiện chính của Ot Ndrong 45
1.3.2.1 Mấy vấn đề về ngôn ngữ của Ot Ndrong 45
1.3.2.2 Biện pháp xây dựng cốt truyện và nhân vật 48
1.3.2.3 Một số thủ pháp nghệ thuật của Ot Ndrong 50
1.4 Một số vấn đề lý luận về sử thi 55
1.4.1 Quan niệm về sử thi của các nhà nghiên cứu 56
1.4.1.1 Quan niệm về sử thi của một số nhà nghiên cứu ngoài nước 56
1.4.1.2 Quan niệm về sử thi của các nhà nghiên cứu Việt Nam 66
Trang 61.4.2 Quan niệm của người M’nông về Ot Ndrong 73
1.5 Tiểu kết 75
Chương 2 HỆ THỐNG NHÂN VẬT TRONG SỬ THI M’NÔNG 77
2.1 Nhân vật văn học 77
2.2 Các tuyến nhân vật trong sử thi M’nông 79
2.2.1 Nhân vật trung tâm 80
2.2.1.1 Nhân vật khai thiên lập địa 82
2.2.1.2 Nhân vật anh hùng văn hóa 86
2.2.1.3 Nhân vật anh hùng chiến trận 92
2.2.2 Các loại nhân vật khác 103
2.2.2.1 Nhân vật thần kỳ 103
2.2.2.2 Nhân vật người đẹp 112
2.2.2.3 Nhân vật đối lập 117
2.2.2.4 Nhân vật cộng đồng 121
2.2.2.5 Nhân vật truyền tin 126
2.3 Tiểu kết 134
Chương 3 VẤN ĐỀ THỂ LOẠI CỦA SỬ THI M’NÔNG 137
3.1 Môi trường diễn xướng của sử thi M’nông 137
3.2 Chức năng của sử thi M’nông 142
3.3 Cách cấu tạo đề tài 153
3.4 Cốt truyện của sử thi M’nông 155
3.5 Cách thức xây dựng nhân vật của sử thi M’nông 161
3.6 Cơ sở xã hội và nội dung phản ánh của sử thi M’nông 168
3.7 Tiểu kết 175
KẾT LUẬN 177
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 181
TÀI LIỆU THAM KHẢO 182
Trang 7Người đầu tiên sưu tầm và xuất bản sử thi Tây Nguyên là viên công sứ
người Pháp tên là Léopold Sabatier Năm 1927, L Sabatier công bố sử thi Dăm
Săn bằng tiếng Pháp, tại Pari Trong lời tựa của cuốn sách, một nhà văn người
Pháp cho rằng đây là tác phẩm văn học cuối cùng của người Êđê: “Nhưng cay đắng thay, bằng chứng về văn chương của người Mọi cũng là cái cuối cùng”[128/15] Đó là một nhận xét có phần vội vàng và võ đoán, bởi sự phát
hiện ra Dăm Săn mới chỉ là bước khởi đầu cho công việc sưu tầm và khám phá
kho tàng sử thi phong phú và đa dạng của Tây Nguyên Tiếp đó, vào năm 1955, các học giả người Pháp khác tên là Dominique Antomarchi và Goerges
Condominas cho công bố tác phẩm Dăm Di (D Antomarchi sưu tầm và G
Condominas viết giới thiệu) trên Tạp chí của Viện Viễn Đông bác cổ Như vậy, với việc sưu tầm và công bố sử thi của người Pháp, chúng ta biết rằng ở Tây Nguyên có sử thi
Sau sự phát hiện mang tính mở đường của L Sabatier, phải mấy mươi năm sau độc giả Việt Nam mới được biết nhiều về kho tàng sử thi Tây Nguyên
với việc Đào Tử Chí dịch và xuất bản tác phẩm Dăm Săn với tên gọi là Bài ca
chàng Dăm Săn vào năm 1957 (Đào Tử Chí dịch sử thi Dăm Săn sang tiếng
Việt từ bản bằng tiếng Pháp của L Sabatier) [128/35] Tiếp đó vào năm 1963,
hàng loạt tác phẩm như Dăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú, Dăm Prao… ra mắt bạn
đọc được in trong cuốn sách Trường ca Tây Nguyên Tuy nhiên công tác sưu
tầm, dịch thuật, xuất bản và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên thật sự được quan tâm chú ý, đầu tư đúng mức và đạt được nhiều thành tựu đáng trân trọng là vào
Trang 8những năm cuối thế kỷ thứ XX, đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là Dự án Điều tra,
sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên Kết qủa
to lớn của Dự án là đã sưu tầm, ghi âm được hàng trăm sử thi khác nhau và đã xuất bản được 75 tác phẩm sử thi của các dân tộc Tây Nguyên như Ê Đê, Ba
Na, M’nông, RagLai, Xtiêng, Xê Đăng, Chăm Hroi… bằng hình thức song ngữ (tiếng Việt và tiếng bản tộc)
Đặt trong tiến trình sưu tầm và nghiên cứu sử thi ở Việt Nam thì sử thi M’nông được phát hiện tương đối muộn (năm 1988) Mặc dù được phát hiện muộn nhưng việc nghiên cứu sử thi M’nông cũng đã đạt được những thành tựu
to lớn, các tác giả tiêu biểu là Đỗ Hồng Kỳ với công trình Sử thi thần thoại
M’nông (1996) và phần viết về sử thi M’nông in trong cuốn Văn học dân gian Êđê và M’nông (2008); Phan Đăng Nhật với công trình Vùng sử thi Tây Nguyên (1999), Để tìm hiểu thêm sử thi M’nông - Ot Nrong (2002), Ngô Đức
Thịnh với Sử thi Tây Nguyên phát hiện và các vấn đề (2002), Nguyễn Việt Hùng với luận án tiến sĩ Công thức truyền thống trong sử thi - Ot Ndrong
đã sưu tầm được số lượng hàng trăm tác phẩm sử thi M’nông (đã xuất bản được 26 tác phẩm song ngữ Việt - M’nông) Kết quả trên đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng sử thi Việt Nam và khẳng định dân tộc M’nông có khối lượng sử thi đồ sộ vào bậc nhất trong khu vực và cả thế giới
Việc sưu tầm, dịch thuật, xuất bản và nghiên cứu sử thi M’nông đã gặt hái được nhiều kết quả đáng trân trọng, song vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để có cái nhìn tổng quan về một thể loại văn học dân gian độc đáo đang hiện tồn trong đời sống của cộng đồng người M’nông Bên cạnh đó, việc xác định tiểu loại sử thi M’nông đang còn có những ý kiến khác nhau, có
Trang 9người cho nó là sử thi thần thoại, có người cho nó là sử thi phổ hệ, có người cho nó mang đậm tính chất của sử thi sáng thế, có người cho nó là sử thi anh hùng… Ở đây cần nói thêm là hiện nay việc phân loại sử thi đang có những
cách làm khác nhau Nếu dựa theo thời gian, có sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại (cổ
điển); dựa vào nội dung và đề tài, có sử thi sáng thế và sử thi thiết chế xã hội
(cũng dựa và nội dung và đề tài người ta còn có cách gọi tên khác: sử thi sáng
thế tương đương với sử thi thần thoại và sử thi thiết chế xã hội tương đương
với sử thi anh hùng); dựa vào hình thức, cấu trúc tác phẩm có sử thi phồ hệ và
sử thi đơn hệ Vậy sử thi M’nông là loại nào trong những loại vừa nêu trên?
Với những vấn đề đặt ra ở trên, cùng với đó bản thân là người dân tộc thiểu số, hiện nay đang công tác và giảng dạy trên vùng đất Tây Nguyên - nơi sản sinh
ra kho tàng sử thi đặc sắc nên chúng tôi chọn đề tài Hệ thống nhân vật trong sử
thi M’nông và vấn đề thể loại làm đối tượng cho luận án của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về văn hoá M’nông đã được các nhà khoa học trong nước và ngoài nước quan tâm cách đây hơn nửa thế kỷ Tuy nhiên công việc này chỉ thật sự được chú trọng và đạt được những kết qủa to lớn vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI
Người đầu tiên nghiên cứu về dân tộc M’nông một cách khoa học là học giả người Pháp tên là Goerges Condominas Trong những năm 1947, 1948 ông
đã đến sống cùng với người M’nông Gar ở huyện Lăk, tỉnh Dak Lăk để tìm hiểu và nghiên cứu về tộc người này Sau một quá trình cùng chung sống với người M’nông Gar, nhà dân tộc học người Pháp đã cho xuất bản cuốn sách có
tựa đề Chúng tôi ăn rừng vào năm 1957, sau đó được tái bản vào năm 1974
(Năm 2003, tác phẩm này được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Việt) Trong cuốn sách này, G Condominas có nhắc đến một hình thức truyện kể của người
M’nông Gar có tên gọi là noo proo và ông gọi đó là anh hùng ca (épopée), ông
viết “Và câu chuyện nói đến nào noo proo, nào anh hùng ca mới hay ho làm sao: cuộc sáng tạo ra thế giới, trận đại hồng thuỷ, con người bị quỷ nhai nuốt và
Trang 10phun ra, biển nhấn chìm cả một đạo quân…” [12/186] Tuy nhiên do mục đích của cuốn sách chủ yếu là khảo sát về tộc người và văn hoá M’nông trên phương diện dân tộc học do vậy mà G Codominas chưa đi sâu nghiên cứu sử thi của người M’nông
Ở Việt Nam, người đầu tiên đề cập đến sử thi M’nông là cố học giả Võ Quang Nhơn Năm 1981 trong luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn (nay là Tiến sĩ) và
năm 1983 trong cuốn sách Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam ông cho rằng người M’nông có sử thi với những tác phẩm như Đam Brơi,
Chàng Trăng…[71/58] nhưng ông cũng mới chỉ dừng lại ở việc kể tên tác
phẩm, còn tên gọi bản địa của nó là gì, hình hài của nó ra sao thì chưa thấy ông nói đến
Năm 1982 trong cuốn sách Đại cương về các dân tộc Êđê, Mnông ở Dak
Lak, Bế Viết Đẳng và các tác giả của cuốn sách cũng đã nhắc đến hình thức hát
kể sử thi của người M’nông, ông viết “Cùng với nhóm M’nông Nong, nhóm
M’nông Prêng còn có hình thức kể gia phả gọi là N’koc yao được xem như một
loại sử thi vậy” [17/144] Ở đây các tác giả đã có sự nhầm lẫn giữa hình thức
kể gia phả với sử thi
Việc nghiên cứu về sử thi M’nông chỉ đặc biệt được chú ý sau việc phát hiện ra thể loại này ở xã Dak Mol, huyện Dak Mil, tỉnh Dak Lăk (nay là huyện Dak Song, tỉnh Dak Nông) vào năm 1988 Theo Đỗ Hồng Kỳ cho biết thì năm
1988, đoàn công tác của Viện Văn hoá dân gian (nay là Viện nghiên cứu Văn hoá) gồm Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Tô Đông Hải và Nguyễn Tấn Đắc (Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh, nay là Viện phát triển bền vững vùng Nam bộ) đã tiến hành khảo sát tại bon Bu Dop, xã Dak Môl, huyện Dak Song, tỉnh Dak Nông; qua lời hát kể của các nghệ nhân người M’nông và qua những phỏng dịch ban đầu, nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ và một số người trong đoàn công tác đã nhất trí cho rằng đó chính là sử thi của người M’nông
Từ đó đến nay đã có nhiều người quan tâm nghiên cứu về sử thi M’nông
và có thể nói tiêu biểu hơn cả là nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ Vào thập niên
80, 90 của thế kỷ trước, ông đã nhiều lần đến vùng đất có nhiều người M’nông
Trang 11sinh sống (chủ yếu là tỉnh Dak Lăk và tỉnh Dak Nông) Ông đã cùng ăn, cùng ở với những con người nơi đây để tìm hiểu, nghiên cứu về văn hoá, văn học của
họ Ông đã tiếp cận với nhiều nghệ nhân dân gian người M’nông như Điểu Kâu, Điểu Klứt, Điểu Klung, Điểu Mpơih, Điểu Byăt… Trong số các nghệ nhân đó thì Đỗ Hồng Kỳ đã có một quá trình làm việc thường xuyên và lâu dài với nghệ nhân Điểu Kâu - đến thời điểm đó vẫn là người duy nhất phiên dịch các tác phẩm sử thi M’nông ra tiếng Việt Tình cảm giữa Đỗ Hồng Kỳ và nghệ nhân Điểu Kâu đã trở nên sâu sắc và mật thiết, chính vì vậy mà vào năm 2008 khi Điểu Kâu mất, Đỗ Hồng Kỳ đã có bài viết “Cánh chim đại ngàn đã ngừng
bay ” đăng trên báo Thể thao - Văn hoá rất cảm động về người nghệ nhân mà
ông luôn trân trọng và quý mến Từ khi sử thi M’nông được phát hiện, Đỗ Hồng Kỳ và một số trí thức địa phương đã sưu tầm, giới thiệu và cho xuất bản
nhiều công trình về sử thi M’nông như: Sử thi cổ sơ M’nông, Cây nêu thần,
Mùa rẫy bon Tiăng, Sử thi thần thoại M’nông, Kể dòng con cháu mẹ Chếp, Tiăng bán tượng gỗ…
Từ năm 2001, công tác sưu tầm, dịch thuật và xuất bản sử thi M’nông có bước phát triển mạnh mẽ và đạt được những kết quả to lớn Năm 2001, Chính
phủ phê duyệt Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho
tàng sử thi Tây Nguyên, giao cho Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn
Quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) chủ trì, phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận thực hiện Trong khuôn khổ dự án này, các nhà nghiên cứu đã xác định được gần 100 nghệ nhân người M’nông biết hát kể sử thi, họ đang sống chủ yếu ở các tỉnh Dak Lăk, Dak Nông, Bình Phước và hầu hết tuổi đã rất cao Đến tháng 12 năm 2007, Dự án kết thúc và đã thu được những kết quả to lớn ngoài dự kiến Riêng về Ot Ndrong, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm, ghi âm được 215 bản hát kể và đã cho biên dịch, xuất bản được 26 tác phẩm sử thi M’nông với 32 tập sách được làm rất công phu Các tác phẩm sử thi được công bố dưới dạng song ngữ, có chân dung của các nghệ nhân hát kể sử thi Trong mỗi tác phẩm đều có bài giới thiệu của người biên tập văn học nhằm giúp cho người đọc thuận lợi hơn trong việc tiếp nhận,
Trang 12nghiên cứu và đánh giá tác phẩm Vậy là kể từ khi được phát hiện (1988) cho đến trước năm 2001, mới chỉ sưu tầm, dịch thuật và xuất bản được 6 tác phẩm
sử thi M’nông, nhưng chỉ với 7 năm Dự án được thực hiện, đã sưu tầm, ghi âm được hàng trăm tác phẩm sử thi M’nông và đã dịch thuật, biên tập và xuất bản được 26 tác phẩm Điều này khẳng định được hiệu quả thiết thực từ việc đầu tư đúng đắn của Nhà nước cũng như những đóng góp to lớn của các nhà khoa học
và trí thức địa phương Dưới đây là bảng thống kê các tác phẩm sử thi M’nông
đã được xuất bản (đến thời điểm Dự án kết thúc) và tất cả đều do nghệ nhân
Điểu Kâu phiên dịch từ tiếng M’nông sang tiếng Việt (Xin xem phụ lục 1)
Với số lượng lớn các tác phẩm đã được sưu tầm và công bố cho chúng ta thấy dân tộc M’nông có kho tàng sử thi vào loại phong phú, đồ sộ, hiếm có trên thế giới Kể từ khi được phát hiện, quá trình nghiên cứu và nhận thức sử thi M’nông đã trải qua mấy thập kỷ và đã xuất bản được nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khoa học Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là việc nhận thức và xác định đặc trưng thể loại của nó vẫn còn những điểm khác biệt, chưa thống nhất giữa các nhà khoa học
Như trên chúng tôi đã trình bày, người đã dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu về sử thi M’nông là Đỗ Hồng Kỳ Từ năm 1990 đến nay, Đỗ Hồng
Kỳ đã liên tục cho công bố các kết qủa nghiên cứu của ông trên các tạp chí khoa học chuyên ngành cũng như những cuốn sách có giá trị Trong rất nhiều những công trình đó, đáng chú ý là những bài báo và cuốn sách: Năm 1990,
trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3, Đỗ Hồng Kỳ có bài viết Ot Nrông - sử thi
cổ sơ Mơ Nông Trong bài này, tác giả giới thiệu một cách khái quát về môi
trường, phương thức diễn xướng và chức năng sinh hoạt, nội dung và phương thức thể hiện, cơ sở xã hội và nội dung phản ánh của sử thi M’nông Ngay từ những trang viết đầu tiên này, Đỗ Hồng Kỳ đã có những nhận định ban đầu về hình thức thể loại của sử thi M’nông và ông cho rằng sử thi M’nông thuộc loại
sử thi cổ sơ, trong đó chứa đựng cả những yếu tố thần thoại lẫn yếu tố sử thi anh hùng Điểm này hơi khác so với những công trình tiếp theo của ông, bởi
Trang 13trong những công trình nghiên cứu sau đó, ông đều cho rằng sử thi M’nông là
sử thi thần thoại
Năm 1993, trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số 1, có bài Cốt truyện và
nhân vật trong sử thi nrông của người M’nông Trong bài này, tác giả có bàn
đến cốt truyện đơn và cốt truyện liên kết, phân tích đặc điểm của cốt truyện Ot Ndrong, bàn về hành động của các nhân vật trong Ot Ndrong và ông đã đưa ra nhận xét: Kết cấu cốt truyện của sử thi M’nông là kết cấu theo kiểu liên hoàn, gồm nhiều cốt truyện đơn hợp lại với nhau Các cốt truyện đơn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tuy nhiên ở chừng mực nào đó nó lại có tính độc lập tương đối
Năm 1994, Đỗ Hồng Kỳ đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ (nay là
Tiến sĩ) với đề tài Sử thi thần thoại M’nông và năm 1996 công trình này đã
được Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành Trong cuốn sách này, ngoài phần giới thiệu khái quát về tiến trình nghiên cứu sử thi thần thoại ở Việt Nam và những vấn đề đại cương về dân tộc M’nông thì trong phần chính của cuốn sách, tác giả đã tập trung phân tích về nội dung của sử thi M’nông trên các phương diện: Sự hình thành con người; thế giới ba tầng và một số nhân vật tiêu biểu hoạt động trong thế giới đó; các nhân vật anh hùng; sự giàu có, tràn ngập niềm vui của dân tộc M’nông; những vận động chuyển biến lớn trong xã hội M’nông cổ xưa; tri thức và sự hiểu biết của người M’nông đã được phản ánh như thế nào trong Ot Ndrong Bên cạnh vấn đề nội dung của Ot Ndrong, ông
đã đi vào phân tích hình thức của nó trên các phương diện: Đặc điểm cấu trúc của tác phẩm, các thủ pháp nghệ thuật, chức năng tư tưởng - thẩm mỹ của Ot ndrong Sau khi khảo sát một cách cơ bản về nội dung và hình thức của sử thi M’nông Đỗ Hồng Kỳ đã chứng minh Ot Ndrong là sử thi thần thoại, điều này được thể hiện qua các phương diện môi trường diễn xướng, chức năng sinh hoạt, hệ thống thi pháp, cơ sở xã hội và nội dung phản ánh của nó
Vào năm 2001, Đỗ Hồng Kỳ cho xuất bản cuốn sách Những khía cạnh
văn hoá dân gian M’nông Nong Trong cuốn sách này, bên cạnh việc đề cập
sâu hơn những vấn đề về tác giả, sáng tác và phương thức lưu truyền, nghệ
Trang 14nhân, công chúng và môi trường diễn xướng, chức năng sinh hoạt, nội dung và thi pháp của Ot Ndrong, tác giả đã luận giải về tên gọi bản địa của sử thi M’nông và ông cho rằng cách gọi chuẩn xác nhất, được nhiều nhóm M’nông
chấp nhận là Ot Ndrong
Năm 2002, Đỗ Hồng Kỳ có 2 bài viết đáng chú ý đăng liên tiếp trong 2
số 4 và 5 của Tạp chí Văn hoá dân gian, đó là bài Sử thi của người M’nông và bài Diện mạo Ndrong - sử thi M’nông (Bu Nong) Trong những bài viết này,
ông đã cho biết sử thi M’nông có một số lượng đồ sộ với hàng trăm tác phẩm
đã được điều tra, phát hiện, khảo sát và sưu tầm Bên cạnh đó, bằng những luận
cứ của mình, ông tiếp tục cho rằng “Sử thi M’nông là sử thi cổ sơ - sử thi thần thoại (đúng hơn là thần thoại - sử thi) với ý nghĩa đầy đủ của từ này” Có lẽ với
Đỗ Hồng Kỳ, cuốn sách công phu, đầy đủ nhất về quá trình nghiên cứu sử thi
M’nông là Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông, xuất bản năm 2008 Với những
kết quả đạt được của cuốn sách mà Nguyễn Xuân Kính (Nguyên Viện trưởng
Viện nghiên cứu Văn hoá) cho nó như là một tập đại thành về quá trình nghiên
cứu sử thi M’nông Trong cuốn sách này, ngoài những vấn đề đã được ông nói nhiều trong các bài báo, cuốn sách trước đó thì ở đây Đỗ Hồng Kỳ đã điều chỉnh một số nhận xét trước đây của mình về sử thi M’nông, bên cạnh đó là việc ông cùng Điểu Kâu đã sơ đồ hoá dòng con cháu mẹ Chau và cụ thể hoá một cách khá đầy đủ hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông Với cuốn sách này thì một lần nữa lại đặt ra câu hỏi là sử thi M’nông thuộc loại nào, sử thi phổ hệ hay sử thi chuỗi hoặc sử thi liên hoàn; thuộc tiểu loại nào, thần thoại hay anh hùng, sáng thế hay thiết chế xã hội hay sử thi M’nông mang cả hai tính chất: thần thoại - anh hùng hoặc sáng thế - thiết chế xã hội? Đỗ Hồng Kỳ vẫn luôn cho rằng Ot Ndrong là sử thi thần thoại, tuy nhiên quan điểm này của ông có sự khác biệt với quan điểm của Phan Đăng Nhật, Ngô Đức Thịnh, Bùi Thiên Thai…
Bên cạnh Đỗ Hồng Kỳ còn có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu về sử thi M’nông như Phan Đăng Nhật, Nguyễn Xuân Kính, Ngô Đức Thịnh, Tấn Vịnh, Nguyễn Việt Hùng, Bùi Thiên Thai, Trần Thị An… Năm
Trang 151998, trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3, Phan Đăng Nhật cho đăng bài Ot
Nrông - một bộ sử thi phổ hệ đồ sộ mới được phát hiện Trong bài viết này
cũng như trong cuốn sách Vùng sử thi Tây Nguyên được xuất bản sau đó một
năm, Phan Đăng Nhật đều cho rằng Ot Ndrong là một bộ sử thi phổ hệ đồ sộ của người M’nông Mặc dù vào thời điểm ấy, tư liệu chưa nhiều, tác phẩm sưu tầm được còn ít nhưng Phan Đăng Nhật đã có những nhận xét rất đáng chú ý về
“tính chất” phổ hệ của sử thi M’nông Hiện nay với những tác phẩm Ot Ndrong đã được xuất bản, chúng tôi nhận thấy hầu hết các tác phẩm sử thi đều được xuất phát từ bon Tiăng, các nhân vật sử thi đều từ đây ra đi để lao động sản xuất, chiến đấu chống kẻ thù gia tộc, giành lại vật báu hoặc cướp người đẹp rồi lại trở về bon làng cũ (Bon Tiăng) Tuy nhiên, ở Ot Ndrong chúng tôi chưa thấy được tính chất cha truyền con nối như sử thi phổ hệ nói chung, ở đây chủ yếu là ở thế hệ thứ nhất, thứ hai còn ở thế hệ thứ ba chỉ có một mình nhân vật Mbông mà thôi Vì vậy Ot Ndrong có thật sự là sử thi phổ hệ đích thực hay không cần phải tiếp tục được nghiên cứu và tìm hiểu thêm Chúng tôi sẽ quay
trở lại vấn đề này ở một dịp khác Tiếp đó, vào năm 2002, trên Tạp chí Văn
học, số 11, Phan Đăng Nhật có bài Để tìm hiểu thêm sử thi M’nông - Ot nrông
Trong bài viết này, ông cho rằng, bằng những tư liệu đã thu thập được có thể đưa ra nhận xét rằng, qua sử thi M’nông có thể nhận thức về các hiện tượng lịch sử - xã hội M’nông như lễ hội và vấn đề chiến tranh
Năm 2002, trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số 4, Ngô Đức Thịnh có bài
Sử thi Tây Nguyên - phát hiện và các vấn đề Trong bài viết này, tác giả đã hệ
thống hoá những vấn đề học thuật về sử thi Tây Nguyên như: khái niệm sử thi Tây Nguyên; xác định thể loại và phân loại sử thi Tây Nguyên; thời đại của sử thi Tây Nguyên; những đặc điểm nghệ thuật của sử thi; sử thi Tây Nguyên là
sử thi “sống”; có một vùng sử thi Tây Nguyên; sử thi Tây Nguyên với sử thi khu vực Đông Nam Á…
Trong bài viết Tính thống nhất và đa dạng của sử thi Tây Nguyên đăng trên Tạp chí Văn hoá dân gian số 6 năm 2008, Ngô Đức Thịnh cho rằng sử thi
Tây Nguyên đều thuộc loại hình sử thi cổ sơ, ông viết: Sử thi Tây Nguyên đều
Trang 16thuộc cùng một loại hình là sử thi cổ sơ (épopée archaique), phân biệt với sử thi
cổ đại (épopée antique) Tất nhiên, trong loại hình sử thi cổ sơ không phải thuần nhất, mà giữa chúng cũng có những sự khác biệt nhất định, đặc biệt là các hình thức tư duy, sử dụng ngôn ngữ và hình thái xã hội mà nó phản ánh[89/14]
Năm 2005, Bùi Thiên Thai có bài viết về tác phẩm Con đỉa nuốt bon
Tiăng đăng trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 3 Trong bài viết này, tác giả
cho rằng Con đỉa nuốt bon Tiăng là sử thi anh hùng Ở phần kết luận của bài
báo, tác giả viết “Đây là một sử thi anh hùng, khác với những sử thi thần thoại của dân tộc Mơ Nông đã được biết đến trước đây” [82/39] Bùi Thiên Thai còn cho rằng, các sử thi M’nông là một chuỗi sử thi (sử thi chuỗi) và tác giả đã xếp
sử thi M’nông vào loại sử thi chuỗi chứ không phải sử thi liên hoàn bởi theo tác giả, hai loại sử thi này có những đặc điểm khác nhau Tác giả đã đưa ra cách giải thích về hai loại sử thi này như sau: Thuật ngữ “chuỗi sử thi” (epic cycle) ban đầu được dùng để chỉ một loạt những bài thơ tự sự có liên quan đến những miêu tả về chiến tranh Tơ roa nhằm bổ sung cho sử thi của Hôme Những bài thơ này do một loạt các nghệ nhân hậu kỳ Hy Lạp được gọi là “thi nhân liên ca” sáng tác Sau này nó được dùng để chỉ một hệ thống sử thi được móc nối với nhau bởi nhiều phần độc lập, giữa các phần có nhân vật chính và bối cảnh chung, giữa các sự kiện cũng có liên kết và thứ tự nhất định Bùi Thiên Thai
cho rằng cần có sự phân biệt giữa chuỗi và liên hoàn Sáng tác liên hoàn (ring
composition) là kết cấu theo kiểu vòng tròn đồng tâm nhằm nhấn mạnh yếu tố
ở vị trí trung gian, có chức năng làm cho dễ nhớ và cả chức năng thẩm mỹ, còn thuật ngữ “chuỗi” ở trong các sáng tác thơ ca có thể dịch là “liên ca” Kịch tôn giáo thời kỳ trung cổ thường thể hiện hoặc giải quyết hàng loạt những chủ đề
lấy kinh thánh làm nền tảng, do đó cũng gọi là chuỗi kịch hoặc liên kịch Bên cạnh đó, Bùi Thiên Thai còn cho rằng thuật ngữ sử thi phổ hệ có lẽ không thoả
đáng lắm nếu như áp dụng với sử thi M’nông, bởi sử thi phổ hệ phải có các
nhân vật trung tâm theo kiểu cha truyền con nối, ví dụ như sử thi Manas của
Kirgia Điểm này khác với quan niệm của Phan Đăng Nhật, bởi Phan Đăng
Trang 17Nhật cho rằng sử thi M’nông là sử thi phổ hệ Nhìn chung, trong bài viết này Bùi Thiên Thai đưa ra hai vấn đề rất đáng lưu ý khi cho rằng có một tác phẩm
sử thi M’nông là sử thi anh hùng và các tác phẩm sử thi Mơ Nông là sử thi chuỗi (chứ không phải sử thi liên hoàn, sử thi phổ hệ)
Ở đây, Bùi Thiên Thai đã tạo ra những bất ngờ thú vị bởi trước Bùi Thiên Thai chưa thấy có ý kiến nào cho rằng sử thi M’nông là sử thi anh hùng Như trên đã nói, Đỗ Hồng Kỳ thì xếp sử thi M’nông thuộc tiểu loại sử thi thần thoại, Ngô Đức Thịnh thì cho rằng sử thi M’nông có tính sáng thế đậm, còn Phan Đăng Nhật lại rất thận trọng khi xem xét vấn đề thể loại của sử thi M’nông Đến đây, vấn đề nhận thức về đặc trưng thể loại của sử thi M’nông đã
có những quan niệm khác nhau Vậy Ot Ndrong thuộc tiểu loại nào? Điều này
sẽ được chúng tôi giải quyết trong luận án
Trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 2 năm 2006, có bài của Trần Thị
An giới thiệu về sử thi Rôch, Rông bắt hồn Lêng Ở bài này, Trần Thị An nhấn
mạnh đến chất thô sơ trong miêu tả của sử thi M’nông, tác giả viết: Tính chất thô sơ được thể hiện man mác khắp tác phẩm sử thi này Trước hết, có thể thấy, trong trận đánh, các động tác mà nhân vật anh hùng phô diễn sức mạnh của mình là “vật”, “đè”, “ôm”, “đẩy tay”, “móc chân”, “lôi”, “ôm chặt”, “ôm dính”… Đoạn miêu tả này cho thấy trí tưởng tượng của nghệ nhân dân gian quả là chưa được cất cánh Khó có thể hình dung đây là sự phô diễn của các anh hùng đại diện cho hai bon làng hùng mạnh Vũ khí mà họ sử dụng từ đầu đến cuối, ngoài lao, dao gươm (thực ra ít thấy họ sử dụng) còn có chài, đơm, các loại dây (rất hay được sử dụng và rất có hiệu quả) Các loại vũ khí này xem
ra vẫn khá thô sơ và việc “đơm” một người anh hùng như Yang không khác xa việc đơm một con cá Người hát/kể vẫn mang những hiểu biết của mình trong đời sống hàng ngày thật thà kể lên trong bài hát/kể mà chưa có gia công nghệ thuật bao nhiêu
Tháng 10 năm 2008, tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Dak Lăk, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)
phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh Dak Lăk tổ chức Hội thảo quốc tế Sử thi
Trang 18Việt Nam Hội thảo đã thu hút được đông đảo các học giả trong nước và ngoài
nước như Ấn Độ, Lào, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản… tham gia Tại Hội thảo này, một lần nữa vấn đề phân loại sử thi lại được bàn đến nhiều và có những quan niệm khác nhau Trước khi diễn ra Hội thảo, ở Việt Nam, do ảnh hưởng quan niệm của các nhà nghiên cứu Liên Xô nên đã phân sử thi thành hai loại: sử thi cổ sơ và sử thi cổ điển (còn gọi là sử thi cổ đại) Ở Hội thảo này tác giả Triều Qua Kim (người Trung Quốc) đã giới thiệu một cách phân loại nữa, ông viết: Cùng với sự phát triển không ngừng của truyền thống sử thi các dân tộc, các quốc gia trên toàn thế giới, giới nghiên cứu đã dần dần chấp nhận cách phân loại mới về sử thi: 1 Sử thi truyền miệng dân gian; 2 Sử thi do văn nhân sáng tác (được ghi chép thành sách); 3 Sử thi nằm giữa hai loại nói trên, tức
“lấy truyền thống làm kim chỉ nam” hoặc “chuẩn ghi chép thành sách” Theo Triều Qua Kim những tác phẩm sử thi truyền miệng tiêu biểu của thế giới là
Mahabharata và Ramayana của Ấn Độ, Iliat và Ođixê của Hy Lạp; các tác
phẩm sử thi tiêu biểu cho loại sử thi do văn nhân sáng tác như Gerusalemme
giải phóng của nhà thơ người Ý Torquato Tasso và tác phẩm Thần khúc của
Dante; còn tác phẩm Kalevala của Phần Lan lại được coi là thiên sử thi “chuẩn
ghi chép thành sách” điển hinh [128/315] Bên cạnh đó, các học giả người Trung Quốc cũng giới thiệu kết quả phân loại các sử thi tồn tại và lưu truyền trên đất nước họ, bao gồm sử thi sáng thế, sử thi di cư và sử thi anh
hùng[128/316]
Năm 2009, trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 2, tác giả Nguyễn Thị
Mỹ Lộc cho đăng bài Hệ thống nhân vật anh hùng của sử thi Mơ Nông Ở bài
viết này, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã có những nhận xét và so sánh rất xác đáng, chỉ có điều số lượng tác phẩm Ot Ndrong mà tác giả khảo sát trong bài này là hơi ít (9 tác phẩm, chiếm gần 1/3 số lượng sử thi M’nông đã được công bố) vì vậy có thể nói những nhận xét và so sánh đó chưa thật sự thuyết phục và chưa mang tính phổ quát, bao trùm về sử thi M’nông Nguyễn Thị Mỹ Lộc xếp
sử thi M’nông thuộc tiểu loại sử thi cổ sơ - thiết chế xã hội, tác giả viết: Sử thi M’nông cũng như của các dân tộc anh em khác ở Việt Nam, theo nhận định
Trang 19của giới nghiên cứu, “tuyệt đại bộ phận là sử thi cổ sơ - thiết chế xã hội”[56/57]
Năm 2011, Nguyễn Việt Hùng đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Công
thức truyền thống trong sử thi - Ot Ndrong Trong luận án của mình, ngoài
phần Tổng quan về đề tài và lý thuyết công thức truyền thống, Nguyễn Việt
Hùng tập trung vào hai chương, chương một nghiên cứu về Mô hình công thức
truyền thống và cấu trúc tự sự tác phẩm sử thi M’nông và chương hai nghiên
cứu về Vai trò của công thức truyền thống đối với việc diễn xướng và với qúa
trình văn bản hoá sử thi - Ot Ndrong Đóng góp của công trình này là đã cung
cấp những khái niệm cơ bản của phương pháp nghiên cứu thể loại truyền miệng từ các công thức truyền thống Sau khi cung cấp những khái niệm cơ bản về phương pháp nghiên cứu từ công thức truyền thống, Nguyễn Việt Hùng
đi vào nghiên cứu hệ thống công thức truyền thống của sử thi M’nông trên các bình diện: Cấu trúc hình thức thể loại, qúa trình hình thành văn bản truyền miệng - văn bản viết, mối quan hệ giữa văn bản và nghệ nhân, quá trình diễn xướng sử thi M’nông để đưa ra những kết luận về bản chất của thể loại Ot Ndrong Tiếp đó tác giả nghiên cứu về vai trò của văn hoá dân gian nói chung
và Ot Ndrong nói riêng trong đời sống cộng đồng của người M’nông, vai trò của nghệ nhân dân gian trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc M’nông Từ những kết quả nghiên cứu, Nguyễn Việt Hùng
đã góp thêm tiếng nói quan trọng khẳng định những giá trị to lớn của sử thi M’nông Bên cạnh đó, trong luận án của mình, Nguyễn Việt Hùng đã đề xuất những ý kiến quan trọng trong công tác nghiên cứu sử thi M’nông nói riêng và
sử thi nói chung đó là lập hồ sơ về những công thức truyền miệng của sử thi M’nông cũng như của các dân tộc khác Việc lập hồ sơ hệ thống công thức của từng loại sử thi sẽ là những bộ mã quan trọng để góp phần xác lập tính truyền thống của mỗi loại Ở phần cuối luận án, những băn khoăn, lo ngại của Nguyễn Việt Hùng cũng như của rất nhiều nhà khoa học là làm sao tạo được môi trường diễn xướng cho các tác phẩm sử thi trong bối cảnh xã hội hiện nay Nguyễn Việt Hùng đã đề xuất phương án truyền dạy hát - kể sử thi thông qua
Trang 20việc mô hình hóa các tác phẩm sử thi bằng các công thức truyền thống và theo tác giả nếu làm được như vậy việc truyền dạy và tiếp nhận sử thi sẽ trở nên gọn nhẹ và dễ dàng hơn Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với tác giả Nguyễn Việt Hùng
về những đề xuất trên Theo chúng tôi, việc khó nhất hiện này là làm sao đưa được những tác phẩm sử thi về với đời sống của cộng đồng, làm sao để những tác phẩm đó được sống một cách tự nhiên như vốn nó đã tồn tại trong đời sống cộng đồng của các cư dân bản tộc Sau nhiều năm tìm hiểu, nghiên cứu, thâm nhập cuộc sống của người M’nông nói riêng và của các dân tộc bản địa Tây Nguyên, chúng tôi nhận thấy đây là một vấn đề cực kỳ hóc búa và khó giải quyết Chúng ta đang đứng trước sự mâu thuẫn gay gắt giữa việc bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống với việc phát triển kinh tế - xã hội, phải làm sao để dung hoà được hai mặt của một thực tế đầy nghiệt ngã này?
Như chúng tôi đã nói, vấn đề nhận diện và phân loại sử thi Việt Nam nói chung và sử thi M’nông nói riêng đang còn có những ý kiến khác nhau Theo
Võ Quang Nhơn và một số nhà khoa học khác thì ở Việt Nam có hai loại sử thi
đó là sử thi thần thoại và sử thi anh hùng Theo Phan Đăng Nhật, nếu lấy tiêu chí đặc điểm lịch sử - xã hội để phân loại thì trên thế giới có hai loại sử thi là sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại, nếu lấy tiêu chí chức năng, nhiệm vụ của nhân vật trung tâm của tác phẩm thì có hai loại: sử thi sáng tạo thế giới (gọi tắt là sử thi sáng thế) và sử thi thiết chế xã hội (gọi tắt là sử thi thiết chế), cách phân loại này được Phan Đăng Nhật và một số nhà khoa học tiếp thu từ các tác giả người Trung Quốc (cụ thể là Nông Quán Phẩm)
Việc phân loại sử thi M’nông đang có những quan niệm khác nhau Ngoài cách phân loại theo những tiêu chí quen thuộc của các nhà nghiên cứu Việt Nam trong mấy chục năm gần đây (sử thi cổ sơ, sử thi cổ đại hay cách phân loại khác là sử thi thần thoại, sử thi anh hùng; sử thi sáng thế, sử thi thiết chế xã hội) còn có cách phân loại của các học giả người Trung Quốc như Triều
Qua Kim đã giới thiệu tại Hội thảo quốc tế Sử thi Việt Nam vào tháng 10 năm
2008 và nếu cách phân loại này được tiếp nhận thì việc phân loại sử thi Việt
Trang 21Nam nói chung và sử thi M’nông nói riêng sẽ như thế nào? Đó là những vấn đề cần được giải quyết một cách thấu đáo và thận trọng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về sử thi M’nông đạt được những kết quả to lớn Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đi trước, về cơ bản mới khảo sát một cách khái quát những giá trị về nội dung và hình thức của sử thi M’nông mà chưa nhiều người đi vào nghiên cứu một cách toàn diện về hệ thống nhân vật
và vấn đề thể loại của Ot Ndrong Mục đích của luận án là khảo sát một cách
có hệ thống các nhân vật trong sử thi M’nông để thấy được các thủ pháp nghệ thuật, những quan niệm thẩm mỹ của người M’nông đã được thể hiện như thế nào trong các tác phẩm sử thi của họ, trên cơ sở đó có được những cứ liệu quan trọng xác định tiểu loại của sử thi M’nông
Hiện nay việc xác định tiểu loại sử thi M’nông đang còn một số ý kiến khác nhau, nhiệm vụ của luận án là khảo sát một cách có hệ thống các tác phẩm
sử thi M’nông trên các phương diện môi trường diễn xướng, chức năng sinh hoạt, quan niệm thẩm mỹ, nội dung và thi pháp, đặc điểm xã hội để xác định đặc trưng thể loại của nó Những kết qủa nghiên cứu sẽ là cơ sở quan trọng để xác định sử thi M’nông thuộc tiểu loại sử thi nào - sử thi thần thoại hay sử thi anh hùng hay là trong kho tàng sử thi M’nông vừa có những tác phẩm là sử thi thần thoại lại vừa có những tác phẩm là sử thi anh hùng?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án sẽ đi vào khảo sát 32 tác phẩm sử thi M’nông đã được xuất bản
để có thể tóm tắt một cách khái quát về nội dung tác phẩm và thống kê sơ bộ về
hệ thống nhân vật của Ot Ndrong (Xin xem phụ lục 2 và phụ lục 3) Tiếp theo chúng tôi tập trung tìm hiểu kỹ những tác phẩm như Bông, Rŏng và Tiăng; Đẻ
Tiăng; Đẻ Lênh; Lênh nghịch đá thần của Yang; Mùa rẫy bon Tiăng; Cây nêu thần; Đi giành lại đàn Ndring; Cướp chiêng cổ bon Tiăng; Cướp Djăn, Dje; Con diều lá cướp Bing con Jri; Bắt con lươn ở suối Dak Hŭch Đó là những
tác phẩm thể hiện tập trung nhất hệ thống các nhân vật; những vấn đề khái quát
Trang 22về nội dung và các thủ pháp nghệ thuật của sử thi M’nông Những kết qủa nghiên cứu sẽ là cơ sở tin cậy cho việc đưa ra được những đánh giá khái quát
về hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông
Bên cạnh việc khảo sát hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông, luận án còn dựa vào hệ thống lý thuyết về phân loại sử thi của các nhà khoa học để nghiên cứu về đặc điểm thể loại của sử thi M’nông trên các khía cạnh môi trường diễn xướng, chức năng sinh hoạt, quan niệm thẩm mỹ, những vấn đề cơ bản về nội dung và hình thức, cơ sở xã hội của sử thi M’nông để xác định tiểu loại của Ot Ndrong
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử thi là một thể loại mang tính nguyên hợp cao, dung chứa trong đó nhiều vấn đề về điều kiện tự nhiên cũng như đời sống xã hội thời cổ xưa, là bách khoa thư của con người thời cổ đại Vì vậy khi tiếp cận, nghiên cứu sử thi M’nông chúng tôi kết hợp phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau (phương pháp liên ngành), cụ thể như sau:
5.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tiếp cận các tác phẩm sử thi
M’nông đã xuất bản để dựng được bức tranh toàn cảnh về hệ thống nhân vật của sử thi M’nông,
5.2 Phương pháp thống kê, phân loại: Phân loại, xác định được hệ
thống nhân vật trong sử thi M’nông, tiếp đó là phân loại Ot Ndrong thuộc tiểu loại nào
5.3 Phương pháp điền dã dân tộc học: Tìm hiểu về chức năng, vai trò,
giá trị của Ot Ndrong trong đời sống của cộng đồng người M’nông
5.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh, đối chiếu để tìm ra những
nét tương đồng cũng như khác biệt giữa sử thi M’nông với sử thi của các dân tộc khác để thấy được những đặc điểm cơ bản của sử thi M’nông
5.5 Phương pháp phân tích văn học: Phân tích làm nổi bật những giá trị
nội dung và hình thức của sử thi M’nông, các thủ pháp nghệ thuật, những quan niệm thẩm mỹ và nhận thức của người M’nông qua các tác phẩm sử thi của họ
Trang 235.6 Phương pháp liên ngành: Sử thi là thể loại văn học có tính nguyên
hợp, ngoài những giá trị về văn học nghệ thuật, nó còn chứa đựng những tư liệu quý về lịch sử, tư tưởng, văn hoá, phong tục tập quán v.v Vì vậy khi nghiên cứu về sử thi M’nông, chúng tôi vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học liên quan (phương pháp liên ngành) để có thể hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau, giúp cho chúng tôi sẽ làm sáng rõ những vấn đề được nghiên cứu trong luận án
6 Đóng góp mới của luận án
Các công trình nghiên cứu trước đây mới chỉ nghiên cứu một cách khái quát về nhân vật trung tâm của sử thi M’nông mà chưa nghiên cứu một cách tổng thể về hệ thống nhân vật trong sử thi M’nông Chúng tôi khảo sát một cách có hệ thống thế giới nhân vật trong sử thi M’nông để thấy được các thủ pháp nghệ thuật, những quan niệm thẩm mỹ của người M’nông đã được thể hiện như thế nào trong các tác phẩm sử thi của họ, trên cơ sở đó có được những
cứ liệu quan trọng chứng minh sử thi M’nông là sử thi thần thoại
Vấn đề thể loại của sử thi M’nông hiện nay đang còn một số ý kiến khác nhau Năm 1995, Đỗ Hồng Kỳ đã xác định sử thi M’nông là sử thi thần thoại, tuy nhiên do tư liệu chưa nhiều, số lượng tác phẩm sưu tầm được còn ít nên ông chưa có điều kiện khảo sát một cách có hệ thống để chứng minh cho luận điểm của mình Một số người thì cho rằng Ot Ndrong là sử thi phổ hệ, là sử thi
có tính sáng thể đậm, là sử thi anh hùng… Dựa trên những kết qủa nghiên cứu của luận án, chúng tôi khẳng định sử thi M’nông là sử thi thần thoại
Khẳng định thêm những giá trị về văn học, lịch sử, văn hoá và chức năng văn hoá - nghệ thuật của sử thi M’nông và đặc biệt là vị trí, vai trò của nó đối với đời sống của cộng đồng người M’nông hiện nay, là cơ sở tin cậy cho công tác bảo tồn kho tàng Ot Ndrong nói riêng và văn hoá dân gian của dân tộc M’nông nói chung
Trang 247 Cấu trúc của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, phần thư mục tham khảo và phần phụ lục Phần nội dung gồm 3 chương:
Trang 25Chương 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về dân tộc M’nông
1.1.1 Địa bàn cư trú, đặc điểm xã hội và thành phần tộc người
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người M’nông ở Việt Nam có 102.741 người, cư trú chủ yếu ở tỉnh Dak Lăk, Dak Nông Ở tỉnh Dak Nông là 39.964 người, chiếm 38,9% tổng số người M’nông ở Việt Nam, ở tỉnh Dak Lăk là 40.344 người chiếm 39,3% tổng số người M’nông ở Việt Nam[100/103,134] Bên cạnh đó còn có một bộ phận người M’nông sống ở các tỉnh Lâm Đồng (9.099 người), Bình Phước (8.599 người) và Quảng Nam (4.026 người) Ngoài ra còn có khoảng trên 20.000 người M’nông sinh sống trên lãnh thổ Vương quốc Campuchia (chủ yếu ở tỉnh Mundikiri) Bộ phận này
có mối quan hệ thân thuộc và thường xuyên tiếp xúc qua lại với những người M’nông sống ở Việt Nam
Người M’nông ở Việt Nam được chia thành nhiều nhóm, mỗi nhóm có những điểm khác nhau về ngôn ngữ, tập quán canh tác và sinh hoạt văn hoá Tuy nhiên sự khác biệt giữa các nhóm là không lớn ngoại trừ nhóm M’nông R’lâm sống ở huyện Lăk của tỉnh Dak Lăk Nhóm M’nông R’lâm có quá trình sống xen kẽ và cộng cư lâu dài với người Êđê nên đã chịu nhiều ảnh hưởng qua lại của người Êđê [48/13] Nhiều yếu tố văn hoá của người Êđê đã xâm nhập vào người M’nông và ngược lại người M’nông cũng đã ảnh hưởng sâu trong đời sống người Êđê, nhất là những nhóm sống xen kẽ nhau [17/26] Một bộ phận khác sống bên cạnh và chịu ảnh hưởng của người Mạ, người Cơho; một
bộ phận nhỏ hơn sống ở tỉnh Bình Phước và có mối quan hệ mật thiết với người Stiêng [47/13] Các nhóm Nong, Preh, Biăt, Bu nơr, R’ong được xem là những nhóm chính, ít có quan hệ tiếp xúc với các dân tộc khác, nên còn bảo lưu được bản sắc văn hoá tộc người [54/40] Ngôn ngữ, văn hoá của những nhóm này mang những đặc trưng cơ bản và tiêu biểu nhất của dân tộc M’nông
Người M’nông sinh sống trên những vùng địa hình khá đa dạng: vùng đầm hồ, ven sông suối, vùng đất tương đối bằng phẳng, vùng đồi núi có độ dốc
Trang 26cao và đã có quá trình cư trú lâu dài trên vùng đất Tây Nguyên Theo các nhà nhân chủng học và dân tộc học, dân tộc M’nông “nằm trong nguồn gốc các dân tộc bản địa ở Việt Nam và Đông Nam Á”, thuộc nhóm loại hình nhân chủng Indonesien, đa phần họ có tầm vóc thấp, nước da ngăm đen, môi hơi dày, mắt nâu đen, tóc thẳng, một số người có tóc uốn tự nhiên [47/13] Cũng theo các nhà nghiên cứu thì người M’nông có quan hệ huyết thống và thân tộc với các
cư dân Đông Nam Á cổ xưa, “người Môn là cư dân nền tảng, cổ nhất, sống rải rác khắp Đông Nam Á lục địa Người Mơ Nông (ở Nam Trường Sơn) và người Pnong ở Đông - Bắc Campuchia là hậu duệ của một bộ phận người Môn cổ”[54/41] Về đại thể, Đông Nam Á là khu vực tiếp giáp của hai đại chủng Môgôlôit và Ôtralôit Vì thế ở đây từ rất sớm đã hình thành nên một tiểu chủng riêng biệt mang những yếu tố của cả hai đại chủng, gọi là tiểu chúng Đông Nam Á Tiểu chủng này bao gồm hai nhóm chính: Anhđônêdiêng mang nhiều yếu tố của đại chủng da đen hơn và con cháu của họ chính là những người sống
ở vùng Tây Nguyên (Việt Nam) và vùng rừng núi các nước hải đảo [55/41] Trong những năm gần đây, căn cứ vào các di chỉ khảo cổ, các nhà khảo cổ học
khẳng định rằng “có một nhịp cầu văn hoá xưa nhất nối Tây Nguyên và miền
Trong xã hội truyền thống của người M’nông, nền kinh tế chủ yếu là canh tác nương rẫy với cây trồng chủ đạo là cây lúa rẫy Họ canh tác trên phạm
vi đất đai nhất định, việc phân chia ranh giới là rất rõ ràng, họ không cho phép những người khác bon canh tác trong phạm vi đất đai của bon mình quản lý Người bon này muốn làm nương ở bon khác phải xin phép và phải nộp lễ bằng
Trang 27lợn, gà, rượu và gạo, nếu không sẽ bị thu hết hoa lợi [17/74] Việc sử dụng đất đai chủ yếu là theo chế độ luân khoảnh Với cách sử dụng đất đai và tài nguyên rừng như vậy thì có thể nói việc mất rừng và suy giảm môi trường sống là rất khó xảy ra Nông cụ sản xuất của người M’nông khá thô sơ, chủ yếu là cuốc, thuổng, dao dựa, chà gạc và các công cụ bằng gỗ, đầu bịt sắt Cây lúa rẫy chiếm vị trí trọng yếu do vậy mà các nghi lễ và lễ hội được tổ chức thường luôn gắn liền với quá trình sinh trưởng của loại cây trồng này Hiện nay, sản xuất lúa rẫy đã không còn phổ biến và đang mất dần Chúng tôi đã có nhiều chuyến điền dã qua vùng người M’nông và nhận thấy hầu hết người M’nông đã chuyển đổi sang canh tác các loại cây trồng khác có hiệu qủa kinh tế cao hơn như hồ tiêu, cao su, cà phê… Việc sản xuất lúa rẫy đã dần lùi vào quá khứ và chỉ còn lại trong ký ức của những người M’nông cao tuổi Thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những nương lúa rẫy rải rác ở những vùng như Nâm Nung, Nâm N’Jang, Quảng Trực…và đó là rẫy của những gia đình M’nông muốn lưu giữ một tập quán vốn đã ăn sâu vào trong đời sống của họ từ bao đời nay
Người M’nông xưa kia ở cả nhà sàn và nhà trệt Các nhóm như M’nông Gar, M’nông Preh, M’nông Nong ở nhà trệt Các nhóm khác như M’nông R’lâm, M’nông Chil, M’nông Kuênh thì ở nhà sàn Theo các nhà dân tộc học, các nhóm hiện nay đang ở nhà sàn như vừa kể, trước đây đã trải qua một thời
kỳ cư ngụ trong những ngôi nhà trệt [47/20] Ngôi nhà truyền thống của người M’nông là những ngôi nhà dài trệt, kiểu kiến trúc này rất phổ biến ở những nhóm M’nông Preh, M’nông Biăt, M’nông Nong - những nhóm ít có quan hệ tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của các dân tộc khác Người M’nông xưa kia sống trong những ngôi nhà trệt dài 60 - 70m, trong ngôi nhà đó chia làm nhiều phần, nhiều gian Mỗi gian là không gian sống và sinh hoạt của một tiểu gia đình trong đại gia tộc mẫu hệ Hiện nay ngôi nhà dài truyền thống đã đang dần được thay thế bởi những ngôi nhà vách ván lợp ngói hoặc nhà xây bằng gạch, xi măng và lợp tôn Ngôi nhà truyền thống gần như đã không còn và đang mất đi nhanh chóng tại các bon làng của người M’nông Hiện nay, ở vùng Quảng Trực chỉ còn lại một vài ngôi nhà dài trệt nhưng hầu hết đã rất cũ nát, nếu không
Trang 28được bảo quản tốt thì chắc chắn chỉ trong vòng vài năm nữa sẽ hư hỏng hoàn toàn
Trong lao động sản xuất, có sự phân công tương đối giữa công việc của nam giới và phụ nữ, công việc chính của người đàn ông là đan lát, phát rẫy, săn bắt… còn đàn bà thì bổ củi, nấu cơm, kéo sợi, dệt vải…[50/34] Trong xã hội M’nông xưa, phụ nữ có quyền quyết định mọi công việc quan trọng trong gia đình, quyền thừa kế tài sản thuộc về người con gái út Mặc dù theo chế độ mẫu
hệ nhưng người phụ nữ chỉ thực sự có “quyền uy” trong công việc của gia đình
và chủ yếu được diễn ra trong không gian của ngôi nhà dài mà thôi Còn những công việc hệ trọng, lớn lao liên quan đến cả cộng đồng như quyết định dời bon, chọn đất phát dẫy, săn bắt voi rừng … thì đều do người đàn ông, thường là trưởng bon quyết định
Trong xã hội truyền thống, bon (làng) là đơn vị hành chính duy nhất Các bon tồn tại độc lập và tách bạch nhau, ở đó chưa thấy có sự liên kết giữa các bon để tạo thành một liên minh (thiết chế) lớn hơn Bon được lập nên bởi một gia tộc hay nhiều gia tộc Người M’nông thường chọn những nơi gần núi, gần sông, suối, đầm, hồ để lập bon với mục đích là để tiện lợi cho việc sử dụng nguồn nước và chắn gió Mỗi bon thường gồm khoảng vài chục nóc nhà dài và tùy theo thói quen sinh hoạt và tập quán canh tác mà họ tạo dựng cho mình một loại nhà ở thích hợp: hoặc ở nhà sàn, hoặc ở nhà trệt, do làm rẫy là chính hay làm ruộng là chính Tên bon thường được đặt theo tên suối, tên núi hoặc tên một khu rừng nào đó, chẳng hạn như Nâm Nung, Nâm N’Jang, Lăk, Dak Nuê, Nâm Brah, Dak Hŭch… Mối quan hệ trong bon chủ yếu là mối quan hệ huyết thống, thân tộc Đứng đầu mỗi bon là Bu ranh bon (chủ bon), Bu ranh bon là người đứng ra tổ chức và giải quyết những công việc chính của bon làng như
xử kiện, quyết định dời bon, chọn đất phát rẫy, kết nạp thành viên mới … Vào
độ tuổi khoảng trên 45, không phân biệt giàu nghèo, nếu ai thông thạo luật tục, hiểu biết nhiều về phong tục tập quán, nhanh nhẹn, linh hoạt, ăn nói lưu loát thì được mọi người suy tôn làm Bu ranh bon
Trang 29Luật tục có một vai trò rất quan trọng đời sống của người M’nông Tất
cả mọi người đều phải tuân theo những luật lệ đã định sẵn Ai vi phạm, tùy theo mức độ sẽ bị xử phạt, nhẹ thì phạt bằng gà, nặng thì phải cúng đền bằng trâu bò hoặc bị đuổi khỏi bon Hiện nay, luật tục vẫn còn có tác động to lớn trong đời sống của người M’nông, nó được sử dụng để ràng buộc và điều tiết các mối quan hệ trong xã hội Rất nhiều sự việc khi áp dụng luật pháp của Nhà nước chưa hẳn đã giải quyết được nhưng khi áp dụng luật tục để xử lý lại tỏ ra hiệu qủa Chúng tôi xin dẫn ra một số trường hợp dưới đây để minh hoạ cho điều vừa nêu:
Năm 2010, Ma Ngọc (trưởng bon Bu Prâng, xã Dak Ndrung, huyện Dak Song, tỉnh Dak Nông) cho chúng tôi biết, cách đây hơn 10 năm ông xử vụ kiện của Thị Nheng là vợ của Điểu Thân kiện chồng mình vì tội ngoại tình, diễn biến vụ kiện như sau: Thị Nheng và Điểu Thân đã lấy nhau được 14 năm, đã có với nhau ba đứa con, cuộc sống vợ chồng tương đối hoà thuận Thế nhưng, năm 1998, Thị Nheng phát hiện ra chồng mình ngoại tình với Thị Then và sinh được một đứa con gái Thị Nheng đã đến nhờ Ma Ngọc xử phạt Thị Then và chồng mình Chuyện ngoại tình giữa Điểu Thân và Thị Then đã được Ma Ngọc cùng những người có trách nhiệm trong bon xét xử Sau một thời gian giảng giải, bàn bạc sự việc đã được giải quyết với hình phạt: Điểu Thân và Thị Then phải mua rượu và mua lợn về làm lễ cúng tạ tội với thần linh và vợ của Điểu Thân, phải lấy huyết của con lợn phết vào nhiều nhà, nhiều người trong bon; ngoài ra Thị Then còn phải nộp phạt hai triệu đồng cho vợ Điểu Thân và phải
tự nuôi đứa con đã có với Điểu Thân mà không được đòi hỏi quyền lợi gì Sau
vụ xử phạt, Điểu Thân đã biết lỗi và Thị Nheng đã bỏ qua những sai lầm của chồng Tiếp đó, Điểu Thân và Thị Nheng vẫn sống với nhau rất hoà thuận Sau khi đã xử phạt và làm lễ cúng tạ tội, giữa họ luôn có mối quan hệ tốt đẹp, như chưa có chuyện gì xẩy ra, không có sự thù tức hoặc ganh ghét gì nhau nữa, luôn giữ được hoà khí trong bon
Trang 30Chuyện thứ 2 diễn ra như sau: Tại bon Bu N’Drung Lu (xã Dak Ndrung, huyện Dak Song, tỉnh Dak Nông) chúng tôi được già làng Ma Giêm cho biết, năm 1997 có Thị Khuyên chưa có chồng mà có chửa, sinh ra một bé gái nhưng mọi người không biết bố đứa bé là ai Việc Thị Khuyên không chồng mà chửa
đã bị cả bon bắt vạ, dân bon xét xử và phạt Thị Khuyên năm trăm ngàn đồng nộp vào quỹ cộng đồng của bon Thị Khuyên phải giết một con gà, một con lợn
để làm lễ tẩy uế cho bon làng
Năm 2004 tại bon Bu Prâng xảy ra vụ việc Thị Thoan kiện Điểu Phinh vì tội đã có hôn ước với nhau, hai gia đình đã có lễ hỏi nhưng sau đó Điểu Phinh lại yêu người con gái khác, không chịu cưới Thị Thoan làm vợ Thị Thoan đã kiện Điểu Phinh và nhờ Ma Ngọc xét xử Thị Thoan đòi Điểu Phinh phải đền
bù cho mình 25 triệu đồng và phải làm lễ tạ tội với bon làng và thần linh Nhưng sau khi được bàn bạc, giảng giải của già làng và dân bon, mức phạt đã được giảm xuống là 12 triệu đồng Sau khi xử phạt và nộp đủ tiền thì Điểu Phinh đã được lấy người con gái mà anh ta yêu
Hiện nay phần lớn người M’nông sống theo tiểu gia đình, đại gia đình mẫu hệ gần như không còn Trong gia đình, người phụ nữ vẫn giữ vai trò chính, con cái sinh ra theo họ mẹ, quyền thừa kế tài sản thuộc về người con gái
út Đứng đầu gia đình mẫu hệ là người đàn bà cao tuổi nhất Xã hội M’nông về
cơ bản vẫn là chế độ mẫu hệ, nhưng con trai phải đi hỏi vợ Điều kiện để hai người lấy nhau là phải khác dòng máu, muốn lấy người trong gia tộc cũng được nhưng phải cách nhau ít nhất một đời và phải tuân theo những quy định của luật tục Thông thường, đám cưới được tổ chức hai lần nhưng cũng có những đám được tổ chức ba lần Sau khi làm lễ cưới bên nhà trai, hai người ở bên nhà chồng trong thời gian khoảng một tuần rồi chuyển hẳn sang ở bên nhà vợ Người nào có điều kiện sẽ tổ chức cưới lần thứ ba và sau lần cưới này thì người đàn ông được đưa vợ về sinh sống cùng gia đình của mình Trong hôn nhân, người M’nông cũng có tục nối dòng (gọi là n’trôk) nhưng không mang tính bắt buộc như “chuê nuê” của người Êđê
Trang 31Trong xã hội M’nông xưa kia thường xẩy ra những cuộc giao tranh giữa các gia tộc Chiến tranh xảy ra, về cơ bản là muốn duy trì các luật lệ của cộng đồng, duy trì lẽ phải, duy trì sự công bằng Các gia tộc sẽ hoà thuận với nhau khi các bên đều thực hiện theo những quy định của luật tục Trong quá khứ đã xẩy ra rất nhiều những cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các bon làng của người M’nông khi mà một trong hai bên vi phạm vào những nguyên tắc của luật tục Khi đánh nhau, đàn ông bên bại trận thường bị bên thắng trận giết sạch, nếu còn một người đàn ông nào chạy thoát, bên thắng trận chưa thể yên tâm Họ cho người đi báo cho các bon gần xa biết; ai chứa chấp người chạy thoát phải báo ngay, nếu không họ biết được sẽ đánh cả hai Kẻ trốn chạy muốn được tha bổng phải có người khác làm trung gian để hoà giải và phải cam kết không bao giờ được trả thù Nếu sau này có điều gì xẩy ra, cả người trốn thoát lẫn người làm trung gian sẽ bị trừng phạt Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là người M’nông trước đây luôn bị cuốn vào các cuộc chiến tranh Nguyên tắc làm theo luật tục vẫn là chủ đạo trong suy nghĩ và hành động của họ
Những biến động lớn về dân số, kinh tế - xã hội và môi trường trong những năm gần đây đã đặt dân tộc M’nông trước hàng loạt thách thức Từ chỗ
là một trong những dân tộc chủ thể của vùng đất Tây Nguyên nhưng bây giờ chỉ còn chiếm một tỉ lệ dân số rất nhỏ trong khu vực, cùng với đó là sự suy giảm các nguồn lợi tự nhiên và những biến động khác của xã hội khiến cho dân tộc M’nông rất khó khăn trong việc duy trì và bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống
1.1.2 Đời sống văn hoá của người M’nông
1.1.2.1 Đời sống văn hoá vật chất
Nhà truyền thống của người M’nông là ngôi nhà trệt dài, nhà được lợp bằng tranh hoặc lá cây dừa nước, vách nhà được thưng bằng những mảnh lồ ô đập dập Đặc điểm nổi bật của ngôi nhà dài của người M’nông là chỉ có kết cấu
vì cột chứ không có kèo, vật liệu làm nhà thường là những cây gỗ nhỏ và tranh tre, nứa lá Nhà thường được làm theo hướng Đông - Tây, chiếc cửa chính của
Trang 32ngôi nhà được mở ở đầu hồi hướng Đông Cửa này dành cho những người thân tộc trong gia đình; khách đến nhà sẽ đi vào bằng chiếc cửa được mở ở giữa hiên nhà Do mái nhà trùm sát đất, cửa ra vào nhỏ, thấp nên phía trong ngôi nhà thường rất tối Điều này càng trở nên huyền bí khi chúng ta được tham gia các nghi lễ và lễ hội trong ngôi nhà này
Dưới mái nhà dài gồm có nhiều gia đình nhỏ cùng sinh sống Trong nhà
có những khoảng không gian được quy định là nơi sinh hoạt chung như kho lúa, chỗ cột chiêng ché, phần còn lại được chia làm nhiều khoảnh, mỗi khoảnh
là nơi sinh sống, sinh hoạt của một tiểu gia đình trong gia tộc Mỗi gia đình nhỏ lại có bồ lúa và bếp riêng, ngoài ra, cứ hai gia đình lại có một bếp chung Gần bếp chung của hai gia đình nhỏ có một khoảng rộng dùng cho việc giã lúa Trong nhà, chiếc sạp bằng tre chiếm khoảng 1/3 chiều rộng của ngôi nhà, là nơi
để ngủ và cột các loại chiêng ché, đồng thời là nơi tiếp khách, ăn uống mỗi khi gia đình có công việc
Mỗi ngày, người M’nông ăn ba bữa nhưng chỉ nấu hai lần: nấu buổi sáng
để ăn sáng và ăn trưa, nấu buổi tối để ăn tối [54/42] Thức ăn của họ chủ yếu là những thứ đã săn bắt, hái lượm được như các loại cá, thú rừng và các loại rau… Hầu hết người M’nông đều rất thích ăn món canh lá bép và món cháo chua, đặc biệt là vào những buổi trưa khi ở lại trên rẫy thì họ hay dùng những món này Dụng cụ nấu ăn gồm có nồi đất nung được dùng để nấu cơm, ống tre tươi dùng
để nấu canh, nấu thịt cá Trong cuộc sống của người M’nông liên tục diễn ra các nghi lễ và lễ hội vì vậy mà họ chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm để phục
vụ cho những dịp cầu cúng, tế lễ Có thể nói, nét tiêu biểu nhất trong đời sống văn hoá của người M’nông là nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, ở đây vẫn còn lưu giữ những câu chuyện huyền thoại về nghề này
Rượu cần, thuốc lá cuốn (loại thuốc lá do họ tự trồng lấy) là những thứ được sử dụng thường xuyên trong đời sống hàng ngày của người M’nông, là những thứ không thể thiếu trong đời sống của họ Đó là những thứ đã ăn sâu vào trong tập quán sinh hoạt của họ, hầu như ai cũng đều rất thích uống rượu cần và hút thuốc lá
Trang 33Y phục truyền thống của người M’nông là những bộ quần áo bằng thổ cẩm do họ tự dệt lấy; phụ nữ thì mặc váy, áo ngắn chui đầu bó sát thân; đàn ông thì cuốn khố, mặc áo chui đầu che kín mông, vào mùa đông họ có thể khoác thêm một tấm vải thổ cẩm lên mình để chống rét Nhiều khi nhìn vào trang phục, có thể nhận biết được địa vị của người đó ở trong bon Đàn ông M’nông có nhiều loại áo để dùng theo mùa và theo nhu cầu sinh hoạt, ví dụ áo
nuh kier là chiếc áo dài tay, trên ngực áo được kết những sợi chỉ đỏ thành một
mảng trang trí Áo này được sử dụng trong những sinh hoạt mang tính chất long trọng và theo thói thường chỉ những người khá giả, có địa vị trong làng mới có [17/116]
Trang sức của người M’nông chủ yếu là những chiếc vòng bằng đồng, bằng bạc hoặc bằng ngà voi, phụ nữ còn đeo thêm những chuỗi hạt cườm ngũ Chiếc vòng thường là kỷ vật của những người thân quen tặng nhau để ghi nhớ tình cảm giữa họ với nhau hoặc là dấu hiệu của những lễ hiến sinh Trong xã hội cổ truyền, nam, nữ M’nông đều để tóc dài và búi gọn ra đằng sau gáy Vật dụng phổ biến trong sinh hoạt gia đình là các loại ché và các loại gùi Ché là một trong những vật dụng để đánh giá sự giầu có của mỗi gia đình Theo tìm hiểu của chúng tôi thì nhiều khi giá trị của chiếc ché không nằm ở giá trị thực, giá trị sử dụng của nó (giá trị hữu hình) mà nó có một giá trị vô hình, mang tính biểu trưng, linh thiêng, ví dụ như một chiếc ché Ntŏ (loại ché quý nhất theo quan niệm của người M’nông) phải đổi bằng 6 con trâu sừng bằng cánh tay hoặc phải đổi bằng một con voi đã trưởng thành
1.1.2.2 Đời sống văn hoá tinh thần
Người M’nông có đời sống văn hoá tinh thần khá phong phú và đa dạng, điều đó được thể hiện qua các nghi lễ và lễ hội, tín ngưỡng, văn học dân gian…
và mang tính cộng đồng cao
Xưa kia, người M’nông sinh sống trong môi trường tự nhiên nguyên sơ với những cánh rừng già nguyên sinh, rộng lớn và âm u Với trình độ sản xuất còn thấp kém, lạc hậu do vậy mà nhiều hiện tượng diễn ra trong thiên nhiên đối với họ là những điều hết sức bí ẩn và chưa thể giải thích nổi Có lẽ vì thế mà sự
Trang 34nhận thức của họ về thế giới còn đầy những “sai lầm” và “hư ảo” - đó là niềm tin vào sự tồn tại của các vị thần trong thế giới tự nhiên Trong tâm thức của người M’nông thì thần linh là có thật và có mặt ở khắp mọi nơi, luôn dõi theo cuộc sống của họ để phù hộ hoặc trừng phạt Người M’nông quan niệm, thế giới tựu trung có ba tầng: tầng trời - tầng mặt đất - tầng âm phủ, ở mỗi tầng đều
có các vị thần trú ngụ và cai quản Người M’nông tin rằng thần linh có tác động tốt hoặc xấu đến cuộc sống của họ Vì thế mà việc cúng khấn thần linh được diễn ra thường xuyên và liên tục Họ cúng khấn thần linh là để cầu mong được khoẻ mạnh, làm ăn được dễ dàng, cuộc sống được bình yên, hạnh phúc
Ở dân tộc M’nông có hai hệ thống nghi lễ và lễ hội chính đó là nghi lễ nông nghiệp (theo vòng sinh trưởng của cây lúa rẫy) và nghi lễ vòng đời người Trong sản xuất, người M’nông tin rằng khi mùa màng bội thu là có sự phù hộ của các đấng thần linh do đó, trong suốt một mùa rẫy, họ thực hiện rất nhiều các nghi lễ khác nhau: từ khi chọn đất phát rẫy, chọc lỗ tra hạt, cho đến khi thu hoạch Họ tin rằng, nếu thật sự “thành kính” trước thần linh thì sẽ được thần linh trợ giúp, bằng không sẽ bị thần linh trừng phạt Trong hệ thống nghi lễ nông nghiệp, đáng chú ý nhất là nghi lễ mừng lúa mới, đây là một nghi lễ lớn
và thường kết hợp với hình thức ăn trâu Nghi lễ này như là một lời tạ ơn của con người với thần linh, trời đất đã cho họ một mùa lúa bội thu đồng thời cũng
là sự mở đầu cho một mùa lễ hội “mùa ăn năm uống tháng” ở các bon làng M’nông
Bên cạnh các nghi lễ nông nghiệp là hệ thống nghi lễ vòng đời người Ngay từ khi người mẹ mang thai, cho đến khi đứa bé được sinh ra, lớn lên rồi
về với thế giới của thần linh, người M’nông thực hiện rất nhiều các nghi thức cúng khấn thần linh Trong các nghi lễ này thể hiện lối ứng xử nhân văn sâu sắc của người M’nông (ví dụ, khi biết được người mẹ mang thai thì mỗi lần tổ chức các nghi lễ và lễ hội, khi chia phần cho mọi người thì người ta đều chia phần cho đứa trẻ đang nằm trong bụng mẹ), đồng thời thể hiện niềm tôn kính của con người trước thần linh cũng như nỗi lo sợ của họ trước nguy cơ phá vỡ vòng tuần hoàn trường tồn của giống nòi, kèm theo những tục lệ rất nghiệt ngã
Trang 35Họ cúng để cầu mong các đấng thần linh không làm điều ác, mà đưa lại may mắn, hạnh phúc cho con người [50/79]
Trong các nghi lễ và lễ hội của người M’nông, lễ hội lớn nhất và đáng chú ý nhất là nghi lễ đâm trâu (Tăm ngết) Nghi lễ đâm trâu là một ngày hội lớn của cả cộng đồng Lễ đâm trâu thường được tổ chức vào tháng 3 dương lịch Lễ hội tổ chức to hay nhỏ là tuỳ thuộc vào khả năng của từng gia đình Gia đình giàu có có thể giết 7 đến 10 con trâu, gia đình bậc trung có thể giết 2 đến 3 con trâu, gia đình bình thường thì giết 1 trâu Trước ngày lễ đâm trâu một tháng, chủ nhà đã nhờ người đến giã gạo, lấy củi, dọn dẹp nhà cửa, chuồng trâu, bò, lợn, gà Nếu nhà thiếu ché Rlung thì đi mượn nhà khác cho đủ [50/91] Trong nghi lễ này mọi người mặc những bộ quần áo đẹp nhất, đeo các loại vòng; nam giới còn cắm lông chim, lông gà vào tóc; tiếng tù và, đồng la cùng tiếng hú, tiếng vui chơi, tiếng hò reo vang khắp cả một vùng núi rừng rộng lớn trong suốt mấy ngày đêm
1.2 Kho tàng văn học dân gian
Dân tộc M’nông có kho tàng văn học dân gian rất đa dạng và phong phú Ngoài kho tàng sử thi đồ sộ được cho là độc đáo vào bậc nhất trong khu vực và trên thế giới thì hầu hết các thể loại thuộc loại hình văn học dân gian đều có ở dân tộc M’nông như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, ca dao - dân
ca, thành ngữ, tục ngữ… Văn học dân gian của người M’nông cũng giống như văn học dân gian của nhiều dân tộc khác ở chỗ đều rất khó xác định thể loại một cách rạch ròi Với nhiều tác phẩm, không biết xếp nó là thần thoại, truyền thuyết hay cổ tích, là ca dao - dân ca hay là thành ngữ, tục ngữ Một tác phẩm nhưng lại mang trong nó đặc điểm của nhiều thể loại khác nhau Do vậy mà ở đây chúng tôi không phân chia văn học dân gian M’nông thành những thể loại
cụ thể mà chia nó thành hai loại: những tác phẩm thuộc loại hình văn xuôi tự sự
và những tác phẩm thuộc loại hình văn vần (tất nhiên sự phân loại này cũng chỉ tương đối) Đối với các nhà nghiên cứu đi trước, ngay cả khi họ chia văn học dân gian M’nông thành những thể loại cụ thể giống như khi nghiên cứu văn học dân gian của người Kinh thì chúng ta vẫn thấy ở họ sự lưỡng lự Đỗ Hồng
Trang 36Kỳ đã viết: tìm hiểu truyện cổ M’nông mà tách bạch ra từng loại hình như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, v.v… là một việc làm khiên cưỡng Trong luận án tiến sĩ Ngữ văn, Nguyễn Việt Hùng viết: Một trong những đặc điểm nổi bật của truyện cổ tích M’nông là sự giao thoa, hoà trộn với những thể loại truyện dân gian khác Hiện tượng này mang tính phổ biến ở các tộc người ít có tính biến động về đời sống xã hội - lịch sử, dẫn đến tình trạng chưa xuất hiện những yếu
tố cần thiết cho sự ra đời của một số thể loại văn học dân gian [29/46-47]
1.2.1 Các tác phẩm thuộc loại hình văn xuôi tự sự
Như trên đã nói, dân tộc M’nông có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú, đa dạng và độc đáo Hiện nay ở vùng người M’nông sinh sống vẫn đang lưu truyền một hệ thống các câu chuyện kể dân gian nói về các vị thần, về nguồn gốc và lịch sử tộc người, về các nhân vật huyền sử; những câu chuyện
đề cập đến những mâu thuẫn, xung đột trong đời sống xã hội v.v Những truyện này phản ánh nhận thức quá khứ xa xăm của con người về vũ trụ và nhân sinh, những dấu vết hoạt động của con người trong xã hội nguyên thuỷ [17/144]
Văn học dân gian M’nông đã được nhiều người quan tâm sưu tầm,
nghiên cứu và đạt được nhiều kết qủa đáng trân trọng, tiêu biểu như Truyện cổ
M’nông (bieeu 1) do Y Thi, Trương Bi sưu tầm và biên soạn, Sở Văn hoá -
Thông tin Dak Lăk ấn hành năm 1985, sách này bao gồm 15 câu chuyện Tiếp
đó là cuốn Truyện cổ M’nông (tập 2) do Tấn Vịnh, Điểu Kâu sưu tầm và biên
soạn, Sở Văn hoá - Thông tin Dak Lăk ấn hành năm 1995, gồm 13 câu chuyện Hai tập truyện này được sưu tầm ở nhóm M’nông Nong và M’nông Prâng ở tỉnh Dak Nông Đó là những câu chuyện kể về số phận của các loại nhân vật: người mồ côi, người lao động tài giỏi, người thông minh, người ngốc ngếch…[98/16]
Năm 2006, các tác giả Lê Khắc Cường, Phan Văn Dốp, Nguyễn Văn
Huệ…cho xuất bản cuốn sách Truyện cổ M’Nông (Nxb Văn hoá dân tộc) gồm
27 câu chuyện sưu tầm tại các bon làng thuộc huyện Lăk, tỉnh Dak Lăk và huyện Dak Mil, tỉnh Dak Nông Cuốn sách tập hợp những tác phẩm lý giải về các hiện tượng trong tự nhiên như sự hình thành trời đất, tại sao biển lại mặn,
Trang 37sự ra đời của cây lúa…; lý giải về các mối quan hệ trong xã hội như nguồn gốc các dòng họ của dân tộc M’nông, ý nghĩa giáo dục của tập tục kết hôn… Năm
2007, Tấn Vịnh và Điểu Kâu cho xuất bản tập truyện Chuyện kể về các loài vật
gồm 45 truyện mô tả khá thú vị về những loài chim, loài thú Bên cạnh đó là những truyện kể dân gian được đăng rải rác trên các tạp chí của địa phương
như Thần N’tôch bị đánh (2001), Nàng Ji Jêt Lơ Nghe (2003), Sự tích cây nêu
thần (2005), Vì sao con voi sợ kiến (2006), Vì sao con kiến ăn mỡ (2007) v.v…
Năm 2010, Trương Thông Tuần có cuốn sách Truyện cổ M’Nông do Nxb Trẻ
ấn hành Sách gồm 36 câu chuyện Nội dung các câu chuyện kể về những sự việc xảy ra trong đời sống gia đình, trong bon làng và về các loài vật
Trong kho tàng truyện dân gian của người M’nông còn có những câu chuyện kể về sự hình thành của đất trời và vạn vật như Yang thì tạo ra sông núi; Krak, Ntung, Bung thì tạo ra các giống cây trồng vật nuôi, Thần Rừng thì tạo ra các dòng sông, dòng suối… mà trong đó tiêu biểu hơn cả vẫn là Krak Lưn Ở đó là cả thế giới thần linh rất phong phú và sinh động, mà mỗi hình tượng thần là biểu trưng cho những chiến công chinh phục tự nhiên, tạo lập địa bàn cư trú của con người thời cổ xưa
Krak Lưn đóng vai trò là thần sáng tạo, thần khai sáng làm ra muôn vật Các truyện kể dân gian tạo thành dòng chảy liên tục trong việc giải thích sự hình thành của thế giới và vạn vật, trong đó biểu tượng ĐÁ được người M’nông nhắc đến nhiều với ý niệm: Con người và muôn vật sinh ra từ đá:
Từ thời xa xưa
Có con bướm soi mình trên đá
Có con bướm quan hệ với đá
Con chuồn chuồn quan hệ với nước
Hòn đá đẻ ra một trăm con người
Dòng thác sinh ra một nghìn con người
Nước biển sinh ra trứng và nở ra Tiăng [47/31]
Trong truyện Chàng đá lăn kể rằng: Có chàng trai sinh ra trong tảng đá
lớn, nhờ chim ưng mổ vỡ đá trước người, chàng mới trở thành chàng trai đẹp
Trang 38đẽ… Qua câu chuyện này chúng ta thấy được “bóng dáng xa xưa” nhất của tổ
tiên loài người như X.A.Tôcarev đã viết những tô tem xưa nhất là những tô tem
của các bào tộc, chúng thường là loài chim [94/77]
Những biểu tượng thần thoại đã được tiếp nối trong thể loại sử thi, thể hiện quan niệm của người M’nông về vũ trụ, về nguồn gốc của sự sống và con người Sự thống nhất trong cách sử dụng những biểu tượng thần thoại đã thể hiện sức sống mạnh mẽ của vốn văn học dân gian, tính kế thừa trong sáng tác của người M’nông [29/43]
Bên cạnh những câu chuyện kể về các vị thần đã sáng tạo ra vũ trụ, con người và vạn vật, trong kho tàng truyện dân gian của dân tộc M’nông còn có những tác phẩm nói về lịch sử tộc người, về phong tục tập quán, về mối quan
hệ giữa dân tộc M’nông với các dân tộc khác, về những nhân vật huyền sử trong quá khứ mà người M’nông bao giờ cũng trân trọng và ngưỡng vọng mỗi
khi nhắc đến họ Đó là truyện Nạn hồng thuỷ nói về mối quan hệ giữa người M’nông và người Mạ; truyện Truyền thuyết Trôm yau thì giải thích cho việc tại sao người M’nông lại được chia thành nhiều nhóm khác nhau; truyện Vì sao
người chết không sống lại giải thích cho việc vì sao con người hiện nay phải
chết vĩnh viễn; truyện Kiêng ăn thịt khỉ, truyện Sự tích về các dòng họ và truyện Sự tích dòng họ Buôn Kroong thì lại đề cập đến tập quán kiêng cữ của
người M’nông như kiêng ăn thịt nai, kiêng ăn thịt khỉ, kiêng ăn thịt trăn, kiêng
ăn củ păn lăn… Người M’nông vẫn quan niệm rằng những con vật như khỉ, nai, trăn… luôn ở bên cạnh để giúp họ chiến thắng được thiên tai, địch hoạ đồng thời mang lại may mắn, hạnh phúc cho con người Trong hệ thống những truyện kể về lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, về các phong tục tập
quán của người M’nông chúng tôi nhận thấy truyện Dam Bri (Chàng Rừng) là
tiêu biểu và đáng chú ý hơn cả Truyện đã ca ngợi lòng dũng cảm và những chiến công vang dội của chàng Dam Bri trong sự nghiệp đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ cuộc sống yên bình cho bon làng Hình ảnh chàng Dam Bri luôn luôn là biểu tượng rực sáng của người M’nông, nó lung linh, hùng tráng và lãng mạn với những vẻ đẹp độc đáo và hấp dẫn giống như dòng thác
Trang 39Buc So ngày đêm tuôn chảy và gầm thét giữa đại ngàn Cao Nguyên hùng vĩ Tác phẩm Dam Bri mang âm hưởng trữ tình và đậm chất anh hùng ca, nó có vẻ đẹp độc đáo và sức hấp dẫn kỳ lạ, xứng đáng là một trong những viên ngọc sáng nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam
Nhưng nhìn chung, phần lớn những truyện kể thuộc kiểu dạng này thường có cốt truyện đơn giản, ít tình tiết và khi sáng tạo, các nghệ nhân dân gian luôn đặt nhân vật vào những địa bàn cụ thể do vậy mà những tác phẩm này mang trong nó cả những yếu tố hiện thực và cả những yếu tố hoang đường,
kỳ ảo
Trong kho tàng truyện dân gian của dân tộc M’nông còn có hệ thống những câu chuyện đề cập đến những xung đột, mâu thuẫn trong đời sống xã hội, trong sinh hoạt và trong lao động sản xuất Những tác phẩm thuộc loại này được Đỗ Hồng Kỳ và Nguyễn Việt Hùng xếp vào loại truyện cổ tích Nhưng như trên chúng tôi đã nói, việc phân chia thể loại văn học dân gian nhiều khi là rất khó và điều đó càng khó khăn hơn khi ta phân loại văn học dân gian của dân tộc M’nông (bởi có sự giao thoa của nhiều thể loại trong cùng một tác phẩm)
Trong truyện dân gian M’nông còn có một loại truyện được gọi là Nao
R’lach hay Nao N’khich Đây là loại truyện chứa đựng phần lớn sự tưởng
tượng, truyện kể ngắn gọn và có tác dụng tạo không khí vui tươi, giải trí Đằng sau sự vui tươi, giải trí ấy là lời răn dạy về đạo đức, một triết lý về nhân sinh và một kinh nghiệm sống được rút ra từ thực tế Những câu chuyện này tập trung nói về thế giới động vật và hai con vật được nói đến nhiều nhất là thỏ và cọp Ở đây con thỏ luôn luôn tỏ ra tinh khôn, ranh mãnh và có phần độc ác Vốn nhỏ
bé và nhút nhát thế mà thỏ nhiều phen làm cho cọp phải gườm mặt, phải chết vì mắc mưu (truyện Cọp sợ thỏ, Vì sao da cọp nhiều màu, Thỏ hại cọp) Sự tinh
ranh, láu lỉnh của con thỏ được thể hiện rõ nhất trong truyện Thỏ và bà già
Người đàn bà già tưởng là đã nhanh hơn thỏ, khi bà ta vội vàng nói với Mtao rằng bà sẽ đổi thỏ cho Mtao để lấy gạo, thì trước đó thỏ đã “vào cửa sau” nói với Mtao rằng thỏ bán bà già cho Mtao để lấy “một con dê đực và hai chục qủa trứng”…
Trang 40Nội dung truyện dân gian M’nông rất phong phú và đa dạng, phản ánh đầy đủ mọi mặt trong đời sống xã hội Truyện dân gian đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với dân tộc M’nông qua nhiều đời nay, nó như bể trầm tích chứa đựng những thuần phong mỹ tục, những giá trị văn hoá đặc sắc của cộng đồng đã được đúc kết trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việc tìm hiểu kho tàng truyện dân gian của dân tộc M’nông sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn cảnh về đời sống vật chất và tinh thần, cùng với đó là những ước mơ, khát vọng của người M’nông
1.2.2 Các tác phẩm thuộc loại hình văn vần
Ngoài thể loại sử thi - Ot Ndrong (sử thi Ot Ndrong là tác phẩm tự sự được thể hiện dưới hình thức văn vần Chúng tôi sẽ giới thiệu ở phần sau) được sáng tạo bằng văn vần thì trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc M’nông còn có hệ thống các câu vần dân gian rất phong phú và đa dạng mà người
M’nông gọi là Nao mprĭng (lời nói vần) Lời nói vần của người M’nông tương đương với thành ngữ, tục ngữ, ca dao Nội dung của nao mprĭng đề cập đến
nhiều vấn đề của cuộc sống: thời tiết, kinh nghiệm sản xuất, mối quan hệ cộng đồng, tình yêu nam nữ, hôn nhân, nguồn gốc các dòng họ và về các mối quan
hệ trong gia đình, dòng tộc…
Nao Mprĭng là hình thức phônclo ngôn từ được thể hiện thiên về lối nói
có vần điệu Những câu này khi đọc lên thường có âm điệu xuôi tai, làm người nghe dễ nhớ và nhớ được lâu, nó là sự trộn lẫn giữa ngôn ngữ thơ ca và ngôn ngữ thông thường Dưới đây chúng tôi đi vào một số vấn đề cơ bản của văn vần dân gian M’nông để thấy được tính chất phong phú, đa dạng của nó
Lời nói vần được cấu trúc theo những câu văn vần nên nó tương đối dễ
nhớ và dễ thuộc, nó thường đề cập đến những vấn đề gần gũi, mật thiết trong sinh hoạt hàng ngày nên dễ tiếp cận và dễ vận dụng vào cuộc sống Về mặt hình thức, về cơ bản đây là lối nói có vần điệu, ngoài vần lưng và vần đầu được cấu trúc tương đối “nghiêm ngặt” còn lại được sử dụng rất linh hoạt, tự do, có những trường hợp 5, 6 câu liên tiếp không hiệp vần với nhau Về ngôn ngữ biểu đạt, như Đỗ Hồng Kỳ đã nhận xét “ngôn ngữ sử dụng trong nao mprĭng