Từ sự nhận thức được vai trò quan trọng của việc phân tích thực trạng quản lý tài chính trong một doanh nghiệp; đồng thời với với mong muốn Công ty đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
VŨ THỊ HUYỀN TRANG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN
ĐIỆN LỰC HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC SƠN
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực
hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
được chỉ rõ nguồn gốc, bản luận văn này là nỗ lực, kết quả làm việc của
cá nhân tôi (ngoài phần đã trích dẫn)
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thị Huyền Trang
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học và các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh Doanh - Đại học Thái Nguyên
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện của bạn bè, đồng nghiệp
và người thân trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thị Huyền Trang
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa của đề tài 3
5 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 4
1.1 Tổng quan về quản lý tài chính doanh nghiệp 4
1.1.1 Tài chính doanh nghiệp 4
1.1.2 Quản lý tài chính doanh nghiệp 9
1.2 Tổng quan một số kinh nghiệm nghiên cứu có liên quan đến đề tài 27
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu 29
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 33
2.2.2 Phương pháp tổng hợp số liệu 35
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 35
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
2.3.1 Quản lý tài sản 36
2.3.2 Quản lý nguồn vốn 38
2.3.3 Khả năng thanh toán 39
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/ Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐIỆN LỰC HẢI DƯƠNG 41
3.1 Tổng quan về Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương 41
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty 41
3.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 43
3.1.3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công ty 47
3.2 Khái quát tình hình tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương 50
3.2.1 Cơ cấu tài sản của Công ty 50
3.2.2 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty 55
3.2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương 57
3.3 Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương 61
3.3.1 Quy trình quản lý tài chính tại Công ty 61
3.3.2 Quản lý tài sản 63
3.3.3 Quản lý nguồn vốn 69
3.4 Đánh giá về thực trạng quản lý tài chính tại Công ty 81
3.4.1 Ưu điểm 81
3.4.2 Hạn chế, thiếu sót 82
3.4.3 Nguyên nhân những hạn chế, thiếu sót 83
Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN ĐIỆN LỰC HẢI DƯƠNG 85
4.1 Định hướng tăng cường quản lý tài chính của Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương trong thời gian tới 85
4.1.1 Định hướng và mục tiêu chung của Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương 85
4.1.2 Định hướng và mục tiêu tăng cường quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương 86
Trang 44.2 Một số giải pháp tăng cường quản lý tài chính tại Công ty 86
4.2.1 Các giải pháp tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu và thực hiện tốt công tác quản lý nợ 86
4.2.2 Các giải pháp nâng cao khả năng thanh toán 90
4.2.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 94
4.3 Một số kiến nghị 102
4.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 102
4.3.2 Kiến nghị với Tập đoàn 108
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 112
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 CBCNV Cán bộ công nhân viên
2 Công ty Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
3 DT Doanh thu
4 ĐTXD Đầu tư xây dựng
5 DV Dịch vụ
6 ĐZ Đường dây
7 HTK Hàng tồn kho
8 KH Khách hàng
9 QLTC Quản lý tài chính
10 SCL Sửa chữa lớn
11 SXKD Sản xuất kinh doanh
13 Tập đoàn (hay EVN) Tập đoàn Điện lực Việt Nam
12 TBA Trạm biến áp
15 TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
14 Tổng công ty (hay EVN NPC) Tổng công ty Điện lực miền Bắc
16 Tr.đ Triệu đồng
17 TSCĐ Tài sản cố định
18 VCSH Vốn chủ sở hữu
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ Bảng:
Bảng 3.1 Bảng phân tích cơ cấu tài sản của Công ty 52
Bảng 3.2 Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty 55
Bảng 3.3 Chỉ tiêu nợ phải trả/VCSH của Công ty mẹ và các đơn vị thành viên 57
Bảng 3.4 Bảng phân tích hiệu quả kinh doanh chung 58
Bảng 3.5 Phân tích thực trạng quản lý tổng tài sản 63
Bảng 3.6 Phân tích thực trạng quản lý tài sản cố định 64
Bảng 3.7 Bảng phân tích số vòng quay hàng tồn kho 66
Bảng 3.8 Bảng phân tích tình hình phải thu khách hàng 67
Bảng 3.9 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động 68
Bảng 3.10 Bảng phân tích các hệ số tài trợ 69
Bảng 3.11 Bảng phân tích tình hình phải trả người bán 71
Bảng 3.12 Bảng phân tích tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) 72
Bảng 3.13 Bảng phân tích khả năng thanh toán lãi vay 73
Bảng 3.14 Bảng phân tích khả năng thanh toán tổng quát 75
Bảng 3.15 Bảng phân tích tính cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn 76
Bảng 3.16 Các hệ số về khả năng thanh toán của Tổng Công ty 77
Bảng 3.17 Phân tích khả năng thanh toán của tài sản dài hạn với nợ dài hạn 79
Sơ đồ: Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty 47
Sơ đồ 3.2 Bộ máy kế toán Công ty 47
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài Đối với mỗi quốc gia vấn đề năng lượng là một yếu tố quan trọng
mang tính chiến lược trong việc phát triển kinh tế xã hội Việt Nam là một nước đang phát triển, các hoạt động kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết vì vậy năng lượng càng đóng một vai trò không thể thiếu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Năng lượng nói chung và điện năng nói riêng
là một trong những vấn đề đang được xã hội quan tâm Và đi cùng với những vấn đề đó luôn là hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Là một tập đoàn nhà nước, hoạt động độc quyền trong lĩnh vực cung cấp điện tại thị trường Việt Nam nhưng lại chịu những khoản lỗ và nợ rất lớn Nguyên nhân thua lỗ của EVN bên cạnh những nguyên nhân khách quan còn nhiều nguyên nhân chủ quan mà theo giới chuyên gia phân tích nguyên nhân chính là do việc quản lý điều hành yếu kém, chiến lược đầu tư kinh doanh chưa phù hợp
Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương (Sau đây gọi tắt là Công ty)
là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước do Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc (EVN NPC) là đại diện Chủ sở hữu; chuyển giao quyền và nghĩa vụ đại diện Chủ sở hữu vốn nhà nước tại Công ty từ EVN sang EVN NPC Trong bối cảnh chung đó, Công ty cũng gặp phải không ít khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Với những khó khăn từ bên ngoài mang lại như giá điện chịu sự quản
lý của Nhà nước, tình hình lạm phát hay lãi suất còn cao cộng với những khoản lỗ lớn của Tập đoàn nên tiếp cận những nguồn vốn để nâng cấp, sửa chữa lưới điện, phát triển kinh doanh còn bị hạn chế… đòi hỏi bản thân Công
ty càng phải tự vượt lên những khó khăn thách thức Một trong những công
cụ hữu hiệu giúp ích cho Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương là phân tích thực trạng quản lý tài chính một cách hiệu quả Bởi tình hình tài chính giống như một bức tranh tổng thể phản ánh kết quả hoạt động mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ, phân tích thực trạng quản lý tài chính sẽ là công cụ
Trang 6để đánh giá khái quát tình hình tài chính, xác định cấu trúc tài chính doanh
nghiệp, chỉ rõ tình hình và khả năng thanh toán, trên cơ sở đó các nhà quản lý
sẽ nắm được những tồn tại cũng như thế mạnh của bản thân doanh nghiệp để
đưa ra những quyết định đúng đắn Từ sự nhận thức được vai trò quan trọng
của việc phân tích thực trạng quản lý tài chính trong một doanh nghiệp; đồng
thời với với mong muốn Công ty đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng
cao, luôn làm chủ tình hình tài chính của đơn vị trong mọi hoàn cảnh, Tác giả
lựa chọn đề tài: “Tăng cường quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành
viên Điện lực Hải Dương” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính tại Công ty
TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá lý luận chung về quản lý tài chính trong doanh nghiệp
- Thực hiện phân tích thực trạng quản lý tài chính của Công ty TNHH
MTV Điện lực Hải Dương trong những năm gần đây nhằm đánh giá thực
trạng quản lý tài chính, từ đó tìm ra thế mạnh và điểm yếu đang tồn tại trong
hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
- Đề xuất một số giải pháp, phương hướng, kiến nghị nhằm nâng cao
năng lực tài chính và hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH MTV Điện lực
Hải Dương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là thực trạng quản lý tài chính tại
Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
Phạm vi nghiên cứu:
- Về mặt không gian là Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
- Về mặt thời gian: từ tháng 1/2012 đến tháng 12/2014 và đề ra các giải
pháp đến năm 2020
4 Ý nghĩa của đề tài
Về mặt khoa học: Đề tài đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về
quản lý tài chính của doanh nghiệp, giúp cho các nhà phân tích làm nền tảng
cơ sở cho việc phân tích thực trạng quản lý tài chính một cách khoa học, chính xác Từ đó có thể đưa ra được những đánh giá, nhận định, những kết luận một cách khoa học, chính xác về thực trạng quản lý tài chính của doanh nghiệp đang được phân tích
Về mặt thực tiễn: Tác giả nhận thấy việc phân tích thực trạng quản lý
tài chính là công tác không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp, nó đóng một vai trò quan trọng không một nhà quản lý nào có thể phủ nhận Hiện tại, Công ty đang gặp phải không ít khó khăn từ cơ chế thị trường, bên cạnh đó còn thực hiện những kế hoạch, chỉ tiêu của Tập đoàn mà hệ quả là từ những khoản lỗ khổng lồ mà nguyên nhân được đánh giá là do công tác quản lý yếu kém, rút kinh nghiệm từ những bước đi sai lầm, từ việc chưa sát sao trong công tác quản lý tài chính của Tập đoàn, Tác giả hi vọng đề tài nghiên cứu của mình có thể góp phần vào việc phân tích thực trạng quản lý tài chính tại Công ty được hoàn thiện và sâu sắc; đồng thời là tài liệu để ban lãnh đạo Công ty tham khảo trước khi quyết định những nội dung liên quan và xây dựng chiến lược mới giúp Công ty đứng vững, từng bước phấn đấu trở thành đơn vị dẫn đầu về hoạt động kinh doanh trong Tập đoàn
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính doanh nghiệp; Chương 2 Phương pháp nghiên cứu;
Chương 3 Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty TNHH MTV Điện
lực Hải Dương;
Chương 4 Giải pháp tăng cường quản lý tài chính tại Công ty TNHH
MTV Điện lực Hải Dương
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về quản lý tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, hoạt động kinh doanh trên thị
trường nhằm làm tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu
Theo điều 4.7 của Luật Doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày
26/11/2014 “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích kinh doanh” Tức là, doanh nghiệp là một tổ chức thực hiện một, một
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời
Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm các loại hình chính sau: Doanh
nghiệp nhà nước; doanh nghiệp tư nhân; công ty cổ phần; công ty trách nhiệm
hữu hạn (1 thành viên, 2 thành viên trở lên); công ty hợp danh Ngoài ra,
doanh nghiệp Việt Nam con bao gồm cả hợp tác xã đăng ký và hoạt động theo
Luật Hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký và hoạt
động theo Luật Doanh nghiệp chung
1.1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một mắt xích quan trọng của hệ thống tài
chính trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra
đời của kinh tế hàng hóa tiền tệ Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh thì
bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng tiền tệ nhất định, đó là tiền
đề cần thiết và quan trọng Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
cũng đồng thời là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ
Trong quá trình đó đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với các hoạt động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sản xuất kinh doanh, các hoạt động đầu tư cũng như mọi hoạt động khác của doanh nghiệp Các luồng tiền bao gồm các luồng tiền tệ đến và ra khỏi doanh nghiệp tạo thành sự vận động của các luồng tài chính trong doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những mối quan hệ kinh tế diễn ra dưới hình thức giá trị giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh, nó phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động cơ bản nhất đối với mỗi doanh nghiệp Hoạt động tài chính doanh nghiệp nếu được duy trì và phát triển một cách ổn định thì sẽ tạo tiền đề và nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động khác của doanh nghiệp vận động và phát triển Hoạt động tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu như huy động, khai thác vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn cũng như phân bổ và sử dụng các nguồn vốn một cách hợp lý và hiệu quả
1.1.1.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
- Chức năng phân phối
Đối với mỗi doanh nghiệp thì tài chính doanh nghiệp là vô cùng quan trọng Để quá trình sản xuất kinh doanh có thể diễn ra thì vốn của doanh nghiệp phải được phân phối cho các mục đích khác nhau và các mục đích này đều hướng tới một mục tiêu chung của doanh nghiệp Quá trình phân phối vốn cho các mục đích đó được thể hiện theo các tiêu chuẩn và định mức được xây dựng dựa trên các mối quan hệ kinh tế của doanh nghiệp với môi trường kinh doanh Tiêu chuẩn và định mức phân phối đó không phải cố định trong suốt quá trình phát triển của doanh nghiệp, mà nó thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình từng giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp
- Chức năng giám đốc bằng tiền
Bên cạnh chức năng phân phối thì tài chính doanh nghiệp còn có chức năng giám đốc bằng tiền Chức năng này không thể tách khỏi chức năng phân phối, nó giúp cho chức năng phân phối diễn ra có hiệu quả nhất Kết quả của
Trang 8mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều thể hiện thông qua
các chỉ tiêu tài chính như thu, chi, lãi, lỗ,… Các chỉ tiêu tài chính này tự phản
ánh tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tình hình thực hiện các
mục tiêu kinh tế xã hội của doanh nghiệp và còn giúp các nhà quản lý đánh
giá được mức độ hợp lý và hiệu quả của quá trình phân phối, để từ đó có thể
tìm ra được phương hướng và biện pháp điều chỉnh để đạt được hiệu quả cao
hơn trong kì kinh doanh tiếp theo
Mối quan hệ giữa hai chức năng của tài cính doanh nghiệp: Chức
năng phân phối và chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính doanh nghiệp
có mối quan hệ mật thiết với nhau Chức năng phân phối là tiền đề của hoạt
động sản xuất kinh doanh, nó xảy ra trước và sau một chu trình sản xuất kinh
doanh Chức năng giám đốc bằng tiền luôn theo sát chức năng phân phối, ở
đâu có sự phân phối thì ở đó có giám đốc bằng tiền và có tác dụng điều chỉnh
quá trình phân phối cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Hai chức năng này cùng tồn tại và hỗ trợ cho nhau để hoạt động tài
chính doanh nghiệp diễn ra thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất
1.1.1.4 Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp
- Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước
Đây là mối quan hệ phát sinh đầu tiên đối với mỗi doanh nghiệp
Doanh nghiệp muốn xuất hiện trên thị trường thì trước tiên doanh nghiệp phải
có được giấy phép hoạt động do Nhà nước cấp và doanh nghiệp muốn tồn tại
thì mọi hoạt động của doanh nghiệp phải diễn ra trên khuôn khổ của hiến
pháp, pháp luật do Nhà nước quy định Doanh nghiệp vừa nhận được các lợi
ích từ Nhà nước, vừa phải chịu các nghĩa vụ đối với Nhà nước Doanh nghiệp
có thể nhận được những khoản trợ cấp của Nhà nước, sự hỗ trợ về cơ sở vật
chất, cơ sở hạ tầng, nguồn vốn thông qua các khoản cho vay ưu đãi và doanh
nghiệp cũng có thể nhận được sự bảo trợ của Nhà nước trên thị trường trong
nước và quốc tế,… Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng phải đảm bảo thực hiện
các nghĩa vụ đối với Nhà nước mà biểu hiện cụ thể nhất là các khoản thuế phải nộp Nhà nước Doanh nghiệp cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trên thị trường Bên cạnh đó, Nhà nước cũng phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo hướng ngày càng hỗ trợ và khuyến khích cho các doanh nghiệp phát triển cũng như bảo hộ cho quyền lợi của các doanh nghiệp khi gia nhập thị trường quốc tế Trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay thì Nhà nước còn có một vai trò vô cùng quan trọng là phát hiện ra và có những điều chỉnh kịp thời các văn bản pháp luật để tạo ra một môi trường ngày càng thông thoáng để doanh nghiệp
có thể gia nhập thị trường cũng như tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả nhất
- Các mối quan hệ của doanh nghiệp với thị trường
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn diễn ra trên thị trường thông qua việc trao đổi, mua bán các loại sản phẩm Trong quá trình này doanh nghiệp luôn tiếp xúc với các loại thị trường để thỏa mãn các nhu cầu của mình bao gồm thị trường tài chính, thị trường hàng hóa, thị trường lao động,…
- Mối quan hệ với thị trường tài chính:
Thị trường tài chính đóng một vai trò quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Vì vốn là điều kiện đầu tiên quyết định đối với mỗi doanh nghiệp khi xuất hiện trên thị trường, nó quyết định đến quá trình thành lập, quy mô và tổ chức kinh doanh của doanh nghiệp Thị trường tài chính là một kênh cung cấp tài chính cho nhu cầu của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp có thể tạo được nguồn vốn thích hợp bằng cách phát hành các giấy tờ có giá như chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu,… Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thể tiến hành kinh doanh các mặt hàng này trên thị trường tài chính để thu lợi nhuận, góp phần giải quyết một phần nhu cầu về vốn của doanh nghiệp Đồng thời thông qua các hệ thống tài chính - ngân hàng, doanh nghiệp có thể huy động
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
được vốn, đầu tư vào thị trường tài chính hay thực hiện các quan hệ vay trả,
tiền gửi, thanh toán,…
- Mối quan hệ với thị trường hàng hóa
Thị trường hàng hóa là một thị trường vô cùng quan trọng đối với các
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Đây chính là nơi
diễn ra hoạt động trao đổi các sản phẩm giữa các doanh nghiệp và kết quả của
quá trình này có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp trên thị trường Thông qua thị trường này doanh nghiệp có thể tiêu
thụ được các sản phẩm mà mình sản xuất ra cũng như mua các sản phẩm của
các doanh nghiệp khác mà mình có nhu cầu Quá trình này giúp cho thị
trường hàng hóa vô cùng đa dạng và luôn luôn phát triển
- Mối quan hệ với thị trường lao động
Các sản phẩm được tạo ra trên thị trường chính là kết tinh của sức lao
động Chính vì vậy mà thị trường lao động có mối quan hệ rất mật thiết với
các doanh nghiệp Doanh nghiệp là nơi thu hút và giải quyết công ăn việc làm
cho một số không nhỏ người lao động Ngược lại, thị trường lao động lại là
nơi cung cấp cho doanh nghiệp những lao động phù hợp với nhu cầu của
doanh nghiệp, là cầu nối giữa người lao động và doanh nghiệp
- Mối quan hệ với các thị trường khác
Bên cạnh các thị trường trên thì doanh nghiệp còn có mối quan hệ với
rất nhiều thị trường khác như thị trường khoa học công nghệ, thị trường tư
liệu sản xuất, thị trường bất động sản, thị trường thông tin,… Đối với các thị
trường này, doanh nghiệp vừa đóng vai trò là nhà cung ứng các dịch vụ đầu
vào vừa đóng vai trò là khách hàng tiêu thụ các sản phẩm đầu ra
Duy trì và phát triển được các mối quan hệ với các thị trường này sẽ
giúp cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong mọi hoạt động trên thị trường
- Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp
Đây là mối quan hệ tài chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính
giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các
thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.2 Quản lý tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Quản lý tài chính doanh nghiệp hiểu một cách đơn giản là công tác quản lý các vấn đề trong doanh nghiệp có liên quan đến việc tổ chức thực hiện các biện pháp đảm bảo sự cân đối, hài hòa các mối quan hệ tài chính của doanh nghiệp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao
Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức và thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, phát triển ổn định, không ngừng gia tăng giá trị của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Như vậy có thể thấy rằng quản lý tài chính doanh nghiệp là một quá trình, từ việc phân tích tình hình của doanh nghiệp cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, cho đến việc đảm bảo các quyết định tài chính được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp Hiểu theo một cách đơn giản thì quản lý tài chính là việc các nhà quản lý làm cách nào để huy động vốn nhanh và ổn định nhất, phân bổ và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đưa lại lợi nhuận cao và ổn định cho doanh nghiệp, đảm bảo cho hoạt động tài chính và hoạt động của doanh nghiệp phát triển ổn định
1.1.2.2 Các nội dung quản lý tài chính doanh nghiệp
a Quản lý vốn cố định - tài sản cố định
Về quản lý tài sản có định
Trong doanh nghiệp có nhiều loại tư liệu lao động khác nhau, về thời gian sử dụng, giá trị, mức độ Do đó, để đơn giản việc quản lý, toàn bộ tư liệu lao động được chia thành hai loại TSCĐ và công cụ lao động nhỏ
Trang 10(công cụ, dụng cụ) Theo quy định hiện hành của Việt Nam, những tư liệu
lao động nào thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau đây được gọi là tài sản
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy
Trong nền kinh tế hàng hóa mọi việc xây dựng, mua sắm TSCĐ phải
chi trả bằng vốn tiền tệ
Vốn cố định của doanh nghiệp là giá trị ứng trước về TSCĐ hiện có
của doanh nghiệp Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định là tham gia vào
nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và chỉ hoàn thành một vòng tuần hoàn
khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng (khấu hao đủ)
Để quản lý TSCĐ được chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho công
tác kế hoạch, thống kê và phân tích, để tính toán đầu tư mở rộng cũng như
giúp cho việc tính khấu hao chính xác cần phải phân loại TSCĐ
- Căn cứ vào công dụng kinh tế: TSCĐ dùng trong kinh doanh sản
xuất, TSCĐ dùng ngoài kinh doanh sản xuất
- Căn cứ vào tình hình sử dụng: TSCĐ đang dùng (TSCĐ đang dùng
trong kinh doanh sản xuất và ngoài kinh doanh sản xuất); TSCĐ chờ xử lý
- Căn cứ vào quyền sở hữu: TSCĐ của doanh nghiệp; TSCĐ bảo
quản hộ; TSCĐ thuê ngoài (TSCĐ thuê hoạt động và TSCĐ thuê tài chính)
- Căn cứ vào hình thái vật chất: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình
Trong quá trình sử dụng TSCĐ bị hao mòn dần bao gồm hao mòn
hữu hình và hao mòn vô hình Để duy trì và phát triển các hoạt động sản
xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần tu bổ thường xuyên các TSCĐ đồng thời
không ngừng tăng thêm những TSCĐ mới Vì thế, phải căn cứ vào mức độ
hao mòn TSCĐ mà tính ra giá trị hao mòn đã chuyển vào giá trị của hàng hóa để thu hồi lại bằng số tiền tương ứng trong số tiền bán hàng hóa của doanh nghiệp
Giá trị TSCĐ bị hao mòn đã chuyển dịch vào giá trị hàng hóa được biểu hiện bằng tiền gọi là tiền khấu hao Số tiền này được tích lũy lại để tái sản xuất TSCĐ gọi là quỹ khấu hao
Các phương pháp khấu hao TSCĐ
• Phương pháp khấu hao tuyến tính cố định (đường thẳng):
Ưu điểm: mức khấu hao phân bổ vào giá thành đều làm cho giá thành
ổn định, đơn giản, dễ làm, chính xác với từng loại TSCĐ
Nhược điểm: thu hồi vốn chậm ở những năm đầu, không phản ánh
đúng hao mòn thực tế và tỷ lệ hao mòn vô hình của TSCĐ
• Phương pháp khấu hao nhanh giảm dần theo giá trị:
Ưu điểm: thu hồi vốn những năm đầu rất nhanh Nhược điểm: chi phí khấu hao biến động rất mạnh làm cho việc tính
toán giá thành, thuế khó khăn; tổng số tiền khấu hao lũy kế không bằng giá trị ban đầu của TSCĐ Để khắc phục tình trạng này bằng cách ở những năm cuối ta sử dụng phương pháp khấu hao bằng đường thẳng (lấy giá trị còn lại chia đều cho các năm còn lại)
• Phương pháp khấu hao nhanh giảm dần theo thời gian:
Ưu điểm: cho phép thu hồi vốn đầu tư rất nhanh ở những năm đầu,
làm giảm hao mòn vô hình TSCĐ, có vốn để tái tạo, đổi mới TSCĐ
Nhược điểm: giá thành sản phẩm sẽ cao
• Phương pháp khấu hao tăng dần
Ưu điểm: ứng dụng chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư tài chính như cho
thuê tài chính, cho vay, phát hành trái phiếu
Khấu hao theo kết quả sử dụng tài sản cố định (theo số lượng sản phẩm được sản xuất ra, doanh thu từ sử dụng tài sản cố định…
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Về vấn đề quản lý vốn cố định
Trong quá trình luân chuyển, giá trị của TSCĐ thông qua hình thức
khấu hao sẽ được chuyển dần từng bộ phận hình thành quỹ khấu hao Do đó,
việc quản lý vốn cố định thể hiện ở hai mặt: một là bảo đảm cho TSCĐ được
toàn vẹn cả về hiện vật lẫn giá trị và nâng cao hiệu quả sử dụng nó; hai là
phải tính toán chính xác số tiền khấu hao và sử dụng quỹ khấu hao có hiệu
quả để bù đắp lại giá trị hao mòn TSCĐ từ đó thực hiện tái sản xuất TSCĐ
• Quản lý tình hình sử dụng TSCĐ:
TSCĐ chính là cơ sở vật chất kỹ thuật của một doanh nghiệp nó
phản ánh năng lực sản xuất hiện có Máy móc, thiết bị là điều kiện quan
trọng và cần thiết để tăng sản lượng và tăng năng suất lao động, giảm chi
phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
Do đó, doanh nghiệp cần có biện pháp sử dụng TSCĐ về số lượng, thời
gian, tận dụng tối đa công suất của máy móc thiết bị Đối với TSCĐ vô
hình doanh nghiệp cũng phải tính toán xác định chính xác giá trị của
chúng và có biện pháp quản lý phù hợp Để đánh giá tình hình sử dụng
TSCĐ thường dùng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCĐ Đây là chỉ tiêu tổng
hợp đánh giá một cách khái quát tình hình sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp,
cho biết một đồng TSCĐ bình quân sử dụng tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu
Ngoài ra doanh nghiệp còn dùng một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để
đánh giá tình hình sử dụng TSCĐ như: hiệu suất sử dụng vốn cố định,
hàm lượng vốn cố định, hiệu quả sử dụng vốn cố định…
Quản lý tình hình sử dụng TSCĐ còn phải gắn liền với việc quản lý
tình hình tăng, giảm TSCĐ TSCĐ của doanh nghiệp tăng, giảm cần phải
theo kế hoạch đầu tư đã được duyệt, không nên mua bán tùy hứng…
• Quản lý quỹ khấu hao:
Thông thường doanh nghiệp được phép sử dụng toàn bộ số khấu hao
lũy kế của TSCĐ để thay thế, đổi mới TSCĐ Tuy nhiên, khi chưa có nhu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cầu tái tạo lại TSCĐ thì doanh nghiệp có thể sử dụng linh hoạt quỹ khấu hao để phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
Đối với các Tổng công ty Nhà nước (TCT NN), việc huy động số vốn khấu hao lũy kế từ TSCĐ ở các công ty thành viên phải tuân thủ theo quy định về chế độ quản lý tài chính hiện hành của nhà nước
Mặt khác, cần phải quản lý chặt chẽ công tác sửa chữa TSCĐ (sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn) đảm bảo chi phí thấp nhất, chất lượng cao và thời gian ngắn
b Quản lý vốn lưu động - tài sản lưu động
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn chi cho việc hình thành những TSLĐ của doanh nghiệp
TSLĐ của doanh nghiệp bao gồm vốn bằng tiền; các khoản phải thu; hàng tồn kho; TSLĐ khác Nếu thiếu vốn lưu động thì không thể kinh doanh ổn định và liên tục được Nếu thừa thì lãng phí và không có hiệu quả
Do đó, cần phải quản lý vốn lưu động
• Quản lý vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền không sinh lời hoặc lời ít Nếu không có tiền mặt thì không thể hoạt động kinh doanh được do thiếu phương tiện chi trả và thanh toán Do đó, cần có lượng tiền mặt tối ưu thỏa mãn yêu cầu, đáp ứng nhu cầu kinh doanh và không lãng phí
Nên cần phải có công tác quản lý vốn bằng tiền
• Quản lý các khoản phải thu:
Trong kinh tế thị trường, khi doanh nghiệp thực hiện việc bán chịu, bán trả góp có thể làm cho doanh thu tăng, tăng tính cạnh tranh, mở rộng thị trường, nhưng mặt khác cũng làm cho các khoản phải thu tăng theo Do đó cần phải có chính sách bán chịu tốt nhất để tăng lợi nhuận nhưng rủi ro cho phép
Trang 12• Quản lý hàng tồn kho:
Hàng tồn kho bao gồm nhiều khoản như nguyên vật liệu, sản phẩm dở
dang, thành phẩm, hàng hóa Cần phải quản lý hàng tồn kho để tiết kiệm vốn
lưu động
c Quản lý vốn đầu tư (ngắn hạn, dài hạn)
Vốn đầu tư là những khoản vốn hiện đã bỏ ra nhưng chưa hình thành
tài sản hoặc đầu tư ra bên ngoài dưới các hình thức mua chứng khoán có giá
hoặc góp vốn liên doanh
Vốn đầu tư của doanh nghiệp bao gồm:
- Đầu tư ngắn hạn như mua các loại tín phiếu, trái phiếu có thời hạn dưới
1 năm
- Đầu tư dài hạn gồm các khoản: đầu tư tài chính dài hạn như mua
các loại chứng khoán có thời hạn trên 1 năm, góp vốn liên doanh với bên
ngoài, chi phí xây dựng cơ bản dở dang, các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ kinh tế đến đâu thì lĩnh vực tác
động chi phối của tài chính vươn đến đó Trong hoạt động kinh doanh, mỗi
doanh nghiệp phải xử lý hàng loạt các vấn đề tài chính như là: nên đầu tư vào
đâu, số lượng bao nhiêu, vấn đề huy động vốn, quản lý, sử dụng vốn, về bảo
toàn và phát triển vốn, về vay nợ và trả nợ, về phân phối doanh thu và lợi
nhuận…
Tài chính doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong quá trình vận
hành và phát triển của doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp cần phải có một
chiến lược tài chính phù hợp nhằm giải quyết các vấn đề tài chính để mang lại
hiệu quả cao cho doanh nghiệp
Quản lý tài chính luôn là lĩnh vực khó khăn và phức tạp Để chiến lược
tài chính mang hiệu quả, cần phải có sự kết hợp đồng bộ giữa các chiến lược
khác nhau, cần có sự phù hợp giữa chiến lược tài chính và mô hình tổ chức
doanh nghiệp
1.1.2.3 Quy trình quản lý tài chính
a Lập kế hoạch tài chính: Việc lập kế hoạch tài chính nhằm lập ra các tiêu chuẩn mà nhờ đó có thể kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực của Công ty,
nó đảm bảo các hoạt động được thực hiện để đạt được mục tiêu mà tổ chức đã vạch ra trong kế hoạch
b Tổ chức thực hiện kế hoạch: Truyền thông các kế hoạch của tổ chức đến từng nhân viên và kết hợp các nỗ lực của họ lại với nhau Theo đó tất cả các nhân viên có thể hiểu được vai trò của họ trong việc đạt các mục tiêu chung
c Giám sát, đánh giá tài chính:
● Là hoạt động giám sát, kiểm tra trong quá trình thực hiện kế hoạch tài chính Kiểm tra tài chính là một hệ thống quá trình hoạt động bao gồm nhiều mắt xích như :
- Xác lập tiêu chuẩn kiểm tra tài chính
- Trong quá trình thực hiện giám sát tài chính phát hiện những khác biệt
xa rời tiêu chuẩn và kế hoạch, phân tích nguyên nhân
- Phân tích nguyên nhân, thiết lập những biện pháp sữa chữa sai lệch đối với những khác biệt xuất hiện
- Thực hiện những biện pháp sửa chữa sai lệch hoặc tiến hành hiệu định những tiêu chuẩn và kế hoạch
● Đặc điểm của kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính:
- Kiểm tra,giám sát, đánh giá tài chính là kiểm tra bằng đồng tiền trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính, để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
- Kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính là kiểm tra bằng đồng tiền, thông qua các chỉ tiêu tài chính
Phạm vi của kiểm tra tài chính có thể bao trùm lên những mặt khác nhau của hoạt động kinh tế, tài chính, của lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực phi sản xuất
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
● Nguyên tắc kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính:
Để đạt được các mục đích tài chính, tổ chức công tác kiểm tra, giám sát,
đánh giá tài chính phải tuân theo những yêu cầu nhất định được thể hiện trong
các nguyên tắc tổ chức công tắc kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính:
- Nguyên tắc tuân thủ theo pháp luật
- Nguyên tắc chính xác, khách quan, công khai, thường xuyên và phổ cập
- Nguyên tắc hiệu lực và hiệu quả trong công tác kiểm tra, giám sát, đánh
giá tài chính
● Nội dung và phương pháp kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính:
- Nội dung của kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính:
+ Kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính trước khi thực hiện kế hoạch
tài chính
+ Kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính thường xuyên quá trình thực
hiện kế hoạch
+ Kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính sau khi thực hiện kế hoạch tài chính
- Phương pháp kiểm tra, giám sát, đánh giá tài chính:
+ Kiểm tra, giám sát, đánh giá toàn diện: là cách kiểm tra nhằm vào toàn
bộ tổ chức tài vụ và toàn bộ các nghiệp vụ tài chính trong việc thực hiện nghiệp
vụ kế hoạch tài chính với mục đích xem xét đầy đủ tình hình tài chính có phản
ánh trung thực tình hình hoạt động của doanh nghiệp không
+ Kiểm tra, giám sát, đánh giá trọng điểm: là cách kiểm tra chỉ tập trung
vào một hay vài nghiệp vụ tài chính nhất định cần quan tâm trong chấn chỉnh
kỷ luật tài chính, hoặc kiểm tra vấn đề nào đó có nhiều ưu điểm hay tồn tại,
mâu thuẫn
+ Kiểm tra, giám sát, đánh giá tổng hợp: là tiền hành kiểm tra toàn bộ
công tác của khách thể kiểm tra một cách có hệ thống từ trên xuống dưới
+ Kiểm tra, giám sát, đánh giá qua chứng từ: là phương pháp kiểm tra
bằng cách dựa vào các bảng biểu, báo cáo, sổ sách, số liệu hạch toán thống kê -
kế toán
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.2.4 Vai trò của quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Quản lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh Đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, quản lý tài chính trong doanh nghiệp trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Bất kỳ ai liên kết, hợp tác với doanh nghiệp cũng sẽ được hưởng lợi nếu như quản lý tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả, ngược lại, họ
sẽ bị thua thiệt khi quản lý tài chính kém hiệu quả
Quản lý tài chính trong doanh nghiệp là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp Nó được thực hiện thông qua một
cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
Nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm:
Cơ chế quản lý tài sản, cơ chế huy động vốn, cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận, cơ chế kiểm soát tài chính của doanh nghiệp
Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cần được quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản lý mà còn cả lợi ích của người làm công, khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ Đó là nhóm người
có nhu cầu tiềm năng về các dòng tiền của doanh nghiệp Giải quyết vấn đề này liên quan tới các quyết định đối với các bộ phận trong doanh nghiệp và các quyết định giữa doanh nghiệp với các đối tác ngoài doanh nghiệp Do vậy, nhà quản lý tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng nề về hoạt động nội
bộ của doanh nghiệp vẫn phải lưu ý đến sự nhìn nhận, đánh giá của người ngoài doanh nghiệp như cổ đông, chủ nợ, khách hàng, nhà nước,…
Trang 14Do quản lý tài chính có thể được nhìn nhận trên giác độ của nhà quản
lý bên ngoài đối với doanh nghiệp và trên giác độ của nhà quản lý trong
doanh nghiệp nên có hai cách tiếp cận về cơ chế quản lý tài chính doanh
nghiệp: cơ chế quản lý tài chính ngoài doanh nghiệp và cơ chế quản lý tài
chính trong doanh nghiệp
Quản lý tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt
động khác của doanh nghiệp Quản lý tài chính tốt có thể khắc phục được
những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác Một quyết định tài chính không
được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất khôn lường cho
doanh nghiệp và cho nền kinh tế Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong
một môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Bởi vậy, quản lý tài chính doanh nghiệp tốt
có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia
1.1.2.5 Các nguyên tắc quản lý tài chính trong doanh nghiệp
Nguyên tắc 1: Tôn trọng luật pháp
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu chung của các doanh nghiệp là
đều hướng tới lợi nhuận Vì lợi nhuận tối đa mà các doanh nghiệp có thể kinh
doanh với bất cứ giá nào, điều đó thậm chí có thể làm phương hại tới lợi ích
quốc gia, đến lợi ích của các doanh nghiệp khác Do đó, song song với bàn
tay vô hình của nền kinh tế thị trường phải có bàn tay hữu hình của nhà nước
để điều chỉnh nền kinh tế Nhà nước đã sử dụng hàng loạt các công cụ như
luật pháp, chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả… để quản lý vĩ mô nền kinh tế
Các công cụ đó một mặt tạo điều kiện kích thích mở rộng đầu tư, tạo môi
trường kinh doanh, mặt khác tạo ra khuôn khổ luật pháp kinh doanh rất chặt
chẽ Vì vậy, nguyên tắc hàng đầu của tổ chức tài chính doanh nghiệp là phải
tôn trọng luật pháp
Nguyên tắc 2: Hạch toán kinh doanh
Hạch toán kinh doanh là nguyên tắc quan trọng nhất, quyết định tới sự sống còn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Yêu cầu tối cao của nguyên tắc này là lấy thu bù chi, có doanh lợi Nó hoàn toàn trùng hợp với mục tiêu của các doanh nghiệp là kinh doanh để đạt được lợi nhuận tối đa
Do có sự thống nhất đó nên hạch toán kinh doanh không chỉ là điều kiện để thực hiện mà còn là yêu cầu bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nếu như không muốn doanh nghiệp bị phá sản Thế nhưng hạch toán kinh doanh chỉ có thể được phát huy tác dụng trong môi trường đích thực là nền kinh tế hàng hoá, mà đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường và doanh nghiệp được
tự chủ về mặt tài chính, tự chủ trong kinh doanh Doanh nghiệp được quyền
sở hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình, chủ động lựa chọn ngành nghề, địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư kinh doanh, góp vốn vào các doanh nghiệp khác; lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn, chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng; tuyển thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; chủ động áp dụng phương thức quản lý khoa học hiện đại
để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh Mục tiêu hiệu quả kinh tế phải được coi là mục tiêu bao trùm chi phối hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Nguyên tắc 3: Giữ chữ tín
Giữ chữ tín không chỉ là một tiêu chuẩn đạo đức trong cuộc sống đời thường mà còn là nguyên tắc nghiêm ngặt trong kinh doanh nói chung và trong tổ chức tài chính doanh nghiệp nói riêng Trong thực tế kinh doanh cho thấy, kẻ làm mất chữ tín, chỉ ham lợi trước mắt sẽ bị bạn hàng xa lánh Đó là nguy cơ dẫn đến phá sản Do đó trong tổ chức tài chính doanh nghiệp để giữ chữ tín cần tôn trọng nghiêm ngặt các kỉ luật thanh toán, chi trả các hợp đồng kinh tế, các cam kết về góp vốn đầu tư, và phân chia lợi nhuận Mặt khác để giữ chữ tín doanh nghiệp cũng cần mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ, cải
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tiến kĩ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm để luôn giữ được giá trị của
nhãn hiệu hàng hoá của doanh nghiệp
Nguyên tắc 4: An toàn phòng ngừa rủi ro
Đảm bảo an toàn, phòng ngừa rủi ro bất trắc cũng được coi là nguyên
tắc quan trọng trong kinh doanh nói chung và tổ chức tài chính doanh nghiệp
nói riêng Đảm bảo an toàn là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu
kinh doanh có hiệu quả Nguyên tắc an toàn cần được quán triệt trong mọi
khâu của công tác tổ chức tài chính doanh nghiệp: an toàn trong việc lựa chọn
nguồn vốn, an toàn trong việc lựa chọn đối tác đầu tư liên doanh, an toàn
trong việc sử dụng vốn… An toàn và mạo hiểm trong kinh doanh là hai thái
cực đối lập nhau Mạo hiểm trong đầu tư thường phải chấp nhận nhiều rủi ro
lớn, nhưng cũng thường thu được lợi nhuận cao và ngược lại Điều này đòi
hỏi các nhà tài chính phải có những quyết sách đúng đắn trong các thời cơ
thích hợp để lựa chọn phương án đầu tư vừa đảm bảo an toàn, vừa mang lại
hiệu quả cao Ngoài các giải pháp lựa chọn phương án an toàn trong kinh
doanh, cần thiết phải tạo lập quỹ dự phòng (quỹ dự trữ tài chính) hoặc tham
gia bảo hiểm Mặt khác, việc thành lập công ty, hình thức phát hành cổ phiếu
cũng là biện pháp vừa để tập trung vốn, vừa để san sẻ rủi ro cho các cổ đông
nhằm tăng độ an toàn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính doanh nghiệp
Các nhân tố khách quan:
Quản trị tài chính ở những doanh nghiệp khác nhau đều có những điểm
khác nhau sự khác nhau đó ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: Sự khác biệt về
hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của
ngành và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
a Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp
Theo tổ chức pháp lý của doanh nghiệp hiện hành, ở nước ta hiện có
các loại hình thức doanh nghiệp chủ yếu sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Doanh nghiệp nhà nước Công ty cổ phần
Công ty trách nhiệm hữu hạn
Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Những đặc điểm riêng về hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp giữa các doanh nghiệp trên có ảnh hưởng đến quản trị tài chính doanh nghiệp như việc tổ chức, huy động vốn, sản xuất kinh doanh, việc phân phối lợi nhuận
b Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh
Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới quản trị tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau Những ảnh hưởng đó thể hiện:
Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh:
Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó ảnh hưởng tới tốc
độ luân chuyển vốn (vốn cố định và vốn lưu động) ảnh hưởng tới phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán chi trả
Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh: Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, điều đó giúp cho doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo sự cân đối giữa thu và chi bằng tiền; cũng như trong việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kỳ sản xuất dài, phải ứng ra một lượng vốn lưu động tương đối lớn, doanh nghiệp
Trang 16hoạt động trong ngành sản xuất có tính chất thời vụ, thì nhu cầu vốn lưu động
giữa các quý trong năm thường có sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng
cũng không được đều, tình hình thanh toán, chi trả, cũng thường gặp những
khó khăn Cho nên việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cũng như đảm bảo sự cân
đối giữa thu và chi bằng tiền của doanh nghiệp cũng khó khăn hơn
c Môi trường kinh doanh
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường
kinh doanh nhất định
Môi trường kinh doanh bao gồm tất những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng
mọi hoạt động của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh có tác động mạnh mẽ
đến mọi hoạt động của doanh nghiệp trong đó có hoạt động tài chính
Dưới đây chủ yếu xem xét tác động của môi trường kinh doanh đến các
hoạt động quản trị tài chính doanh nghiệp
Sự ổn định của nền kinh tế
Sự ổn định hay không ổn định của nền kinh tế, của thị trường có ảnh
hưởng trực tiếp tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu
cầu về vốn của doanh nghiệp Những biến động của nền kinh tế có thể gây
nên những rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị tài chính phải lường
trước, những rủi ro đó có ảnh hưởng tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí
trả lãi hay tiền thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị hay nguồn tài trợ cho việc
mở rộng sản xuất hay việc tăng tài sản
Ảnh hưởng về giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế
Giá cả thị trường, giá cả sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ có ảnh
hưởng lớn tới doanh thu, do đó cũng có ảnh hưởng lớn tới khả năng tìm kiếm
lợi nhuận Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp cũng được phản ảnh nếu có sự
thay đổi về giá cả Sự tăng, giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng tới
sự chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau Mức lãi
suất cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy đông vốn vay Sự tăng hay
giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư
Tất cả các yếu tố trên có thể được các nhà quản trị tài chính sử dụng để phân tích các hình thức tài trợ và xác định thời gian tìm kiếm các nguồn vốn trên thị trường tài chính
Sự cạnh tranh trên thị trường và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ
Sự cạnh tranh sản phẩm đang sản suất và các sản phẩm tương lai giữa các doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
và có liên quan chặt chẽ đến khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn tại và tăng trưởng trong một nền kinh tế luôn luôn biến đổi và người giám đốc tài chính phải chịu trách nhiệm về việc cho doanh nghiệp hoạt động khi cần thiết Cũng tương tự như vậy, sự tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi doanh nghiệp phải ra sức cải tiến kỹ thuật, quản lý, xem xét và đánh giá lại toàn bộ tình hình tài chính, khả năng thích ứng với thị trường, từ đó đề ra những chính sách thích hợp cho doanh nghiệp
Chính sách kinh tế và tài chính của nhà nước đối với doanh nghiệp
Sự hoạt động của thị trường tài chính và hệ thống các tổ chức tài chính trung gian
Các nhân tố chủ quan: (nhân tố bên trong doanh nghiệp)
Bộ máy quản trị doanh nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, bộ máy quản trị doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp, bộ máy quản trị doanh nghiệp phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau:
- Nhiệm vụ đầu tiên của bộ máy quản trị doanh nghiệp và xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Nếu xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp Nếu xây dựng được một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghiệp hợp lý (phù hợp với môi trường kinh doanh, phù hợp với khả năng của
doanh nghiệp) sẽ là cơ sở là định hướng tốt để doanh nghiệp tiến hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả
- Xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh và kế
hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lược kinh doanh
và phát triển doanh nghiệp đã xây dựng
- Tổ chức thực hiện các kế hoạch, các phương án và các hoạt động sản
xuất kinh doanh đã đề ra
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh các quá trình trên
b Lao động tiền lương
Lao động là một trong các yếu tố đầu vào quan trọng, nó tham gia vào
mọi hoạt động, mọi giai đoạn, mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Trình độ, năng lực và tinh thần trách nhiệm của người lao động tác
động trực tiếp đến tất cả các giai đoạn các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh, tác động trực tiếp đến năng suất, chất lượng sản phảm, tác động tới tốc
độ tiêu thụ sản phẩm do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên công tác tổ chức lao động của bất kỳ một
doanh nghiệp nào cũng cần tuân thủ các nguyên tắc chung và sử dụng đúng
người đúng việc, quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng sao cho có thể thực hiện
nhanh nhất, tốt nhất các nhiệm vụ được giao, đồng thời phải phát huy được
tính độc lập, sáng tạo của người lao động có như vậy sẽ góp phần vào việc
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình tài chính của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không những đảm bảo
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và
ổn định mà còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ
và áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm làm giảm chi phí, nâng cao
năng suất và chất lượng sản phẩm Ngược lại, nếu như khả năng về tài chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của doanh nghiệp yếu kém thì doanh nghiệp không những không đảm bảo được các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường mà còn không có khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất do đó không nâng cao được năng suất và chất lượng sản phẩm Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới
uy tín của doanh nghiệp Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí băng cách chủ động khai thác và sử dụng tối
ưu các nguồn lực đầu vào Vì vậy tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó
Cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp là yếu tố vật chất hữu hình quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm nền tảng quan trọng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh Cơ
sở vật chất đem lại sức mạnh kinh doanh cho doanh nghiệp trên cơ sở sức sinh lời của tài sản Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tài sản của doanh nghiệp thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh, nó thể hiện bộ mặt kinh doanh của doanh nghiệp qua hệ thống nhà xưởng, kho tàng, cửa hàng, bến bãi… và thuận lợi về giao thông sẽ đem lại cho doanh nghiệp một tài sản vô hình rất lớn đó là lợi thế kinh doanh đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả cao
Trình độ kỹ thuật và trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới mức độ tiết kiệm hay tăng phí nguyên vật liệu do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật sản xuất còn
có công nghệ sản xuất tiên tiến và hiện đại sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, còn nếu trình độ kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp thấp kém hoặc công nghệ
Trang 18sản xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ sẽ làm cho năng suất, chất lượng sản phẩm
của doanh nghiệp rất thấp, sử dụng lãng phí nguyên vật liệu
Môi trường làm việc trong doanh nghiệp
Môi trường văn hoá do doanh nghiệp xác lập và tạo thành sắc thái riêng
của từng doanh nghiệp Đó là bầu không khí, là tình cảm, sự giao lưu, mối
quan hệ, ý thức trách nhiệm và tinh thần hiệp tác phối hợp trong thực hiện
công việc Môi trường văn hoá có ý nghĩa đặc biệt và có tác động quyết định
đến việc sử dụng đội ngũ lao động và các yếu tố khác của doanh nghiệp
Trong kinh doanh hiện đại, rất nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh
nghiệp liên doanh rất quan tâm chú ý và đề cao môi trường văn hoá của doanh
nghiệp, vì ở đó có sự kết hợp giữa văn hoá các dân tộc và các nước khác
nhau Những doanh nghiệp thành công trong kinh doanh thường là những
doanh nghiệp chú trọng xây dựng, tạo ra môi trường văn hoá riêng biệt khách
với các doanh nghiệp khác Văn hoá doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh rất
lớn cho các doanh nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành
các mục tiêu chiến lược và các chính sách trong kinh doanh của doanh
nghiệp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lược
kinh doanh đã lựa chọn của doanh nghiệp Cho nên hiệu quả của các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào môi
trường văn hoá trong doanh nghiệp
Phương pháp tính toán của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh tế được xác định bởi kết quả đầu ra và chi phí sử dụng các
yếu tố đầu vào, hai đại lượng này trên thực tế đều rất khó xác định được một
cách chính xác, nó phụ thuộc vào hệ thống tính toán và phương pháp tính toán
trong doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp đều có một phương pháp, một cách
tính toán khác nhau do đó mà tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất
của doanh nghiệp cũng phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp tính toán trong
doanh nghiệp đó
1.2 Tổng quan một số kinh nghiệm nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nhận thức được tầm quan trọng của việc quản lý tài chính đối với mỗi doanh nghiệp nên đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Có những
đề tài nghiên cứu về mặt lý luận, có những đề tài nghiên cứu về áp dụng vào thực tiễn Mỗi nghiên cứu đều có những nét riêng biệt, có tính khả thi riêng đối với đối tượng sử dụng Để có thể học hỏi những kinh nghiệm của các đề tài trước, đồng thời khắc phục được những nhược điểm còn tồn tại trong một
số đề tài, tác giả đã dành thời gian nghiên cứu và hệ thống lại một số công trình có liên quan gồm:
Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam” của Nguyễn Minh Dung (2008), Trường Đại học Kinh tế quốc dân, xuất phát từ lý luận khái niệm, đặc điểm, vai trò của hoạt động sự nghiệp, luận văn đã khẳng định yêu cầu hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp là một yếu tố khách quan Thông qua việc nghiên cứu quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp không
có thu luận văn đã phản ánh những kết quả đạt được và những hạn chế của quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp đồng thời chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế này Từ việc phân tích thực trạng luận văn đã đưa ra một
số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với đơn vị
sự nghiệp không có thu và đơn vị sự nghiệp có thu
Bên cạnh đó có một số đề tài luận văn thạc sỹ đề cập đến công tác quản
lý tài chính nói chung như Trần Thị Thanh Huyền (2006 ) luận văn thạc sỹ của Trường Đại học kinh tế quốc dân “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính doanh nghiệp công ích thuộc Bộ quốc phòng” Luận văn đã hệ thống hóa cơ bản về công tác quản lý tài chính doanh nghiệp công ích Phân tích đánh gái thực trạng công tác quản lý tài chính đối với doanh nghiệp công ích quốc phòng Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản
lý tài chính doanh nghiệp công ích Bộ quốc phòng
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Luận văn thạc sỹ “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính
bảo hiểm y tế giai đoạn từ nay đến năm 2010 “ của Thạc sỹ Bùi Thị Lâm Hà
của Trường Đại học Thương Mại đã phân tích thực trạng cơ chế tài chính của
Bảo hiểm y tế Việt Nam giao đoạn từ 1992 đến 2007 và đưa ra các giải pháp
hoàn thiện cơ chế tài chính bảo hiểm y tế giai đoạn từ 2007 đến 2010
Luận văn thạc sỹ “ Các giải pháp phát triển ngành điện lực Quảng
Bình” của thạc sỹ Trần Việt Hùng của Trường Đại học Mở Thành Phố Hồ
Chí Minh Luận văn đã đánh giá thực trạng công tác phát triển ngành điện của
Điện lực Tỉnh Quảng Bình, chỉ ra những mặt còn tồn tại từ đó đưa ra các giải
pháp nhằm phát triển ngành điện của Điện lực Tỉnh Quảng Bình
Luận văn "Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tổng công
ty Điện lực Việt Nam" đã phân tích thực trạng cơ chế quản lý tài chính của
Tổng Công ty điện lực Việt Nam, chỉ ra những mặt đã đạt được, những điểm
còn hạn chế trong quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận của Tổng Công ty
điện lực Việt Nam, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại trên tứ đó đề xuất
các biện pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tổng Công ty điện lực
Việt Nam
Với mỗi công trình nghiên cứu, các Tác giả đều đề cập đến những vấn
đề lý luận cơ bản về quản lý tài chính của doanh nghiệp, tiếp đó các tác giả
đều tiến hành nghiên cứu thực tiễn, khảo sát và phân tích thực trạng quản lý
tài chính tại các doanh nghiệp đang nghiên cứu Kết hợp với những lý luận đã
trình bày, các tác giả đưa ra những hạn chế cũng như ưu điểm của đơn vị
Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, điều kiện thực hiện nhằm tăng cường
quản lý tài chính của doanh nghiệp Thành công của những công trình nghiên
cứu này ở việc đã hệ thống được những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tài
chính, ứng dụng vào thực tiễn một doanh nghiệp cụ thể, với ngành nghề kinh
doanh đặc điểm sản xuất khác nhau, nhưng các tác giả đều đưa ra được những
giải pháp để hoàn thiện, phù hợp và có tính khả thi cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Quản lý tài chính tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam:
Tập đoàn Điện lực Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề
án thí điểm thành lập theo Quyết định số 147/2006/QĐ-TTg ngày 22/6/2006 Công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 148/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Ngày 25/6/2010, Chính phủ ban hành Quyết định số 975/QĐ-TTg về việc chuyển Công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước
Ngày 06/6/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 857/QĐ-TTg phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Ngày 23/11/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1782/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tái cơ cấu Tập đoàn Điện lực Việt Nam giai đoạn 2012 - 2015
Ngành nghề kinh doanh chính:
- Sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia
- Xuất nhập khẩu điện năng
- Đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện
- Quản lý, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, đại tu, cải tạo, nâng cấp thiết
bị điện, cơ khí, điều khiển, tự động hóa thuộc dây truyền sản xuất, truyền tải,
và phân phối điện, công trình điện; thí nghiệm điện Ngành, nghề liên quan phục vụ trực tiếp ngành, nghề kinh doanh chính:
- Xuất nhập khẩu nhiên liệu, nguyên vật liệu, vật tư thiết bị ngành điện
- Xây lắp, giám sát lắp đặt thiết bị nhà máy điện, thiết bị đường dây và trạm biến áp, thiết bị viễn thông - Công nghệ thông tin, sản xuất vật liệu xây
Trang 20dựng, vật liệu cách điện, vật liệu cách nhiệt, trang bị bảo hộ lao động;
- Đầu tư kinh doanh cơ khí điện lực;
- Tư vấn quản lý dự án; tư vấn lập dự án đầu tư, tư vấn đấu thầu, lập dự
toán và giám sát thi công công trình nhà máy điện, các công trình đường dây
và trạm biến áp, công trình viễn thông - công nghệ thông tin, các công trình
công nghiệp và dân dụng;
- Đầu tư tài chính và kinh doanh vốn mà Nhà nước giao cho EVN;
- Đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác đào tạo lao động với nước ngoài;
- Dịch vụ tự động hóa và điều khiển;
- Kinh doanh các dịch vụ công nghệ thông tin (nghiên cứu, phát triển,
triển khai, tư vấn, đào tạo) trong và ngoài nước, quản lý hệ thống thông tin
nội bộ các ngành, nghề khác được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận
Tập đoàn Điện lực Việt Nam là một Tập đoàn kinh tế lớn, có vai trò
quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước Trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế, cùng với những đòi hỏi và thách thức từ thực tiễn, EVN cũng đang
từng bước tiến hành tái cơ cấu doanh nghiệp để kinh doanh và phục vụ khách
hàng tốt hơn
Từ những khó khăn đặc thù, với vai trò một ngành kinh tế kỹ thuật
quan trọng, đầu tư cho ngành Điện đòi hỏi khối lượng vốn lớn và dài hạn, chủ
yếu là nguồn vốn vay, trong khi sản phẩm làm ra và tiêu thụ lại chịu tác động
lớn của thời tiết (nắng hạn, mưa, bão,…) đặc biệt là sự biến động của giá
nguyên vật liệu đầu vào và tỷ giá ngoại tệ Sản phẩm điện lại không lưu trữ
được Bên cạnh đó, ngoài nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, EVN còn phải almf
nhiệm vụ an sinh xã hội, phục vụ các chương trình mục tiêu quốc gia về nông
thôn mới, xóa đói giảm nghèo… Vượt lên tất cả những khó khăn thách thức
đó, ngành Điện nói chung, EVN nói riêng đã luôn kiên trì và sáng tạo, hoàn
thành tốt các nhiệm vụ được giao, đảm bảo cấp điện ổn định cho các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu sinh hoạt của nhân dân cả nước Tuy
nhiên, dù đã làm tốt nhiều nhiệm vụ được giao, vượt qua rất nhiều khó khăn EVN vẫn không tránh khỏi một số tồn tại khách quan, đối diện với nhiều sức
ép từ người dan và dư luận xã hội Vì vậy, để đáp ứng như cầu ngày càng cao của khách hàng sử dụng điện, EVN đang tiếp tục thực hiện tái cơ cấu, đổi mới doanh nghiệp một cách toàn diện
Tái cơ cấu Tập đoàn Điện lực Việt Nam theo Quyết định số TTg ngày 23/12/2012 của Thủ tướng Chính phú tập trung chủ yếu vào 2 nội dung: "Tái đầu tư công và tái cơ cấu Doanh nghiệp nhà nước" Nhìn lại kết quả thực hiện tái cơ cấu Doanh nghiệp giai đoạn 2011-2014 của EVN, chúng
1782/QĐ-ta cần có những nhận định khách quan hơn về những cố gắng phát triển và đóng góp của ngành Điện cũng như một số vấn đề còn tồn tại Trước hết, EVN đã thực hiện nghiêm túc, sáng tạo nghị định 59/NĐ ngày 17/8/2011, Nghị định 15/NĐ ngày 6/3/2014, Nghị định 99/NĐ ngày 15/11/2013 của Chính phủ, về cơ cấu và giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, về tiêu chí phân loại doanh nghiệp Đặc biệt, giai đoạn 2011 - 2014, thực hiện chủ trương tái
cơ cấu nền kinh tế nói chung cũng như tái cơ cấu đầu tư công và tái cơ cấu doanh nghiệp EVN đã thu được những kết quả nổi bật như: Tập trung đầu tư phục vụ ngành nghề kinh doanh chính là nguồn điện và lưới điện với số vốn bình quân mỗi năm hàng trăm nghìn tỷ đồng Điểm nổi bật là huy động được các nguồn vốn đầu tư kể cả trong và ngoài nước, vốn tín dụng và ngân sách
Đi đôi với kết quả tích cực huy động nguồn vốn, Tập đoàn luôn chú trọng thực hiện hiệu quả quản lý vốn và tài sản, nên vốn và tài sản của EVN tăng nhanh qua các năm Điểm nổi bật thứ hai là thực hiện tái cơ cấu Tập đoàn Trong nhiêu năm, EVN đã đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo xả đủ nước cho sản xuất nông nghiệp ở Đồng bằng Bắc bộ, đẩy mặn và chống hạn khu vực miền Trung - Tây Nguyên và miền Nam Đặc biệt, EVN đã hoàn thành nhiều dự án cấp điện nông thôn, hải đảo, với hơn 98% xã và 97% hộ nông dân cả nước đã được sử dụng lưới điện quốc
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
gia Đồng thời với việc thực hiện tái cơ cấu và thoái vốn, EVN thực hiện thoái
vốn đầu tư ngoài ngành ở 3 công ty cổ phần, và đảm bảo đến năm 2015 sẽ
thoái hết 1.588 tỷ đồng ở 4 công ty cổ phần Tập đoàn cũng đang xây dựng và
áp dụng hình thức quản trị kinh doanh hiện đại và tái cơ cấu quản trị doanh
nghiệp Làm rõ phân công, phân cấp quản lý là trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ
sở hữu, ban hành quy chế giám sát tài chính - công khái, minh bạch kể cả quy
chế quản lý nội bộ, quản lý hội đồng thành viên, cơ chế quản trị doanh
nghiệp, phát huy yếu tố tự thân nội tại đảm bảo hiệu quả, nâng cao sức cạnh
tranh, tập trung giá trị cốt lõi, chuẩn mực đạo đức tay nghề cho đội ngũ cán bộ
và công nhân, viên chức, quy định tiêu chí về người đứng đầu
Những kết quả bước đầu của EVN trong thực hiện Đề án tái cơ cấu Tập
đoàn do Thu tướng Chính phủ phê duyệt đã khẳng định sự cố gắng, kiên trì
thực hiện có hiệu quả của lãnh đạo EVN
Tuy nhiên, ngành Điện vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức
trong thời gian tới, chủ yếu là các thách thức đến từ sự chậm trễ trong việc
thực hiện Quy hoạch điện VI, VII; Cơ chế giá điện chưa phù hợp; tổn thất
điện năng còn cao…
Mặc dù vậy, nhìn một cách tổng thể, tin rằng những vấn đề này nhanh
chóng sẽ được khắc phục , EVN sẽ tiếp tục vững vàng vượt qua thách thức,
nỗ lực tái cơ cấu thành công, làm tốt công tác kinh doanh và dịch vụ khách
hàng trong thời gian tới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết được nội dung nghiên cứu “Tăng cường quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương” ta cần trả lời những
câu hỏi sau:
- Có những nội dung lý luận và thực tiễn nào về quản lý tài chính doanh nghiệp?
- Thực trạng quản lý tài chính của Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương trong những năm gần đây như thế nào?
- Có những hướng đi, giải pháp gì nhằm tăng cường quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn dữ liệu Tác giả sử dụng để nghiên cứu gồm 2 nguồn là thông tin từ hệ thống kế toán tại đơn vị và thông tin bên ngoài hệ thống kế toán tại đơn vị:
Thông tin từ hệ thống kế toán tại đơn vị bao gồm các Báo cáo tài chính
(Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính); một số tài liệu sổ sách kế toán (Báo cáo chi tiết về kết quả kinh doanh của Công ty; Báo cáo chi tiết về tình hình tăng giảm TSCĐ…), báo cáo tổng kết công tác sản xuất kinh doanh của EVN và Công ty các năm 2012, 2013 và 2014;
Thông tin từ bên ngoài hệ thống kế toán tại đơn vị được sử dụng để
phân tích nguyên nhân ảnh hưởng, các yếu tố ảnh hưởng của môi trường kinh doanh cũng như các chính sách của Công ty tác động đến thực trạng quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương như thế nào Các thông tin này chia thành 3 nhóm;
Trang 22- Thông tin chung về tình hình kinh tế: Hoạt động kinh doanh của Công
ty chịu tác động của nhiều yếu tố thuộc môi trường vĩ mô nên việc phân tích
thực trạng quản lý tài chính cần đặt trong bối cảnh chung của kinh tế trong
nước, khu vực và thế giới, những thông tin Tác giả sử dụng bao gồm: thông
tin về tăng trưởng, suy thoái kinh tế; các chính sách kinh tế của Nhà nước về
chế độ tài chính, kế toán có liên quan; thông tin về tỷ lệ lạm phát; các chính
sách đầu tư, thông tin về lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái… các năm 2012,
2013 và 2014;
- Thông tin về ngành Điện lực: EVN và NPC đều có những ảnh hưởng
trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của Công ty thông qua các chỉ tiêu kế
hoạch cấp trên giao; các chính sách, chiến lược phát triển ngành điện, các văn
bản yêu cầu của Tập đoàn và Công ty mẹ… vì vậy, khi phân tích thực trạng
quản lý tài chính Công ty không thể thiếu các dữ liệu của ngành Điện lực Đó
là những tài liệu quan trọng để nhà phân tích có thể nắm bắt được nguyên
nhân của những hạn chế và tích cực của thực trạng quản lý tài chính là do yếu
tố bên ngoài hay nội bộ Công ty;
- Thông tin về đặc điểm hoạt động của Công ty: Mỗi công ty đều có
những mục tiêu, chiến lược riêng để phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất
kinh doanh của đơn vị Để đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại Công ty
một cách chính xác cần nghiên cứu đặc điểm hoạt động của Công ty thông
qua các dữ liệu về: mục tiêu và chiến lược kinh doanh của đơn vị; đặc điểm
mô hình tổ chức quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh; chính sách tài
chính, tín dụng; đặc điểm công nghệ và chính sách đầu tư của Công ty;
Tất cả các thông tin trên sẽ được sử dụng cho việc phân tích thực trạng
quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương, đưa
ra cái nhìn bao quát và tổng thể hơn về quản lý tài chính tại Công ty
2.2.2 Phương pháp tổng hợp số liệu
Các tài liệu sau khi thu thập được tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa để tính toán các chỉ tiêu phù hợp cho việc phân tích đề tài Các công cụ và kỹ thuật tính toán được xử lý trên chương trình Excel Công cụ phần mềm này được kết hợp với phương pháp phân tích chính được vận dụng là thống kê mô
tả để phản ánh thực trạng quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương thông qua các số tuyệt đối, số tương đối được thể hiện thông qua các bảng biểu số liệu, sơ đồ
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Trong đề tài, thực hiện thu thập, phân tích và trình bày dữ liệu nghiên cứu bằng các bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, để đánh giá tình hình tăng giảm các chỉ tiêu liên quan đến hoạt động, kết quả và thực trạng quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương giai đoạn 2012 - 2014 Dựa trên các số liệu được cung cấp từ phòng kế toán Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương, tài liệu liên quan về tài chính Qua đó, thấy được hiệu quả và thực trạng quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành
viên Điện lực Hải Dương
2.2.3.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp Tác giả sử dụng chủ yếu trong phân tích thực trạng quản
lý tài chính tại Công ty là phương pháp so sánh:
- So sánh chỉ tiêu tài chính của năm 2014 và các năm trước đó (năm 2012
và năm 2013) cả về số tương đối và số tuyệt đối, từ đó đánh giá được tình hình tăng giảm của năm phân tích so với hai năm trước, xác định xu hướng của các chỉ tiêu tài chính qua các năm để có thể nhận định được tình hình tài chính của Công ty trong năm 2014 tốt lên hay xấu đi với các năm trước;
- So sánh các chỉ tiêu tài chính của Công ty với một số Công ty khác trong NPC và với Công ty mẹ: Việc so sánh các chỉ tiêu tài chính của Công ty
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khía cạnh tài chính của Công ty so với các đơn vị khác hiện đang như thế nào,
nguyên nhân do Công ty hoạt động yếu kém hay tình trạng chung của toàn
ngành, vị trí và tình hình tài chính của đơn vị trong ngành hiện là tốt hay xấu
Ngoài ra Tác giả có sử dụng phương pháp phân tích bằng mô hình tài
chính Doupont Khi tiến hành phân tích hiệu quả tài chính, để đánh giá chính xác
và logic các yếu tố ảnh hưởng, Tác giả đã biến đổi chỉ tiêu phân tích thành hàm
số của các biến số để tìm ra nguyên nhân của sự thay đổi các chỉ tiêu tài chính
trong năm phân tích
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
nhuận sau thuế
* Quản lý tài sản cố định
Được đánh giá thông qua chỉ tiêu vòng quay TSCĐ:
TSCĐ bình quân Chỉ tiêu này phản ánh doanh nghiệp sử dụng TSCĐ có hiệu quả hay
không, nó cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu
* Quản lý tài sản ngắn hạn
Được đánh giá thông qua:
- Sức sản xuất của tài sản ngắn hạn:
Số vòng quay của tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần
TSNH bình quân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thời gian một vòng quay tài sản ngắn hạn = Doanh thu thuần
TSNH bình quân Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSNH sử dụng bình quân trong kỳ tạo
ra được bao nhiêu đồng doanh thu
- Sức sinh lời của TSNH:
Sức sinh lời của tài sản ngắn hạn = Lợi nhuận sau thuế
TSNH bình quân Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSNH sử dụng bình quân trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
- Hệ số vòng quay hàng tồn kho:
Hệ số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân
- Vòng quay các khoản phải thu:
Số dư bình quân các khoản phải thu Chỉ tiêu này phản ánh trong một kì kinh doanh các khoản phải thu quay được mấy vòng
- Số vòng luân chuyển vốn lưu động:
Vốn lưu động bình quân Chỉ tiêu này cho biết số vòng vốn lưu động luân chuyển trong 1 kì phân tích K càng lớn thì vốn lưu động sử dụng càng có hiệu quả
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động:
K đảm nhiệm = Vốn lưu động bình quân
Doanh thu thuần
Trang 24Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra được một đồng doanh thu thì cần bao
nhiêu đồng vốn lưu động Hệ số này càng thấp chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
lưu động càng cao, số vốn lưu động tiết kiệm được càng lớn
nghiệp Tỷ số nợ có giá trị càng cao thì khả năng tự chủ của doanh nghiệp
càng thấp
Tỷ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của
doanh nghiệp Tỷ số này có giá trị cang cao thì khả năng tự chủ của doanh
nghiệp càng cao
* Quản lý vốn chủ sở hữu
Được thể hiện qua tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong
1 kì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ
vốn chủ sở hữu được sử dụng càng hiệu quả
* Quản lý vốn vay
Được thể hiện qua hệ số thanh toán lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Lãi vay
Hệ số này cho biết lợi nhuận trước thuế và lãi vay của doanh nghiệp
có đủ trả lãi hay không Hệ số này lớn hơn 1, lợi nhuận của doanh nghiệp đủ trả lãi và ngược lại Chỉ tiêu này càng cao thì khả năng sinh lợi của vốn vay càng lớn
2.3.3 Khả năng thanh toán
Các nhà phân tích sử dụng các chỉ tiêu sau:
* Khả năng thanh toán tổng quát
Khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng số tài sản
Tổng số nợ phải trả Nguồn [7, tr 241]
Đây là chỉ số phản ánh khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp Chỉ
số cho biết với tổng tài sản hiện có doanh nghiệp có đảm bảo trang trải được các khoản nợ phải trả không Trị số chỉ tiêu này càng lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp có thừa khả năng thanh toán tổng quát, trị số càng nhỏ hơn 1, doanh nghiệp càng mất khả năng thanh toán;
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Tài sản ngắn hạn Tổng số nợ ngắn hạn Nguồn [7, tr 242]
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn phản ánh khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp Nếu trị số của chỉ tiêu này ≥ 1, doanh nghiệp có đủ và thừa khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan Ngược lại, nếu trị số này nhỏ hơn 1 chứng tỏ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp thấp
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng thường xuyên phải đối mặt với các khoản nợ ngắn hạn đáo hạn, vì vậy các nhà phân tích cần phải xem xét 2 chỉ
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tiêu sau:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn - hàng tồn kho
Tổng số nợ ngắn hạn Nguồn [7, tr 243]
Chỉ tiêu này cho biết: với giá trị còn lại của tài sản ngắn hạn sau khi đã
loại trừ đi giá trị hàng tồn kho là bộ phận có khả năng chuyển đổi thành tiền
chậm nhất trong toàn bộ tài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp có đủ khả năng
trang trải toàn bộ nợ ngắn hạn hay không Khi trị số của chỉ tiêu này ≥1,
doanh nghiệp bảo đảm và thừa khả năng thanh toán nhanh và ngược lại, khi
trị số này <1, doanh nghiệp không đủ đảm bảo khả năng thanh toán nhanh;
Hệ số khả năng thanh toán tức thời = Tiền và tương đương tiền
Tổng số nợ ngắn hạn Nguồn [7, tr 243]
Do tính chất của tiền và tương đương tiền nên khi xác định khả năng
thanh toán tức thời, các nhà phân tích thường so sánh với các khoản nợ có
thời hạn thanh toán trong vòng 3 tháng Vì vậy trị số của chỉ tiêu này (với các
khoản nợ phải trả trong vòng 3 tháng) ≥ 1, doanh nghiệp đảm bảo và thừa khả
năng thanh toán tức thời và ngược lại, trị số của chỉ tiêu này < 1 doanh nghiệp
không đủ đảm bảo khả năng thanh toán tức thời
* Khả năng thanh toán ngắn hạn
- Phân tích tính cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn: Hệ số
khả năng thanh toán nợ ngắn hạn; hệ số khả năng thanh toán nhanh; hệ số khả
năng thanh toán tức thời
- Phân tích khả năng tạo tiền: Hệ số dòng tiền/nợ ngắn hạn; hệ số dòng
tiền/nợ vay đến hạn trả
- Phân tích chu kỳ vận động của vốn
* Khả năng thanh toán dài hạn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Phân tích khả năng thanh toán gốc vay nợ dài hạn qua các chỉ tiêu:
Hệ số nợ, hệ số tài trợ, hệ số tài trợ, hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu, hệ số
nợ phải trả/tài sản đảm bảo, hệ số thanh toán của tài sản dài hạn đối với nợ dài hạn
- Phân tích khả năng thanh toán lãi vay thông qua chỉ tiêu Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐIỆN LỰC HẢI DƯƠNG 3.1 Tổng quan về Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương ra đời và phát triển có quan hệ tới quá trình phát triển của kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương ngày nay và Hải Hưng trước kia Quá trình thay đổi đơn vị hành chính của tỉnh Hải Dương cũng là quá trình thay đổi đơn vị quản lý của ngành điện Hải Dương mà bắt đầu được đánh dấu mốc lịch sử của sự ra đời của ngành điện lực Hải Hưng Căn cứ vào nhiệm
vụ, mục tiêu của điện lực là phục vụ cho các ngành kinh tế quốc dân và đời sống dân sinh của nhân dân tỉnh Hải Hưng, Sở quản lý và phân phối điện Hải Hưng được thành lập ngày 8 tháng 4 năm 1969 Sở quản lý và phân phối điện Hải Hưng được thành lập trên cơ sở từ 2 đội quản lý điện của hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên trước khi sáp nhập thành tỉnh Hải Hưng năm 1968 Cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của Điện lực Hải Hưng còn hạn chế, với 8 trạm trung gian (thị xã Hải Dương, thị xã Hưng Yên, Thanh Miện, Thanh Hà, Kim động, Phù Cừ, Hưng Long, Nhân Vinh) tổng dung lượng 9.300 KVA, 8 nguồn Diezel công suất 3.400 KVA và 317 trạm biến áp phụ tải có tổng dung lượng 84.130 KVA Công suất
sử dụng của các phụ tải thời gian đó vào khoảng từ 15.000 KW - 24.000 KW Phần lớn các thiết bị còn lại từ thời Pháp thuộc, nên độ an toàn không cao, khả năng cung cấp điện còn rất hạn chế
Trang 26Do có sự thay đổi trong tổ chức quản lý, Sở quản lý và phân phối điện Hải
Hưng được đưa về trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng từ năm 1979 đến
1982 và đổi tên là Sở điện lực Hải Hưng với nhiệm vụ phục vụ cho phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương Trong đó, chủ yếu là các phụ tải trong nông
nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp và ánh sáng sinh hoạt cho nhân dân
Từ năm 1982 - 1985: Sở điện lực Hải Hưng được chuyển sang cho
ngành điện quản lý, mô hình tổ chức quản lý đã được củng cố và phát triển bao
gồm: 9 phòng chức năng, 2 tổ (điều độ và thiết kế), 3 đội (đại tu, thí nghiệm,
lắp đặt 110KV), 1 phân xưởng, 2 trạm 110KV (E81 và E83), 9 chi nhánh điện
(Thành phố Hải Dương, Nam Thanh, Chí Linh, Cẩm Bình - Thanh Miện, Mỹ
Văn, Kim Môn, Hưng Yên - Phù Tiên, Kim Thi, Ninh Giang - Tứ Kỳ)
Do yêu cầu phát triển trong thời kỳ đổi mới ngày càng cao, ngành điện lực
tuy là ngành kinh tế quan trọng là doanh nghiệp nhà nước song cũng phải thực
hiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường Đó là một thách thức, đòi hỏi
ngành điện phải từng bước đổi mới và đổi mới toàn diện để đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ trong thời kỳ mới Trước hết ngành phải tự đổi mới, đổi mới quản lý,
đổi mới cách làm, hạch toán theo cơ chế thị trường, đổi mới trang thiết bị hiện
đại, đổi mới tổ chức Cho đến cuối năm 1996 đầu năm 1997, trước khi Điện lực
Hải Hưng được chia tách thành lập Điện lực Hưng Yên và đổi tên thành Điện
lực Hải Dương, khách hàng của Điện lực Hải Hưng tăng nhanh nhất là các cơ sở
công nghiệp trung ương so với năm 1990 là: 506 tăng 455 khách, công nghiệp
địa phương 115 tăng 47 khách hàng, giao thông vận tải 11 tăng 3 khách hàng,
khách hàng nông nghiệp cũng tăng cao là: 662 khách hàng, sản lượng điện
thương phẩm là: 418.384.000Kwh, so với năm 1995 tăng 13,1%
Do những đặc điểm và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương,
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định tách Tỉnh Hải
Hưng, tái lập hai Tỉnh Hải Dương và Hưng yên, Tổng công ty điện lực Việt
Nam đã cho phép thành lập Điện lực Hưng Yên và đổi tên Điện lực Hải Hưng
thành Điện lực Hải Dương Điện lực Hải Dương chính thức hoạt động vào
ngày 01/4/1997 Cơ sở vật chất kỹ thuật của Điện lực Hải Dương, ngoài toàn
bộ hệ thống lưới điện, thiết bị, máy móc, đã có từ thời kỳ Điện lực Hải Hưng đến nay cũng đã có sự đầu tư, nâng cấp và trang bị mới hiện đại hơn Toàn Điện lực có: 1 trạm 110 KV với dung lượng 50.000 KVA, 7 trạm trung gian 35/10 - 35/6 KV, 917 trạm biến áp phụ tải với tổng dung lượng 252.940 KVA Đường dây dài 2187 km cho các loại điện áp từ 0,4KV đến 110KV Về công tác tổ chức cán bộ: Điện lực Hải Dương đã nhanh chóng đi vào ổn định, tiêu chuẩn hoá hệ thống bộ máy quản lý từ điện lực xuống các đơn vị trực thuộc Đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phần lớn là cán bộ trẻ năng động, sáng tạo Đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao
Sau 7 năm chia tách, Điện lực Hải Dương đã nhanh chóng ổn định, đáp ứng yêu cầu phục vụ điện năng cho các chương trình kinh tế xã hội của tỉnh, nhằm thực hiện Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Là một doanh nghiệp nhà nước, Công ty đã thực hiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường nhưng vẫn đảm bảo chức năng phục vụ, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh thể hiện qua việc thực hiện một số chỉ tiêu cơ bản của sản xuất kinh doanh như sau: Năm 1998: Điện thương phẩm: 473.350.000 Kwh, doanh thu: 283,901 tỷ đồng; đến năm 2004: Điện thương phẩm: 659.792.000 Kwh, doanh thu: 361,369 tỷ đồng
Trong bối cảnh nền kinh tế của đất nước đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại quốc
tế WTO, Đảng và Nhà nước chủ trương đổi mới mô hình quản lý doanh nghiệp Ngày 20/12/2004, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 213/QĐ-TTg chuyển đổi Điện lực Hải Dương - doanh nghiệp trực thuộc Công
ty điện lực 1 là doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công
ty điện lực Việt Nam thành Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương Công ty có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Ngân hàng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật, hoạt động theo Điều lệ của Công ty
và Luật doanh nghiệp
3.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
3.1.2.1 Giới thiệu chung về Công ty
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1 Tên đầy đủ tiếng Việt: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên Điện lực Hải Dương
2 Tên viết tắt tiếng Việt: Công ty Điện lực Hải Dương
3 Tên giao dịch Quốc tế: HaiDuong Power Company Limited
4 Tên viết tắt tiếng Anh: HDPC
5 Địa chỉ trụ sở chính: Số 33 Đại lộ Hồ Chí Minh - Phường Nguyễn
Trãi - Thành phố Hải Dương - tỉnh Hải Dương
6 Số điện thoại: 0320.6261122 Fax: 0320.6261122
Website : http//www.dlhaiduong.evn.com.vn
7 Nhãn hiện, lô gô của Công ty:
3.1.2.2 Công tác tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty
Mục tiêu hoạt động: Cung ứng điện cho hoạt động kinh tế, chính trị, xã
hội, an ninh, quốc phòng của thành phố Hải Dương; Kinh doanh có lãi, bảo
toàn và phát triển vốn của EVN NPC giao, sử dụng hợp lý các nguồn lực, tối
đa hoá lợi nhuận, tích luỹ và đầu tư phát triển Công ty
Ngành, nghề kinh doanh
- Sản xuất, kinh doanh điện năng Hoạt động kinh doanh đến cấp điện
áp 110kV: Xây dựng, cải tạo lưới điện; Sửa chữa, đại tu thiết bị điện; Tư vấn
đầu tư xây dựng công trình lưới điện bao gồm: lập và quản lý dự án đầu tư,
khảo sát xây dựng, thiết kế, giám thi công xây lắp; Gia công, chế tạo, phụ
tùng, phụ kiện, thiết bị lưới điện; Xuất nhập khẩu, kinh doanh vật tư, thiết bị
lưới điện; Thí nghiệm hiệu chỉnh thiết bị điện
- Kinh doanh các ngành nghề khác căn cứ vào năng lực của Công ty,
nhu cầu thị trường và được pháp luật cho phép
Chức năng của Công ty: Công ty trực thuộc Tổng công ty điện lực
Miền Bắc là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, hoạt động
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
theo luật doanh nghiệp nhà nước và điều lệ của tổng công ty điện lực Miền Bắc giao, có tài khoản, có quan hệ tín dụng với ngân hàng, có con dấu riêng; Công ty có chức năng điều hành hệ thống sản xuất kinh doanh trong Điện lực
và địa phương trực thuộc điện lực quản lý; Quản lý vận hành, xây dựng, sửa chữa lưới điện trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo kế hoạch của Công ty điện lực Miền Bắc giao; Quản lý kinh doanh điện năng, cung ứng, an toàn liên tục và đảm bảo chất lượng; Quản lý và sử dụng có hiệu quả toàn bộ tài sản lưới điện, nguồn điện, nguồn vốn… đã được Công ty điện lực Miền Bắc giao; Quản lý,
sử dụng và xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên để đáp ứng nhiệm vụ của
đơn vị trong từng giai đoạn phát triển
Nhiệm vụ của Công ty: Thực hiện, việc quản lý tập trung thống nhất
toàn bộ các mặt công tác từ công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh điện, tài chính, quản lý kỹ thuật, quản lý vận hành, điều phối lưới điện tại địa phương trực thuộc;
Lập kế hoạch phát triển khách hàng hàng năm và dài hạn (5năm) Lập
dự báo nhu cầu phụ tải hàng quý, hàng năm;
Trực tiếp giả quyết phương án cấp điện cho khách hàng ngoài diện công ty quản lý (điện áp dưới 110kV, công suất dưới 1000 kW)
Lập hồ sơ phương án cấp điện: Tổ chức khảo sát thực tế; Lập sơ đồ cấp điện (điểm đấu đường dây, nhánh dây); Tính toán dung lượng bù; Tính toán các thông số kỹ thuật cho sơ đồ cấp điện (khả năng tải của nguồn và các đường dây trước và sau khi lắp trạm biến áp mới, tổn thất điện áp); Hệ thống đo lường; Được uỷ quyền kí kết và mua bán điện cho mọi khách hàng sử dụng điện trong địa bàn quản lý theo đúng Pháp luật của Nhà nước và hướng dẫn của công ty Quản lý chặt chẽ hồ sơ mua bán điện Hàng năm phải quyết toán và thanh lý hợp đồng mua bán điện hết hạn;
Tổ chức bộ máy hoạt động kinh doanh điện năng có hiệu quả, xây dựng
và củng cố đội ngũ cán bộ viên chức có đủ trình độ chuyên môn, tư cách tốt để làm công tác này;
Phân tích điện thương phẩm và điện năng chuyên tải, phân phối, điện
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
năng tổn thất Thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh điện năng được
giao và các biện pháp nhằm giảm tổn thất điện năng;
Hàng tháng báo cáo tình hình quản lý và phát triển khách hàng theo
mẫu báo cáo kinh doanh điện năng
Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty: Công ty được tổ chức theo mô
hình Công ty TNHH một thành viên trong đó: Chủ tịch kiêm giám đốc Công
ty; Giúp việc cho Giám đốc Công ty có 3 Phó giám đốc; + 12 phòng chuyên
môn nghiệp vụ; + 4 Phân xưởng (Thí nghiệm đo lường, xây lắp điện, sửa
chữa thiết bị điện, 110 kV); 01 Xưởng tư vấn thiết kế; 12 Điện lực Tổ chức
bộ máy Công ty được thể hiện qua sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty
Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty
Phó Giám đốc Đầu tư xây dựng
Phòng Tài chính -
Kế toán
Phòng Vật tư
và xuất nhập khẩu
Phòng
KD điện năng
và điện nông thôn
Phòng Quản
lý xây dựng
Phòng
an toàn
và bảo
hộ lao động
Phòng Thanh tra bảo
vệ và pháp chế
Phòng điều độ
Phòng Viễn thông
và công nghệ thông tin
Xưởng Tư
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của Công ty
(Nguồn: Phòng Tổ chức và Nhân sự - Công ty)
3.1.3 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại Công ty
3.1.3.1 Bộ máy tổ chức công tác kế toán tại Công ty
Bộ máy kế toán của Công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 3.2 Bộ máy kế toán Công ty
(Nguồn: Phòng Tài chính kế toán - Công ty)
Phòng Tài chính kế toán của Công ty gồm:
- Kế toán Trưởng: Chịu trách nhiệm chỉ đạo trước Giám đốc công ty, hướng dẫn toàn diện công tác kế toán, thống kê trong doanh nghiệp thực hiện
Phòng Kế toán tại các đơn vị trực thuộc
KẾ TOÁN TRƯỞNG
PHÓ TRƯỞNG PHÒNG PHÓ TRƯỞNG PHÒNG
Kế toán vật
tư
Kế toán sửa chữa lớn, thường xuyên
Kế toán tài sản
cố định
Kế toán ngân hàng công
nợ
Thủ quỹ
Kế toán công
cụ dụng
cụ
Kế toán tiền mặt
Kế toán sản xuất phụ
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
các quy định của pháp lệnh kế toán,…
- Phó trưởng phòng: Phụ trách kế toán tổng hợp theo dõi, tổng hợp toàn
bộ chi phí phát sinh thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh chính, tổ chức luân
chuyển chứng từ sổ sách kế toán Lập báo cáo tài chính về EVN
- Phó trưởng phòng: Phụ trách kế toán xây dựng cơ bản theo dõi và tiếp
nhận hồ sơ của các công trình xây dựng cơ bản từ khi phát sinh cho đến khi
hoàn thành quyết toán,…
- Kế toán sản xuất phụ: Phụ trách kinh doanh phụ, hạch toán toàn bộ
doanh thu, chi phí lãi lỗ sản xuất kinh doanh từ khi quyết toán các công trình,
hạng mục công trình thuộc công việc công nghiệp
- Kế toán vật tư: Theo dõi tình hình biến động về nguyên vật liệu hàng
hoá, tình hình nhập, xuất,…
- Kế toán sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên: Chịu trách nhiệm tập
hợp chi phí cho công việc sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên,…
- Kế toán tài sản cố định: Theo dõi tình hình hiện có, tình hình tăng,
giảm tài sản cố định trong kỳ báo cáo,…
- Kế toán ngân hàng, công nợ: Thanh toán các khoản phải thu của
khách hàng, phải chi trả cho nội bộ công nhân viên, thanh toán các nguồn
mua bán vật tư hàng hoá,…
- Thủ quỹ: Có nhiệm vụ thu tiền của khách hàng, rút tiền và nộp tiền tại
ngân hàng, chi lương và các khoản được thưỏng cán bộ công nhân,…
- Kế toán công cụ dụng cụ: Thực hiện việc mở sổ theo dõi chi tiết từng
công tơ, công cụ dụng cụ bao gồm số lượng đơn giá,…
- Kế toán tiền mặt: Thực hiện việc tập hợp và kiểm tra chi tiết các
chứng từ hợp lệ trước khi thanh toán theo dõi việc phân bổ tiền lương, an
toàn,…
3.1.3.2 Phân cấp quản lý tài chính
Quản lý, bảo toàn vốn phát triển được giao Công ty có quyền huy động
vốn theo pháp luật để phục vụ chung cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của điện lực Thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước
Ngoài ra, Công ty quản lý, sử dụng và phát triển vốn Cụ thể như sau:
- Trách nhiệm của Công ty trong việc quản lý công tác kế hoạch hoá tài chính:
+ Hàng năm xây dựng kế hoạch tài chính đồng thời với kế hoạch sản xuất kinh doanh trình Công ty vào tháng 10 của năm trước năm kế hoạch; + Tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính năm đã được Công ty duyệt đảm bảo tiết kiệm, hạ giá thành, tăng doanh thu và lợi nhuận thực hiện nghiêm chỉnh chính sách chế độ kinh tế tài chính Nhà nước qui định
- Trách nhiệm của Công ty trong việc quản lý tài sản và các loại vốn: + Quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, tài sản và nguồn lực do Công ty giao đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả theo đúng chế độ hiện hành của nhà nước và qui định hiện hành của Tổng công ty;
+ Lập hồ sơ đúng thủ tục trình công ty xét duyệt (Hoặc trình Tổng công
ty xét duyệt ) việc thanh lý xử lý tài sản cố định không cần sử dụng, sử dụng không hiệu quả, lạc hậu kỹ thuật, hư hỏng Thuộc vốn ngân sách do Công ty hoặc Tổng công ty cấp cho điện lực;
+ Được quyền thanh xử lý tài sản cố định do điện lực đầu tư, mua sắm bằng nguồn vốn tự bổ sung theo các thủ tục qui định và tự chịu trách nhiệm
về kết quả hạch toán lãi lỗ theo đúng chế độ tài chính hiện hành;
+ Trong trường hợp cần thiết điện lực được Công ty uỷ quyền vay vốn tín dụng để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và đầu tư theo chế độ hiện hành của Nhà nước;
+ Lợi nhuận được để lại (sau khi nộp về Công ty) thuộc phần sản xuất kinh doanh khác, điện lực được quyền sử dụng theo chế độ hiện hành của Nhà nước
- Trách nhiệm của Công ty trong công tác tổ chức hạch toán kế toán: + Được mở tài khoản tiền gửi, tiền vay, thanh toán nội và ngoại tệ tại các
Trang 30ngân hàng chuyên doanh tại địa phương Công ty cũng được quyền mở tài khoản
hạn mức tại kho bạc nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh tại địa phương;
+ Được tổ chức bộ máy kế toán tài chính để cập nhật đầy đủ, chính xác
và kịp thời những hoạt động kinh tế phát sinh trong điện lực, nắm chắc tình
hình tài sản và tiền vốn của mình Thực hiện theo pháp lệnh kế toán thống kê
của nhà nước và chế độ kế toán hiện hành của Công ty và EVN NPC;
+ Hạch toán nội bộ về giá thành sản xuất kinh doanh điện, điện lực phải
hạch toán đầy đủ, chính xác, kịp thời giá thành, doanh thu, thuế của phần sản
xuất kinh doanh điện theo chế độ kế toán của Nhà nước và qui chế quản lý tài
chính và hạch toán kinh doanh của EVN NPC;
+ Hạch toán đầy đủ chính xác kịp thời về giá thành, doanh thu, thuế, lãi
lỗ của phần sản xuất kinh doanh khác (ngoài kinh doanh điện năng) theo chế
độ kế toán tài chính hiện hành;
+ Điện lực có trách nhiệm thực hiện hạch toán đầy đủ chính xác kịp
thời vốn đầu tư và chi phí đầu tư của các dự án theo đúng chế độ hiện hành
3.2.1 Cơ cấu tài sản của Công ty
Không giống như các doanh nghiệp thương mại,với ngành điện tài sản
luôn đóng vai trò quan trọng, quyết định kết quả sản xuất của ngành, vốn đầu
tư vào tài sản luôn rất lớn Vì vậy, khi tiến hành phân tích quản lý tài chính
của ngành nói chung và của Công ty nói riêng, phân tích cơ cấu tài sản luôn là
bước không thể thiếu Tác giả phân tích qua bảng 3.1
Qua bảng phân tích, nhận thấy: Quy mô tổng tài sản của Công ty
năm 2014 tăng lên tương đối nhiều Cuối năm 2014 tổng tài sản so với đầu năm tăng 396.608 triệu đồng tương đương tăng 32,73%, điều này chứng tỏ năng lực sản xuất, quy mô của Công ty được mở rộng phát triển trong năm vừa qua;
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 3.1 Bảng phân tích cơ cấu tài sản của Công ty
Chỉ tiêu
Số tiền (Tr.đ)
Tỉ trọng (%)
Số tiền (Tr.đ)
Tỉ trọng (%)
Số tiền (Tr.đ)
Tỉ lệ (%)
Tỉ trọng (%)
(Nguồn: Tác giả phân tích trên cơ sở dữ liệu Phòng TCKT - Công ty)
Trong cơ cấu tài sản, tài sản ngắn hạn cuối năm 2014 giảm 110.847 triệu
đồng tương ứng với giảm 35,93%, trong khi đó tài sản dài hạn của Công ty lại
tăng lên khá nhiều: cuối năm 2014 tăng 507.455 triệu đồng so với đầu năm
2014, tương đương 56,19% Về tỷ trọng, đầu năm 2014, tài sản ngắn hạn chiếm
25,46%, tài sản dài hạn chiếm 74,54 %, nhưng đến cuối năm 2014, tỷ trọng tài
sản ngắn hạn giảm xuống còn 12,29%, tỷ trọng tài sản dài hạn tăng lên 87,71%
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Vì vậy cơ cấu tài sản của cuối năm 2014 thay đổi so với đầu năm theo hướng tăng tỉ trọng tài sản dài hạn, giảm tỷ trọng tài sản ngắn hạn Nguyên nhân chủ yếu làm giảm tỷ trọng tài sản ngắn hạn là lượng tiền và tương đương tiền giảm 9,02% và tăng tỷ trọng tài sản dài hạn do tài sản cố định tăng 14,09% Tuy nhiên, cả đầu năm và cuối năm 2014, tỷ trọng tài sản dài hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của Công ty vì đặc trưng của ngành điện tài sản chủ yếu là máy móc, đường dây đều là những tài sản dài hạn
Về tài sản ngắn hạn, so với đầu năm, cuối năm 2014 tài sản ngắn hạn giảm 110.847 triệu đồng, tương ứng với tỷ trọng giảm 13,17% Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là:
+ Tiền và các khoản tương đương tiền cuối năm giảm 78.384 triệu đồng
so với đầu năm, tỷ trọng giảm 9,02% Đây là nguyên nhân chính khiến tài sản ngắn hạn của Công ty giảm so với đầu năm Mặc dù lượng tiền mặt nhàn rỗi giảm xuống và được sử dụng cho các hoạt động kinh doanh của Công ty để tạo ra giá trị nhưng điều này dẫn đến khả năng thanh toán tức thời của Công
ty thấp, mức độ rủi ro trong thanh toán cao
+ Các khoản phải thu ngắn hạn giảm 27.899 triệu đồng, tỷ trọng giảm 2,98% Trong đó chủ yếu là giảm khoản trả trước cho người bán (Đầu năm: 26.868 triệu đồng, cuối năm: 9.261 triệu đồng) và giảm các khoản phải thu khác (Đầu năm: 20.077 triệu đồng, cuối năm: 8.062 triệu đồng) Nguyên nhân: trong năm 2014, công tác quản lý thu chi của Công ty đã sát sao hơn, các bộ phận làm việc hiệu quả hơn; bên cạnh đó tình hình kinh tế năm 2014
đã bớt khó khăn hơn so với năm 2013 nên các doanh nghiệp đối tác thanh toán đúng hạn hơn so với năm trước Như vậy cuối năm 2014 vốn của Công
ty bị chiếm dụng ít hơn so với đầu năm Đây là dấu hiệu tốt cho tình hình tài chính của Công ty;
+ Hàng tồn kho tăng 1.051 triệu đồng, nhưng tỷ trọng giảm 0,61% Giá trị hàng tồn kho của Công ty là do trong năm 2014 hoạt động sản xuất kinh
Trang 32doanh của Công ty mở rộng, xuất bán điện tới nhiều khu vực nông thôn nên
Công tơ, vật tư được Công ty đầu tư nhiều hơn so với cuối năm, bên cạnh đó
nhu cầu vật tư dự phòng để sửa chữa sự cố tăng lên;
+ Tài sản ngắn hạn khác giảm 5.615 triệu đồng, tỷ trọng giảm 0,56%
Nguyên nhân chủ yếu là thuế GTGT được khấu trừ giảm 5.465 triệu đồng
(Đầu năm 2014: 4.447 triệu đồng, cuối năm 2014: 9.912 triệu đồng)
Về tài sản dài hạn, so với đầu năm, cuối năm 2014 tài sản dài hạn tăng
507.455 triệu đồng, tỷ trọng tăng 13,17% Nguyên nhân dẫn đến tình hình
này là:
+ Tài sản cố định cuối năm 2014 tăng lên so với đầu năm 512,143
triệu đồng, tỷ trọng tăng 14,09% Đây là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tỷ
trọng của tài sản dài hạn tăng Điều này được lý giải trong năm Công ty đã
mở rộng đầu tư các tài sản máy móc, đường dây nhằm phục vụ sản xuất, cho
thấy đây là một dấu hiệu tốt nhằm tăng năng lực sản xuất, phát triển kinh
doanh của Công ty Trong cơ cấu tài sản, tài sản cố định luôn chiếm tỷ trọng
rất cao (Đầu năm: 72,01%, cuối năm: 86,09%), đây là nét đặc trưng của
ngành điện, giá trị tài sản máy móc, trạm biến áp, đường dây truyền tải luôn
có giá trị rất lớn;
+ Các khoản đầu tư tài chính dài hạn đầu năm và cuối năm không thay
đổi là 7.500 nhưng tỷ trọng giảm xuống 0,15% Do trong năm 2014, Công ty
không đầu tư thêm vốn ra ngoài ngành nên tính đến thời điểm cuối năm 2014
số vốn Công ty góp vào Công ty cổ phần bất động sản Sài Gòn vina vẫn là
7.500 triệu đồng Nhưng do tổng tài sản cuối năm tăng lên 32,73% dẫn đến tỷ
trọng của khoản mục này giảm 0,15%;
+ Tài sản dài hạn khác giảm 4.688 triệu đồng, tỷ trọng giảm 0,76%
Nguyên nhân là khoản chi phí trả trước dài hạn của Công ty cuối năm giảm so
với đầu năm, cụ thể: chi phí trả trước dài hạn cuối năm là 18.509 triệu đồng
giảm 4.789 triệu đồng so với đầu năm
3.2.2 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty
Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả có những đặc điểm khác biệt, và đó là hai nhân tố quan trọn ảnh hưởng tới cơ cấu nguồn vốn của Công ty Do đó Tác giả phân tích cơ cấu nguồn vốn thông qua bảng phân tích sau:
Bảng 3.2 Bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty
Chỉ tiêu
Số tiền (Tr.đ)
Tỉ trọng (%)
Số tiền (Tr.đ)
Tỉ trọng (%)
Số tiền
Tỉ trọng (%)
(Nguồn: Tác giả phân tích trên cơ sở dữ liệu Phòng TCKT - Công ty)
Tổng nguồn vốn của Công ty cuối năm 2014 so với đầu năm tăng 396.607 triệu đồng, tương ứng tăng 32,73% Chứng tỏ khả năng huy động vốn của Công ty tốt hơn so với đầu năm, Công ty đã nỗ lực nhiều trong việc huy động vốn để mở rộng, phát triển sản xuất Cụ thể nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình thay đổi tổng nguồn vốn là:
- Thứ nhất là việc tăng giá trị vốn chủ sở hữu: cuối năm 2014 tăng 445.275 triệu đồng so với đầu năm, tương ứng 407,43% Nguyên nhân chính
là do vốn đầu tư của chủ sở hữu tăng đáng kể: 357.641 triệu đồng (đầu năm 2014: 203.441 triệu đồng, cuối năm 2014: 561.082 triệu đồng), bên cạnh đó quỹ đầu tư phát triển của Công ty nếu như đầu năm là -2.670 triệu đồng thì đến cuối năm quỹ đầu tư phát triển là 0 đồng, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối đầu năm là -82.253 triệu đồng, đến cuối năm lợi nhuận bằng 0 đồng
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Như vậy, tỷ trọng của của vốn chủ sở hữu cuối năm 2014 đã tăng 25,46% (Từ
9,02% tăng lên 34,48%) Đây là một biểu hiện tích cực, chứng tỏ tính tự chủ
tài chính của Công ty được nâng cao;
- Thứ hai là việc giảm nợ phải trả Cụ thể: Nợ phải trả cuối năm 2014
giảm 48.668 triệu đồng, tương ứng giảm 4,41% và tỷ trọng của nợ phải trả
cũng giảm 25,46% so với đầu năm Nguyên nhân là do nợ ngắn hạn giảm
325.859 triệu đồng, tỷ trọng giảm 35,65% và nợ dài hạn tăng 277.191%, tỷ
trọng tăng 10,19% Như vậy, tỷ trọng của nợ ngắn hạn trong cơ cấu nguồn
vốn giảm đáng kể, trong khi tỷ trọng nợ dài hạn có tăng lên nhưng không quá
lớn, dẫn đến tỷ trọng nợ phải trả cuối năm giảm tương đối nhiều Trong đó,
khoản phải trả người bán giảm 221.971 triệu đồng (đầu năm: 391.976 triệu
đồng, cuối năm: 170.005 triệu đồng) tương ứng 56,6% là nguyên nhân chính
khiến nợ ngắn hạn cuối năm giảm so với đầu năm 2014 Đây là một dấu hiệu
tích cực, các khoản phải trả người bán được thanh toán kịp thời, chứng tỏ khả
năng tự chủ về tài chính của Công ty tăng lên
Trong cơ cấu nguồn vốn, đầu năm 2014: nợ phải trả chiếm 90,98%;
VCSH chiếm 9,02 % Đây là một cơ cấu thể hiện sự mất cân đối khi nợ phải
trả chiếm quá lớn, điều đó chứng tỏ tài sản của Công ty chủ yếu được tài trợ
từ các nguồn đi vay, tình hình tài chính sẽ gặp rủi ro cao Đến cuối năm
2014, cơ cấu nguồn vốn dần trở nên cân đối hơn: tỷ trọng nợ phải trả giảm
25,46% còn 65,52%, tỷ trọng VCSH tăng lên 25,46 % tức bằng 34,48% Với
những khó khăn của ngành điện trong năm 2012 và 2013 do yếu tố thời tiết
và giá cả ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Điện
lực thì đến năm 2014 tình hình tài chính của Công ty đã có nhiều chuyển
biến tích cực hơn
Để có thể đánh giá cụ thể hơn về mối quan hệ của nợ phải trả với vốn
chủ sở hữu, Tác giả tiến hành nghiên cứu giữa Công ty với các công ty thành
viên khác và Tổng công ty trong năm 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 3.3 Chỉ tiêu nợ phải trả/VCSH của Công ty mẹ
(Nguồn: Báo cáo hội nghị tài chính kế toán năm 2015 của EVN NPC)
Vì đặc trưng của ngành điện vốn đầu tư lớn nên vốn nhà nước hay VCSH thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với nợ phải trả, vì vậy theo đánh giá của Tổng công ty tỷ số nợ phải trả/VCSH nhỏ hơn 3 là đạt Như vậy tỷ số này của Công ty bằng 1,9 là đạt Nhưng so với các đơn vị thành viên, tỷ số này của Công ty vẫn cao (chỉ thấp hơn 3 đơn vi: Công ty TNHH MTV thí nghiệm điện, Công ty TNHH MTV tư vấn điện MB và Các công ty cổ phần chi phối)
Vì vậy xét về chiến lược lâu dài để nâng cao khả năng tự chủ tài chính, cơ cấu nguồn vốn của Công ty cần được nâng cao tỷ trọng VCSH và giảm tỷ trọng
nợ phải trả hơn nữa
3.2.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
Để có cái nhìn tổng quát nhất về kết quả kinh doanh của Công ty trong năm 2014, Tác giả sử dụng một số chỉ tiêu phản ánh khái quát hiệu quả kinh doanh để phân tích và được tính toán qua bảng sau:
Trang 34Bảng 3.4 Bảng phân tích hiệu quả kinh doanh chung
S
TT
2012 Năm
2013 Năm
2014
Chênh lệch 2013-2012
Chênh lệch 2014-2013
(Nguồn: Tác giả phân tích trên cơ sở dữ liệu Phòng TCKT - Công ty)
Qua bảng tính, tỷ suất lợi nhuận gộp các năm 2012, 2013 và 2014 lần
lượt là: 5,27; 0,88 và 6,08 Tác giả nhận thấy tỷ suất này giảm mạnh trong
năm 2013 Nguyên nhân: qua các năm doanh thu thuần của Công ty tăng đều
đặn (Doanh thu thuần năm 2013 tăng 35,17% so với năm 2012, năm 2014
tăng 21,66 % so với năm 2013), nhưng lợi nhuận gộp của Công ty giảm
mạnh trong năm 2013 (giảm 77,51% so với năm 2012) do trong năm 2013 giá vốn của sản phẩm và dịch vụ kinh doanh của Công ty tăng đáng kể (mua điện với giá cao) (năm 2012: 1.939.288 triệu đồng, năm 2013: 2.743.050 triệu đồng nên tăng 803.762 triệu đồng), đến năm 2014, lợi nhuận gộp tăng khá nhanh so với năm 2013 (tăng 743,84%), do giá vốn hàng bán cũng tăng lên (năm 2013: 2.743.050 triệu đồng, năm 2014: 3.161.866 triệu đồng nên tăng 418.816 triệu đồng) nhưng tăng ít hơn so với năm 2013: 384.946 triệu đồng Như vậy trong 3 năm khoảng cách chênh lệch giữa giá bán và giá vốn sản phẩm, dịch vụ của năm 2013 chênh lệch ít nhất, năm 2014 chênh lệch cao nhất thể hiện năm 2014 Công ty đã làm ăn hiệu quả hơn, điều kiện kinh doanh của Công ty bớt khó khăn hơn so với năm 2013
Nhìn vào bảng 3.4 nhận thấy, tỷ suất lợi nhuận thuần của Công ty trong năm 2014 đã thay đổi rõ rệt: năm 2012: 0,21%, năm 2013: -2,97%, năm 2014: 2,47 % Cứ 100 đồng doanh thu thuần thu về thì năm 2012 Công ty chỉ có lãi 0,21 đồng, đến năm 2013 lỗ 2,97 đồng, nhưng đến năm 2014 Công ty đã thu lãi về 2,34 đồng Với nền kinh tế khó khăn năm 2012 và đặc biệt năm 2013 nói chung và ngành điện nói riêng, Công ty đã không ngừng thoát ra khỏi khó khăn, từng bước đi lên và kinh doanh có lãi
Về tỷ suất sinh lời của tài sản, tỷ số này qua các năm 2012, 2013, 2014 lần lượt bằng 0,45%; -7,23% và 5,89% Điều đó có nghĩa với 100 đồng tài sản tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh thì lợi nhuận sau thuế của Công ty năm 2012 lãi 0,45 đồng, năm 2013 lỗ 7,23 đồng, năm 2014 lãi 5,89 đồng Năm 2012 mặc dù tỷ suất sinh lời của tài sản dương nhưng hệ số này vẫn còn rất nhỏ, mặc dù Công ty bỏ ra 100 đồng tài sản nhưng chỉ thu về được 0,45 đồng lợi nhuận sau thuế, chứng tỏ năm 2012 hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty vẫn còn chưa cao Trong năm 2014, tốc độ tăng của lợi nhuận sau
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thuế lớn hơn hơn tốc độ tăng của tài sản bình quân năm 2013 (lợi nhuận sau
thuế tăng 200,93%, tài sản bình quân tăng 25,71%) dẫn đến tỷ suất sinh lời
của tài sản năm 2014 đã tăng so với năm 2013 từ -7,33% lên 5,89%, như vậy
đã tăng lên 13,22% hay cứ 100 đồng tài sản đã làm gia tăng lợi nhuận sau
thuế 13,22 đồng Điều này chứng tỏ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của
Công ty năm 2014 đã được cải thiện đáng kể
Về tỷ suất sinh lời của VCSH, tỷ suất này qua các năm 2012, 2013,
2014 lần lượt là 2,21; -53,68; 25,01 tức với 100 đồng VCSH đem vào sản
xuất năm 2012 lãi 2,21 đồng, năm 2013 lỗ 53,68 đồng, năm 2014 lãi 25,01
đồng Năm 2012, mặc dù Công ty kinh doanh có lãi, nhưng tỷ số này vẫn còn
quá thấp, hiệu quả do đồng VCSH bỏ ra chưa cao Năm 2013 tình hình sản
xuất kinh doanh của Công ty khó khăn, công ty làm ăn thua lỗ 53,68 đồng với
100 đồng VCSH bỏ ra Trong năm 2014 tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu
tăng 78,69% so với năm 2013, như vậy hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của
Công ty đã tăng lên so với năm 2013 Với 100 đồng VCSH đưa vào sản xuất
thì năm 2014 đã tăng 78,69 đồng lợi nhuận sau thuế so với năm 2013 Nguyên
nhân của sự gia tăng này là tốc độ gia tăng của Vốn chủ sở hữu bình quân nhỏ
hơn tốc độ gia tăng của lợi nhuận sau thuế Như vậy Công ty đã phát huy
được nguồn VCH đã huy động được, chiến lược gia tăng nguồn VCSH của
Công ty đã mang lại hiệu quả trong năm 2014
Tóm lại, qua phân tích tổng quát hiệu quả kinh doanh, Tác giả nhận
thấy trong 3 năm nghiên cứu, năm 2014 các chỉ số nghiên cứu của Công ty
đang đạt kết quả cao nhất, với những khó khăn chủ quan và khách quan Công
ty đã vượt lên khó khăn để đạt được những kết quả nhất định Nhưng với
những chỉ số xem xét nhận thấy kết quả vẫn chưa cao Công ty nói riêng và
Tập đoàn Điện lực nói chung cần có những giải pháp để nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh hơn nữa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.3 Thực trạng quản lý tài chính tại Công ty TNHH một thành viên Điện lực Hải Dương
3.3.1 Quy trình quản lý tài chính tại Công ty 3.3.1.1 Lập kế hoạch tài chính
Quy trình lập kế hoạch tài chính của Công ty được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu kế hoạch do Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng Công ty Điện lực miền Bắc đặt ra cho Công ty ngay từ đầu năm, theo
đó phòng Tài chính kế toán của Công ty lập kế hoạch thực hiện các chỉ tiêu được giao cho Công ty và cho từng đơn vị trực thuộc sau khi đã phân tích thực trạng tài chính của Công ty và từng đơn vị trong những năm gần đây và đặc biệt là kết quả hoạt động tài chính của năm trước để rút ra những bất cập còn tồn tại và tìm cách khắc phục làm cơ sở cho việc lập kế hoạch tài chính năm nay
Bước 2: Xác định mục tiêu quản lý Sau khi tiến hành phân tích, Kế toán trưởng của Công ty và Ban Giám đốc thống nhất về mục tiêu hoạt động tài chính và đưa ra một số chỉ tiêu tài chính dự kiến đạt được trong năm của Công ty:
+ Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn: 0,53 lần + Hệ số khả năng thanh toán nhanh: 0,46 lần + Hệ số khả năng thanh toán tức thời: 0,37 lần + Tỷ suất lợi nhuận thuần: 3,24%
+ Tỷ suất lợi nhuận gộp: 7,2%
Bước 3: Đưa ra các phương án thực hiện để đạt được kế hoạch giao trình Giám đốc phê duyệt
Bước 4: Tiến hành phân tích, đánh giá, nhận định để lựa chọn ra phương án tối ưu nhất